TRUNG KHOA DU GIÀ THÍ THỰC KHOA NGHI(Dịch nghĩa & chú thích)



TRUNG KHOA DU GIÀ THÍ THỰC KHOA NGHI

(Sau khi Thầy sám chủ và ban kinh sư niệm hương yết Tổ xong thì đi ra chánh điện để tham lễ Tam bảo, lúc đó ban lễ nhạc đánh điệu tham lễ. Thầy sám chủ lễ 1 lạy rồi qùy xuống niệm hương bạch Phật, đảnh lễ Tam bảo, gia trì thủ xích, xướng bài Trầm nhũ rồi cử tán bài Giới định


Trầm nhũ chiên đàn tối thượng hương
Lư vàng vừa bén khắp mây vương
Ba ngàn thế giới hương ngào ngạt
Ứng hiện muôn màu nguyện cúng dường. 4


Giới định chân hương
Vừa bén xông thiên thượng
Đệ tử kính thành
Lư vàng tỏa khôn lường
Phút chốc ngất trời
Thơm ngát cả mười phương
Thuở xưa Da Du
Thoát nạn tiêu tai chướng.


Nam mô Hương Vân Cái Bồ tát ma ha tát (3 lần)


Sám chủ: Ba cõi thăng trầm thật đáng thương


4 Bản dịch của H.T Huyền Quang.


Sáu nẻo luân hồi khổ khó đương 
Vốn phải tư tu 5 lên thượng phẩm 
Do vì theo vọng lạc quê hương.
Đường mê mờ mịt không nhựt nguyệt
Biển nghiệp mênh mông thiếu thuyền từ 
Muốn khai Cam lộ vô giá hội 6
Trong đàn trước phải bạch Giác Hoàng.



(Thầy sám chủ qùy bạch


Nghe nói: Vầng hồng Tây lặn, bàng bạc hoàng hôn, đầy trời sao đêm lấp lánh, khắp đất đèn đuốc lập loè, vượn đen chim chóc quay về ổ, đường hồng người ngựa vội về làng 7, trống tiêu lâu thúc giục mông lung, cỏ khe suối rì rào thảm thiết, cổng thành cấm vời cao đóng chặt, cửa nhà gỗ xộc xệch âm u, chính là lúc con người yên nghỉ, ma quỷ hiện hình, cũng là khi siêu độ cô hồn, thoát cõi U minh.

Giờ này, ngày tháng năm , nương theo lời

Phật dạy, đệ tử là sa môn 8 , kính đến trước án, trên thiết nghê đài 9, làm lễ phóng thí Mông Sơn 10 một bữa pháp thực cam lộ. Mỗi khi tham lễ Giác Hoàng, cúi xin đại chúng chung lời tán dương Tam Bảo:


CT :- 5 Tư tu = văn, tư, tu: là 3 tuệ, có năng lực ngăn chặn cái oán nặng từ vô thỉ là 3 bất thiện căn: tham, sân, si, nhân tố cua sanh tử luân hồi.

6 Vô giá hội: Phạn âm là Panca-varsika maha, Hán âm là Ban giá vu sat hội, là pháp hội thực hành tài
thí và pháp thí một cách bình đẳng, không phân biệt hiền thánh, tăng tục, sang hèn, trên dưới. Vô giá nghĩa là khoan dung mà không hạn chế. Vào thời vua A Dục ở Ấn Độ đã có sự thực hành pháp hội này, cứ 5 năm mot lần, gọi là Ngũ niên đại hội. Tây Vực Ký quyển 5 ghi rằng: “Năm năm thiết lập vô giá đại pháp hội một lần, dốc hết của kho, huệ thí cho chúng sanh, chỉ giữ lại binh khí không bố thí, cho nên biết lập hội này hao tốn của cải rất lớn”. Ngài Pháp Hiển thuật lại hoi vô giá trong cuốn Phật quốc ký như sau: “ Ban giá việt, tiếng Trung hoa là Đại hội 5 năm 1 lần. Khi đại hội thì mời chư tăng mọi nơi cùng đến van tập. Vân tập rồi chỗ ngồi chư tăng được tran thiết, treo lụa, treo cơ va cắm lọng. Lại làm hoa sen bằng vàng, bằng bạc đặt sau chỗ ngồi chư tăng, trải lên trên chỗ ngồi ấy những tấm tọa cụ sạch sẽ. Quốc vương cúng dường đúng phép trong 1 tháng, 2 tháng hay 3 tháng, và phần nhiều cư hanh vào mùa xuân”. Ở đây, Cam lộ vô giá hội là đại hội bình đẳng bố thí thức an cho ngạ qủy, cô hồn và chúng sanh trong sáu đường, đồng thời bố thí pháp vị cam lộ của Phật để chúng sanh nương đó, tùy theo căn cơ, mà được thiện lợi, được siêu thoát và an lac.
7 Bài thơ Khương thôn tam thủ (Ba bài ca về làng Khương) của Đỗ Phủ (712-770) có ý tương tự: Tranh
vanh xích vân tây/ Nhật cước há bình địa/ Sài môn điểu tước táo/ Qui khách thiên lý chí. (Lớp lớp mây cao ùn ráng đỏ/ Áng chiều rạng toả dưới chân mây/ Cửa sài ríu rít chim về tổ/ Nghìn dặm xa về khách tới đây)
8 Sa môn (srmana): Là danh từ chỉ người xuất gia không riêng tăng sĩ Phật giáo ma cả ngoại đạo. Dịch
nghĩa xưa nhat là tức, sau này dịch là cần tức, ý nghĩa là quyết chí đoạn trư ác tập.
9 Nghê đài = nghê tòa = sư tử tòa: Chỉ cho tòa ngồi của đức Thích Ca Mâu Ni. Vì Phật là bậc sư tử trong đời nên chỗ ngồi của Phật đều gọi là sư tử tòa. Trên thiết nghê đài nên phía sau bảo tọa của thầy sám chủ thường treo tấm tranh lớn hình con lân.




Cúi đầu quy y Đại Giác Tôn
Vô thượng Năng nhân
Thấy biết chúng sanh chịu khổ ương
Từ cung Đâu Suất
Giáng xuống hoàng cung
Núi tuyết tu hành
Trên đầu tổ thước ba tầng
Qua sáu mùa xuân 
Nếu ai quy y Phật 
Chẳng đoạ địa ngục 
Cô hồn quy y Phật 
Chẳng đoạ địa ngục.


Cúi đầu quy y pháp ba thừa
Lá bối lời thiêng
A Nan kết tập đại tạng kinh
Câu cú siêu thăng
Hoa Nghiêm nhiệm mầu
Diệu Pháp Liên Hoa
Kim Quang Minh, Tâm Địa Quán
Kinh Phật Báo Ân 
Nếu ai quy y pháp 
Chẳng đoạ ngạ qủy 
Cô hồn quy y pháp 
Chẳng đoạ ngạ qủy.


Cúi đầu quy y tăng sáu hòa
Hiển bày thần thông
CT:- 10 Tác giả khoa nghi chẩn tế là ngài Bất Động ở đời Tống, hành đạo ở núi Mông Sơn tỉnh Tứ Xuyên, Trung Hoa. Người ta thường gọi ngài là Cam Lộ đại sư, vì ngài trụ trên đỉnh Thượng Thanh cao nhất của núi Mông Sơn nơi có vị cam lộ lưu xuất. Vì muốn cứu giúp hương linh ở chốn u đồ, ngài gom góp Du Già Diệm Khẩu và các bộ chú của mật tông mà tập thành khoa Mông Sơn thí thực, một nghi quỹ làm khoá tụng ở tùng lâm. Khoa nghi này được truyền sang Trung Hoa từ đời Đường do Bất Không Tam tạng, gọi đủ là Bất Không Kim Cang (Amoghavajra), một truyền nhân mật giáo, thuộc dòng dõi bà la mon. Trong số các kinh điển dịch phẩm mà ngài dịch liên quan đến khoa nghi chẩn tế có: Phật Thuyết Cưu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Qủy Đà La Ni Kinh (ĐTK 1313), Thí Ngạ Qủy Ẩm Thực Cập Thủy Pháp (ĐTK 1315), Du Già Tập Yếu Cứu A Nan Đà La Ni Diệm Khẩu Qũy Nghi Kinh (ĐTK 1318).


Tam tạng tây thiên đi thỉnh kinh 11
Mười vạn hành trình
Chí Công 12 ăn cáp
La Thập 13 nuốt châm



CT:- 11 Tam tạng Tây thiên đi thỉnh kinh: Phong trào “nhập Trúc cầu pháp” mở đầu từ ngài Chu Sĩ Hành đời Tam quốc tới Tây Vực, rồi đến ngài Pháp Tịnh, Pháp Lĩnh tới Vu Điền. 

Nhưng chuyến đi mở ra bước ngoặc lịch sử cho Phật giáo Trung Quốc là chuyến đi Thiên Trúc của cao tăng Pháp Hiển (399-418) ở đời Đông Tấn. Chuyến đi ấy thật vất va gian nan, những người bạn đồng hành có người chết, có người quay về, duy mình ngài đến được Thiên Trúc sau khi trải qua hơn 30 nước, xuyên qua sa mạc và rặng núi Tuyết sơn. 

Từ nước Sư Tử (Tích Lan), ngài về nước bằng đương biển về đến Thanh Châu, tỉnh Sơn Đông, nhằm niên hiệu Nghĩa Hy thứ 10 nhà Đông Tấn. Ngài “nhập Trúc cầu pháp” trước sau 15 năm trời. Về nước ngài soạn bộ “Phật Quốc Ký” ghi lại chuyến đi của ngài, và cuốn sách đó có một giá trị thông tin vô giá để nghiên cứu văn hoá, phong tục và trạng huống Phật giáo Ấn Độ và Tây Vực. Đến đời Đường có ngài Tam tạng pháp sư Huyền Trang (600-664) đi Tây thiên thỉnh kinh, trước sau mất 17 năm trời. 

Ngài xuất phát từ năm Trinh Quán thứ 3 (629), đi về phía bắc dải núi Thiên Sơn, trải bao gian nan, nguy hiểm mới đến được Ấn Độ. Ở đó ngài ngài tu học tại tu viện Na Lan Đà, nghiên cứu áo nghĩa Du Già, Duy Thức với sự hướng dẫn của ngài Giới Hiền luật sư. Sau đó ngài tuần du khắp Ấn Độ, sưu tầm được rất nhiều kinh sách Phạn bản của Đại thừa, Tiểu thừa và triết học ngoại đạo, gồm có 659 bộ. 

Ngoài ra ngài còn thỉnh được nhiều xá lợi của Phật, rất nhiều hình tượng Phật. Năm Trinh Quán thứ 19 (645), ngai về tới Trường An. Trong khoảng thời gian 20 năm sau khi về nước, ngài phien dịch được cả thảy 76 bộ, 1349 quyển. Ngài cùng với La Thập là hai bậc Thánh tăng dịch kinh bất hủ của Phật giáo. Cuốn Đại Đường Tây Vực Ký của ngài Huyền Trang, ghi lại tất cả trạng thái tôn giáo, địa lý, lịch sử và phong tục của Ấn Độ đương thời, cũng nổi tiếng không kém gì cuốn Phật Quốc Ký của ngài Pháp Hiển.

12 Chí Công hay Bao Chí (418-514) là mot bậc thần kỳ nhất trong cac vị cao tăng thời Lương Vũ Đế, la
sám chủ của Lương hoàng sám. Sư họ Châu, xuất gia từ nhỏ, theo thầy Tăng Kiệm chùa Đạo Lâm tu tập thien định. 

Trong khoảng năm 466-471, sư thường lui tới vung Đô Ấp, không trụ chỗ nào nhất định. Thi phú, ngôn ngữ của sư có lúc giống như sấm ký, dân chúng tranh nhau hỏi điều họa phước. Tề Vũ Đế cho là mê hoặc quần chúng nên hạ ngục sư, nhưng ngày ngày vẫn thấy sư dạo chơi ngoài chợ trong làng. Vua bèn mời vào vườn Hoa Lâm cúng dường và cấm sư ra vào, nhưng sư vẫn tới lui các chùa Long Quang, Kế Tân, Hưng Hoàng, Tịnh Danh … 

Đến khi Lương Vũ Đế phế Hòa Đế nước Tề mà lên ngôi (502) thì mơi thả sư ra. Sư là người chỉ dẫn cho Lương Vũ Đế soan Thủy Lục Đại Trai, và thường đàm luận với vua, như khi được hỏi làm thế nào để đối trị phiền não mê hoặc, thì sư đáp, lấy sự tinh tấn liên tục, bao hàm sự bái sám. 

Thang 12 năm 514, sư thị tịch, thọ 96 tuổi. Lương Vũ Đế cho an tang tại gò Độc Long, lai chiếu chỉ cất chùa Khai Thiện bên mộ, cùng ban thụy hiệu Đại sư Quảng Tế.

13 Cưu Ma La Thập (343-413), dịch ý là Đồng Thọ, tức người đồng niên mà đã có những đức tánh kỳ lạ
của kẻ tuổi thọ. Thân phụ là Cưu Ma Diệm, thông tuệ và tiết tháo, bỏ ngôi tướng quốc nước Thiên Trúc sang nước Quy Tư. Ngài La Thập, năm lên 7 tuổi theo mẹ đi xuất gia, hoc cac luận Tỳ Đàm, Lục Túc, cùng các kinh luật ngoại đạo. Ngài có tánh tình bộc trực, khí độ kỳ vĩ, bác học văn chương, tinh thông địa lý, thiên văn và toán học. Ngài rất bác lãm kinh tạng, đặc biệt là đại thừa với chân lý tự tánh không. Đời Hậu Tần, niên hiệu Hoằng Thỉ thứ 3 (401), vua Tần là Diêu Dư nghe biết đạo phong của ngài bèn sai sứ nghinh đón ngài từ Lương Châu về Trường An, tiếp đãi và tôn làm quốc sư, mở một dịch trường ở lầu Tây Minh trong vườn Tiêu Dao. 

Ngài được xem là “chúa tể giới phiên dịch”, thọ 70 tuổi, tịch ngày 13 tháng 4 năm Qúy Sửu (413) nhằm niên hiệu Hoằng Thỉ thứ 11. 

Ngài chú trọng “luyện kỹ lại tất cả những chỗ sơ hở, làm sao giữ cho được tôn chỉ của luận văn, để chân chất mà không quê kệch, giản dị mà lại thấu đáo”. Các tác phẩm của ngài dịch có thể kể là: Trung luận, Bách luận, Thập nhị môn luận, Bát nhã, Pháp hoa, Đại trí độ luận, A Di Đà kinh, Duy Ma kinh, Thập tụng luật, Phát bồ đề tâm luận v.v…



Kiều Trần Như, Tân Đầu Lô
Mười đại cao tăng 14
Nếu ai quy y tăng Chẳng đoạ bàng sanh Cô hồn quy y tăng Chẳng đoạ bàng sanh.


Cúi đầu quy y Phật pháp tăng
Tam bảo từ tôn
Cấp Cô trưởng giả mua Kỳ Viên
Trải đầy tiền vàng Thiện Tài đồng tử Năm mươi ba tham 15
Vượt sanh tử, cứu cô hồn
Mau được siêu sanh
Nếu ai quy y Phật pháp tăng Tam bảo
Chẳng đoạ A Tỳ
Cô hồn quy y Phật pháp tăng Tam bảo
Chẳng đoạ A Tỳ. 16


Nam mô Chứng Minh Sư Bồ tát ma ha tát. (3 lần)
14 Mười đại cao tăng: Mười vị đệ tử lớn, kiệt xuất của đức Phật Thích Ca: 1. Xá lợi phất, trí tuệ đệ nhất;
2. Mục kiền liên, thần thông đệ nhất; 3. Ma ha Ca Diếp, đầu đà đệ nhất; 4. Tu bồ đề, giải không đệ nhất; 5. Phú lâu na, thuyết pháp đệ nhất; 6. Ca chiên diên, luận nghị đệ nhat; 7. A na luật, thien nhãn đệ nhất; 8. Ưu ba ly, trì luật đệ nhất; 9. La hầu la, mật hạnh đệ nhất; 10. A nan, đa văn đệ nhất.
15 Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp Giới nói việc tham bái 53 vị thiện tri thức của Thiện Tài đồng
tử, và việc này làm cho đồng tử nhập pháp giới Hoa Nghiêm. Pháp giới ấy có sự vô ngại, lý vô ngại, sự lý vô ngại, sự sự vô ngại, mà theo đó tất cả các phap, mỗi pháp là chân như, nên một là tất cả, tất ca là một, hỗ tương nhiếp nhập, trùng trùng duyên khởi.
16 Thường thì chỉ có tán bài Khể thủ quy y Đại giác tôn, vì tán đủ thì dài quá mà đàn tràng còn nhiều
tiết mục nữa.



Cử tán: Nam mô Đại bi Quán Thế Âm bồ tát. 17


(Thầy sám chủ và ban kinh sư cùng đi ra đàn tràng, đến trước bàn Diện Nhiên Đại Sĩ mới dứt niệm Đại bi Quan Thế Âm Bồ tát. Thầy sám chủ niệm hương phụng thỉnh Diện Nhiên đại sĩ và triệu thỉnh cô hồn trong sáu nẻo, dâng hương, cử tán:)


Quan Âm Bồ tát Diện Nhiên vương 
Thống lãnh cô hồn đến đạo tràng 
Hỷ xả từ bi thường cứu khổ
Hà sa ngạ qủy thảy siêu thăng. 18

Nam mô Diện Nhiên Vương Bồ tát. (3 lần)


(Thầy sám chủ và ban kinh sư đi đến trước bàn Ngũ phương, cử tán:)


Nam bắc đông tây bốn bộ châu 
Trăm ngàn quốc độ rất đặc thù 
Trên đỉnh Tu Di an cung điện 
Đại địa cô hồn thoát khổ đau. 19


Đông phương thế giới A Súc Phật. 
Nam phương thế giới Bảo Sanh Phật. 
Tây phương thế giới Di Đà Phật.
Bắc phương thế giới Thành Tựu Phật. 
Trung ương thế giới Tỳ Lô Phật.


Tay nắm minh châu sáng chẳng mê 
Tay cầm kim tích buộc thiện duyên
Ba cõi ngục tù bủa từ vân
Năm nẻo phong ba vững tay chèo.


Nam mô Địa Tạng Vương Bồ tát.



17 Có khi tụng bài Ái hà: Sông ái dài muôn dặm/ Biển mê sóng vạn tầm/ Cõi luân hồi muốn thoát/ Niệm Phật hãy nhất tâm. Nam mô Tiếp dẫn đạo sư A Di Đà Phật. (Bản dịch của H.T Nhất Hạnh)
18 Thường thì tán bài Quan Âm bồ tát Diện Nhiên vương. Chánh văn là bài tán Diện Nhiên đại sĩ:
Diện Nhiên đại sĩ / Bồ tát hoá thân / Dưới núi Ốc tiêu hiện chân hình / Phá tung Thiết vi thành / Hướng dẫn cô hồn / No đủ thảy siêu thăng. Ốc tiêu là khối đá to lớn hút nước ở dưới đáy biển cả đươc nói đến trong kinh Hoa Nghiêm. Vì lửa địa ngục ở phía dưới liên tục thiêu đốt nên khối đá này luôn nóng bỏng. Đá này kết thành tảng to cho nên gọi là núi Ốc tiêu.
19 Nam bắc đông tây tứ bộ chau / Bá thiên sat độ diệc năng thù / Tu di đảnh thượng an cung điện / Đại
địa cô hồn thoát khổ khâu. Bài này trích trong Đại khoa du già.



Đại từ đại bi thương chúng sanh
Đại hỷ đại xả cứu muôn loài
Tướng hảo quang minh tự trang nghiêm
Đệ tử chí tâm qui mạng lễ.


Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam mô Đại bi Quán Thế Âm Bồ tát. Nam mô Khải giáo A Nan Đà Tôn giả.

Hương thủy 20 trùng trùng Hoa Tạng giới
Trời người vi nhiễu Pháp trung vương. 21


Nam mô Chứng Minh Sư Bồ tát ma ha tát. (3 lần)


(Kế đến vị Thầy tả bạch lên đài, đứng cạnh chỗ ngồi của mình nơi bàn kinh sư, nâng ngang thủ lư, vỗ thủ xích và xướng thỉnh Thầy sám chủ đăng bảo toạ


Bảo toạ cao vời không ngại Trên có lọng báu trời giăng Thỉnh Thầy dời bước lên đài Thay Phật thuyết giới cô hồn.


(Thầy sám chủ chắp tay hứa khả:)


Tròn sáng một điểm vốn chẳng không
Thể chứng vô vi hướng thượng tông
Ba đời chư Phật kìa một bước
Tạm lưu bảo tọa tôi xin đăng.22


(Tả bạch vỗ thủ xích đáp:)


Trống nổi ba hồi đăng bảo toạ
Cô hồn vất vưởng thảy siêu thăng. (câu này 2 lần)
20 Hương thủy = hương thủy hải: Biển nước thơm. Theo vũ trụ quan Phật giáo, thế giới gồm có 8 núi, 8 biển, theo thứ tự từng lớp vây quanh núi Tu di. Trong đó, trừ biển thứ 8 là nước mặn, còn những biển kia đều chứa nước tám công đức, có mùi vị thơm tho, cho nên gọi là hương thủy.
21 Hương thủy trùng trùng Hoa tạng giới / Nhan thiên vi nhiễu Pháp trung vương.

22 T.T Tuệ Sĩ dịch nghĩa:

Một điểm tâm ngời sáng, tròn đầy, vốn không phải là không hư. Thể nhập cái tâm thể ấy mà hoàn toàn chứng nhập vô vi, là tông chỉ siêu việt. Ba đơi chư Phat há chẳng đã bước một bước nhảy vọt như thế hay sao. Nhưng tôi sẽ bước lên bảo tọa được lưu lại nơi đây bằng phương tiện quyền xảo.





(Ba hồi chuông trống bát nhã, Thầy sám chủ bước lên đài, đứng phía sau màn song khai, xoay mặt vào trong, định tâm, chuông trống vẫn đổ. Chư vị kinh sư đứng bên cạnh chỗ ngồi của mình. Tiếp nối chuông trống là 3 hồi trống đạo cùng nhạc khí của ban lễ nhạc. Thầy sám chủ bấy giờ hành trì ấn chú để kết giới tràng 23. Vén màn song khai, Thầy sám chủ đã quay mặt ra trước đàn tràng.)


