Mỹ Phẩm và Da

Đầu năm, trang web Luat Khoa
thân chuyển bài viết mới của
DS Trần Viềt Hưng
về làm đẹp làn DA của quý Bà, Cô, Chị ...
để  được trẻ đẹp mãi
.


Kem xóa vết nám - Kem tẩy da, làm trắng da

Phụ nữ thường rất sợ tàn nhang, vết nám trên da mặt, dù những vết nám này không thực sự ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng lại ảnh hưỡng nhiều đến vấn đề thẩm mỹ, gây tình trạng âu lo, mặc cảm 'kém đẹp' cho nhan sắc..Khoa thẩm mỹ có nhiều phương pháp để xóa các vết nám: những vết nám 'sâu' phát xuất từ lớp dermis cần đến những phương thức do các bác sĩ hay các chuyên viên thẩm mỹ thực hiện như 'lột da' (peeling) nhiều lần, dùng laser (laser resurfacing) hay chà da (dermabrasion), giải phẫu bằng đông lạnh (dryosurgery), bằng dùng hệ thống chiếu sáng Intense Pulse Light... nhưng với những vết nám 'cạn' thì đơn giản và dễ nhất vẫn là dùng các loại kem thoa..
   
Quan niệm thẩm mỹ về màu của da thay đổi tùy theo từng dân tộc. Da trắng hồng 'được xem là đẹp và hấp dẫn' hơn màu da xậm (phụ nữ Đông phương thường muốn có một màu da nhạt..'trắng, và mịn như..trứng gà bóc'.) . Các nhà sản xuất mỹ phẩm quốc tế ( và địa phương) đã đưa ra thị thường hàng ngàn sản phẩm, quảng cáo tân kỳ để hấp dẫn khách hàng. Con số thương vụ riêng cho loại kem làm nhạt vết nám và làm trắng da lên đến hàng tỷ USD.. Những loại kem này có nhiều tên khác nhau như Skin lightening cream, Whitening cream Bleaching cream 
    Thị trường Kem làm nhạt màu da rất phát triển tại Nhật và đặc biệt hơn là tại Ấn độ, Pakistan. Sản phẫm Fair and Lovely  của Công ty Unilever vẫn là một loại kem được ưa chuộng nhất dù đã bị Chính phủ Ấn cấm quảng cáo trên các hệ thống truyền hình từ năm 2007...
Màu sắc của da :
Màu sắc của da được định bởi sự 'tương tác' giữa nhiều sắc tố trong cơ thể. Hemoglobin trong máu tạo 'nền' đỏ và xanh lam nhạt; carotenoids tạo các ánh vàng; eumelanin và pheomelanin tạo ra những màu nâu-đen.. Trong việc tạo màu cho da, melanin đóng vai trò quan trọng nhất.
Melanin (từ tiếng Hy lạp melas= đen) là một sắc tố thường gặp nơi sinh vật (nhện, là một trong những loài rất hiếm, không có melanin). Nơi giới động vật, Melanin là chất chuyển hóa từ Acid Amin Tyrosine. Dạng Melanin thường gặp là Eumelanin, một polymer có màu nâu-đen của acid dihydro-indole carboxylic.
Eumelanin còn được chia thành 2 nhóm phụ :
1). Nhóm Eumelanin đen, và nhóm Eumelanin nâu. Hai nhóm này thường gặp nơi những người không phải là Âu châu. Sự pha trộn thiếu cân bằng của eumelanin đen tạo ra ..tóc bạc, và của eumelain nâu tạo ra tóc mầu nâu..
2). Dạng thứ nhì là Pheomelanin một polymer màu nâu-đỏ có chứa cystein của các đơn vị benzothiazine, dạng này tạo màu đỏ cho tóc và cho màu của các đốm đỏ trên da (freckles) .Pheomelanin  thường gặp nơi da và tóc người Da trắng và thường tập trung nơi môi, đầu vú và bộ phận sinh dục (nam và nữ). Pheomelanin có thể trở thành một tác nhân gây ung thư khi chịu tác động của tia UV. 
