Hiện trạng nuôi tôm ở Nam Bộ


HIỆN TRẠNG NUÔI TÔM VEN BIỂN NAM BỘ


1.       MỞ ĐẦU

Nuôi tôm ở Việt Nam đã phát triển mạnh trong những năm gần đây và trở thành ngành kinh tế quan trọng, tạo việc làm, tăng thu nhập cho hàng triệu người lao động, thu ngoại tệ đáng kể. Diện tích nuôi tôm cả nước tăng từ 324,1 ha năm 2000 lên đến 629,2 ha năm 2008. (Tổng cục thống kê 2010). Năm 2009, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đạt trên 4,25 tỷ USD, trong đó tôm đông lạnh chiếm tỉ trọng cao nhất (39,4%).

Nam Bộ là khu vực có diện tích và sản lượng nuôi tôm ven biển lớn nhất, nằm trong bối cảnh chung của cả nước, nuôi tôm ở Nam Bộ đang phải đối mặt với nhiều thách thức, ảnh hưởng đến tính bền vững. Đó là các tác động về kinh tế, xã hội, môi trường; các vấn đề về rào cản chất lượng sản phẩm và tranh chấp thương mại… Việc chuyển đổi quá nhanh diện tích đất nông nghiệp, đất hoang hóa sang nuôi tôm đã kéo theo những bất cập về quy hoạch, phát triển hạ tầng, quản lý môi trường, kiểm soát bệnh dịch, các dịch vụ về vốn, giống, kỹ thuật… Hiện tại, nuôi tôm nước lợ vẫn là đối tượng chủ lực, thu hút sự chú ý của người dân và chính quyền các cấp trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở đồng bằng Nam Bộ.

Để phát triển nghề nuôi tôm bền vững, điều cần thiết là phải nhận thức đầy đủ về hiện trạng phát triển của nó và các vấn đề phức tạp đang đặt ra. Thông qua thực tế và kiến thức môn học Quản lý môi trường trong nuôi trồng thủy sản, tôi tìm hiểu chuyên đề “Hiện trạng nuôi tôm ven biển Miền Nam Việt Nam”.

Mục tiêu chuyên đề:

Tìm hiểu được hiện trạng nuôi tôm ven biển miền nam Việt Nam và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu sản xuất đảm bảo môi trường sinh thái.

Nội dung nghiên cứu

Diễn biến về diện tích và sản lượng tôm nuôi những năm gần đây

Diễn biến về ô nhiễm môi trường và dịch bệnh tôm nuôi

Các biện pháp quản lý môi trường nâng cao hiệu quả

2.       PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Dựa vào kiến thức thực tế cùng những thông tin như bản tin, bài báo của các trang web, các công trình khoa học có liên quan đến báo cáo.

  3.       KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1.    Diễn biến diện tích nuôi và năng suất tôm nước lợ các tỉnh Nam Bộ

Theo Phạm Xuân Thuỷ (2006) [1] năm 2005 diện tích và sản lượng tôm nước lợ trên cả nước phân theo các vùng gồm: ven biển Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và ĐBSCL được thống kê trong (Bảng 1). ĐBSCL có diện tích nuôi và sản lượng tôm nước lợ cao nhất so với các vùng nuôi còn lại, trong đó Đông Nam Bộ và ĐBSCL là hai vùng nuôi thuộc Nam Bộ.

Diện tích tôm nuôi nước lợ cả nước năm 2005 là 604.479 ha (Bảng 2) so với năm 1999 tăng 394.031 ha (gấp 1,87 lần), mức tăng bình quân 31,2% /năm. Các tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích nuôi tôm nước lợ lớn nhất là 535.145 ha (năm 2005) (chiếm 88,53% diện tích nuôi tôm nước lợ của cả nước).

Theo nguồn số liệu của Tổng cục thống kê, sản lượng tôm nước lợ tại Nam Bộ các năm từ 2007 -2009 đạt trên 300.000 tấn. Trong khi các năm từ 1995 – 1999 mới chỉ dưới 50.000 tấn (hình 1).

Hình 1: Diễn biến sản  lượng tôm nuôi nước lợ ven biển các tỉnh Nam Bộ

Theo thống kê của Bộ NN & PTNT, tính đến tháng 8-2008 [16], tổng diện tích nuôi tôm nước lợ của các tỉnh ven biển ĐBSCL là 539.607ha, chiếm 89,3% tổng diện tích cả nước; trong đó, nuôi tôm sú là 538.800ha, tôm thẻ chân trắng 807ha. Diện tích nuôi tôm sú tập trung chủ yếu ở các tỉnh: Cà Mau (257.000ha), Bạc Liêu (121.811ha) và Kiên Giang (77.218ha)...