Tả bạch: Mở hội Mông Sơn tối thắng duyên
Giác Hoàng thương xót lợi nhân thiên


Hữu bạch: Nói kinh mat ngữ qua khốn khó
Giảng pháp chân thừa cứu đảo huyền 24


Kinh sư: Nan Đà tôn giả đang thiền định
Quán Âm cứu khổ hoá Diện Nhiên


Kinh sư: Từ tâm cứu tế tam muội thật
Cảm quả ân sâu vạn kiếp truyền.25


(Thầy sám chủ hai tay nâng thủ lư, xướng tán


Cát tường hội mở
Cam lộ môn 26 khai
Cô hồn vất vưởng thảy về đây


23 Kết giới tràng là phân lập một khu vực nhất định để phòng ngừa ác ma xâm nhập, lại để các thiện thần ủng hộ đan tràng. Đàn tràng chan tế thuộc Liên hoa bộ nên khi kết giới tràng phải dùng an tướng và chân ngôn của Minh vương Đại Uy Đức. Về sự rộng hẹp của giới tràng thì lớn nhất có thể 1000 do tuần, kế là 900 do tuần, lần lượt nhỏ cho đến 1 móng tay. Căn cứ sự rộng hẹp của tự tâm Thầy sám chủ mà kiến lập khu vực đạo tràng, nhưng trên thực tế lấy chu vi của đàn tràng chẩn tế (đàn nội, đàn ngoại) làm khu vực kết giới. Về ấn tướng thì có ấn Chuẩn Đề thượng, Chuẩn Đề trung, Chuẩn Đề hạ, Vô lượng uy đức, Hiện đàn nghi, Tịnh pháp giới. Về chân ngôn thì có thần chú Chuẩn Đề, Quan Âm linh cảm, Một đà nẫm A.
24 Cứu đảo huyền: giải cứu cái khổ như sự bị treo ngược.
25 T.T Tuệ Sĩ dịch nghĩa: Do nhân duyên đặc biệt mà lễ hội Mông sơn được tổ chức. Đức Giác hoàng đã chỉ dạy một nghi thức làm lợi ích cho cả chư thiên và loài người. Lời kinh nêu rõ pháp điển bí mật có khả năng siêu hóa từ chốn lầm than. Giáo thuyết diễn rộng 3 thừa để cứu vớt khổ đau bị treo ngược. Tôn giả Nan Đà nhan bởi lúc tap định, lúc đó bồ tát Quan Âm, vì để cứu khổ nên hiện thân làm qủy Diện Nhiên. Từ đó, nêu cao đức từ bi cứu tế vat loại là tam muội chân thật. Quả được chiêu cảm, ân được ban cho, lưu truyền vạn cổ.
26 Cam lộ mon: Còn gọi là Cam lộ pháp môn: giáo pháp của Phật nuôi lớn thân tâm chúng sanh và dạy
cho chúng sanh con đường đến cửa ngõ Niết bàn. Kinh Trường A Hàm ghi: Ta thương xót các ngươi, nay sẽ chỉ dạy pháp môn cam lộ. Kinh Pháp Hoa, phẩm Hóa Thành Dụ ghi: Hay diễn bày pháp môn cam lộ độ tất cả chúng sanh.



Nghe pháp dự cơm chay
Thoát hẳn luân hồi
U ám cũng vừa bay. 27


Nam mô Vân Lai Tập Bồ tát ma ha tát (3 lần)


(Thầy sám chủ dâng hương, kết ấn Tam muội, bạch rằng



Một nén hương bày, chẳng từ trời giáng, đâu thuộc đất sanh, trước cả lúc lưỡng nghi còn chưa chuyển biến, nguồn cội lấp đầy ba cõi, sau cả khi thái cực vừa mới phân ly 28 , cành lá biến khắp mười phương, vượt qua nhựt nguyệt ánh quang hoa, bao hàm giang sơn nét tú lệ. Là giới, là định, là tuệ, chẳng cây, chẳng lửa, chẳng khói, thâu lại trong một vi trần,bủa ra xông khắp pháp giới. Đệ tử đốt nén hương trầm, thành tâm cúng dường: Tam bảo thường trụ mười phương, muôn vạn tánh linh cõi nước, Thầy tổ truyền đăng nhiều đời, hết thảy Thánh chúng. Vô số phẩm loại, u hiển Thánh phàm đều nương chân hương này mà cùng cúng dường khắp cả. 29


Nam mô Hương Vân Cái Bồ tát ma ha tát. (3 lần)


Cử tán: Phật diện như là trăng tròn lặng

Như ngàn mặt nhựt phóng quang minh Hào quang khắp chiếu mười phương cõi Hỷ xả từ bi thảy đủ đầy. 30
27 Bỏ bài Lư hương sạ nhiệt, đưa bài Cát tường hội khải lên (theo chánh văn là ở sau bài Thử nhất biện hương), vừa giản lược, vừa hợp lý. Đại khoa du già theo thứ tự như vậy, không có bài Lư hương sạ nhiệt.
28 Hệ từ truyện nói: “Dịch có Thái cực, sinh ra Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh ra Tứ tượng, Tứ tượng sinh
ra Bát quái”. Dịch là đại lịch trình sinh thành của vũ trụ khởi nguyên từ Thái cực, cái khí thuần hòa còn chưa chia. Từ nơi Thái cực sinh ra Lưỡng nghi, là hai khí âm và dương. Lưỡng nghi sinh ra Tứ tượng, tức bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Tứ tượng sinh ra Bát quái, là càn, khôn, chấn, tốn, khảm, ly, cấn và đoài, tức là những hiện tượng giới: trơi, đất, sấm, gió, nước, lửa, núi, chằm.
29 Hương đây là Tâm hương: là chân như vô tướng, ly tướng, vô niệm, ly niệm, siêu việt khái niệm nhị
biên; là pháp tánh không thể thủ đắc, diệu dụng không lường. Tâm hương là lấy cái Tâm duy nhất làm thể, theo đó Tam bảo thường trụ, bản thân và nén đàn hương kia toàn do Tâm tạo: “Biết các pháp bản lai tự nó chẳng phải thực có, chẳng sanh chẳng diệt, chỉ do nhân duyên hư vọng nên chẳng phải có mà có, nhưng sự có ấy có tức chẳng phải có, chỉ là cái tâm duy nhất (nhất tâm), không có phân biệt”. (Luận Chỉ quán)
30 Ba câu đầu là ca ngợi tướng hảo của Phật: mặt Phật đẹp như trăng rằm (tịch), thân Phật rực rỡ như
ngàn mặt trời đồng thời phóng quang (chieu), hào quang Phật chiếu khắp mười phương. 



Nam mô Tận hư không khắp pháp giới, quá hiện vị lai, Phật Pháp Tăng Tam bảo. (3 lần)


Nam mô Đăng Bảo Toạ Bồ tát ma ha tát. (3 lần)


(Hạ màn, sau khi Thầy sám chủ an vị nơi bảo toạ, chư vị kinh sư cũng an tọa. Vén màn, vị tả bạch thán


Biển động triều dâng tiếng Phổ môn Chín tầng sen ngát hiện đồng chân Cam lồ giọt nước cành dương rải Nhuần thấm sơn hà cảnh sắc xuân. 31


Nam mô Đại bi Quan Thế Âm Bồ tát ma ha tát (3lần)


(Thầy sám chủ tay trái cầm tịnh bình, tay phải bắt ấn Cam lộ, gia trì chân ngôn Làm sạch pháp giới: Án lam, vỗ thủ xích, xướng rằng


Cái thân Phật như vậy chính là pháp thân đại quang minh tạng. Câu cuối là ca ngợi công đức của Phật pháp thân, công đức ấy thì vô lượng “vừa tối thắng, vừa khác biệt, toán số ví dụ không thể diễn tả”. Theo Nhiếp luận, ngoài 4 vô lượng tâm, có thể kể ra những công đức của Phật như là: 8 giải thoát, 8 thắng xứ, 10 biến xứ, đức vô tránh, 5 phẩm chất nguyện trí, 4 trí vô ngại, 6 thông giáo hóa, 32 tướng tốt và 80 nét đẹp, 4 tat cả tướng thanh tịnh, 10 lực, 4 vô úy, 3 bất hộ, 3 niem trú, đức bạt nhổ tập khí, sư không quên mất, đại bi, 18 pháp bất cọng, nhất thế tướng diệu trí. Cũng luận này tán dương 4 vô lượng tâm của Phật như sau: “Kính lay đấng thương xót chúng sanh, phat khởi 4 thứ ý lạc: muốn chúng sanh hòa đồng cái vui, muốn chúng sanh xa lìa nỗi khổ, muốn chúng sanh không mất hoan hỷ, muốn chúng sanh hưởng mọi lợi lạc”.
31 Bài này, H.T Nhất Hanh dịch: Phổ mon vọng tiếng triều dâng/ Bé thơ xuat hiện giữa lòng đóa sen/
Cam lồ một giọt tưới lên/ Xuân về trên khắp mọi miền núi sông. Phổ mon là cánh cửa phổ quát cho mọi loài đi vào: hạnh đại bi. Có đại bi thì có thể “rưới tắt lửa dữ của bao phiền não”. Hải triều âm là âm thanh vang rền như tiếng sóng biển, chỉ cho âm thanh của Bồ tat Quan Thế Âm hay sự ứng hóa 32 thân của ngai. Đồng chân là đồng tử ngây thơ trinh nguyên, đó là hình anh Thiện Tài đồng tử tham hoc với Bồ tát Quán Thế Âm, vị thứ 27 trong 53 vị thiện tri thức. Có thể thay bằng bài tán thán Quán Thế Âm khác: Trí tuệ hoằng thâm đại biện tài / Đoan cư ba thượng tuyệt trần ai / Tường quang thước phá thiên sanh bịnh / Cam lộ năng trừ vạn kiếp tai/ Thúy liễu phất khai kim thế giới / Hồng liên dũng xuất ngọc lau đài / Ngã kim xưng tán vô cùng tận / Nguyện hướng nhân gian ứng hiện lai. (Trí tuệ bừng lên đoá biện tài / Đứng yên trên sóng sạch trần ai / Cam lộ chữa lành cơn khổ bệnh / Hào quang quét sạch buổi nguy tai / Liễu biếc phất bày muôn thế giới / Sen hồng nở hé vạn lâu đài / Cúi đầu ca ngợi dâng hương thỉnh / Xin nguyện từ bi ứng hiện ngay. Bản dịch của H.T Nhất Hạnh)



Phàm nước đây là, nước tám công đức 32 từ thiên chân 33 , rửa trước chúng sanh nghiệp cấu trần, vào đầy Tỳ Lô Hoa tạng giới 34, tắm gội trong đây thoát trầm luân 35. Nước chẳng rửa nước, gọi tuyệt diệu pháp thân, bụi không dơ bụi, rằng về làm chính mình 36. Nước này gột sạch thế giới, cọ rửa đàn tràng, rảy lên cây khô trở nên xanh tươi, làm sạch cõi dơ chuyển thành đất tịnh. Cho nên chỗ nói là, trong ngoài khoảng giữa 37 không dơ bẩn, Thánh phàm 38 u hiển toàn sạch trong.


Tả bạch: Cành liễu đã tuôn dòng cam lộ
Cho hay một giọt bủa mười phương


Hữu bạch: Dơ bẩn tanh hôi thảy sạch trừ
Khiến tiệc pháp này thường thanh tịnh.


(Thầy sám chủ, tay trái cầm tịnh bình, tay phải dựa bình theo dáng phò duyên, định tâm quán tưởng từ nơi chặn giữa chân mày của Quán Âm đại sĩ phóng ra một đạo hào quang chiếu thẳng vào trong bình nước.)


Sám chủ: Trong giáo pháp có mật ngôn, kính nên trì tụng:
Đồng tụng: Nam mô Đại bi hội thượng Phật bồ tát. (3 lần) Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni.
 
32 Bát công đức thủy = nước đủ 8 đặc tánh qúi: 1. Trong sạch, 2. Mát mẻ, 3. Ngọt ngào, 4. Nhẹ nhàng,
5. Nhuần gội, 6. Không gây tai họa, 7. Hết bịnh kể cả bịnh đói và moi thứ tội ác, 8. Trưởng dưỡng giác quan và thiện can.
33 Thiên chân: Bản thể chẳng sanh diệt, chẳng tạo tác, siêu việt sanh tử sai biệt mà thấu suốt tất cả.
34 Là Hoa tạng thế giới của đức Tỳ lô giá na. Thế giới ay tượng trưng như Liên hoa đài, nên có khi gọi là Liên hoa đài tạng thế giới. Thế giới ấy là thế giới của Phật pháp thân, là thế giới của “kho tàng tâm, kho tàng địa, kho tàng giới, kho tàng vô lượng hạnh nguyện và kho tàng nhân quả Phật tánh thường trú”.
35 Chánh văn là “cá trung vô xứ bất siêu luân”, nghĩa là chúng sanh nào sống ở nơi mà có nước đủ 8
đặc tánh qúi nay để tắm gội thì nhat định siêu thoát những tram luân thống khổ.
36 Căn cứ thật tướng của nhất thừa mà nói thì các pháp xưa nay đâu có thêm bớt, có dơ có sạch, có lành có dữ, có tội có phước v.v.., siêu việt đối đãi, chung quy về không. Cho nên kinh nói: Tánh không chân thủy, tánh thủy chân không, thanh tịnh bản nhiên, châu biến pháp giới. Châu biến pháp giới nên, toàn nước cũng là trần, toàn trần cũng là nước, nghĩa là các pháp đều phổ biến. Thanh tịnh bản nhiên nên, nước chẳng rửa nước, bụi không dơ bụi, nghĩa là các pháp đều viên dung. Các pháp như vậy là thật tướng nhất tướng, nghĩa là tướng giải thoát, tách rời, diệt sạch, cứu cánh niết bàn, thậm thâm cảnh giới, pháp thân không có sai biệt, tự tánh trong sáng.
37 Trong là căn thân, ngoài là thế giới, khoảng giữa là tâm thức.
38 Thánh phàm: Chỉ cho tứ thánh, lục phàm. Tứ thánh là thanh văn, duyên giác, bồ tát và Phật. Lục phàm là chúng sanh trong 6 đường.



Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a rị đa. Bà lô yết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án. Tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát tả. Nam mô tất cát lật đỏa y mông a rị da. Bà lô cát đế thất phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì. Hê rị ma ha bàn đa sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đá na ma bà già. Ma ha phạt đặc đậu. Đát điệt tha. Án. A bà lô hê, lô ca đế. Ca ra đế. Di hê rị. Ma ha bồ đề tát đỏa. Tát ba tát bà. Ma ra ma ra, ma hê ma hê rị đà dựng. Câu lô câu lô yết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế. Đà ra đà ra. Địa rị ni. Thất phật ra da. Giá ra giá ra. Mạ mạ. Phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê y hê, thất na thất na. A ra sâm phật ra xá lị, phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê lị. Sa ra sa ra. Tất lị tất lị. Tô lô tô lô. Bồ đề dạ bồ đề dạ. Bồ đà dạ bồ đà dạ. Di đế lị dạ. Na ra cẩn trì. Địa rị sắc ni na. Ba dạ ma na, sa bà ha. Tất đà dạ, sa bà ha. Ma ha tất đà dạ, sa bà ha. Tất đà du nghệ. Thất bàn ra da, sa bà ha. Na ra cẩn trì, sa bà ha. Ma ra na ra, sa bà ha. Tất ra tăng a mục khư da, sa bà ha. Sa ba ma ha a tất đà dạ, sa bà ha. Giả cát ra a tất đà dạ, sa bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, sa bà ha. Na ra cẩn trì bàn già ra da, sa bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, sa bà ha. Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a rị da, Bà lô cát đế, Thước bàn ra dạ, sa bà ha. Án tất điện đô, Mạn đa ra, Bạt đà da, sa bà ha.


Nam mô Cam Lộ Vương Bồ tát. (3 lần)


(Thầy sám chủ rót nước từ trong bình ra chén nhỏ sạch. Vị hữu bạch dâng Ngũ Phật quan lên Thầy sám chủ.)


Sám chủ: Năm phương năm Phật đại oai thần Kết giới hàng ma khắp cõi trần Trên mão Tỳ Lô chư vị hiện
Một lần chiêm bái thảy về chân. 39

39 Sau khi thầy sám chủ đăng bảo vị thì đến phần gia trì lên Ngũ Phật quan hay bảo quan. Kinh Tam Muội ghi rằng: “Quan là để hiển bày ánh sáng, chỉ ra chỗ quay về”. Hai ngón áp út cài chéo nhau, các ngón cái, ngón giữa và ngón út chĩa thẳng đứng, còn lại hai ngón trỏ thì móc cong vào hai ngón giữa nơi lóng đầu tiên, tạo nên thủ ấn hình hoa sen. Quán tưởng ấn này an trí trên đỉnh đầu, tụng thần chú Chuẩn Đề, tưởng tự thân nhận chịu địa vị quán đảnh, nơi đó năm phương Như lai dùng nước nhất thiết trí mà tưới lên đảnh của thầy sám chủ. Từ nơi thủ ấn hoa sen phát ra rất nhiều loại ánh sáng tràn đầy mười phương thế giới đe thỉnh cầu các vị quán đanh là chư Phật trong Kim cang bộ, tất nhiên chính yếu là ngũ trí Như lai. Ngũ trí Như lai sẽ đến ngay tức thì trong không gian ở trên và quanh đảnh của thầy sám chủ (trên đảnh là Tỳ Lô Giá Na, phía trước là A Súc Phật, phía sau là A Di Đà Phật, bên trái là Bất Không Thành Tựu Phật, bên phải là Bảo Sanh Phật). “Tất cả chư Như lai, xin hãy cho con sự quán đảnh. Nguyện xin chư Như lai gia trì năng lực và ân điển cho con”. Với lời khẩn cầu này, ngũ trí Như lai cầm bình quán đảnh chứa nước cam lộ của nhất thiết trí, và nước cam lộ bắt đầu chảy xuống. Chư vị Như lai cất tiếng: “Khởi ngay từ giây phút đản sanh, chư thiên đã cúng dường nước tịnh lên đức Phật, cũng như thế, Như lai rưới nước cam lộ bất tử này để tịnh hóa báo thân”. Toàn thân thầy sám chủ tràn đầy nước cam lộ, và tất cả mọi ô trược, phiền não đều được tịnh hóa. Đây gọi là lấy sự trang nghiêm của Phật mà trang nghiêm cho mình vậy. Gia trì như vậy xong thì thân của sám chủ thành thể của ngài Kim Cang Tát Đỏa (Vajra-sattva).




(Thầy sám chủ gia trì lên Ngũ Phật quan, sau đó vị hữu bạch giúp gắn Ngũ Phật quan lên mão Tỳ Lô, đại chúng tán và tụng thần chú Phật Mẫu Chuẩn Đề


Cúi đầu quy y Tô tất đế
Thành tâm đảnh lễ Thất câu chi 
Đệ tử xưng tán đại Chuẩn Đề 
Xin nguyện từ bi thầm gia hộ. 40


Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đà, câu chi nẫm, đát điệt tha: Án, chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. (3 lần)


Nam mô Chuẩn Đề Vương Bồ tát ma ha tát. (3 lần)


Tụng: 

Thời đến pháp vương tọa
Trời người đều hộ trì 
Con nay đăng hiển mật 
Phụng thỉnh Tỳ Lô tôn. 41


(Hai tay nâng thủ lư, vỗ thủ xích, Thầy sám chủ xướng “Tỳ Lô Như Lai”, đại chúng đứng dậy chắp tay, hoà “Đại quang minh tạng”)


Sám chủ: Tỳ Lô Như Lai. (3 lần)



40 Pháp Tô tất đế (susuddha) là chú Chuẩn Đề. Chú Chuẩn Đề viên mãn moi tâm nguyện nên gọi là
Tô tất đế. Thất câu chi là ngai Chuẩn Đề (Candì), là một hoá thân của bồ tát Quán Thế Âm, có 3 mắt
18 tay, bộ dạng sân hận. Ngài Chuẩn Đề là thất câu chi Phật mẫu nên gọi tắt là đức Thất câu chi.
41 Thầy sám chủ quán tưởng tự thân tức đức Tỳ Lô Như lai, đức Tỳ Lô Như lai tức tự thân, tổng thành một: đại quang minh tạng (bào thai của ánh sáng vĩ đại). Thầy sám chủ miệng hòa, tâm tưởng, cung nghinh đức Bổn tôn nhập đàn, ngoi nơi tòa ngồi của bậc Pháp vương. Tỳ Lô Giá Na còn gọi là Đại Nhật Như lai, là đức Phật bổn tôn tối thượng trong Mật giáo, là bậc Chiếu soi cùng khắp, bậc Thành tựu mọi việc, bậc Ánh sáng không sanh diệt. Theo Mật tông, đức Tỳ Lô Giá Na là thật tướng của vũ trụ và là ban thệ của tất cả chư Phật, bồ tát. Ba nghiệp của đức Phật này đầy khắp hư không, giảng nói giáo pháp vi diệu Tam mat môn Kim cang Nhất thừa của Như lai.




Chúng hoà: Đại quang minh tạng. (3 lần)
Tả bạch: Kết giới năm phương.


(Đại chúng an tọa.)


Cử tán: 

Hồng hồng án ma ni hồng
Trên trời dưới trời ai như Phật
Án ma ni hồng
Mười phương thế giới, án già hồng, không sánh bằng
Hồng hồng án ma ni hồng Thế gian có gì con thấy hết Án ma ni hồng
Tất cả không ai, án già hồng, sánh bằng Phật
Hồng hồng án ma ni hồng.


Đông phương thế giới A Súc Phật
Án ma ni hồng
Ngài thân sắc xanh, án gia hồng, phóng quang minh
Hồng hồng án ma ni hồng Tay ấn giữ gìn xử kim cang Án ma ni hồng
Chúng con chí tâm, án gia hồng, xưng tán lễ
Hồng hồng án ma ni hồng.


Nam phương thế giới Bảo Sanh Phật
Án ma ni hồng
Ngài thân sắc đỏ, án già hồng, phóng quang minh
Hồng hồng án ma ni hồng Tay ấn giữ gìn ngọc ma ni Án ma ni hồng
Chúng con chí tâm, án gia hồng, xưng tán lễ
Hồng hồng án ma ni hồng.


Tây phương thế giới Di Đà Phật
Án ma ni hồng
Ngài thân sắc trắng, án già hồng, phóng quang minh
Hồng hồng án ma ni hồng
Tay ấn giữ gìn hoa sen mầu


Án ma ni hồng
Chúng con chí tâm, án gia hồng, xưng tán lễ
Hồng hồng án ma ni hồng.


Bắc phương thế giới Thành Tựu Phật
Án ma ni hồng
Ngài thân sắc đen, án gia hồng, phóng quang minh


Hồng hồng án ma ni hồng
Tay ấn giữ gìn vòng giao nhau
Án ma ni hồng
Chúng con chí tâm, án gia hồng, xưng tán lễ
Hồng hồng án ma ni hồng.


Trung ương thế giới Tỳ Lô Phật
Án ma ni hồng
Ngài thân sắc vàng, án già hồng, phóng quang minh
Hồng hồng án ma ni hồng
Tay ấn giữ gìn vòng ngàn tăm
Án ma ni hồng
Chúng con chí tâm, án gia hồng, xưng tán lễ
Hồng hồng án ma ni hồng. 42



42 Năm vị Phật trong mạn đà la Kim cang giới (biểu thị cho trí tuệ sở chứng của Phật) là: 1. Đại Nhật Như lai (Tỳ Lô Giá Na) ngự ở trung ương, thân màu vàng, tiêu biểu cho Pháp giới thể tánh trí, trí tuệ thấy toàn bộ thân tâm và ngoại cảnh của chúng sanh gọi là pháp giới chúng sanh mà bản nguyên là tự tánh thanh tịnh, bản thể là Phật, đều có khả năng làm Phật. 2. Đức A Súc Như lai ngự ở phía đông, thân màu xanh, đtiêu biểu Đại viên cảnh trí, như tấm gương tròn bao la ngời sáng phản chiếu mọi hiện tượng sanh thành hay hủy diệt của thế giới. 3. Đức Bảo Sanh Như lai ngự ở phía nam, thân màu đỏ, tiêu biểu Bình đẳng tánh trí, tức khả năng quan sát bình đẳng các pháp mà không bị ràng buộc ngã và pháp. 4. Đức A Di Đà Như lai ngự ở phía tây, thân màu trắng, tiêu biểu Diệu quán sát trí, tức nhìn thấy
rõ chân tướng của vạn hữu, của tác dụng sanh khởi, tồn tại và hủy diệt. 5. Đức Bất Không Thành Tựu Như lai ngự ở phía bắc, thân màu xanh lục (đen), tiêu biểu Thành sở tác trí, thể hiện các phương tiện giáo hóa chúng sanh. Việc phối hợp 5 đức Phật với 5 đại, 5 phương, có 2 thuyết: 1. Ngài Bất Không theo nghĩa của Thai tạng bản hữu môn, lấy trung ương làm tông, thuận theo thế gian phối hợp với ngũ hành nên không đại thuộc phương đông, hỏa đại thuộc phương nam, phong đại thuộc phương tây, thủy đại thuộc phương bắc, địa đại ở trung ương. 2. Ngài Thiện Vô Úy can cứ nghĩa Tu sanh Kim cang giới lấy phương đông làm tông, nên địa đại thuộc phương đông, hỏa đại thuộc phương nam, thủy đại thuộc phương tây, phong đại thuộc phương bắc, không đại ở trung ương. Cách tụng ở trên là theo cách của ngài Thiện Vô Úy. Thầy chủ sám khi kết ngũ phương giới thì tưởng ngũ phương Phật giáng lâm đàn tràng, cõi u minh và dương gian tràn ngập ánh sáng trí tuệ chủng.


