Suy thoái môi trường trong nuôi tôm

Tổng quan tình hình suy thoái và ô nhiễm môi trường
 trong nuôi tôm nước lợ ven biển và giải pháp khắc phục
tháng 08/2008
Nguyễn Đức Bình

Trên thế giới

Nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á như Philippine, Đài Loan, Thái Lan, Indonesia nghề nuôi tôm nước lợ đã tạo ra một sự chuyển đổi hiệu quả và đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho nông dân. Tuy nhiên, một nghiên cứu của Tổ chức Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) về hoạt động nuôi tôm tại các nước ven Thái Bình Dương đã đưa ra một cảnh báo về sự suy giảm của ngành này trong khu vực. Sự suy giảm của nghề nuôi tôm nước lợ xuất phát từ nghiều nguyên nhân: Sự xuất hiện và gia tăng một số bệnh, dịch lây lan trong môi trường; Môi trường bị xuống cấp, suy thoái; Chất lượng nguồn nước kém…Xu hướng tăng trưởng của nghề nuôi tôm trong thập niên 80 đã không còn tiếp tục sang thập niên 90 mà bắt đầu có những giao động từ giữa thập niên 90 cho tới nay. Những vấn đề xuất hiện và ngăn cản sự phát triển của nghề nuôi tôm bao gồm bùng phát bệnh dịch do virus, sự xuống cấp của môi trường, phá hủy rừng ngập mặn, thiếu hụt các trại nuôi tôm giống có chất lượng. Ngoài ra, việc thay đổi môi trường tự nhiên ven biển đã làm xuất hiện những lo ngại liên quan tới chất lượng nước và đất, sự cân bằng môi trường [17].

Một số hội nghị, hội thảo chuyên gia đã giúp xác định các vấn đề và phát triển hướng dẫn về mặt kỹ thuật và các khuyến cáo về mặt chính sách. Các ví dụ bao gồm:

·        Các cuộc họp chuyên gia GESAMP giai đoạn 1991 – 1997 về các tác động môi trường, quan trắc môi trường, sử dụng hóa chất và tích hợp nuôi trồng thủy sản vào quản lý đới bờ (The GESAMP expert meetings in 1991 – 1997 on environmental impacts, monitoring, use of  chemical and intergration of aquaculture into coastal management).

·        Cuộc hội đàm kỹ thuật của FAO năm 1997 tại Bangkok về các chính sách nuôi tôm bền vững (The 1997 FAO Bangkok Technical Consultation on Policies for Sustainable Shrimp Culture).

·        Tuyên bố Bangkok năm 2000 và chiến lược nuôi trồng thủy sản trong thiên niên kỷ thứ ba (the 2000 Bangkok Declaration and Strategy on Aquaculture in the Third Millennium).

Báo cáo năm 2003 của chương trình  Thematic Review on Coastal Wetland Habitats and Shrimp Aquaculture, đã khái qua các vấn đề liên quan đến nuôi trồng thủy sản và môi trường với 14 trường hợp nghiên cứu điển hình đã được thực hiện, trong đó liên quan đến suy thoái đất bao gồm:

·        Quy hoạch vùng nuôi tôm

·        Sử dụng rừng ngập mặn để cải tạo sinh học trong hệ thống nuôi tôm khép kín;

·        Kết hợp quá trình sinh học và quá trình vật lý để xử lý nước các trại nuôi tôm biển;

·        Hệ thống nuôi tôm trong rừng ngập mặn ở Cà mau Việt nam;

·        Phục hồi và quản lý các ao nuôi tôm trên vùng đất phèn

·        Các kinh nghiệm trồng lại rừng ngập mặn trên các ao tôm bỏ hoang và rừng ngập mặn bị suy thoái ở khu dự trữ sinh quyển

·        Phục hồi lại rừng ngập mặn sau khi nuôi tôm: trường hợp điển hình về sự tiến bộ ở rừng bảo tồn quốc gia Don Sak, Surat Thani, Nam Thái lan.

Theo Naylor và cộng sự (2000), ở Thái Lan, ước tính cứ mỗi kilôgam tôm sản xuất ra, ngư trường giảm mất 434kg cá Chỉ, do sự chuyển đổi nơi cư trú. Còn ở vùng Chokonia, Bănglađét, ngư dân cho biết, sản lượng đánh bắt giảm 80% từ khi rừng ngập mặn bị phá và đắp đê để khoanh vùng nuôi tôm. Gần đây, nhiều tổ chức quốc tế như FAO, IUCN, WWF,... đã có những khuyến cáo về sự suy thoái tài nguyên, môi trường do phá rừng ngập mặn để làm đầm tôm. Thực tế ở một số nước đi trước Việt Nam cũng cho ta những kinh nghiệm bổ ích cần tham khảo. Ở Ấn Độ và Inđônêxia, năng suất tôm nuôi giảm xuống sau 5 - 10 năm. Ở Thái Lan hơn 20% trại tôm từ rừng ngập mặn đã bị bỏ chỉ sau 2 - 4 năm. Theo một tài liệu khác trong số 1,3 triệu ha đất dành cho nuôi tôm ở Thái Lan, khoảng 250.000ha đã phải bỏ hoang [16].

Báo cáo của Quỹ Công lý Môi trường (EJF) tại London chỉ rõ ra rằng, người phương Tây càng ưa thích tôm hùm, thì tình trạng môi trường các nước nghèo nhất trên thế giới càng tồi tệ đi. Các trang trại nuôi tôm đang phá vỡ nhiều khu rừng ngập mặn, làm giảm các đàn cá trong tự nhiên, gây ô nhiễm và tăng nguy cơ dịch bệnh đối với các cộng đồng ven biển. Báo cáo còn tỏ ra hoài nghi về tính bền vững của ngành nuôi tôm ở Thái Lan, Indonesia, Việt Nam, Philippines, Bangladesh và nhiều quốc gia đang phát triển khác. Steve Trent, Giám đốc EJF, nói: "Bản báo cáo của chúng tôi đã chỉ ra một loạt các tác động có hại cho môi trường, phát sinh từ tư tưởng muốn làm giàu nhanh chóng của nông dân nuôi tôm". Những tác hại mà bản báo cáo đề cập bao gồm phá hủy rừng ngập mặn ven biển; đe dọa sức khỏe con người và thiên nhiên do kháng sinh, thuốc trừ sâu và nhiều chất hóa học khác; nước thải làm ô nhiễm biển; các đàn cá hoang biến mất do mất môi trường sống và vì nhu cầu làm thức ăn cho tôm. Trent nói thêm: "Đã đến lúc ngành thủy sản và chính phủ bắt tay vào chấm dứt hiện tượng lạm dụng này" [29]., [35].

Báo cáo của EJF còn nhấn mạnh rằng, nhu cầu tôm nước ấm ngày càng tăng ở phương Tây đã dẫn tới phong trào nuôi trồng thủy sản "chặt và đốt", bởi vì hệ thống ao hồ lớn tự đào sẽ bị bỏ hoang sau 5 - 6 năm vì lý do bệnh tật và chất lượng nước xuống cấp. Chỉ riêng ở vùng thượng Vịnh Thái Lan, 40.000 hecta trang trại đã bị bỏ hoang trong năm 2000, với 90% người nuôi tôm bỏ nghề [3]. 

Bên cạnh các tác động xã hội và sinh thái, việc nuôi trồng thủy sản thâm canh cũng đang đối mặt với hàng loạt các vấn đề về bệnh tật và thiệt hại về môi trường tại nhiều nước châu Á. Tại nhiều quốc gia ở châu Á, sản lượng tôm có chiều hướng giảm mạnh và một loạt các bệnh dịch đang hoành hành tại Ấn Độ, Malaysia, Đài Loan và Ecuador.

Các bệnh dịch này gây ra bởi virus, vi khuẩn và động vật nguyên sinh. Việc sử dụng hóa chất độc hại và các chất kháng sinh một cách bừa bãi cũng làm giảm khả năng kháng bệnh của tôm. Sản lượng giảm cũng do dự trữ quá mức, quá nhiều mùa vụ trong một năm, thức ăn chế biến sẵn được sử dụng không đúng cách và sụt lún đất do khai thác nước ngầm quá mức .

