Home‎ > ‎Lịch Sử‎ > ‎

Lịch Sử Và Nguồn Gốc Chữ Hán

Trả lại sự thật cho lịch sử. Ai sáng chế ra chữ Hán?

TRẦN BÍCH SAN


Chữ Hán, chữ Tàu hay chữ Trung Hoa chỉ là một, chữ Nho cũng là chữ Hán nhưng bị Việt hóa. Nước Tàu gồm sáu giống dân Hán, Việt, Mãn, Mông, Tạng, Hồi hợp thành. Riêng giống Hán (giống Hoa Hạ, gốc người nước Sở) [01] mạnh hơn nên đã đồng hoá năm sắc dân kia và dùng thứ chữ họ chiếm đoạt được của Bách Việt làm quốc tự. Triều đại nhà Hán, gồm Tây Hán (202 TTL - 08 STL) và Đông Hán (25 STL - 220 STL) là một triều đại huy hoàng, dài hơn 400 năm, ánh sáng văn minh rực rỡ chiếu tỏa sang các nước láng giềng. Do đó người Tàu rất tự hào về thời đại hoàng kim này, họ xưng là Hán tộc, chữ viết gọi là chữ Hán.


LỊCH SỬ TIẾN TRÌNH BÁCH VIỆT BỊ XÂM CHIẾM

BẢN ĐỒ PHÍA BẮC NƯỚC TÀU THỜI TAM QUỐC: nước Sở nằm ở đoạn giữa sông Trường Giang, vùng Nam - 
Bắc Động Đình Hồ (Hồ Bắc - Hồ Nam của Trung Hoa ngày nay) quen gọi
là vùng Kinh Sở.


Từ đời nhà Thương 商朝 [02], trong văn tự chỉ có một chữ Việt (nghĩa là cái rìu, do bộ tộc
này sử dụng rìu). Về sau, vào thời Xuân Thu Chiến Quốc
春秋 戰國 bắt đầu trong văn tự có
hai chữ Việt: chữ
Việt bộ tẩu (đi, chạy) và chữ Việt bộ mễ (lúa) đều chỉ dân tộc Việt.
Chữ Việt
bộ tẩu chỉ tên nước Việt có lãnh thổ ở vùng bắc Triết Giang, Chữ Việt bộ tẩu này
cũng là tên của bộ tộc Mân Việt (Phúc Kiến), Điền Việt (Vân Nam, Quảng Tây), Nam Việt
(Triệu Đà), Âu Việt và Lạc Việt (Việt Nam ngày nay). Chữ Việt
bộ mễ dùng chỉ tên cư dân
vùng Quảng Đông, Hồng Kông, Ma
Cao. Vì thời cổ có rất nhiều bộ tộc Việt nên sử sách
Trung Hoa gọi chung là Bách Việt
百越 hoặc 百粤 tuy trên thực tế chưa hẳn đã có đủ 100 bộ
tộc giống Việt [03]
. Trong lịch sử Trung Hoa, toàn bộ vùng đất Giang Nam thời Tần - Hán
đều là nơi cư ngụ của các bộ tộc Bách Việt.

Tiến trình Bách Việt bị xâm chiếm có thể chia làm 3 giai đoạn chính:

Giai đoạn 1 (1042 TTL - 306 TTL) từ thời nước Sở lập quốc đến lúc thôn tính nước Ngô Việt
(nước Sở nằm ở đoạn giữa sông Trường Giang, vùng Nam Bắc Động Đình Hồ, quen gọi là vùng Kinh
Sở
) giai đoạn này người Hán chiếm được vùng Bách Việt từ Hoàng Hà xuống đến Ngũ Lĩnh.

Hai nước Ngô - Việt là hai tộc Bách Việt được sử sách ghi chép rất sớm [04]. Nước Ngô 吴国 còn gọi là Cú Ngô 句吴, Công Ngô 工吴,攻吾 lập quốc vào thời Chu Vũ Vương (thế kỷ 12 TTL), kinh đô ở Tô Châu 苏州 ngày nay, thủy tổ là Ngô Thái Bá 吳太伯 truyền đến Phù Sai夫差 thì bị diệt vong bởi nước Việt (473 TTL).

Nước Việt có từ thời nhà Thương, tuy không tham gia vào sự kiện Vũ Vương Phạt Trụ (1046 TTL), nhưng sử có ghi trước đó đã là tân khách của Chu Thành Vương 周成王(1132 TTL - 1083 TTL). Nước Việt có một văn hóa dân tộc đặc sắc, gọi là văn hóa Mã Kiều 馬橋文化 mà các chứng tích đã tìm thấy khi khai quật di chỉ Thái Hồ 太湖地區.