Hộ án tát lỵ qua đát tha a nga đa, bố tư tất, độ tất, già lư kiết, can đích, nễ vĩ đích, sa bố đáp 43 , bố tả minh cát tát mô, đích la tư phấn la, nạp tam ma, da già hồng. (3 lần) 44


Nam mô Bảo Đàm Hoa Bồ tát ma ha tát. (3 lần)


(Thầy sám chủ hai tay nâng chén nước, thỉnh nước cam lộ


Cam lộ 45 trong bình Như lai để Chính khử trần lao bất tịnh thân Nay con gìn giữ ở trong tay
Rảy khắp pháp diên thường thanh tịnh.


Tả bạch: Chân ngôn Làm sạch pháp giới 46:


Sám chủ: Án lam, án lam sa ha. (3 lần)


Hữu bạch: Chân ngôn Điểm tịnh 47:


Sám chủ: Án già mục cát tạt la di ma nghênh tô lỗ tô lỗ sa ha. (3 lần)



43 Bố tư tất, độ tất, á lư kiết, can đích, nễ vĩ đích, sa bố đáp = hoa, hương, đăng, đồ, quả, nhạc.
44 Quán tưởng trong khoảng khảy móng tay, trời mưa hương, hoa, … tạo thành vầng mây cúng dường để hiến cúng Ngũ phương Như lai.
45 Cam lộ (Amrta, Amata): Dịch âm là A mật ri đa, dịch ý là bất tử (không chết), bất tử dịch (nước bất
tử), thiên tửu (rượu trời). Cam lộ là pháp vị nhiệm mầu của Phật pháp có năng lực nuôi lớn thân tâm chúng sanh. Mật giáo gọi nước quán đảnh bất nhị của hai bộ chân ngôn (Thai tang bộ và Kim cang bộ) là Cam lộ bất tử. Duy Ma kinh chú, quyển 7, ghi rằng: “Ngài La Thập nói, chư thiên đem các vị thuốc qúy lên núi báu ở giữa biển để luyện thành cam lộ, người ăn vào được thành tiên, gọi là thuốc bất tử (…). Ngài Đạo Sanh nói, thức ăn của trời là vị cam lộ, ăn vào được sống lâu, nên có tên là thức ăn bất tử”. Kinh Vô Lượng Thọ, quyển thượng, cũng có ghi: Nước 8 công đức, trong suốt tràn đầy, sạch sẽ thơm tho, vị như cam lộ. Sách Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu, bai kệ Rửa bát là: Đem nước rửa bát này, thứ nước có mui vị như nước cam lộ của chư thiên, bố thí cho các loài quy thần để họ no đủ tất cả.
46 Pháp giới là Nhất chân pháp giới, chính là tâm thanh tịnh bản nguyên của chư Phật và chúng sanh,
cũng gọi là Nhất tâm pháp giới hay Nhất chân vô ngại pháp giới. Pháp giới được chia làm 4 nghĩa, gọi là Tứ pháp giới: sự pháp giới, lý pháp giới, lý sự vô ngại pháp giới và sự sự vô ngại pháp giới. Khi tụng chân ngôn này phải quan tưởng thân tâm mình trong sach như vầng trăng tròn lặng, biểu trưng cho phước tuệ tròn đầy. Không có phước thì không thể có tướng hảo, không có trí thì không thể trừ sạch phiền lụy. Thế nên, phước tuệ tròn đầy thì nội chướng tự tịnh, ngoại tương tự nghiêm.
47 Chân ngôn này có công năng làm sạch khí giới, tức the giới chúng ta đang sống. Khi tụng chân ngôn
này, Thầy sám chủ dùng ngón áp út của bàn tay phải nhúng vào nước đã được ướp hương rồi khảy sái vào hư không, quán tưởng chữ án lam, tưởng đàn tràng trong ngoài thảy đều thanh tịnh hoàn toàn. Kinh Viên Giác nói: Một thế giới trong sáng nên nhiều thế giới trong sáng, nhiều thế giới trong sáng nên cho đến cùng không gian mười phương và suốt thì gian ba đời toàn bộ đều trong sáng.




Tả bạch: Chân ngôn Gia trì hoa gạo 48:


Sám chủ: Án qua tư la lỗ di già hồng. (3 lần)


Hữu bạch: Chân ngôn Gia trì bảo linh 49:


Sám chủ: Án qua tư la tát đáp già hồng
Án qua tư la khán trá già hồng. (3 lần)


Sám chủ: Án, (3 lần)


Chúng hòa: Già hồng 50. (3 lần)


(Thầy sám chủ sái linh bằng gạo 3 lần xong, chuyển linh 3 lần, tán thán công năng của linh xử, rằng

Con nay rung linh ngữ 51
Vang vọng mười phương xứ 
Lễ thỉnh chư Thánh hiền 
Thảy đều vân tập lại.


Tán: Tay trái cầm nắm linh bảy báu vi diệu
Hồng âm chấn động mười phương cùng ba cõi
Phạn âm rỗng rãng lay tỉnh tâm ma oán Đập nát tà yêu, vọng lượng và ma quái. Tay phải cầm giữ xử kim cang hàng ma Đầy uy thế, nặng tám vạn bốn ngàn cân
Hủy diệt thiên và phi thiên ma quyến thuộc
Khiến thay hồi quang phản chiếu sanh khát ngưỡng.


48 Khi tụng chân ngôn này, thay sám chủ dùng hai tay hoà trộn hoa và gạo, rồi tưởng quán hoa gạo thành ánh sáng, trong đó tuôn ra đủ thứ quí giá như vàng, bạc, bích ngọc, trân châu v.v... tràn đầy hư không, rộng thí không hết.
49 Linh tượng trưng cho đại trí hoằng pháp, xử tượng trưng cho đại lực hàng ma. Thầy sám chủ dùng tay
phải nắm hoa gạo rải vào bên trong cặp linh, quán tưởng thành chủng tử trí tuệ chân thật và trí tuệ phương tiện (thật trí và quyen trí = căn bản trí và hậu đắc trí).
50 Án già hồng là chân ngôn tổng gia trì, có cái dụng vững chải, rộng lớn vô cùng tận, xướng 3 lần, 3
lan vun rải gạo.
51 Linh ngữ: tiếng nói của linh, là tiếng hồng âm, tiếng phạn âm. Có bản viết là ngã kim chấn linh xử, có lẽ cho hợp lúc thầy chủ sám đang rung lắc linh và xử. Du già diệm khẩu thí thực yếu tập ghi là ngã kim chấn linh ngữ.


Nội ngoại ma oán, tam độc 52 cùng tứ hại 53
Chú thư, yểm muội, ma ba tuần,
ngoại đạo Ba vòng lửa nhọn, 
sức khiển ma đầy trời 
Làm cho xa lìa những mộng tưởng điên đảo.
Thiên ma phẫn nộ trong bốn phương, tám hướng
Biết con làm pháp sự, lắng nghe tín thọ
Lang mang bát đát, bí mật diệu già đà 54
Khảy móng tay quét sạch hung ác, hiểm hoạ. 55


(Thần chú Mười hai nhân duyên


Án da đáp nghê, ma hê đô bất la, ba qua hê đôn đích sơn đap tháp, cát đạt hiệt qua nhi đát đích sơn, tạt đích ni lỗ đích da bang bát đế, ma hạt thích la, ma nạp da sa ha. 56


(Đặt linh trên án, Thầy sám chủ xướng rằng


Đệ tử cùng tất cả hữu tình trong pháp giới, bắt đầu từ hôm nay trở đi, nhẫn đến trong thời gian chưa chứng bồ đề, thệ nguyện quy y Kim Cang Thượng sư và Tam bảo. 57


Tả bạch: Chân ngôn (quy y) Thượng sư, Tam bảo:


(Thầy sám chủ nâng một nắm hoa gạo trong lòng bàn tay trái, quán tưởng.)


52 Tam độc: Ba món phá hoại thiện căn xuất thế: 1. Tham là với cảnh thuận ham muốn không nhàm,
2. Sân là với canh nghịch sanh lòng giận dữ, 3. Si là không phân biệt đươc chân ngụy.
53 Tứ hại: sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối.
54 Già đà: Phúng tụng hay cô khởi, là một loại trong 12 thể loại khế kinh, là thể văn chỉnh cú không theo trường hang mà tự nói pháp nghĩa. Ở đây, pháp sự trai đàn bao gồm hiển mật viên thông, nên nói bí mật diệu già đà.
55 Bài này trong đại khoa Du già, có thể lược qua.
56 Các pháp đều từ nhân duyên mà có, cũng tức là nói đương thể giai không. Luận Trung quán, phẩm Quán tứ đế ghi: Chưa từng có một pháp nào mà không từ nhân duyên sanh, thế nên hết thảy pháp, không pháp nào mà chẳng là không (Vị tằng hưu nhất pháp, bất tùng nhan duyên sanh, thị cố nhất thiết pháp, vô bất thị không giả). Sau khi tụng thần chú này, trong cái thấy của thầy sám chủ, ba cõi đều là không, đem cái tâm vốn không mà quán sát các pháp vốn không. Không như vậy là hủy diệt tà kiến và thành tựu các pháp: dĩ hữu không nghĩa cố, nhất thiết pháp đắc thành (Trung luận). Tụng thần chú này rồi thì tâm được tự tại, các pháp cũng được tự tại, tùy tâm mãn nguyện vậy.
57 Đây là xứng với pháp giới tánh mà phát nguyện quy y Thượng sư và Tam bảo. Kim Cang Thượng sư
là đức Tỳ Lô Giá Na (Vairocana), làm đức Du già đại bí mật giáo chủ, biểu thị cho pháp thân của Phật; pháp thân ấy là tổng thể của vô tận Phật pháp tăng, nên gọi là Tam bảo bản thể (lý tánh). Còn Tam bảo ở đây là chỉ cho Tam bảo biểu tượng, còn gọi là Tam bảo biệt tướng (sự tướng).

Sám chủ: Nại mồ cô lỗ tỳ da, nại mồ bột tháp da, nại mồ đạt nhi ma da, nại mồ tang kiệt da 58. (3 lần, Tả bạch và Hữu bạch 2 lần sau)


Sám chủ: Án lị lị cáp cáp hồng hồng phấn đát.
Án thất lị ma cáp ca la cáp cáp hồng hồng phấn đát sa ha. (3 lần)


Sám chủ: Án, (3 lần)


Chúng hòa: Già hồng (3 lần)


(Thầy sám chủ cầm hoa gạo rải sái vào hư không, quán tưởng hoa gạo ấy rơi xuống biến thành hương hoa, phẩm vật cúng dường Tam bảo. Tả bạch vỗ thủ xích, thán rằng


Bày biện hương hoa lập bảo đàn
Trùng trùng Phật cảnh trong tóc tơ, 59
Tâm dung diệu lý, hư không nhỏ
Đạo khế chân như, pháp giới to, 60
Tướng hảo từ bi, trăng thu sáng
Hoá thân vời vợi, mây chiều bồng, 61
Khói hương lãng đãng chiêm ứng hiện
Vạn vật bao la hải ấn trùm. 62



58 Quy y Kim Cang Thượng sư, quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng.
59 Đây là nói về sự sự vô ngại pháp giới, theo đó một kẽ tóc hay mot chân lông (nhat hào đoan) của chúng ta, tầm thường và vô nghĩa, trở thành một địa điểm siêu phàm, nơi đó tất cả Như Lai trong quá khứ, hiện tại và vị lai có thể vân tập đe thuyết những bài pháp tâm linh hay chứng minh trai đàn. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Do vì Như Lai có thần lực thị hiện trong một lỗ chân lông toàn bộ lịch sử của hết thảy mười phương thế giới từ thành kiếp đến hoại kiếp”.
60 Hai câu này là tán thán pháp thân đức, nghĩa là khi Tâm và diệu lý dung hội thì thể hội pháp thân
rộng lớn không ngan, cũng thấy toàn the thế gian, hư không chỉ như giọt nước biển. Kinh Lang nghiem nói: “Lúc ấy tôn giả A Nan và đại chúng nhờ Phật chỉ dạy một cách tuyệt diệu, nên cả cơ thể và tâm trí đều rất thư thái. Ai cũng tự biết Tâm khắp mười phương, thấy không gian mười phương chỉ như chiếc lá trong lòng bàn tay”. Đoạn này noi về lý pháp giới.
61 Câu trước tán thán bát nha đức của báo thân với vô lượng sac thái, tướng hảo, đầy đủ từ bi hỷ xả, như
trăng mùa thu tròn đầy. Câu sau ca ngợi giải thoát đức của ứng hóa thân thi hiện khắp cả để hóa độ chúng sanh trong lục đạo, được ví như áng mây chiều bồng bềnh biến hóa không lường. Đoạn này nói về sự pháp giới.
62 Hai câu này là lời thỉnh Phật với 3 thân thần diệu, ứng hiện sac than, giáng phó đạo tràng qua sự tín
tâm chiêm ngưỡng khẩn thiết mà cảm được. Như biển cả bao hàm vạn tượng, bày ra rõ ràng, ấn hoại văn thành. Lời cổ đức thường nói: lắng sâu trong sạch, gương sáng treo không, vạn tượng sum la, bao la xét rỗng (trừng đàm oánh tịnh, minh kính hư huyền, vạn tượng sum la, khuếch nhiên hư giám).



(Thầy sám chủ tay nâng thủ lư, toàn thể đại chúng đứng dậy chắp tay, hòa theo lời xướng thỉnh:)


Sám chủ: Thích Ca Như Lai.
Chúng hoà: Chứng minh công đức. 
Sám chủ: Quan Thế Âm Bồ tát. 
Chúng hoà: Mật thuỳ gia hộ.
Sám chủ: A Nan Đà tôn giả.
Chúng hoà: Hưng quyền khải giáo.


(Đại chúng an tọa. Rung linh 3 lần, rồi niệm kệ Tự tánh


Phương tiện tự tánh, thể chẳng hư
Tạng thức kim cang vẫn y như 63
Tuệ giác cao tột siêu việt tướng
Con cũng nương đây mà thành tựu. 64
Tự tánh tuệ giác, tánh thẳm sâu
Diễn nói pháp âm thật nhiệm mầu 65
Từ vô sanh hiện thân phương tiện
Việc làm này đây nguyện được thành. 66


(Tụng tiếp kệ Làm sạch đất: 67 )


Chân trời góc biển có đất đai
Ngói sỏi cát đá không còn phủ

63 Chánh văn là đại dũng thức, tức nhất thiết trí: tuệ giác biết toàn thể, biết về bản thể. Tuệ giác đó cứng chắc như kim cương, có thể phá hoại tất cả phiền nao, ma chướng.
64 Nhất thiết trí là tuệ giác siêu việt khái niệm đối kháng lẫn nhau, tùy duyên bất biến, bất biến tùy
duyên, nên nói là tối thắng vô tỷ (cao tột không gì sánh bằng).
65 Tuệ giác của Phật rất sâu xa vô tan, khó biết khó vào, trí tuệ của hàng thanh văn, duyên giác và bồ tát chưa hoàn toàn, không thể biết thấu.
66 Chư Phật từ nơi bản thể vô sanh mà phương tiện thị hiện các thân để thuyết pháp độ sanh. Hôm nay
thầy sám chủ cũng nương bản thể vô sanh mà biểu hiện cái thân hóa Phật, thay Phật thuyết giới cho cô hồn.
67 Chư Phật lấy tuệ giác làm thân, còn chúng sanh thì chưa có được cái thân vô lậu và còn sống trên
mảnh đất hữu lậu, vì thế phải niệm bài kệ Làm sạch đất để chuyển uế độ thành tịnh độ, sau đó mới thỉnh chư hiền thánh an trú.



Đất báu lưu ly bằng phẳng xinh
Mềm mại tinh tế nguyện an trụ.
Như nước Cực lạc thật trang nghiêm
Đất bằng bảy báu, hoa giăng rũ 
Ao đẹp, vườn xinh nhiều khôn tả 
Cùng pháp âm lớn nguyện đủ đầy. 
Từ xuất thế gian lại biến hiện
Mọi thứ bảy báu được thành tựu 
Vô lượng ánh sáng chiếu khắp nơi 
Chư Phật, Bồ tát nguyện an trụ 68 .


(Tụng thần chú Âm nhạc: 69 )


Án qua tư la, khán chi di, la nạp, la nạp bất la, la nạp bất la, la nạp tam bất la, la nạp tam bất la, la nạp tát lỵ qua, bột tháp xích đích la, bat la tạt lỵ tháp, ma hạt bất la ni nha, ba la miệt đáp na, đạt tốc ba vi tát lỵ qua, tháp lỵ ma, kía lỵ, đạt da tán, đa sa nạp cát lỵ hồng hồng, phấn tra sa ha. (3 lần)

Tả bạch: Chân ngôn Khiển ma 70:


Sám chủ: Án qua tư la, già di lỵ đạt, côn tra lợi, cát nạp cát nạp, hồng hồng, phấn tra. (3 lần)

Tả bạch: Chân ngôn Phục ma 71:


Sám chủ: Án qua tư la, nã kháp già hồng.



68 Lúc đức Thế tôn còn tại thế, ngay nơi thế giơi Ta bà mà ngài có thể biến thành thế giới tịnh độ. Nay đức Phật đã nhập diệt, chúng ta vô năng tái hiện thế giới tịnh độ. Tuy nhiên, nương nơi pháp xuất thế của Phật, tức Kim cang giới mạn đà la, chú lưc và tâm pháp, thầy sám chủ vẫn có thể tái hiện cảnh giới tịnh độ với mặt đất bằng bảy báu, hòa xen với ánh sáng rực rỡ muôn màu tỏa khắp trong ngoài đàn tràng, để cung thỉnh chư Thanh hiền vân tập và an trụ bất động.
69 Sau khi chư Thánh hiền vân tập và an trụ rồi thì là lúc dâng cúng âm nhạc cõi trời, ngũ âm hòa nhã,
lục vận du dương, vi diệu tham thấu để cúng dường mười phương Tam bảo. Đây là dùng âm nhạc tự tánh để cúng dường Tam bảo tự tánh.
70 Ấn khiển ma: Dùng hai tay bắt ấn Kim cang quyền, mu hai bàn tay đâu nhau, hai ngon tay út bắt tréo
nhau, hai ngón tay trỏ hướng thẳng lên, kết ấn ngang ngực, quán tưởng trên thủ ấn có chữ hồng phóng ra các loại ánh sáng lớn để điều khiển cảnh giới ma.
71 Ấn phục ma: Hai bàn tay bắt tréo nhau, hai ngón tay cái và hai ngón trỏ hướng thẳng lên, kết ấn
ngang ngực, động nhẹ làm thế quạt xoè, quán tưởng trên thủ ấn có chữ hồng xuất hoả quang để điều khiển các loại ma như ma phiền não, ma ngũ ấm.
Tả bạch: Chân ngôn Hoả luân 72:


Sám chủ: Án qua tư la, tá la già nại lặc, hạt nại đáp hạt, ba tạt ma tháp, bang tạt la nạp, hồng, phấn tra. (3 lần)

(Tả bạch: Chân ngôn Mạn đà la 73: )


Sám chủ: Án tát lỵ qua, đáp tháp cát đáp la đích, nại ma hạt mạn đáp lặc, bố tạt di khát, tát mô đích la, tư phấn la nạp, tam ma da già hồng. (3 lần)


(Thầy sám chủ tay nâng ngang thủ lư, vỗ thủ xích, bạch rằng


Phật Pháp Tăng bảo, thể biến mười phương, cung kính thỉnh cầu, hẳn mong cảm ứng. Nay là lúc khởi đầu phát huy ý nghĩa thí thực, trước tiên phải quy kính Tam bảo để cầu mong phap sự được tốt đẹp trọn vẹn, thứ nữa là để thành tựu nhân tố ưu việt 74. Kính xin đại chúng từ bi, đồng thanh ứng hoà:


(Thầy sám chủ nâng thủ lư, cử tán Tam quy y:)


Chí tâm tín lễ Phật đà da, đấng phước tuệ 75, tròn ba giác, đủ muôn đức, thầy điều ngự người trời, án già hồng, bậc cha lành phàm Thánh. Từ chân giới, ứng giáng thần 76 , thương hoá khắp, thời gian dọc ba đời, không gian ngang mười phương 77. Nổi pháp lôi, gióng pháp cổ, rộng nói pháp quyền thực, án già hồng, mở lớn đường phương tiện 78. Nếu quy y năng tiêu diệt địa ngục khổ. Phật tử nếu quy y năng tiêu diệt địa ngục khổ.


72 Hỏa luân là vòng lửa. Khi tụng chân ngôn này thầy chủ sám kết ấn hỏa luân, còn gọi là ấn trí hỏa, vì hỏa đại tượng trưng cho lưa trí tuệ của pháp tánh. Khi kết an tướng nay thì cac ngón tay đan nhau và chĩa thẳng lên, kết ấn ngang ngực, quan tưởng trên thủ ấn hiện chữ hồng màu đỏ phóng ra lửa kim cang quạt vào hư không khiến ma lánh xa.
73 Trước đó có thể tụng bài kệ Mạn đà la (= Mạn nã la, mạn đáp lặc): Đế tưởng thanh tịnh quảng đại
mạn đáp lặc/ Tứ châu thống mãn vô lượng chư tran bảo/ Nhất nhất giai như Diệu cao ma ni tụ/ Phụng hiến Thượng sư, Tam bao nguyện an trụ (Tưởng kỹ mạn đà la thanh tịnh rộng lớn, bốn chau gồm đu vô lượng trân bảo, hết thảy như núi Diệu cao đầy ma ni, hiến cúng Thượng sư, Tam bảo nguyện an trú).
74 Thắng nhân = nhân tố ưu việt: Là quy y Tam bao. Kinh Pháp Cú dạy: “Sự nương tựa vào Phat Pháp
Tăng như vậy mới là an toàn, mới là tối thượng; bởi vì nương dựa như vậy mới làm cho ta thoát khỏi lo phiền”. Quy y Tam bảo thì tội diệt, phước sanh, là có chánh kiến: thấy biết chính xác tứ đế. Trong chốn sanh tử mịt mu, cái mà mình có thể mang theo, giúp ích và nương cậy chỉ có điều thiện mà mình đã làm và năng lực Tam bảo mà mình quy y.
75 Lưỡng túc tôn: tôn cao vì phước tuệ toàn hảo. Lưỡng túc là 2 chân, lưỡng túc tôn là bậc cao cả nhất
trong các loài 2 chân.
76 Tùng chân giới, đằng ứng chất: Chân giới là thể tánh thanh tịnh, là giới pháp Phật tánh thường trụ, tức là nói Phật pháp thân. Ứng chất là thị hiện 8 tướng thanh đạo: giáng thần, nhập thai, trú thai, xuất thai, xuất gia, thành đạo, chuyển pháp luan, nhập niết ban, đây là chỉ cho Phật ứng thân.



Chí tâm tín lễ Đạt ma da, pháp ly dục 79, cất bảo tạng, chứa ngọc hàm, kết tập nơi Tây vực, án già hồng, phiên dịch truyền Đông độ. Tổ sư hoằng, hiền triết giải, thành chương sớ, ba thừa phân đốn tiệm, năm giáo định tông thú 80 . Qủy thần vâng, long thiên giúp, mê ngộ tay chỉ trăng 81 , án già hồng, trừ nóng cam lộ thật. Nếu quy y năng tiêu diệt ngạ quỷ khổ. Hữu tình nếu quy y năng tiêu diệt ngạ qủy khổ.




