Trang văn học

Trang chủ >> Hồi ký Nguyễn Thị Sơn

Nhiều lần suy nghĩ về cuộc đời mình, tôi thấy có nhiều nỗi thăng trầm, có thể rút ra một bài học gì đó cho con cháu trong gia đình. Nhưng tôi lại không muốn viết hồi ký vì viết hồi ký phải sưu tập tư liệu rất vất vả. Cuối cùng tôi chọn thể lọai tự truyện vì tôi nghĩ tự truyện như một câu truyện tự kể, nghĩ đến đâu kể đến đó không bị ràng buộc về chi tiết các sự kiện, giống như mẹ tôi vẫn kể ngày xửa ngày xưa mà không cần xác định ngày xưa là thời điểm nào. Những câu chuyện tôi kể ở đây là những câu truyện gắn bó với cuộc đời tôi, có những kỷ niệm sâu sắc mà tôi nhớ mãi không quên, về những con người tôi từng gặp hoặc địa danh tôi từng đến. Nhưng về thời gian của các câu truyện chỉ là tương đối, có câu truyện tôi ghi chép rất chính xác vì tôi còn lưu giữ những hình ảnh, nhưng cũng có câu truyện chỉ là ước đoán thời gian theo trí nhớ. Hơn nữa tôi không phải là nhà văn, tôi không có khả năng thêm thắt hư cấu tả tình tả cảnh được, nên tự truyện của tôi viết theo giọng kể truyện hơn là viết một tác phẩm văn học.

 

Tôi chọn đề tài TÌNH YÊU-GIA ĐÌNH-SỰ NGHIỆP vì cả cuộc đời tôi, ba chủ đề này luôn luôn xuất hiện cùng một lúc xung đột và hòa quyện lẫn nhau. Tôi trân trọng với tình yêu và vun đắp cho hạnh phúc gia đình, sự nghiệp. Tình yêu cũng là động lực giúp cho tôi cân bằng sự sống để làm việc tốt hơn. Và cuối cùng niềm vui lớn nhất là sự trường tồn vĩnh cửu của một gia đình và sự trưởng thành của các con, các cháu.

Thông thường hồi ức của một đời người thường bắt đầu ở tuổi bé thơ, nhưng tôi lại khởi đầu một chuỗi câu truyện của tôi ở tuổi 17 vì đối với tôi có lẽ tuổi 17 là thời điểm mà tôi biểu lộ rõ nét nhất về tính cách của cuộc đời tôi sau này.  

 

Tuổi 17

 

Ở tuổi 17 (1967) tôi bắt đầu có những nét duyên dáng của người con gái đến tuổi dậy thì, nước da trắng, người dong dỏng cao, khuôn mặt đầy. Bạn cùng trường gọi tôi là Phương Hoài Tâm vì tôi có mái tóc cắt ngang và khuôn mặt hao hao giống ca sĩ Phương Hoài Tâm ở thập niên 60 thế kỷ trước.

 

Tôi học năm nào cũng được khen thưởng toàn trường, và có nhiều năng khiếu như vẽ cũng đẹp, viết lách cũng tương đối lại cẩn thận nên được trường giao cho làm tờ bích báo của trường.

 

Tôi thích môn học toán và lý hóa, buổi sáng học chính khóa, buổi chiều ôn bài tôi thường làm trước các bài tập trong sách, nên khi thày cho bài tập vừa viết xong đề bài là tôi đã ra ngay đáp số, vì thế các thày dạy toán lý hóa rất quý tôi nhất là thày Cấp dạy môn toán đại số, luôn luôn ca ngợi tôi trước các học sinh trong lớp, tôi được khen càng thích và càng cố gắng học thật tốt các môn học này. Nhưng tôi lại lười học môn Pháp văn chỉ vì có một tuần tôi bị ốm không đến học, khi vào lớp bị thày gọi lên trả bài, tôi chưa kịp ôn bài nên khi thày hỏi tôi lúng túng và bị thày mắng ngay tại chỗ, nên từ đó tôi tránh thày và tự dưng không thấy thích thú khi học môn tiếng Pháp. Tiếng Anh là sinh ngữ chính của lớp tôi, làm bích báo của trường ngày ấy rất vất vả, phải kêu gọi mọi người viết bài, rồi phải trang trí sao cho tờ báo treo lên tường phải đẹp, phong phú và hấp dẫn người đọc, nhiều khi không đủ bài vở tôi và cậu em trai tôi phải tự viết dưới nhiều bút danh, kể cả dịch các truyện ngắn từ tiếng Anh đưa vào tờ báo.

