NAM  KỲ  LỤC  TỈNH
NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ - VĂN HÓA - VĂN HỌC MIỀN NAM
CHỦ TRƯƠNG
_____

Nam Kỳ Lục Tỉnh là diễn đàn của các nhà biên khảo và sáng tác không phân biệt sinh quán viết về Nam Kỳ Lục Tỉnh. Địa danh Nam Kỳ Lục Tỉnh mà vua Minh Mạng đã đặt tên từ năm 1834 và sau đó chính quyền Pháp phân chia thành 21 tỉnh là vùng đất mới trải dài từ miền nam Phan Thiết đến mũi Cà Mau, được mang nhiều sắc thái đặc thù mà từ văn hóa đến tâm tình lẫn tâm tính có nhiều khác biệt với tổ tiên của họ ở Đàng Ngoài.

Ước vọng của trang mạng NKLT là mong được người viết ngoài nước và trong nước đóng góp trong tinh thần đối thoại và công chính để nguồn tài liệu về vùng đất mới nầy được phong phú, đáp ứng nhu cầu thông tin và biên khảo về chủ đề Nam Kỳ, đất nước và con người.

NKLT cũng sẽ lần lượt cho đăng tải một số tài liệu, tác phẩm xưa đã tuyệt bản hay khó tìm được trên thị trường.

Tài liệu viết về các biến cố lịch sử cận đại (Đệ 1 và Đệ 2 Cộng Hòa) có tính cách đa dạng và dị biệt. Để cung cấp thông tin và dữ kiện cho độc giả và các nhà nghiên cứu, NKLT chọn đăng một số tài liệu nầy.

Tuy nhóm chủ trương đảm nhiệm việc chọn lựa sơ khảo các bài viết thích ứng với chủ đề, trách nhiệm sau cùng về nội dung vẫn thuộc về tác giả. Do đó, các bài viết đăng trên trang mạng NKLT không nhất thiết phản ảnh quan điểm cũng như sự đồng thuận về nội dung của nhóm chủ trương.

Ngoài ra, với mục đích phục vụ độc giả một cách vô vị lợi, chúng tôi cũng xin được ngỏ lời tri ân và cáo lỗi tác giả những bài viết trên các trang mạng hay sách báo và hình ảnh mà chúng tôi không thể liên lạc được để xin phép trích đăng. Trong trường hợp nầy, chúng tôi sẽ ghi chú xuất xứ.

Để giữ sự nhất quán trong cách trình bày và chủ trương của trang mạng, chúng tôi có thể thay đổi cách trình bày, nếu không có sự xác định trước của tác giả.

Bài vở, đóng góp ý kiến xin gởi về địa chỉ điện thư: namkyluctinh.org@gmail.com


Nhóm chủ trương:



Saigon xưa: 1970
_______________

Tự do báo chí của miền Nam VN trước 1975 (Mặc Lâm đài RFA phổ biến ngày 1 tháng 11 năm 2015).





  Lăng Ông - Gia Định


Tổng trấn Lê Văn Duyệt qua ghi chép của người Mỹ

Trung úy hải quân Mỹ John White sau chuyến viếng thăm Sài Gòn năm 1819 (từ cảng Salem, Massachuset, Mỹ) trên tàu Franklin đã dành nhiều lời ca ngợi Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt trong hồi ký của mình.

Hồi ký của ông được “Hội Hàng hải Đông Ấn” cất vào kho lưu trữ của hội. Nhưng các bạn của ông khi đọc, họ thấy có những thông tin hữu ích, nên đã in thành sách.