77 Chư Phật trong 3 thời gian, khắp 10 phương xứ không lúc nào và nơi đâu không thương xót tìm cách cứu độ chúng sanh.
78 Đức Phật ra đời, chuyển pháp luân vô thượng, bằng cách đánh vang trống pháp lớn, nổ tung sấm
pháp lớn, khắp rưới mưa pháp lớn, độ vô lượng chúng sanh bằng mọi phương tiện thiện xảo, tạm nói ra ba thừa (quyền) nhưng kỳ thật chỉ mong chúng sanh về với Phật thừa (that).
79 Ly dục tôn: tôn cao vì thoát ly dục vọng. Ly dục là niết bàn, niết bàn thì tôn cao nhất trong tất cả
pháp.
80 Ngài Hiền Thủ, tổ sư tông Hoa Nghiêm, chia Thánh giáo của Phật nói trong 1 đời thành 5 giáo 10 tông. Năm giáo là: 1. Tiểu thừa giáo, 2. Đại thừa thỉ giáo, 3. Đại thừa chung giáo, 4. Đốn giáo, 5. Viên giáo. Mười tông là: 1. Ngã pháp câu hữu tông, 2. Pháp hữu ngã vô tông, 3. Pháp vô khứ lai tông, 4. Hiện thông giả thật tông, 5. Tục vọng chân thật tông, 6. Chư pháp đãn danh tông, 7. Nhất thiết giai không tông, 8. Chân đức bất không tong, 9. Tướng tưởng câu tuyệt tông, 10. Viên minh cụ đức tông. Trong 10 tông, 6 tông trước thuộc Tiểu thừa giáo, tông 7 thuộc Đại thừa thỉ giáo, tông 8 thuộc Đại thừa chung giáo, tông 9 thuộc Đốn giáo và tông 10 thuộc Viên giao. Tông thú là chủ trương, chỗ quy thú căn bản của mỗi tông. Kinh Lăng Già dạy: Tông thú dữ ngôn thuyết/ Tự chứng cập giáo pháp/ Nhược năng thiện tri kiến/ Bất tùy tha vọng giải (Nhận thức tự nội và ngôn ngữ văn tự, sự tự chứng và giáo pháp Phật dạy, những ai thấy suốt sự khác nhau giữa những thứ này và hiểu ro thì sẽ không bị ảnh hưởng bởi sự suy diễn suông). Theo kinh Lăng Già, chánh pháp của bậc Đạo sư bao gồm
2 tính chất: giáo thuyết và sự thể chứng. Như vậy, tông thú là những gì phát xuất từ chính cái tâm của mình, là sự thể chứng tự nội vậy.
81 Đạo mê tiêu nguyệt chỉ: Ngón tay chỉ mặt trăng (tiêu nguyệt chỉ) là từ ngữ so sánh giáo pháp, dụ
cho ngón tay, là phương tiện dẫn dắt chỉ bày (tieu) cho chúng sanh đạt đến thật tướng chân như, dụ cho mặt trăng. Giáo pháp chẳng phải là thật tướng, như ngón tay chẳng phải là mặt trăng. Nếu người lầm cho ngón tay là mặt trăng thì chẳng biết ngón tay và cũng chẳng biết mặt trăng. Kinh Viên Giác ghi: “Biết kinh phap cũng chỉ như ngón tay chỉ mặt trăng và biết ngón tay khong bao giờ là mặt trăng cả”.
82 Chúng trung tôn: thế giới này lấy tỳ kheo tăng làm Tăng bảo, nên tỳ kheo tăng tôn cao nhất trong
các chúng. Bậc chúng trung tôn thì cả 3 nghiệp thân miệng ý không cho có những tội lỗi và cử động bất xứng, nghĩa là cụ túc giới pháp và oai nghi. Từ đó phải có những han chế (giá) và linh động (khai) trong đời sống hằng ngày, gồm có đời sống nội tâm, làm việc và giao tiếp, sao cho như hình ảnh hoa sen vượt lên trên mặt nước (liên hoa bất trước thủy), vị tỳ kheo hành xử và phản ứng không theo nghiệp quả hay bản năng, mà bằng chánh niệm và hành xả.



Chí tâm tín lễ Tăng già da, bậc tôn kính 82, thầy năm đức 83, chúng sáu hoà 84 , lợi sanh làm sự nghiệp, án già hồng, hoằng pháp là việc nhà. Lánh phồn hoa, thường thiền toạ, chốn lặng lẽ, che thân mặc ao nạp, lấp bụng ăn rau dưa. Bát thâu rồng, gậy can cọp 85, đèn pháp thường chiếu khắp, án già hồng, ấn Tổ trao truyền nhau. Nếu quy y năng tiêu diệt bàng sanh khổ. Cô hồn nếu quy y năng tiêu diệt bàng sanh khổ.


Nam mô Hương Vân Cái Bồ tát ma ha tát. (3 lần)


(Thầy sám chủ đặt thủ lư lên án, xướng tụng

Chúng con phát tâm rộng lớn:


Quy y Kim Cang Thượng sư.
Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng.


Con nay phát tâm chẳng vì mình mà cầu xin phước báu người trời, cầu quả vị Thanh văn, Duyên giác, cho đến cac địa vị Bồ tát quyền thừa, mà chỉ y theo đại thừa tối thượng, phát tâm bồ đề 86, nguyện cùng chúng sanh trong pháp giới, một lúc đồng được quả vị Vô thượng chánh đẳng chánh giác.


Kính lạy mười phương điều ngự sư Giảng dạy thanh tịnh vi diệu pháp Ba thừa, bốn quả giải thoát tăng 87
Cúi xin xót thương đến pháp hội.
83 Năm đức, theo kinh Phước Điền, là: 

1. Phát tâm xuất gia vì cảm bội Phật pháp, 
2. Hủy bỏ hình đẹp
vì thích ứng pháp y, 
3. Cắt ái từ thân vì không còn thân sơ, 
4. Vất bỏ thân mạng vì tôn sùng Phật pháp, 
5. Chí cầu đại thừa vì hóa độ mọi người.

84 Thường gọi là lục hòa, cũng gọi là 6 pháp khả ý: 

1. Thân hòa đồng trú (cùng ở như nhau), 
2. Khẩu hòa vô tranh (không tranh cai nhau), 
3. Ý hòa đồng duyệt (vui vẻ với nhau), 
4. Giới hòa đồng tu (cùng giữ giới ấy), 
5. Kiến hòa đồng giải (cùng hiểu như nhau), 
6. Lợi hòa đồng quân (phân chia đồng đều). 

Lục hòa là các nguyên tắc để cho các tỳ kheo cùng sống chung trong tinh thần hòa hợp. “Ở trong nhà của Phật thì phải giữ 6 sự hòa kính ấy”, vì hòa hợp vốn là định nghĩa và bản chất của Tăng chúng. Luc hòa cũng là yếu tố tồn tại của sinh mạng Phật pháp , vì chính sự hòa hợp trong Tăng chúng đem lại sự tăng trưởng, khong bị tổn hoại của chánh pháp.
85 Bát thâu rồng, gậy can cọp: Hàng long bát = bình bát hàng phục loài rồng. 

Theo kinh Pháp Bảo Đàn, xưa tại chùa Bảo Lâm có con rồng thường hiện lên mặt ao quấy phá. Tổ Huệ Năng mở bình bát ra nói, nếu là thần long thì ngươi hiện lớn được, hiện nhỏ được, vậy ngươi có dám hiện nhỏ chun trong bình bát này không? Rồng bèn hiện nhỏ, Tổ thu nó vào bát, nói pháp cho nó nghe, rồi nó lột xác đi mất. Theo Cao Tăng Truyện, ngài Thiệp Công, cao tăng đời Tống, đã hàng phục 1 con rồng vào trong bát để cầu mưa, từ đó có từ ngữ hàng long bát. 

Giải hổ tích = tích trượng can 2 con cop đang đấu nhau. Theo Tục Cao Tang Truyện 16, thiền sư Tang Trù có lần đến núi Tây Vương Ốc ở Hoài Châu để tu tap thiền định, nghe tiếng gầm thét vang dội núi rừng của 2 con cọp đang đấu nhau, ngài liền dùng tích trượng can mỗi con một nơi. 

Cũng sách ấy, thiền sư Đàm Tuân đi vao núi gặp 2 con cọp đang hăng say đánh nhau, ngài liền cầm gậy can, đứng giữa phân giải rằng, cùng ở chốn núi rừng, lẽ ra các ngươi không nên kình chống nhau, mong rằng đường ai nấy đi. Hai cọp cúi đầu tuân phục. Chứng Đạo Ca ghi: Bát thâu rồng, gậy can cọp / Hai dãy khoen vàng khua leng keng (Hàng long bát, giải hổ tích / Lưỡng cổ kim hoàn minh lịch lịch).


Kính lạy mười phương điều ngự sư Giảng dạy thanh tịnh vi diệu pháp Ba thừa, bốn quả giải thoát tăng 87
Cúi xin xót thương đến pháp hội.


Tả bạch: Phụng thỉnh Tam bảo.


Chúng hòa: Hương hoa thỉnh.


(Đại chúng đứng dậy chắp tay cùng hoà, 2 vị kinh sư nâng 2 đài hương, 2 vị khác nâng
2 đài đăng, Thầy sám chủ nâng thủ lư, thỉnh rằng


Sám chủ: Nam mô một lòng phụng thỉnh, tận hư không khap phap giới, vô số vi trần cõi nước, chư Phật Pháp Tăng, Kim cang Mật Tích 88, vệ pháp thần vương 89, thiên long tám bộ 90, bà la
môn tiên 91, tất cả Thánh chúng.


86 Phát tâm bồ đề là phát khởi tâm chí mong cầu cho mình va chúng sanh cùng được tuệ giác của Phật.
87 Bốn thánh quả là Tu đà hoàn (Dự lưu), Tư đà hàm (Nhat lai), A na hàm (Bất lai), A la hán (Ứng cúng).
88 Kim cang Mật Tích: Theo Hội Kim cang lực sĩ trong kinh Đại Bao Tích, thuở xưa có vị Chuyển luân
thánh vương tên là Dũng Quận, có ngàn người con và 2 vị vương tử là Pháp Ý và Phap Niệm. Pháp Ý nguyện rằng khi nào ngàn vị thái tử thành Phật thì mình sẽ là Kim cang lực sĩ ở gần bên Phật, nghe những điều bí yếu. Vua Dũng Quận đương thời là chính là Định Quang Như lai trong quá khứ, ngàn vị thái tử chính là ngàn vị Phật trong Hiền kiếp. Vương tử Pháp Ý chính là Kim cang lực sĩ, và vì có tên là Mật Tích nên còn gọi là Mật Tích Kim cang, Mat Tích lực sĩ, hoặc gọi là Na la diên vì có sức mạnh. Mật Tích Kim cang cũng có thể hiểu là những vị chúa tể Dạ xoa, vốn rất mạnh, nhanh và bí mật, do nghiệp báo hay thị hiện mà sanh, và hết thảy là bộ thuộc của ngài Kim Cang Tạng.
89 Thần vương vệ pháp = thần vương hộ pháp: Chỉ cho chư vị hộ trì Phật pháp, đó là Phạm vương, Đế
Thích (= Thích đề hoàn nhân, vua cõi trời Đao Lợi), Tứ thiên vương (Trì Quốc thiên vương ở phía đông núi Tu Di, Tăng Trưởng thiên vương ở phía nam, Quảng Mục thiên vương ở phía tây, Đa Văn thiên vương ở phía bắc), Hộ thế bát phương thiên, 10 la sát nữ, 12 vị thần tướng, 16 vị thiên thần, 28 bộ chúng, 30 phan thần, 36 thần vương, 18 Già lam thiện thần v.v…
90 Tám bộ thiên long: Trong tám bộ chúng, đứng đầu là Trời và Rồng, nên gọi là thiên long bát bộ hay
còn gọi là Long thần bát bộ. Tam bộ chúng gồm co: 1. Thiên chúng, 2. Long chúng, 3. Dạ Xoa, 4. Càn thát bà, 5. A tu la, 6. Ca lầu la, 7. Khẩn na la, 8. Ma hầu la già.
91 Bà la môn tiên = Bán Thiên bà la môn: Một trong những loài qủy, là đối tượng thí thực trong hội thí
ngạ quy. Kinh Phat Thuyết Cứu Bạt Ngạ Qủy Diệm Khẩu Đà La Ni (ĐTK 1313) ghi: Khi ấy, ngạ quy nói vơi tôn giả A Nan rằng: Sáng sớm mai, nếu thầy có thể bố thí cho trăm ngàn na do tha hằng hà sa số ngạ qủy cùng với trăm ngàn vị bà la môn tiên, mỗi người nhận được phần thí là một đấu thức ăn uống, tính theo cái đấu của nước Ma già đà, lại còn vì chúng tôi mà cúng dường Tam bảo, nhờ đó chúng tôi thoát được cái khổ ngạ quỷ, sinh về cõi trời, thì thầy mới được tăng tuổi thọ.




Tả bạch: Nam mô một lòng phụng thỉnh, tận hư không khap phap giới, vô số vi trần cõi nước, chư Phật Pháp Tăng, Kim cang Mật Tích, vệ pháp thần vương, thiên long tám bộ, bà la môn tiên, tất cả Thánh chúng.


Hữu bạch: Nam mô một lòng phụng thỉnh, tận hư không khap pháp giới, vô số vi trần cõi nước, chư Phật Pháp Tăng, Kim Cang Mật Tích, vệ pháp thần vương, thiên long tám bộ, bà la môn tiên, tất cả Thánh chúng.


Tả bạch: Xin nguyện, chẳng trái lời thề, xót thương hữu tình, đêm nay giờ này, quang lâm pháp hội.

Chúng hòa: Hương hoa thỉnh. 92


(Đại chúng an tọa.)


Sám chủ: Kính nương Du già giáo 93
Thiết lập mạn đà la 94
Xin nguyện Tam bảo tôn
Từ bi thương nạp thọ.
92 Ba đường thỉnh Tam bảo này gọi là hiển thỉnh chư Thánh hiền giáng lâm.
93 Du già (yoga): nghĩa là tương ưng (thích ứng với nhau), mà chính yếu là tương ưng với chỉ và quán, danh từ khác của thiền định, tam muội. Tuy nhiên, Du già giáo theo Mật tông thì Phật và chúng sanh dung thông lẫn nhau, nhập vào cảnh giới Du già: thân kết ấn (thân mật), miệng tụng chân ngôn (khau mật), ý quán tưởng đức bổn tôn Tỳ Lô Giá Na (ý mật), 3 nghiệp như vậy tương ưng với tam mật của Phật. Dưới sự gia trì tam mật mà chúng sanh đều được đầy đủ trí tuệ đức tướng của Phật, thành tựu diệu hạnh tức thân thành Phat, hiển bày quả đức bản giac của chúng sanh.
94 Nói đủ là Kim cang giới mạn đà la, tượng trưng cho trí tuệ sơ chứng của Phật. Mạn đà la của trai đàn
chẩn tế được bố trí thành mot vòng tròn, như đóa hoa sen nở trọn, là căn bản vũ trụ luận của mật giáo. Kim cang là chất rắn khong bị gì hủy hoại được, do đó kim cang ấy tượng trưng cho Phật thân, hay Kim cang bất hoại thân. Than ấy, cũng như thân của mọi loài chúng sanh, đều do 5 uẩn và 5 đại hợp thành. Sự tồn tại của Phật thân không khác biet với hoạt dung của Phật trí. Do đó 5 đại (địa, thủy, hỏa, phong và không) tương ưng với 5 trí (Đại viên cảnh trí, Bình đẳng tánh trí, Diệu quan sát trí, Thành sở tác trí và Pháp giới thể tánh trí), và nhân cách của Phật là hợp thể thống nhất của tồn tại và nhận thức biểu hiện thành 5 đức Như lai tương ứng, tức Ngũ trí Như lai. Chính giữa là vị trí của Tỳ Lô Giá Na hay Đại Nhật Như lai, Đông Nam Tây Bắc, theo thứ tự là A Súc Bệ Phật, Bảo Sanh Phật, A Di Đà Phật, Bất Không Thành Tựu Phật. Đức Đại Nhật có 4 vị bồ tát ba la mật (Kim Cang, Bảo, Pháp, Yết Ma). Mỗi đức Như lai đều có 4 đại bồ tát thân cận (= 16 đại bồ tát). Ngoài ra, nội đàn có 4 vị bồ tát cúng dường, ngoại đàn có 4 vị bồ tát cúng dường, và còn có 4 vị nhiếp bồ tát. Cơ bản, Kim cang giới mạn đà la có 37 tôn vị.



Tả bạch: Ấn hiện đàn nghi 95.


Sám chủ: Án qua tư la, tạt giới la, hồng, tạt, hồng, bang, hộc. (3 lần)


(Đại chúng niệm danh hiệu 35 đức Phật


Đại từ đại bi thương chúng sanh
Đại hỷ đại xả cứu muôn loài
Tướng hảo quang minh tự trang nghiêm
Đệ tử chí tâm qui mạng lễ.


Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật 
Nam mô Kim Cang Bất Hoại Phật 
Nam mô Bảo Quang Phật
Nam mô Long Tôn Vương Phật 
Nam mô Tinh Tấn Quân Phật 
Nam mô Tinh Tấn Hỷ Phật 
Nam mô Bảo Hoả Phật
Nam mô Bảo Nguyệt Quang Phật
Nam mô Hiện Vô Ngu Phật 
Nam mô Bảo Nguyệt Phật 
Nam mô Vô Cấu Phật
Nam mô Ly Cấu Phật 
Nam mô Dũng Thí Phật 
Nam mô Thanh Tịnh Phật
Nam mô Thanh Tịnh Thí Phật
Nam mô Ta Lưu Na Phật
Nam mô Thuỷ Thiên Phật


95 Thiên thủ nhãn tu hành nghi ghi rằng: “Hai tay bắt ấn Kim cang quyền, hai ngón trỏ tiếp nhau, hai ngón út câu nhau, chuyển vận thành liên hoa thủ ấn. Khi tụng chân ngôn nên quán tưởng ngay giữa vầng trăng có chữ hộc rị màu trắng phóng ánh sáng lên đến trời Sắc cứu cánh (tột đỉnh của thế giới có hình sắc), để kính thỉnh bồ tát Quán Thế Âm quang giáng đạo tràng. Bồ tát Quán Thế Âm lại phóng vô lượng ánh sáng phụng thỉnh tất cả Tam bảo cùng chư hộ thần hiển mật trùng trùng vô tận vân tập đàn tràng”. Ấn hiện đàn nghi là đem ánh sáng của tự tâm mà mật thỉnh chư Phật Thánh hiền, cũng là ý đem đàn nghi mà phụng hiến Tam bảo. Ý nghĩa này tương tợ như ý kinh Pháp Hoa: “Các vị Phạn vương thấy cung điện của mình sáng lên lộng lẫy, rồi lần theo ánh sáng tìm đến chỗ đức Phật Đại Thông Trí Thắng, ai cũng đem cung điện của mình dâng lên đức Phật xin thương xót mà nạp thọ và xin ngài chuyển đẩy bánh xe chánh pháp cho chúng sanh được giải thoát”. Ấn hiện đàn nghi là như đóng ấn liền thành văn, không cần trước sau mới thành, “tức khắc cả hư không giới đều trở thành đại mạn đà la”, qua đó cho thấy đàn nghi mạn đà la này hiến cúng chư Phật là bất khả tư nghì, vì lưu xuất từ cái tâm duy nhất vậy.


Nam mô Kiên Đức Phật
Nam mô Chiên Đàn Công Đức Phật 
Nam mô Vô Lượng Cúc Quang Phật 
Nam mô Quang Đức Phật
Nam mô Vô Ưu Đức Phật 
Nam mô Na La Diên Phật 
Nam mô Công Đức Hoa Phật
Nam mô Liên Hoa Quang Du Hý Thần Thông Phật
Nam mô Tài Công Đức Phật
Nam mô Đức Niệm Phật
Nam mô Thiện Danh Xưng Công Đức Phật 
Nam mô Hồng Diệm Đế Tràng Vương Phật 
Nam mô Thiện Du Bộ Công Đức Phật
Nam mô Đấu Chiến Thắng Phật
Nam mô Thiện Du Bộ Phật
Nam mô Châu Tráp Trang Nghiêm Công Đức Phật
Nam mô Bảo Hoa Du Bộ Phật
Nam mô Bảo Liên Hoa Thiện Trụ Ta La Thọ Vương Phật
Nam mô Pháp Giới Tạng Thân A Di Đà Phật. 96


Nguyện đem công đức hơn hết này 
Hồi hướng vô thượng chân pháp giới 
Tam bảo bản thể và biểu tượng
Nhị đế dung thông tam muội ấn 
Biển công đức vô lượng như thế 
Con nay thảy xin trọn hồi hướng. 97
Thân, miệng, ý nghiệp của chúng sinh
Tà kiến, báng bổ, chấp ngã pháp
Cùng loại như vậy bao nghiệp chướng


96 Đây là 35 đức Phật thường trụ trong mười phương thế giới và đức Phật bổn tôn. Kinh Đại Bửu Tích chép: “Tất cả chúng sanh, nếu có phạm ngũ nghịch và thập ác, mà trong luật chẳng cho sám hối đó, dẫu đến muôn kiếp, thì ở đây, cần phải đảnh lễ 35 đức Phật, chăm lòng sám hối, liền đặng trừ diệt tất cả tội chướng.” Sách Đồng Thư Hậu Ký có nói việc các vị tu hành theo đại thừa của ngũ Thiên trúc (Ấn Độ ngày xưa được chia làm 5 khu vực) thường trong sau thời siêng năng lễ sám 35 đức Phật. Ngày nay tín ngưỡng về 35 đức Phật vẫn còn thịnh hành ở Tây Tạng.
97 Đây là hồi hướng về tuệ giac của Phật, tức pháp tánh (chân pháp giới) mà tuệ giác ấy chứng ngộ.
Pháp tánh ấy chính là tam muội ấn: có 3 mặt là định ấn của Phật bo, định ấn của Liên hoa bộ và định ấn của Kim cang bộ. Tam bảo bản thể là Tam bảo về tánh, Tam bảo biểu tượng là Tam bảo về tướng. Nhị đế là chân lý tuyệt đối và chân lý phổ thông. Dung thông là tam muội ấn cua pháp tánh viên mãn tất cả Tam bảo và chân lý. Biển tánh công đức của vô tân chư Phật chính ở nơi pháp tánh tam muội an ấy. Nơi chúng sanh, pháp tánh ấy là nhất tâm, đem nhất tâm ma hồi hướng về tuệ giác của Phật vậy.



Thảy đều tiêu diệt hết không còn 
Mỗi niệm trí trùm khắp pháp giới 
Rộng độ chúng sinh được bất thoái. 98
Nhẫn đến hư không thế giới cùng 
Chúng sinh, nghiệp, phiền não có tận 
Bốn pháp như vậy rộng không ngằn 
Nguyện xin hồi hướng cũng như vậy. 99

Nam mô Cầu Sám Hối Bồ tát ma ha tát (3 lần) 100


Tỳ Lô Giá Na Phật 
Nguyện lực khắp sa giới 
Trong hết thảy quốc độ
Thường chuyển pháp vô thượng.


Sám chủ: Đại chúng mặc niệm Tâm kinh một biến.