Gần đây, Tòa án tối cao Ấn Độ đã đưa ra một phân tích về chi phí và lợi ích của vấn đề này, kết luận rằng việc nuôi tôm tại 2 bang của nước này đã gây ra tác hại đến nền kinh tế nhiều hơn là lợi. Tại vùng Andhra Pradesh, các chi phí xã hội và môi trường đã vượt quá 1/4 mức lợi ích kinh tế trong khi vùng Tamil Nadu chịu thiệt hại lớn gấp rưỡi những lợi ích.

Nora Ibrahim, nhà nghiên cứu sinh vật của Malaysia, cho biết: “Các nghiên cứu chỉ ra rằng tốc độ tích luỹ chất hữu cơ và lớp bùn dày có thể tăng tính nhạy cảm đối với dịch bệnh. Mật độ lớn dẫn đến chất lượng nước xấu do giảm mức oxy, các sản phẩm của sự trao đổi chất tích lũy và phân cao, gây tăng trưởng đột biến và làm lan truyền các sinh vật ký sinh độc hại, các vi sinh vật và các mầm bệnh".

Để duy trì chất lượng nước đối với quần thể lớn này, một lượng lớn nước ngầm và nước biển được bơm đều đặn đến các hồ để thiết lập điều kiện nước nhân tạo cần thiết cho sự sống của tôm hay cá. Nước thải tương ứng được bơm ra ngoài sẽ làm ô nhiễm môi trường nước xung quanh.

Tại thái lan vấn đề suy thoái môi trường diễn ra rất nghiêm trọng, các ao nuôi tôm chỉ có hiệu quả trong vài ba năm đầu sau đó nó trở thành vùng đất chết và người nuôi lại bỏ đi tìm vùng đất mới để nuôi tôm. Đất chết (do nuôi tôm công nghiệp làm ô nhiễm môi trường). Người giàu thuê đất nuôi tôm, không sao, họ lấn sâu vào nội địa Thái Lan đầu tư nuôi tôm và tiếp tục làm giàu.  Nông dân cho mướn đất nuôi tôm, nay chết dở, sống dở, nợ nần chồng chất. Đại bộ phận bỏ nông thôn đi vào các đô thị kiếm sống, chỉ còn khoảng 10% nông dân bám lại. Cộng đồng bám lại này đang chịu khổ, sản xuất khó khăn, do môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng [19].

Thái Lan nghề nuôi tôm đã phát triển mạnh từ 20 năm nay, ngành này đã chịu nhiều chỉ trích về việc phá rừng ngập mặn và các môi trường sống khác, nhưng đến nay họ đã thực hiện rộng rãi phương pháp nuôi tôm bền vững và thân thiện với môi trường, chú trọng đến trồng rừng và thả tôm cá giống ra sông, biển. Nuôi tôm của Thái Lan đang tuân thủ theo xu hướng quốc tế. Năm 2006 nuôi tôm sinh thái đã được triển khai ở tỉnh Chanthaburi, miền trung Thái Lan. Tôm nuôi ở đây đã được Naturland, một tổ chức chứng nhận của Đức chứng nhận. Cũng năm 2006, tôm sinh thái đạt sản lượng 300 tấn [26].

Xây dựng ao, đầm nuôi khép kín, chỉ cho phép xả nước khi đã được làm sạch. Sản lượng tôm nuôi tăng mặc dù diện tích không tăng, hiệu quả sản xuất được cải thiện rõ rệt. Hiện tại nuôi sinh thái mới chỉ áp dụng cho tôm sú do có khả năng cung cấp tôm giống có chứng nhận. Tôm sinh thái được nuôi theo hình thức quảng canh với diện tích nuôi lớn gấp 5 lần so với nuôi thông thường, đồng thời áp dụng các tiêu chí rất chặt chẽ về thức ăn. Do tảo là nguồn thức ăn chủ đạo nên biện pháp này khá tồn kém, nhưng giá thành bán ra cao hơn 20% so với tôm nuôi theo phương pháp thông thường.

Từ những phân tích về tình hình suy thoái vùng nuôi tôm trên thế giới tập trung vào kinh nghiệm của các nước châu Á và Đông Nam Á, có thể tóm tắt một số nguyên nhân gây suy thoái môi trường và hướng khắc phục như sau:

Nguyên nhân gây suy thoái môi trường

Quy hoạch: Nuôi thâm canh và bán thâm canh phần lớn tập trung tại vùng triều; thiết kế ao nuôi không phù hợp cho thoát nước thải, nước cấp không đầy đủ, lắng đọng nhiều chất dinh dưỡng trong đáy ao dẫn đến khả năng tích tụ các chất độc, mầm bệnh và hệ hô hấp đất bị suy giảm. Thiết kế ao trên vùng hạ triều thường là phá rừng ngập mặn, đáy ao có nhiều rễ cây là trung tâm tích luỹ mầm bệnh. Chỉ riêng Thái Lan có quy hoạch thiết kế ao nuôi thâm canh trên vùng cao triều.

Chất lượng con giống: Sử dụng thuốc và hoá chất để kiểm soát dịch bệnh và môi trường trong các trại giống là không tránh khỏi dẫn đến chất lượng con giống kém và tạo hệ vi sinh kháng thuốc trong cơ thể; gây khó khăn trong quá trình nuôi tôm thương phẩm.

Chất thải trong ao nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh: Một Lượng lớn nước thải và chất thải rắn trong ao nuôi tôm không được xử lý mà trực tiếp vào vùng nước ven bờ; mặc dù mức độ ô nhiễm trong nuôi tôm không lớn so với chất thải công nghiệp và đô thị nhưng nó thải ra với số lượng quá lớn có chứa các chất dinh dưỡng và vi sinh vật làm giảm sức tải môi trường vùng nuôi thâm canh và bán thâm canh.

Sử dụng thuốc, hoá chất: Thuốc và hoá chất tích tụ trong đáy ao và lắng đọng trầm tích vùng ven bờ gây ra suy thoái hô hấp đất trong ao và suy giảm hệ sinh thái ven bờ.

Ý thức của người nuôi tôm: Người nuôi tôm thường lạm dụng thuốc và hoá chất trong kiểm soát bệnh tôm, xử lý nước, xử lý đáy ao dẫn đến sự chai hoá đáy ao và suy giảm chất lượng nguồn nước ven bờ.

Một số giải pháp chính giải pháp khắc phục và hướng quản lý

Quy hoạch vùng nuôi hợp lý

Khuyến khích nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật để giải quyết vấn đề chất thải và dịch bệnh trong nuôi tôm.

Bố trí vùng đệm nhằm duy trì trạng thái cân bằng có thể chấp nhận được giữa các khu rừng ngập mặn và khu nuôi tôm, cải tiến việc thiết kế ao nuôi, giảm bớt việc trao đổi nước giữa ao nuôi và môi trường xung quanh bằng cách xác định thời gian lưu nước thích hợp lựa chọn các vị trí nuôi trồng thủy sản thuận lợi trên cơ sở đánh giá khả năng tự làm sạch của nguồn nước tiếp nhận nước thải, tái sử dụng bùn lắng của các ao nuôi tôm để làm phân bón trong nông nghiệp. Việc sử dụng các khu rừng ngập mặn và các loài thực vật chịu mặn như là các bãi lọc sinh học đối với nước thải từ các ao nuôi tôm cũng là một trong những lựa chọn hấp dẫn nhằm giảm bớt tác động đến môi trường xung quanh.

Áp dụng khoa học công nghệ để khắc phục suy thoái đất và nước:

·        Cải tạo đáy ao bằng cách thay đổi loài nuôi.

·        Xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học

·        Tái sử dụng nguồn nước nuôi tôm để hạn chế thải ra ra vùng ven bờ ( chỉ sử dụng cho mô hình nuôi cỡ nhỏ)

·        Hạn chế sử dụng thuốc, hoá chất và đúng quy định.

Kiểm tra chất lượng con giống.

Quản lý dựa vào cộng đồng/giải quyết các mâu thuẫn trong sử dụng nguồn lợi.