Nước Việt đóng đô ở Cối Kê 會稽 (Thiệu Hưng ngày nay) truyền đến đời Câu Tiễn句踐 (496 TTL - 464 TTL) sau khi diệt được nước Ngô năm 473 TTL, nước Việt mở rộng bờ cõi, phía bắc chiếm Giang Tô 江蘇, phía nam đoạt Mân Đài 閩台 (tức Phúc Kiến ngày nay), đông giáp Đông Hải 東海, tây đến Hoàn Nam 皖南 (phía Nam An Huy ngày nay), hùng cứ một cõi đông nam. Đến năm 306 TTL, nước Sở 楚國 (giống Hoa Hạ) nhân nước Ngô Việt dưới triều vua Vô Cương có nội loạn, bèn liên kết với nước Tề 齊國 tiến chiếm nước Ngô Việt, đổi thành quận Giang Đông, nước Ngô Việt bị tiêu diệt từ đó [05]. 

Nền văn minh Ngô Việt sau khi bị nước Sở tiêu diệt, một phần người Ngô Việt chạy ra biển sang Nhật. Một phần theo bộ phận tinh hoa Ngô Việt chạy xuống phía Nam hợp cùng dân Việt bản địa, thành ra văn minh Việt kéo từ Lĩnh Nam (phía nam dãy Ngũ Lĩnh [06], tức bắc Lưỡng Quảng ngày nay) đến Giao Chỉ. Nhiều từ cổ của người nước Ngô Việt hiện vẫn còn thông dụng trong tiếng Việt Nam ngày nay, thí dụ các từ: chết, chó, đồng (đồng cốt), sông, khái (hổ), ngà (ngà voi), con (con cái), ruồi, đằm (đằm ướt), sam (con sam), biết, bọt, bèo…[07].

Trước khi Tần Thủy Hoàng diệt được sáu nước, dẹp nhà Chu, thống nhất Trung Hoa (221 TTL) thì dân Hoa Hạ (Hán tộc) chỉ chiếm lĩnh và đồng hóa được dải đất từ Hoàng Hà xuống đến Ngũ Lĩnh, còn từ Kinh Sở trở về Tây, Tây Nam (Vân Nam) vẫn còn thuộc về Điền Việt, Tây Âu, Đại Lý, từ Ngũ Lĩnh trở về Nam gồm Lưỡng Quảng, Giao Chỉ, Hải Nam (gọi tắt là Lĩnh Nam) thuộc về Âu Việt và Lạc Việt.

Giai đoạn 2 (306 TTL - 111 TTL)
từ khi chiếm nước Ngô Việt đến lúc chiếm Lĩnh Nam:
giai đoạn này người Hán chiếm vùng Bách Việt từ Ngũ Lĩnh xuống phía Nam gồm Lưỡng Quảng, Giao Chỉ, Hải Nam.

 Sau khi diệt được Sở, nhà Tần cử đô úy Triệu Đà quản lĩnh Quế Lâm, Tượng Quận. Nhân khi mọi nơi nổi lên chống nhà Tần, năm 204 TTL Triệu Đà chiếm lấy Lĩnh Nam lập ra nước Nam Việt,
đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Châu), rồi đánh chiếm Âu Lạc của Thục An Dương Vương nhà Thục. Nước Âu Lạc từ đó nhập vào nước Nam Việt. Triệu Đà giữ độc lập với nhà Hán được 92 năm, truyền 5 đời vua, đến đời vua Triệu Kiến Đức, thừa tướng là Lữ Gia thì mất vào tay Hán Vũ Đế năm 111 TTL. Một dải Lĩnh Nam và Đông Hải bị Hán chiếm ngoại trừ Lạc Việt [08]. Lạc Việt (nước
Việt ngày nay) bị người Hán đô hộ hơn 1000 năm nhưng vẫn giành được độc lập và giữ được bản sắc, nền văn hóa riêng.

Giai đoạn 3 (306 TTL - 1253 STL) từ khi chiếm Lĩnh Nam đến lúc chiếm tây nam Kinh Sở:
giai đoạn cuối này do người Mông Cổ chiếm vùng Bách Việt từ Kinh Sở về phía Tây Nam (Vân Nam) gồm Điền Việt, Tây Âu, Đại Lý.
 

Các nước Bách Việt trong vùng này mãi đến giữa thế kỷ 13 STL vẫn còn giữ được nền độc lập dù người Hán có tiến hành nhiều cuộc xâm lăng nhưng bất thành. Năm 1253, Mông Cổ chiếm Đại Lý, Vân Nam, rồi sau đó chiếm nốt Trung Hoa, lập ra nhà Nguyên, thì vùng Bách Việt phía tây nam
mới hoàn toàn nhập vào Trung Hoa.
 

Tóm lại, trong tiến trình xâm chiếm các nước Bách Việt, người Hán thực hiện hai giai đoạn đầu, giai đoạn cuối do sự tình cờ của lịch sử, Mông Cổ vô tình đã giúp giống Hán hoàn tất giấc mộng bành trướng của họ.