Cảng Sài Gòn

(…) Sau bao nhiêu thăng trầm, tàu Franklin và Marmion cũng vào đến cảng Saigon. John White và đoàn tùy tùng lên bờ đi qua chợ giữa sự tò mò, bu quanh của dân cư, ồn ào đủ loại chó chạy rông, vào thành qua cửa nam diện kiến vị phó tổng trấn (lúc đó là Huỳnh Công Lý). Ông mô tả như sau, sau khi qua khỏi khu chợ:

“Chúng tôi chẳng bao lâu đến một cầu đá, lúc mà tiện dân, hai chân và bốn chân (chỉ chó rông) đã xa chúng tôi; băng ngang một hào nước sâu và rộng, dẫn tới cửa đông nam của thành, hay đúng hơn một thành phố quân sự; vì tường của thành, bằng đá và đất, cao khoảng 20 feet (8 m), tường dày vô cùng, bao quanh khu hình tứ giác dài khoảng 3 phần tư dặm mỗi cạnh. Nơi đây là nơi vị phó vương (tổng trấn) và các lãnh binh cư ngụ, và có rất nhiều doanh trại rộng tiện nghi, đủ chứa 50.000 binh lính. Dinh hoàng gia ở ngay giữa thành, trên khu đất xanh tươi đẹp rộng khoảng 8 mẫu Anh (khoảng 3,2 hecta) bao quanh bởi hàng rào cọc cao”.

Dinh hoàng gia xây bằng gạch, nền gạch trên mặt đất khoảng 6 feet (2,5 m) được dành cho vua khi đến ngự. Dinh bỏ trống vì vua Gia Long chuyển về Huế, nên được dùng làm kho dữ liệu giấy tờ và dấu ấn hoàng gia.

John White cho biết lúc đó dân số Sài Gòn là 180.000, trong đó có khoảng 10.000 người Hoa. Số liệu này ông cho biết là từ nguồn thông tin xác đáng và chính thức mà ông nhận được từ cha Joseph và chính từ vị Tổng trấn Gia Định thành Lê Văn Duyệt.

Ông cho biết thành phố Saigon lúc đầu là ở phía cực tây của địa điểm gần thành Saigon. Tức là Chợ Lớn thành lập trước và là Saigon xưa. Vì thế phía Chợ Lớn có những kiến trúc cao tốt đặc sắc hơn. Sau khi chiến tranh Nguyễn Ánh -Tây Sơn chấm dứt, dân cư phát triển nhanh chóng về phía đông cho đến khi cả hai nơi trở thành một thành phố, lên đến bên kia rạch Thị Nghè bao bọc thành Sài Gòn và công xưởng hải quân.

Gặp quan Tổng trấn

Sau khi Tổng trấn Lê Văn Duyệt hoàn thành công tác ở Huế trở về Saigon, John White cũng được diện kiến Lê Văn Duyệt trong dịp bá quan văn võ nghênh đón ông tổng trấn. Ngày hôm sau tại chính dinh thự riêng, ngài tổng trấn đã tiếp chuyện và khoản đãi riêng phái đoàn ông John White.

“... Đúng thời điểm hẹn, chúng tôi đến dinh phó vương, ngài phó vương đã có chủ đích trong dịp này không tiếp khách bản sứ, chỉ có những nhân viên thân cận giúp việc trong dinh ông, độ khoảng 40 người và 4 thông dịch viên của chính quyền là Antonio, Mariano, Joseph và Vicente, họ là người bản xứ theo đạo. Chúng tôi được tiếp đón rất thân tình và chi li. Ngài phó vương lúc này đã bỏ qua tất cả những “hãnh diện, nghi lễ, nghi thức” của chức vụ ngài, ngài nói chuyện thoải mái tự do với chúng tôi; và sự háo hức tò mò của ngài, sự chọn lựa sáng suốt đúng đắn các đề tài trong sự tìm hiểu thẩm tra, chứng tỏ ông có một đầu óc mở rộng, thúc đẩy bởi một sự khao khát không nguôi về tri thức và thông tin; và những lời bình chín chắn của ông trong nhiều đề tài đã thuyết phục chúng tôi về khả năng thiên tư cao độ của ông. Chiến tranh, chính trị, tôn giáo, phong tục cách xử sự của các nước Âu châu là những đề tài mà ông rất chú trọng; và khi nghe là tôi từng phục vụ trong hải quân ở nước tôi, ông đặc biệt tập trung tìm hiểu hỏi tôi về các chiến thuật hải quân và chiến trận hàng hải. Khi sự tò mò của ông đã được thỏa mãn về các chi tiết này, ông vui vẻ khen ngợi sự thông minh, kỹ năng và năng lực của người “Olan” (Tây dương), và với một cảm xúc buồn tủi, ông lấy làm tiếc phàn nàn về tình trạng còn thiếu văn minh của nước ông.

