Thủy-Quân Lục-Chiến Hoa Kỳ đổ bộ vào Đà Nẵng ngày 8 tháng 3 năm 1965



8-3-65. –

 . .  .  .

-     Tòa Đại-sứ Hoa Kỳ thông-cáo: 2 tiểu-đoàn TQLC được gửi sang để tăng-cường hệ-thống an-ninh của căn-cứ Không-quân Đà Nẵng, cho Quân-độI VNCH đang giữ trách-vụ an-ninh được rảnh tay chiến đấu.

-     1500 TQLC Mỹ tới Đà Nẵng.

(Tài liệu trích dẫn: Đoàn Thêm.  1965: Việc Từng Ngày.  Saigon: Phạm Quang Khai, 1968.  Tái bản tại Hoa Kỳ.  Los Alamitos, Calif.: Xuân Thu, 1989.  Tr. 45.).


Vào tháng 3 năm 1965, sự kiện “1500 TQLC Mỹ tới Đà Nẵng” được ghi nhận một cách bình thường, như những chuyện khác đã xảy ra trong thời gian đó.  Bây giờ, gần 50 năm sau, các nhà nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam đều công nhận rằng đó là một sự kiện vô cùng quan trọng đối với lịch sử của cuộc chiến, nhất là đối với vấn đề “sự tham chiến của Hoa Kỳ tại Việt Nam”.  Chúng ta thử tìm hiểu tầm quan trọng của sự kiện lịch sử nầy trong bối cảnh thật sự của nó.

1. Bối Cảnh Chính Trị của Việt Nam Cộng Hòa

1.1. Bất ổn định về chính trị

Sau khi chính quyền Ngô Đình Diệm bị lật đổ vào ngày 1-11-1963, Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) trãi qua một giai đoạn vô cùng xáo trộn về chính trị.  Trong thời gian chưa đến một năm rưởi, từ ngày 1-11-1963 đến ngày 16-2-1965, ngày thành lập chính phủ Phan Huy Quát, VNCH đã có tất cả 3 chính phủ: 1) Chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ, từ 4-11-1963 đến 3-2-1964, với một lần cải tổ vào ngày 5-1-1964; 2) Chính phủ Nguyễn Khánh, từ ngày 8-2-1964 đến ngày 26-10-1964, với nhiều lần cải tổ; 3) Chính phủ Trần Văn Hương, từ ngày 4-11-1964 đến ngày 27-1-1965, với một lần cải tổ ngày 18-1-1965; ngày 28-1-1965, Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Oánh được cử làm Quyền Thủ Tướng.  Trong thời gian nầy cũng đã xảy ra hai cuộc đảo chánh: cuộc “chỉnh lý” ngày 30-1-1964 của Trung Tướng Nguyễn Khánh, lật đổ chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ và đưa đến việc thành lập chính phủ Nguyễn Khánh; cuộc “biểu dương lực lượng” của Trung Tướng Dương Văn Đức và Thiếu Tướng Lâm Văn Phát ngày 13-9-1964, cuộc đảo chánh nầy thất bại vì không được Quân đội ủng hộ.  Ngoài ra thời gian nầy cũng xảy ra vô số những cuộc biểu tình, xuống đường của học sinh sinh viên và các nhóm chính trị thân Phật giáo và thân Công Giáo, không những tại thủ đô Sài Gòn mà tại ngay cả những thành phố lớn của Miền Trung như Huế, Đà Nẵng.  Đã có hai cố gắng từ phía quân đội để tạo ra một căn bản pháp lý cho chế độ mới.  Lần thứ nhứt là Hội Đồng Nhân Sĩ thành lập ngày 19-12-1963, gồm 60 vị, đa số là các chính khách tên tuổi thuộc các chính đảng đã từng trực tiếp hay gián tiếp chống đối chính quyền Ngô Đình Diệm, với nhiệm vụ soạn thảo một bản hiến pháp mới cho VNCH.  Hội Đồng nầy bị giải tán ngày 4-4-1964.  Lần thứ nhì là Thượng Hội Đồng Quốc Gia (THĐQG) thành lập ngày 8-9-1964, gồm 16 vị chính khách và nhân sĩ lão thành và nổi tiếng của VNCH, với nhiệm vụ triệu tập Quốc dân Đại hội (tức Quốc hội), soạn thảo Hiến chương, và thực hiện các cơ cấu quốc gia.   THĐQG đã tuyển nhiệm vị Chủ tịch hội đồng là ông Phan Khắc Sửu vào chức vụ Quốc Trưởng ngày 24-10-1964.  Ngày 31-10-1964 Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu bổ nhiệm ông Trần Văn Hương làm Thủ Tướng.  THĐQG bị giải tán ngày 20-12-1964.  Mặc dù Thủ Tướng Trần Văn Hương đã chịu cải tổ chính phủ vào ngày 18-1-1965, ông vẫn tiếp tục bị phe Phật giáo chống đối nên cuối cùng phe Quân đội cũng phải nhượng bộ phe Phật giáo và đưa ông đi quản thúc tại Vũng Tàu.