Melanin được sản xuất do các tế bào Melanocytes nằm trong lớp dermis của da (xem bài Kem dưỡng da). Melanin có trách nhiệm tạo màu do da, tóc và đáy mắt: những màu tại các nơi này tùy thuộc vào các yếu tố di truyền quyết định việc phân phối các sắc tố. Melanin có nhiệm vụ như một chất chống nắng tự nhiên khi bị kích động bởi tia nắng mặt trời. Melanin biến đổi tia UV thành một dạng năng lượng mà cơ th có thể sử dụng, đồng thời chuyển đổi và khử các nhóm gốc tự do gây tác hại cho cơ thể. Khi sự sản xuất Melanin bị rối loạn (quá nhiều hay không đều), trên da có thể xuất hiện những đốm hay vệt (gọi chung là lentigines)
Sinh tổng hợp:
Giai đoạn đầu tiên của tiến trình sinh tổng hợp Melanin cần có sự xúc tác của men Tyrosinase. Tyrosine được chuyển thành DOPA và sau đó thành Dopaquinone.
Dopaquinone sau đó có thể kết hợp với Cysteine để tạo ra Pheomelanin.
Dopaquinone cũng có thể chuyển biến thành Leucodopa Chrome và tiếp tục chuyển đổi thành Eumelanin.
 
Vết nám trên da
:
Có nhiều loại vết nám trên da.
Danh từ chung được dùng là Hyperpigmentation. Tất cả các vết nám đều do Melanocytes bị kich thich để tiết ra Melanin. Hyperpigmentation có thể lan rộng hay tập trung một chỗ. Các chuyên viên thẩm mỹ và các bác sĩ chuyên về da thường phân loại thành :
* Những vết nám do những rối loạn về kich thich tố xẩy ra trong thời kỳ tiền mãn kinh, mãn kinh, do thai nghén, do các điều trị dùng estrogen hoặc do dùng thuốc ngừa thai trong một thời gian dài.
Các vết nám này được gọi là 'hormone hay pregnancy masking'. Một danh từ lạ được dùng tại Việt Nam là Nám có chân ?
* Những vết nám gây ra bỡi tia cực tím (UV) trong ánh nắng mặt trời, hoặc gây ra bởi những yếu tố môi trường như tiếp xúc thường xuyên với hóa chất có hại cho da, dùng quá nhiều mỹ phẩm kém phẩm chất..
Vài danh từ thường gặp :
- Liver spots: còn gọi là Solar lentigo, Lentigo senelis, Old age spots. Tuy gọi là liver spots nhưng những vết nám này không liên hệ gì đến gan, tên đúng hơn là solar spots hay age spots vì đây là do tác động của tia mặt trời trên da.Với người da trắng, loại vết nám này xuất hiện như những vệt nâu, đỏ nhạt hoặc những đốm tàn nhang trên da mỗi ngày một nhiều và xậm hơn, có thể lớn cỡ 1 cm. Với người da màu ( như Á đông), những vệt nám có dạng các vệt xỉn hơn , xám tro hơn (ashen-grey). Những vết nám loại này thường tập trung tại các vùng da bị chiếu bởi ánh nắng như mặt, trán, cánh tay và trên đỉnh đầu (người bị hói)..Liver spots, trong đa số trường hợp, không phải là vấn đề nguy hại cho sức khỏe, chỉ gây những..khó chịu về phương diện thẩm mỹ, nhất là khi xuất hiện trên mặt.
- Melasma:  Theo định nghĩa của American Academy of Dermatology, cũng là một 'vấn đề' thường xẩy ra cho da. Melasma tạo ra những vệt, khoang màu xám-nâu trên mặt. Phần lớn các vết nám xẩy ra hai bên má, nơi cầu mũi, trán và môi trên. Phụ nữ dễ bị Melasma hơn nam giới và thường xẩy ra nơi phụ nữ có thai. Melasma được xem là gây ra bởi những rối loạn về kích thích tố. Để chẩn đoán Melasma, các bác sĩ chuyên về da sẽ đo độ sâu và quan sát vết nám qua một dụng cụ quang học gọi là đèn Wood, và sau đó có thể làm sinh thiết (biopsy) để phân biệt vết nám. Trên nguyên tắc, Melasma có thể tự nhạt màu và biến mất (như trường hợp vết nám do dùng thuốc ngừa thai, những vết này sẽ nhạt từ từ sau khi ngưng thuốc), nhưng Melasma cũng có thể tồn tại luôn trên da.. Chloasma, danh từ chuyên dùng hơn cho các vết nám trong giai đoạn thai kỳ, những vết này có thể xuất hiện trên da bụng (dù không bị chiếu bởi tia nắng).
