Home‎ > ‎Lịch Sử‎ > ‎

Nhân Ngày Quốc Hận 30 tháng 4


Image and video hosting by TinyPic

Kính mời quý v cùng chúng tôi đọc các bài viết, bài thơ, xem videos:

1. Cho Giới Trẻ: Ý nghĩa của Ngày Quốc Hận 30 tháng 4 -
                             bài viết của GS. Trần Thủy Tiên
2. Chạnh Lòng Với Tháng Tư - bài viết của TQLC Quách Vũ Uối -
                                                     cựu SV Luật Khoa Cần Thơ / khóa 5
3. Bài Thơ: Ngã Ngựa Rồi - di bút Mã Sanh Nhơn
4. Video: Câu chuyện Tháng Tư Đen - một người Mỹ với trái tim Như Lai
5. Video: Hạm Đội VN thoát tay CS ngày 30.04.75 - Trình bày bởi Đại Tá
                 Hải Quân Đỗ Kiểm.
Video clip này rất đáng xem, một sự kiện  
                 lịch sử mà trong sách báo, thư viện của Hoa Kỳ chúng ta không
                 tìm thấy được. "
làm sao toàn bộ Hạm Đội Hải Quân Việt Nam
                 Cộng Hòa - không sót một chiếc tàu nào - đã chạy thoát khỏi tay
                 Cộng Sản vào phút chót tháng 4, 1975, đồng thời mang theo cả
                 30,000 quân và dân ti nạn tới bến bờ Phi Luật Tân an toàn thì dó
                 là cả một kỳ công".

___________________________________


1. CHO GIỚI TRẺ: Ý NGHĨA CỦA NGÀY QUỐC HẬN
                                     30 THÁNG 4

GS TRẦN THỦY TIÊN – M.S.

Nhân Ngày Quốc Hận 30 Tháng 4 sắp đến, trước hết xin nhắc giới trẻ sinh sau năm 1975, một ý nghĩa quan trọng mà nhiều em vẫn chưa biết:
Ngày Quốc Hận là ngày buồn thảm, vì đó là ngày mà chúng ta, những người Việt ở Miền Nam Việt Nam, bị mất đất nước vào tay cộng sản Bắc Việt tàn ác, từ Hà Nội, bằng sự xâm lăng bạo lực và bất hợp pháp của bộ đội Miền Bắc vào lãnh thổ tự do của dân Miền Nam, năm 1975. Tóm tắt, Ngày Quốc Hận 30/4 là Ngày Mất Đất Nước, nói rõ hơn là Ngày mất nước Việt Nam Cộng Hòa, của tất cả những người Việt yêu tự do, nhân quyền, dân chủ, và hòa bình.
 
Vậy mà, có những em sinh viên ở Mỹ còn tụ tập thành nhóm, để ăn uống, vui chơi, và nhảy múa, ngay trong ngày và đêm 30/4, như đã thấy trong các năm qua. Năm nay, xin các cha mẹ nhắc nhở và giải thích cho con cháu hiểu về ý nghĩa lịch sử của Ngày 30/4 đau buồn này, vì sau ngày đó, vào khoảng nửa triệu dân Việt ở Miền Nam đã bỏ mình trên biển Đông do vượt biển.
 
Tôi mong các phụ huynh người Việt vẫn còn nhớ để dạy con cháu một câu tục ngữ Việt thông thường đã được phổ biến trong các trường học Miền Nam của chính thể Việt Nam Cộng Hòa, trước năm 1975: Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ. Chúng ta nghĩ sao khi thấy loài ngựa biết chia xẻ nỗi đau cho nhau và biết cư xử với đồng loại của chúng tốt hơn con người cư xử với nhau? Sự hy sinh can đảm và đầy nước mắt đó của nửa triệu đồng bào vượt biển, đã Thức Tỉnh Lương Tâm của Liên Hiệp Quốc. Nên Cao Ủy Tỵ Nạn của LHQ đã lo chi phí cho các Trại Tỵ Nạn Cộng Sản (CS) được dựng lên trên các đảo ở Phi Luật Tân, Mã Lai, Nam Dương, Thái Lan… vào khoảng các năm 1978-1988, để đón nhận những người Việt Tỵ Nạn đến sinh sống tạm thời ở đó. Rồi những người Mỹ có lòng tốt và Quốc Hội Mỹ đã kêu gọi được chính phủ Mỹ chấp thuận cứu xét giấy tờ cho người Việt Tỵ Nạn CS được định cư với cuộc đời mới ở Mỹ. Dần dần, các nước Tự Do khác trên thế giới cũng ủng hộ và cho phép chúng ta định cư trên đất nước họ, với lý do tỵ nạn chính trị, như: Úc, Gia Nã Đại, Pháp, Đức, Anh, Tân Tây Lan, Bỉ, Đan Mạch, Na Uy… Đồng bào của chúng ta đã chết cho chúng ta được sống. Vậy nỡ nào bây giờ, cha mẹ, những người Việt tỵ nạn trước đây, thản nhiên (hoặc vô tình không biết) để cho con cháu mình tụ họp, vui chơi, nhảy nhót trong các buổi tối, gần Ngày Quốc Nạn 30/4?
 
Kế đến, tôi muốn các em biết điều quan trọng thứ hai đã xảy ra vào hai năm 1988-1989: Tổng Thống Hoa Kỳ Ronald Reagan đã hoàn thành một việc vĩ đại, giúp các tù nhân chính trị của Miền Nam, đang thống khổ lúc đó, do bị kỳ thị và bị đàn áp bởi sự độc tài của chế độ CS độc đảng trong nước. Năm 1988, Tổng Thống Reagan đã ký lệnh cho phép tất cả các Quân, Dân, Cán, Chính, của VNCH, thuộc mọi cấp bậc và trình độ (đã bị tù tập trung khổ sai, ít nhất 3 năm trở lên, dưới chế độ CSBV) và gia đình của họ, được nộp giấy tờ xin đi Mỹ, hợp pháp. Nghĩa là, họ và gia đình, không phải đi trốn bọn công an VC một cách lén lút, đầy nguy hiểm, bằng cách vượt biên như đi bộ qua Thái Lan, Cam Bốt…, hoặc vượt biển với những con thuyền nhỏ bé như một chiếc lá mong manh và chết trên sóng biển đại dương nữa.
 
Trước đó một năm, vào năm 1987, nhiều Nghị Viên của Quốc Hội Mỹ thuộc cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ, cùng với Phụ Tá Bộ Trưởng Ngoại Giao lúc đó, là ông Robert Funseth, đã nỗ lực hoạt động như những người điều đình để trình bầy Nghị Quyết 212. Khi họ mang nội dung của Nghị Quyết này đến thương lượng với VC trong việc thả tù chính trị của VNCH đang bị hành hạ trong các trai tù tập trung khổ sai (mà VC gian manh gọi là “học tập cải tạo”) thì bị VC chống đối mãnh liệt. Đảng CS Hà Nội nói rằng: “Không, chúng tôi không thả. Nếu thả hết bọn tù chính trị và tù quân đội VNCH này ra thì chúng đứng lên làm loạn cả nước, làm sao đảng cai trị dân được? Nước Mỹ của các anh có dám nhận hết tụi tù (dơ dáy) này qua Mỹ không thì chúng tôi mới thả…”
 
VC không ngờ TT Reagan đã nhanh chóng xác nhận là Mỹ sẽ nhận các tù nhân VNCH vào nước Mỹ ngay, vậy VC cứ thả họ đi. Nhờ vậy, một hiệp ước thỏa thuận đã được ký ngày 30/7/1989 bởi Hoa Kỳ và nhà cầm quyền VC. Nghị Quyết 212 hợp pháp đã giải thoát khoảng 300.000 tù nhân chính trị, và cùng với gia đình, họ được rời khỏi Việt Nam để định cư ở Hoa Kỳ.
 