Tình trạng bất ổn định về chính trị nầy là hệ quả phối hợp của nhiều yếu tố.  Trước tiên là mâu thuẩn chính trị giữa hai phe Phật giáo và Công giáo.  Phe Phật giáo, dưới sự lãnh đạo của Thượng Tọa Thích Trí Quang, có nhiều ưu thế hơn.  Họ nhất quyết không để cho tái diễn tình trạng bị kỳ thị và đàn áp như trước cuộc đảo chánh 1-11-1963.  Ngược lại phe Công giáo thì cảm thấy bị kỳ thị và bị đe dọa nặng nề sau cuộc đảo chánh 1-11-1963, nhất là vớI phong trào bài Cần Lao tại Miền Trung.  Đã xảy ra nhiều vụ xung đột, có khi đẫm máu, giữa hai phe Phật giáo và Công giáo trong thờI gian nầy, nhiều khi chỉ là do hiểu lầm nhau.  Thứ hai là sự lớn mạnh về chính trị của phong trào học sinh sinh viên muốn có tiếng nói trong các chủ trương, đường lối chính trị của chính phủ.  Sự thành công của họ trong vụ biểu tình đòi xóa bỏ Hiến Chương Vũng Tàu càng làm tăng thêm sức mạnh chính trị của họ.  Thứ ba là sự hình thành một nhóm bán chính thức trong Quân độI gọi là Nhóm Các Tướng Trẻ có tham vọng chính trị (mà báo chí Hoa Kỳ đặt tên là ‘Young Turks’) gồm phần lớn các tưóng một sao (Chuẩn Tướng) và hai sao (Thiếu Tướng) do tướng Khánh mới thăng cấp, nhằm làm hậu thuẩn cho ông ta trong Hội Đồng Quân Lực (HĐQL).  Sau hết cũng phải kể đến yếu tố cá nhân của tướng Nguyễn Khánh, Chủ tịch HĐQL trong thời gian nầy.  Ông có tham vọng muốn nắm trọn quyền hành về chính trị lẫn quân sự (Hiến Chương Vũng Tàu là một bằng chứng hùng hồn của tham vọng nầy).  Về mặt chính trị, vì không có hậu thuẩn chính trị của riêng bản thân mình, ông tìm cách dựa vào thế lực chính trị mạnh nhứt của giai đoạn nầy là Phật giáo, sau khi đã có kinh nghiệm cay đắng với đảng Đại Việt của các ông Nguyễn Tôn Hoàn và Hà Thúc Ký.  Về mặt quân sự, ông tìm cách khống chế HĐQL bằng cách mua chuộc, lấy lòng các tướng trẻ, trong đó có nhiều người đã được ông thăng cấp tới hai lần trong một năm.  Nhưng dần dà chính ông lại bị áp lực của các tướng trẻ, như trong vụ buộc các tướng già phải về hưu cũng như trong vụ giải tán THĐQG, và sau cùng chính ông cũng bị các tướng trẻ loại ra khỏi HĐQL và phải ra khỏi nước luôn.1      

1.2. Chính phủ Phan Huy Quát

Sau khi loại bỏ và đem quản thúc tại Vũng Tàu Thủ Tướng Trần Văn Hương, HĐQL lúc đầu đã quyết định cử Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên thành lập chính phủ mới.  Quyết định nầy không thành hình vì Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên không đồng ý với đề nghị của HĐQL cử Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi vào chức vụ Bộ Trưởng Nội Vụ.2   Việc từ chối nầy của Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên có thể đã làm mất lòng phe Phật giáo, đưa đến việc Tướng Khánh quyết định thôi không đề cử ông nữa.  Sau đó HĐQL đã tham khảo Hội Đồng Quân Dân3 và Hội Đồng nầy đã nêu tên một số nhân vật để HĐQL tiếp xúc, thăm dò trong việc thành lập chính phủ mới.  Đó là các ông: Luật sư Trần Văn Tuyên, Bác sĩ Trần Văn Đỗ, ôngTrần Văn Ân, Bác sĩ Hồ Văn Nhựt và Bác sĩ Phan Huy Quát.  Sau cùng HĐQL quyết định đề cử Bác sĩ Phan Huy Quát4 thành lập nội các mới.  Ngày 16-2-1965, chính phủ Phan Huy Quát được thành lập với thành phần như sau:

-       Thủ-tướng: Bác-sĩ Phan Huy Quát

-       Phó Thủ-tướng kiêm Tổng-trưởng Quân-lực: Trung-tướng Nguyễn Văn Thiệu

-       Phó Thủ-tướng kiêm Tổng-trưởng Ngoại-giao: Bác-sĩ Trần Văn Đỗ

-       Phó Thủ-tướng phụ trách Kế-hoạch: Luật-sư Trần Văn Tuyên

-       Quốc Vụ Khanh: Bác-sĩ Lê Văn Hoạch

-       Quốc Vụ Khanh tạm thời kiêm Bộ Giáo-dục: Bác-sĩ Nguyễn Tiến Hỷ

-       Tổng-trưởng Thông-tin Tâm-lý-chiến: Thiếu-tướng Linh Quang Viên

-       Tổng-trưởng Chiêu-hồi: Ông Trần Văn Ân

-       Tổng-trưởng Kinh-tế: Giáo-sư Nguyễn Văn Vinh

-       Tổng-trưởng Tài-chánh: Giáo-sư Trần Văn Kiện

-       Tổng-trưởng Canh-nông: Kỹ-sư Nguyễn Ngọc Tố

-       Tổng-trưởng Giao-thông Công-chánh: Kỹ-sư Ngô Trọng Anh

-       Tổng-trưởng Xã-hội: Giáo-sư Trần Quang Thuận

-       Tổng-trưởng Y-tế: Bác-sĩ Nguyễn Tăng Nguyên

-       Tổng-trưởng Lao-động: Ông Nguyễn Văn Hoàng

-       Tổng-trưởng Thanh-niên: Y-sĩ Trung-tá Nguyễn Tấn Hồng

-       Bộ-trưởng Phủ Thủ-tướng: Ông Bùi Diễm

-       Thứ-trưởng Nội-vụ: Ông Nguyễn Văn Tương

-       Thứ-trưởng Công-chánh: Kỹ-sư Bùi Hữu Tuấn5    

Nhìn vào thành phần nội các nầy ta phải nhìn nhận rằng Bác sĩ Phan Huy Quát đã thành công trong việc “mờI được gần như tất cả các phe phái chính trị, tôn giáo và quân sự đang chống đối nhau tại Nam Việt Nam tham gia vào nội các của ông’” 6  