(Lễ nhạc vẫn trỗi, đại chúng tịnh tâm mặc niệm Tâm kinh)


Sám chủ: Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế. (3 lần)


Chúng hòa: Bồ đề tát bà ha. (3 lần)


(Tụng Khải cáo thập phương 101 , đầu tiên thầy sam chủ khởi xướng, câu kế tiếp là vị tả bạch, sau đó là thầy sam chủ, cứ thế xoay vần cho đến hết bài. Thầy sám chủ tay nâng thủ lư, xướng:)


Kính bạch mười phương
Hết thảy chư Phật
Bồ tat bát nhã

98 Đây là hồi hướng cho chúng sanh, nhờ công đức sám hối mà diệt tội đắc quả. Diệt tội là 10 ác nghiệp nơi thân miệng ý, là tà kiến, là tội phỉ báng Tam bảo, các tội lỗi do chấp ngã pháp, nói tóm là tội lỗi làm chướng ngại sự đac quả. Đắc quả là thực hiện cho mình và người sự không thoái chuyển, là mỗi niệm sống theo tuệ giác của Phật.
99 Đây là hồi hướng cho hạnh nguyện của mình, trong đó có hạnh nguyện hồi hướng quang đại và liên
tục.
100 Đây là sám hối hết thảy nghiệp chướng của mình: “Thanh tâm sám hối hết thảy, không dám che dấu, cầu nguyện cho con phục hồi như cũ giới pháp thanh tịnh”. Sám hối như vậy là dọn mình cho thanh tịnh trước khi dâng lời tác bạch Tam bảo.
101 Bài Khải cáo thập phương có trong Du Già Tập Yếu Cứu A Nan Đà La Ni Diệm Khẩu Qũy Nghi
Kinh (ĐTK 1318, ngài Bất Không dịch) và Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Nghi (ĐTK 1320, không có tên tác giả).


Kim cang, chư thiên 
Vô lượng Thánh hiền 
Trong các nghiệp đạo 102
Con nay xin đem
Tâm từ bi lớn
Nương thần lực 
Phật Kính thỉnh mười phương 
Tận hư không giới.
Ba đường, địa ngục
Và các cõi dữ, 
Tất cả ngạ qủi
Nhiều kiếp đói khát, 
Chư ty Diêm la 
Thiên tào, địa phủ
Nghiệp đạo minh quan
Bà la môn tiên, 
Người chết lâu xa 
Linh hồn đồng nội 
Chư thiên hư không
Cùng các quyến thuộc
Nhiều loại quỷ thần. 
Cúi xin chư Phật
Bồ tát bát nhã
Kim cang, chư thiên 
Thánh hiền vô lượng 
Trong các nghiệp đạo 
Nguyện ban oai quang 
Thương hộ niệm thêm.
Khắp nguyện mười phương
Tận hư không giới 
Thiên tào,địa phủ
Nghiệp đạo minh quan 
Vô lượng ngạ quỷ
Cha mẹ nhiều đời
Người chết lâu xa 
Bà la môn tiên, 
Hết thảy oan gia
Cậy nhờ tài mạng,


102 Nghiệp đạo = đường lành đường dữ, tức sáu đường chúng sanh, đặc biệt là ba đường ác.


Nhiều thứ loại tộc
Khác loại quỷ thần
Mỗi cùng quyến thuộc, 
Nhờ sức Như lai
Vào thời khắc này 
Quyết định về đây 
Được Như lai cho 
Thượng diệu pháp vị 
Thanh tịnh cam lồ 
Uống ăn đầy đủ
Thấm nhuần ruộng thân
Phước đức, trí tuệ 
Phát tâm bồ đề 
Rời hẳn tà hạnh 
Quy kính Tam bảo
Khởi lòng thương lớn
Lợi ích hữu tình 
Cầu đạo vô thượng 
Chẳng thọ luân hồi
Các quả ác khổ 
hường sanh nhà lành 
Lìa các sợ hãi
Thân thường thanh tịnh
Chứng đạo vô thượng
Miệng thường thanh tịnh 
Chứng đạo vô thượng
Ý thường thanh tịnh
Chứng đạo vô thượng.

(Kế đến là sáu phần hiến cúng Thượng sư, Tam bảo 103


Mười phương tất cả cõi Chư Phật, 
Chúng Bồ tát Vô lượng bậc Thánh hiền
Cùng các quan nghiệp đạo
Xin nguyện từ bi lớn
Giáng lâm pháp hội này.

103 Sau khi dâng lời tác bạch khải cáo như vậy xong rồi, liền vận tâm cúng dường hoa, hương, đăng, đồ, quả, nhạc lên chư Phật, bồ tát bát nhã, kim cang chư thiên, vô lượng thánh hiền trong các nghiệp đạo, cúi xin chư vị từ bi giáng lâm nhiếp thọ.




Tiếp thọ hoa, hương, đăng, đồ, quả, nhạc
Chút ít dâng cúng dường


Tán: Chữ hồng tuôn ra hoa, 
hương, đăng, đồ, quả, nhạc thiên mẫu
Một mặt, bốn tay phóng quang minh
Hai tay trên ấn cầm diệu hoa, hương, đăng, đồ, quả, nhạc
Hai tay dưới ấn vòng giao nhau
Hồng, án già hồng, án ma ni hồng, hộc rị
Diệu hoa, hương, đăng, đồ, quả, nhạc thiên mẫu
cúng dường Phật
Nguyện Phật từ bi thương nạp thọ.


Nhân duyên tự tánh nơi xuất sanh 104
Bao nhiêu chủng loại vi diệu hoa, hương, đăng, đồ, quả, nhạc
Hiến cúng Thượng sư, Tam bảo tôn
Xin nguyện từ bi thương nạp thọ. 105


Hộ án, tát ly qua, đát tha a nga đa, bố tư tất, độ tất, á lô cát, can đích, nễ vi đích, sa bố đáp, bố tả minh hát, tam mồ đích la, tư phát la nạp, tam ma á hồng.


Nam mô Phổ Cúng Dường Bồ tát ma ha tát (3 lần)


(Thầy sám chủ kết ấn Vận tâm cúng dường 106, sau đó tụng kệ Quán Âm:)

104 Những phẩm vật cúng dường này lưu xuất nơi tâm thể hội nhập tự tánh không của các pháp, tức là đem cái tâm vốn không mà quán sat các pháp vốn không. “Dĩ hữu không nghĩa cố, nhất thiết pháp đắc thành”, cho nên moi cúng phẩm đều mang một đặc điểm riêng, nhưng cái chung là đều giúp phát khởi niềm hỷ lạc nhiệm mầu, trong sang và thuần khiet.
105 Quán tưởng nơi tâm tự chủng hộc rị phóng ra ánh sáng tuôn ra 6 chữ hồng, mỗi chữ một màu sắc,
mà bản thể là 6 ba la mật. Sáu chữ hồng đó biến hóa thành 6 thiên mẫu, vẻ đẹp thướt tha dịu dàng, bày tỏ lễ nghi qùy bái bằng cách khi thì trái phải mà thể hiện những điệu múa, trong tay cầm cúng phẩm vi diệu hiến dâng chư Phật, thánh chúng. Sáu vị thiên mẫu đây đều là Phật mẫu, tức là những bậc bồ tát như Văn Thù, Phổ Hiền. Mỗi chữ hồng có màu sắc khác nhau: hoa mau đỏ nhạt, hương màu vàng, đăng màu đỏ sẩm, đồ màu trắng, quả màu cam, nhạc màu xanh lục. Sáu cúng phẩm này tương ưng 6 ba la mật, theo thứ tự: hoa – bố thí, hương – trì giới, đang – nhẫn nhục, đồ – tinh tấn, quả – thiền định, nhạc – trí tuệ. Từ nơi tự tánh quán tưởng lưu xuất những thiên mẫu và phẩm vật cúng dường rồi, lại tụng chú Hồng, án á hồng, án ma ni hồng, hộc rị để tạo nên một năng lực của ý lạc tăng thượng thể hội tuệ giác vô phân biệt của chư Phật, và năng lực ấy tan biến vào biển cả tuệ giác một cách nhậm vận, như một giọt nước nhập làm một với đại dương, không còn phân biệt hay riêng lẻ nữa.
106 Ấn vận tâm cung dường: Chắp tay, các ngón bàn tay phải đan xen các ngon bàn tay trái, quán tưởng
phía trên thủ ấn có một chữ án màu hoàng kim, biểu trưng chân lý của pháp thân, nơi lưu xuất hương hoa đăng đồ cõi trời, tràng phan bảo cái, các thứ kỷ nhạc, linh báu, màn ngọc, lầu các trang nghiêm, y phục, vòng hoa cõi trời v.v… Thầy sám chủ quán tưởng các thứ cúng dường ấy tràn đầy hư không, thành tâm mà dâng cúng. Sự cúng dường nay thật là thù thắng nhiệm mầu.




Trên đỉnh Phổ Đà thường nhập định 
Tuỳ duyên phó cảm mặc nơi đâu 
Tầm thanh cứu khổ độ quần mê
Nên gọi tên là Quán Tự Tại. 107


Tả bạch: Kế nhập Quán Âm thiền định. 108


Đồng tụng: Nam mô vô tận Tam bảo tôn 109
Con nay thệ phát bồ đề tâm
Cúi xin từ bi đến tiếp thọ
Mau chứng Quán Âm vi diệu thân.


Tả bạch: Lắng lòng khép mắt quán tâm tư
Tròn đầy trăng sáng lặng treo không
Tự chủng phóng quang thành sen đoá 110
Trong hoa có đức Quán Tự Tại 
Tướng tốt đầy đủ chẳng so bì 
Tay trái cầm nhành hoa sen báu
Tay phải bày thế cánh sen khai. 111




107 Từ trước, thầy sám chủ đã nhận chịu quán đảnh của ngũ trí Như lai rồi nên có đủ tư cách để quán
tưởng tự thân chuyển hiện thành báo thân của đức Quán Thế Âm. Quán niệm rằng: “Con quán thân mình bỗng nhiên chuyển hiện thành báo thân của đức Đại từ Đại bi”.
108 Tổ Lâm Tế nói: “Mỗi một niệm của các ngươi mà biết cách bẻ gảy xiềng xích, được giải thoát trong
mọi thời, đó là đang thâm nhập vào chánh định của Quán Thế Âm”. Từ đây trở lên là phần kính cúng (đàn thượng), bao gồm: thăng tòa, nhập định, sái tịnh, qui y và phụng thỉnh Thương sư Tam bảo, 35 đức Phật, cáo bạch 10 phương, 6 món cúng dường. Từ đây về sau là phần bi thí (đàn hạ), bao gồm: nhập thiền định Quan Âm, phá địa ngục, phụng thỉnh bồ tát Địa Tạng và Diêm la vương, triệu thỉnh 10 loại cô hồn, nhập tiểu Mông Sơn, kệ Cát tường, hồi hướng, chú Kim cang tát đỏa, tự qui y.
109 Cung kính cúi lạy đức Tỳ Lô Giá Na, bản thể của vô tận Tam bảo.
110 Khi nhập định, lắng lòng quan tưởng, ở chính giữa vầng trăng có tự chủng hộc rị màu pha lê hồng phóng ra ánh sáng, biến thành hoa sen tám cánh, trong hoa có đức Quán Tự Tại Như lai. Thân ngài ngời sáng, khiết bạch giống như màu sắc của một vầng thu nguyệt, tay trái cầm cành hoa sen nâng trước ngực, tay phải bắt ấn thí nguyện. Gương mặt của ngài nở nụ cười hàm tiếu, nhưng hai mắt thì chan chứa nét từ bi, xót thương nhìn xuống xem xét chúng sanh đang đau khổ. Tự chủng hộc rị biểu hiện tâm đại bi của bồ tát, là chân lý thủ chứng, diệu trí lợi sanh. Hình ảnh này như trong kinh Lăng Nghiêm diễn tả: Khi ấy Thế tôn từ nơi gò thịt nổi trên đỉnh đầu phóng ra ánh sáng trăm thức qúi báu, trong ánh sáng ay hiện ra hoa sen đủ cả ngan cánh.
111 Hoa sen dụ cho lý, cánh sen khai là dụ cho sự. Lý sự viên dung thì sự ứng dụng hóa độ không còn
cục bộ nữa, mà là toàn diện và đầy đủ, như văn Cảnh sách dạy: Giá biên na biên ứng dụng bất khuyết
(bên này bên kia ứng dụng đầy đủ).
Bồ tát suy tư thân chúng sanh
Vốn đủ tánh giác, dụ hoa sen
Thanh tịnh pháp giới, không hoặc nhiễm
Tám cánh sen đều có Như lai. 112
Như lai nhập định già phu tọa
Mỗi vị mặt hướng Quán Tự Tại
Cổ mang vầng quang, thân kim sắc
Ánh sáng chói lọi rất rực rỡ. 113
Kế tưởng hoa này lớn dần ra
Lượng lớn bao trùm khắp hư không 
Tưởng hoa tuệ giác chiếu pháp giới 
Hải hội Như lai thật rộng lớn. 114
Nếu tâm chẳng rời thiền định này 
Thương xót hết thảy chúng hữu tình 
Hoa tuệ chiếu soi thoát khổ não
Liền như Bồ tát Quán Tự Tại. 115


112 Bản thể của chúng sanh vốn nguyên vẹn trong suốt, vì vậy mới có năng tánh bỏ xấu, làm tốt, phục hồi thanh tịnh. Mỗi chúng sanh đều có hoa sen, nghĩa là đều có sẵn bản tánh trạm viên hay tri kiến Phật, nhưng vì vô minh che lấp nên có ra cái thấy biến kế, kiến thức luân hồi (hoặc nhiễm). Như hoa sen vượt lên khỏi bùn lầy, chúng sanh nào thích ứng được với viên giác mà tu tap hủy diệt hai thứ chướng ngại (phiền não và sở tri) thì dần dần trở về với bản tánh trạm viên, có được cái thấy trong sáng: thấy các pháp thế gian và xuất thế gian đều trong sáng, không có tạp nhiễm. Tám cánh hoa sen dụ cho 8 thức tâm vương. Tám cánh sen, mỗi cánh đều có một đức Phật, là nói 8 thức chỉ là cái Tâm duy nhất: Tâm mà tưởng nhớ đến Phật thì tâm ấy là Phật, tâm ấy làm Phật (Quán kinh).
113 Như lai nhập định tên là Sát na đại bi thiền định. Mỗi vị Như lai đều đối diện với Bồ tát Quán Tự Tại qua cái thân thù thắng và cảnh giới thù thắng. Từ đầu đến đây là nói về sự vô ngại pháp giới và lý vô ngại pháp giới. Sự vô ngại pháp giới là sự dụng sai biệt của các pháp. Lý vô ngại pháp giới là các pháp tuy sai biệt mà chỉ do Tâm làm bản thể.
114 Hai câu đầu là lý sự vô ngại pháp giới: thể làm ra dung nên đây kia sai biet và toàn dụng là thể nên thu nhiếp lẫn nhau. Hai câu sau là sự sự vô ngại pháp giới: mỗi một sự dụng tức là toàn thể cái Tâm duy nhất, nên nói thể dụng bất nhị, phổ biến tất cả. Quán tưởng hoa sen ấy lớn dần cho đến khi tràn đầy khắp cả: tiểu thiên, trung thiên rồi tam thiên thế giới. Hoa sen ấy có đủ loại ánh sáng lớn chiếu soi chúng sanh trong 6 nẻo, làm cho chúng sanh được an lạc.
115 Nhờ năng lực gia trì của bồ tát Quán Tự Tại mà thể nhập pháp giới ngời sáng trong ánh sáng nhiều màu, hỗ tương nhiếp nhập, không thể nghĩ bàn. Và chính trong thiền định này mà hành giả hưng khởi tâm đại từ bi, đem ánh sáng của tuệ giác soi sáng cho chúng sanh đốn ngộ lý lẽ: Vô minh thật tánh tức Phật tánh, huyễn hóa không thân tức pháp thân. Lại tưởng tat cả Như lai trong hư không nhập vào trong hoa sen này, hợp làm một thể. Quán tưởng hoa sen đó biến thành Quán Tự Tại bồ tát ngồi trên tòa sen trong tư thế già phu tọa, toàn thân mang màu xanh lục pha với màu xanh nước biển, oai nghi, tươi thắm, khoác y bằng lụa và mang nhiều trang sức bằng các ngọc báu, tóc búi lên thành đảnh và mot phan xỏa xuống, đầu đội mão báu có nạm ngọc, trên mão có một hóa Phật là đức bổn tôn A Di Đà Phật, tay trái cầm một cành sen, tay phải bắt ấn thí nguyện, sau lưng là vầng trăng màu trắng tỏa sáng mát dịu, thân phóng quang minh ngũ sắc (trắng, xanh, vàng, đỏ, xanh lục) rực rỡ chiếu soi mười phương thế giới. Hình ảnh Bồ tát Quán Tự Tại hiện trên đảnh đầu của thầy sám chủ không phải là một huyễn ảnh mà chính là đức Quán Tự Tại đích thực, biểu thị trí tuệ sở chứng của chư Phật. Điều này thể hiện qua sự cảm ứng linh hiện trực tiếp và “nan tư nghì” của thầy sám chủ.




Hoa sen thâu nhỏ như lúc trước 116
Lại kết Tự Tại Quán Âm ấn


Sám chủ: Gia trì bốn chỗ 117 tụng mật ngôn
Tự thân cũng là Quán Tự Tại 118 .


Hữu bạch: Kế nhập ấn Quán Âm thiền định. 119


Sám chủ: Án qua tư la tháp la ma hộc rị. (3 lần)


Chúng hòa: Hồng đắc lãm, hộc rị a. (3 lần) 120


Sám chủ: 

Nguyện đem công đức thiền định này 
Hồi hướng chúng sanh trong pháp giới 
Đồng thấy Tây phương Vô Lượng Quang 
Thành tựu Phổ Hiền nguyện quảng đại.


Nếu ai muốn biết rõ 
Ba đời tất cả Phật 
Nên xét thể vạn hữu
Hết thảy do tâm tạo. 121
116 Tâm tưởng duy nhất, không lớn không nhỏ. Lớn thì bao trùm cả hư không giới, nhỏ thì trở về đóa sen bình dị. Đóa sen và hư không dung nhiếp bình đẳng trong cái nghĩa “tâm thể bình đẳng thì sự tướng lớn nhỏ bản lai chẳng phải thật có, chẳng sanh chang diệt, chỉ là cái Tâm duy nhất và chắc thật” (Luận Chỉ Quán). Đến đây quán tưởng hoa sen thu nhỏ lại bằng thân mình.
117 Bốn chỗ: Có bốn chỗ để gia trì là đỉnh đầu, miệng, yết hầu và tim. Quán chữ hồng, gia trì nơi đỉnh
đầu, là nghĩa công đức chân như. Quán chữ án, gia trì nơi miệng, là nghĩa tướng hảo Như lai. Quán chữ a , gia trì nơi yết hầu, là nghĩa ngôn ngữ trang nghiêm các thứ. Quán chữ hộc rị, gia trì nơi tim, là nghĩa thân tâm thanh tịnh trong sạch như nước. Gia trì như trên để cho thân tâm được vững chãi, các loại ma quân và chướng ngại không thể làm hại.
118 Từ trước là quán tưởng Quán Âm, đến đây là quán tưởng tự thân. Hành giả quán chứng, quán nhập pháp giới, nơi xuất hiện cảnh tượng huy hoàng và không thể nghĩ, thì có thể có cái nhìn thế giới không chướng ngại trong bất cứ chiều hướng vận hành nào của nó, có thể chuyển dịch trong pháp giới bằng thân thể của mình, có thể làm được những gì mà bồ tát Quán Tự Tai làm, hoàn toàn tự do tự tại.
119 Chắp hai tay, 2 ngón cái tựa nhau, 2 ngón trỏ chỉa thẳng va chạm đầu, các ngón còn lại tréo nhau.
120 Khi kết ấn Quán Âm thiền định thì phải gia trì bốn chỗ như trên, định quán như pháp, tâm miệng như nhất.
121 Bài tụng Duy tâm của kinh Hoa Nghiêm nói tất ca cac pháp đều do tâm tạo, từ vat lý đến tâm lý, từ
thiên đường đến địa ngục, nhưng đặc biệt là tâm tạo được thì cũng chính tâm phá được, và đó chính là yếu chỉ của việc thí thực. Vì vậy trước khi phá cửa địa ngục thì phải tụng bài kệ Duy tâm này, một mặt cho thấy sức mạnh tùy duyên biến hiện của tâm, mặt khác cho thấy pháp lực của bài tụng này: qủy thần một phen nghe được bài tụng này có thể tỏ ngộ tự tâm.




Tả bạch: Kế kết ấn phá địa ngục. 122


Sám chủ: Na ma a sắt tra, a sắt tra, tiếp đế nẫm, tam miệu tam bột tháp, câu chi nẫm, án tả lặc nạp, phạ bà tế, đề lị đề lị hồng. (3 lần)


Do sức oai thần 
Của ấn chú này 
Bao nhiêu cửa nẻo
Địa ngục các đường. 

Sám chủ: Do ấn chú này. (3 lần) Chúng hoà: Bỗng nhiên tự mở. (3 lần)

Tả bạch: Địa Tạng, Thập Vương mở lòng thương


Hữu bạch: Xét án nêu tên nhận thiện duyên


Kinh sư: Cô hồn nghe theo lời Phật dạy


Kinh sư: Nguyện nhờ pháp lực được sanh thiên.


(Thầy sám chủ tay nâng thủ lư, đại chúng đứng dậy, đồng kính thỉnh:)


Tả bạch: Phụng thỉnh Địa Tạng Vương Bồ tát.


Chúng hòa: Hương hoa thỉnh, hương hoa phụng thỉnh.


Sám chủ: Nam mô một lòng phụng thỉnh, chúng sanh độ hết, mới chứng bồ đề, địa ngục chưa không, thệ chẳng thành Phật.


122 Hai Kim cang quyền như dáng hai con chim với hai ngón út câu nhau, hai ngón trỏ tựa nhau, niệm tưởng đang mở cửa địa ngục. Ba lần tụng “do thử ấn chu”, ba lần hòa “hoát nhiên tự khai”, tương ưng với ba xứ là: chân ngôn, tâm hành giả và thủ ấn, quán tưởng chữ hộc rị màu hồng phóng quang như mặt trời chiếu khắp địa ngục, thảy đều bị phá tan. Tất cả hữu tình, hàm thức bổn tâm theo về pháp hội. Ba xứ phóng quang, chiếu phá địa ngục nói lên ý nghĩa địa ngục hư vọng có ra là do ba nghiệp thân khẩu ý của chúng sanh, bây giờ nương ánh sáng pháp lực và ba nghiệp thanh tịnh mà đập tan địa ngục.


Nay xin phụng thỉnh, 
U minh giáo chủ bổn tôn 
Địa Tạng Vương Bồ tát ma ha tát.


Tả bạch: Nam mô một lòng phụng thỉnh, tay cầm phan cái 123, thân quải vòng hoa, dắt chúng sanh về Cực lạc hương quê, dẫn cô hồn phó đạo tràng pháp hội. Nay xin phụng thỉnh, trên đường U minh, Dẫn Hồn Vương Bồ tát ma ha tát.


Hữu bạch: Nam mô một lòng phụng thỉnh, 
Tần Quảng, Sở Giang cùng Tống Đế; 
Ngũ Quan, Diêm La, Biến Thành Vương; 
Thái Sơn, Bình Chánh hai minh vương; 
Đô Thị, Chuyển Luân mười điện chúa 124, 
Cõi Diêm ma la chưởng phán âm ty 125, 
Phong đô mười tám ngục vương 126, 
Thống lãnh một miền âm cảnh.


Tả bạch: Xin nguyện, nương Tam bảo lực, nhờ bí mật ngôn, bây giờ đêm nay, quang lâm pháp hội.


Chúng hòa: Hương hoa thỉnh, hương hoa phụng thỉnh.


(Đại chúng an tọa. Thầy sám chủ bạch:)


Lòng từ bình đẳng
Sức đạo vô biên
Trước Phật thành tâm
Xưng dương bảo hiệu.


