Home‎ > ‎Sưu Tầm‎ > ‎

Tượng Nữ Thần Tự Do ở Việt Nam

Cách đây hơn 125 năm, Việt Nam chúng ta cũng đã có một tượng Nữ Thần Tự Do. Bài viết ngắn sau đây tóm lược những tài liệu thu thập trên internet từ nhiều nguồn khác nhau cho biết lịch sử tượng Tự Do soi sáng Thế giới (thông thường được gọi là Nữ Thần Tự Do) từ khi xuất hiện cho đến khi biến mất tại Hà Nội, Việt Nam.

Trước hết cần có vài hàng nói về tượng Nữ Thần Tự do tại cảnh New-York.

Tượng Nữ Thần Tự Do tại hải cảng New-York trên đảo Liberty phía Nam đảo Ellis là một món quà đặc biệt của Pháp tặng Hoa Kỳ và được chính thức khánh thành ngày 28 tháng 10,1886 sau hơn hai năm thực hiện và làm chân đài, để kỷ niệm lễ Độc Lập ngày 4 tháng 7 1884 của Hoa Kỳ. Người thực hiện là điêu khắc gia Frédéric Auguste Bartholdi. Tượng đúng ra mang tên “Tự do Soi Sáng Thế giới” với biểu hiệu tượng khắc là một người phụ nữ mặc áo choàng rộng đại diện cho Nữ thần La Mã mang tên Libertas, đầu đội vương miện có bẩy tia dài và nhọn tượng trưng cho nguồn sang tỏa chiếu ra khắp bẩy đại dương (7 đại dương hiểu theo nghĩa hiện đại là: Pacific Ocean, Atlantic Ocean, Indian Ocean, Artic Ocean, Mediterranean Ocean, Caribbean Ocean, và Gulf of Mexico) và bẩy châu (7 châu: Africa, Antarctica, Asia, Australia, Europe, North America, and South America), tay phải dơ cao một bó đuốc, trong tay trái ôm một tấm bảng có ghi ngày độc lập Hoa Kỳ ( July 4, 1776). Tượng cao 46 m (151 feet). Dưới chân tượng có sợi xích sắt chặt đứt đoạn hàm ý chống lại ách nô lệ. Tượng là một biểu tượng cho Tự do và cho Hợp Chủng Quốc: một dấu hiệu đón chào tất cả những người di dân từ khắp nơi đến đất hứa.

Khi làm tượng Nữ thần, ngoài tượng chính, và một phiên bản gốc kích thước cao hơn 11 m (37 ft 9 inches) đặt ở trên đảo Grenelle, Paris, Bartholdi có làm một số phiên bản gốc nhỏ có kích thước cỡ 2.85m (chiếm tỷ lệ 1/16 so với tượng chính), trong số đó, một bản đặt trong vườn Luxembourg, Paris, và một phiên bản nhỏ cùng cỡ được cho lên tàu mang sang Việt Nam để  tham dự Hội chợ Đấu xảo Hà Nội (nay là Cung Văn Hóa Hữu Nghị Việt - Xô) vào năm 1887.

Lý do sau khi chinh phục được vùng Đông Dương, và có Hòa ước Patenôtre vào năm 1884, chính phủ Pháp muốn tổ chức một cuộc triển lãm. Địa điểm là một khu đất cỏ trống rộng, nơi thường được tổ chức thi Hương vào những năm có cuộc thi. Cuộc triển lãm có mục đích phô trương sự văn minh, kỹ thuật tân tiến của Pháp cùng ý đồ “khai hóa”, mang ánh sáng văn minh soi sáng dân thuộc địa qua tượng “Tự Do soi sáng Thế giới”.
Sau cuộc triển lãm năm 1887, khu đất trống phải trả lại cho trường thi Hương diễn ra cứ bốn năm một lần, tượng được hội Bắc Kỳ Tương Tế (Fraternite Tonkinoise) mượn tạm để khánh thành trụ sở, sau đó tượng được Pháp trao lại cho chính quyền Hà Nội, Việt Nam, và được mang đặt tại quảng trường bốn tòa nhà, nơi có một vườn hoa mới làm giữa bốn toà đuợc dùng
làm tòa Thị Chính, Kho bạc, nhà Bưu điện, và phủ Thông sứ , nơi này sau đó đuợc mang tên là vườn hoa Chí Linh (nơi hiện nay có tượng đài Lý Thái Tổ và mang tên công viên Lý Thái Tổ).

Khi chính phủ bảo hộ muốn mang tượng ông Paul Bert - vị Thống Sứ đầu tiên của nhà nước bảo hộ đã qua đời vào ngày 11-11- 1886, chỉ sau bẩy tháng nhiệm chức Thống Sứ- từ Pháp qua để kỷ niệm Quốc Khánh nước Pháp (14 tháng 7, 1890). Họ muốn đặt tượng ông Paul Bert tại vườn hoa Chí Linh, và như thế là tượng Nữ Thần phải mang đi chỗ khác. Trong khi chờ đợi một chỗ đặt, tượng Nữ Thần phải đứng trên bãi đất đâu đó. Một kỹ sư Pháp tên Daurelle đề nghị đặt tượng ngay trên nóc Tháp Rùa (Quy sơn Tháp). Thế là sau một thời gian nằm trên đất, dân Hà nội thấy tượng Nữ thần (hay tượng Bà Đầm Xòe) đứng trên nóc Tháp Rùa, quay mặt về vườn hoa Chí Linh/vườn hoa Paul Bert/Ngân hàng Đông Dương gần cạnh đó. Vườn hoa Paul Bert còn đuợc gọi là vườn hoa Nhà kèn, vì ở đấy có một nhà bát giác để hàng tuần đội kèn đồng của dàn quân nhạc Pháp ra biểu diễn. Những chi tiết này được viết rõ trong cuốn Le Vieux Tonkin (Bắc Ký cổ xưa) của Claude Bourrin, viết về xứ Bắc Kỳ trong thời điểm từ 1890 đến 1894 (nhà in IDEO, Hà Nội, 1941, tr. 48-49). (*)
Như vậy, tượng Nữ Thần bị nằm trên đất một thời gian rồi được đặt trên nóc Tháp Rùa, rồi đến năm 1896 lại được mang xuống vì bị sự phản đối và chỉ trích nặng nề của người dân địa phương và cả một số giới chức Pháp. Và rồi, tượng được chuyển đến vườn hoa Neyret ở phía đông hồ Hoàn kiếm (tức Vườn Hoa Cửa Nam gần Thư viện Quốc gia) cho đến ngày Cách Mạng Tháng 8 1945. Tượng vào thời điểm đó được mệnh danh là Tượng Đài Công Lý (Monument de
La Justice).