Sau hai giờ đàm đạo rất thích thú, ông thông báo chúng tôi là có một buổi tiệc giải lao đãi chúng tôi theo kiểu Âu, dưới sự điều hành của Antonio, thông dịch viên trước đây đã ở Macau. Trên một bàn nhỏ ở giữa sảnh đường có đầy các đĩa, chén chứa đủ loại thức ăn Á châu, gà, vịt luộc, cơm, khoai, khoai lang, heo nướng, các, bánh và cá giầm muối… Antonio đã tìm được ở đâu đó, có thể từ Pasqual, hai dao và một nĩa cũ, để chúng tôi chia nhau dùng cắt thịt, và sau đó dùng các lông nhím để cắm vào đồ ăn và bỏ vào miệng”.

Qua hồi ký, ta thấy tình cảm quý trọng của John White dành cho Lê Văn Duyệt sau nhiều tháng sống ở đây, chứng kiến bao nhiêu thăng trầm và kinh nghiệm với nhiều tầng lớp trong xã hội: “Sau khi giã từ con người vĩ đại này, trong lòng tôi có một sự nuối tiếc vô cùng là tình huống đã không trao cây gậy trị vì của bán đảo tốt đẹp này vào tay ông, một người biết cách làm sao mang nước này thành một nước vinh quang và hạnh phúc hơn vị vua độc tài hiện nay”.

Nguyễn Đức Hiệp
(Trích từ Sài Gòn - Chợ Lớn qua những tư liệu quý trước 1945, NXB Văn hóa - Văn nghệ)


Nguồn: https://thanhnien.vn/van-hoa/tong-tran-le-van-duyet-qua-ghi-chep-cua-nguoi-my-731709.html?fbclid=IwAR1YjWwJBYQRusHP6wJURKCODqi5UQiLwfbvspTuBaA1p8oc9d5T0s_JvBk


Các chiến sĩ Nhảy Dù của Quân Đội Quốc Gia Việt Nam tảo thanh quân Bình Xuyên tại khu vực trước cổng trường Petrus Ký, Sài Gòn 1955.