Tụng: Nam mô Đa Bảo Như lai, Quảng Bác Thân, Diệu Sắc Thân, Cam Lộ Vương Như lai. Nam mô Bạt già phạt đế. 127

123 Phan cái: cái ở đây không phải là lọng dù mà là bảo cái. Phan cái là bảo cái có mắc tràng phan.
124 Thập điện minh vương: 1. Tần Quảng Vương, 2. Sở Giang Vương, 3. Tống Đế Vương, 4. Ngũ Quan Vương, 5. Diêm La Vương, 6. Biến Thành Vương, 7. Thái Sơn Vương, 8. Bình Chánh Vương, 9. Đô Thị Vương, 10. Chuyển Luân Vương.
125 Diêm ma la = Diêm la: tên khác của địa ngục. Chưởng phán âm ty là các phán quan, ngục quan và
quỉ sứ giúp việc.
126 Phong đô: là tên một địa ngục ở giữa núi Phong đô. Mười tám ngục vương là: 1. Ca Diên, ngục Nê lê, 2. Khuất Tôn, ngục Đao sơn, 3. Phí Thọ, ngục Phí sa, 4. Phí Khúc, ngục Phất sí, 5. Ca Thế, ngục Hac nhĩ, 6. Hạp Sai, ngục Hỏa xa, 7. Than Vị, ngục Hoạch than, 8. Thích Ca Nhiên, ngục Thiết sàng, 9. Ác Sinh, ngục Hạp sơn, 10. Thân Ngâm, ngục Hàn băng, 11. Tỳ Ca, ngục Bác bì, 12. Diêu Đầu, ngục Súc sinh, 13. Đề Bạt, ngục Đao binh, 14. Di Đại, ngục Thiết ma, 15. Duyệt Đầu, ngục Khôi hà, 16. Xuyên Cốt, ngục Thiet sách, 17. Danh Thân, ngục Thơ trùng, 18. Quán Thân, ngục Dương đồng.
127 Bạt già phạt đế = Bạc già phạn (Bhagavan): Thế tôn, đấng có 10 danh hiệu nên tôn xưng là Thế tôn.


Tiếng chú 128 vút cao mây ngàn trôi
Đường xa xôi
La hán sanh vui thôi oán kết.


Án,
tô nảnh tô nảnh dĩ vi nhiễu 129,
hộ án, tất tri tất xả tả nẵng, dệ hề dệ hề, tát ly qua mẫu đà nẫm da, sa ha.


Ngô đồng lá rụng mưa thu về
Đêm si mê
Triệu thỉnh cô hồn về dự lễ.


Án,
thừa thử thừa thử thượng liên đài 130,
hộ án, tất tri tất xả tả nẵng, dệ hề dệ hề, tát ly qua mẫu đà nẫm da, sa ha.


Đạo tràng đêm nay tiệc pháp bày
Ơn về đây 131
Triệu thỉnh cô hồn phó hội đầy.


Án,
tiêu lâu tiêu lâu cổ giao bi 132,
hộ án, tất tri tất xả tả nẵng, dệ hề dệ hề, tát ly qua mẫu đà nẫm da, sa ha.


Án, bộ bộ đế ri, già rị, đa rị, đát đa nga đa da (3 lần) Cô hồn nghe triệu, hãy mau mà về.
Sám chủ: Một lòng triệu thỉnh: Ác vàng tên ruỗi, thỏ bạc thoi đưa,
nhớ cốt nhục đã chia ly, thấy anh hồn còn đâu đó. Một lần triệu thỉnh, lư bén danh hương, tiến bạt hương linh, tánh …. huý …. , một vị thần hồn.

128 Có bản ghi là khấp thanh (tiếng khóc), đúng phải là chú thanh (tiếng thần chú).
129 Thức chưa tỉnh chưa đã quanh vây.
130 Nhờ đây nương đây lên đài sen.
131 Huệ nhiên lai = huệ nhiên khẳng lai: Ra ơn bang việc chịu đến tham dự.
132 Lầu gác đề danh trống thúc mau.

Tả bạch: Xin nguyện, nương Tam bảo lực, nhờ bí mật ngôn, bây giờ đêm nay, về đây thọ lễ cơm pháp cam lộ vô giá.


Sám chủ: Một lòng triệu thỉnh: Xa trông núi thanh tú, gần nghe nước lững lờ, xuân đi hoa còn đó, người về chim chẳng bay. Đôi lần triệu thỉnh, vài lượt dâng hương, tiến bạt hương linh, tánh
huý , một vị thần hồn.


Tả bạch: Xin nguyện, nương Tam bảo lực, nhờ bí mật ngôn, bây giờ đêm nay, về đây thọ lễ cơm pháp cam lộ vô giá.


Sám chủ: Một lòng triệu thỉnh: Đời nổi trôi giấc mộng, thân rỗng tuếch chẳng bền, nương sức từ Tam bảo, mở được lối siêu thăng. Ba lần triệu thỉnh, mấy lượt chiêu vong, tiến bạt hương linh, tánh huý , một vị thần hồn.


Tả bạch: Xin nguyện, nương Tam bảo lực, nhờ bí mật ngôn, bây giờ đêm nay, về đây thọ lễ cơm pháp cam lộ vô giá.

(Thỉnh 12 loại cô hồn 133


133 Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Nghi (ĐTK1320) có ghi 10 loại cô hồn như sau:

-Một là, chúng cô hồn quan viên, tướng sĩ, binh lính trong cả pháp giới vì nước quên thân, ra sức hết lòng chiến đấu giữ gìn bien cương bờ coi.
-Hai là, trong cả pháp giới chúng cô hồn oan gia trái chủ vì thiếu nợ đền mạng, cô hồn truỵ thai vì tình thức hệ thuộc sinh sản mà chết.
-Ba là, trong ca pháp giới chung cô hồn khinh bạc Tam bảo, bất hiếu cha mẹ, làm điều thập ác, ngũ nghịch, tà kiến.
-Bốn là, trong cả pháp giới chúng cô hồn đi tìm châu báu, buôn bán hải hồ, qua sông sâu chết chìm chết đắm, vượt biển lớn thuyền lật thuyen tan.
-Năm là, trong cả pháp giới chúng cô hồn mọi rợ man di sống chết nơi biên địa, tà kiến.
-Sáu là, trong cả pháp giới chúng cô hồn phiêu lãng không nơi gởi thác do giã từ quê hương, lưu lạc chết nơi tha hương.
-Bảy là, trong cả pháp giới chúng cô hồn hoạnh tử vì thú nhai, trùng cắn, núi lở, cây rơi, tường sập, nhà đổ, trầm mình, lửa đốt, thắt cổ, dao đâm, té sông, rớt giếng.
-Tám là, trong ca pháp giới chúng cô hon phạm pháp chết trong ngục tù, tử hình phân thây, bởi ức hiếp hàm oan, cướp của giết người, chẳng tuân luật pháp.
-Chín là, trong cả pháp giới chúng cô hồn số mạng bần tiện làm nô tỳ phục dịch, lao lực nhọc nhằn.


-Mười là, trong cả pháp giới chúng cô hồn không vợ không con, không ai nương tựa, chết khổ đau vì đui điếc câm ngọng, tay chân cùi lở, bịnh tật trien miên, ung thư tàn hại.




Sám chủ: 1. Một lòng triệu thỉnh: Mấy trào đế chúa, nhiều đời hầu vương, chín trùng cung điện nguy nga, hùng cứ giang sơn vạn dặm.


Tả bạch: Chiến hạm về tây, ngàn năm vương khí còn đâu, xe loan đi bắc, năm nước 134 tiếng oán chưa tan.


Hữu bạch: Hỡi ôi, đỗ quyên thảng thốt hoa đào nguyệt, máu nhuộm cành cây hận mãi hoài.


Tả bạch: Như vậy các bậc hầu vương bá tước, một loại cô hồn các chúng.


Hữu bạch: Xin nguyện, nương Tam bảo lực, nhờ bí mật ngôn, bây giờ đêm nay, về đây thọ lễ cơm pháp cam lộ vô giá.


Chúng hòa: Hương hoa thỉnh.


Sám chủ: 2. Một lòng triệu thỉnh: Dựng đàn bái tướng, lập tiết phong hầu, sức dời kim đảnh ngàn cân, thân đắp trường thành muôn dặm.

Tả bạch: Trướng hùm sương lạnh, công lao hạn mã 135 chiến binh, gió lặng địch lui, không phụ phan long 136 hoài vọng.


Hữu bạch: Hỡi ôi, tướng quân chiến mã còn đâu nữa, hoa đồng cỏ nội vấn vương sầu.

Tả bạch: Như vậy các bậc anh hùng tướng soái, một loại cô hồn các chúng.


134 Ngũ quốc: ngũ đại thập quốc (907-960), là một thời kỳ chính biến trong lịch sử Trung Quốc, bắt đau từ khi nhà Đường (618-907) sụp đổ va kết thúc khi nhà Tống (960-1279) xuất hiện. Trong thời kỳ nay, 5 triều đại được coi là chính thống thay nhau hùng cứ lưu vực sông Hoàng Hà ở phương bắc. Mười nước kia thì có 7 nước tồn tại cùng thời, có nước thì kế tục nhau như Hậu Thục kế Tiền Thục, có nước thì mat sớm như Tiền Thục, có nước thì thanh lập rất muộn như Bac Hán. Năm triều đại là: Hậu Lương (907-923), Hậu Đường (923-936), Hậu Tấn (936-947), Hậu Hán (947-951) và Hậu Chu (951-960). Mười nước là Ngô, Tiền Thục, Ngô Việt, Sở, Mân, Nam Hán, Nam Bình, Hậu Thục, Nam Đường và Bắc Hán.
135 Hãn mã: lúc giao tranh ngựa chạy nhanh toát mồ hôi, ý nói chiến công hiển hách.
136 Phan long phụ phụng: vin rồng dựa phụng, ý nói dựa vào bậc minh quân để lập công nghiệp.




Hữu bạch: Xin nguyện, nương Tam bảo lực, nhờ bí mật ngôn, bây giờ đêm nay, về đây thọ lễ cơm pháp cam lộ vô giá.


Chúng hòa: Hương hoa thỉnh.


Sám chủ: 3. Một lòng triệu thỉnh: Năm triều tài tuấn, trăm quận hiền lương, ba năm thanh bạch làm quan, một mảnh lòng trung báo chúa.

Tả bạch: Châu nam huyện bắc, lìa xa đất tổ quê cha 137, góc biển chân trời, viễn táng bồng lai hoang đảo.


Hữu bạch: Hỡi ôi, quan huống đìu hiu theo dòng nước, ly hồn mờ mịt cách Dương quan 138.


Tả bạch: Như vậy các bậc văn quan tể phụ, một loại cô hồn các chúng.


Hữu bạch: Xin nguyện, nương Tam bảo lực, nhờ bí mật ngôn, bây giờ đêm nay, về đây thọ lễ cơm pháp cam lộ vô giá.


Chúng hòa: Hương hoa thỉnh.
Sám chủ: 4. Một lòng triệu thỉnh: Cửa vàng 139 tài tử, nhà trắng thư sinh, thám hoa 140 rảo bước rừng văn, vấn đáp 141 vào ra học viện 142.


137 Chánh văn là tang tử. Kinh Thi có câu: Duy tang dữ tử, tất cung kính chỉ. Nghĩa là bụi cây dâu cùng cây tử, ắt cung kính vậy. Ý nói cây của cha mẹ trồng thì phải kính, vì thế gọi quê cha đất tổ là tang tử.
138 Tên một cửa ải Trung Hoa. Xưa ông Vương Duy đưa bạn ra cửa ai ấy có câu: Tây xuất Dương quan vô cố nhân, nghĩa là ra khoi cửa Dương quan không có bạn cũ nữa.
139 Huỳnh môn: Huỳnh là trường học, dùng như chữ hoành (hoành xá, hoành vũ). Các trường học ngày xưa thường trang sức sắc vàng cho nên gọi là huỳnh vũ hay huỳnh môn.
140 Thám hoa: Người đậu bậc thứ ba trong khoa thi ngày xưa. Đình thí ngày xưa chia người đậu làm 3 bậc, gọi là tam giáp: 
1. Đệ nhất giáp: trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa; 
2. Đệ nhị giáp: hoàng giáp;
3. Đệ tam giáp: tiến sĩ.

141 Xạ sách: Khi khảo thí ra câu sách vấn khiến học trò ứng thí đáp lại.
142 Cức viện: Cức là cây gai. Đời Ngũ Đại học trò vào thi hay làm ồn, quan trường bắt trong gai kín cả xung quanh trường thi, cấm ra vào ồn ào, nên gọi thi hương, thi hội là cức vi. Cức viện là học đường, như viện đại học ngày nay.



Tả bạch: Đom đóm thắp đèn, ba năm chữ nghĩa công phu, nghiên sắt mài mực, mười năm ứng thí 143 đắng cay.


Hữu bạch: Hỡi ôi, bảy thước lụa hồng đe tên họ, một chén đất vàng thốt văn chương.


Tả bạch: Như vậy các bậc văn nhân cử tử, một loại cô hồn các chúng.


Hữu bạch: Xin nguyen, nương Tam bảo lực, nhờ bí mật ngôn, bây giờ đêm nay, về đây thọ lễ cơm pháp cam lộ vô giá.


Chúng hòa: Hương hoa thỉnh.


Sám chủ: 5. Một lòng triệu thỉnh: Xuất trần thượng sĩ, phi tích cao tăng, chuyên tu ngũ giới tịnh nhân, phạn hạnh tỳ kheo ni chúng.

Tả bạch: Hoa vàng trúc biếc, không đàm bí mật chân thuyên 144, trâu trắng tôi đen 145, diễn thuyết khổ không diệu kệ.


Hữu bạch: Hỡi ôi, canh ba trăng lạnh qua song cửa, nhà thiền leo lét ánh đèn khuya.

Tả bạch: Như vậy các bậc Thích tử tri y 146, một loại cô hồn các chúng.


Hữu bạch: Xin nguyện, nương Tam bảo lực, nhờ bí mật ngôn, bây giờ đêm nay, về đây thọ lễ cơm pháp cam lộ vô giá.


Chúng hòa: Hương hoa thỉnh.




143 Mạn thí: Mạn là cái màn hay mảnh vải dùng để che gió hoặc để ngăn chia hai phòng. Trong khoa thi ngày xưa, mỗi thí sinh đều bị cách ly bởi những tấm màn vải như vậy, cho nen nói khoa thi là mạn thí.
144 Chân thuyên: Phan tích những lẽ khó khăn mà tìm tới nghĩa lý nhất định.
145 Bạch cổ lê nô: Trâu trắng là lấy ý chăn trâu, người tu thì “như kẻ chăn trâu, cầm gậy mà coi giữ, không cho phóng túng phạm vào lúa má của người”, không cho phóng túng 5 thứ giác quan, chăn hoài từ trâu đen thành trâu trắng. Tôi đen là lấy ý người cùng tử trong phẩm Tín giải, thư 4, kinh Pháp Hoa, đi biệt xứ bao năm, giờ lạc loài về nhà cha làm tôi tớ mà trong tâm niệm không quên mình là người hạ tiện, từ từ hiểu ra mình là con ruột, nhận gia tài cho là “không mong mà tự được”.
146 Tri y = hoại sắc y = ca sa: Tri là áo màu tía hơi đen, không phải chính sắc. Trong thời kỳ phiên dịch đầu tiên thì ca sa được gọi là tri y, vì thấy màu sắc vẩn đục mà gọi như vậy.


Sám chủ: 6. Một lòng triệu thỉnh: 
Mũ vàng dã khách, 
cốt cách nhà tiên, 
tu chơn trong động đào nguyên, 
dưỡng tánh trên cồn lãng uyển.

Tả bạch: Ba hoa chín luyện 147, 
thiên tào chưa hứa đề danh, 
bốn đại vô thường,
địa phủ khó dung chuyển hạn.

Hữu bạch: Hỡi ôi, quán ngọc 148 sương hàn lò đơn lạnh, đàn tế phong sầu hoa hạnh mong 149.


Tả bạch: Như vậy các bậc huyền môn đạo sĩ, một loại cô hồn các chúng.


Hữu bạch: Xin nguyện, nương Tam bảo lực, nhờ bí mật ngôn, bây giờ đêm nay, về đây thọ lễ cơm pháp cam lộ vô giá.


Chúng hòa: Hương hoa thỉnh.


Sám chủ: 7. Một lòng triệu thỉnh: Giang hồ khách trọ, nam bắc giao thương, kiếm tiền muôn dặm bôn ba, chứa của ngàn vàng mua bán.


Tả bạch: Phong ba bất trắc, thân chon bụng cá còn chi, đường đi khó phòng, mạng táng đường dê 150 hung hiểm.


Hữu bạch: Hỡi ôi, phách trệ ngẫn ngơ mây phương bắc, hồn khách mơ màng nước trời đông.





147 Tam hoa: nhân hoa, địa hoa, thiên hoa. Nhân hoa là luyện tinh hóa khí, địa hoa là luyện khí hóa thần, thiên hoa là luyện thần hoàn hư. Người tu tiên thì phải giữ trọn tinh, khí, thần sao cho trong sạch, thanh kiết, nhẹ nhàng, nghĩa là chuyển tam hoa thành tam thanh, trơ về với bản thể vô cực, đạt cứu cánh viên thông.

Cửu luyện là: 
1. Buông xả phiền não, thất tình ; 
2. Điều hòa âm dương, ngũ hành;
3. Công phu khử trược lưu thanh; 
4. Tập trung tư tưởng trong ngoài; 
5. Đi sau vào trong canh định;
6. Tâm bất động, vô vi không; 
7. Luyện chân thần, hạo nhiên khí; 
8. Đức thanh cao, chứng kim tiên; 
9. Tiêu dao tự do tự tại.

148 Lâm quan: Nhà thờ của đạo sĩ làm bằng ngọc. Lâm là ngọc Lâm.
149 Hạnh hoa hy: hoa hạnh nở đúng sau tiết Thanh minh, lúc đó có mưa, quang cảnh thật sầu ảm đạm, cũng là lúc người sống hoài niệm về người mất. Ở đây cho thấy cái tâm trạng mong mỏi của người mất: mong mùa hoa hạnh nở, là lúc tiết Thanh minh, mong có người thân ra viếng mồ mả cúng tế.
150 Dương trường: Ruột dê, chỉ đường đi quanh co như ruột dê.


Tả bạch: Như vậy các bậc lữ khách tha hương, một loại cô hồn các chúng.


Hữu bạch: Xin nguyện, nương Tam bảo lực, nhờ bí mật ngôn, bây giờ đêm nay, về đây thọ lễ cơm pháp cam lộ vô giá.


Chúng hòa: Hương hoa thỉnh.


Sám chủ: 8. Một lòng triệu thỉnh: Ao nhung chiến sĩ, ra trận thanh niên, đánh nhau dưới ngọn cờ hồng, giết giặc trong rừng đao sáng.


Tả bạch: Trống vàng vừa thúc, phút chốc bức phá vòng vây, thắng bại chưa phân, trận địa thịt da vung vãi.


Hữu bạch: Hỡi ôi, cát vàng văng vẳng nghe quỉ khóc, xương trắng ngậm ngùi chẳng ai thâu.


Tả bạch: Như vậy các bậc chiến sĩ trận vong, một loại cô hồn các chúng.


Hữu bạch: Xin nguyện, nương Tam bảo lực, nhờ bí mật ngôn, bây giờ đêm nay, về đây thọ lễ cơm pháp cam lộ vô giá.


Chúng hòa: Hương hoa thỉnh.


Sám chủ: 9. Một lòng triệu thỉnh: Mang thai mười tháng, ngồi cỏ ba hôm, trước mừng loan phụng hòa minh 151, sau mong hùng bi hiệp mộng 152.


Tả bạch: Đau bụng rên la, cát hung chỉ một đường tơ, ngói ngọc chưa phân, mẹ con đều vào cõi chết 153.
151 Chim loan, chim phượng, thường dùng để ví vợ chồng đẹp đôi. Loan phụng hoà minh là chim loan và chim phượng cùng nhau hót, nghĩa là vợ chồng hoà hợp.
152 Hùng bi hiệp mộng: Hùng là con gấu. Bi còn gọi là nhân hùng (gấu người), to hơn con gấu, lông
nâu đen, cổ dài chân cao, tuổi thọ đến 50, đứng thẳng được như người. Mộng hùng: nằm mộng thấy con gau = điềm sinh con trai.
153 Trường dạ: Đêm dài, thời gian dài. Ở đây chỉ cho cảnh giới sanh tử: vừa dài dặc vừa tối tăm.


Hữu bạch: Hỡi ôi, mưa giông dập vùi cành hoa nở, mây mù che lấp ánh trăng treo.


Tả bạch: Như vậy các bậc sản nạn huyết hồ, một loại cô hồn các chúng.


Hữu bạch: Xin nguyện, nương Tam bảo lực, nhờ bí mật ngôn, bây giờ đêm nay, về đây thọ lễ cơm pháp cam lộ vô giá.


Chúng hòa: Hương hoa thỉnh.


Sám chủ: 10. Một lòng triệu thỉnh: Bốn phương man rợ 154, đui điếc ngọng câm, nhọc siêng bỏ mạng dân đen, ganh tỵ hại thân tỳ thiếp.


Tả bạch: Khinh khi Tam bảo, tội khiên chất chứa hà sa, ngỗ nghịch song thân, hung ác tràn đầy vũ trụ.


Hữu bạch: Hỡi ôi, đêm dài mù mịt khi nào sáng, u quan man mác biết về đâu.


Tả bạch: Như vậy những hàng sân ngoan bội nghịch, một loại cô hồn các chúng.


Hữu bạch: Xin nguyện, nương Tam bảo lực, nhờ bí mật ngôn, bây giờ đêm nay, về đây thọ lễ cơm pháp cam lộ vô giá.


Chúng hòa: Hương hoa thỉnh.


Sám chủ: 11. Một lòng triệu thỉnh: Cung vi mỹ nữ, khuê các giai nhân, mặt dồi son phấn khoe nhan 155, áo tẩm hương ngây tranh sắc156.



154 Nhung di man địch: Người Trung Hoa khi xưa gọi các giống người chưa khai hoá ở phương tây là nhung, những nước nhỏ ở phương đông là di, những rợ miền nam là man, những rợ dã man ở phương bắc là địch.
155 Yên chi họa diện tranh nghiên. Yên chi, cây cỏ có hoa màu tím, trong hột có phấn trắng, dùng để
làm phấn trang điểm.

156 Long xạ huân y cạnh tiếu. Long xạ, chỉ cho long diên hương và xạ hương. Long diên hương là hương liệu dẻo như sáp, lấy từ nội tạng cá voi. Xạ hương là hương liệu lấy từ cục hương trong bụng con xạ, một loại thú rừng.


Tả bạch: Mây tan mưa tạnh, hồn phiêu kim cốc đào viên, trăng khuyết hoa tàn, ruột đứt mã ngôi dịch quán.


Hữu bạch: Hỡi ôi, phong lưu thuở ấy còn đâu nữa, dương biếc cỏ thơm lạnh đầu lâu.


Tả bạch: Như vậy các bậc quần thoa phụ nữ, một loại cô hồn các chúng.


Hữu bạch: Xin nguyện, nương Tam bảo lực, nhờ bí mật ngôn, bây giờ đêm nay, về đây thọ lễ cơm pháp cam lộ vô giá.


Chúng hòa: Hương hoa thỉnh.


Sám chủ: 12. Một lòng triệu thỉnh: Ăn mày đói lạnh, người tù thê lương, gặp cơn thuỷ hoả hại thân, chạm mặt hổ lang bỏ mạng.


Tả bạch: Treo cổ độc dược, ngàn năm oán khí chưa tan, đánh đập khảo tra, một điểm kinh hồn còn mãi.


Hữu bạch: Hỡi ôi, thước kêu sương khói biếc mưa chiều, lá vàng thu hắt quạ cô liêu.