ĐBSCL có 46.257ha nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh, diện tích còn lại là nuôi tôm quảng canh và quảng canh cải tiến (Cà Mau và Bạc Liêu tập trung nhiều nhất, 90%). Các tỉnh khu vực Đông Nam Bộ, diện tích nuôi tôm sú là 18.843ha và nuôi tôm chân trắng là 129ha.

Sản lượng thu hoạch, tính riêng khu vực ĐBSCL là 160.566 tấn, chiếm 76,3% tổng sản lượng thu của cả nước, chủ yếu là tôm sú. Các tỉnh có sản lượng tôm sú cao là Cà Mau (68.500 tấn), Bạc Liêu (36.211 tấn), Kiên Giang (13.623 tấn)... Năng suất nuôi tôm sú thâm canh trung bình 3-4 tấn/ha/vụ 4 tháng.

Năm 2010, diện tích nuôi tôm sú trong vùng đạt hơn 560 nghìn ha, sản lượng hơn 293 nghìn tấn; trong đó, tỉnh Cà Mau có gần 247 nghìn ha, Bạc Liêu 117.364 ha, Kiên Giang hơn 72 nghìn ha... Từ năm 2000 đến nay, các tỉnh đã chuyển hơn 300 nghìn ha ruộng trũng trồng lúa kém hiệu quả sang NTTS; riêng năm 2006, chuyển gần 6.500 ha. [18]

Diện tích nuôi tôm sú năm 2010 giảm gần 16.000 ha so với năm 2009 do hệ thống tiêu thoát nước thải chưa đáp ứng nhu cầu và chưa ngăn chặn được dịch bệnh [4]

Tháng 8/2010, sản lượng thu hoạch tôm nước lợ đã đạt 222.480 tấn, trên khoảng 39% diện tích. Như vậy, với 61% diện tích tôm chưa thu hoạch cùng với cùng với diện tích nuôi thêm trong 4 tháng cuối năm, sản lượng tôm nước lợ nuôi năm nay có thể đạt tới 500.000 tấn. [7]

Theo quy hoạch của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn [6] thì hướng đi trong tương lai của đồng bằng ven biển Nam Bộ là phát triển nuôi tôm sú theo chiều sâu. Đến năm 2015, có 546.000 ha vào nuôi tôm sú, giảm 768 ha so với năm 2010 nhưng sản  lượng sẽ đạt 463.000 tấn, 80% sản lượng sẽ được xuất khẩu với giá trị hàng năm ít nhất là 1,5 tỉ USD.

Hình thức nuôi phổ biến là quảng canh, quảng canh cải tiến, bán thâm canh, thâm canh. Trong đó, diện tích nuôi bán thâm canh và thâm canh chiếm khoảng 20% diện tích để sản lượng nuôi bán thâm canh và thâm canh chiếm 51% tổng sản lượng tôm, sản lượng nuôi quảng canh cải tiến chiếm 35%, sản  lượng tôm lúa, tôm rừng chiếm 14% tổng sản lượng.

Năng suất tôm nuôi quảng canh phấn đấu từ 0,35-0,45 tấn/ha, nuôi quảng canh cải tiến trên ruộng lúa (tôm lúa) đạt từ 0,4-0,5 tấn/ha, nuôi tôm rừng 0,15-0,20 tấn/ha, nuôi thâm canh-bán thâm canh đạt trung bình 2,0-3,5 tấn/ha. Hiện tại năng suất tôm nuôi trung bình của vùng đạt 0,7 tấn/ha/năm và phấn đấu đến năm 2015 đạt 0,85 tấn/ha.

3.2.    Diễn biến ô nhiễm môi trường và dịch bệnh

3.2.1.     Dịch bệnh

Năm 2006

Theo Lý Thị Thanh Loan [18], Viện nghiên cứu NTTS II: Rủi ro lớn nhất với nghề nuôi tôm các tỉnh Nam Bộ là tình trạng tôm chết chưa được kiểm soát. Năm 2004 có 28% số hộ thả nuôi tôm sú bị thiệt hại nặng do tôm nuôi bị chết; năm 2005 có 34% và năm 2006 có 20% số hộ.

Cuối tháng 5 năm 2006 sau khi thả tôm hơn 3 tháng, các tỉnh Nam Bộ đã có gần 2 tỷ con tôm sú giống bị chết. Mức độ thiệt hại, phổ biến ở các địa phương là 10% -20%.

Tại tỉnh Trà Vinh một trong những tỉnh trọng điểm nuôi tôm sú ở Nam Bộ, tháng 5-2006 hơn 1,77 tỷ con tôm giống thả trên diện tích 20.000 ha, đã có 850 triệu con bị chết, nông dân mất trắng hơn 16 tỷ đồng[6].