Việt Nam

Nuôi tôm ở Việt Nam đã phát triển mạnh trong những năm gần đây và trở thành nghành kinh tế quan trọng, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho hàng triệu người dân ven biển và tạo nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho Chính phủ. Gần đây nuôi tôm đang có chiều hướng chuyển biến mạnh mẽ sang hình thức nuôi bán thâm canh và thâm canh. Dù giá tôm có chiều hướng chững lại và giảm nhẹ, nuôi tôm tiếp tục thu hút sự quan tâm của người dân, các nhà đầu tư và Chính phủ vì lợi nhuận cao, có thị trường và quan trọng hơn, nuôi tôm được xem như là một sinh kế bổ sung cho vùng ven biển, nơi có rất ít cơ hội việc làm [11].

Tuy vậy, nghề nuôi tôm ở Việt Nam đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức. Đó là các mối quan ngại về các tác động kinh tế, xã hội, môi trường và gần đây là các vấn đề tranh chấp thương mại và rào cản chất lượng sản phẩm. Việc chuyển đổi quá nhanh một diện tích lớn ruộng lúa năng suất thấp, ruộng muối ven biển và đất hoang hoá sang nuôi tôm kéo theo một loạt các vấn đề bất cập về cung ứng kỹ thuật công nghệ, con giống, quản lý môi trường, kiểm soát dịch bệnh, quy hoạch và phát triển cơ sở hạ tầng. Dù Chính phủ đã cố gắng kiểm soát, nhưng nuôi tôm vẫn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch, chạy theo lợi ích trước mắt [5].

     Môi trường và bệnh tôm

Những năm vừa qua nuôi tôm sú gặp rât nhiều khó khăn, hiện tượng tôm chết xảy ra khắp nơi trên toàn quốc. Vụ tôm sú năm 2006 ở miền Bắc bị thiệt hại lớn, các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Ninh Bình đều xảy ra hiện tượng tôm chết liên tục từ giữa trung tuần tháng 5 đến khoảng đầu tháng 6. Tại tỉnh Thái Bình tháng 6/2006, diện tích tôm nuôi bị chết là 306 ha, với số lượng tôm chết 21 triệu con, bằng 8,34% diện tích tôm thả nuôi; trong đó, huyện Thái Thụy có 177 ha tôm nuôi bị chết, Tiền Hải có 129 ha [13].

Xã Thái Đô, Thái Thụy, Thái Bình sau 4 năm chuyển đổi từ đất cấy lúa sang nuôi tôm sú công nghiệp, người dân ở đây không những không có được cuộc sống khấm khá hơn, mà tháng 11/2006 có tới trên 900 hộ dân kêu cứu vì phải ôm nợ vì tôm [23].

Tháng 7 năm  2008 tôm sú ở Ninh Bình chết hàng loạt tại hơn 369 ha ao của 662 hộ nuôi. Các xã có tôm chết nhiều là Kim Đông có 203ha (trong đó 15% diện tích có tỷ lệ chết cao), Kim Hải 39,7ha, Kim Trung 11ha và các xã khác vùng ven biển khoảng 100 ha [15].

Thanh Hóa năm 2008, ngay từ đầu vụ đã xuất hiện tình trạng tôm thả nuôi chết rải rác ở các ao nuôi ở các huyện Nga Sơn, Hoằng Hóa, Hậu Lộc. Riêng một số cơ sở như Trường Giang, Nông Cống, Quảng Trung (Quảng Xương) có hiện tượng tôm chết hàng loạt [24].

Theo thống kê sơ bộ các tỉnh từ Thừa Thiên-Huế đến Quảng Ngãi đến đầu tháng 6 năm 2008 đã có gần 2.000 ha tôm thả nuôi bị chết [25].

Vùng đồng bằng sông Cửu Long theo số liệu chưa đầy đủ, tính đến cuối tháng 4 năm 2008 đã có gần một trăm ngàn ha nuôi tôm sú ở Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, Trà Vinh... bị chết, mức độ thiệt hại từ 20-90%, cá biệt có nhiều vùng tôm ở Kiên Giang mức thiệt hại đến 100% diện tích [22].

Người nuôi tôm điêu đứng vì qua vài vụ thất thu họ không còn đủ vốn để tái sản xuất, những ao nuôi tôm sú không được tái đầu tư dẫn tới bỏ hoang hóa. Rất nhiều khu nuôi ao nuôi tôm sú trước đây hiện người nuôi đã bỏ hoang hoặc chuyển xang nuôi các đối tượng khác, hoặc nuôi tôm sú quảng canh nhưng không được đầu tư. Có những địa phương nhiều người dân trước đây đã mạnh dạn vay vốn, thế chấp tài sản, để đầu tư vào nuôi tôm sú thì hiện nay họ trở thành những con nợ phải bỏ quê quán đi làm ăn ở khắp nơi để kiếm sống.

Diện tích ao trước đây nuôi tôm sú thì nay bỏ hoang hóa ngày càng gia tăng, thực trạng trên càng làm cho kinh tế sa sút, đời sống người nông dân ngày càng khó khăn, đặc biệt là vùng ven biển miền Trung và miền Bắc. Thực tế hiện nay nhiều nơi chính quyền địa phương không biết làm gì để tháo gỡ khó khăn này. Ví dụ vùng nuôi tôm xã Kim Đông, Kim Sơn, Ninh Bình rất nhiều người dân muốn khôi phục những ao nuôi tôm hiện nay (nhiều ao đã không thả nuôi) trở về ruộng cấy lúa trước đây. Nhưng do vướng mắc một số khó khăn trong đó có những nguyên nhân như cơ chế chính sách, thiếu vốn đầu tư cải tạo cơ sở hạ tầng… nên rất khó khăn.

Có nhiều nguyên nhân gây chết đối với tôm sú nuôi, trong đó có những nguyên nhân sau:

Do chất lượng con giống kém; chất lượng thức ăn không ổn định; không tuân thủ thời vụ thả nuôi; điều kiện thời tiết thay đổi đột ngột; kết cấu nền đáy không phù hợp; Quy hoạch vùng nuôi, thiết kế ao nuôi không hợp lý;  Môi trường nuôi suy thoái; Bệnh tôm (bệnh MBV, đốm trắng, đầu vàng, đen mang, phân trắng, teo gan…).

Nguyên nhân kết hợp giữa yếu tố môi trường thay đổi đột ngột trong vụ nuôi và yếu tố bệnh tôm gây ra. Tuy nhiên nếu môi trường nuôi tốt, ổn định thì bệnh Đốm trắng sẽ không bộc phát. Nhưng nếu điều kiện môi trường trong giai đoạn này xấu đi thì bệnh Đốm trắng sẽ bùng phát rất nhanh, gây thiệt hại cho người nuôi.

Qua một loạt những nguyên nhân nêu trên, căn cứ vào tình hình nuôi tôm sú trên cả nước hiện nay chúng ta có thể thấy có những nguyên nhân chủ yếu sau:

Tình hình dịch bệnh tôm nuôi phổ biến, kéo dài qua nhiều năm và trầm trọng

Qua các kết quả nghiên cứu cho thấy, ở đồng bằng sông Cửu Long, bệnh tôm sú thường xuất hiện vào tháng 2, 3 hàng năm. Các mầm bệnh chính hiện diện trên tôm sú (P.Monodon) bao gồm cả Vi khuẩn (nhóm Vibrio) và Virut MBV, đốm trắng (WSSV). Chúng xuất hiện trên tất cả các mô hình nuôi: Quảng canh, bán thâm canh, Tôm – lúa và nuôi công nghiệp. Tác nhân gây bùng nổ dịch bệnh trên tôm nuôi trong những năm qua chủ yếu do mầm bệnh MBV kết hợp với một tác nhân gây bệnh là vi khuẩn hoặc vi khuẩn gây bệnh xuất hiện làm bùng nổ bệnh đốm trắng. Mầm bệnh WSSV thường hiện diện trên tôm với tỷ lệ nhiễm và tần xuất xuất hiện cao nhất trong mùa mưa và thời điểm giao mùa cuối mùa mưa và đầu mùa khô [3].   

Tôm nuôi khu vực miền bắc những năm gần đây gặp phải vấn đề về môi trường và bệnh rất nan giải. Theo các kết quả nghiên cứu của nhiệm vụ quan trắc cảnh báo môi trường và phòng ngừa dịch bệnh khu vực miền Bắc, thì tôm sú nuôi thường bị chết từ sau khoảng 40 đến 60 ngày thả nuôi. Trong các kết quả kiểm tra mẫu tôm bệnh thì bệnh Đốm trắng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây thiệt hại cho người nuôi tôm. Vấn đề bệnh tôm không được xử lý triệt để tại các vùng nuôi tôm, do vậy mầm bệnh luôn tồn tại và khi gặp điều kiện thuận lợi, nó phát triển thành dịch lớn gây thiệt hại nặng nề cho người nuôi, điển hình như các năm 2006 và 2007.