Kem xóa vết nám
 Ngoài những kem xóa vết nám được xếp vào loại dược phẩm (tại Hoa Kỳ) với công thức và tỷ lệ hoạt chất được ghi rõ rệt, những kem thuộc loại 'mỹ phẩm', do không bị kiểm soát, nên có thể chứa nhiều hợp chất khác nhau và những 'mỹ phẩm' tại các quốc gia thuộc 'thế giới thứ ba' còn có thể có thêm những hoạt chất nguy hại để tẩy da đã bị cấm như  thủy ngân, hay dùng những nồng độ rất cao của hydroquinone..
Thành phần hoạt chất :
1 - Hydroquinone :
    Trong Y học Hydroquinone  là một hoạt chất đã được chứng minh là có khả năng làm giảm sự sản xuất Melanin bằng cách ức chế hoạt động của men Tyrosinase. Tuy được xếp vào loại 'tẩy da' (skin bleaching), nhưng thật sự chỉ làm da nhạt màu do ngăn chặn melanin (chất làm da xậm).
Về phương diện hóa học, hydroquinone = 1,4 -benzenediol, còn gọi là p-dihydroxybenzone, được xếp vào nhóm monobenzone. (Hydroquinone có thể được ghi trên các nhãn dưới nhiều tên khác nữa như Quinol, Benzene-1, 4-diol, p-Diphenol, Hydrochinone, Hydrochinonium, Tequinol..)
Hydroquinone là tác nhân thông dụng nhất được dùng trong các kem thoa làm bớt màu xậm của da, đồng thời cũng được xem là tiêu chuẩn cho các chất làm trắng da. Có nhiều thử nghiệm đã chứng minh sự hữu hiệu của hydroquinone, khi dùng riêng rẽ và cả khi dùng phối hợp với các hoạt chất khác, hoặc với các kỹ thuật làm nhạt màu da khác. Hydroquinone tác động bằng ức chế men Tyrokinase, do đó ngăn chặn sự tổng hợp sắc tố melanin. Hydroquinone không phải là một chất tẩy da, vì không tác động trực tiếp trên melanin. Hydroquinone không tác động ngay, nhưng đòi hỏi một thời gian nhiều tuần lễ đễ chờ cho các melanin đang có mất đi dần và không được thay thế bằng melanin mới (do bị hydroquinone ngăn chặn sự sản xuất). Để giúp gia tăng tiến trình loại melanin, một số thành phẩm đã phối hợp thêm các chất giúp lột da (exfoliants) như alpha-hydroxy-acid (xem bài kem dưỡng da). Tuy nhiên vì hydroquinone và AHA đều là những chất có thể gây ngứa và mẫn cảm cho da, nên sự phối hợp có thể gây thêm các phản ứng bất lợi.
Một số thử nghiệm trên thú vật cho thấy hydroquinone khi dùng ở liều cao có thể gây ung thư (loại leukemia nơi chuột), đồng thời có thể gây chứng ochronosis làm da biến màu, trở thành màu đen-lam nhạt (blueish)  (một biến chứng khác thường xẩy ra hơn là vùng da bị 'tẩy' bởi hydroquinone trở nên nhạt hơn vùng da chung quanh). Hội chứng Ochronosis tương đối hiếm và xẩy ra khi dùng liều quá cao hydroquinone, tuy nhiên lại dễ xẩy ra cho người da màu.  Một nghiên cứu tại Nam Phi ghi nhận 69 % những người dùng hydroquinone ở nồng độ 6-8 % bị Ochronosis. Do các phản ứng phụ bất lợi trên, hydroquinone đã bị cấm tại một số quốc gia tại Âu châu như Pháp. Cộng đồng chung Âu châu cấm dùng hydroquinone từ 2001.