Việt Nam 1945

Sàigòn, tháng 6 năm 1930


Trường Tiểu và Trung Học Trước 1975



BÀI MỚI CẬP NHẬT
_____
  1. Đôi điều về thời điểm ra đời địa danh Bình Thủy. Đăng Huỳnh
  2. Cải lương miền Tây với nỗi buồn hợp nhất. Thảo Vân
  3. Tản mạn về một truyện Nôm mới thấy nguyên bản ở Paris. Nguyễn Văn Sâm
  4. Thủ Khoa Huân quê ở đâu? Lê Công Lý
  5. Xuất xứ và công dụng của cột tháp cao quen thuộc ở đường Phan Thanh Giản (nay là Điện Biên Phủ) – Sài Gòn. Đông Kha
  6. Đính chính đôi chỗ liên quan đến việc đào vét kinh Bảo Định năm 1705 và 1819. Lê Công Lý‎
  7. Ai là Hội Trưởng đầu tiên của Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu Tương Tế Saigon? Nguyễn Phương‎
  8. Người bí ẩn đã lập nên ‘Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế’ là ai? Lê Đại Anh Kiệt
  9. Việt ngữ chánh tả tự vị. Lê Ngọc Trụ‎
  10. Việt Nam văn phạm. Trần Trọng Kim‎
  11. Thánh Nữ Chân Kinh (2). Nguyễn Văn Sâm
  12. Đưa chân Du Tử Lê về với đất: ‘Đi với về cùng một nghĩa như nhau’. Ngọc Lan/Người Việt
  13. Giỗ Tổ sân khấu nay không còn như trước 1975. Soạn giả Nguyễn Phương
  14. Trường hợp Nguyễn Tất Nhiên, những ngày tháng, cũ. Du Tử Lê
  15. Bồi hồi chuyện cũ năm xưa: Tại sao tôi theo nghề hát cải lương. Soạn giả Nguyễn Phương
  16. Ông già Ba Tri. Hoàng Phương - Ngọc Phan
  17. Ý nghĩa tên gọi của các địa danh ở Sài Gòn. Khánh Lâm
  18. Nhà thơ Trần Tuấn Kiệt. Nguyễn Vy Khanh
  19. Nhà thơ Du Tử Lê. Nguyễn Vy Khanh
  20. Nhà thơ Nguyễn Đức BạtNgàn. Nguyễn Vy Khanh
  21. Nhà văn Trùng Dương. Nguyễn Vy Khanh
  22. Lục Vân Tiên trong văn hóa miền Nam. Lâm Vĩnh Thế
  23. Báo Phụ Nữ Tân Văn. (eBook) Cập nhật
  24. Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh Việt Nam Cộng Hòa: Trách nhiệm thuộc về ai? Lâm Vĩnh Thế
  25. Mưa Sài Gòn tiễn thi sĩ tài hoa Sa Giang Trần Tuấn Kiệt. Trần Tiến Dũng‎
  26. Cái chết của Khái Hưng. Báo Ngày Mới
  27. Họa sĩ Lê Minh qua đời ở tuổi 82. Thanh Hiệp
  28. Việt Nam Tự Điển. Lê Văn Đức - Lê Ngọc Trụ
  29. Nghệ sĩ Tư Chơi - người chồng đầu tiên của NSND Phùng Há. Phạm Công Luận
  30. Xôn xao chợ búa Sài Gòn. Trang Nguyên
  31. Theo anh về Miệt Thứ. Huyền Văn
  32. Thi sĩ Du Tử Lê, tác giả của ‘Khúc Thụy Du,’ qua đời, hưởng thọ 77 tuổi. Đỗ Dzũng
  33. Rạp hát Nguyễn Văn Hảo theo dòng lịch sử Saigon. Soạn giả Nguyễn Phương
  34. Tạp chí Thanh Nghị (1941-1945).
  35. 100 năm Vũ khúc Đông Dương. Q.N.
  36. Phùng Há - 100 năm bây giờ mới kể 1: Tuổi thơ cay đắng. NSƯT Nam Hùng
  37. Phùng Há - 100 năm bây giờ mới kể 2: Cô đào trong lò gạch. NSƯT Nam Hùng
  38. Phùng Há - 100 năm bây giờ mới kể 3: Vinh quang và cay đắng. NSƯT Nam Hùng
  39. Phùng Há - 100 năm bây giờ mới kể 4: Vai diễn đi cùng năm tháng. NSƯT Nam Hùng
  40. Phùng Há - 100 năm bây giờ mới kể 5: Ra đi và gửi lại. NSƯT Nam Hùng
  41. Điểm lại những khảo cứu về âm nhạc cổ truyền Nam Bộ. Vĩnh Phúc