Theo một báo cáo khác qua kết quả nghiên cứu các nhân tố gây bệnh cho tôm sú nuôi áp dụng mô hình thực hành nuôi tốt (GAP) tại Hoằng Phụ, Hoằng Hóa, Thanh Hóa năm 2005 thì: Nguồn nước nuôi trước khi thả tôm có 85%, nước trong ao nuôi sau khi thả tôm và kênh cấp trong khu nuôi có 97,93% số mẫu phân tích có mặt vi khuẩn Vibrio spp, số lượng thấp nhất là 3 tế bào/ml và cao nhất là 13000 tế bào/ml. Nguồn tôm giống có 92,9% số mẫu kiểm tra bị nhiễm MBV và 1,41% số mẫu kiểm tra nhiễm mầm bệnh Đốm trắng, ký chủ trung gian không bị nhiễm mầm bệnh Đốm trắng. Mẫu tôm thương phẩm trong số 81 mẫu kiểm tra thì có tới 92,6% bị nhiễm động vật đơn bào, 8,64% bị nhiễm bệnh MBV và có tới 7,4% bị nhiễm mầm bệnh Đốm trắng. Đã có 2 ao trong đó có 6 mẫu kiểm tra đã phát hiện bị nhiễm mầm bệnh Đốm trắng và tôm nuôi đã chết sau 5 ngày phát hiện [5].

Những yếu tố bất lợi về điều kiện nền thổ nhưỡng đối với nuôi tôm sú

Hầu hết các khu vực nuôi tôm trước đây là rừng ngập mặn, do không nắm được quá trình diễn biến môi trường trong ao nuôi tôm, thiếu hiểu biết về đặc điểm sinh thái của đối tượng nuôi, thiếu vốn đầu tư nên nhiều khu nuôi đã thất bại hoặc chỉ sử dụng được trong thời gian ngắn. Sau vài năm đất thoái hóa, phải bỏ hoang, người nuôi lại tìm đến những khu vực nuôi mới, phá rừng mới gây lãng phí lớn về tài nguyên thiên nhiên [8].

Khi xây dựng ao nuôi, người ta đã phá thảm thực vật trong đầm. Do việc đắp ao đầm nuôi tôm chưa khoa học, quá trình trao đổi nước tự nhiên giữa trong và ngoài đầm diễn ra hạn chế dẫn tới môi trường trong ao đầm nuôi thoái hóa nhanh chóng.

Quá trình địa hóa yếm khí thiếu ô xy tạo ra H2S trong ao đầm nuôi, những ao đầm xây dựng trên nền bãi lầy có trầm tích cây ngập mặn hoặc còn thảm thực vật ngập mặn thì mùn bã hữu cơ trong đầm lớn, gây khó khăn cho nuôi tôm. Quá trình trầm tích đáy bị yếm khí thể hiện ở tỷ lệ giữa sắt 3 trên sắt 2 thấp (Fe2O3/FeO), lượng muối dinh dưỡng Nitơrat thấp, ngược lại các chất độc như H2S, NH3 cao, khí H2S cao nhất ở tầng 0 – 20cm. Các tính chất trên thể hiện trầm tích đáy bị khử mạnh, gây ra tình trạng thiếu ô xy, không phù hợp với các động vật sống đáy.

Quá trình ô xy hóa trầm tích và hình thành môi trường chua mặn trong các ao nuôi: Do quá trình xây dựng, cải tạo ao đầm, người ta đã để đáy đầm khô cạn, đất bị ô xy hóa và biến đổi theo hướng thoái hóa. Tầng pyrit (FeS2) tiềm tàng trong các lớp đất có xác cây do thiếu nước lại bị ánh nắng mặt trời thiêu đốt đã bị ô xy hóa. Tỷ lệ Fe2O3/FeO tăng lên nhanh, đặc biệt là ở tầng mặt. So sánh hàm lượng Fe2O3, FeO dễ hòa tan trong môi trường bãi lầy còn rừng ngập mặn với môi trường đầm nuôi tôm do phá rừng làm đất thoái hóa thì hàm lượng Fe2O3 cao hơn 7 – 10 lần và tỷ lệ Fe2O3/FeO cao hơn 4 – 5 lần, kèm theo đó là lượng SO4 cũng tăng cao, tỷ lệ Cl/SO4 rất thấp do Sulfua bị ô xy hóa thành SO4. Ở tầng mặt và đáy có nhiều Fe và Mn kết tủa, kết quả là từ loại đất trung tính, giàu chất dinh dưỡng thuận lợi cho động vật thủy sinh sinh sống đã chuyển sang loại đất axit sulphat vừa chua vừa mặn không phù hợp với các vật nuôi cũng như các sinh vật khác. Quá trình ô xy hóa còn làm cho đáy đầm chai rắn không thích hợp cho các loài sống vùi đáy [8]., [31]., [33].

Đối với vùng đất bị nhiễm phèn nặng, việc phơi đáy ao sẽ dẫn đến hiện tượng mao dẫn, làm phèn từ bên dưới chuyển lên bề mặt, pyrit (FeS2) trong đất có điều kiện tiếp xúc với không khí và phát triển thành phèn hoạt động khi gặp oxi. Hậu quả là khi nước cấp vào ao nuôi sau vài ngày sẽ xuất hiện lớp phèn sắt vàng (do oxi hóa Fe2+ à Fe3+) phủ khắp đáy ao. Quá trình oxi hoá sắt sulphua trong đất chua phèn sản sinh ra axit H2SO4. Axit này được giải phóng vào nước khi thiếu CaCO3 là nguyên nhân làm cho độ pH của nước trong đầm hạ thấp, ảnh hưởng tới lượng khoáng vật trong đất, làm mất cân bằng trong hệ thống carbonat, giải phóng kim loại nặng và độc tố vào môi trường nước, dẫn đến tình trạng thiếu nguồn thức ăn tự nhiên của tôm, hậu quả là làm cho tôm chậm phát triển hay không lột vỏ được [2], [34].

Đối với các ao cũ, công tác cải tạo ao, nhất là xử lý nền đáy ao cần được quan tâm đúng mức. Việc làm này có tác dụng làm giảm lượng khí độc như NH3, H2S, CH4 cũng như các mầm bệnh tích tụ trong đáy ao từ vụ trước. Nếu việc cải tạo ao không tốt, đầm nuôi tôm sẽ diễn biến theo chiều hướng có hại, dẫn đến thoái hóa. Mặt khác, nếu sau một vụ nuôi tôm mà không rút nước, không nạo vét, bón vôi, phơi đáy, hoặc ao nuôi lâu ngày bỏ hoang không cải tạo với mức nước trong ao thấp (<30 cm) vào mùa khô sẽ tạo điều kiện tốt cho tảo đáy phát triển. Sự phát triển của nhiều thế hệ tảo chồng chất lên nhau làm cho đáy ao có một lớp phủ màu xanh lam đen. Nếu cải tạo ao không kĩ, khi lấy nước vào ao, các lớp tảo chết từ đáy ao bị bong tróc nổi lên liên tục đầy khắp mặt ao, gây trở ngại cho sự phát triển của tôm mới thả [2].

Biến đổi xấu của môi trường nước và yếu tố bệnh trong nuôi tôm sú

Hiện tượng tôm chết ở miền Bắc trong thời gian qua chủ yếu xảy ra ở giai đoạn khoảng từ 40 đến 60 ngày tuổi (sau khoảng 1- 2 tháng nuôi). Có nghĩa là trong khoảng từ giữa tháng năm đến đầu tháng sáu dương lịch, thời điểm này thường có nhiều trận mưa giao mùa rất lớn. Chúng ta có thể nhận thấy mối quan hệ khăng khít giữa yếu tố bệnh tôm đặc biệt là Đốm trắng, với yếu tố thời tiết đó là những cơn mưa đầu mùa. Các nhà khoa học đã thừa nhận miền Bắc tôm nuôi sau khoảng 40 – 60 ngày thả, thường hay bị bệnh Đốm trắng, giai đoạn này tỷ lệ tôm mang Virut bệnh Đốm trắng nhiều nhất [7].