Hydroquinone có thể dùng riêng rẽ (2-4 %) hoặc dùng phối hợp với azelaic acid (0.05-0.1 %) Kem thoa dưới dạng mỹ phẩm chỉ chứa 2 % hydroquinone. Kem chứa 4 %, tại Hoa Kỳ, được xếp vào thuốc trị bệnh, cần có toa bác sĩ.. Riêng tại Canada, Nhật, kem chứa từ 2 đến 4 % hydroquinone đều được bán tự do..
Trên thị trường dược phẩm Hoa Kỳ có các đặc chế loại generic như Hydroquinone 4 % (Perrigo),  và loại tên hiệu (brand name) như Eldoquine forte, Melquin, Lustra..
Lustra AF  chứa ngoài hydroquinone 4 %, còn có avobenzone  một hóa chất chống nắng (xem bài Kem chống nắng). Lustra và Lustra AF đều có thêm các chất tạo độ ẩm cho da như glycerine, glycolic acid (Lustra được bán theo toa tại Hoa Kỳ).
Tại Canada: Lustra được bán tự do và còn có những sản phẩm khác chứa 4 % hydroquinone  cũng bán tự do như Neostrata HQ 4 %, Neostrata HQ 4 % plus SPF, Glyquin XM Ultraquin 4 %..     
Một đặc chế được các bác sĩ ghi toa tại Hoa Kỳ là Tri-Luma.
Công thức: 1 gram kem  chứa các hoạt chất gồm 40 mg hydroquinone 4 %, 0.1 mg  fluocinolone acetonide  0.01 % và 0.5 mg tretinoin 0.05 %.
Tri-Luma  là thuốc chính thức được FDA chấp thuận để trị các vết nám, hiệu nghiệm đã được chứng minh bằng các thử nghiệm lâm sàng. Tuy nhiên hiện nay Tri-Luma 'tạm văng mặt trên thị trường' với lý do rắc rối về bào chế. Tri-Luma  đã được Công ty Galderma thu hồi từ tháng 8 năm 2010. Tri-Luma được sản xuất tại Viện Bào chế Hill Dermaceuticals (Florida) FDA đã tìm ra một trong những hoạt chất do Hill sử dụng trong quá trình bào chế không đạt tiêu chuẩn về nồng độ và hoạt tính Hill Dermaceuticals bị tạm đóng cửa để chờ giải quyết những vấn đề kỹ thuật FDA đòi hỏi..Thông báo mới nhất của Công Ty Galderma (tháng 2/2013) cho biết Tri-luma..vừa được cho phép tái sản xuất..
2 - Arbutin :
Về phương diện hóa học, Arbutin có thể được xem vừa là một ether vừa là một glycoside. Arbutin hay arbutoside theo danh pháp hóa học là hydroquinone-beta-D-glucopyranoside. Arbutin khi thủy giải sẽ phóng thích hydroquinone và được xem là ít gây phản ứng phụ hơn là hydroquinone nguyên dạng, khi dùng cùng một nông độ có lẽ do phản ưng thủy giải được diễn ra từ từ. Các nghiên cứu đã định tỷ lệ hữu hiệu của Arbutin là trong khoảng 3-7 %. (The Journal of Pharmacology and Experimental Therapeutics Số 2-1996)
Arbutin có những dạng đồng phân như alpha-arbutin, beta-arbutin  và còn có thêm dạng desoxy-arbutin. Beta-arbutin thường được gọi là Bearberry extract.. Dạng alpha có hoạt tinh ổn định hơn nên thường được sử dụng nhiều hơn.
Tuy arbutin thật sự có hoạt tính ức chế tyronidase, làm giảm lượng melanin nhưng hiện nay chưa có những nghiên cứu so sánh trực tiếp sự hữu hiệu giữa arbutin và hydroquinone.
Arbutin có nguồn gốc từ những cây cỏ như :
Mitracarpus scaber.