LỊCH SỬ CHỮ HÁN

Căn cứ vào loại Giáp Cốt Văn (1300 TTL) cổ nhất của Tàu và nguồn gốc sự hình thành văn tự loại chữ tượng hình của dân Sumériens trong thung lũng sông Euphrate (thuộc lãnh thổ Iraq ngày nay), các sử gia Tây phương cho rằng chữ Hán xuất xứ từ chữ của dân Sumériens (có vào khoảng 4000 TTL). Người Tàu, trái lại, quả quyết chữ Hán do chính họ nghĩ ra. Theo cổ sử Trung Hoa, sử thần Thương Hiệt đời Hiên Vương Hoàng Đế (khoảng 2700 TTL) nhìn vết chân chim nghĩ ra chữ viết thay thế lối Kết Thằng đời thái cổ là lối ghi nhớ công việc lớn nhỏ bằng cách thắt nút ( kết thẳng). Một số học giả cho rằng Thương Hiệt chỉ có công sưu tập và hệ thống hóa một thứ chữ đã có sẳn từ trước mà thôi [09].


Đến khoảng năm 800 TTL, đời nhà Chu, thái sử họ Lựu đặt ra lối Đại Triện thường được gọi là Lựu văn. Đến năm 213 TTL, đời nhà Tần, thừa tướng Lý Tư lại đặt ra lối Tiểu Triện. Cũng trong đời Tần, Trình Mão nghĩ ra Lệ Văn. Đến đời nhà Hán, Hứa Thận hệ thống các loại chữ Tiểu Triện, Đại Triện, Lệ Văn thành 540 bộ thủ theo ý nghĩa trong sách Thuyết Giải Văn Tự của ông. Chung Do, đời Tam Quốc, tạo thêm lối viết Chân, và Vương Hi Chi, đời Tấn, tạo ra lối viết Thảo.

Từ đó chữ Hán dừng lại ở bốn lối viết Chân, Thảo, Lệ, Triện, tuy nét chữ có khác nhưng hình dạng vẫn giống nhau. Chân là chữ viết chân phương (standard), dùng trong việc học hành, thi cử, in sách báo. Thảo là chữ viết ngoáy, viết tháu nên không đủ nét, đủ hình (Đá Thảo là chữ viết hơi ngoáy, hơi tháu một chút nhưng vẫn giữ được nét chân phương). LệTriện (phân ra Tiểu TriệnĐại Triện) là loại chữ cổ kính thường dùng viết trên bia, ấn tín, đối trướng hay cáo sắc hoàng đế.

Vào năm 800 TTL, chữ Hán có khoảng 3,300 chữ. Đầu thế kỷ thứ nhất sau tây lịch được 7,380 chữ. Đến thế kỷ thứ hai tăng lên khoảng 10,000 chữ. Khi bộ tự điển Khang Hi ra đời vào năm 1716 chữ Hán đã có tới 47,000 chữ. Ngày nay, tự điển Tiêu Chuẩn Nhà Nước Trung Quốc (2005) có 70,217 chữ, Trung Hoa Tự Hải có 85,568 chữ.


CÁCH VIẾT VÀ CẤU TẠO CHỮ HÁN 

Chữ Hán là loại chữ tượng hình, nhìn vào ta hình dung được người, cảnh, vật. Mỗi chữ là một bức họa, gợi tưởng tượng của người đọc, "vọng văn sinh nghĩa" đem lại thi hứng cho văn nhân. Văn thi sĩ phóng bút để lại đời sau những thư họa với đường nét như hội hoạ. Tranh thủy mặc không thể thiếu thủ bút bay bướm tài hoa của tác giả. Vương Hi Chi đời Tấn (thế kỷ thứ 4) là một đại danh bút chữ Thảo. Chữ ông viết đẹp quán quân kim cổ để lại những tuyệt tác muôn đời. Nổi tiếng nhất là đường nét Đại Thảo trong bài tựa tập Lan Đình [10] ông dùng bút pháp Hành Thư chữ viết tuôn chảy sinh động như đi trên giấy.

Về phương diện hình thức, chữ Hán có tính cách tề chỉnh, đều đặn, song song và đối xứng. Mỗi chữ Hán được hạn chế trong một ô vuông diện tích bằng nhau. Các nét của một chữ được viết theo nguyên tắc từ trái qua phải, từ trên xuống dưới. Các chữ được viết từ trên xuống dưới theo hàng dọc, hàng chữ bên cực phải là hàng đầu tiên, hàng chữ bên cực trái là hàng cuối cùng của một trang. Trang bìa ngoài của một quyển sách chữ Hán nằm ở vị trí trang bìa sau của một quyển sách chữ quốc ngữ.

Chữ Hán được cấu tạo bằng sáu nguyên tắc gọi là Lục Thư, gồm ba nguyên tắc về hình thức 
và ba nguyên tắc về âm thanh:
Ba nguyên tắc về hình thức:
1. Tượng Hình: chữ vẽ nên vật, nương theo hình thể mà ra (họa thành kỳ vật, tùy thể cật chuất)
2. Chỉ Sự: trông mà biết được, xem thời rõ ý (thị nhi khả thức, sát nhi khả ý).
3. Hội Ý: loại chữ được thành lập bởi sự phối hợp hai hoặc nhiều chữ căn bản, hợp ý các thành phần mà làm ra nghĩa (tỷ loại hội nghị, dĩ kiến chỉ huy).