Năm 2008

Tình trạng tôm sú chết hàng loạt cũng diễn ra trầm trọng trên 100.000ha, trong đó hơn 85% là diện tích luân canh lúa - tôm sú kết hợp. Tại các tỉnh trọng điểm về tôm sú của Nam Bộ như: Cà Mau, Trà Vinh, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang,... mức độ thiệt hại từ 20%-90%, cá biệt có nhiều vùng tôm ở Kiên Giang mức thiệt hại đến 100% diện tích. Nguyên nhân do bệnh đốm trắng, đỏ thân…

Theo Bộ NN-PTNT, năm 2008, do dịch bệnh và bị cạnh tranh bởi tôm thẻ chân trắng, diện tích nuôi tôm sú ở các tỉnh Nam Bộ giảm mạnh. Các tỉnh: Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang đã thả 420.000ha tôm sú, giảm gần 80.000ha cùng kỳ năm 2007[15].

Theo báo nông nghiệp điện tử [3] Cà Mau có diện tích nuôi tôm sú nhiều nhất khu vực Nam Bộ với hơn 258.000 ha, mỗi năm thả trên 11 tỉ con giống, song chỉ thu hoạch được khoảng 70.000 tấn tôm thương phẩm, tương đương hơn 3,2 tỉ con giống. Còn lại gần 7,8 tỉ con giống bị hao hụt trong thời gian nuôi do nhiễm bệnh và chết.

Năm 2008 sản  lượng tôm sú thương phẩm cả vùng ĐBSCL giảm khoảng 60.000 - 70.000 tấn so với cùng thời điểm năm 2007.

Năm 2009

Hơn 1.000 ha diện tích nuôi tôm sú ở các tỉnh bị bệnh chết do thời tiết không thuận lợi. Đơn cử như Bến Tre, huyện Bình Đại có hơn 25ha (trong tổng số 796 ha) tôm sú thả nuôi lấp vụ bị mưa dầm dẫn đến tôm phát bệnh đốm trắng chết. Sóc Trăng gần 1.000 ha (trong tổng số 3.500 ha) tôm thả lại đã bị chết do mưa nhiều, độ mặn thấp [21].

Năm 2010

Theo thống kê của bộ NN và PTNT, năm 2010 [10, 19], các tỉnh ven biển Nam Bộ (ĐBSCL) đưa khoảng 570.000 ha mặt nước vào nuôi tôm sú, chiếm 81% diện tích nuôi thủy sản  tại ĐBSCL. Nhưng hiện nay, diện tích nuôi tôm có mức độ thiệt hại từ 20 - 80%, khoảng 40.000ha. Nhiều nhất tại các tỉnh Cà Mau, Trà Vinh, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang.

Long An có 1.153ha tôm chết, chiếm 49% diện tích thả nuôi; tôm thẻ chân trắng thiệt hại 79,6%; tôm sú thiệt hại 61,8% diện tích nuôi [17].

Kiên giang gần 10.000 ha tôm nuôi trên đất lúa bị thiệt hại nặng (trong tổng số 81.163 ha tôm sú), khoảng 2/3 diện tích trên thiệt hại từ 30 - 80%.

Trà Vinh diện tích tôm chết khoảng 1.963 ha, phần lớn ở giai đoạn từ 1,5 - 2,5 tháng tuổi, gây thiệt hại nặng.

Bạc Liêu hơn 7.200 ha tôm nuôi bị chết, trong đó 1.500 ha tôm nuôi mất trắng. Ngoài ra, gần 10.000 ha đang có nguy cơ thiếu nước ảnh hưởng đến thời vụ thả giống.

Một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng tôm chết hàng loạt tại Nam Bộ là do nắng hạn kéo dài, nhiệt độ ngày đêm chênh lệch, tôm giống không qua kiểm dịch, nguồn nước nuôi bị ô nhiễm…

3.2.2.     Ô nhiễm môi trường

Nhiều năm qua, nuôi trồng, chế biến, xuất khẩu thủy sản  đã trở thành thế mạnh kinh tế đặc biệt ở Nam Bộ , đặc biệt là khu vực ĐBSCL, biến nơi đây thành một vùng trọng điểm về nuôi trồng thủy sản  cho tiêu dùng và xuất khẩu của cả nước. Tuy nhiên sự phát triển nuôi trồng thủy sản đã kéo theo các tác động môi trường diễn ra ở quy mô ngày càng lớn và hết sức đa dạng. Bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản ở Nam Bộ đang trở thành vấn đề bức xúc, cần được tập trung giải quyết để bảo đảm sự phát triển bền vững.

