HCFC là gì, ứng dụng trong mút xốp Polyurethane

CFC và có khuynh hướng phân hủy ở tang khí quyển thấp hơn thành những chất vô cơ đơn giản, như là hydrogen halides (hợp chất chứa hydro-halogen VD HCl). Do đó, khả năng HCFC dịch chuyển vào tầng khí quyển và phân hủy thành clo phá hủy ozone thấp hơn nhiều so với CFC. Cũng vậy, sản phẩm phân hủy không phân bố đàng kể vào sự hình thành khói quang hóa trong khu vực thành phố hay tạo mưa axit. Do đó, HCFC có ODP thấp, nói chung giữa 0.01-0.13, và không xếp vào loại VOC.

Nghiên cứu HCFC lỏng thích hợp để thay thế CFC-11 trong những năm cuối 1980 thu được kết quả một danh sách ngắn hai chất trợ nở, có tên là HCFC-123 (CHCl2CF3) và HCFC-141b (CH3CCl2F) là những ứng cử viên tiên phong. Thông số độc tính khá không thuận lợi đối với HCFC-123 do đó ngưng phát triển chất trợ nở này. Nghiên cứu để thay thế CFC-12 dựa trên hai sản phẩm thương mại sẵn có, có tên là HCFC-22 (CHClF2) và HCFC-142b (CH3CClF2), Bảng 4 liệt kê các tính chất của HCFC phổ biết nhất và chất thay thế khác, 2-chloropropane. 2-chloropropane có ODP và GWP thấp thu hút nhiều sự chú ý, nhưng nó đã không được sử dụng rộng rãi. Một HCFC cũng nhận được sự chú ý gần đây là 2-chloro-1,1,1,2-tetrafluoroethane, tức là., HCFC-124 có ODP là 0.02; GWP là 470; điểm sôi -12.1độ C, và độ dẫn nhiệt trạng thái khí là 12.3 mW/m.K ở 25 độ C. Tuy thế nó đã không được thương mại chấp nhận. HCFC-141b và HCFC-22 được xem là hai chất sử dụng rộng rãi nhất dùng làm chất trợ nở trong công nghiệp mút PU.

[IMG]
[IMG]

Comments