Trong điều kiện môi trường lý tưởng để tôm nuôi sú sinh trưởng và phát triển: nhiệt độ nước từ 28 – 32oC và pH từ  7,5 – 8,5 thì tỷ lệ của H2S trong sulphide tổng số chỉ từ 2,5 đến 22,7%. Nhưng khi nhiệt độ và pH xuống thấp hơn thì tỷ lệ của H2S sẽ tăng lên rất nhiều, ví dụ ở nhiệt độ 24oC và pH 7,0 thì tỷ lệ của H2S là 51,4% (Claude E.Boyd và Craigs. Tucker) [31].

Thời điểm giao mùa các yếu tố môi trường trong ao nuôi thay đổi rất lớn, đặc biệt các thông số quan trọng như: Nhiệt độ nước, độ pH, độ mặn, độ kiềm giảm đột ngột. Gây ảnh hưởng rất lớn tới tôm nuôi và làm thay đổi đột ngột điều kiện sinh thái trong ao nuôi. Thời điểm này chính là điều kiện để bùng phát dịch bệnh tôm nuôi.

Yếu tố bệnh bao gồm: bệnh đốm trắng, bệnh đen mang, bệnh đầu vàng, bệnh MBV...  trong đó tôm chết chủ yếu do bệnh đốm trắng.

Tại Miền Nam mấy năm vừa qua đặc biệt là năm 2008 hiện tượng tôm sú chết rất nhiều và thời điểm chết cũng được ghi nhận là thời điểm giao mùa giữa mùa khô và mùa mưa, khoảng tháng 5, tháng 6 hàng năm, lúc này thời tiết thường có mưa rất lớn.

  Ở miền Nam, bệnh đốm trắng ở các ao được khảo sát, tôm chết do virus đốm trắng tăng hơn 8 lần so với tháng nuôi đầu, có thể phân làm 3: nhóm ao tôm chết do virus đốm trắng, nhóm ao tôm chết do virus đốm trắng và có thể cộng hưởng do virus đầu vàng, nhóm ao tôm chết do hội chứng đỏ thân đốm trắng. Tôm chết có độ tuổi từ 36-56 ngày nuôi, nhiều nhất là ở 40-50 ngày nuôi [1], [14].

Thời điểm đầu mùa mưa của hai miền Nam và Bắc đều trùng hợp với thời điểm tôm sú nuôi bị chết trong thời gian qua và đi kèm với nó là yếu tố bệnh tôm trong đó bệnh Đốm trắng là phổ biến và gây tác hại nhiều nhât. Những trận mưa đầu mừa thường gây tác động rất xấu tới môi trường ao nuôi, làm biến đổi các yếu tố môi trường. Mặt khác khi môi trường thay đổi đã tạo thuận lợi cho các khí độc giải phóng ra môi trường nước, qua đó làm giảm hàm lượng ôxy hòa tan và ảnh hưởng tới tôm nuôi.

Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Thọ và ctv (2005-2007) về các yếu tố ảnh hưởng đến suy thoái môi trường vùng nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh đang giảm năng suất đã được tiến hành ở các vùng nuôi của Nam Trung Bộ, Bến Tre và Sóc Trăng cho biết vùng nuôi Khánh Hoà, Ninh Thuận giảm năng suất từ năm 2001; Tỉnh Sóc Trăng và Bến Tre suy giảm năng suất từ năng 2003. Đánh giá cho thấy môi trường suy thoái nặng nhất tại Khánh Hoà và Ninh Thuận sau đó là Bến Tre và Sóc Trăng. Các yếu tố ảnh hưởng đến suy thoái môi trường đất là những yếu tố Tổng chất rắn hữu cơ trong đất (ORS), nhu cầu sử dụng oxy và giảm mật độ vi sinh của đất. Các yếu tố suy giảm chất lượng nước gồm giảm mật độ vi sinh trong nước, nguồn nước thường xuất hiện tảo Lam. Suy thoái môi trường được đánh giá chủ yếu từ chất lượng đất vùng nuôi thâm canh và bán thâm canh trong đó nuôi thâm canh gây suy thoái nhanh hơn. Nguyên nhân của hiện tượng gây suy thoái môi trường xuất phát từ việc nuôi thâm canh; tích luỹ nhiều chất hữu cơ trong đất; sử dụng nhiều hoá chất sát khuẩn mà nguyên nhân sâu xa từ phát triển nuôi tôm tự phát.

Vấn đề quy hoạch vùng nuôi và thiết kế ao, đầm nuôi tôm sú

Quy hoạch vùng nuôi tôm sú những năm qua cho thấy có rất nhiều bất cập, những vùng nuôi tự phát bất cập đã đành, nhưng những vùng nuôi tôm sú công nghiệp cũng rơi vào tình trạng tương tự. Nhiều vùng nuôi được đầu tư xây dựng rất lớn, có đầy đủ hệ thống cống, mương cấp thoát nước, ao chứa, ao lắng... nhưng do quy hoạch không phù hợp với thực tế nên không hoạt động được. Ví dụ như vùng nuôi tôm công nghiệp xã Hoàng Phụ, Hoằng Hóa, Thanh Hóa, được đầu tư rất bài bản, tuy nhiên chỉ một điểm không hợp lý đã làm tê liệt cả hệ thống. Điểm không hợp lý ở đây chính là vị trí đặt hệ thống bơm lấy nước biển vào khu nuôi, do vậy vấn đề chủ động nguồn nước không có, hậu quả từ khi xây xong tới nay chưa năm nào người nuôi tôm sú ở đây được mùa. Nhìn rộng ra thì cả 5 khu nuôi tôm công nghiệp tại Thanh Hóa vài năm trở lại đây đều không thành công.

Những vùng nuôi tôm khác trong hệ thống ao đầm nuôi tôm suốt từ Bắc vào Nam đa số đều xây dựng tự phát, không được thết kế dựa trên quy hoạch có trước. Những tiêu chuẩn kỹ thuật cơ bản của một vùng nuôi tôm không được đảm bảo, Những yếu tố nội tại của vung nuôi như: Diện tích ao chứa lắng, diện tích ao chứa chất thải đáy ao, thiết kế ao xả nước mưa, độ sâu mực nước ao nuôi...Những thiết kế cơ bản khác như: Kênh cấp nước, kênh thải nước nhiều vùng nuôi còn sử dụng chung, khi thủy triều lên thì sử dụng làm kênh cấp nước và ngược lại khi thủy triều xuống người ta lại thải nước ra chính kênh cấp nước đó. Cũng có những vùng nuôi có kênh thải, kênh cấp riêng biệt nhưng kênh thải lải đổ nước chưa được xử lý ra sông hòa vào nguồn cấp nước chung của cả khu vực, như vậy kênh cấp và kênh thải riêng không có tác dụng.

Chất lượng con giống

Chất lượng con giống, đặc biệt là giống tôm sú hiện này gặp nhiều vấn đề khó giải quyết: Chất lượng tôm bố mẹ không có tiêu chuẩn đánh giá. Chất lượng tôm giống, vấn đề kiểm dịch con giống không được các cơ sở sản xuất tuân thủ. Các cơ sở kiểm dịch còn thiếu và hạn chế về trình độ cán bộ, hạn chế về phương tiện và phương pháp chuẩn đoán, do vậy chất lượng con giống hầu như thả nổi khó kiểm soát.

Người nuôi khi mua con giống không có nhiều lựa chọn do: Số lượng con giống cung cấp ra thị trường không đủ nhu cầu cho sản suất, chất lượng con giống không đảm bảo và mang mầm bệnh. Người nuôi ở nhiều địa phương không có quyền lựa chọn nguồn tôm giống được cung cấp, họ phụ thuộc hoàn toàn vào thương lái. Người nuôi không biết được chất lượng con giống và các cơ quan chức năng cũng khó kiểm soát được chất lượng để tư vấn cho người nuôi.