Tuy nhiên, ai cũng nhận thấy rằng nội các nầy ra đời là do áp lực của phe Phật Giáo và vì thế nó khó có được tính ổn định.  Trong một công điện mật của C.I.A., đề ngày 15-02-1965, nghĩa là một ngày trước khi nội các nầy ra đời, do một nhân viên C.I.A. báo cáo lại cuộc nói chuyện với Thiếu-tướng Lê Nguyên Khang, Tư-lệnh Thủy-quân lục-chiến về buổi họp của HĐQL ngày 14-02-1965 với Bác-sĩ Phan Huy Quát.  Thiếu-tướng Khang cho rằng “Bác-sĩ Quát đã chọn được những người tốt cho nội các nhưng ông cảm thấy rằng chính phủ Quát có thể sẽ gặp sự chống đối từ những người Nam vì phần lớn các chức vụ quan trọng đã được giao cho những người Bắc và Trung.  Thiếu-tướng Khang nghĩ là chính phủ Quát có thể tồn tại ít nhứt là 3 tháng, nhưng ông cho rằng sau cùng nó sẽ bị lật đổ” 7 .  Chỉ ba ngày sau khi nội các nầy được thành lập thì đã xảy ra vụ đảo chánh do Đại Tá Phạm Ngọc Thảo8 (Công Giáo) cầm đầu.  Tuy vụ đảo chánh nầy bất thành (và với hậu quả là Đại Tướng Nguyễn Khánh bị các tướng trẻ loại ra khỏi chính quyền và buộc phải rời khỏi Việt Nam) nhưng đã cho thấy rõ sự bấp bênh của Nội các Phan Huy Quát.  Một tuần lễ sau đó, ngày 25-2-1965, Tổng-trưởng Lao-động Nguyễn Văn Hoàng từ chức 9.    

2. Tình Hình Quân Sự Tại Việt Nam Cộng Hòa

2.1. Tình hình quân sự hai tháng đầu năm 1965

Lợi dụng tình hình chính trị bất ổn định của VNCH, phe Cộng sản đã gia tăng mức độ xâm nhập người và vũ khi cũng như tấn công khắp lãnh thổ của VNCH từ cuối năm 1963 và cả năm 1964.  

Năm 1965 bắt đầu bằng trận Bình Giả (tỉnh Phước Tuy, thuộc Vùng 3) với những tổn thất rất nặng nề cho Quân Lực VNCH, gồm cả các đơn vị Thiết Giáp, Biệt Động Quân và Thủy Quân Lục Chiến.  Trận đánh nầy khởI sự vào cuối năm 1964 (3-12-1964) và kéo dài sang đầu năm 1965, kết thúc ngày 2-1-1965.  Riêng về tổn thất của TQLC, “Một sĩ quan thuộc tiểu đoàn 4 TQLC đã ghi lại tổn thất của đơn vị như sau: Chết: 22 sĩ quan, khoảng 100 hạ sĩ quan và binh sĩ.  Bị thương: 5 sĩ quan, 15 hạ sĩ quan, 100 binh sĩ.  Mất tích: 10 hạ sĩ quan và 70 binh sĩ.”  10  Trong số các sĩ quan tử trận của đơn vị TQLC nầy có cả Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn phó, một Đại đội trưởng và Y sĩ trưởng.  Khi khởi sự hành quân, quân số của Tiểu đoàn 4 TQLC là khoảng 550 người, như thế số tổn thất (322/550) của đơn vị thiện chiến nầy lên đến trên 58%.  Những nguyên nhân chính đưa đến tổn thất lớn nầy cho Tiểu đoàn 4 TQLC là: 1) họ bị phục kích bởi các đơn vị địch cấp trung đoàn (Trung Đoàn Q761 và Q762); 2) vũ khí của địch tối tân hơn (TQLC còn sử dụng súng trường Garant và Carbine trong khi VC sử dụng toàn súng AK); và 3) họ không được yểm trợ gì cả từ Trung Tâm Hành Quân của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3 (vụ phục kích xảy ra vào ngày 31-12-1965, phần lớn các sĩ quan thuộc Trung Tâm Hành Quân đang nghĩ lễ).11

Sang đầu tháng 2/1965, rạng sáng ngày 7, Cộng quân đã tấn công vào trại Holloway của Hoa Kỳ tại Pleiku, phá hủy 5 phi cơ và gây tử thương cho 8 binh sĩ.12  Đến giữa tháng 2/1965, từ ngày 16 đến ngày 19, một tàu trọng tải 300 tấn chở vũ khí từ miền Bắc vào bị Hải Quân VNCH phát hiện và đánh chìm tại Vũng Rô (Phú Yên, thuộc Quân Đoàn 2).  Số vũ khi tịch thu được gồm: “2000 súng Mauser, 1000 trung-liên, 100 súng các-bin, 2 đại-liên, 15 tiểu-liên, 1 đại bác 57 ly, khoảng 1000 lưu đạn và hơn một triệu đạn súng nhỏ cùng nhiều chất nổ” 13         