Rõ ràng, đối với các cựu tù nhân chính trị VNCH: sau cơn mưa, trời lại sáng. Hãy hy vọng và cầu nguyện, ngay cả khi chúng ta bị phản bội, đang thất bại, hoặc gặp hoạn nạn… Tất cả rồi cũng trôi qua với cuộc đời tạm thời này… Và hãy tin rằng những ai làm việc cho chính nghĩa và nhân nghĩa, sẽ có cơ duyên hội tụ và ủng hộ nhau để thành công.
 
Hậu quả 30-4: tù cải tạo, công an đàn áp.
 
Viết Cho Ngày Quốc Hận 30/4 – GS TRẦN THỦY TIÊN – M.S.
 
************************************************
 
YOUNGER GENERATION: THE MEANING OF BLACK APRIL 30
 
 
With the coming of April 30, I’d first like to remind the younger generation, born after 1975, of one important issue many of you still don’t realize: The National Mourning Day of April 30 is a sad day because on that day, we, the South Vietnamese, lost our country into the brutal hands of North Vietnamese communists from Hanoi. With their aggressive and illegal invasion by North Vietnamese army they forced themselves into the free democratic territory of the South citizens, in 1975. Briefly, the National Mourning Day is the Day We Lost Our Country, the home land of all Vietnamese who cherish liberty, human rights, democracy and peace.
 
Despite this, many Vietnamese college students in America ignorantly gather in groups to party or socialize, have fun and dance on that day and night, as seen in the past years. This year, parents, please explain to your children the historical meaning of how tragic April 30th is. After that day, approximately half a million Vietnamese in the South died on their way to escape communist brutality on the Eastern Sea.
 
I hope Vietnamese grandparents and parents still remember to teach their children the common Vietnamese proverb that was widely taught in our Southern schools in the Republic of Vietnam before 1975: When one horse gets sick, the others in the whole stall don’t eat. We should reflect on how horses have the ability to share their pain and treat their own better than we, the human race, are able to.
 
The brave and tearful sacrifices of half a million Vietnamese, escaping by boat in the vast sea awakened the conscience of the United Nations. The UN High Commissioner for Vietnamese Refugees took care of the expenses to set up Refugee Camps in the Philippines, Malaysia, Indonesia, Thailand and more… from 1978 to 1988. These camps received Vietnamese refugees escaping from the communist regime and allowed temporary living. But the compassion didn’t end there. Americans citizens and US Congress appealed to the American government for documents to approve Vietnamese refugees settling in America to start their new life. Gradually, other free countries in the world supported and allowed South Vietnamese to seek asylum in their home countries, including Australia, Canada, France, Germany, England, New Zealand, Belgium, Denmark and Norway… Our compatriots died for us to live. And now how can those parents, i.e., the former Vietnamese refugees, indifferently (or unintentionally) allow their adult children to meet, have fun, and dance at night in the approaching of the National Tragic Day of April 30?
 
Next, I’d like the younger generation to acknowledge another important part of history from 1988 to 1989. US President, Ronald Reagan was successful in his great task, helping former political prisoners of South Vietnam who were tremendously suffering from being discriminated against and oppressed by the dictatorship of the single party communist government regime in Vietnam.
In 1988, President Reagan signed a decree permitting all Military, Citizens, Professionals and Government Officials of the Republic of Vietnam (RVN), all ranks and levels included (who suffered for at least 3 years in the VC concentration camps) and their families, could apply for settlement in America legally. Meaning, the political prisoners and their families didn’t have to escape by hiding dangerously and walking to Thailand or Cambodia, or by riding on a small boat resembling a fragile leaf and perishing on the sea waves.

Just one year before, in 1987, many US Congress members from both Republican and Democrat parties, along with former Deputy Assistant Secretary of State, Mr. Robert Funseth, made great efforts as the main negotiators to present Resolution 212. When the diplomats traveled to Vietnam to talk with Vietnamese Communists to liberate prisoners of RVN, who were enduring torturous treatment in VC concentration camps with severe hard labor (that treacherous VC called “re-education” places), the VC argued against them roughly. They said: “No, we don’t let them free. If we free those political and military prisoners of RVN, they would stand up and rebel across the country. Then, how can we control the people? Does your America accept all the (dirty) prisoners if we let them free…?”
 
The VC did not anticipate President Reagan would quickly affirm and reply that the RVN prisoners were welcome to immigrate to America if they were free to go. Thanks to President Reagan, an agreement between the US and VC party was signed on July 30, 1989. Therefore, Resolution 212 was considered as the legal document that liberated more than 300,000 South Vietnamese political prisoners. These Vietnamese people were allowed to leave communist Vietnam with their families to resettle and start a new life in America.
 
Clearly, to the former prisoners of  RVN: After the heavy rain, comes a bright sky. Let’s hope and pray, even when we are betrayed, deceived, failed, or meet adversity… All things shall pass… along with the temporary human life. Let’s trust those who work for the right cause and have kindness. We will rise above adversity, have opportunities to come across, and support one another for success.
Commemoration for April 30
______________________________


2. CHẠNH LÒNG VỚI THÁNG 4 
                                   


Image and video hosting by TinyPic 
MX Quách Vũ Uối
cựu Sinh viên Khóa 5 LK Cần Thơ,
đã xếp bút nghiên để nhập ngũ
sau Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.


Chiều hôm qua Trần Như Hùng đến nhà trao tôi cuốn “HỒI KÝ TRONG NGỤC TÙ CS” cuả bác sĩ đại úy TQLC Nguyễn văn Dõng rồi vội vã đi. Tôi hỏi sao mà vội vậy, vào nhà uống ly nước cái đã, nhưng anh nói: “thôi mầy tao đang bận lắm để hôm nào, giờ phải đi giao sách để gây quỹ yểm trợ anh em thương phế binh bên nhà”. Hùng đi xa rồi, tôi ngước nhìn quyển sách đang cầm trên tay, cái bìa sách tuyệt đẹp, in hình sóng biển màu áo lính thủy quân lục chiến Việt Nam khiến tôi bồi hồi nhớ laị tất cả những hình ảnh cuả một thời son trẻ, những kỷ niệm, những chặng đường đời mà tôi đã đi qua.

Hằng năm cứ mỗi độ tháng tư, tôi thường điện thoại tìm bạn bè để vấn an nhau, gởi gắm cho nhau những tiếng bình yên, mong ước cho tất cả đều được vui khoẻ. Nhưng cũng có lúc tôi lại chỉ thích ngồi một mình trong căn phòng thật vắng lặng, xem laị những chồng sách cũ, những tấm ảnh của một thời. Ngay chính những giây phút thật vắng lặng đó tôi tự nhủ với lòng mình “Đã bao năm rồi mình còn nhớ được những gì? nghĩ gì? và mơ ước những gì?”.
Tôi nghỉ là “mình có thể viết về tháng ba năm 1975” và tôi bắt đầu.


Sau khi mãn khoá 5/72 sĩ quan trừ bị Thủ Đức, tôi tình nguyện về binh chủng TQLC. Cùng lúc với 81 tân sĩ quan trẻ, tuổi độ đôi mươi, về từ khoá 5/72 Thủ Đức, khoá 5B/72, khoá 6/72  Quân trường Đồng Đế Nha Trang; để tiếp tục được huấn luyện thêm 4 tuần bổ túc căn bản TQLC tại Trung tâm huấn luyện Rừng Cấm.
Lúc bấy giờ chiến trường Trị Thiên đã yên tỉnh dần dần, nhu cầu bổ xung sĩ quan ở các tiểu đoàn tác chiến ít hơn một số được phân phối về các tiểu đoàn yểm trợ và các phần hành tham mưu. Riêng tôi được về phục vụ tiểu đoàn Công Binh TQLC, và được cấp 24 giờ phép mãn khoá về thăm gia đình vui chơi cùng bè bạn, mua sắm vaì thứ cần thiết... Ngày mai bay ra trình diện bộ chỉ huy tiểu đoàn hành quân đang đồn trú tại Hương Điền một quận lỵ ven biển nằm về hướng đông bắc Huế.