Sử dụng thuốc, hóa chất và chế phẩm sinh học trong NTTS khó kiểm soát

Theo báo cáo của Mai Văn Tài và ctv về hiện trạng sử dụng thuốc, hóa chất, chế phẩm sinh học (CPSH) tại Quảng Ninh cho thấy: Tình hình sử dụng thuốc, hóa chất và CPSH rất phức tạp, trong số 51 hộ và cơ sở nuôi tôm, có tới 118 loại thuốc, hóa chất và CPSH khác nhau được sử dụng trong xử lý ao nuôi tôm. Trong đó nhóm chất xử lý nước và môi trường có 12 loại, phân bón 13 loại, chất khử trùng, diệt tạp 29 loại, thuốc kháng sinh 17 loại, CPSH 16 loại, chất bổ sung vào thức ăn 21 loại, nhóm không xác định 5 loại. Theo báo cáo hiện có 209 sản  phẩm thuốc, hóa chất và CPSH được kinh doanh và sử dụng trong nuôi tôm, các sản phẩm này đều không nằm trong danh mục 10 loại cấm dùng trong thủy sản. Mức độ sử dụng thuốc, hóa chất và CPSH phụ thuộc vào hình thức nuôi tôm, nuôi thâm canh (nuôi công nghiệp) mức độ sử dụng thuốc cao nhất. Hầu hết các đại lý kinh doanh thuốc, hóa chất và CPSH không đủ điều kiện kinh doanh. Nhiều sản phẩm của một số công ty có nhãn mác không đúng với hướng dẫn ghi nhãn hàng hóa [4].

Chế phẩm sinh học,  hóa chất sử dụng trong ao nuôi tôm có thể tác động tới môi trường, những sản phẩm này bao gồm: Thuốc kháng sinh, hóa chất độc hại và nhóm chất dinh dưỡng. Dư lượng thuốc kháng sinh được sử dụng trong các ao nuôi tôm có thể là nguyên nhân kháng thuốc của các tác nhân gây bệnh, làm thay đổi quần thể vi sinh vật trong môi trường, đơn cử như các thuốc kháng sinh Chloramphenicol và Tetracycline,...Một vài hóa chất được sử dụng trong ao nuôi tôm khi thải ra môi trường có thể gây độc nguy hiểm, làm biến đổi gen, hoặc những tác động tiêu cực khác đối với sinh vật thủy sản [36]. Theo Nguyễn Hữu Thọ (2006) trung bình 1ha tôm sú bán thâm canh, mỗi năm thải ra môi trường 1 – 2, 5 tấn chất thải gồm phân, sinh vật chết, dư lượng thuốc và hoá chất là nguyên nhân tích tụ mầm bệnh và thường xuyên gây ra bệnh dịch cục bộ trên tôm nuôi. Ngoài ra, còn có khoảng 2 – 2, 5 tạ vôi cùng với chừng ấy Domolite tồn tư khiến đất bị vôi hoá và gần 2 tạ saponin, chlorin, thuốc tím… là những chất lắng đọng dạng vôi, dạng mangan hydroxide, làm thay đổi độ pH, biến đổi hệ sinh thái đất, ảnh hưởng đến hệ sinh vật của vùng nước. Trong quá trình ôxi hoá, dư lượng thuốc tím Mn4+huỷ diệt toàn bộ vi sinh vật yếm khí – những vi khuẩn hết sức nhạy cảm, đóng vai trò quan trọng trong quá trình phân huỷ chất hữu cơ”.

     Các giải pháp và mô hình phục hồi ao, đầm bỏ hoang hiệu quả

Để phục hồi ao đầm nuôi tôm bỏ hoang nói riêng và môi trường ven biển nói chung, cần phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ mới thực sự hiệu quả, có 4 nhóm giải pháp cần thiết để thực hiện như sau: Giải pháp về mặt thể chế, chính sách quản lý; Giải pháp về quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch; Giải pháp về mặt kỹ thuật và công nghệ; Giải pháp về kinh tế - xã hội.

Đã có một số nghiên cứu nhằm giảm tốc độ suy thoái hay phục hồi các ao đầm nuôi bị bỏ hoang. Có thể kể đến các công trình như:

Đề tài Nghiên cứu xử lý bùn đáy ao nuôi tôm thâm canh, 2003-2005 của Đặng Đình Kim và cộng tác Viên do Viện Nghiên cứu NTTS I chủ trì. Nghiên cứu này đã chỉ ra một số nguyên nhân gây suy thoái ao đầm nuôi như đã tổng kết ở trên cũng như đã nêu ra một số biện pháp cải tạo nền đáy ao nuôi tôm như thử nghiệm một số CPSH từ bùn đáy ao nuôi.

Đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo an toàn môi trường vùng nuôi tôm ven biển” do Viện Môi trường và Tài nguyên chủ trì do GS. Lâm Minh Triết chủ nhiệm giai đoạn 2002-2003. Đề tài đã nghiên cứu mối quan hệ giữa môi trường nước mặt, đất và bùn lắng lên đời sống của tôm và đề xuất một số giải pháp đảm bảo an toàn môi trường vùng nuôi tôm ven biển ĐBSCL.

Đề tài “Điều tra hiện trạng môi trường đất, nước khu rừng ngập mặn nuôi tôm ở Tây Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau” do GS. Lê Huy Bá chủ nhiệm thực hiện năm 1999. Đề tài đã nghiên cứu cơ sở cho việc sử dụng rừng ngập mặn cho nuôi tôm và có một số hạn chế về dự báo ảnh hưởng lâu dài của việc nuôi tôm trong rừng ngập mặn.

Đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước nuôi tôm vùng Cần Giờ phục vụ phát triển bền vững nghề nuôi tôm ở Cần Giờ, PTHCM” thực hiện từ 2005-2006 do PGS. TS. Nguyễn Mạnh Tân chủ nhiệm. Đề tài đã góp phần làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước của vùng nuôi tôm Cần Giờ.

Dự án GAMBAS, 2000-2003 do Viện Hải Dương Học Nha Trang chủ trì cho thấy tác động lên môi trường của nuôi trồng có thể được tóm tắt bằng sự gia tăng hàm lượng của chất lơ lửng, chất hữu cơ và vi khuẩn khử sun-phát. Chất hữu cơ hoặc đến từ các ao nuôi hoặc có nguồn gốc từ đất do việc phá rừng để xây dựng ao. Việc đánh giá khả năng sản xuất của các khu vực nuôi (như khu vực Thái Bình Dương, Indonesia và Việt Nam) dựa trên việc so sánh các số liệu năng suất - tấn/ha - và các dữ liệu môi trường. Dự án đã nghiên cứu mối quan hệ giữa sản lượng tôm và các chỉ thị sinh thái; Phân tích các kỹ thuật nuôi và kinh tế - xă hội của địa điểm nghiên cứu và tiến hành vẽ bản đồ thực vật rừng ngập mặn, các loại thổ nhưỡng và sử dụng đất và đánh giá chúng theo mức độ đơn vị hệ sinh thái.

Đề tài  “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến suy thoái môi trường, đề xuất một số giải pháp sử dụng đất và nước hiệu quả ở những vùng nuôi tôm đang bị giảm năng suất” của Nguyễn Hữu Thọ do Viện Nghiên cứu NTTS III chủ trì cũng đã đưa ra một số kết luận về nguyên nhân gây suy thoái và giải pháp khắc phục vùng nuôi đang suy thoái theo hướng phục hồi vi sinh trong môi trường, phá huỷ chất hữu cơ tiềm tàng trong đất và không sử dụng hoá chất. Hệ Fenton (H2O2 + Fe3+) tỏ ra hữu hiệu xử lý chất hữu cơ và sau đó bổ sung chế phẩm sinh học có thể phục hồi được môi trường đang suy thoái. Ba mô hình được triển khai thí nghiệm gồm mô hình nuôi xen cá Rô phi với Tôm, mô hình nuôi xen Vẹm; cá Măng với Tôm và mô hình sử dụng Fenton phối hợp với chê phẩm sinh học, kết quả môi hình sử dụng Fenton với chế phẩm sinh học có hiệu quả ở những vùng nuôi đang suy thoái.

Đề tài cấp nhà nước “Đánh giá suy thoái môi trường trong quá trình chuyển đổi đất nông lâm sang NTTS ở các huyện ven biển đồng bằng Sông Cửu Long và đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững tài nguyên đất” do Viện Môi trường và Tài nguyên chủ trì GS. Lâm Minh Triết chủ nhiệm, thực hiện trong năm 2008.

