Khí CFC là gì, ứng dụng trong mút xốp PU

Ở đây không nêu cơ chế tác hại đến tầng Ozone như thế nào. 

CFC chất trợ nở những năm 1980

Cho đến cuối những năm 1950, mút PU được thổi bằng carbon đi oxit (CO2) giải phóng từ phản ứng của isocyanate với nước. Tỷ lệ sử dụng mút polyurethane tăng tốc nhanh chóng khi phát hiện ra và sử dụng các chất chlorofluorocarbon (CFC) vào cuối những năm 1950 làm chất trợ nở vật lý. Sự khuếch tán CO2 hay trợ nở vật lý vào các bóng khí tạo nhân trước đó trong phản ứng là yếu tố làm nở bóng khí lên để tạo mút. Việc sử dụng CFC, đặc biệt trichlorofluoromethane (CFC-11), làm chất trợ nở vật lý đưa đến việc sản xuất mút cứng tế bào đóng có tỷ trọng thấp, tính chất cơ lý tốt và hệ số k vô cùng thấp (hệ số truyền nhiệt), không thể nào đạt được đối với những loại mút nhựa khác. Nó cũng giúp đạt được những tính chất thích hợp cho nhiều sản phẩm nệm mút. Như liệt kê trong Bảng 1, CFC-11 có những đặc tính lý tưởng để làm chất trợ nở vật lý: khối lượng phân tử thấp, điểm sôi khoảng nhiệt độ phòng, ít độc, không cháy và độ dẫn nhiệt thấp. Điều này đi cùng với tính chất hóa học xuất sắc và độ bền nhiệt cũng như giá thành sản xuất thấp làm cho các chất trợ nở vật lý CFC được chọn dùng cho tất cả các mút PU, đặc biệt mút cứng cách nhiệt. Chất CFC khác, dichlorodifluorocarbon (CFC-12) sử dụng giới hạn trong sản xuất mút PU cứng làm chất tạo bọt và chất phân tán. Methylene chloride (MC) được đưa vào sửng dụng từ giữa những năm 1970 làm chất trợ nở cho mút mềm và mút da liền. 


[IMG]
[IMG]
Comments