Tôi được sanh ra và lớn lên ở thành phố Cần Thơ, nơi đó tôi có nhiều bạn bè, gia đình thân yêu, biết bao là kỷ niệm êm đềm của thời thơ ấu. Chuyến bay này sẽ đưa tôi xa rời tất cả để đi về một khung trời hoàn toàn mới lạ nơi có nhiều địa danh ghi chiến tích kiêu hùng trong quân sử của Việt Nam Cộng Hòa: Thạch Hản, Cổ Thành, Đại  Lộ Kinh hoàng, La Vang… ở vùng địa đầu giới tuyến,
nơi duy nhất mà người Việt Nam có đời sống bị đe doạ triền miên bởi chiến tranh ngay từ ngày đầu của cuộc chiến.


Trên vận tải cơ C130 là những quân nhân TQLC mản phép, những quân nhân trở ra đơn vị sau thời kỳ dưỡng thương, vài người phụ nữ thuộc gia đình quân nhân đi thăm chồng.
Chỉ hơn một giờ bay là tới phi trường Phú Bài, tôi nhìn đồng hồ, trời đã xế trưa rồi, thời giờ sao nhanh quá! mới sớm mai này tôi còn ngồi nhâm nhi ly cà phê với Tân, thằng bạn chí thân, sáng nay nó thức dậy sớm hơn thường lệ đến rước tôi đi… Lúc chia tay trước cổng Lê Thánh Tôn nó lặng thinh mà không nói câu nào nhè nhẹ dí vào balô tôi gói thuốc Bastos xanh còn lại mấy điếu cuối cùng…Tiếng rù rì cuả động cơ, hoà lẫn tiếng gió lành lạnh toát ra từ ống điều hoà không khí, nhìn quanh không tìm ra một ai thân quen, tôi làm một người hành khách lạ trên chuyến bay đi đáo nhậm đơn vị mới nơi vùng hoả tuyến.. Bao ý nghỉ miên man trong đầu, nhắm mắt thiếp đi… Đến khi phi cơ từ từ hạ cao độ rồi lướt chạm đất .
Chiếc bửng phiá từ từ hạ xuống trước mặt tôi là phi đạo kéo dài, tôi liên tưởng ngay đến thằng bạn cùng đá chung đội banh cuả đại học Cần Thơ. Mấy tháng trước nó đã nằm xuống chổ đoạn cuối phi đạo này dưới cơn mưa pháo trên đường ra trình diện đơn vị mới. “Hiếu nhảy dù” đó là biệt danh chúng tôi thường gọi mỗi khi nhắc về nó: Đổ cử nhân Luật Đại Học Cần Thơ niên khoá 1971, ảnh hưởng lệnh tổng động viên gia nhập vào khoá 1/72. Thương người con gái thật đẹp cùng lớp tên Dung nhưng lại yêu đời sống giang hồ của sĩ quan nhảy dù trẻ tuổi, để rồi định mệnh khiến cho Hiếu không về…

Đang miên man thì có tiếng kêu cuả người hạ sĩ quan hậu trạm, tôi tháp tùng cùng các quân nhân mãn phép vào bộ chỉ huy tiểu đoàn cùng chung chuyến xe đi tiếp tế chiều nay. Trên quốc lộ 1 đi vào thị xã Huế có thật nhiều nhiều căn cứ quân sự, từng đoàn quân xa di chuyển. Trị-Thiên hai tỉnh địa đầu của tổ quốc, như được vươn mình trở lại sau mùa hè đỏ lửa. Thành phố Quãng Trị vừa được chiếm bằng máu, mồ hôi và nước mắt của trên một chục ngàn chiến sĩ đã phải hy sinh. Giờ đây hàng trăm ngàn quân nhân đang giăng tay trực diện với quân thù bảo vệ lảnh thổ và đồng bào.

Xa xa rặng là Trường Sơn, núi Bạch Mã như hiện nguyên hình trong nắng vàng cuả buổi chiều, vài ngọn đồi trọc mọc lưa thưa vài bụi cây chồi, màu trắng cuả cát  nhiều hơn màu xanh cây lá như thầm nói lên cái oi ả của mùa hè. Trung tâm huấn luyện Đống Đa chạy dài với từng dãy nhà tole thấp thoáng là những đại đội tân khoá sinh đang di hành huấn luyện. Xe vào tới trung tâm thị xã, tạm dừng lại bến xe chợ Đông Ba, nơi đây chật cứng với từng hàng quân xa GMC chờ lên hàng đi tiếp tế các đơn vị trong tuyến hành quân, đủ mọi các quân binh chủng như là Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Sư Đoàn1Bộ Binh, Thiết Giáp ai ai cũng vội vàng tìm bửa ăn chờ chuyển xe vào vùng hành quân.

Chỉ một ngày sau tôi được chỉ định làm trưởng toán công tác Dân Sự vụ hướng dẫn các tài xế công binh và các nhân viên tháo gở đạn dược và mìn bẩy đi biệt phái cho Tiểu khu Quãng Trị. Đây là một công tác phối hợp giữa Tiểu khu và sư đoàn TQLC, nhằm giúp dân chúng Quãng Trị hồi hương trở về quê sau một thời gian dài lánh nạn tại các trại tạm cư ở Đà Nẳng. Đồng bào có thể an tâm cày cuốc khẩn hoang mà không sợ bị bom hay đạn còn sót lại phát nổ gây thương tích và tánh mạng.

Hơn một năm thì công tác này hoàn tất các
thôn làng của Triệu Phong, Hải Lăng đều được an toàn cho cuộc sống. Khi tiểu đoàn công binh thành lập trung đội xuồng máy (CANOES) trang bị máy Evinrude 45 mã lực thay thế máy Johnsons 25 để yểm trợ các đơn vị TQLC vào mùa lũ lụt  trong công tác tiếp tế và chuyễn quân. Tôi được chỉ định làm trung đội trưởng cho đến cuối tháng 2 năm 1975 tôi được thuyên chuyển một lần nữa về đơn vị mới làm sĩ quan trực hành quân Lử đoàn tân lập 468 TQLC.

Tháng 3 năm 1975. Đại tá Lữ Đoàn trưởng Ngô Văn Định chỉ huy Lữ Đoàn về Long An mở cuộc hành quân khai quân, tung hai tiểu đoàn tân lập TĐ14 và TĐ16 vào vùng truy kích dọc theo bờ sông Vàm Cỏ ngược lên biên giới với tỉnh Hậu Nghĩa. Ngày 19/3/75 cuộc hành quân naỳ kết thúc nhanh, cả lực lượng Lữ đoàn trở về qua đêm tại hậu cứ trong căn cứ Sóng Thần. Lệnh cấm trại ban ra, để tờ mờ sáng hôm sau được không vận trở ra Đà Nẵng thay thế lữ đoàn 1 (?) nhảy dù.

Lúc bây giờ tình hình chiến sự giao động rất quyết, lợi dụng sự cắt giảm viện trợ của đồng minh, cộng quân gia tăng xâm nhập và gây áp lực mạnh vào vùng Tây Nguyên, toàn bộ sư đoàn nhảy dù rời vùng 1 trở lại yểm trợ phòng thủ cho quân đoàn 3 bảo vệ thủ đô SàiGòn, Sư đoàn TQLC trấn ải từ Đà Nẳng bảo vệ quân đoàn 1.