Bản nhận định tình hình quân sự tại VNCH của CIA (Central Intelligence Agency = Cơ Quan Trung Ương Tình Báo của Hoa Kỳ) ngày 24-2-1965 tỏ ra rất bi quan, với những nhận định như sau: “Tình hình an ninh tại các tỉnh phía Bắc và Trung của Nam Việt Nam rất nghiêm trọng.  Việt Cộng đạt được những thắng lợi quan trọng tại các tỉnh phía Bắc và xúc tiến nhanh việc bám giữ những khu vực trước kia do chính phủ kiểm soát.  Việt Cộng đã kiểm soát được thêm nhiều khu vực và dân cư trong vài tháng qua.  Gần đây, các nổ lực bình định của chính phủ đã gặp nhiều khó khăn ở phía Bắc, đặc biệt là trong hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định.  Tại hai tỉnh nầy, chính quyền chỉ còn kiểm soát được các vùng lân cận của các quận lỵ mà thôi .. Việt Cộng có khả năng tấn công bất cứ  mục tiêu nào cũng như cắt đường liên lạc tại hầu hết các khu vực duyên hải của các tỉnh miền Bắc và Trung của Nam Việt Nam.” 14

Tướng Westmoreland, Tư Lệnh MACV (Military Assistance Command -  Vietnam = Bộ Tư Lệnh Viện Trơ Quân Sự - Việt Nam) cũng chia xẻ quan điểm nầy.  Trong một báo cáo vào đầu tháng 3/1965, ông đã nhận định như sau: “nếu tình hình nầy tiếp tục, trong vòng 6 tháng, các lực lượng Nam Việt Nam sẽ chỉ còn kiểm soát được các khu vực chung quanh các tỉnh lỵ và quận lỵ ..  chúng ta sẽ chứng kiến việc Việt Cộng tiếp thu toàn bộ xứ sở nầy, có lẽ trong vòng một năm.” 15

2.2. Phản ứng của Chính phủ Hoa Kỳ

2.2.1. Hình thành chính sách về Việt Nam

Chính quyền Johnson không lạ gì với các nhận định bi quan nầy từ cả phía tình báo và quân sự.  Từ lâu, Tổng Thống Johnson và các cộng sự viên cũng như các cố vấn của ông đều biết rất rõ về tình trạng bất ổn định về chính trị cũng như tình hình nghiêm trọng về an ninh và quân sự của VNCH.  Ngay từ cuối năm 1963, trong báo cáo cho Tổng Thống Johnson ngày 21-12, Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara đã nhận dịnh rất bi quan như sau: “Tình hình thật là tệ hại.  Cái đà nầy, trừ phi lật ngược lại được, trong vòng 2-3 tháng tới, sẽ đưa quốc gia nầy, trong trường hợp tốt đẹp nhứt, đến việc trung-lập-hóa và gần như chắc chắn là sẽ bị Cộng sản kiểm soát.” 16 Để ngăn chận việc chiến thắng của Cộng sản ở Miền Nam, ngày từ đầu tháng 1/1964, Johnson đã chấp nhận cho thi hành kế hoạch OPLAN 34-A nhằm đưa các nhóm biệt hải của VNCH, do CIA huấn luyện và được Hải Quân Hoa Kỳ hổ trợ, ra phá quấy các vùng duyên hải của Bắc Việt.  Song song với OPLAN 34-A là kế hoạch DE SOTO nhằm sử dụng các khu trục hạm của Hải Quân Hoa Kỳ trong vùng Vịnh Bắc Việt nhằm thu thập tin tức về các căn cứ radar cũng như hệ thống truyền tin của Bắc Việt.  Các kế hoạch nầy thật ra chỉ là nhằm thực thi văn kiện gọi là NSAM 273 (National Security Action Memorandum 273) do chính Tổng Thống Johnson ký ngày 26-11-1963, chỉ 4 ngày sau khi ông lên cầm quyền thay thế Tổng Thống Kennedy bi ám sát ngày 22-11-1963.  NSAM 273 xác định rõ ràng là: “Mục tiêu chính của Hoa Kỳ tại Việt Nam vẫn là giúp đở nhân dân và chính phủ của quốc gia nầy chiến thắng trong cuộc tranh đấu chống lại âm mưu của Cộng sản được điều khiển và hổ trợ từ bên ngoài.” 17  Các cuộc hành quân theo các kế hoạch nầy đã đưa đến sự kiện gọi là “biến cố Vịnh Bắc Việt”: chiến hạm Hoa Kỳ Maddox bị các ngư lôi đĩnh của Bắc Việt tấn công trong Vịnh Bắc Việt ngày 2-8-1964.  Nắm lấy cơ hội nầy, chính quyền Johnson đã thuyết phục được Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua Nghị Quyết Vịnh Bắc Việt ngày 6-8-1964 với một đa số tuyệt đối (tại Hạ Viện là 416-0, và tại Thượng Viện là 88-2).  Theo nghị quyết nầy Tổng Thống Hoa Kỳ được phép: “thi hành mọi biện pháp cần thiết, kể cả việc sử dụng quân lực, nhằm giúp đỡ bất cứ quốc gia nào thuộc Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á có lời yêu cầu được giúp đở để bảo vệ tự do của họ.” 18

2.2.2. Tình hình đầu năm 1965

Như trên ta đã thấy, Hoa Kỳ đã hình thành chính sách can thiệp bằng quân sự tại Việt Nam từ tháng 8/1964.  Nhưng Tổng Thống Johnson quyết định tạm gát lại việc leo thang chiến tranh vì năm 1964 là năm bầu cử và ông không muốn ứng cử dưới chiêu bài chiến tranh.