  42. Quanh bản phục dựng “Vũ khúc Đông Dương”: Lại thêm một nghi án đạo văn. Báo Lao Động‎
  43. Về một kiểu “nghiên cứu” nhạc cổ truyền Việt Nam (1). Bùi Trọng Hiền
  44. Về một kiểu “nghiên cứu” nhạc cổ truyền Việt Nam (2). Bùi Trọng Hiền
  45. Về một kiểu “nghiên cứu” nhạc cổ truyền Việt Nam (3). Bùi Trọng Hiền
  46. Các loại nhịp cổ nhạc.
  47. Truyện thơ Bạch Viên Tôn Các - trích đoạn 3. Nguyễn Văn Sâm
  48. Độc đáo tranh kiếng Nam Bộ. Huỳnh Thanh Bình
  49. Tranh kiếng Nam bộ. Huỳnh Thanh Bình
  50. Giới thiệu bài Tựa tập Gia Định tam gia thi và diện mạo bản khắc tập thơ. Lê Quang Trường
  51. Đàn guitar phím lõm. Kiều Tấn
  52. Quan niệm văn chương của Phan Thanh Giản. Lê Quang Trường & Nguyễn Thị Liên
  53. Phú Thành, hủ tiếu Sa Đéc ‘có một không hai’. ‎Nguyễn Ðạt‎
  54. Minh Oan và Vinh Danh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Lâm Vĩnh Thế
  55. Tìm hiểu danh hiệu “Thế giới Thập bát Văn hào” của Trương Vĩnh Ký. Trần Thanh Ái
  56. Ngôi đền thờ Ông Bà Chủ Chợ. ‎Trần Quang Diệu‎
  57. Con đường bờ kè thành phố Mỹ Tho. Phùng Nhân
  58. Truyện thơ Bạch Viên Tôn Các - trích đoạn 4. Nguyễn Văn Sâm
  59. Giai thoại địa danh rạch Bù Mắt. Huỳnh Thăng
  60. Tân Định - Đa Kao mãi mãi trong tiềm thức. Trần Đình Phước
  61. Tên gọi của các trường Đại học ở miền Nam trước năm 1975. Fb Nam Kỳ Lục Tỉnh
  62. Hồ Biểu Chánh và chút tình Nam Kỳ Lục Tỉnh. Nguyễn Gia Việt
  63. Tâm sự Người Tù Cải Tạo qua một tập thơ chữ Hán. Nguyễn Văn Sâm
  64. Ký ức Sài Gòn – Chợ Lớn xưa. Ngô Minh Hùng
  65. Thêm một vụ lấy ý tưởng người khác làm nghiên cứu của mình. Dĩ An
  66. Nghiên cứu bình dân, nghiên cứu quý tộc hay nạn đạo văn và bom thúi trong công trình khoa học. Lê Công Lý
  67. Thơ Nôm miền Nam Bạch Viên Tôn Các. Nguyễn Văn Sâm
  68. Những kẻ phá hoại văn hóa Nam Kỳ. Nguyễn Gia Việt
  69. Bàn về Song Lang. Nguyễn Phúc An
  70. Lòng nhớ thương Mẹ trong một đoạn văn Nôm xưa. Nguyễn Văn Sâm
  71. Ba tôi và trại tù Vĩnh Phú. Lê Xuân Mỹ
  72. Bách Linh Nhứt Điểu: Tâm sự người viết - Tâm sự người đọc. Nguyễn Văn Sâm
  73. Thư tịch chọn lọc các tài liệu tiếng Anh về chiến tranh Việt Nam. Lâm Vĩnh-Thế
  74. Sinh viên VNCH biểu tình chống Trung Quốc năm 1974. Thùy Linh‎
  75. Nhà thuốc tây, nhà thuốc gác. Trần Ngọc Hiếu
  76. Tổ hát xướng là ai? Nguyễn Gia Việt
  77. Trần Văn Nam: nhà thơ và lý luận văn-học. Nguyễn Vy Khanh
  78. Văn-Học Việt-Nam Trong-Ngoài. Nguyễn Vy Khanh
  79. Về tục thờ Bà Đen ở Nam Bộ. Huỳnh Thiệu Phong
  80. Hoàng Diệu và Em. Nguyễn Văn Sâm
  81. Đổi tiền. Nguyễn Hiến Lê
  82. Đốt sách. Nguyễn Hiến Lê
  83. Tư liệu mới về tiền nhân và hậu duệ của Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức. Lê Công Lý
  84. Tạp ghi: Du hành Tây Bắc. Nguyễn Văn Sâm
  85. Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh?
  86. Khôi nguyên vọng cổ, NSƯT Minh Vương: Còn sức còn hát! ‎Tố Tâm‎