Bộ chỉ huy Lữ đoàn 468 đóng quân tại Hoà Ninh, gần trung tâm huấn luyện cuả sư đoàn 3. Lữ đoàn 468 có quân số ban đầu 2 tiểu đoàn tác chiến mà phải hoán chuyển với một Lữ đoàn Dù cho nên đại tá Lữ đoàn trưởng và Trưởng ban 3 hành quân thiếu tá Nguyễn Cao Nghiêm rất bận rộn  từ lúc vừa đặt chân tới cho hơn nửa khuya. Hôm sau BCH Lữ đoàn có thêm trung tá Đoàn Thức đến nhậm chức Tham Mưu Trưởng. Tuy vừa mới đến nhưng sự hiện diện cuả Trung tá Thức làm thay đổi hẳn bầu không khí chung quanh bàn trực hành quân rất nhiều. Tôi và Thiếu uý Đặng Cao Sơn làm sĩ quan trực hành quân trực tiếp dưới quyền của Ttrưởng ban Thiếu Tá Nguyễn Cao Nghiêm (K20VBDL) ông này lúc nào cũng hãnh diện là từng làm tiểu đoàn phó tiểu đoàn 1 Quaí Điểu TQLC, từng chỉ huy cánh B đổ bộ Triệu Phong trong tận chiến lừng lẩy tái chiêm Quãng Trị, thừa kinh nghiệm nhưng lại có vẻ bị thất vọng vì không được tiến cử làm tiểu đoàn trưởng, tâm trạng đó đã ảnh hưởng đến cách làm việc và cư xử của ông với đàn em những sĩ quan trẻ cần sự diều dắt học hỏi kinh nghiệm, tương lai họ có thể dùng nó tiết kiệm xương máu cho bản thân cũng như cho đồng đội. Có một lần ông ra lệnh tôi trang bị gấp chờ công tác, tôi không được biết là công tác gì? cho đến khi nghe trực thăng đáp ngoài bãi ông hối thúc tôi cùng đi ra đó nhanh lên, tôi nghĩ trong đầu mình là cùng đi với ông ta, nhưng khi nhảy lên ông vạch bản đồ, nói với hoa tiêu vài câu gì đó rồi chỉ tôi:
-Thằng này cùng đi.
Rồi nhảy lại xuống đất mà không có nói một câu nào gọi là lệnh lại cho tôi cả. Khi máy bay cất  cánh về hướng tây bắc vài phút rồi đáp xuống để bốc trung tá Nguyễn văn Cảnh Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 14 đang dừng xe jeff chờ bên đường (không phải nơi BCH tiểu đoàn). Rồi tiếp tục bay khi gần đến một ngọn đồi khá cao  nơi có một đơn vị cấp đại đội trấn giữ. Với kinh nghiệm của một tiểu đoàn trưởng ông rất cẩn thận khi dùng trực thăng bay thám sát hay thả tiếp tế vào vùng đồi núi như vầy. Do đó khi phát hiện mục tiêu là tấm vải màu trắng tươi quá lộ liễu bên dưới triền đồi địch có thể phát hiện dễ dàng phối trí chờ pháo trực xạ thì chỉ có nước là chịu trận mà chết, ông tức lồng lộng văng tục chửi thề với thuộc quyền: Mầy ngu như….mầy ăn cái(.. ) uống cái (..) như muốn vỡ ống liên hợp, lập tức ra lệnh cho trực thăng rời vùng ngay. Người xạ thủ trực thăng kê sát tai tôi tay chỉ xuống và la lớn :
- Anh có thấy đường mòn không?
Nhìn xuống bên dưới đất tôi thấy rất nhiều đường mòn có nhiều dấu vết cơ giới di chuyễn hay quân xa cuả VC nên chắc là có bố trí phòng không. Vào vùng đồi núi này rất là nguy hiểm nên ai cũng rất là cẩn thận. Khi đáp xuống lại bãi trực thăng lữ đoàn để trả tôi về, đại úy hoa tiêu nhìn tôi cười nói:
- thằng cha đó dữ bỏ mẹ. Toàn là chửi thề!

Ngày 26/3/1975
Từ những tin tức xấu nhận được về LĐ147 ở Thuận An, khiến cho các binh sĩ thuộc bộ chỉ huy LĐ468 cứ cùng xì xầm lo lắng từ lúc sáng sớm, có lẻ họ nôn nóng vì muốn biết tin tức của bè bạn ở những đơn vị đó? nhưng cũng có thể là do tình hình chiến sự,  những tin  tức chiến sự đang  trở thành những đề tài nhạy cãm nhất, hàng ngày  dồn dập trên báo chí cũng như đài phát thanh ,những tường thuật tình hình vùng Tây Nguyên, vùng hoả tuyên Trị Thiên...

Vào lúc 4 giờ chiều thì tôi được chỉ định đi ra ngoài công tác, cùng đi với tôi là 2 binh sĩ truyền tin trang bị 2 máy PRC25 và chuẩn bị lương thực cho  3 ngày. Vì đây  là lệnh cấp bách nên chúng tôi  được chuyển vận đi ngay đến 1vị trí  ở đèo Phú Gia  trên quốc lộ 1, chỉ cách cầu ga Lăng Cô khoảng hơn 10 cây số về phiá bắc, lúc bây giờ đoạn đường nầy  gần như là bị mất an ninh rồi, nhưng vẫn còn  rất là nhiều  thường dân  tản cư, lũ lượt từng nhóm ngưởi  diù dắt nối tiếp nhau đi. Nhiều người đi vội vả với hay bàn trắng nhưng cũng có những phụ nữ hay trẻ em gánh gồng lủ khủ đồ đạc, nhiều người vác những cái vali nặng trỉu trên vai, bên kia đường có một thanh niên gánh cả một cái bàn thờ có tượng chúa Jesus. Oái ăm thay cộng sản đi đến đâu chó mèo cũng chạy, hình ảnh một cụ già ngồi trên chiếc xe bò, con chó cò ốm mhom  như gắng bước chạy kế bên. Chó mèo cũng cất bước tản cư! Và tất cả như âm thầm hướng về Đà Nẳng.

Image and video hosting by TinyPic

Tôi ôm chiếc balô ngồi tưạ lưng vào ghế trong cabin cuả chiếc GMC tay tôi gát lên khung cửa. Hôm nay ngày như ngắn lại, mặt trời rơi xuống khá nhanh, ngước nhìn xa-xa những tia nắng cuối cùng cuả một ngày  đang  ẩn hiện   trên tận những đồi cao. Khi xe qua khỏi cầu ga Lăng Cô một đoạn tôi đoán chừng khoảng đường còn lại phải đi tới chắc là  không xa lắm! Phiá tay phải đó là  ngôi làng nhỏ, khói vẫn còn vờn bay lượn  từ những mái nhà tranh. Quanh quẩn ngôi làng nầy người ta nấu dầu Tràm để bán  làm sinh kế, loại dầu mà mẹ tôi hay dùng  xoa bóp khi cảm mạo, trong miền  Nam người ta kêu là dầu gió Khuynh Diệp.