Ngày 3-11-1964, trong cuộc bầu cử tổng thống, Johnson đánh bại ứng cử viên của Đảng Cộng Hòa, Thượng Nghị Sĩ Barry Goldwater của tiểu bang Arizona, bằng một đa số lớn nhứt trong lịch sử bầu cử tổng thống tại Hoa Kỳ (Johnson hơn Goldwater khoảng 16 triệu phiếu).  Cùng với chiến thắng cá nhân nầy của Johnson, Đảng Dân Chủ cũng chiếm được một đa số tuyệt đối ở cả hai viện của Quốc Hội.19

Sang đầu năm 1965, với tình hình chính trị và quân sự tiếp tục tuột dốc tại VNCH, và theo đề nghị của Đại sứ Hoa Kỳ tại VNCH, tướng hồi hưu, nguyên Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ (Chairman of Joint Chiefs of Staff) Maxwell Taylor, Tổng Thống Johnson cử Cố Vấn An Ninh Quốc Gia của ông, McGeorge Bundy, sang VNCH để quan sát tình hình tại chỗ.  McGeorge Bundy đến Sài Gòn ngày 4-2-1965.  Trong thời gian Bundy ở Việt Nam thì xảy ra vụ Cộng quân tấn công vào trại Holloway của Hoa Kỳ ở Pleiku ngày 7-2-1964.  Johnson đã ra lệnh oanh tạc Đồng Hới để trả đũa ngay lập tức.  Ngày hôm sau, 8-2-1965, 24 khu trục cơ của VNCH, do chính Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Tư Lệnh Không Quân chỉ huy, đã oanh tạc các căn cứ của Bắc Việt tại Vĩnh Linh. 20   Trong báo cáo cho Tổng Thống Johnson sau khi trở về Hoa Kỳ, McGeorge Bundy nhận định như sau: “Triển vọng tại Việt Nam rất đen tối...  Tình hình tại Việt Nam đang suy sụp, và nếu Hoa Kỳ không có hành động mớI, việc thất trận sẽ là chuyện không thể tránh được - có thể không phải là trong vòng vài tuần lễ hay vài tháng, nhưng trong vòng năm tới.  Tuy không nhiều lắm, nhưng chúng ta vẫn còn thì giờ để xoay chuyển tình thế...  Một khuyết điểm nghiêm trọng trong đường lối của chúng ta tại Việt Nam mà chúng ta có thể sửa chửa được là niềm tin khá phổ biến là chúng ta không có ý chí, sức mạnh, kiên nhẫn và quyết tâm làm tất cả những gì cần làm để tiếp tục cuộc chiến.” 21 Và ông khuyến cáo Hoa Kỳ nên thực hiện một chính sách trả đũa liên tục (a policy of sustained reprisal; nghĩa là oanh tạc liên tục Miền Bắc). Tổng Thống Johnson chấp thuận khuyến cáo nầy và quyết định leo thang, biến các cuộc oanh tạc Miền Bắc để trả đũa (nghĩa là chỉ oanh tạc Miền Bắc khi nào lực lượng cố vấn quân sự của Hoa Kỳ tại VNCH bi tấn công) thành biện pháp thường xuyên.  Chiến dịch oanh tạc thường xuyên nầy được đặt tên là Chiến dịch Rolling Thunder và chính thức bắt đầu vào ngày 2-3-1965.  Đà Nẵng trở thành căn cứ quân sự quan trọng nhứt của Hoa Kỳ tại VNCH, dùng làm nơi phát xuất cho các phản lực cơ F105 và F4 trong các phi vụ oanh tạc Miền Bắc của Chiến dịch Rolling Thunder. 

3. Quyết Định Đưa TQLC Vào Đà Nẵng

3.1. Về phía Hoa Kỳ

Trước khi Chiến dịch Rolling Thunder khởi sự, giới quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam đã quan tâm nhiều đến vấn đề bảo vệ an ninh cho phi trường Đà Nẵng.  Đầu tháng 2/1965, Tướng Johnny Throckmorton, Tư lệnh phó MACV, sau khi thanh sát các đơn vị VNCH có nhiệm vụ phòng thủ phi truờng Đà Nẵng, đã khuyến cáo Tướng Westmoreland là cần có ngay một lữ đoàn TQLC với 3 tiểu đoàn cùng với pháo binh và các đơn vị yểm trợ.  Ngày 22-2-1965, Westmoreland chính thức yêu cầu Tổng Thống Johnson cho phép đổ bộ ngay 2 tiểu đoàn TQLC Mỹ để bảo vệ căn cứ Đà Nẵng, còn tiểu đoàn thứ ba thì túc trực ngoài khơi để đợi lệnh.   Đại sứ Taylor phản đối ngay yêu cầu nầy của Tướng Westmoreland.  Ông lo ngại rằng việc mang quân bộ chiến vào Việt Nam sẽ đem đến 2 hậu quả quan trọng: 1) Quân đội VNCH sẽ chuyển giao thêm nhiều trách nhiệm cho quân đội Mỹ và nhu cầu hiện diện của quân đội Mỹ sẽ càng ngày càng tăng thêm lên; 2) Sự hiện diện của một lực lượng vũ trang “da trắng” như vậy sẽ đặt quân đội Mỹ vào tình thế giống như quân Pháp trước kia.  Tuy nhiên, Đô Đốc Sharp, Tư Lệnh Lực Lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, đồng ý với đề nghị của Tướng Westmoreland và ngày 26-2-1965, Tổng Thống Johnson phê chuẩn đề nghị nầy, với điều kiện phải có sự chấp thuận của chính phủ Phan Huy Quát.22 Đại sứ Taylor nhận được công điện số 1840, ngày 26-2-1965, của Bộ Ngoại Giao thông báo quyết định nầy của Tòa Bạch –c và ra lệnh cho ông thi hành quyết định nầy.23  Đại sứ Taylor không thể làm gì khác hơn được là thi hành việc tổ chức việc đổ bộ của 2 tiểu đoàn TQLC nầy vào Đà Nẵng với sự đồng ý của Thủ Tướng Quát.  Trong công điện trả lời Bộ Ngoại Giao, mang số 2789, ngày 28-2-1965, ông cho biết sẽ xin hẹn gặp Thủ Tướng Quát ngay lập tức vào ngày hôm sau, 1-3-1965, để thông báo quyết định nầy và dàn xếp để có được sự chấp thuận của Thủ Tướng Quát.  Tuy nhiên ông cũng nêu lên vấn đề là có thể Thủ Tướng Quát còn cần phải tham khảo Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quân Lực và Trung Tướng Trần Văn Minh, Tổng Tư Lệnh Quân Lực VNCH.  Ông trù liệu có thể sẽ cần có một buổi họp nữa với Thủ Tướng Quát, các Tướng Thiệu, Minh và Thi (Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Đoàn I, vì Đà Nẵng thuộc lãnh thổ của Quân Đoàn I) để ông và Tướng Westmoreland trình bày cho phía VNCH sự cần thiết của lực lượng TQLC Hoa Kỳ cũng như nhiệm vụ giới hạn của lực lượng nầy tại phi trường Đà Nẵng.  Trong công điện nầy ông cũng lập lại sự phản đối của ông về đề nghị mang quân bộ chiến Hoa Kỳ vào Việt Nam, và nhấn mạnh là chỉ nên duy trì lực lượng nầy cho đến khi nào quân đội VNCH có thể thay thế được quân Mỹ.24