Ba nguyên tắc về âm thanh:
1. Hình Thanh: tập hợp của hai chữ, một chỉ âm,một chỉ hình, lấy việc gọi tên lấy thí dụ mà tạo thành (dĩ sự vi danh, thú thí tương thành).
2. Chuyển Chú: dùng một chữ có sẵn tạo thành một chữ tương tự với nghĩa gần giống.
3. Giả Tá: mượn một chữ có sẵn để đọc theo cách khác.

Trong Lục Thư thì hai loại Giả Tá và Chuyển Chú không phải là cách tạo lập chữ vì không tạo ra chữ mới mà chỉ dùng các chữ đã có sẵn tạo nên những ý mới, nghĩa mới, hoặc cách đọc mới mà thôi.


LỊCH SỬ CHỮ HÁN Ở VIỆT NAM
Chữ Hán được người Việt gọi là chữ Nho nghĩa là người có đi học (Nho sinh). Trước khi có Chữ Quốc Ngữ, chữ Hán được dùng làm quốc tự, theo sử sách, đã theo gót chân quân xâm lược của hai tướng nhà Hán vào nước ta. Năm Canh Ngọ 111 TTL, Hán Vũ Đế sai Lộ Bác Đức và Dương Bộc đem năm đạo quân sang đánh lấy nước Nam Việt. Triệu Dương Vương và quan Thái Phó Lữ Gia thua chạy bị quân Hán bắt và giết chết [11]. Sau khi chiếm được nước Nam Việt, nhà Hán đổi thành Giao Chỉ Bộ, chia làm 9 quận cắt đặt các Thái Thú cai trị và Thứ Sử để giám sát các quận.
Chữ Hán dần dần được truyền bá kể từ thời kỳ Bắc Thuộc lần thứ nhất này. Đời Hán Quang Võ, Tích Quang, Thái Thú quận Giao Chỉ (01 STL - 05 STL) mở trường dạy dân ta lễ nghĩa. Nhâm Diên, Thái Thú quận Cửu Chân (29 STL - 33 STL) dạy dân ta về lễ giá thú. Sĩ Nhiếp, Thái Thú quận Giao Chỉ
(187 STL - 226 STL) được suy tôn là "Nam Bang Học Tổ" vì có công lớn trong việc truyền bá chữ Hán và đạo Nho. Ông là một người Việt Nam đã chăm lo mở mang việc giáo dục, mở trường học, giảng kinh truyện khiến cho dân ta "thông thi thư, tập lễ nhạc, trở nên một nước văn hiến bắt đầu từ đây" [12].

Ngoài ra, phải kể đến một số quan lại, sĩ phu nhà Hán, chạy sang nước ta tránh loạn Vương Mãng (09 STL - 23 STL) và trong thời Tam Quốc phân tranh, đã giúp các Thái Thú truyền bá chữ Hán và văn hoá Tàu cho dân ta [13]. Cũng phải kể đến các nhà sư Tàu, những người Việt Nam qua Tàu học thành tài như Trương Trọng, Lý Tiến, Lý Cầm, Khương Công Phụ đã đem những điều học được truyền lại cho dân chúng.

Trên thực tế, đúng ra chữ Hán đã hiện diện ở Việt Nam từ thời Triệu Đà. Triệu Đà, giữ chức Đô Úy, được vua Tần cho quản lĩnh Quế Lâm và Tượng Quận, năm 204 TTL chiếm lấy Lĩnh Nam lập ra nước Nam Việt. Năm Quí Tỵ 207 TTL Triệu Đà đem quân đánh lấy nước Âu Lạc. Thục An Dương Vương thua chạy bị quân Triệu đuổi đến núi Mộ Dạ (thuộc huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An bây giờ), thế cùng lực kiệt phải chém chết con gái là Mị Châu rồi nhảy xuống biển tự vận. Triệu Đà sát nhập nước Âu Lạc vào nước Nam Việt, cắt đặt quan lại, đem chính trị, pháp luật của Tàu cai trị. Công văn, bố cáo, bạ thư, luật dịch, điển lệ phải dùng Hán tự làm phương tiện truyền đạt. Các quan lại người Việt thời đó phải học chữ Hán để làm việc và giao thiệp. Như thế, đến khi nhà Triệu mất về tay Hán Vũ Đế nhà Tây Hán, các Thái Thú Tích Quang, Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp chỉ có công phát triển chữ Hán rộng rãi trong quần chúng trên mức độ qui mô và có phương pháp hơn mà thôi.