Xe đang rồ máy lên dốc, ngược với dòng người thả bộ dưới đường. Họ đang uể oải lăn thả  từng  bước suốt cả ngày trường dưới cái nóng hừng hực hất lên từ mặt đường nhựa đá, bổng con đường như hẹp lại vì tại đây có quá nhiều người tụ tập lại nghỉ chân. Thái độ của người lính tài xế bây giờ bắt đầu cau có, anh ta như thúc dục đám đông dưới đường tay thì  cứ bấm còi inh ỏi, chân thì nhồi ga lên xuống, chỉ cần xuống con dốc bên kia là đã tới nơi rồi, lấn lướt trên đường với một tốc độ nhanh là không cần thiết và nguy hiểm cho người ta, khiến tôi có chút bực bội trong lòng nhưng cũng cố gắng nhịn lời không màng để tâm tới nữa...Tới khi xe lao xuống cuối dốc đường tôi bảo anh cứ chầm chậm chạy vào cổng căn cứ. Đây là căn cứ quân sự bị bỏ trống, mấy hôm trước chổ nầy còn là BCH của Liên đoàn Địa Phương Quân. Tôi hơi ngạc nhiên khi nhìn bên trong có 5 hay 6 nhóm người ngồi, đứng từng cụm. Họ là những người thuộc SĐ1 và Địa Phương Quân của tiểu khu Thừa Thiên đang xử dụng máy PRC25. Tôi nghe rõ họ la ó với nhau, kêu gọi nhau chửi trách nhau đủ mọi thứ danh từ tục tằng bằng bạch văn tôi hiểu ngay họ đang liên lạc với những đơn vị bị kẹt bên kia Đầm Cầu Hai hay ở cửa biển Tư Hiền. Tôi hối thúc  thằng Dự và Lợi phải nhanh lên mỗi đứa xách 1cái máy truyền tin, cái không khí nhôn nháo ồn ào của các loa phát ra những tiếng chưỉ thề trách hờn nhau loạn xạ. Tôi vội vã đi liền  một vòng quanh căn cứ để quan sát. Vì không muốn nghe những tiếng ồn ào  khi làm việc ở gần họ, nên tôi chọn một cái chòi canh phía sau rồi bắt tay  ngay vào việc, phải dùng cả 2 cái máy mà gọi liên tục từ tần số nầy sang tần số khác đến hàng mấy tiếng đồng hồ  mà không nhận được trả lờì. Theo lời dặn, chúng tôi dùng danh thoại của Đại Dương (Đại úy Đan, tùy viên cuả Thiếu Tướng tư lệnh) mà gọi cho các danh xưng của các tiểu đoàn 4, 3, 5, 7 vẫn như thế mà tiếp tục làm cho dến khi trời sáng vẫn không có kết quả, tôi cố tiếp tục gọi cho đến buổi trưa cả thảy 3 người chúng tôi đều quá mệt mỏi, và nhìn thấy thằng Dự ngáp lên ngáp xuống có lẻ vì phải thức cả đêm nên không đủ ng. Nó cứ đi qua đi lại có lúc  nhìn chăm chú xuống làng rồi quay lại hỏi tôi:

- Thiếu úy, tôi xuống làng tìm mua con gà đem về nấu cháo ăn.

Tôi đồng ý ngay. Khi Dự đi rồi tôi và thằng Lợi đi vòng vòng  tìm củi khô, vo gạo nấu cháo và đun sẳn một nón sắt nước sôi, trong lúc chờ đợi  tôi ngã lưng trên võng  hút một vài hơi thuốc thì ng thiếp đi một giấc ngon lành. Lúc tôi tỉnh giấc nhìn đồng hồ mới giật mình mình ng say hơn một tiếng rồi! Đưa mắt nhìn quanh cũng không thấy ai cả. Tôi đúng dậy chạy ra bờ  giao thông hào ngóng nhìn về hướng làng, một lát sau  thằng Dự xuất hiện nó co giò cấm đầu chạy lên, trên tay nó ôm một con heo con ốm nhom óm nhách độ lớn hơn cườm chân, phát ra tiếng  kêu ột ẹt, tôi giật mình:
- Sao kỳ vậy mầy?
Nó thở hổn hển:
- Trong làng vắng tanh hè, chỉ còn mấy người già thôi, bà già muốn bán con heo bệnh nầy mà muốn giử mấy con gà cho nó đẻ trứng  ăn,

Đang lo cho nó, giờ thấy nó về tôi mừng trong bụng nhưng cũng tỉnh bơ tôi hỏi:
- Mày biết làm heo không
 ?
Nó méo cái miệng một bên chỉ cái lưỡi lê:
- Tôi làm mấy con rồi dể ợt hè. Không cần cạo lông, trước hết mổ bụng lấy lòng và huyết đem nấu cháo, còn thịt thì cứ lóc từ từ, lóc từ phiá trong lóc ra rồi bỏ da.

Thật vậy tôi cũng không ngờ là chỉ độ hơn mười phút đồng hồ sau là có nồi cháo sẳn sàng để ăn  đang đói mà  cháo thì nóng hổi, mồ hôi chảy ướt đẩm cái ngực trần. Nhìn 2 cái máy tôi không còn hi vọng nữa, nhưng ăn xong là trở lại công việc dò tìm ngay, mãi tới chiều cũng không có kết quả, ngó ra trên đường thấy thường dân di tản thưa thớt dần, tin tức mới nhận được cho biết  là vc đã chận từng đoạn đường nghiêm cấm không cho bất cứ ai đi về hướng Đà nẵng nữa nhất là ở Truồi  người  bị dồn lại rất là hổn loạn.  Xa xa từ phiá biển  vẫn còn tiếng súng vọng về như là những lằn bắn sẻ từ trên núi xuống bải cát ở cửa sông. Tôi thoáng nhìn chung quanh thấy mấy người lính bộ binh mệt mỏi nằm vất vưỡng ra ngũ trưa .

Đêm hôm qua có một Đaị tá Trung đoàn trưởng của sư đoàn I (tôi không còn nhớ tên nhưng vẫn còn nhớ ông có tật cà lăm), ông thường chạy xe lên xuống khoảng đèo nầy và lúc nào cũng có kéo theo sau cái móc hậu nước để thăm hỏi và tiếp tế nước cho những binh sỉ SĐI bị đuối sức vì  đói khát, những người nầy phải khó nhọc và thật gan dạ khi dám vượt được qua cửa Tư Hiền. Nghiã cử cuả một Trung đoàn trưởng chí tình cho binh sỉ thuộc cấp làm cho  ai cũng kính chào ông.

 Đến 5 gìờ chiều thì có một người lính vào làng, khi trở về báo lại là Việt cộng vừa lùa mấy con bò của dân chúng ở làng trên đi về hướng núi. Một thiếu tá của Tiểu Khu Thừa Thiên suy diễn là  tụi  VC muốn lấy sức mấy con bò để kéo trọng pháo lên núi. Nghe tin nầy tất cả các toán liên lạc của bộ binh và Tiểu khu chuẩn bị Zulu. Tôi trình báo cáo về Lữ Đoàn và nhận lệnh phải di chuyễn trở về nhưng đi bằng phương tiện tự túc. Nhìn đồng hồ thấy hơn 5 giờ chiều, e rằng bị trể mất, không có thời gian đủ để đi tới chân đèo Hải Vân trước khi trời tối, nếu cuốc bộ thì hơn hai tiếng là cái chắc, vả lại trời tối cũng nguy hiểm, lập tức xếp anten làm gọn nhẹ đi xuống đồi ngay, tôi ghé lại chổ tiếp tế nước cho thằng Dự châm thêm nước cho đầy cái bình biđông. Bỗng   nghe có tiếng  đàn bà khóc, tiếng rên xiết từ trên chiếc GMC, tôi tò mò bước tới gần sát cái bửng sau để nhìn lên thì chao ôi! cảnh tượng của một người đàn bà rất trẻ mang bầu hình như đang đau bụng đẻ, mái tóc dài phủ che một phần gương mặt xanh dờn lấm tấm những giọt mồ hôi và nước mắt.