3.2. Về phía VNCH

Theo ông Bùi Diễm, Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng trong Chính phủ Phan Huy Quát, quyết định của Chính phủ Hoa Kỳ nhằm đưa 2 tiểu đoàn TQLC vào bảo vệ phi trường Đà Nẵng tương đối là một bất ngờ đối với chính quyền VNCH.  Ông viết trong tập hồi ký, Gọng Kìm Lịch Sử, về sự kiện nầy như sau: “Sáng sớm ngày 8 tháng 3, 1965, tôi vừa mở mắt thì có điện thoại của Thủ Tướng Quát.  Với giọng vội vàng, ông bảo tôi phải đến gặp ông ngay tại nhà riêng vì có việc cần.  Vừa đến nơi, tôi đã thấy Sứ Thần Manfull tại đó.  Tôi chưa kịp hỏi ông Manfull câu nào thì bác sĩ Quát đã cho tôi biết là Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đang đổ bộ ở Đà Nẵng và yêu cầu tôi cùng với ông Manfull soạn thảo bản thông cáo chung loan báo việc nầy.” 25  Dĩ nhiên, chính phủ VNCH cũng không làm gì khác hơn là chấp nhận biến cố nầy và ra thông cáo chung xác nhận sự đồng ý của chính phủ.  Ông Bùi Diễm viết thêm: “Hôm sau, các báo ở Sài Gòn và nhiều nơi khác trên thế giới đăng ở trang nhất hình ảnh binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đang được các thiếu nữ Việt Nam đón chào tại bãi biển Đà Nẵng với những tà áo thướt tha và những vòng hoa choàng tặng, tựa hồ như đã có sự thỏa thuận chính thức và chuẩn bị kỹ càng.  Mấy ai biết rõ được thực trạng đằng sau những vòng tay rộng mở và những khuôn mặt vui tươi hớn hở đó?.” 26 