CHỮ HÁN LÀ SÁNG TẠO CỦA NGƯỜI VIỆT

Người Việt Nam ngày nay là một trong các dân tộc Bách Việt từng sống ở Giang Nam (phía Nam của sông Dương Tử), đã có một nền văn minh rực rỡ, và chính dân tộc Hán (giống Hoa Hạ, người gốc Sở) tuy chiếm được giang sơn rộng lớn của Bách Việt gồm Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến và đồng hóa dân Bách Việt nhưng ngược lại cũng thấm nhuần một phần văn hóa Bách Việt. Người Hán chiếm được toàn bộ Bách Việt trừ Lạc Việt (Việt Nam ngày nay). Người Hán đã xóa sạch văn tự Việt nhưng không tiêu diệt được ngôn ngữ Việt, ngay cả các bộ tộc Bách Việt còn sống rải rác trên vùng đất cũ bị người Hán xâm chiếm vẫn còn nói tiếng Việt cổ [14].

Năm 1952 các nhà khảo cổ tìm thấy di chỉ ở thôn Bán Pha, Tây An, thuộc tỉnh Sơn Tây ngày nay, một số đồ đất thuộc nền văn hoá Ngưỡng Triều (4000 TTL) có những hình vẽ mà các nhà khảo cổ cho là tiền thân của những chữ tượng hình nguyên thủy.



Người ta cũng tìm thấy ở vùng An Dương, tỉnh Hà Nam nhiều chữ lối cổ thời cuối đời nhà Thương (1300 TTL) viết trên mai rùa và xương thú vật (Giáp Cốt Văn), trên chuông, vạc bằng đồng (Chung Đỉnh Văn). Các chữ này đã có nguyên tắc rõ rệt và vượt qua giai đoạn thuần tuý hình tượng và chỉ sự.



Mới đây, năm 2011, sự phát hiện nhiều chữ cổ Lạc Việt ở di chỉ Cảm Tang tỉnh Quảng Tây là những chứng tích rõ ràng cho thấy người Việt đã sáng tạo ra chữ viết từ hơn 4000 năm trước và bị người Tàu chiếm đoạt khi xâm chiếm Bách Việt.


Tất cả các chứng tích tại di chỉ Bán Pha và Cảm Tang chứng minh chữ Lạc Việt xuất hiện vào đầu thời đại “đồ đá mới” và hình thành vào thời kỳ đỉnh cao của “văn hóa xẻng đá lớn” (từ thế kỷ 40 TTL đến thế kỷ 20 TTL). Tuy nhiên thứ chữ tối cổ đó còn thô sơ mới đang phát triển và ở trong thời kỳ “Tự” [15] thì phải bỏ dở vì bị người Tàu xâm chiếm. Sự thành đạt về chữ viết của Lạc Việt đã được người Tàu tiếp nối. Họ sử dụng chữ cổ Việt làm cơ sở để phát triển tiếp từ giai đoạn “Tự” đã có sẵn sang giai đoạn “Thư” để thành chữ Hán.



CHỮ NHO: CHỮ HÁN BỊ VIỆT HÓA

Chữ Nho là chữ Hán được đọc bằng âm tiếng Việt, khác với người Tàu đọc chữ Hán bằng âm Tàu. Chữ Nho khác chữ Hán ở phần ngữ âm. Người Việt học chữ Hán chỉ cần học mặt chữ, nghĩa chữ và cách viết chữ mà không cần học cách phát âm. Người biết chữ Nho có thể đọc hiểu các thư tịch chữ Hán, viết văn chữ Hán, tuy không nói hoặc nghe hiểu được tiếng Tàu, nhưng vẫn có thể dùng bút đàm để giao tiếp với người Tàu.

Chữ Nho là chữ Hán đã được Việt Nam hóa phần ngữ âm, còn về tự dạng và nghĩa chữ thì y nguyên như chữ Hán. Vì thế, chữ Nho là chữ Hán đã được Việt hóa. Đây là một yếu tố quan trọng khiến người Tàu đã thất bại trong kế hoạch đồng hóa dân Việt dù đã đô hộ nước ta hơn 1000 năm.

TÁC PHẨM CHỮ HÁN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM

Chữ Hán vào Việt Nam đã trở thành thứ chữ chính thức của nước ta kể từ thời Bắc Thuộc đến tận đầu thế kỷ thứ 20. Khoá thi Hội năm Mậu Ngọ 1919 ở Huế được coi như mốc thời gian chính thức cho sự cáo chung nền Hán học. Ngoài một thời gian ngắn chữ Nôm được sử dụng như quốc tự dưới thời Hồ Quí Ly, Nguyễn Quang Trung, và thời gian Nguyễn Ánh còn xưng vương chưa bình định xong Nam Bắc, việc học, việc thi, giấy tờ, công văn, cáo sắc nhất nhất đều dùng chữ Hán. Ngay trong lãnh vực văn học cũng vậy, các sách về sử ký, địa lý, thơ văn, truyện ký đều được biên soạn, trước tác bằng Hán văn. Do đó một vấn đề được đặt ra trên quan điểm biên khảo là "có nên chấp nhận phần Hán văn trong văn học sử Việt Nam hay không?"