Các đề tài nghiên cứu trên đã góp phần xây dựng cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp tổng thể cũng như một số giải pháp kỹ thuật cụ thể cho khu vực đề tài nghiên cứu như cải thiện môi trường xung quanh khu vực nuôi, nuôi sinh thái, nuôi xen ghép, nuôi luân canh, chuyển đổi đối tượng nuôi, sử dụng CPSH...Đây cũng chính là cơ sở đề đề tài nay lựa chọn cách thức tiếp cận và các giải pháp kỹ thuật thích hợp

Cải thiện môi trường tổng thể

Cải thiện môi trường khôi phục rừng ngập mặn trên các đầm nuôi tôm đã bị suy thái về môi trường và chuyển đổi sang mô hình ao tôm sinh thái nhằm vừa xoá đói giảm nghèo vừa cải thiện môi trường tại các đầm nuôi tôm cũ. Các chuyên gia cũng đưa ra một loạt các giải pháp kiến nghị lên các cơ quan, ban ngành chức năng để phục hồi môi trường và nuôi tôm ven biển như sau: a) Miễn thuế sử dụng đất từ 3 đến 5 năm cho các chủ ao thực hiện nuôi tôm bền vững; giao đất lâu dài (20-30 năm); cho vay vốn theo Nghị định 151/2006 NĐ – CP; hỗ trợ thành lập hiệp hội nuôi tôm bền vững, tập huấn kỹ thuật...b) Bảo vệ môi trường: Phục hồi lại các đai rừng ngập mặn và trồng phi lao trên các giồng cát quan trọng; hỗ trợ cây giống và kỹ thuật trồng phù hợp cho việc trồng rừng trong các ao tôm; ngăn cấm các hành vi phá hoại rừng ngập mặn từ khi mới trồng đến khi thành rừng, không cho quai đắp thêm các ao tôm [14].

Nuôi sinh thái

Một số mô hình nuôi tôm sinh thái khác nhau ở đồng bằng sông Cửu Long như: Nuôi trong điều kiện có độ mặn cao, nuôi tôm lúa trong nội đồng có độ mặn thấp (nước ngọt) trong mùa mưa, nuôi tôm trên đầm quảng canh ở Bạc Liêu và Cà Mau. Kết quả sau quá trình nuôi cho thấy: Nuôi tôm sinh thái chủ yếu dựa vào thức ăn tự nhiên nên không thể thả tôm nuôi với mật độ dày. Mật độ đối với mô hình tôm lúa (2,5con/m2) và quảng canh (3con/m2) trong vụ nuôi. Sử dụng thức ăn tự nhiên và sử dụng ít phân hữu cơ gây màu nên không làm ô nhiễm môi trường, do đó không cần xử lý nước thải ra. Năng suất nuôi tôm sinh thái trong ruộng lúa đạt 200kg/ha. trong khi năng suất tôm nuôi trong đầm quảng canh chỉ đạt 150kg - 200kg/vụ [10].

Nuôi xen ghép

Một số mô hình nuôi xen ghép gần đây cũng đang được mở rộng. Nuôi tôm xen với cá Kình, cua, rong câu như ở Thừa Thiên Huế (Võ Tuyết Hồng, 2008), sử dụng rong câu, cá rô phi, cá bống tượng, cá măng nuôi luân canh trong ao tôm. Tuy nuôi xen ghép không mang lại “siêu lợi” như nuôi đơn tôm sú nhưng rủi ro được hạn chế nhiều, người nuôi vẫn có lãi, môi trường được bảo vệ...

TS. Dương Văn Ni, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm Đa dạng Sinh học Hòa An (Đại học Cần Thơ) nêu ra giải pháp trồng cây Hến biển (còn gọi là cỏ Năn Tượng - Scirpus littoralis Schrad) trong ao nuôi tôm nhằm giải quyết vấn đề suy thoái môi trường. Bản thân cây hến biển còn được dùng làm nguyên liệu cho ngành hàng thủ công mỹ nghệ. Với cách tiếp cận hệ sinh thái, tức là chọn lựa cây trồng vật nuôi có sẵn trong hệ sinh thái đó và tìm cách khai thác chúng đồng thời nhờ chúng giải quyết cho một số vấn đề phát sinh trong quá trình sản xuất. Trong hệ sinh thái ao nuôi tôm, Hến biển giúp ổn định nhiệt độ nước và làm giảm các chất ô nhiễm do thức ăn tôm dư thừa gây ra, do đó làm tăng nồng độ khí ôxy. Quan sát bằng mắt thường thấy tôm sú và cua ăn các ngó non và sử dụng môi trường của hến biển để trốn kẻ thù. Kinh nghiệm của nông dân là nên giữ hến biển khoảng 30% diện tích nuôi sẽ làm tôm lớn nhanh và ít bị rủi ro. Khảo sát từ năm 2003 cho thấy: Các ao nuôi có hến biển chịu rủi ro ít hơn các ao nuôi khác đến 22.3%, đặc biệt là trong đợt nắng nóng và tôm chết hàng loạt năm 2004. Hiện nay, bà con nông dân của huyện Đông Hải (Bạc Liêu) áp dụng rất phổ biến mô hình này [28].

Nhiều mô hình nuôi kết hợp tôm sú – lúa ở đồng bằng sông Cửu Long mấy năm qua đã đem lại hiệu quả kinh tế rất lớn.

Chuyển đổi đối tượng nuôi

Do chủ trương mở rộng nuôi tôm chân trắng trên phạm vi toàn quốc, các đối tượng như cá Bống kèo, cá Chẽm (cá Vược) có thể được thực hiện ở một số vùng nuôi tôm sú bị bỏ hoang hay đang suy thoái có thể nuôi đối tượng mới này. 

Sử dụng Chế phẩm sinh học (CHSH)

 Hiện nay việc sử dụng CPSH từ các nhóm vi khuẩn, nấm men nhằm mục đích cải thiện sức khỏe động vật  và môi trường thuỷ sản đang trở nên ngày càng phổ biến.

Các loại vi khuẩn có trong men vi sinh thường gồm các chủng Bacillus là nhóm vi khuẩn yếm khí, thích hợp sử dụng trong ao và trộn vào thức ăn. Nhóm này chịu nhiệt cao, thuận lợi trong quá trình chế biến thức ăn viên. Các nhóm Lactobacillus là nhóm vi khuẩn yếm khí tuỳ nghi, có khả năng phân giải bột đường thành axit hữu cơ, thích hợp trong sản xuất giống thủy sản vì chúng có tác dụng hiệu quả trong sản xuất thức ăn sống và nuôi ấu trùng làm thức ăn cho tôm, cá giống. Các nhóm Nitrobacter, Nitrosomonas là nhóm vi khuẩn hiếu khí. Khi sử dụng sẽ tiêu hao nhiều oxy trong ao. Do đó, cần cung cấp đủ oxy để đảm bảo sức khỏe cho vật nuôi và tăng hiệu quả hoạt động của men vi sinh. Đây là các vi khuẩn giúp biển đổi các khí độc NH3 thành sản phẩm ít độc NO3 qua quá trình nitrate hoá.

Nhóm nấm men có thể bám và phát triển tốt trên thành ruột, chịu được nhiệt độ cao trong công nghệ ép viên thức ăn, thích hợp với phương pháp sử dụng trộn vào thức ăn.
Nhóm vi khuẩn Vibrio có lợi gồm nhiều loài, trong đó có loài có lợi cho môi trường, vô hại đối với vật nuôi, nhưng cũng có loài là vi khuẩn gây bệnh phổ biến cho động vật thủy sản. Sử dụng chế phẩm sinh học chứa các loài vi khuẩn thuộc giống Vibrio có lợi nhằm cạnh tranh về số lượng với các loài Vibrio gây bệnh, hạn chế hoặc triệt tiêu cơ hội gây bệnh cho các loài Vi khuẩn gây bệnh hiện có trong ao.

Do đó, sử dụng men vi sinh có tác dụng phòng bệnh, tăng tỉ lệ sống, nâng cao năng suất ao nuôi. Hơn thế nữa, sử dụng men vi sinh để quản lý nuôi còn có tác dụng hạn chế việc sử dụng hóa chất bừa bãi, gây tác động xấu đến môi trường sinh thái và ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.