Arctostaphylo suva-ursi (Bearberry)
Morus bombycis (Mulberry)
Morus alba (white mulberry)= Dâu tằm
Broussonetia papyrifera (paper mulberry)= Dướng
Vỏ quả lê
Hiện nay do những trở ngại về vấn đề 'bằng sáng chế' (patent) đã cầu chứng nên đa số các công ty mỹ phẫm sử dụng các trích tinh từ cây cỏ chứa arbutin thay vì arbutin nguyên dạng. Việc sử dụng này đưa đên những vấn đề về tiêu chuẩn hoạt chất có trong sản phẩm (các trích tinh cây cỏ trên có thể còn chứa thêm những chất ..khác hơn là arbutin..)
Dịch chiết từ rễ cây dướng (Paper mulberry extract) có chứa các hoạt chất thuộc nhóm phenyl và polyhydroxyl mono hay bis-phenyl  Một thử nghiệm nhỏ ghi nhận dịch chiết  ở nồng độ 0.4 % co khả năng ức chế tyrosinase đến 50 % (so với hydroquinone phải cần đến 5.5 % và kojic acid cần 10 %). Nồng độ cao của paper mulberry extract đến 1 %, không gây những phản ứng khó chịu , mẫn cảm cho da.
3- Kojic acid :
Kojic acid là một sản phẩm phụ lấy được từ tiến trình ủ gạo để sản xuất rượu Sake tại Nhật.. Kojic acid được sản xuất bởi nhiều loại nấm mốc như Aspergillus orizae (tại Nhật được gọi là koji). Kojic acid cũng có thể được sản xuất bằng các phương pháp sinh tổng hợp như phân giải glucose bằng men dehydratase. Kojic acid có hoạt tinh ức chế sự tổng hợp sắc tố (như melanin) nơi mô tế bào thực vật và động vật. Trong nông nghiệp kojic acid được dùng đễ giữ trái cây đã hái khỏi cành chậm chuyển sang màu nâu. Trong công nghiệp thực phẩm kojic acid giúp giữ màu hồng và đỏ tươi cho cá và hải sản sau khi đánh bắt.
Về phương diện hóa học, phân tử kojic acid không bền, khi tiếp xúc với không khí hay ánh sáng, bị chuyển sang màu đỏ và mất hoạt tính. Các nhà sản xuất mỹ phẩm thường dùng dạng dipalmitate, được xem là dễ pha chế hơn.
Kojic palmitate là một chất chống oxy hóa khá tốt. Một số nghiên cứu khoa học ghi nhận Kojic acid có khả năng gây ung thư khi dùng những liều thật cao (thử nghiệm cho chuột dùng kojic acid lượng cao, trong 26 tuần, gây ung thư gan cho chuột) (Toxicology Sciences Sô tháng 9-2004)  Tại Nhật, từ 1989, có nhiều loại kem làm trắng da dùng hoạt chất từ kojic acid. Hàm lượng thường dùng : 1-4 %
4- Azelaic acid :
Azelaic acid là một hoạt chất tự nhiên, thuộc nhóm dicarboxylic acids, nguồn gốc từ hạt ngũ cốc (lúa mì, lúa mạch, lúa miến), thường dùng trong mỹ phẩm để trị mụn trứng cá. Azelaic acid cũng có hoạt tính ức chế men Tyrosinase, đồng thời ngăn chặn sự sinh sản của những tế bào melanocyte bất thường bằng cách làm giảm sự tổng hợp DNA. Azelaic acid đã được dùng trong các kem làm trắng da trị các vết nám, tàn nhang (International Journal of Dermatology Số 12-1991). Kem chứa azelaic acid không tác dụng trên da  bị nám do các tiến trình bình thường, và có thể chỉ có hoạt tính trong các trường hợp da nám do sự biến đổi bất thường của melanocytes..
Tại Hoa Kỳ, Azelaic acid (nồng độ 20 %) được phép dùng trong các thuốc trị mụn trứng cá (xem bài Kem trị mụn), tuy nhiên đôi khi được các bác sĩ cho toa để trị nám (off-label). Azelaic acid hầu như không tác dụng trên age spots..