Quan điểm đầu tiên do nhóm Nam Phong khởi xướng mà Dương Quảng Hàm là đại diện. Nguyễn Đổng Chi với Việt Nam Cổ Văn Học Sử, Hạo Nhiên Nghiêm Toản với Việt Nam Văn Học Sử Trích Yếu cùng đồng quan điểm. Dương Quảng Hàm cho rằng:"Vì tình hình lịch sử gây nên, hồi xưa các văn gia nước ta học chữ Nho, thi chữ Nho, lúc làm quan lại viết công văn bằng chữ Nho, nói tóm lại lấy chữ Nho làm "chữ ta", nên khi các nhà ấy muốn diễn đạt tư tưởng, tính tình... thường dùng chữ Nho. Vì thế, những tác phẩm viết bằng Hán văn của các bậc tiền nhân nước ta lại có nhiều hơn số tác phẩm viết bằng văn Nôm, mà phần nhiều những sách có quan hệ đến văn hoá nước nhà như chính trị, lịch sử, địa lý, phong tục, lễ nghi v.v. lại viết bằng Hán văn. Bởi vậy, khi xét đến văn học nước ta không thể không xét đến Hán văn được" [16].

Sau này, tác giả Nguyễn Sĩ Tế còn đi xa hơn, đòi phải nhận tất cả những tác phẩm bằng Hán văn, tiếp thu các tác phẩm bằng Pháp văn của người Việt vào văn học sử kể cả kinh Phật, triết lý, sử ký, địa lý [17].

Một số nhà biên khảo khác mà tiêu biểu là Phạm Văn Diêu, tác giả Văn Học Việt Nam, đã gạt phần Hán văn ra khỏi văn học Việt Nam. Phái này lý luận rằng văn chương Việt Nam phải được viết bằng thứ chữ nước mình, văn học sử Việt Nam chỉ nghiên cứu những tác phẩm viết bằng thứ chữ của người Việt. Hán tự không phải là chữ của ta mà là vay mượn của Tàu trong một đoạn lịch sử, do đó những tác phẩm viết bằng Hán văn, hay bằng bất cứ một thứ ngoại ngữ nào khác, không thể chấp nhận vào văn học Việt Nam được.

Phạm Thế Ngũ tuy có chiều hướng đồng ý với Phạm Văn Diêu nhưng ông vẫn cho phần văn học Hán văn vào trong tác phẩm của ông vì “với hai mươi thế kỷ thì có tới mười chín thế kỷ rưỡi Hán học chi phối mạnh mẽ văn chương chữ nghĩa của ta. Hơn nữa, không thể coi chữ Hán là một ngoại ngữ bởi những áng văn quan trọng trong lịch sử quốc gia tuy viết bằng chữ Hán, như Bình Ngô Đại Cáo chẳng hạn, dào dạt cả một linh hồn dân tộc. Vài trăm năm nữa khi văn học nước ta thực hiện được năm bảy giai đoạn sáng tác rực rỡ, phần Hán văn chắc chắn sẽ rơi vào quên lãng hoặc chỉ được coi là dấu vết một thời đại xa xưa mà văn học Việt Nam phải tựa vào một cái học ngoại lai để đi những bước chập chững đầu tiên, cũng ví như văn học Pháp đã có ba bốn thế kỷ huy hoàng người Pháp không còn công sức đi diễn giải những tác phẩm bằng La Tinh viết từ thời Trung Cổ nữa [18].

Quan điểm của người viết: tác phẩm viết bằng Hán văn hay bằng thứ chữ nào khác, kể cả các tác phẩm của người Việt hải ngoại, nếu đạt được tiêu chuẩn nghệ thuật, có tác dụng sâu xa và phản ảnh lịch sử, xã hội, đời sống con người Việt Nam, được viết bằng tâm tình Việt Nam đều có thể chấp nhận vào văn học sử.

KẾT LUẬN

Về nguồn gốc chữ Hán, giả thuyết của các học giả Tây phương không đứng vững vì không dựa trên chứng liệu khảo cổ học lẫn cổ ngữ học mà chỉ giải thích một cách dễ dãi dựa trên nguồn gốc tổng quát của sự hình thành văn tự. Hơn nữa, giả thuyết này càng không đứng vững vì sự khác biệt niên kỷ (cách nhau gần 2000 năm) giữa loại chữ tượng hình Sumériens (4000 TTL) và các cổ văn chữ Hán (1300 TTL).

Thuyết của sử Tàu cho rằng sử thần Thương Hiệt xem vết chân chim chạy nhảy mà sáng tạo ra chữ Hán (2700 TTL) không có giá trị vì thuần túy chỉ là truyền thuyết, không có chứng tích khoa học chứng minh. Vả lại, sử thần, một chức quan bên cạnh vua chuyên chép những việc liên quan đến triều đại thì tất nhiên chữ viết đã phải có rồi.