 

Thư viện của trường tôi ngày ấy có rất nhiều sách nước ngoài, nhất là các sách nói về lịch sử các nền văn minh và danh nhân trên thế giới. Tôi có ý tưởng muốn trở thành nhà báo, nhà văn hoặc luật sư cũng từ công việc làm báo này.

 

Ở trường ai cũng khen tôi hát bài “Giọt mưa thu”, “Suối mơ” giọng cao giống ca sĩ Thái Thanh. Có lúc tôi đã mong mình sẽ trở thành ca sĩ, nhưng hình như tôi không có nghiệp làm ca sĩ nên mỗi lần có cơ hội thì tôi lại gặp những trục trặc nho nhỏ. Tuy vậy, tôi vẫn yêu thích ca hát và ngâm thơ khi có dịp. Trường tôi thỉnh thỏang vẫn tổ chức văn nghệ toàn trường hoặc tổ chức giao lưu văn nghệ giữa các trường, mỗi lần như thế các thày cô phải dàn dựng tập dợt rất công phu và lên chương trình cụ thể. Có một lần vào dịp tất niên nhà trường tổ chức đêm văn nghệ, sau đợt sơ tuyển tôi được chọn hát bài “Giọt mưa thu” nhưng đến trước ngày biểu diễn một ngày tôi đề nghị đổi sang bài “Trăng mờ bên suối”. Lúc hát thử ban tổ chức thấy bài hát này trữ tình hơn và không buồn bằng “Giọt mưa thu” nên chấp nhận cho tôi đổi, chẳng ngờ do tôi hồi hộp quá nên khi biểu diễn chính thức tôi quên lời một đoạn và hát không tròn câu vì thế trở nên mất bình tĩnh, không ngân cao như ý muốn được.

 

Về thơ phú, tôi không có khả năng làm thơ nhưng lại thích ngâm thơ. Khi tôi còn đi học tôi không thích lắm nhân vật Thúy Kiều của đại thi hào Nguyễn Du vì thời ấy con gái chúng tôi cho rằng nghĩ nhiều về nhân vật này sẽ vận vào thân không tốt. Nhưng tôi lại rất thích cách ông bắt đầu câu chuyện khi ông mô tả nét đẹp và tính cách của Thúy Vân, Thúy Kiều ở tuổi trăng tròn mà từ các tính cách ấy đã xây dựng nên cuộc đời của Thúy Vân và Thúy Kiều sau này hoàn toàn khác hẳn. Một người an nhàn với cuộc sống gia đình ấm êm vì Hoa cười ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da. Còn một người thì đau khổ với phong ba bão táp vì Làn thu thủy, nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh. 

 