  87. Tổ chức UNESCO không vinh danh Hồ Chí Minh. Trần Gia Phụng
  88. Tài hoa và nhân cách nhạc sĩ Anh Việt Thu. Du Tử Lê
  89. Bộ trưởng giáo dục VNCH bị đày chết ở nhà tù Ba Sao (Hà Nam). Võ Khánh Tuyên
  90. Giải tỏa mấy ngộ nhận về “Ba danh nhân văn hóa thế giới” của Việt Nam. Phùng Hoài Ngọc‎
  91. Trường ca Hòn vọng phu của nhạc sĩ Lê Thương.
  92. Nhân đọc Kinh Pháp Cú Tây Tạng của Thiền Hữu Nguyên Giác. Đạt Giả Nguyễn Văn Sâm
  93. Chuyện giải buồn (năm 1886). (ebook) Huỳnh Tịnh Của‎
  94. Một truyện ngắn đầu tiên của Văn Học Việt Nam. Nguyễn Văn Sâm
  95. Giỗ đầu Bùi Tín - Và chưa chi chiều đã tắt. Trần Phương
  96. ‘Lan và Điệp’ phiên bản 2019: Hương xưa phai đi ít nhiều! Linh Đoan
  97. Hiện-tượng hồi-ký hải-ngoại. Nguyễn Vy Khanh
  98. Sài-Gòn, Ngày Trở Lại. Nguyễn Vy Khanh
  99. Sài Gòn chuyện đời của phố: Cư xá của những nghệ sĩ danh tiếng. Phạm Công Luận
  100. Nhà biên khảo Vy Thanh ấn hành: Ho Chi Minh, A Documentary Study. Phan Tấn Hải
  101. Đọc một truyện trong cuốn “Chuyện Giải Buồn” của Huỳnh Tịnh Của. Nguyễn Văn Sâm
  102. Cần sớm khẳng định chủ quyền với đàn bầu. Hà Đình Nguyên - Kiều Mai Sơn
  103. Bộ tranh xưa và hợp tác xã trường mỹ thuật Gia Định. Phạm Công Luận
  104. Nỗi buồn cổ vật. Trần Anh Tuấn
  105. Văn Vĩ - nhạc sĩ tài hoa trong làng cổ nhạc. Nguyễn Phương
  106. Giải huyền thoại “Văn hóa Bắc Hà”. Chu Mộng Long
  107. Cuộc đời và tiểu sử của ca sĩ Bùi Thiện – “Giọng nam cao” nổi tiếng của làng nhạc trước 75. Đông Kha‎
  108. Tân Hiệp (Mỹ Tho). ‎Nguyễn Gia Việt‎
  109. Về chữ “BẬU”. Nguyên Lạc
  110. Xe ngựa trên đường phố Sài Gòn xưa. Khánh Ly
  111. Hoàn cảnh sáng tác bài hát Một Người Đi của nhạc sĩ Mai Châu: “Tôi tiễn anh lên đường…”. Đông Kha‎
  112. Cơn gió bụi. Lê Nguyễn Nga
  113. Tạp chí Vấn Đề và Ngụy Ngữ. Trần Hoài Thư‎
  114. Chút ưu tư về dòng văn chương tiếng Việt ở hải ngoại. Ngô Viết Trọng
  115. Chuyện cái lon Guigoz – Một vật dụng thân thuộc của người Sài Gòn xưa. Nhạc Xưa Thời Báo
  116. Cái cười. Trịnh Y Thư
  117. U Tình Lục, tác phẩm của Hồ Biểu Chánh thí nghiệm về đất trời phương Nam. Nguyễn Văn Sâm
  118. Thương tiếc giáo sư đạo hữu Nguyễn Mạnh Bảo. Huỳnh Anh Tú
  119. Thành cổ Nam bộ: Thành Vĩnh Long - nỗi đau Phan Thanh Giản. Lương Chánh Tòng
  120. Tản mạn về phở Sài Gòn. Phan Nghị
  121. Về phương Nam ngắm sông ngậm ngùi. Nguyễn Gia Việt
  122. Vì sao cải lương thoái trào? Nguyễn Gia Việt‎
  123. Vè “Bão lụt năm Thìn”. Nguyễn Văn Sâm
  124. Lăng Cha Cả - Một góc Sài Gòn xưa. Trần Chánh Nghĩa
  125. Đọc Nguyễn Văn Sâm: Đi tìm một thời đã mất. Trần Mộng Lâm
  126. Việt cộng nằm vùng! Phùng Annie Kim
  127. Đại lễ Kỷ niệm 80 năm ngày khai sáng đạo Phật Giáo Hòa Hảo. Hồng Trung
  128. Ngày cuối cùng ở Dakto - 27/4/1972. Trang Y Hạ
  129. Vè “Tây tới Nam kỳ”. Nguyễn Văn Sâm
  130. Bầu Xuân - ông chủ đoàn cải lương Dạ Lý Hương từ trần. Thanh Hiệp