Từ các phân tích về thực tế nghiên cứu và áp dụng các giải pháp kỹ thuật trên đây có thể hiểu rằng giải pháp kỹ thuật chỉ là một phần nhỏ trong toàn bộ quá trình phục hồi, tái tạo lại nguồn tài nguyên sinh thái phục vụ NTTS ven biển Việt nam. Các giải pháp kỹ thuật phục hồi ao đầm nuôi tôm bỏ hoang  sẽ không nằm ngoài xu hướng phát triển bền vững đó, có nghĩa nó phải đảm bảo điều kiện sinh thái tốt cho tôm nuôi và phù hợp với nôi trường chung của khu vực. Do vậy các giải pháp kỹ thuật phục hồi ao đầm nuôi tôm bỏ hoang đi ngược lại với quá trình đó sẽ bị loại bỏ như các giải pháp sử dụng thuốc, hóa chất, chế phẩm hóa học có tác động xấu lên môi trường chung sẽ bị loại bỏ

Tài liệu tham khảo

1.         Bùi Quang Tề, 2003. Bệnh của tôm nuôi và biện pháp phòng trị NSB Nông nghiệp , 2003. - 184 tr.

2.         Lê Mạnh Tân, 2006. Đánh giá các tác động ảnh hưởng tới chất lượng nước vùng nuôi tôm cần giờ  trường đại học khoa học tự nhiên, đhqg-hcm. Tạp chí phát triển kh&cn, tập 9,số 4-2006

3.         Lý Thị Thanh Loan, 2002. Một vài tác nhân chính gây bệnh trên các loài tôm he nuôi ở các tỉnh ĐBSCL, , Viện N/C NTTS II, Tuyển tập nghề cá sông cửu long (Journal of Mekong Fisheries) Báo cáo khoa học hội thảo quốc gia nghiên cứu koa học phục vụ nghề nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh phía nam (ngày 20-21/12/2002-TP. Hồ Chí Minh).

4.         Mai Văn Tài và ctv, 2003. Hiện trạng sử dụng và quản lý thuốc, hóa chất và chế phẩm sinh học trong nuôi tôm ở tỉnh Quảng Ninh. Tuyển tập báo cáo khoa học về NTTS tại hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ 2, năm 2003. Nhà xuất bản Nông nghiệp.

5.         Phan Thị Vân, Nguyễn Viết Khuê và ctv. Kết quả kiểm tra một số mầm bệnh trên tôm sú nuôi theo mô hình “ Ứng dụng quy phạm thực hành nuôi tôm tốt (GAP) tại Hoàng Phụ - Thanh Hóa. Tuyển tập báo cáo khoa học năm 2005. Bộ thủy sản, Viện N/C NTTS 1. Nhà xuất bản Nông nghiệp.

6.         Phạm Đình Đôn, 2004. Chất thải nuôi tôm - vấn đề và giải pháp. Chi cục bvmt khu vực tây nam bộ.

7.         Mai Văn Tài và ctv, 2006. Báo cáo tổng hợp nhiệm vụ Quan trắc, cảnh  báo chất lượng môi trường và dịch bệnh thuỷ sản miền Bắc Việt Nam năm 2006

8.         Phan Nguyên Hồng, 1995. Nghiên cứu sử dụng hợp lý hệ sinh thái rừng ngập mặn để nuôi tôm có hiệu quả.  Bộ Thủy sản, Các công trình nghiên cứu khoa học công nghệ thủy sản 1991 – 1995.

9.         Phạm Đình Đôn, 2004. Chất thải nuôi tôm - vấn đề và giải pháp. Chi cục bvmt khu vực tây nam bộ.

10.     Thiều Thị Tạo, 2006. Cơ sở biện chứng của mô hình nuôi thủy sản cân bằng sinh thái là bến vững. Viện SHND.

11.     Trần Văn Nhường và các ctv. Ngành nuôi tôm Việt Nam hiện trạng, cơ hội và thách thức, (Phát triển NTTS ven biển  Dự án VIE/97/030), 2004.

12.     Trần Thị Thu Ngân. 2006. Các phương pháp sinh học xử lý ô nhiễm môi trường do nuôi trồng thuỷ sản ven biển, hợp phần suma.

13.     http://longdinh.com/home.asp?act=chitiet&ID=3998&catID=9; Thái Bình: Nuôi tôm - đánh bạc với ông trời, 2006

14.     http://thuysan.kiengiang.gov.vn/index2.jsp?menuId=453&articleId=2243; Một số bệnh thường gặp khi nuôi tôm sú

15.     http://tmmt.gov.vn/default.aspx?ID=6&LangID=1&NewsID=1004;  Ninh Bình: Tôm sú chết là do môi trường nước bị ô nhiễm, 2008.

16.     http://www.vacne.org.vn/CD_ROM/root/data/HTML/ChuongIV-2.html. Phá rừng ngập mặn để nuôi tôm, hậu quả sinh thái và kinh tế.

17.     http://vietlinh.com.vn/adv/h/bzt/onhiemdonuoitom.htm. Hoạt động nuôi tôm và những nguy hại do ô nhiễm môi trường, 2003.

18.     http://vietlinh.com.vn/kithuat/moitruong/chatthaitraitom.htm. Chất thải của trại nuôi tôm và phương pháp xử lý.

19.     http://vietlinh.netfirms.com/docbao/2004/7/040727bct2.htm. Trần Văn Tư. Từ kinh nghiệm nuôi tôm của người Thái Lan: Nghĩ về nuôi tôm ở Đồng bằng sông Cửu Long, 2004.

20.     http://www.cres.edu.vn/vn/?mnu=&act=detail&ID=109. Hội thảo Nuôi tôm bền vững tại Nam Thịnh, Tiền Hải, Thái Bình 26-28/10/07.

21.     http://www.fistenet.gov.vn/details.asp?Object=22&news_ID=2186109. Hiện trạng nuôi tôm ở việt nam, cơ hội và những thách thức, 2006.

22.     http://www.fistenet.gov.vn/print_preview.asp?News_ID=23430635; Đồng bằng sông Cửu Long: Tôm chết hàng loạt - thực trạng và giải pháp, 2008.

23.     http://www.laodong.com.vn/Home/kinhte/2006/11/10248.laodong;  Thái Bình: Người dân kêu cứu vì... tôm, 2006

24.     http://www.nghean24h.com/index.php?nv=News&at=article&sid=21192 ; Tôm nuôi chết hàng loạt tại các huyện Nông Cống, Quảng Xương, 2008

25.     http://www.nongthon.net/apm/modules.php?name=News&file=article&sid=6280 ; Miền Trung: Tôm chết yểu, người nuôi khốn đốn, 2008

26.     http://www.rimf.org.vn/bantin/news.asp?cat_id=9&news_id=1382&lang=1. Tôm nuôi sinh thái của Thái Lan được Naturland chứng nhận, Bản tin điện tử viện N/C hải sản, 2007.

27.     http://www.vacne.org.vn/CD_ROM/root/data/HTML/ChuongIV-2.html. Phá rừng ngập mặn để nuôi tôm, hậu quả sinh thái và kinh tế.

28.     http://www.vietnamnet.vn/khoahoc/vande/2006/06/576915/. Trồng hến biển, giải pháp cho người nuôi tôm thất bại Dương Văn Ni, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm Đa dạng Sinh học Hòa An (Đại học Cần Thơ).

29.     http://www.vnn.vn/khoahoc/vande/2004/12/358742/. Nuôi tôm và rừng ngập mặn: Bên nào nặng hơn.

30.     Bruce Sundquist., 2007. Forest land degradation: Aglobal perspective

31.     Claude E.Boyd and Craigs.Tucker, June, 1992, Water quality and pond soil analyses for aquaculture.

32.     Fao, 2000. Sustainable land use and management needed to prevent soil degradation.

33.     Forbes V., Calow P., 2004. Systematic approach to weight of evidence in sediment quality assesment: Challenges and opportunities. Aquatic ecosystem helth & management, vol.7,pp.339-350.

34.     Michael Stocking, Niamh Muraghan., 2002. A Handbook for the Field Assessment of Land Degradation, 176p.

35.     J.W. Gowing,1 T.P. Tuong2 and C.T. Hoanh3, 2006. Land and Water Management in Coastal Zones: Dealing with Agriculture–Aquaculture–Fishery Conflicts. CAB International 2006. Environment and Livelihoods in Tropical (1)

Yont Musig , 2003. Shrimp culture Development in Thailand and its Environmental
Comments