Quy hoạch cho NTTS bất cập

Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản  nói chung ở Nam Bộ tăng nhanh trong những năm gần đây. Quy hoạch nuôi trồng thủy sản đến năm 2010 ở khu vực ĐBSCL đối với nuôi thủy sản  nước mặn-lợ là 649.430 ha, nuôi trồng thủy sản  nước ngọt là 366.590 ha[8], cho thấy NTTS ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội khu vực này.

NTTS phát triển mạnh, đem lại nhiều lợi ích cho kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, quá trình phát triển đã bộc lộ những vấn đề bất cập. Trong đó, bảo vệ môi trường là vấn đề hết sức quan trọng để có thể phát triển nghề nuôi trồng thủy sản  bền vững.

Quy hoạc không theo kịp đà phát triển, theo Bộ NN&PTNT, Đến cuối năm 2009, diện tích NTTS nói chung của cả vùng trên 823.000 ha và sản  lượng thủy sản đạt trên 1,9 triệu tấn. Nghề NTTS phát triển nhanh kéo theo sự phát triển ồ ạt về số lượng của cơ sở sản  xuất giống, chế biến thức ăn, chế biến thủy sản... Tuy nhiên, điều đáng quan tâm phần lớn sự phát triển này là tự phát [11].

Cho tới nay quy hoạch mang tính định hướng cho phát triển thủy sản tại Nam Bộ vẫn chưa chính thức công bố đến các địa phương. Tình trạng ô nhiễm môi trường do nuôi tôm không có quy hoạch tốt đã xảy xa trầm trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản  xuất.    

Theo kế hoạch của Bộ NN và PTNT [22], năm 2010 các tỉnh ĐBSCL sẽ thả nuôi 550.600 ha tôm sú, giảm gần 16.000 ha so với năm 2009, do hệ thống tiêu thoát nước thải chưa đáp ứng nhu cầu và chưa ngăn chặn được dịch bệnh. Ngay từ đầu vụ tôm sú 2010, nắng hạn kéo dài và xâm nhập mặn đã làm thiệt hại rất nhiều diện tích nuôi tôm sú ở vùng ĐBSCL.

NTTS ở Nam Bộ đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, nhưng hầu hết hệ thống thủy lợi ở đây đều được qui hoạch và thiết kế cho phát triển nông nghiệp, chủ yếu là cây lúa. Qui hoạch thủy lợi cũng chưa đề cập đến các mô hình cụ thể về xây dựng hệ thống thủy lợi phục vụ cho NTTS một cách hiệu quả…

Theo Lê Anh Tuấn [4]: Chiến lược quy hoạch thủy lợi đa mục tiêu chưa được thể hiện qua bố trí tổng quát. Chưa lưu ý tới mục tiêu của cấp nước cho NTTS, hoặc bảo đảm nguồn nước sạch, đầy đủ về số lượng ở những thời điểm có nhu cầu cao.

Theo Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II, phát triển hệ thống thủy lợi cũng chưa đảm bảo tiêu thoát triệt để lượng nước thải, do đó không ngăn chặn tối đa tình trạng lan truyền dịch bệnh trên diện rộng.

Theo Nguyễn Ngọc Anh, Viện Qui hoạch thủy lợi miền Nam [4]: Chúng ta chưa tạo ra các trục kênh cấp nước (ngọt, lợ, mặn) phục vụ yêu cầu NTTS của từng tiểu vùng.

Vấn đề ô nhiễm môi trường trong NTTS ở Nam Bộ

Biến đổi khí hậu, nước biển dâng ảnh hưởng tới NTTS đã được nhắc đến nhiều. Ngành thủy sản là một trong những ngành chịu thiệt hại nhiều nhất: suy giảm năng suất, bùng nổ dịch bệnh, mất dần một phần hoặc toàn bộ diện tích NTTS [12]...

Nhiệt độ tăng làm tăng quá trình phân hủy chất hữu cơ trong nước và có thể dẫn đến nguồn nước bị ô nhiễm, nguy cơ mắc bệnh của các loài thủy sản càng cao. Bên cạnh đó việc giảm mưa trong mùa khô, đồng thời cùng với sự tăng nhiệt độ không khí làm tăng lượng bốc hơi nước tại các khu vực NTTS, làm tăng độ mặn. Điều này đòi hỏi phải bơm thêm nước ngọt vào các khu vực NTTS trong mùa khô để ổn định độ mặn và sẽ dẫn đến cạnh tranh trong việc sử dụng nước ngọt ở các lĩnh vực nông nghiệp khác như trồng lúa nước và hoa màu.