Tả bạch: Như vậy các bậc thương vong hoạnh tử, một loại cô hồn các chúng.


Hữu bạch: Xin nguyện, nương Tam bảo lực, nhờ bí mật ngôn, bây giờ đêm nay, về đây thọ lễ cơm pháp cam lộ vô giá.


Chúng hòa: Hương hoa thỉnh.
Sám chủ: Một lòng triệu thỉnh: Sáu đường pháp giới, mười loại cô hồn, Diện Nhiên thống lãnh chúng bệ lệ đa, trần sa chủng loại, nương cây dựa cỏ, ly mỵ vọng lượng, trệ phách cô hồn, vong linh đây đó, bà con quyến thuộc, nhiều loại cô hồn các chúng.157


Tả bạch: Một lòng triệu thỉnh: Sáu đường pháp giới, mười loại cô hồn, Diện Nhiên thống lãnh chúng bệ lệ đa, trần sa chủng loại, nương cây dựa cỏ, ly mỵ vọng lượng, trệ phách cô hồn, vong linh đây đó, bà con quyến thuộc, nhiều loại cô hồn các chúng.


Hữu bạch: Một lòng triệu thỉnh: Sáu đường pháp giới, mười loại cô hồn, Diện Nhiên thống lãnh chúng bệ lệ đa, trần sa chủng loại, nương cây dựa cỏ, ly mỵ vọng lượng, trệ phách cô hồn, vong linh đây đó, bà con quyến thuộc, nhiều loại cô hồn các chúng.


Tả bạch: Xin nguyện, nương Tam bảo lực, nhờ bí mật ngôn, bây giờ đêm nay, về đây thọ lễ cơm pháp cam lộ vô giá.


Sám chủ: Vừa rồi triệu thỉnh đã quang lâm, nay có điệp văn kính nên tuyên đọc.


(Thầy sám chủ tuyên điệp xong, vỗ thủ xích một cái, vị tả bạch dẫn dụ thêm bài văn răn nhắc, rằng:)


Từng nghe, khắp đại địa sơn hà, khoảng không hành thuỷ lục, cô hồn trệ phách, hoạnh tử yểu vong, trên từ vương hầu khanh tướng, dưới đến sĩ nông công thương, già trẻ nam nữ, hoặc ngục tù giam giữ, hoặc chết thảm sa trường, hoặc chết đuối sụp hầm, lửa bỏng trúng độc, that cổ tự vẫn, sản nạn bỏ mình, bịnh dịch chết yểu, hoặc sấm sét tan thây, phép nước gia hình, bùa chú mất mạng. Các sự chết chóc như vậy, thật khó tường trần, đã không mộ phần để mà thác gởi, nói chi từ đường con cháu phụng thờ. Thế nên, hồn ngẩn ngơ dòng suối rừng sim, phách lẩn thẩn đầu nghềnh bến nước 158, mưa bay gió thoảng sớm hôm, nóng lạnh chợt về sau trước. Bốn mùa không có cốt nhục truy hồn, tám tiết thiếu cả thân bằng cúng tế. Đau đớn nhẽ không hương không khói, phận mồ côi lần lữa đêm đêm. Khí âm mờ mịt trước sau, mảnh thân chiếc lá biết là về đâu 159. May mà gặp hội vô giá đêm nay, trên nhờ hoằng nguyện công đức mật ngôn, cô hồn vất vưởng hà sa, từ nay vào Thánh ra phàm, oan khiên thân thích nhiều đời, từ đây nhờ ơn giải thoát.





157 Lại trong khắp cả pháp giới, quỷ vương Diện Nhiên thống lãnh bệ lệ bộ đa, trăm ức hà sa ngạ qủy, trần sa chủng loại trong nhân gian mà mắt không thấy, tai chẳng nghe, hữu danh, vô danh, nương nơi cây cỏ, dựa nơi thành thềm, hồn thức hàm oan, tinh linh phẩm vật, tự tàn tự diệt, quân trận mất thân, không nơi gởi thác, di hài phơi bày, hồn thiếu cúng tế, ly mị vọng lượng, trệ phách u hồn, các chúng linh thiêng. (Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Nghi , ĐTK 1320, không có tên tác giả)



Sám chủ: Ồ, liên đài chẳng rời đương xứ, tịnh độ ngay tại mục tiền, không nhọc búng tay chứng vô sanh, nơi tâm tham lễ Quán Tự Tại.


Nam mô Tiến Vãng Sanh Bồ tát ma ha tát. (3 lần)


Vị tả bạch vỗ thủ xích, vịnh kệ rằng:)


Giác hoàng mật ngữ đẹp hoàng đô
Tỏ rõ tông phong đâu cũng vô 
Bầu trời tươi tốt đầy sao sáng 
Muôn vật rạng ngời hương nến tô 
Dìu dắt bốn loài lên cửu phẩm 
Nắm tay sáu nẻo khỏi tam đồ
Đêm nay chính thật đêm mầu nhiệm
Chuông khánh hoà giao giúp hồn cô. 160


(Thán Khô lâu:)


Ngày trước, nhân một chuyến rong chơi du ngoạn tang bồng, bỗng bắt gặp một chiếc đầu lâu của ai đó. Kia là một nấm mồ vô chủ cỏ mọc um tùm xen lẫn những cây gai. Lạnh rả rích. Một cơn gió thoảng cuốn chơi vơi những chiếc lá sầu.

158 Chánh văn là: Độc lập nhai sào thọ hạ, y thê hải ngạn than đầu. (Đứng riêng bờ nước gốc cây, nương náu bến sông đầu ghềnh). Hồn ngẩn ngơ dòng suối rừng sim (Văn tế thập loại cô hồn)
159 Văn tế thập loại cô hồn, Nguyễn Du. Chánh văn là: Thê thê thảm thảm chỉ tại minh đồ, yểu yểu minh minh mạc cầu xuất ly. (Thật là thê thê thảm thảm, chỉ một con đường tăm tối. Đúng là mờ mờ mịt mịt, chẳng có cách nào thoát ra).
160 Sau bài này là bài Triệu thỉnh chấn linh thân triệu thỉnh, cô hồn văn triệu nguyện lai lâm …, nhưng lược bỏ, vì trước đã có lời triệu thỉnh, lại cũng đã tuyên điệp rồi nên không cần triệu thỉnh nữa. Xét Đại khoa du già thì cũng thấy như vậy.


Vài giọt nước còn đọng trên chiếc đầu lâu nằm bên bờ nước. Nó vẫn nằm đó tự bao giờ, dãi dầu với gió mát trăng thanh, với cỏ biếc hoen mờ. Lạnh tím ngắt. Vẫn không có ai lai vãng làm bầu bạn. Chiếc đầu lâu bên vệ đường, phải chăng là người quân tử ? Anh là ai ? Trong nhà có một người thân mất đi, buồn mưa bay gió thoảng, khổ sương phủ tuyết rơi, đau ruột gan, lệ dầm dề. Chiếc đầu lâu khô nằm im ấy chỉ còn thấy in đậm hai hố mắt sâu thẳm. Chao ôi, kiếp phù sanh đếm được bao năm. Ác vàng tên ruỗi, thỏ ngọc thoi dong, trăm năm kiếp sống trong một sát na. Chớ dần dà. Hãy sớm cầu xuất ly. Thật là biển khổ cho kiếp làm ma. Các thí chủ đêm nay, sửa soạn hội minh dương. Trong lò kim hương, đốt nén nhang thơm ngào ngạt, triệu khắp cô hồn phó đạo trường. Tiêu tội chướng. Tiếp nhận ân phước, mau vãng sanh cõi Tây phương. Tiếp nhận ân phước, mau vãng sanh cõi Tây phương.
Trước nay triệu thỉnh, đều đã về đây, đại chúng từ bi, đồng thanh thán trạo:


Sửa soạn trai diên
A Nan nhân duyên khởi
Quan Âm cứu khổ
Thị hiện Tiêu diện tướng 
Niệm Phật tuyên dương
Bí mật công đức lực
Cứu giúp cô hồn
Về nhận cam lồ vị.


Cận đại triều trước 
Đế chúa tôn vinh vị 
Thân thích hầu vương 
Lá ngọc cành vàng quí 
Chủ quản trong cung 
Thể nữ, tần phi loại 
Mộng đứt hoa chờ
Về nhận cam lồ vị.


Quốc sĩ triều thần
Bình trị giúp thời thế


Chăm sóc lê dân
Chưa toại trung lương chí
Thất sủng ưu hoài
Lưu đày biên cương địa
Nhớ nước mơ hồn
Ve nhận cam lồ vị.


Võ tướng nhung thần 
Thống lãnh tam quân đội 
Lâm trận giao tranh
Kèn trống náo đất trời 
Bắc chiến nam chinh 
Chết thảm nơi sa trường 
Vì nước mất thân
Về nhận cam lồ vị.


Thuộc cổ làu kinh
Bóng bẩy văn chương sĩ
Tuyết sáng làm đèn 161
Khổ chí bên song lạnh
Vận mạng lỡ làng
Kim bảng không tên chữ
Uất ức hồn si
Về nhận cam lồ vị.


Cắt ái từ thân
Sớm vào không môn tự
Học đạo tầm sư 
Chỉ vì siêu sanh tử 
Nóng đến lạnh đi
Bỗng chốc vô thường đến
Phản chiếu hồi quang
Về nhận cam lồ vị.


Vũ phục mão vàng 
Sớm phát tu chân chí 
Luyện dược nấu đơn
Dưỡng tánh hồi nguyên khí

161 Ánh tuyết du quang = Ánh tuyết độc thư: Tôn Khang người đời Tấn, nhà nghèo, đêm không có đèn phải nhờ ánh sáng của tuyết để đọc sách, nghĩa bóng là khắc khổ chăm học.


Khổ hạnh lao tâm 
Chỉ mong lên tiên vị 
Chớ luyến hình hài 
Về nhận cam lồ vị.


Con hiền, cháu thảo
Dũng nghĩa, trung lương sĩ
Vợ liệt, gái trinh 
Chết là cõi đi về 
Trọng tiết mất thân 
Thiên cổ lưu anh khí 
Chí tiết linh hồn
Về nhận cam lồ vị.


Nữ đạo, ni lưu
Thân tại hoàng kim địa 
Loan phụng không duyên 
Chẳng nợ nhân gian sự 
Chưa rõ vô vi
Lưu lạc mê sanh tử
Thanh tịnh u hồn
Về nhận cam lồ vị.


Địa lý, thiên văn
Y dược, âm dương loại
Xem quẻ bói rùa 
Nhìn gió sao biết ý 
Luận việc kiết hung
Khó khỏi vô thường đối
Bỏ giả về chân
Về nhận cam lồ vị.


Ngồi mua, đi bán
Nhiều thứ hàng hóa phẩm
Nghệ thuật đa năng 
Giao thương cầu tài lợi 
Rời bỏ xóm làng
Bỏ mạng nơi xa xứ


Hồn mộng 162 phiêu du
Về nhận cam lồ vị.


Phạm pháp thọ hình 
Lao ngục lắm ưu phiền 
Cậy mạng mưu tài
Chủ nợ cùng oan trái 
Bịnh nặng, thiên tai 
Đói rét thê lương chết 
Mau rời suối vàng
Về nhận cam lồ vị.


Ngựa giầy, xe cán
Tường sập nát thân hình
Qủy đánh, sấm vang 
Tự vẫn, treo cổ chết 
Lửa cháy, nước trôi 
Cọp vồ cùng rắn cắn 
Hoạnh tử 163 cô hồn 
Về nhận cam lồ vị.

Ăn sống uống tươi 164
Sanh trưởng nơi man rợ
Gánh oan, đền nhọc 
Nô lệ cùng tỳ thiếp 
Đui điếc ngọng câm 
Tàn tật không ai giúp 
Khổ thọ oan hồn
Về nhận cam lồ vị.


Ngỗ nghịch mẹ cha
Giận ghét cả đất trời
Phỉ báng Phật Tăng
162 Lữ mộng: Chiêm bao trong lúc xa nhà. Giấc mộng phù sinh, vì người ta thường ví đời người như một giấc mộng và một khúc đường đi.
163 Cửu hoạnh: Hoạnh tử là chết ngang trái, không đáng, bất trắc hay dữ dội. Chín loại chết ngang trái ở đây là ngựa giầy, xe cán, tường sụp, quỉ đánh, sấm sét đánh trúng, tự tử, chết cháy, chết chìm, cọp vồ rắn cắn.
164 Ẩm huyết nhự mao: Uống huyết và an lông chim muông = ăn sống nuốt tươi. Đời xưa, khi người ta chưa biết dùng lửa nên ăn uống như vậy.


Phá tượng, đốt kinh kệ
Tà kiến thâm sâu
Quả khổ không kể xiết
Thập ác hồn ngông
Về nhận cam lồ vị.


Mở cửa đại thí
Tiến bạt chư cô hồn 
Tổ tiên vong linh 
Cùng trăm họ oan gia 
Tám nạn, ba đường
Bình đẳng đều siêu độ
Nương bóng Từ bi
Về nhận cam lồ vị.


A Di Đà Phật
Xưa phát vô biên thệ
Thấy biết chúng sanh
Biển khổ thường chìm đắm
Tay duỗi ân cần
Giong thuyền từ cứu độ 
Khắp chở chúng sanh 
Cùng dự Liên trì hội.


Nam mô Liên Trì Hội Bồ tát ma ha tát (3 lần)


(Nhập Tiểu Mông Sơn:)

Nam mô Diện Nhiên Vương Bồ tát. (3 lần) 
Lửa dữ bốc cao soi thiết thành
Thiết thành lửa cháy thiêu cô hồn
Cô hồn nếu muốn sanh tịnh độ
Nghe tụng Hoa Nghiêm nửa kệ kinh.


Nếu ai muốn biết rõ 
Ba đời tất cả Phật 
Nên xét thể vạn hữu 
Hết thảy do tâm tao.


Chân ngôn Phá địa ngục 165:
Án dà ra đế dà sa bà ha (3 lần)


Chân ngôn Khắp triệu thỉnh 166:
Án bộ bộ đế ri, dà rị, đa rị, đát đa nga đa da (3 lần)


Chân ngôn Giải oan kết 167:
Án tam đà ra dà đà sa bà ha (3 lần)


(Phụng thỉnh Tam bảo:)

Nam mô Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. (3 lần) 
Nam mô Thường trú thập phương Phật
Nam mô Thường trú thập phương Pháp 
Nam mô Thường trú thập phương Tăng 
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật 
Nam mô Đại bi Quan Thế Âm Bồ tát
Nam mô Minh dương cứu khổ Địa Tạng Vương Bồ tát
Nam mô Khải giáo A Nan Đà tôn giả.


(Quy y Tam bảo
Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Quy y Phật, đấng phước tuệ vẹn toàn.
Quy y Pháp, đạo thoát ly tham dục.
Quy y Tăng, chúng đáng được tôn kính.


Quy y Phật, không đọa địa ngục. Quy y Pháp, không đọa ngạ qủy. Quy y Tăng, không đọa súc sanh. 168


Quy y Phật rồi, quy y Pháp rồi, quy y Tăng rồi. (3 lần)


165 Âm thanh của thần chú này cùng với uy quang của Phật thẩm thấu các địa ngục trong 10 phương; các cửa địa ngục ấy đồng thời được phá tan, các tội nhân được ngưng cac ngục hình.
166 Nhờ uy quang của Phật mà tất cả chúng sanh trong 3 nẻo, 6 đường có nhân duyên đồng đến đạo tràng thọ pháp thí thực.
167 Nhờ chú lực và Phật lực mà các oan khiên từ vô thỉ đều được thanh tịnh.
168 Thêm vào, theo Đại khoa du già.





(Sám hối:)


Phật tử, hữu tình, cô hồn đã tạo bao ác nghiệp
Đều do vô thỉ tham, sân, si
Từ thân miệng ý phát sinh ra
Hết thảy Phật tử, hữu tình, cô hồn xin sám hối.


(Phát nguyện:)


Chúng sanh vô biên nguyện hoá độ 
Phiền não vô tận nguyện đoạn trừ 
Pháp môn vô lượng nguyện tu học
Phật đạo vô thượng nguyện thành tựu. (3 lần)


Tự tánh chúng sanh nguyện hoá độ 
Tự tánh phiền não nguyện đoạn trừ 
Tự tánh pháp môn nguyện tu học
Tự tánh Phật đạo nguyện thành tựu. (3 lần) 169
Chân ngôn Diệt định nghiệp 170:

Án bát ra mạt lân đà nảnh ta bà ha. (3 lần)


Chân ngôn Diệt nghiệp chướng 171: 

Án a lỗ lặc kế ta bà ha. (3 lần)

Chân ngôn Mở yết hầu 172:

Án bộ bộ để rị dà đa rị đát đá nga đa da. (3 lần)


169 Quy y Tam bảo rồi thì trở thành Phật tử, nhưng có là Phật tử đại thừa hay không thì còn tùy lúc quy y có phát tâm bồ đề hay không. Phát tâm bồ đề là vì chúng sanh mà phát chí nguyện thành tựu moi tánh đức của Phật. Phát tứ hoằng thệ nguyện chính là phát tâm bồ đề vậy.
170 Chân ngôn Diệt định nghiệp của bồ tát Địa Tạng có năng lực phá trừ những định nghiệp từ vô thỉ.
Khi tụng chú này quán tưởng một vầng mặt trăng thanh tịnh tròn sáng, có một chủng tự hộc rị màu xanh phóng ra ánh sáng chiếu khắp chúng sanh trong nghiệp đạo, khiến tiêu trừ những định nghiệp mà được thanh tịnh.
171 Chân ngôn Diet nghiệp chướng của bồ tát Quán Thế Âm có năng lực tiêu trừ nghiệp chướng của chúng sanh. Nghiệp chướng là những nghiệp bất định, hoặc khinh, hoặc trọng, có thể sám hối. Khi tụng chú này phải quán tưởng trên vần mặt trăng có chữ hộc rị màu trắng phóng ra ánh sáng chiếu thẳng vào thân cac ngạ qủy khiến cho chuyển bỏ cái thân tội chướng mà thành cái thân thanh tịnh.
172 Khi tụng chú này phải quán tưởng chữ A màu trắng tuôn ra thứ nước có đặc tánh trong mát, làm thành cơn mưa rơi xuống thân thể tất cả ngạ qủy, khiến cuống họng nhỏ bằng mũi kim liền được mở rộng ra, lửa nghiệp thôi cháy, được mát mẻ an ổn.



Chân ngôn Tam muội da giới 173:
Án tam muội da tát đoả phạm. (3 lần)


Chân ngôn Biến hoá thực phẩm 174:

Nam mô tát phạ đát tha nga đá, phạ rô chỉ đế, án, tam bạt ra tam bạt ra hồng. (3 lần)

Chân ngôn Biến hoá cam lộ 175:

Nam mô tô rô ba da, đát tha nga đa da, đát điệt tha: án, tô rô tô rô, bát ra tô rô, bát ra tô rô, ta bà ha. (3 lần)

Chân ngôn Biến hoá vầng nước 176:

Án noan noan noan noan noan. (3 lần)


Chân ngôn Biến hoá biển sữa 177:

Nam mô tam mãn đa một đà nẫm, án noan. (3 lần)


(Niệm Phật:)


Nam mô Đa Bảo Như Lai
Nam mô Bảo Thắng Như Lai
Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai


173 Tam muội da giới là lấy trí giác của Phật, tức giác tánh của mình, mà làm giới pháp. Giới pháp ấy là bồ đề tâm, có 3 thứ: 1. Hạnh nguyện bồ đề tâm: tu các hạnh, phát các nguyện, tức 4 hoằng thệ; 2. Thắng nghĩa bồ đề tâm: tuyệt vọng tưởng, khởi thắng trí; 3. Tam ma địa bồ đề tâm: đẳng trì diệu đức, tự hành hóa tha của Phật mà đẳng nhập chúng sanh giới, bình đẳng hộ trì và nhiếp hóa cùng khắp. Khi tụng chân ngôn này phải quán tưởng chữ noan màu trắng phóng ra ánh sáng chiếu đến thân của chúng sanh đang thọ lãnh bồ đề tâm giới của Phật: Nay tôi truyền thọ tam muội da giới cho các vị rồi, từ nay trở đi, các vị vao địa vị của Như lai, là đệ tư chan thật của Phật, từ pháp hoá sanh, được pháp phần của Phật.
174 Chân ngôn này có năng lực biến hóa thực phẩm từ số ít thành nhiều vô lương, đầy lấp cõi hư không, muôn vật thọ hưởng no đủ.
175 Quán tưởng nước ở trong chén biến thành pháp thủy cam lộ, rộng lớn như biển, thấm nhuần tất cả chúng sanh, rời nhiệt não mà được thanh lương.
176 Với thủ ấn và chân ngôn Nhất tự tâm thuỷ luân quán của đức Tỳ Lô Giá Na, trước quán tưởng chữ noan ở trong lòng bàn tay phải có màu như màu sữa, rồi biến thành biển đủ tám đặc tánh quí, chảy ra tất cả vị cam lộ, đề hồ. Đưa bàn tay ấy đến trên những đồ đựng thức ăn, tụng thần chú chữ noan 7 biến, rồi xoay chuyển nam ngón hướng xuống đồ đựng thức ăn, quán tưởng sưa và các vị cam lộ, đề hồ từ trong chữ noan chảy ra, biến thành biển sữa, lớn như vầng nhật nguyệt, tất cả chúng quỷ thần đều được no đủ, không có thiếu thốn.
177 Thần chú Biến hóa vầng nước là khiến nước biến thành biển sữa, thần chú Biến hóa biển sữa là khiến biển sữa kia rộng lớn, hòa suốt.


Nam mô Quảng Bác Thân Như Lai
Nam mô Ly Bố Uý Như Lai
Nam mô Cam Lộ Vương Như Lai
Nam mô A Di Đà Như Lai 178


Thần chú gia trì thức ăn sạch, món pháp thí, nước cam lồ
Khắp thí hà sa chúng Phật tử, hữu tình, cô hồn
Nguyện đều no đủ bỏ xan tham 
Mau thoát u minh, sanh tịnh độ 
Quy y Tam bảo phát bồ đề
Rốt ráo hoàn thành vô thượng đạo
Công đức vô biên tận vị lai
Tất cả Phật tử, hữu tình, cô hồn hưởng pháp thực.


Tất cả các Phật tử, hữu tình, cô hồn
Tôi hiến pháp thực này
Pháp thực biến mười phương
Phật tử, hữu tình, cô hồn cùng hưởng thụ.