Về sự kiện lịch sử nầy, theo ý kiến cá nhân của ngườI viết, vẫn còn một nghi vấn cần được làm sáng tỏ.  Trong tập hồi ký, ông Bùi Diễm có nói rõ thêm là sau khi đã thảo xong thông cáo chung Việt-Mỹ vớI Sứ Thần Manfull và ông nầy đã ra về thì ông có thảo luận tiếp với Thủ Tướng Quát về biến cố quan trọng nầy.  Ông Bùi Diễm ghi lại phần trả lờI của Thủ Tướng Quát như sau: “Theo ông thì trước đó, ông và Đại sứ Taylor có trao đổI ý kiến về vấn đề cần phải tăng cường khả năng phòng thủ cho Việt Nam.  Trong cuộc trao đổI ý kiến sơ khởi nầy, Đại sứ Taylor có đề cập tới đề nghị của Tướng Westmoreland muốn có thêm hai tiểu đoàn TQLC ở Đà Nẵng, tuy nhiên phần thảo luận chỉ có tính cách tổng quát, và cũng không có lời yêu cầu chính thức nào từ phía Hoa Kỳ.  Ngoài ra ông cũng cho Đại sứ Taylor biết rõ là ông rất ngần ngại, không muốn thấy Hoa Kỳ can thiệp trực tiếp vào chiến tranh Việt Nam, hay nói một cách khác, ông không muốn thấy cuộc chiến bị “Mỹ hoá”.  Ông cũng cho biết thêm là riêng về vấn đề nầy, Đại sứ Taylor tỏ vẽ chia sẻ quan điểm của ông.  Đến lúc tôi hỏi tại sao họ lại hành động một cách bất ngờ như vậy thì bác sĩ Quát đáp ngay: “Tôi nghĩ rằng có lẽ chính ông Taylor cũng ngạc nhiên về quyết định mau lẹ nầy của Hoa Thịnh Đốn, và trong cuộc điện đàm với tôi sáng nay ông ta đã trình bày vấn đề như là một hành động quân sự có tính cách giới hạn và được thi hành chỉ vì tình hình an ninh xung quanh căn cứ không quân ở Đà Nẵng không được vững.” 27  Theo công điện số 2798, ngày 1-3-1965, gởi về Bộ Ngoại Giao, Đại sứ Taylor đã báo cáo khá chi tiết về buổi hội kiến giữa ông và Phó Đại sứ Alexis Johnson với Thủ Tướng Quát sáng ngày 1-3-1965.  Ông ghi rõ như sau: “... Sau đó tôi nêu lên  vấn đề đổ bộ 2 tiểu đoàn TQLC để giữ an ninh cho căn cứ không quân Đà Nẵng. Ông Quát đã đồng ý ngay về đề nghị nầy và chỉ bày tỏ mối quan tâm của ông về mối quan hệ giữa binh sĩ Mỹ và dân chúng sống xung quanh căn cứ.  Tôi bảo ông rằng tôi tin là chuyện đó sẽ được giải quyết dễ dàng và xin phép ông để Tướng Westmoreland tiếp xúc với các Tướng Thiệu và Minh để bàn chi tiết.  Ông đồng ý với đề nghị nầy và cho biết là ông cũng dự định sẽ thông báo ngay cho các Tướng Thiệu và Minh về đề nghị nầy.  Chúng tôi cũng đồng ý sẽ có một buổi họp nữa về vấn đề nầy giữa chúng tôi và các Tướng Thiệu và Minh.” 28  Tiếp theo là công điện số 2810, ngày 2-3-1965, gởi về Bộ Ngoại Giao, Đại sứ Taylor báo cáo như sau: “Tướng Westmoreland vừa kể lại cho tôi buổi họp (sẽ có một báo cáo riêng) của ông với các Tướng Thiệu và Minh về vấn đề đổ bộ TQLC vào Đà Nẵng.  Ông sắp sửa đi Đà Nẵng để thảo luận với Tướng Thi theo đề nghị của các Tướng Thiệu và Minh.  Tướng Depuy,  Trưởng Ban 3, Tướng Thắng, và một dại diện của lữ đoàn TQLC cũng sẽ ra đó để bàn về chi tiết.” 29  Như vậy rõ ràng là người Mỹ đã thông báo dự định đổ bộ TQLC vào Đà Nẵng cho Thủ Tướng Quát từ ngày 1-3-1965, đúng một tuần lễ trước ngày đổ bộ của TQLC.  Họ cũng đã thông báo cho cả hai tướng Thiệu và Minh về vấn đề nầy vào hôm sau, 2-3-1965, và cũng đã có ra tận Đà Nẵng thảo luận với Tướng Thi về kế hoạch chi tiết để thực hiện cuộc đổ bộ nầy.  Điều nầy phù hợp với sự kiện mà ông Bùi Diễm đã nêu trong hồi ký của ông: TQLC đã được tiếp đón nồng nhiệt ngay tại bãi biển, “tựa hồ như đã có sự thỏa thuận chính thức và chuẩn bị kỹ càng.”  Vấn đề cần được làm sáng tỏ ở đây là: Tại sao một vấn đề quan trọng như vậy mà Thủ Tướng Quát có thể quyết định ngay lập tức, không cần phải triệu tập hội đồng nội các để thảo luận (nhứt là ta không nên quên rằng nội các nầy bao gồm nhiều thành phần đảng phái khác nhau) nhưng ngược lại ông thông báo ngay lập tức cho các Tướng Thiệu và Minh; hơn nữa ông cũng không thông báo cho ông Bùi Diễm, một cộng sự viên rất thân cận và là Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng của ông, và cũng là người mà ông từng chia xẻ mối “lo ngại rằng Hoa Kỳ sẽ mang thêm quân vào Việt Nam.” 30  Theo ý kiến của người viết chỉ có một cách giải thích tương đối có thể chấp nhận được là: do cách trình bày vấn đề của Đại sứ Taylor tại buổI họp sáng ngày 1-3-1965, Thủ Tướng Quát đã xem đây chỉ là một vấn đề thuần túy quân sự, để hổ trợ cho một chiến lược quân sự đã được chấp thuận (Chiến dịch Rolling Thunder), không có hậu quả chính trị quan trọng, nên ông chỉ cần thông báo cho các giới chức quân sự VNCH, mà đại diện là các Tướng Thiệu,  Minh, và Thi, là đủ rồi.                        

Thay Lời Kết

Tướng Westmoreland, trong hồi ký A Soldier Reports của ông, cho rằng lúc đó ông không coi việc đổ bộ TQLC Hoa Kỳ vào Đà Nẵng như là một bước leo thang quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam.  Ông cho đó chỉ là một biện pháp cần thiết để bảo vệ một phi trường quan trọng, cần thiết để thực hiện một chiến lược đã được chấp thuận (tức là kế hoạch Rolling Thunder nhằm oanh tạc liên tục Miền Bắc).  Đại sứ Taylor quả có tầm nhìn xa hơn Tướng Westmoreland nhưng ông không chống lại được một quyết định của phe quân sự đã được Tổng Thống Johnson phê chuẩn.  Về phía VNCH, Thủ Tướng Phan Huy Quát, Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quân Lực, Trung Tướng Trần Văn Minh, Tổng Tư Lệnh Quân Lực VNCH, và Thiếu Tướng Nguyễn Chánh Thi, Tư Lệnh Quân Đoàn I có được tham khảo về quyết định nầy của Hoa Kỳ nhưng nội các và cả Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng hoàn toàn không được thông báo gì cả cho đến khi TQLC đổ bộ vào Đà Nẵng.  Điều lo ngại của Đại sứ Taylor đã diễn ra nhanh hơn là ông đã tiên liệu: đến cuối năm 1965, tổng số quân Mỹ tại VNCH đã lên tới 184.000.31  (so vớI 23.000 quân vào cuối năm 1964 32). 

Ghi Chú:

  1. Vĩnh Nhơn. “Cuộc khủng hoảng nội các tại V.N.C.H. vào cuối tháng 5/1965”, Kinh Doanh, số 2 (Tháng 7/1999), tr. 130-131.