Diện tích rừng ngập mặn đã và đang suy giảm nghiêm trọng do các hoạt động chuyển đổi diện tích rừng sang sản xuất nông nghiệp - thủy sản, do xói lở bờ biển... Điều này có thể dẫn đến mất dần các bãi sinh sản tự nhiên của nhiều loài sinh vật, cạn kiệt nguồn lợi thủy sản tự nhiên. Sự mâu thuẫn lợi ích giữa các ngành nông nghiệp và các ngành khác đối với ngành thủy sản ,

Rừng ngập mặn trước đây có thể khai thác được 800kg thủy sản/ha, nay chỉ thu được 1/20 so với trước. Đã có khoảng 100 loài hải sản có mức độ nguy cấp khác nhau và trên 75 loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam. Nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ và nước ngọt bị khai thác quá giới hạn cho phép [12] …

Quá trình phát triển của thủy sản tại Nam Bộ còn phải đối mặt với nhiều thách thức như: Cơ sở hạ tầng phục vụ ngành thủy sản còn thiếu đồng bộ; ứng dụng công nghệ sinh học trong NTTS với mục tiêu tăng trưởng nhanh, chất lượng cao, chủ động phòng trị dịch bệnh còn nhiều hạn chế... Đặc biệt, trên thực tế, nội tại của tất cả các vấn đề trên, cộng với những tác động mang tính chất hệ lụy của những bất cập trong quá trình phát triển đã và đang khiến ngành thủy sản ở Nam Bộ đứng trước nguy cơ phát triển không bền vững. Cá tra, và tôm sú, hai đối tượng sản xuất và xuất khẩu chủ lực của thủy sản ĐBSCL là một minh chứng cụ thể nhất.

Năm 2010 theo đánh giá ban đầu, tôm chết là do nắng nóng kéo dài và tình trạng xâm nhập mặn trên diện rộng trong thời gian qua tại các tỉnh Nam Bộ. Khô hạn khiến mực nước xuống thấp. Do người nuôi không chủ động nguồn nước dự trữ, hoặc không có ao lắng nên đã bơm tiếp nước trực tiếp từ sông vào ao nuôi. Nhưng do độ mặn nước sông rất cao, khi bơm vào ao nuôi đã ảnh hưởng trực tiếp đến tôm nuôi, tôm bệnh và chết.

Môi trường nuôi tôm bị ảnh hưởng bởi tình trạng tranh chấp nguồn nước giữa sản xuất nông nghiệp cấy lúa và nuôi tôm nước lợ [16], [20]. Tình trạng tôm chết ở tỉnh Bạc Liêu, Kiên Giang một phần là do nguyên nhân nói trên.

Ngoài ra, việc tôm chết tràn lan một phần do người dân không tuân thủ lịch thời vụ. Thả nuôi trước lịch thời vụ nhưng lại không chủ động các điều kiện ứng phó với những diễn biến phức tạp của thời tiết.

Những tác dộng của hoạt động NTTS tới môi trường

Hầu hết các khu vực nuôi tôm trước đây là rừng ngập mặn, do không nắm được quá trình diễn biến môi trường trong ao nuôi tôm, thiếu hiểu biết về đặc điểm sinh thái của đối tượng nuôi, thiếu vốn đầu tư nên nhiều khu nuôi đã thất bại hoặc chỉ sử dụng được trong thời gian ngắn. Sau vài năm đất thoái hóa, phải bỏ hoang, người nuôi lại tìm đến những khu vực nuôi mới, phá rừng mới gây lãng phí lớn về tài nguyên thiên nhiên.

 Môi trường đất, môi trường nước và các hệ sinh thái trong phát triển nuôi trồng thủy sản bị biến đổi gây suy thoái, ô nhiễm môi trường. Đồng bằng Nam Bộ đặc biệt là ĐBSCL là vùng tập trung nhiều các loại đất phèn tiềm tàng (pyrite FeS2) và phèn hoạt động (jarosite (K/Na.Fe3/Al3(SO4)2(OH)6). Khi bị đào đắp ao nuôi thủy sản, đào kênh rạch cấp và thoát nước, vệ sinh ao nuôi sau mùa thu hoạch đã làm cho tầng phèn tiềm ẩn bị tác động bởi quá trình ôxy hóa sẽ diễn ra quá trình lan truyền phèn rất mãnh liệt làm giảm độ pH môi trường nước, gây ô nhiễm môi trường và dịch bệnh tôm, cá nuôi.

Quá trình địa hóa yếm khí tạo ra H2S trong ao đầm nuôi, những ao đầm xây dựng trên nền bãi lầy có trầm tích cây ngập mặn hoặc còn thảm thực vật ngập mặn thì mùn bã hữu cơ trong đầm lớn, gây khó khăn cho nuôi tôm. Quá trình trầm tích đáy bị yếm khí thể hiện ở tỷ lệ giữa sắt 3 trên sắt 2 thấp (Fe2O3/FeO), lượng muối dinh dưỡng Nitơrat thấp, ngược lại các chất độc như H2S, NH3 cao, khí H2S cao nhất ở tầng 0 – 20cm. Các tính chất trên thể hiện trầm tích đáy bị khử mạnh, gây ra tình trạng thiếu ô xy, không phù hợp với các động vật sống đáy [2].