Một nghiên cứu tại Nam Mỹ, trong 24 tuần thử nghiệm, ghi nhận sản phẩm chứa 20 % azelaic acid có hoạt tính tương đương với hydroquinone 2 % trong việc điều trị melasma. Tại Philippines, thử nghiệm tương tự cho rằng azelaic acid (20 %) tác động mạnh hơn hydroquinone (2 %) và thich hợp cho những người dị ứng với hydroquinone.. (Journal of the American Academy of Dermatology Số 5-2006)
5- Glabridin :
Glabridin, một hoạt chất trong phần tan trong nước của trích tinh cam thảo , có hoạt tính ngăn chặn sự tổng hợp melanin, có lẽ cũng do ức chế tyronidase. Glabridin được dùng trong kem xóa vết nám tại một số nơi trên thế giới. Glabridin được xếp vào loại hóa chất khá an toàn khi dùng ngoài da, tuy nhiên cho đến nay, chưa có các nghiên cứu để ứng dụng rộng rải hơn trong mỹ phẩm.
Glabridin và các hoạt chất khác trong cam thảo còn có khả năng chống sưng do ức chế sự tổng hợp của các anions superoxyde và ngăn chặn sự hoạt động của cyclo-oxygenase, nên có thể giúp da tốt hơn.. Vài mỹ phẩm có thể ghi tên hoạt chất là DG Licorice root hay Licorice root extrach..
6-Các hoạt chất khác :
Ngoài các hoạt chất trên, một số các hoạt chất khác cũng được dùng, tuy không thông dụng, để trị các vết nám. Các hoạt chất này có thể được pha trộn thêm vào các mỹ phẩm và có thể được quảng cáo là giúp tăng sự hiệu nghiệm cho sản phẩm (xin lưu ý là mỹ phẩm không phải là thuốc, nên không cần chứng minh sự hiệu nghiệm theo tiêu chuẩn của FDA) :
Vitamin C: Vitamin C và các chất chuyển hóa trong nhóm ascorbic acid như magnesium ascorbyl phosphate, sodium ascorbyl phosphate..được xem là những chất chống oxy-hóa mạnh cho da, giúp da trở thành nhạt hơn. Vitamin C làm tăng nồng độ gluthathione trong cơ thể. Thử nghiệm cho chuột bọ dùng hỗn hợp vitamin C, vitamin E, L-cysteine..làm da trỏ thành nhạt hơn (BioFactors Số 21-2004).
Cinnamomum subavenium: Quế gân to= Re thơm . Cây đang được nghiên cứu để làm thuốc làm nhạt da. Hoạt chất trong cây có tác dụng ức chế tyrosinase. Các nghiên cứu dựa trên thử nghiệm tại ĐH Y-khoa Kaohsiung (Taiwan) cho thấy dịch chiết từ cây có khả năng làm mất màu những sọc trên thân cá zebrafish (NewYork Times 29 March 2011)
Niacinamide: Một số công ty mỹ phẩm dùng Niacinamide (còn gọi là Vitamin B3) trong kem làm nhạt da. Riêng các loại kem thoa trong vùng da bộ phận sinh dục, Niacinamide hoạt động bằng cách ngăn chặn sự chuyển vận melanosome từ các tế bào melanocytes sang tế bào keratinocytes.
Theo Procter & Gamble, Niacinamide an toàn, làm giãm mụn trứng cá, tăng độ ẩm cho da, mờ vết nhăn (Procter & Gamble : Skin lightening Products)
Tretinoin và Alphahydroxy acids (Xin xem lại các bài Kem dưỡng da, Kem xóa vết nhăn)
Thủy ngân: Dạng thường dùng là Mercury (II) Chloride và Ammnoniated Mercury. Những chất này đã bị cấm dùng trong kem làm trắng da tại Âu châu từ 1976 và tại Hoa Kỳ từ 1990 do những phản ứng độc hại. Tuy nhiên tại nhiều quốc gia Á châu, vẫn được sử dụng trong mỹ phẩm.