Theo lịch sử sự hình thành của dân cư Tàu thì trong thời gian thuộc “văn hóa xẻng đá lớn” (trước thế kỷ 20 TTL) trên địa bàn Trung Hoa chỉ có dân Bách Việt sinh sống, lúc đó chưa có sự hiện diện của giống người Hoa Hạ (giống Hoa Hạ thiên di đến nước Sở. Sở lập quốc vào cuối đời nhà Thương (1042 TTL). Điều này chứng tỏ những chứng tích khai quật ở di chỉ thôn Bán Pha, tỉnh Sơn Tây và phát hiện ở di chỉ Cảm Tang, tỉnh Quảng Tây là thứ chữ cổ của người Việt.

Như thế, người Việt đã có văn tự riêng từ thời thượng cổ trước khi bị người Tàu xâm chiếm. Sự kiện này phá bỏ hoàn toàn quan niệm thời cổ người Lạc Việt không có chữ viết. Đã đến lúc phải trả lại sự thực cho lịch sử. Lịch sử nguồn gốc chữ Hán cần phải được viết lại.

TRẦN BÍCH SAN

CHÚ THÍCH

[01] Giống Hoa Hạ, người nước Sở (là dân tộc Hán sau này), nhận mình là con cháu của Tam Hoàng, Ngũ Đế. Theo Sử Ký của Tư Mã Thiên thì có năm chi: Hoàng Đế (黃帝), Chuyên Húc (顓頊), Đế Cốc (帝嚳), Đế Nghiêu (帝堯), Đế Thuấn (帝舜). Dân nước Sở tự nhận thuộc chi Chuyên Húc, họ Cao Dương 高阳. Nước Sở nằm ở đoạn giữa sông Trường Giang, vùng Nam Bắc Động Đình Hồ, quen gọi là vùng Kinh Sở (Hồ Bắc - Hồ Nam của Trung Hoa ngày nay). Vùng Kinh Sở nằm chồng lấn phía Nam lưu vực sông Hoài, sông Vị. Đó là vùng đất đầu tiên mà một chi của dân Hoa Hạ (chi Chuyên Húc) thiên di xuống. Nước Sở lập quốc vào cuối đời Thương đầu đời Chu (1042 TTL). Những khai quật khảo cổ ở vùng Kinh Sở gần đây cho thấy rằng cư dân tối cổ ở vùng này có nguồn gốc Tam Miêu, một dân tộc thuộc Bách Việt. Đây là nhóm Âu Việt ở phía Tây nên còn gọi là tộc Tây Âu, để phân biệt với Đông Âu là tộc Âu Việt phía Đông, tức vùng Mân Đài (Phúc Kiến). Tộc Tây Âu, theo các nhà dân tộc học, có thể là tổ tiên các tộc H’mông, Lào, Miến, Thái hiện nay, ít nhiều cũng có cùng huyết thống người Việt Nam cổ.

[02] Trước đời nhà Thương (1800 TTL - 1025 TTL) là nền văn hóa Ngưỡng Triều (4000 TTL). Sau nhà Thương là nhà Hạ (không rõ niên lịch), rồi đến nhà Chu (1020 TTL – 700 TTL), thời Xuân Thu (722 TTL - 476 TTL), thời Chiến Quốc (475 TTL - 221 TTL), nhà Tần (220 TTL - 207 TTL), nhà Tây Hán (206 TTL - 24 STL), nhà Đông Hán (25 STL - 220 STL), thời Tam Quốc (222 STL - 265 STL), đời Tấn (265 STL - 420 STL).

[03] Thời nhà Hạ gọi là Vu Việt 于越, đời Thương gọi là Man Việt 蛮越 hoặc Nam Việt 南越, đời Chu gọi là Dương Việt 扬越, Kinh Việt 荆越, từ thời Chiến Quốc gọi là Bách Việt百越. Sách Lộ Sử của La Bí (1131 – 1189) người đời Tống viết: Việt Thường, Lạc Việt, Âu Việt, Âu Ngai, Thả Âu, Tây Âu, Cung Nhân, Mục Thâm, Tồi Phu, Cầm Nhân, Thương Ngô, Việt Khu, Quế Quốc, Tổn Tử, Sản Lí (Tây Song Bản Nạp), Hải Quý, Cửu Khuẩn, Kê Dư, Bắc Đái, Phó Cú, Khu Ngô (Cú Ngô)… gọi là Bách Việt.

[04] Được ghi chép sớm nhất vào thời nhà Hạ là Vu Việt 于越, (tiền thân của nước Việt 越 国 thời Chiến quốc).

[05] Những sự kiện này được ghi chép tỉ mỉ trong bộ sử Ngô Việt Xuân Thu 吳越春秋 do Triệu Diệp 赵晔 thời Đông Hán soạn (khoảng năm 25 STL).

[06] Ngũ Lĩnh五岭 (năm đỉnh cao): dãy núi phía Nam Trung Hoa chạy qua biên giới các tỉnh Quảng Tây, Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Đông, có năm đỉnh cao là: 越城 (Việt Thành)、都庞 (Đô Lung), 萌渚 (Manh Chử), 骑田 (Kỵ Điền), 大庾(Đại Dữu).

[07] Jerry Norman and Tsu-lin Mei, Monumenta Serica, Vol. 32 (1976), pp.274-301, Published by Taylor & Francis, Ltd.