Về bạn đồng môn, tôi có hai người bạn thân học với tôi từ lớp 6, một người tên là Tôn nữ Minh Thu, một người tên là Phạm Mỹ Lê. Hai người bạn này rất thích ăn mặc đẹp, mốt nào mới nhất hai bạn này cũng có, ngày ấy các bạn hay mở các buổi dạ tiệc ở gia đình và cũng hay mời tôi đến chơi nhưng tôi không biết khiêu vũ nên chỉ ngồi nghe nhạc. Hai bạn rất muốn chỉ cho tôi biết khiêu vũ nhưng tôi không học được, cho đến bây giờ khiêu vũ đã trở thành phổ biến tôi cũng không thực hiện được. Sau này bạn Minh Thu lấy một người chồng rất giàu có ở Sài Gòn và đã lập nghiệp ở Mỹ trước 1975, còn bạn Mỹ Lê lúc ấy yêu một sĩ quan không quân nhưng đã tử trận, sau 1975 gặp một người chồng tốt và đã định cư ở Santa Anna, California. Khi lên cấp 3 (hồi ấy gọi là đệ tam) hai lớp Anh-Pháp nhập chung, tôi cũng có thêm một số bạn cùng học ôn thi như các bạn Huệ Anh, Minh Tâm, Xuân, Thanh Sơn nhưng đã nhiều năm qua chúng tôi không gặp nhau, hình như các bạn cũng đang sống ở Mỹ. Có hai bạn ngồi ở cuối lớp nên lúc học cấp 3 không quen thân lắm nhưng sau này khi trưởng thành lập nghiệp chúng tôi có gặp nhau, đó là chị Mỹ Lệ (B) có lúc là giám đốc xí nghiệp thêu thuộc Legamex, bây giờ là chủ một công ty thêu hợp tác với Nhật Bản và anh Bông phụ trách dự án đầu tư của công ty Sơn Kim.

 

Con gái tuổi 17 bắt đầu biết làm duyên nên cũng có nhiều anh chàng ngắm nghé chờ tôi trước cổng trường, thấy tôi ra là các anh lượn Vespa tới hỏi chuyện, nhưng tôi lại chú ý một anh chàng đi xe Honda 67 vì anh là tay đàn Guitar của nhóm học sinh năm cuối Petrus Ký, thỉnh thoảng vẫn sang trường tôi đàn trong các chương trình giao lưu văn nghệ giữa các trường. Ngày ấy một người con gái ngồi sau xe của một người con trai có nghĩa chấp nhận người ấy là “bồ” của mình vì thế mà tôi rất ngại khi thấy các anh cứ lẽo đẽo theo tôi, có khi tôi đi bộ cả 3 cây số mới về đến nhà nhưng nhất quyết không leo lên xe của ai cả. Nhiều người đeo đuổi mãi không được cũng giận bảo tôi là khinh người, làm cao. 

 

Khởi nghiệp 

 

Bố mẹ tôi là người Bắc Ninh, sống ở Hà Nội và di cư vào miền Nam năm 1954. Do điều kiện công tác của bố tôi nên ông bà có hơn hai năm sống ở Huế. Ngày ấy tôi mới 5 tuổi nên không nhớ gì nhiều, chỉ một vài hình ảnh như tiềm thức còn ghi lại, đó là ngôi trường khi tôi bắt đầu đi học, xây từ thời Pháp với khu vườn rất rộng lớn có những hàng cây cao, có các bà sơ hiền dịu. Ngày đầu đến trường tôi nhớ mẹ nên không chịu vào lớp mà chỉ ngồi khóc ở ngoài sân, các sơ vỗ về tôi bằng giọng Huế nghe rất lạ “con nì, mi mần răng rứa, răng mi khóc, nhà mi ở mô, sơ đưa mi về hỉ”. Từ trường về nhà tôi phải đi qua chiếc cầu dài với nhiều nhịp. Mỗi lần đi qua cầu tôi hay thả những chiếc thuyền giấy xuống giòng sông lăn tăn những gợn sóng nhỏ, óng ánh dưới ánh nắng chiều tà. Theo mẹ tôi kể lại, ngày ấy có sự khác biệt về văn hóa truyền thống giữa hai miền Trung-Bắc (phụ nữ Huế bước ra đường là phải mặc áo dài, dù là đi ra chợ để mua sắm) và giọng nói của người xứ Huế không chỉ khác với người Hà Nội về âm giọng mà còn khác về ngôn từ, ví dụ “O nớ đi mô rứa” thay vì “cô ấy đi đâu thế”. Mẹ tôi nói rằng bà rất khó khăn trong thời gian đầu để hòa nhập.