  2. Vĩnh Nhơn. “Một nội các chết non của V.N.C.H.”, Kinh Doanh, số 1 (Tháng 6/1999). tr. 97-102.

  3. Hội Đồng Quân Dân là cơ cấu chính trị do HĐQL ủy nhiệm cho Đại Tướng Nguyễn Khánh triệu tập ngày 27-1-1965, sau khi chính phủ Trần Văn Hương bị giải nhiệm. Hội Đồng gồm 20 nhân vật đại diện các tôn giáo, nhân sĩ và quân lực. Hội Đồng nầy chỉ họp một cách bán chính thức mà thôi.

  4. Bác sĩ Phan Huy Quát, tốt nghiệp Đại Học Y Khoa Hà Nội năm 1937 và hành nghề y khoa tại đó cho đến năm 1945. Ông là một trong những lãnh tụ của Đại Việt Quốc Dân Đảng, đã từng tham chính rất nhiều lần trong thập niên 50: Bộ Trưởng Quốc Gia Giáo Dục trong Chính phủ Bảo Đại (từ 01-07-1949 đến 22-01-1950), Tổng Trưởng Quốc Phòng trong Chính phủ Nguyễn Phan Long (từ 22-01-1950 đến 06-05-1950), Tổng Trưởng Đặc Trách Dân Chủ Hóa trong Chính phủ Bửu Lộc (từ 11-01-1954 đến 07-07-1954), và Tổng Trưởng Ngoại Giao trong Chính phủ Nguyễn Khánh (từ 08-02-1964 đến 04-11-1964). Ông cũng là một thành viên của Nhóm Caravelle. Bác sĩ Quát trở thành Thủ Tướng Việt Nam Cộng Hòa trong một thời gian ngắn vào năm 1965 (từ ngày 16-2 đến ngày 12-6). Sau ngày 30-4-1975, Bác sĩ Quát bị bắt giam sau khi bị nội phản trong một vụ vượt biên. Ông mất tại Khám Chí Hòa ngày 27-04-1979.

  5. Đoàn Thêm. 1965: Việc Từng Ngày. Saigon: Phạm Quang Khai, 1968. Tái bản tại Hoa Kỳ. Los Alamitos, Calif: Xuân Thu, 1989. Tr. 33-34.

  6. Karnow, Stanley. Vietnam: A History. New York: Penguin Bơks, 1984. Tr. 385.

  7. United States. Central Intelligence Agency. Intelligence Information Cable, TDCS-314/02012-65, ngày 15-02-1965, trong bộ vi phiếu Declassified Documents Reference System: Retrospective Collection, vi phiếu 46B, tr. 4.

  8. Vĩnh Nhơn, “Tài liệu mật của C.I.A. về Đại Tá Phạm Ngọc Thảo”, Thời Báo, số 456, ngày 26-09-1998, tr. 78-84.

  9. Đoàn Thêm, sách đã dẫn, tr. 38.

  10. Nguyễn Đức Phương. Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập: Từ Trận Đầu (Ấp Bắc - 1963) Đến Trận Cuối (Sài Gòn - 1975). Toronto: Làng Văn, 2001. Tr. 133-134.

  11. Nguyễn Đức Phương, sđd, tr. 137.

  12. Westmoreland, William C. A Soldier Reports. New York: Doubleday, 1976. Tr. 138.

  13. Nguyễn Đức Phương, sđd, tr. 148.

  14. United States. Central Intelligency Agency. The Situation in South Vietnam: Weekly Report, 24 February 1965. Trong bộ vi-phiếu Declassified Documents Reference System: Retrospective Collection, vi phiếu 48E, tr. 6-7.

  15. Westmoreland, sđd, tr. 147.

  16. Gibbons, William Conrad. The U.S. Government and the Vietnam War: Executive and Legislative Roles and Relationships. Part III: January-July 1965. Princeton, N.J.: Princeton University Press, 1989. Tr. 3.

  17. Gibbons, sđd, tr. 3.

  18. Gibbons, sđd, tr. 11.

  19. Karnow, sđd, tr. 395.

  20. Đoàn Thêm, sđd, tr. 28.

  21. Gibbons, sđd, tr. 58.

  22. Westmoreland, sđd, tr. 147-149.

  23. United States. Department of State. Outgoing Telegram, No. 1840, 26 Feb. 1965, trong bộ vi phiếu Declassified Documents Reference System: Retrospective Collection, vi phiếu số R-877H, tài liệu số 5624.

  24. United States. Department of State. Incoming Telegram, No. 2789, 28 Feb. 1965, trong bộ vi phiếu Declassified Documents Reference System: Retrospective Collection, vi phiếu số R-878F, tài liệu số 5630.

  25. Bùi Diễm. Gọng Kìm Lịch Sử. Cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai; Paris: Nhà sách và xuất bản Nam Á phát hành, 2000. Tr. 222.

  26. Bùi Diễm, sđd, tr. 224.

  27. Bùi Diễm, sđd, tr. 223.

  28. United States. Department of State. Incoming Telegram, No. 2798, 1 Mar 1965, trong bộ vi phiếu Declassified Documents Reference System, năm 1986, vi phiếu số 113, tài liệu số 1476.

  29. United States. Department of State. Incoming Telegram, No. 2810, 2 Mar 1965, trong bộ vi phiếu Declassified Documents Reference System, năm 1986, vi phiếu số 113, tài liệu số 1479.

  30. Bùi Diễm, sđd, tr. 222.

  31. Westmoreland, sđd, tr. 186.

  32. Westmoreland, sđd, tr. 133.