Các nguồn thải ra sông rạch đã tác động làm cho môi trường nước bị biến đổi. Chất lượng nước trong các ao nuôi tôm ven biển đặc biệt là trong các mô hình nuôi công nghiệp đã cho thấy dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ (BOD, COD, nitơ, phốt pho cao hơn tiêu chuẩn cho phép), có sự xuất hiện các thành phần độc hại như H2S, NH3, và chỉ số vi sinh Coliforms, đã cho thấy nguồn nước thải này cần phải được xử lý triệt để trước lúc thải ra sông rạch [8].

 Môi trường nước ở vùng ngọt hóa có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ, các vi sinh trong nước Coliforms, độ đục, amoniac trong nước... ảnh hưởng đến chất lượng môi trường nước, đặc biệt là nước dùng cho nhu cầu cấp nước. Môi trường nước ở vùng mặn hóa ven biển hàm lượng sắt (phèn hóa) trong nước do quá trình phèn hóa mạnh mẽ, N-NH3, Coliforms... gây ảnh hưởng đến nuôi trồng thủy sản , đặc biệt độ đục môi trường cao do nước phù sa và quá trình đào đắp sên vét ao nuôi tôm phát sinh không được xử lý thải ra môi trường.

Quá trình chuyển dịch trồng lúa sang nuôi trồng thủy sản diễn ra quy mô lớn ở vùng mặn hóa ven biển làm gia tăng xâm nhập mặn ở các vùng ven biển. Tác động làm suy giảm rừng ngập mặn ven biển tiếp tục diễn ra ảnh hưởng đến các hệ sinh thái rừng ngập mặn. Nuôi cá bè trên sông rạch, nuôi thâm canh thủy sản  vùng ngọt hóa đã gây nên các tác động đến chất lượng môi trường nước ở đây.

Chất thải trong NTTS là bùn thải chứa phân của các loài thủy sản, các nguồn thức ăn dư thừa thối rữa bị phân hủy, các chất tồn dư của các hóa chất, và khoáng chất như: vôi, Diatomite, Dolomite, lưu huỳnh lắng đọng, các chất độc hại có trong đất phèn Fe2+, Fe3+, Al3+, SO42-, các thành phần chứa H2S, NH3... là sản  phẩm của quá trình phân hủy yếm khí ngập nước tạo thành[8].

Nuôi tôm vùng ven biển Nam bộ nơi có lượng phù sa lớn từ 200-888mg/l, lượng chất rắn này lắng xuống ao nuôi tôm tạo thành lớp bùn hàng năm rất dày. Vấn đề quản lý bùn thải nuôi tôm là hết sức bức xúc cần phải được quản lý để xử lý triệt để ở khu vực nuôi trồng thủy sản  nước mặn vùng ĐBSCL.

Do phát triển vùng nuôi tôm quy hoạch kém nên hiện tượng lấy nước thải nuôi tôm là một trong những nguyên nhân bất khả kháng đối với nghề nuôi tôm tại Nam Bộ.

Theo Võ Tòng Xuân [5]: “Hiện nay các vùng trồng lúa ở ĐBSCL hầu như đã khai thác hết nguồn nước ngọt, không phải tốn nhiều tiền cho thủy lợi. Nơi cần thủy lợi nhất hiện nay là các vùng nuôi tôm ven biển: Trà Vinh, Bến Tre, Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng.

3.3.    Các biện pháp quản lý Môi trường nâng cao hiệu quả.

3.3.1.     Giải pháp chung

Với diện tích 540 nghìn ha nuôi tôm nước lợ, trong đó chủ yếu là nuôi quảng canh cải tiến, nuôi kết hợp... thế nhưng, nghề nuôi tôm ở Nam Bộ vẫn bộc lộ thiếu vững chắc và không ổn định; tình trạng tôm chết, mất mùa diễn ra thường xuyên. Chậm triển khai quy hoạch tổng thể cho toàn vùng, vấn đề chuyển dịch nuôi trồng thuỷ sản theo hệ sinh thái mặn-ngọt-lợ đan xen chưa được xác lập một cách hợp lý. Mặt khác, hệ thống dịch vụ cung ứng tôm giống, thức ăn, chuyển giao kỹ thuật, chế biến, kiểm soát môi trường và phòng tri bệnh dịch, cũng như cơ sở hạ tầng phục vụ nuôi thuỷ sản vẫn không theo kịp.