 

Trước khi di cư vào miền Nam, mẹ tôi có một cửa hiệu bán vải lụa ở phố Khâm Thiên, Hà Nội. Năm 1957 bố mẹ tôi từ Huế vào Sài Gòn lập nghiệp, ông bà đã quyết định thành lập một cơ sở may mặc, sản xuất hàng quần áo may sẵn cung cấp cho các cửa hiệu bán buôn tại Sài Gòn, Chợ Lớn, Biên Hòa, Quy Nhơn...

 

Từ nhu cầu của thị trường mà cơ sở sản xuất của gia đình tôi phát triển từng bước rất thuận lợi. Chị em tôi được bố mẹ chăm sóc cho ăn học rất đàng hoàng. Bố tôi kỳ vọng tôi và em trai tôi sẽ là luật sư, giáo sư vì thấy chị em tôi bộc lộ những năng khiếu về tranh luận, nhất là cậu em trai tôi thường hay phản biện về những ý kiến trong các chương trình thời sự (thời sự những năm 1963-1969 có nhiều vấn đề về chính trị và xã hội). 

 

Nhưng một sự vô tình đã đưa tôi bước vào con đường kinh doanh mặt hàng thời trang năm tôi 18 tuổi (năm 1968). Do hàng ngày phụ giúp mẹ tôi quản lý công việc điều hành, làm sổ sách kế toán, ký cheque thanh toán mua hàng, theo dõi công nợ bán hàng nên tôi có cơ hội tiếp xúc với nhiều người trong giới doanh thương mà tôi lại là cô gái thích ăn mặc đẹp. Một hôm có người bạn hàng của mẹ tôi hỏi tôi mặc những bộ quần áo mua ở đâu, tôi nói đùa tôi tự may, bà ấy khen đẹp và nói tôi nên làm thử đem ra thị trường xem sao.

 

Cho đến ngày ấy tôi vẫn chỉ là cô nữ sinh còn lo chuyện học hành, việc kinh doanh, sản xuất là mẹ tôi làm, tôi chỉ phụ giúp về sổ sách và quản lý tài chính cho mẹ tôi thôi nhưng khi nghe bà khách ấy đề nghị tôi cũng thấy hay hay. Thế là đêm đó mất ngủ vì suy nghĩ cách làm. Hôm sau, tôi đến các tiệm vải nổi tiếng của Sài Gòn tìm mẫu vải và về tự thiết kế mẫu, tự cắt và may, rồi lại ướm thử cho đến khi thấy đẹp. Sau đó cắt rập và cho sản xuất thử đưa ra cửa hàng, không ngờ hôm sau tôi nhận được phản hồi là hàng đã bán hết và yêu cầu tôi làm thêm. Do không tự tin lắm vào lần đầu tiên nên tôi không lưu mẫu, lần thứ hai tôi tính sai công thức hạ cổ, vì thế hàng may xong cổ áo hạ quá sâu. Tôi rất lo lắng không biết có giao hàng được không, chẳng ngờ hàng lại bán rất nhanh vì các cô cho rằng hạ cổ sâu như thế trông mới đẹp, mới quyến rũ. Thế là bố mẹ tôi quyết định đầu tư cho tôi một nhánh chuyên về thời trang dành cho phụ nữ và thanh thiếu niên. Tôi có năng khiếu về thiết kế, mỗi năm một chủ đề, hàng bán rất chạy và sản xuất với số lượng lớn để đáp ứng nhu cầu thị trường.

 

Đến năm 1975, thống nhất đất nước, hai miền Nam Bắc thông thương, bộ đội về thăm quê nhà, trong ba lô của anh bộ đội thường không thể thiếu một vài bộ quần áo thun dệt kim làm quà cho gia đình. Tôi lại tiếp tục sản xuất áo Pull, T-Shirt dệt kim cung cấp cho nhu cầu rất cần thiết này cho đến năm 1976 thì toàn bộ cơ sở của gia đình tôi được kêu gọi đưa vào hình thức sản xuất tập thể, thành lập tổ hợp may và sau đó nâng lên thành Hợp tác xã bậc cao Đại Thành vào năm 1977...

  • Nguyễn Thị Sơn