(**) Hình chụp từ phía tây hồ Gươm: tượng nhìn về tượng Paul Bert (bên tay trái),
hình này lấy từ báo L' Indépendance tonkinoise, số đặc biệt, ra tháng 7/1891

              Tấm hình từ phía đông hồ Gươm cho thấy tượng quay lưng vào Nhà thờ Lớn (***)
                        Công viên Chí Linh/Paul Bert/vườn Kèn và tòa nhà Kho bạc.(***)


(***) Hình thứ hai này là hình Thần Tự Do, do Césard vẽ, phía sau có Nhà Thờ Lớn, với ghi chú "Liberté sur le Pagodon du Petit - Lac à Hanoi" (Tượng Tự Do trên nóc Tháp Rùa ở Hà Nội). Hình này được đăng trong báo La Vie Indochinoise, tháng 12 năm 1896.
Qua ghi chú từ hai tấm hình mà chúng có thể cho rằng ít nhất tượng Nữ Thần cũng đã đứng trên nóc Tháp Rùa từ năm 1891 cho đến 1896.


                                                Hai tấm hình khác, không rõ nguồn.

    Bức tượng toàn thân của Paul Bert tay cầm lá cờ Pháp
và một người bản xứ nhỏ bé ngồi dưới chân
đã tạo nên nhiều bất bình và chỉ trích.


Tượng Nữ Thần đặt tại vườn hoa Cửa Nam (vườn hoa Neyret)

Vào ngày 1 tháng 8, 1945 (Cách mạng tháng Tám), tượng Nữ thần, và một số tượng khác bị kéo đổ do lệnh của ông Trần Văn Lai, thị trưởng đầu tiên người Việt của Hà Nội. Tượng Paul Bert có lẽ cũng bị kéo đổ hoặc trong thời gian đó. Những tượng đồng bị kéo đổ này được mang cất vào trong kho phế vật của sở Lục Lộ thành phố Hà Nội từ năm 1945.

Vào năm 1949, chùa Thần Quang thuộc làng Ngũ Xã khởi công dự án đúc tượng phật A Di Đà. Tài liệu cho biết trong ba năm chuẩn bị đúc tượng, chùa đã kêu gọi khách thập phương đóng góp nhiều đồ đồng để đúc tượng nhưng vẫn không đủ số lượng nên đã đến xin chính quyền ban cho những tượng đồng trong kho của sở Lục Lộ Thành phố, và ông thị trưởng thành phố đã chấp thuận cho chùa Thần Quang tất cả số tượng đồng trong kho, trong số đó có cả tượng Nữ Thần và tượng Paul Bert.


Ngày 26 tháng 10, 1952, sồ đồng thu thập đủ loại và từ nhiều tượng kể cả tượng Nữ Thần và tượng Paul Bert được đun nóng chảy rồi đổ vào khuôn để đúc tượng A Di Đà cho chùa Thần Quang, làng Ngũ Xã. Pho đại tượng Phật A Di Đà ở chùa Thần Quang này có tư thế ngồi bằng. Tượng có chiều cao 3,95 m, chu vi phần dưới là 11.6m, chu vi toà sen (bệ tượng) là 15 m, tổng cộng trọng lượng là khoảng 7 đến 10 tấn.



Kết luận.

Phiên bản Tượng Nữ Thần “Tự Do Soi Sáng Thế giới” được Pháp tặng cho Việt Nam vào năm 1887, qua nhiều thăng trầm di chuyển nhiều lần, rồi nằm trong bóng tối nhà kho hơn bảy năm trời, sau cùng tượng đã bị nấu chảy để lấy đồng đúc tượng A Di Đà vào năm 1952.
Năm nay 2012 là vừa tròn 60 năm tượng “Tự Do Soi Sáng Thế giới” ở Việt Nam đã nằm trong tâm, thân của tượng A Di Đà của chùa Thần Quang, làng Ngũ Xã. Trong cõi vô thường sở hữu chủ có có không không, tưởng cũng không có chi phiền não. Thôi thì dù tượng “Tự Do Soi Sáng Thế giới” ở Hà nội không còn nữa nhưng ít nhất người dân Hà Nội cũng vẫn còn tượng Phật A Di Đà Từ Bi Đức Độ để thờ cúng.


Sóng Việt Đàm Giang
9/29/2012


Le Vieux Tonkin: Le Théatre-Le Sport–La Vie Mondaine De 1884 À 1894
Tập 2: Năm 1890 – 1894. Đây là tập đặc biệt viết về các họat động thể thao, kịch nghệ, thú tiêu khiển của xã hội thượng lưu ở miền Bắc vào cuối thế kỷ 19.
Xuất bản tại Hà Nội, năm 1941. Sách gồm 358 trang. Tác giả: CLAUDE BOURRIN.