Để bảo đảm đạt kết quả mong muốn, cần mở rộng nuôi theo chiều sâu, cải tiến kỹ thuật nuôi theo hướng bền vững và áp dụng các công nghệ nuôi tiên tiến, thân thiện với môi trường như Code of Conduct – CoC, Good Aquaculture Practice - GAP (áp dụng các qui trình nuôi tốt), nuôi có trách nhiệm (Responsible Aquaculture Practice - RAP), quản lý vùng nuôi an toàn, nhằm tạo sản  phẩm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường thế giới và trong nước.

Trước mắt, cần thực hiện nghiêm Quyết định số 456/QĐ-BNN-NT Thủy sản  ngày 04/02/2008 của Bộ trưởng BNN&PTNT về điều kiện sản xuất giống, nuôi tôm thẻ chân trắng. Do tôm chân trắng đang có hiệu quả kinh tế cao hơn so với nuôi tôm sú, nên người nuôi có xu hướng chuyển sang nuôi tôm chân trắng.

Về lâu dài cần rà soát và điều chỉnh bổ sung quy hoạch về NTTS phù hợp với thực tiễn; tránh tình trạng nuôi tự phát, không theo quy hoạch dẫn đến những rủi ro, thiệt hại.

Tuy nhiên, việc điều chỉnh bổ sung quy hoạch, chuyển đổi sản xuất trong vùng phải được các nhà khoa học tham gia và đông đảo nông dân đồng tình. Phải luôn bảo đảm hiệu quả trên một đơn vị diện tích đất sử dụng; hiệu quả về kinh tế-xã hội, môi trường phát triển bền vững. Phải biết khai thác, biến lợi thế đa dạng sinh thái mặn-ngọt-lợ đan xen thành lợi thế về kinh tế, trong đó lợi thế số một ở đây là nuôi tôm và các loài thuỷ sản  có giá trị cao.

Nhà nước cần tăng cường khâu hỗ trợ vốn để thực hiện đầu tư thuỷ lợi linh hoạt, chủ động được mặn-ngọt, đây là vấn đề cực kỳ quan trọng để bảo đảm phát triển bền vững nghề nuôi trồng thủy sản nước lợ, triển khai quy trình công nghệ sử dụng chế phẩm sinh học; trại sản xuất con giống đạt chuẩn quốc gia; bảo quản chế biến sản phẩm; tăng cường chuyển giao khoa học - kỹ thuật, mở rộng thị trường tiêu thụ.

Từng địa phương chủ động quản lý tốt môi trường vùng nuôi, không xả nước thải ra môi trường chung quanh, bảo đảm vệ sinh môi trường. Tăng cường quan trắc, giám sát chất lượng môi trường nước và bệnh dịch để dự báo diễn biến môi trường cũng như dịch bệnh có thể phát sinh. Từ đó, có các giải pháp xử lý kịp thời khi có sự cố xảy ra.

Quản lý chặt chẽ nguồn vật tư thủy sản: thuốc, hóa chất cung ứng trên thị trường theo quy định của nhà nước. Quản lý chất lượng sản phẩm nuôi trồng cung ứng cho thị trường chế biến sản  phẩm đáp ứng tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm.

Cần xác lập và phát triển phương thức nuôi tôm sinh thái thân thiện với môi trường. Đảm bảo chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm tạo nguồn cung sản phẩm cho chế biến xuất khẩu vững chắc.

Cần có quy hoạch, định hướng vùng nuôi phải cụ thể, an toàn, bền vững; quản lý chặt chẽ con giống, nhất là con giống tôm thẻ chân trắng. Không chuyển dịch NTTS theo kiểu tự phát tràn lan. Không đưa nước mặn vào sâu nội đồng phá vỡ hoặc ảnh hưởng bất lợi đến môi trường sinh thái chung.

3.3.2.     Giải pháp cụ thể

Tổ chức sản xuất dựa trên cơ sở cộng đồng nhằm quản lý lịch thời vụ sản xuất, nguồn nước cấp, nguồn chất thải và dịch bệnh.

Nuôi luân canh (tôm-cá rô phi, tôm-cá kèo…) để xử lý chất thải sau vụ nuôi. Nuôi một vụ tôm trong năm, mùa vụ từ khoảng tháng 3-8 hàng năm. Thời gian còn lại xử lý nước thải và chất thải, đồng thời cắt đứt môi trường lưu trữ mầm bệnh.

Áp dụng mô hình nuôi theo quy phạm thực hành nuôi tốt (GAP) hay CoC... Tăng cường biện pháp quản lý sử dụng thuốc, hóa chất trong nuôi tôm.

Áp dụng quy trình sản xuất giống bằng mô hình kín (lọc sinh học tuần hoàn), hạn chế nước thải, hạn chế sử dụng thuốc và hóa chất, nhằm tạo ra con giống chất lượng cao.