[08] Chữ Lạc có nhiều cách viết, đều đọc là Lạc. Hai chữ Lạc 雒,骆 thường dùng như nhau để chép Lạc Việt trong sách cổ. Nhiều học giả cho rằng nguồn gốc chữ Lạc là do người Hán ghi âm chữ Lúa của người Việt mà ra. Người Việt là bộ tộc có nền văn minh lúa nước.

[09] Dù có nhiều người đời xưa chế ra chữ viết nhưng chỉ mình tên Thương Hiệt được lưu truyền (Tuân Tử: cổ chi tác thư giả chúng nhi Thương Hiệt độc truyền).

[10] Theo Lan Đình Tập Tự, đầu tháng ba năm Quí Sửu, dân huyện Sơn Âm, quận Cối Kê mở hội ở Lan Đình. Người ngồi dựa hai bên bờ sông lựa chỗ thả từng chén uống rượu cho trôi uốn từ dòng trên xuống dòng dưới (lưu thương khúc thủy) hễ chén giạt vào đâu người ngồi đấy vớt lên rót rượu vào mà uống (Nguyễn Hiến Lê, Cổ Văn Trung Quốc, trang 176).

[11] Lữ Gia, thừa tướng nước Nam Việt, chống lại nhà Hán, thua trận bị giết. Lữ Gia, người quận Cửu Chân (Thanh Hóa ngày nay), lăng mộ và đền thờ hiện còn ở Ân Thi, Hưng Yên (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, NXB VHTT năm 2000, tập 3, trang 294).

[12] Chu Bội Liên, Tựa, Thánh Mô Hiền Phạm của Lê Quí Đôn & Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Ngô Sĩ Liên.

[13] Maspéro, tập san Trường Viễn Đông Bác Cổ, số 3, trang 12.

[14] Ngày nay là vùng Thượng Hải, Ninh Ba, Thiệu Hưng (Cối Kê 會稽 xưa]. Một loại ca kịch cổ ở vùng này vẫn còn tên là Việt Kịch 越剧.

[15] Tiến trình tạo chữ có ba giai đoạn: 1. Văn: đóng vai trò khai mở quan trọng. Khởi thủy chữ dựa trên hình dáng, vẽ ra sự vật bằng các dấu hiệu tượng hình (pictogramme). 2. Tự (thanh âm): tượng hình gọi được tên nên trở thành tượng ý (ideogramme). Dần dần thêm âm vào hình thì thành đợt Tự. 3. Thư: âm và hình nương nhau đẻ ra nhiều chữ.

[16] Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Học Sử Yếu, trang 203.

[17] Nguyễn Sĩ Tế, Bàn Về Văn Học Việt Nam, Sáng Tạo, tháng 9 năm 1958.

[18] Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, trang 51.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

-  Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn Sử Học Yếu, Hà Nội, 1944, Bộ Giáo Dục Sài Gòn tái bản 1968.
-  Eastwest Center, Early China, volume 1-9, Honolulu, 1982.
-  Hà Văn Thùy, Phát hiện Chữ Việt Cổ ở Quảng Tây, website Việt Thức, www.vietthuc.org,
   February 16, 2012.
-  Hoàng Xuân Hãn, La Sơn Phu Tử, Minh Tân, Paris, 1950.
-  Karlgren, The Reconstruction of Ancient Chinese, T’ung Pao, volume 21.
-  Lai T.C., Chinese Calligraphy, Hong Kong.
-  Li, The Beginning of Chinese Civilization, University of Washington, 1968.
-  Nghiêm Toản, Việt Nam Văn Học Sử Trích Yếu, Hà Nội, 1949.
-  Nguyễn Đổng Chi, Việt Nam Cổ Văn Học Sử, Hàn Thuyên, Hà Nội, 1942.
-  Nguyễn Hải Hoành, Tại sao VN không bị đồng hóa sau 1000 năm Bắc thuộc? Nghiên Cứu Quốc Tế,
    09/2015.
-  Nguyễn Hiến Lê, Cổ Văn Trung Quốc, Sài Gòn, 1966.
-  Nguyễn Sĩ Tế, Bàn Về Văn Học Việt Nam, tạp chí Sáng Tạo, Sài Gòn 9/1958.
-  Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, Quốc Học Tùng Thư, Sài Gòn,
   1962-1965.
-  Phạm Văn Diêu, Văn Học Việt Nam, Tân Việt, Sài Gòn, 1960.
-  Trần Bích San, Chữ Việt Thời Thượng Cổ, tạp chí Cỏ Thơm, số 67, Hoa Kỳ, 2014
-  Trần Gia Ninh, Nhìn lại lịch sử Bách Việt và quá trình Hán hóa Bách Việt, Nghiên Cứu Quốc Tế,
   09/2016.
-  Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, Bộ Giáo Dục tái bản, Sài Gòn, 1971.
-  Vũ Thế Ngọc, Nghiên Cứu Chữ Hán và Tiếng Việt, Eastwest Institute, Hoa Kỳ, 1989.