Trời ơi! tôi thấy mà thương xót cho hoàn cảnh của chị, tại sao cơn đau đớn đó lại xảy ra lúc khó khăn nầy? Ngồi kế bên chị lại còn thêm 1 thằng bé 2 hay 3 tuổi cũng đang khóc, tiếng thét của nó như muốn gào lên từng tiếng trông thật nảo lòng. Tôi nhìn chiếc xe GMC nầy như muốn trùng xuống một bên về phiá sau, nhưng nhìn kỷ thì 2 cái lốp  phía bên phải bể cả rồi, ngưới đàn ông mặc áo không cài nút đưa bộ ngực trần lấm thấm mồ hôi, đang lui cui tìm cách  thay vỏ xe, có vài người nữa  đứng nhìn như bất lực. Tôi kêu Lợi và Dự rời vị trí nầy ngay không nên lãng phí thời giờ, tôi dự trù ra đi s không ngừng nghỉ  dọc đường mà cố gắng đi cho bằng được  về tới cầu Lăng Cô rồi tạm nghỉ mệt và báo cáo về BCH. Nhưng may mắn thay! khi đi được khoảng  một giờ thì Trung Tá Tham Mưu Trưởng của Lữ Đoàn Đại Bàng Từ Thức đang ở trên đèo Hải Vân  liên lạc cho tin  là ông đích thân lái xe xuống bốc và đưa chúng tôi lên tận đỉnh đèo.

Ông dừng xe lại một hồi lâu để tìm phương tiện cho hai truyền tin mang máy về BCH trước. Còn tôi thì ông bảo ở lại chờ cùng về với ông, bấy gìờ thì mặt trời sắp lặn, Trung Tá Thức lái xe ngược trở xuống cầu Lăng Cô để quan sát tình  thế  khi  xe bắt đầu quẹo đỗ xuống cái  dốc cuối cùng hướng  về phiá cầu Ga thì bất ngờ ông thắng xe thật gấp  và chỉ tay về phía bên kia đầm nước, tôi thấy có 3 người đang chạy nhanh thật nhanh sát mé nước chạy  len lỏi vào dưới rặng của hàng dừa xanh rồi vụt mất dạng trong rừng cây thấp bên bờ đầm. Chỉ không đầy 3 phút là có tiếng pháo kích 122 ly dồn dập vào căn cứ bên đầu cầu ga Lăng Cô. Trung tá Thức liền cho xe chạy lùi lại phía sau cho khuất bóng, đề phòng việt cộng có thể  nhìn thấy xe Jeep  trên đèo tụi nó có thể  bắn sẻ hay pháo tới. Sau cái phản ứng nhanh nhẹn đó ông bảo rằng:
- Mấy thằng ban nảy chạy lên là tụi đề lô VC đó mầy! nếu có M79 hay M16  là tao bửa đầu tụi nó rồi!”

Phiá bắc cầu ga Lăng Cô đang bị tấn công dữ dội, chiến xa địch đang nổ lực lợi dụng pháo kích muốn vượt qua cầu bị Tđ8tqlc chận đứng lại. Trên không xuất hiện  phi tuần A37, tiếng phản lực gầm thét như muốn xé không gian để yểm trợ và oanh kích làm hủy bỏ một nhịp cầu.

 Ngày 27 rạng 28 tháng 3 năm 1975:

Tại chỗ con dốc thứ 4 đổ về hướng Huế, lơị dụng lúc trời xẩm tối lẩn qua màn sương mù dầy đặc, tiếng gió thổi ì ầm từ bên dưới biển văng vẵng lên cao. Phát hiện có một đoàn người lầm lũi nối tiếp nhau bò lên đèo. Như báo cáo từ phòng tuyến đèo Hải Vân gởi tới. Có một số thật đông binh sỉ các cấp bị rả ngũ từ các đơn vị ĐPQ và Bộ Binh tháo chạy ngược lên dốc đèo làm cho một số  lính TQLC bị giao động tâm lý cùng ùa theo mà chạy.

Trong lúc tình hình  căng thẳng như thế hết sức là nguy kịch, bất ngờ  từ phía xa xuất một chiếc xe Jeep  chạy tới và thắng thật gấp ngay giữa đường. Người vội vã bước xuống đó là Đại Tá Ngô Văn Định, Lữ Đoàn Trưởng LĐ468 TQLC giọng hét quát tháo của ông như gầm vang trong đêm tối, và cũng  như muốn  cố trấn an, ngăn cản sự náo loạn nầy, Ông đứng sừng sửng hiên ngang giữa đường cầm một cái cây to hình dạng giống như cây nêm đầu ghế bố,  ông quơ tuí bụi vào bất cứ ai chạy lên từ phiá dưới đèo. Thật rủi thay một anh  TQLC thuộc tiểu đoàn X len lén cố lách qua, như để làm gương  ông đánh trúng một đường côn vào chân té ngay giữa đường, khiến những người chứng kiến như thất kinh hồn vía, họ bèn chạy dội ngược về phiá dưới kêu gọi nhau inh ỏi. Lại có tiếng của Trung Tá Đoàn Thức  vừa nhìn tôi và văng vẵng như lời khuyến cáo:
- Đừng chạy lên, đừng
 chạy lên, hãy mau bảo tụi nó dừng lại.
Tôi chạy như  lao xuống  phiá dưới cố gắng báo tin cho mọi người biết nếu ai chạy lên thì s bị đòn. Tình thế thật là  nguy kịch và  như nếu bất lực không ngăn chận kịp thời đám loạn binh nầy được thì nó có thể làm tác hại tâm lý  chiến đấu ở phòng tuyến cực bắc nầy.  Tôi thầm nghĩ  Đại Tá LĐT Ngô Văn Định đã hành động kịp thời  phản ứng với thần sắc rất  dũng cãm! Ông cứ đánh túi bụi vào đám đông làm áp đảo tinh thần để cho dù ai có gan gồng mình cũng không dám chạy thoát lên trên và cũng chính vì vậy mà tình hình dần dần được yên tỉnh trở lại. 

Tôi theo Trung Tá Thức ở lại tại đó và chờ cho đến thật khuya, nhìn màn đêm chậm chạp lắng trôi như một cái gì  thật u ẩn trên con lộ trải dài xuống tận dưới đèo. Ngước nhìn lên trời chỉ thấy một vài vì sao leo lét tựa như những đom đóm mờ nơi cao thẩm. Mãi cho đến lúc đêm hơi nghiêng về sáng có hơi sương lành lạnh thấm len vào cổ áo, tôi mới trèo lên xe ngồi thu mình phía sau, nghe tiếng sóng vẫn vổ thì thầm từ mé nước dưới  đèo. Tôi bị mệt nhoài nhưng cũng không tài nào ngồi yên một chổ, lại bước xuống đất đi loanh quanh cho đở buồn ngủ. Nhìn Trung tá Thức trở lại ngồi lặng thầm trên xe Jeep hút thuốc, ông cứ chậm rải nh ra những làn khói dài. Cùng đi với ông từ ban chiều tôi thấy ông không ăn uống gì, độ hơn một giờ sau ông mở máy lái xe quay đầu trở lên đèo, ông lái đi với vẻ đăm chiêu.
Trong suốt quãng đường trở về đơn vị BCH lữ đoàn ở Hòa Ninh ông chẳng nói một lời. Ngước nhìn đồng hồ tôi mới hay bây giờ trời đã gần 2 giờ sáng. Tôi muốn đến chiếc võng trong lều để ngủ ngay một giấc, vì mấy hôm rồi tôi không tài nào ng được, cái bụng của tôi lại đau lăm răm. Biết mình đang đói, tôi đi tìm Th/u Sơn đang  ở phòng trực hành quân, thấy gói thuốc Bastos xanh trên bàn tôi chộp ngay một điếu, Và như biết tôi đang đói, Sơn chỉ tôi khúc bánh mì như của ai  bỏ lại tự hồi chiều,  Sơn ngồi trầm lặng nghe tôi kể chuyện xảy ra ở trên đèo. Chuyện thấy đề lô VC chạy vội vả dưới rặng dừa và nhất là chuyện thương tình cuả Trung tá Đoàn Thức lái xe xuống rước chúng tôi trở lên đỉnh Hải Vân, bằng không thì chúng tôi làm sao về tới chân đèo hay là nằm chịu pháo ở đầu cầu Lăng Cô không chừng?
Bây giờ ông không còn nữa, những ngày làm viêc bên ông ở BCH Lữ Đoàn ngắn ngủi chỉ  2 tháng, nhưng hình ảnh cuả  Tr/tá  TQLC Đoàn Thức  vẫn mãi trong tôi  từ dáng dấp cho đến nụ cười,  giọng nói  ôn tồn. Viết về ông là để   tưởng nhớ đến một người anh cao cả trong đời TQLC của tôi.