Xây dựng hệ thống quan trắc, cảnh báo môi trường và dịch bệnh cho các vùng nuôi tôm

Ngoài tập huấn chuyển giao về kỹ thuật nuôi, cần chú trọng, tập huấn cho nông dân các nguyên lý căn bản trong nuôi tôm thâm canh, đặc biệt là lĩnh vực bảo vệ môi trường, sử dụng thuốc hóa chất và quản lý dịch bệnh.

Xây dựng phương án xử lý nước thải và chất thải cụ thể cho từng vùng nuôi.

Phải thực hiện việc xử lý nước thải và chất thải trước khi thải ra môi trường nhằm chống lại hiện tượng lão hóa vùng nuôi và ao nuôi. Nghiên cứu các công nghệ xử lý chất thải rắn.

5.       TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.      Phạm Xuân Thuỷ, 2006. Hiện trạng và giải pháp phát triển nghề nuôi tôm nước lợ. Tạp chí Khoa học – Công nghệ Thủy sản  số 03-04/2006.

2.      Phan Nguyên Hồng, 1995. Nghiên cứu sử dụng hợp lý hệ sinh thái rừng ngập mặn để nuôi tôm có hiệu quả.  Bộ Thủy sản , Các công trình nghiên cứu khoa học công nghệ thủy sản 1991 – 1995.

3.      http://agriviet.com/nd/2241-dbscl:-tom-su-chet-hang-loat-/ Nguồn Báo Nông nghiệp

4.      http://ca.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=117783. Nuôi trồng thủy sản ĐBSCL: "Quên" đầu tư thủy lợi.

5.      http://longdinh.com/default.asp?act=chitiet&ID=3860&catID=9.

6.      http://longdinh.com/default.asp?act=chitiet&ID=3860&catID=9. Đồng bằng sông Cửu Long :Mùa tôm mới, căn bệnh cũ.

7.      http://www.azgo.vn/nong-nghiep/thuy-san/70934-can-qgoiq-chinh-sach-ho-tro-con-tom.

8.      http://www.agroviet.gov.vn/pages/news_detail.aspx?NewsId=12735. ĐBSCL: Phát triển nuôi thủy sản cần đi đôi với bảo vệ môi trường.

9.      http://www.baoanhdatmui.vn/vcms/html/news_detail.php?nid=7704. Bộ trưởng Bộ NN&PTNN - Chủ trì Hội nghị hiện trạng và giải pháp phát triển nuôi tôm nước lợ ở ĐBSCL tại Cà Mau.

10.  http://www.baocantho.com.vn/?mod=detnews&catid=72&p=&id=61103 Đồng bằng sông cửu long phát triển nuôi trồng thủy sản - ồ ạt và thiếu kiểm soát.

11.  http://www.baocantho.com.vn/?mod=detnews&catid=72&id=61320 Đồng bằng sông Cửu Long: Để phát triển thủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn

12.  http://www.baocantho.com.vn/?mod=detnews&catid=72&id=61320. Tác động xấu của biến đổi khí hậu.

13.  http://www.baomoi.com/Info/Dong-bang-song-Cuu-Long-phat-trien-nuoi-tom-su-theo-chieu-sau/45/5283830.epi.

14.  http://www.baomoi.com/Info/DBSCL-Khong-mo-rong-dien-tich-nuoi-tom-su/45/4304921.epi. ĐBSCL: Không mở rộng diện tích nuôi tôm sú .

15.  http://www.baomoi.com/Info/DBSCL-Tom-su-qua-thoi-vang-son/45/1680677.epiĐBSCL: Tôm sú qua thời vàng son?.

16.  http://www.baomoi.com/Info/Tom-su-chet-yeu-vi-nang-nong/84/4125384.epi

17.  http://www.hanoimoi.com.vn/newsdetail/Xa-hoi/318142/%C4%91ong-bang-song-cuu-long-tom-mac-benh-chet-hang-loat.htm. Đồng bằng sông cửu long: Tôm mắc bệnh chết hàng loạt, 2010.

18.  http://www.khoahocchonhanong.com.vn/modules.php?name=news&file=article&sid=1395. Nuôi tôm sú ở ĐBSCL: Những thay đổi cần thiết.

19.  http://www.thuysanviet.co.cc/2010/05/tom-nuoi-chet-hang-loat-tai-ong-bang.html

20.  http://www.thuysanviet.co.cc/2010/05/tom-nuoi-chet-hang-loat-tai-ong-bang.html.

21.  http://www.vietlinh.com.vn/dbase/VLTTHủY Sản  howContent.asp?ID=7672

22.  http://www.webchannuoi.com/showthread.php?tid=1225. Vụ tôm sú 2010 tại ĐBSCL: Nông dân và doanh nghiệp đều lo âu.



Comments