Hổn hợp trích tinh của nhiều dược thảo: Các nhà sản xuất mỹ phẩm còn dùng những hỗn hợp triích tinh (dù chưa có những nghiên cứu và thử nghiệm về mức độ hiệu nghiệm của các hoạt chất) như :
- Biowhite Mulberry Grape Juice : hổn hợp trích tinh mulberry,  rễ scutellaria, rễ saxifraga, quả nho..
- Gigawhite : quảng cáo là dùng trích tinh từ 7 cây thuốc trồng trong vùng núi Alps của Thụy Sĩ gồm Malva sylvestris, Mentha piperita (Bạc hà), Primula veris, Alchemilla vulgaris, Veronica officinalis, Melissa officinalis và Achillea mille folium.. Đây là những cây có chứa tinh dầu.. Gigawhite 5 % được 'cho là' có khả năng làm nhạt vết nám sau 12 tuần và không gây mẫn cảm cho da (?)
Vài điều cần biết khi dùng Kem xóa vết nám :
Theo tài liệu của Mayo Clinic, trươc khi dùng kem xóa vết nám cần phân biệt các ' đốm và vệt bất thường' xuất hiện trên da như :
* Nốt ruồi (moles) : đốm thường nhỏ và có màu nâu đỏ, có thể hơi nhô cao hay phẳng, xuất hiện trên toàn thân..
* Seborrheic keratoses : Đốm dạng mụn cóc màu nâu hay đen có thể rất nhỏ và có thể lớn đến 2.5 cm.
* Lentigo maligna : Một dạng ung thư da loại melanoma nơi những vùng da bị tác hại do tia nắng trong thời gian kéo dài. Vết nám có thể khởi đầu bằng vết lở màu nâu hay đen và lớn dần, vùng ven của vết không đều, màu không đồng nhất và hơi nhô lên..
Không dùng kem xức nám trên các đốm, vệt bất thường kể trên.

Điều căn bản khi dùng bất kỳ loại kem nào lần đầu tiên là thử thoa kem vào một vùng da non bên trong cánh tay hay nơi bắp đùi để thử phản ứng bất thường có thể xẩy ra. Chờ phản ứng cơ thể trong 24 giờ.
Khi dùng Kem xóa vết nám có chứa Hydroquinone cần lưu ý :
- Để có thể công hiệu cần thoa kem mỗi ngày, và để tránh các phản ứng phụ không nên dùng kem trong thời gian kéo dài quá 6 tháng.
- Cần dùng phối hợp với Kem chống nắng loại đa phổ có SPF  từ 30 trở lên (Xem bài Kem chống nắng)
- Không dùng kem chứa Hydroquinone khi có thai và khi cho con bú. Không dùng nơi trẻ em dưới 12 tuổi.
Khi thoa kem xoa nám có thể sẽ bị những phản ứng loại mẫn cảm tạm thời như ngứa, nổi mẫn đỏ, da bị khô..
Cần xem kỹ công thức các 'mỹ phẩm' nhất là phần tá dược (inactive ingredients), loại chứa sulfites có thể gây kích khởi các cơn suyễn..
Một số kem trị vết nám (loại mỹ phẩm) từ Âu châu và Nhật tuy ghi là 'skin whitening' nhưng còn ghi thêm 'skin looks whiter'..'da thấy trắng hơn'  chỉ là một kỹ thuật quảng cáo tránh sản phẩm khỏi bị kiện cáo vì..vô hiệu. Không có tiêu chuẩn nào để xác nhận là da.. thấy trắng hơn ?.
Cũng cần chú ý đến hàng chữ 'Dermatologist approved' , 'Dermatologist recommended'  trên hộp mỹ phẩm. Cũng chỉ là một kỹ thuật 'moi tiền' tạo niềm tin cho người tiêu thụ vì 'mỹ phẫm' theo định nghĩa, không phải là thuốc, nên không buộc phải chứng minh sự hiệu nghiệm..Muốn ghi chữ Dermatologist approved..chcần 'nhờ' một (01) BS về da..đồng ý là đủ..Danh từ 'Clinical proven, Clinical tested '  (Đã được chứng minh.. bằng thử nghiệm)  cũng chẳng có giá trị gì vì thử nghiệm..như thế nào và tại đâu..cũng không cần phải chứng minh..