Rạng ngày 29/3/75

...Tôi vẫn nhớ buổi chiều ngày 28/3  trong lúc tôi và Th/u Sơn đang ngồi khui cá hộp ăn phía  bên hong ngoài căn lều chỉ huy, thì phía sau căn lều anh Sơn, tài xế của  Đại tá Lử Đoàn Trưởng khiên mọi thứ cá nhân của ông ra ngoài chất lên chiếc rờ mọt rồi hấp tấp lái đi…(sau nầy chúng tôi được biết xe về Non Nước bị kẹt lại). Thiếu tá Nghiêm - Trưởng Ban 3 - cùng ngồi ăn cạnh chúng tôi, tay cầm cái cà-men cơm, ông còn dặn dò nên ăn nhiều một chút, đêm nay  mình sẽ di chuyển. Tôi để ý cử chỉ lạ ở nơi ông là hôm nay thiếu tá Nghiêm luôn luôn hướng nhìn về phiá biển khơi. Rồi đột nhiên như là vui miệng ông chỉ tay vào chiến hạm Hải Quân  tít ngoài xa trông như một vệt mờ nằm ngang, ông nói:

-Tối nay mình sẻ lên chiếc tàu đó!
Đến lúc trời chạng dạng tối, thì  lệnh di chuyển ban ra  tôi đi theo Tr/Tá Thức còn Th/u Sơn thì cùng đi với Thiếu tá Nguyễn cao Nghiêm. Đoàn xe di chuyển chầm chậm hướng về  đèo Hải Vân. Lúc đi ngang qua chổ BCH của  Liên Đoàn 10 công binh chiến đấu tôi thấy đang cháy. Ánh lửa sáng bừng,  một số cơ giới bị hủy hoại  tại chổ. Nhìn ngược lại qua phiá tay trái bệnh viện nhi đồng cũng có lửa dâng cao. Khi chạy ngang  Nam Ô, đoàn xe quẹo về phía đông như trên đường ra bờ biển, chỉ đi được một đoạn rất ngắn thì  xe jeep của Đại Tá Định bị vướng phải giây kẻm gai quấn dưới chassis. Phải mất một thời gian mới cắt tháo xong.
Bất ngờ đoàn xe dẩn đầu lại chuyễn hướng quay trở ra quốc lộ số I và thẳng lên đèo. Khoảng 9 giờ tối khi đoàn xe vừa qua khỏi chổ đường hầm hoả xa thì có lệnh  dừng lại. BCH tập hợp lại để di chuyển cùng một lúc, cứ  vạch cây rừng chồi đa số là loại cây mây mà đi xuống mé biển. Vì không có đường mòn, có lúc dốc lại chuí thẳng làm cho rất khó khăn khi đi xuống, vã lại  trong đêm tối nhiều lúc sự di chuyển bị chậm lại nếu phía trước có chướng ngại vật như gặp khe đá sâu hay cây to nằm ngăn cản lối đi. Những người đi trước mở đường dùng dao chặt cây, tiếng động kêu lên xaò xạt. Không có đường mòn để nương theo, nên rất là khó di chuyển nhất là những lúc phải băng qua những lớp mây rừng chằn chịt. Đêm tối nhưng  tôi vẫn thấy phiá đằng trước có  mấy người cứ té lên té xuống vì phải ôm cái bàn tiếp hậu  của súng cố 60 ly và cấp số đạn. Nhũng lúc bị dồn quân chậm lại như vậy thì lại nghe văng vẳng tiếng chửi thề cuả Thiếu tá Nguyễn cao Nghiêm. Trên đoạn đường di hành nầy không thấy Đại tá Định, ông đã ra tới chiến hạm bằng ghe chài cá và đi bằng lối khác. Khi xuống tới dưới bãi biển, thì từng nhóm nhỏ phân tán mỏng ra núp chờ lệnh trong các bụi  cây chồi. Lúc đó mực thủy triều còn thấp Chiến HạmHQ 504 chưa thể cập vào bờ. Thời gian chờ cũng khá lâu, nước triều dâng chầm chậm, tôi nghe dạt dào tiếng sóng vổ ngoài xa, bất ngờ có người kêu tên tôi  từ phia` có chiếc ghe cào vừa mới cập vào bờ cát, nhận ra là một đại úy, ông này bảo tôi theo lệnh cuả Đại Tá LĐ trưởng là tôi và 3 người nữa lên chiếc ghe nầy, tôi hỏi là:
-
Có chi tiết công tác gì không thẩm quyền?

-
Một chút nữa sẽ biết sau.

Tôi còn nhớ tên một người trong  số đó là Thượng Sĩ Thiệt, hơi trọng tuổi tác và là người Bắc, còn tên của hai anh kia thì tôi quên mất rồi, chỉ biết họ cũng là cao bồi riêng cho Đại Tá Định, tôi thầm nghĩ trong đầu:
- "kì vậy, sao lại đi đâu với nhóm nầy?"

Đêm đó tôi thấy sợ, nhất là lúc ngồi  nhìn đêm đen trên biển cả, sóng gió dập dìu thỉnh thoảng bắn lên vài tia nước làm ướt mặt. Tôi linh tính một cái gì đó có thể xảy ra. Nhớ lời một cấp trưởng nào từng nói với tôi ở tác chiến mà bị cấp chỉ huy đì hay bị trù thì khổ lắm!  Từ trong khoan ghe tôi bò về phiá trước nhìn vào bờ, phía trên đèo thì tối thui, phía làng Liên Chiểu còn thấy leo lét  vài ánh sáng nhưng không tài nào đoán được khoảng cách tới bờ là bao xa. Nhìn phía sau thì thấy mấy người lính  đang  tụ nhau trên một chiếc ghe khác hơi  lớn hơn một chút, họ là những người di chuyễn chúng tôi ra đây. Thủy triều càng lúc càng dâng cao, sóng cứ vỗ vập vồ vào phía hong bên phải . Mặc dầu trên ghe có 4 người nhưng có  cùng một tâm trạng lo lắng! không biết chuyện gì sắp đến, họ bắt đầu thì thầm với nhau  TH/sĩ Thiệt  hỏi tôi:

-
Tại sao phải ngồi trên ghe nầy chờ?

Tôi  trả lời là:

-
Chờ lệnh chớ biết sao?