Nguyện đem công đức này
Hồi hướng khắp tất cả
Phật tử, hữu tình, cô hồn và chúng tôi
Đều trọn thành Phật đạo.
178 Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Nghi (ĐTK 1320) nói rộng hơn về 7 đức Như lai, như sau:
Các người con Phật, tôi nay vì quí vị xưng tán danh hiệu kiết tường của các đức Như lai, có năng lực khiến cho quí vị thoát hẳn cái khổ ba đường tám nạn, thường làm người con Phật chan thật và thanh tịnh của Như lai.
Nam mô Đa Bảo Như Lai. Các người con Phật, nếu nghe được danh hiệu Đa Bảo Như Lai, có năng lực khiến cho quí vị đầy đủ tai bảo, xứng ý tu hành, thọ dụng vô tan.
Nam mô Bảo Thắng Như Lai. Các người con Phật, nếu nghe được danh hiệu Bảo Thang Như Lai, có năng lực khiến cho những trần lao nghiệp hoả của quí vị thảy đều tiêu diệt.
Nam mô Diệu Sắc Thân Như Lai. Các người con Phật, nếu nghe được danh hiệu Diệu Sắc Thân Như Lai, có năng lực khiến cho quí vị chang chịu xấu xí, tướng mạo đay đủ, tướng hảo viên mãn, thù thắng đoan nghiêm, cõi trời nhan gian rất là đệ nhất.
Nam mô Quảng Bác Thân Như Lai. Các người con Phật, nếu nghe được danh hiệu Quảng Bác Thân Như Lai, có năng lực khiến cho quí vị không bị cái khổ cổ họng nhỏ như kim châm của loài ngạ quỷ, nghiệp bao lửa dữ không còn thiêu đốt, mát mẻ thông suốt, uống ăn món gì cũng là vị cam lồ.
Nam mô Ly Bố Uý Như Lai. Các người con Phật, nếu nghe được danh hiệu Ly Bố Úy Như Lai, có năng lực khiến cho quí vị thường đươc an lạc, thoat hẳn sợ hãi, thanh tịnh khoai lạc.
Nam mô Cam Lộ Vương Như Lai. Các người con Phật, nếu nghe được danh hiệu Cam Lộ Vương Như Lai, có năng lực khiến cho quí vị một giọt nước cam lộ hay trừ đói khát khổ sở, rảy rưới lên trên đảnh đầu kiến nhận đươc sự an lạc.
Nam mô A Di Đà Như Lai. Các người con Phật, nếu nghe được danh hiệu A Di Đà Như Lai, có năng lực khiến cho quí vị vãng sanh tịnh độ cực lạc phương Tây, hoa sen hoá sanh, vào bất thối địa.
Các người con Phật, bảy đức Như Lai đây dùng năng lực của thệ nguyện, nhổ trừ cứu giúp chúng sanh lìa xa phiền não, thoát khổ ba đường, an ổn thường lạc. Một phen xưng danh hiệu của bảy đức Như Lai thì ngàn đời lìa khổ, chứng đạo Vô thượng.





Chân ngôn Thí vô ngại thực 179: 

Án mục lực lăng ta bà ha (3 lần)

Chân ngôn Hiến cúng khắp cả 180:

Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhựt ra hộc (3 lần)


(Tuyên điệp xong, Thầy sám chủ xướng:)


Trước nay, sửa soạn trai diên, thí thực cô hồn, việc đã chu toàn, dâng đủ điệp văn, ngoài đàn đốt hóa làm bằng.


Tả bạch: Đại chúng đồng niệm Tôn thắng chú:


Na mô bạt già phạt đế, đề lệ lô ca bát ra đế tì thất sắc tra da bột đà da, bạc già phạt đế, đát điệt tha. Án, tì du đà da sa ma tam mạn đa phạ bà sa, sa bá ra nõa yết đế ca ha na, sa bà phạ luân thuật địa a tì tiến giả tô yết đa phạt chiết na, a mật lật đa sái kê, a ha ra a ha ra, a du tán đà ra ni, du đà da du đà da, già già na tì thuật đề, ô sắc ni sa tì chiết da thuật đề, sa ha sa ra yết ra thấp nhị san châu địa đế, tát bà đát tha yết đa địa sắc tra na át địa sắc sỉ đế mộ điệt lệ, bạt chiết ra ca da tăng ha đa na thuật đề, tát bà phạt ra nõa tì thuật đề, bát ra đế nỉ phạt đát na a du thuật đề, tát mạt na a địa sắc sỉ đế, mạt nhĩ mạt nhĩ, đát đạt đa bộ đa câu đê bát lợi thuật đề, tì tát phổ tra bột địa thuật đề, xá da xá da, tì xá da tì xá da, tát mạt ra tát mạt ra bột đà át địa sac sỉ đa thuật đề, bạt chiết lê bạt chiết ra yết tì, bạt chiết lam bà phạt đô, ma ma (xưng tên …) tát bà tát đỏa tả ca da tì thuật đề, tát bà yết đế bát lợi thuật đề, tát bà đát tha yết đa tam ma thấp bà sa yết địa sắc sỉ đế, bột đà bột đà bổ đà da bổ đà da tam mạn đa bát lợi thuật đề, tát bà đát tha yết đa địa sắc tra na át địa sắc sỉ đế, sa bà ha. 181 (3 lần)



179 Tụng thần chú này thì đạo tràng lẫn suốt với pháp thực, kẻ oán người thân, kẻ gần người xa đều không ngăn cản nhau, lục đạo qủy thần đều được bình đẳng.
180 Pháp thí thực không hề phân cách kẻ trước người sau, oán thân sang hèn bình đẳng, đồng thời cúng dường khắp cả chúng sanh trong lục đạo mười phương.



Chân ngôn Vãng sanh
 182:
Nam mô a di đa bà dạ, đa tha dà đa dạ, đa địa dạ tha, a di lị đô bà tì, a di lị đa tất đam bà tì, a di lị đa tì ca lan đế, a di lị đa tì ca lan đa, dà di nị, dà đà na, chỉ đa ca lệ, ta bà ha. (3 lần)

Chân ngôn Hồi hướng khắp cả 
183:
Án, sa ma ra, sa ma ra, di ma nẵng tát cáp ra, ma ha thích cáp ra hồng. (3 lần)


181 Trên đây là thần chú Phật đảnh tôn thắng trích trong Tôn Thắng Phật Đảnh Đà La Ni Tịnh Trừ Nghiệp Chướng Chú Kinh (ĐTK 970) do ngài Tam tạng pháp sư Địa Bà Ha La (613-687), người Thiên Trúc, dịch vào đời vua Đường Cao Tông (650-683). Tương truyền, vào đời Đường Cao Tông, niên hiệu Nghi Phụng (676), có vị cao tăng nước Kế Tân tên là Phật Đà Ba Lợi đi đến non Ngũ Đài để lễ bái Thánh tích thì gặp một lão ông từ trong núi đi ra khuyên, rằng ngài hãy trở về Thiên Trúc đem bản kinh Phật đảnh Tôn Thắng Đà La Ni đến Trung Hoa mà lưu truyền cứu độ chúng sanh thì mới mong cảm ứng được đức Văn Thù. Đến niên hiệu Vĩnh Thuần thứ 2 (683), ngài Phật Đà Ba Lợi đi đến Trường An xin vua Đường Cao Tông cho dịch kinh ấy ra chữ Hán, vua chấp thuận và sắc cho ngài Địa Bà Ha La (tức Tam Tạng Pháp Sư Nhật Chiếu) và vị quan tên là Đỗ Hành Khải cùng dịch bản kinh đó. Nhưng khi dịch xong thì vua giữ lại trong cung. Ngài yêu cầu vua trả lại bản kinh chữ Phạn, rồi đi đến chùa Tây Ninh, cùng với vị tăng tinh thông chữ Phạn là ngài Thuận Trinh dịch sang chữ Hán với đề kinh là Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Kinh. Sau khi bản kinh này được lưu truyền, ngài Phật Đà Ba Lợi đem Phạn ban đến non Ngũ Đài, vào hang Kim Cang rồi không thấy trở ra. Tương truyền ngài được đức Văn Thù thu nhận vào pháp hội của chư bồ tát. Phật đảnh tôn thắng đà la ni là bài chú được đức Phật giảng cho thiên tử Thiện Trú. Chuyện kể rằng, thiên tử Thiện Trú trong 7 ngày nữa sẽ chết và thác sinh vào các thân bàng sinh như heo, chó, cáo, khỉ, rắn, diều, quạ, rồi sau đó bị chịu khổ ở địa ngục. Sau đó nếu có đầu thai làm người thì cũng bị mù ca 2 mắt. Thiện Trú đã đến vua trời Kiều Thi Ca xin cứu. Kiều Thi Ca cầu thỉnh đức Phật và ngai đã giảng cho bài chú ấy. Bài chú này có khả năng làm cho tiêu trừ hết các chướng nghiệp và làm cho tuổi thọ thêm lên. Có cả thảy 17 văn bản liên hệ với Phật đảnh tôn thắng đà la ni nằm trong Đại tạng kinh. Các tràng kinh khắc bài chú Phật đảnh tôn thắng gia cú linh nghiệm đà la ni do Đinh Khuông Liễn dựng lên vào năm Quí Dậu (973), được tìm thấy tại vùng đất Hoa Lư qua nhiều đợt khai quật khảo cổ học cho thấy, truyền bản mà Đinh Liễn đã dùng là từ bản của Kim Cang Trí, sơ tổ mật tông Trung Hoa, và Bất Không, tổ thứ hai mật tông Trung Hoa. Phật đảnh tôn thắng đà la ni gia tự cụ túc bản do Kim Cang Trí dịch (ĐTK 974C) và Nhất thiết Như Lai tôn thắng Phật đảnh đà la ni gia cú linh nghiệm do Bất Không dịch đươc tìm thấy tại Đôn Hoàng. Mặc dù bài chú này nằm trong hệ tư tưởng Thai tạng giới của mật giáo, nhưng vẫn được trì niệm trong các khóa tụng của các thiền đường Trung Hoa vào thời vua Đường Đại Tông (763-775). Theo van bản Du Già Trung Khoa thì đến đây tung chan ngôn Bat nhã, nhưng có lẽ vì Bat nhã tâm kinh ít nhất đã tụng qua 1 lần, nên, theo Đại khoa Du già, thay bằng than chú Phat đanh tôn thắng. Kệ rằng, Đông độ nếu không Tôn Thắng chú, cô hồn khó mà thoát trần ai. Thế nên, chư vị tu mật tông thương hành trì chú này.
182 Tụng chân ngôn này thì đức Phật A Di Đà thường trú ở trên đỉnh đầu, ngày đêm hộ trì, không cho kẻ
ác tìm được cơ hội, hiện tại an vui, mạng chung thì tùy ý vãng sanh tịnh độ.

183 Đem công đức thí thực hồi hướng cho tất cả hữu tình gieo trồng thiện căn, phát tâm hướng về tuệ giác Phật đà, cầu sanh Cực lạc.
Nguyện ngày an lành đêm an lành 
Đêm ngày sáu thời thường an lành 
Là bậc Cát Tường trong mọi thời
Xin đức Thượng Sư thương nhiếp thọ.


Nguyện ngày an lành đêm an lành 
Đêm ngày sáu thời thường an lành 
Là bậc Cát Tường trong mọi thời 
Xin ngôi Tam bảo thương nhiếp thọ.


Nguyện ngày an lành đêm an lành 
Đêm ngày sáu thời thường an lành 
Là bậc Cát Tường trong mọi thời 
Xin chư Hộ pháp thường ủng hộ.

Bốn loài 184 bước lên đất ngọc
Ba cõi hoá sanh ao sen
Hà sa ngạ quỉ chứng ba hiền 185
Muôn loại hữu tình lên mười địa 186.


Nam mô Siêu Thập Địa Bồ tát ma ha tát (3 lần).


(Hạ màn. Thầy sám chủ phục nguyện:)


Thấy nghe như mắt nhặm, Ba cõi tợ không hoa,
Nghe lại nhặm căn trừ, Trần tiêu giác tròn sạch. 187

184 Tứ sanh là 4 loài chúng sanh phân loại theo 4 cách sanh: noãn, thai, thấp, hóa.
185 Ba hiền là 30 bồ tát vị, dùng tợ giải mà dẹp chướng hoặc và gọi chung la hiền, đó là 10 trú, 10 hạnh và 10 hướng.
186 Mười địa là 10 bồ tát vị sau hết, dùng chân trí mà trừ chướng hoặc và gọi chung là thanh.
187 Bài chỉnh cú này trích trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, chánh văn là: Kiến văn như huyễn ế, tam giới nhược không hoa, văn phục ế căn trừ, trần tiêu giác viên tịnh. Sự kiến, văn (,giác, tri) của chúng sanh giống như người có bịnh nhặm mắt mà nhìn cảnh vật thì đối cảnh như huyễn như hóa, căn đã không thật nên cảnh cũng không thật. Kinh Lăng Già dẫn chứng: Như ế giả sở kiến/ ngu phu sanh chấp trước (Người ngu chấp cái được tạo ra như một người có mắt bị nhặm chấp vao cái bóng của chính mình). Ba cõi, trong cái nhìn của chúng sanh, thấy như thật nhưng không có gì thật cả, giống như người mat nhặm nhìn không gian thấy có hoa đốm. Đức Phật thì như thật thấy biết tướng của ba cõi: “chẳng phải thật, chẳng phải hư, chẳng phải như, chẳng phải dị, chang phải như chúng sanh ba cõi nhìn thấy ba cõi”. Trở về cái tánh nghe của chính mình như là việc chữa lành con mắt bịnh, nói cách khác là nhập lưu vong sở. Bụi bặm rơi trong con mắt được lấy ra, tức phiền não được đoạn trừ, thì cái thấy trong sang của con mắt không bịnh trở về, tức trở về tánh giác vốn tròn sáng, xưa nay thanh tịnh. Điều này cho thấy, chúng sanh dẫu vốn có vô minh nhưng chúng sanh vẫn vốn là Phật đà.
188 Ba mươi sáu vị qủi vương này là chúa tể trong 36 bộ qui thần, có năng lực thống lãnh vô lượng các loài qủi, nếu cử lên kêu mời các vị qủi chúa thì cả bộ lạc các qủi chúng đều phải thính lịnh thị tùng. 
Tên của các vị ấy là: 

1. Ba tra bệ lệ đa, 
2. Bà la môn tiên, 
3. Bà tra viễn hại đại lực, 
4. Nhã dạ xoa kiết giá, 
5. Ba la lợi thực bất tịnh,
6. Cơ hư thực phẩn, 
7. Ba tra phú đơn na, 
8. Bà xoa nhân kiết giá, 
9. Bà la đa nhiệt bệnh, 
10. A phụ tà tiếp truyền tống, 
11. Ba tra kiết giá, 
12. Tỳ đà la đa, 
13. Nhã kiện đà la, 
14. Ô ma lặc ca, 
15. A bạt ma la, 
16. Cưu bàn trà la, 
17. Tỳ xá xà đa, 
18. Vi đà la đa, 
19. Phụ vật vi quái, 
20. Phong hành yêu quái, 
21. Súc hành tinh mị, 
22. Trùng thành cổ độc, 
23. Ôn suy lệ lịch, 
24. Âm muội u thị,
25. Tinh minh vọng lượng, 
26. Minh linh dịch sứ, 
27. A lợi đế mẫu, 
28. Thực tiểu nhi tinh khí, 
29. Hà hải tinh mị, 
30. Ba tra thực niệu, 
31. Nhật nguyệt bạc thực, 
32. Ba la giá văn tra, 
33. Bà tra thực tiên tiện, 
34. Ba tra thực nùng thế, 
35. Bà tra thực thai huyết, 
36. Ba tra ma la.





Biết rằng: Nguồn chân rỗng lặng, tánh tội vốn là không, biển khổ rộng sâu, theo vọng nên chẳng dứt. Do nghiệp cảm của chúng sanh mà nhiều kiếp bị trầm luân: lúc chịu tội báo nơi địa ngục thì thống khổ trăm bề, khi chuyển sanh trong ngạ quỉ thì mãi hoài đói khát. Nếu đã không hạn kỳ giải thoát, thì sao có ngõ đường siêu thăng.


Tả bạch: Chẳng chịu nương từ nguyện Như lai, đâu thể cứu đảo huyền nẻo ác. Chú tụng lời chơn, thí cho pháp thực cam lồ, thắp ngọn đuốc báu, soi sáng minh giới tối tăm, khiến mọi dòng mê, cùng về Cực lạc. Đạo tràng đêm nay, đem công đức thí thực này, hồi hướng: trong núi Thiết vi, đại sĩ Diện Nhiên, thống lãnh ba mươi sáu bộ qủi vương 188, cùng vô lượng vô biên hằng ha sa số các chúng ngạ qủi.


Hữu bạch: Lại nguyện: Từ muôn ngàn kiếp, thẳng đến đời nay, trừ nghiệp chướng khiến tiêu tan, sạch tội khiên cho thanh tịnh. Vạc nước sục sôi, biến thành ao sen đủ tám đức. Lò lửa hừng hực, hoá ra lộng thơm bằng bảy báu. Rừng kiếm đều là vườn ngọc, núi dao trở thành núi vàng, gường sắt tràn ngục làm pháp tọa bồ đề, nước đồng đầy vạc hoá cam lộ đề hồ.


Tả bạch: Ngày xưa trái chủ, giờ gặp nhau cùng mong giải thoát, kiếp trước oan gia, nay dự lễ mỗi thỏa tiêu dao. Ngục chủ khởi lòng từ, minh quan giữ điều thiện. Cha mẹ nhiều đời từ đây nhập Thánh siêu phàm, thân nhan nhiều kiếp nơi đây nhờ ơn giải thoát.


Hữu bạch: Cõi trời năm suy 189 chẳng hiện, nhân gian bốn tướng 190 đều không, tu la bỏ hết tâm sân, địa ngục dứt tuyệt khổ não, hà sa ngạ quỉ hoá nóng bức mà làm mát trong, mười loại hàm sanh bỏ đường mê để lên bờ giác.


Sám chủ: Khắp nguyện: Quốc độ này, quốc độ kia, vô lượng các quốc độ, hết thảy hữu tình (trong các quốc độ đó) đều chứng chân thường 191. Thế giới này, thế giới kia, vô lượng các thế giới, vô tận hàm thức 192 (trong các thế giới đó) đều thành Phật đạo. Bốn ân 193 đền khắp, ba cõi 194 giúp nhau, pháp giới chúng sanh, tròn nên tuệ giác.


Chúng tụng: Chư Phật, chánh pháp, Bồ tát tăng
Thẳng đến bồ đề con quy y
Con đã tu tập các thiện căn
Vì lợi hữu tình nguyện thành Phật.

Sám chủ: Thế xuất thế gian. (3 lần, vỗ thủ xích) 
Chúng hòa: Tuỳ nguyện được thành. (3 lần)

Kính nương du già giáo 
Sửa soạn mời pháp diên 
Khắp nguyện các hưu tình
Đều trọn thành Phật đạo.

189 Năm suy = ngũ suy: Năm tướng suy của chư thiên hiện ra khi tuổi thọ sắp hết: 

1. Hoa trên mũ héo úa; 
2. Nách ra mồ hôi; 
3. Áo quần nhơ nhớp; 
4. Thân mất vẻ uy nghi, có mùi hôi va mắt thường chớp;
5. Không thích chỗ ngồi cũ của mình hoặc làm những việc thô thao với ngọc nữ.

190 Bốn tướng: ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng và thọ giả tướng. Tướng là ý tưởng, khái niệm, là ngã chấp: ý niệm về cái tôi (ngã), cái tôi là 1 sinh thể có tâm thức (chúng sanh), sinh thể ấy có đời sống từ khi sinh đến khi chết (thọ giả), sinh thể ấy có 1 linh hồn sẽ tái sinh đời sống khác y như đời này (nhân).
191 Chân thường: Chân như Phật tánh thường trú, tức bản thể của viên giác.
192 Hàm thức = hữu tình: Chỉ cho chúng sanh co tâm thức trong 6 đường, tức loài hữu tình.
193 Bốn ân: Có 2 pháp số: 1. Ơn cha mẹ, ơn chúng sanh, ơn quốc chúa, ơn Tam bảo; 2. Ơn cha mẹ, ơn sư trưởng, ơn quốc chúa, ơn thí chủ. Số 1 là cai ơn chung. Số 2 là cái ơn của người xuất gia.
194 Tam cõi = tam hữu = tam giới: tức 3 cõi Dục, Sắc và Vô Sắc. Tam giới mà nói là hữu, là vì: 1. Sắc giới và vô sắc giới vẫn con sanh tử liên tục chưa phải giải thoát; 2. Cả 3 cõi đều là cảnh giới sanh tử, có nhân có quả mà có (hữu), tức nói quả bao dị thục.



Tả bạch: Thỉnh kết ấn Phụng tống viên mãn. 195


Án qua tư la mục kía tra mục. (3 lần)


(Thầy sám chủ xuống đàn, chư vị kinh sư tiếp tục tụng thần chú 100 chữ Kim cang tát đỏa 196, 3 lần để bổ khuyết:)


Ngàn qua tư la tát đoả, tô tát ma da, ma nạp ba lạt da. 
Qua tư la tát đoả, đế nô bát đế sắt tráp.
Đắc lị sừ di phấn ngoã. 
Tô độ thúc di phấn ngoã.
A nô la ngật đô di phấn ngoã.
Tô độ thúc di phấn ngoã.
Tát lị qua ta đề di bất la da sát. 
Tát lị qua cát lị ma, tô tạt di. 
Mục đạt thích lị dương quách lỗ. 
Hồng.
Ha ha ha ha hộc.
Phấn cát loan tát lị ngõa, đáp tháp cát đạt, qua tư la ma di môn tát.
Qua tư la phấn qua.


195 Hai tay kết ấn kim cang quyền, hai ngón trỏ câu nhau, 3 lần tụng “ngàn qua tư la …” thì 3 lần nâng thủ ấn gần đỉnh đầu rồi vung các ngón tay hướng ra ngoài, như là đem hương hoa thượng diệu tung rải lên hư không, hoa ấy xoay trái giải giới, hàm y tiễn đưa chư Phat bồ tát và chúng sanh sáu đường.

196 Chú này để cầu nguyện bổ khuyết, công đức vô lượng. Hành giả bắt ấn nếu chẳng theo thứ lớp hoặc quán tưởng không chuyên chú, những lỗi đại loại như thế, tụng chú 3 biến, nhờ chú lực này mà đều được thanh tịnh. Tụng chú xong, lại quán tưởng vần chữ A (viết theo Phạn tự xưa), niệm 21 biến để cho chủ thể quán tưởng và đối tượng quán tưởng trong quá trình pháp sự đều “bất khả đắc”, cả chữ A cũng “bất khả đắc”. Bởi vì, nếu còn có năng và sở thì rơi vào chỗ hữu vi (: không có tâm bình đẳng). Cho nên nói là pháp thí “diệm khẩu” (: miệng hoá ra lửa) đâu có dễ làm. 


Kim cang bách tự minh chú là một bài linh chú rất phổ thông trong truyền thống Mật tông, gồm có 100 âm tự, có năng lực tịnh hóa nghiệp chướng, thường được hành trì trong thời sám hối. Sau đây là chú Kim cang tát đỏa bằng Sanscrit: 

Om vajrasattva samaya, manu palaya, vajrasattva iveno patisha, dridho me bhava, sutoshyo me bhava, suposhyo ma bhava, anurakto me bhava, sarva siddhi me prayacha, sarva karma sucha me, chittam shriyam kuru, hum, ha ha ha ha hoh, bhagavan, sarva tathaga vajra ma me muncha, vajra bhava, maha samaya sattva, ah. (Qui mạng trí giác của Kim cang tát đỏa. Xin đấng Kim cang tát đỏa thủ hộ con, ngự trị vững vàng trong con và con hoan hỷ trong sự ngự trị ấy. Xin cho con được tùy thuận trí giác mà làm cho những điều thiện lớn mạnh trong con. Xin cho con thành tựu những quả vị va sự nghiệp tự hành hóa tha, xin cho tâm con luôn an ổn. Hum, ha ha ha ha (tứ vô lượng tâm). Ôi, chư Như lai bậc Thế tôn của con, xin cho con giải thoát toàn vẹn trong giới pháp Kim cang, xin cho con trí giác của giới pháp Kim cang, ah).


Ma ha tát ma da, tát đoả ha. (3 lần)


(Kệ hồi hướng


Thí thực công đức thù thắng hạnh 
Vô biên thắng phước đều hồi hướng 
Khắp nguyện trầm nịch các chúng sanh 
Mau sanh cõi Phật Vô Lượng Quang 
Mười phương ba đời tất cả Phật
Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Tự Tại
Chư tôn Bồ tát ma ha tát
Ma ha bát nhã ba la mật.


Tả bạch: Trước nay thiết bày Mông Sơn, cam lộ pháp thực, đến đây công đức viên mãn, vô hạn duyên lành, khắp nhuần sa giới. (3 lần, câu cuối)


Chúng hòa: Hoà nam Thánh chúng. (3 lần)


HẾT

Comments