Đêm càng khuya thì thủy triều càng cao có gió thổi mạnh hơn, cái  ghe nhỏ cứ chồng chành, lao chao theo gió, nó trồi lên trồi xuống. Không lâu lắm thì tất cả bị say sóng đau đầu rồi ngũ thiếp đi cho đến khi trời vừa hừng sáng tôi bừng tỉnh dậy, cố gắng bò  nhanh về phiá sau để nhìn  vào trong bờ: Trời!! có vật gì giống như là một chiến hạm lờ mờ trong màn sương của buổi ban mai dưới mé biển sát chân đèo. Tôi đánh thức mọi người dậy, chỉ tay vào chiến hạm Hải Quân cập trong bờ. Tất cả đều hốt hoảng! Tôi  tìm cây manivelle (tay cầm để quay cho máy nổ) nó cũng đâu mất tiêu rồi! Thì ra đêm hôm qua mấy người đưa chúng tôi ra đây đã  nhẩn tâm quăng nó  xuống biển luôn, có người la hoảng, “Ủa mà sao họ làm vậy ta?Tôi nhìn thấy trên mui ghe còn cột một cái thúng tre, nhưng cả dầm bơi cũng biến mất. Không còn thời giờ để suy nghỉ và do dự, tôi  bảo tất cả phải nhanh lên cố gắng dùng bá súng 2 cây MX 16 và một M79 mà bơi, tôi thì dùng chân mà đạp nước, thật là khó khăn lúc đầu cái thúng chỉ quay lòng vòng  không đi được  bao xa, tất cả 4 thằng chúng tôi không ai có kinh nghiệm  chèo ghe và nhất là lại chèo cái thúng tre tròn vo như vầy bao giờ, nhưng cũng rất may mắn vì nhờ có gió thổi nên một hồi lâu thì chúng tôi cũng cặp được lên tàu,  4 thằng chúng tôi đều bị ướt nhẹp.

Khi bước lên được trên tàu HQ504 là tôi đi tìm Th/u Sơn ngay. Mình mẩy tôi đang ướt lạnh, một tay run run mồi điếu thuốc, còn tay kia thì tôi nắm túm lại cái quần bị rách, tôi nói:
Tao đạp nước muốn chết mồ tổ gần đuối sức, tao tưởng bị bỏ ngoài khơi rồi  hên có gió đưa mới kịp  lên tàu.
Nhìn tôi đang kéo lên cái quần rách nát nó cười khiến tôi cáu tiết chửi thề:
Sơn ơi! mày sướng thật!”

Trên đèo mây mù vẫn còn bay lất phất, tôi nhìn lên bờ một lần cuối vài người vẫn còn đứng dưới nước, một số vẫn còn laị trên bờ nhưng con tàu đang  từ từ ra khơi…


TQLC Quách Vũ Uối - Melbourne

__________________________________


3. BÀI THƠ: NGÃ NGỰA RỒI - di bút Mã Sanh Nhơn


Họ ngã ngựa sau ba mươi năm chiến đấu
Trong bất ngờ niềm đau thấu tận tim can
Giữa chiến trường khi được lịnh phải đâu hàng
Họ ngơ ngác: Phải chăng Trời đã sụp đổ?
 
Họ Trai Việt, giống Tiên Rồng, chung một Tổ
Gương tiền nhân đã từng đổ máu lệ xương
Để dựng xây một nước Việt thật cương cường
Trước bạo lực, trước ngông cuồng quân ngọai nhập.
 
Họ Trai Việt khắp muôn phương cùng tấp nập,
Quyết tong quân để khẩn cấp cứu QUÊ HƯƠNG,
Bốn quân khu họ ngang dọc giữa chiến trường,
Trong hãnh diện, trong niềm thương tòan dân tộc.
 
Giờ ngã ngựa, để khăn tang quanh mái tóc,
Những cô nhi, quả phụ khóc tủi phận mình,
Trước kẻ thù quá phi lý, quá phi tình,
Cuộc sống họ tòan điêu linh, không ánh sang.
 
Giờ ngã ngựa, thành phế binh trong đợi nàng,
Bên vĩa hè, nhìn bè bạn ký sinh trùng,
Thỉnh thỏang mơ về quá khứ thật hào hung,
Họ nuối tiếc, vô hình trung, rơi máu lệ.
 
Giờ ngã ngựa trong rừng xanh vô số kể,
Hàng vạn người với thân thể bọc xương da,
Thiếu cơm ăn, không manh áo, nát cửa nhà,
Chỉ vì tội: VÌ QUỐC GIA, VÌ DÂN TỘC.
 
Giờ ngã ngựa, không chịu nỗi quân tàn độc,
Hàng triệu người trong tiếng khóc bò QUÊ HƯƠNG,
Giữa hiểm nguy, họ liều quyết vượt trùng dương
Trong cái chết, họ tìm đường may để sống.
 
Ngã ngựa rồi, họ vùng lên sống bất động,
Người quả phụ không còn đóng cửa để thụ tang,
Đẩy đàn con trong tư thế “RẤT SẲN SÀNG”
Cùng quật khởi để dẹp tan lòai quỷ đỏ.
 
Ngã ngựa rồi, anh phế binh không đứng đó,
Lê thân tàn khẻ nói nhỏ đủ nhau nghe,
Ta chưa chết, lẻ đâu ta lại chem. Vè,
Mặc DÂN TỘC cho lũ bè quân cướp nước.
 
Ngã ngựa rồi, tù cải tạo không ngừng bước,
Biển căm hờn, biển u uất trước tòan dân,
Thành kiên gan, thành trì chí để khi cần,
Cùng vùng dậy đập tan quân thù DÂN TỘC.
 
Ngã ngựa rồi, cả tòan dân không còn khóc,
Từ Nam Quan, khắp hẻm hóc, đến Cà Mau,
Ngẩng đầu lên, trong thầm lặng nước thương đau,
Quắc đôi mắt, trong nghẹn ngào, cùng chờ đợi…
 
Ngã ngựa rồi, khắp năm châu đời sống mới,
Hàng triệu người còn nhớ tới nữa hay không?
Cùng da vàng, cùng máu đỏ, giống TIÊN RỒNG,
Cả DÂN TỘC, cả QUỐC HỒN dân dảy chết!
 
Ngã ngựa rồi, cách QUÊ HƯƠNG còn hay chết?
Nợ tiền nhân, nợ người chết, nợ dân ta,
Sống tha phương, dân thiều số, chẳng nước nhà,
Để thụ hường, cảnh xa hoa: VINH hay NHỤC?
 
Ngã ngựa rồi, cả tòan dân trong bất lực,
Sống từng ngày, chờ từng phút, đợi từng giờ,
Nhân đã hòa, địa lại lợi, chỉ thời cơ:
VIỆT HẢI NGOẠI, đừng nằm mơ ban ngày nữa.
 
HÃY THỰC TẾ, xin đừng nhìn qua khe cửa,
Đề cùng nhau nung ngọn lửa cứu QUÊ HƯƠNG,
Đề cùng nhau xây dựng lại một TÌNH THƯƠNG,
TÌNH DÂN TỘC thật niên trường và vĩnh cửu.
 

Dibút MÃSANHNHƠN

30/8/1930 – 13/1/1990
Làm trong những giờ phút cuối của cuộc đời. 12/1989
 
____________________________________


4. VIDEO: CÂU CHUYỆN THÁNG TƯ ĐEN -
                    một người Mỹ với trái tim Như Lai


CUỘC GIẢI CỨU TÁO BẠO 105 NGƯỜI VIỆT CỦA JOHN RIORDON VÀO CUỐI THÁNG 4 NĂM 1975.
Câu chuyện rất cảm động nói về một người Mỹ vào cuối tháng 4/75 đã di tản ra khỏi Việt Nam rồi, nhưng ông ta đã trở lại để cứu 105 người Việt Nam làm việc tại Ngân Hàng Citibank còn kẹt lại. Lòng can đảm của ông JOHN RIORDON đã làm cho nhiều người khóc. Nhận thấy đây là một Video Clip rất hay, cần phổ biến. THÙY TRANG ĐÃ LÀM XONG PHẦN SUBTITLE TIẾNG VIỆT.



_______________________________


5. VIDEO: HẠM ĐỘI VN THOÁT TAY CS NGÀY 30.4.75
                    Buổi nói chuyện của Đại Tá Hải Quân ĐỖ KIỂM
                     với Đài Truyền Hình SBTN

Video clip nầy gồm có 4 parts