Phương pháp dạy Tin học tiểu học

ĐỀ TÀI: Nghiên cứu và vận dụng phương pháp dạy học mới trong gỉảng dạy môn Tin học ở trường Tiểu học. (Năm học 2007-2008) 

A –PHẦN MỞ ĐẦU

I- Quá trình hình thành và phát triển của môn Tin học

          Thông tin nuôi dưỡng tri thức, là cội nguồn sức mạnh của con người. Có thể nói toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của con người gắn liền với việc hoàn thiện kỉ năng xử lý thông tin và với sự gia tăng khối lượng thông tin mà xã hội thu thập được. Sách là một cách thức đầu tiên và có hiệu quả nhất để bảo quản và phổ biến thông tin. Tuy nhiên phải nói rằng với sự phát triển mạnh mẽ của con người, khối lượng tri thức con người thu thập được ngày càng tăng nhanh. Người ta đã ước tính ra rằng, nếu trước đây cần tới 50 năm, thì ngày nay chỉ cần 2 năm, tổng khối lượng tri thức nhân loại tích luỹ được đã tăng lên gấp hai lần! Theo lôgic của quá trình này, sớm hay muộn con người cũng vấp phải những khó khăn trong việc xử lý thông tin. Vì vậy con người cần nghĩ ra một phương thức lưu trữ và phổ biến thông tin mới cho phù hợp với sự tăng nhanh của dòng thông tin đó và sự ra đời của máy tính điện tử  có thể coi như là một cứu cánh.

      Trong vài thập niên trở lại đây, sự tăng nhanh về thông tin tới mức mà người ta thường gọi đó là sự bùng nổ thông tin, đó không phải là một sự diễn đạt nhạy cảm mà đúng như thực tế vấn đề đã phản ánh. Với sự trợ giúp của máy tính điện tử con người đã làm được rất nhiều điều kì diệu, giúp cho con người tiếp cận dễ dàng với kho tàng tri thức của nhân loại, nắm bắt được những vấn đề mới lạ xảy ra hàng ngày, làm cho tri thức của con người phong phú và tăng nhanh, đánh dấu một bước ngoặc nhảy vọt trong lịch sử phát triển của nhân loại. Việc ứng dụng rộng rãi của máy tính điện tử trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người đồng thời cũng là yếu tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của một ngành khoa học mới đó là Tin học. Tin học là một bộ môn khoa học nghiên cứu cấu trúc, tính chất của thông tin, phát triển các phương pháp, phương tiện và công cụ kĩ thuật để lưu trữ, xử lý và truyền thông tin đi xa, mà vài năm trở lại đây người ta thường gọi là Công nghệ Thông tin và Truyền thông. Về bản chất đây là bước phát triển tiếp theo của khái niệm Tin học, mang một ý nghĩa rộng hơn, bao trùm cả khái niệm Tin học trước đây, cùng các công nghệ và kĩ thuật điện tử, viễn thông, tự động hoá, nhằm tổ chức khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thông tin phong phú và tiềm tàng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người. Ngày nay Tin học đã trở thành một ngành khoa học rất quan trọng trong cuộc sống của con người. Vì vậy bộ môn Tin học đã và đang dần dần được đưa vào giảng dạy chính thức trong các nhà trường.
 

II- Thực trạng của công tác giảng dạy Tin học hiện nay

     Nói đến Tin học là nói đến sự gắn liền của chiếc máy tính điện tử, là công cụ mà con người tạo ra để lưu trữ, xử lý và truyền tải thông tin đi xa. Vì vậy việc dạy và học Tin nói chung có ảnh hưởng rất lớn đến cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học của nhà trường, điều kiện của địa phương. Dạy học Tin học thường gồm có hai phần: Lý thuyết và thực hành, cả hai được kết hợp song song với nhau trong quá trình dạy học, lý thuyết Tin học là một    thức ăn thô và lạ mà người học chưa bao giờ ăn, chưa bao giờ nghe và thấy. Vì vậy trong một tiết học lý thuyết Tin học thường rất khô khan, có thể nói, sự cung cấp kiến thức thường diễn ra một chiều, bỡi vì : Đây là một môn học mới, khó học, có nhiều khái niệm trừu tượng, nhiều thuật ngữ chuyên nghành, ngôn ngữ tiếng Anh, vì vậy học sinh khó hiểu, khó hình dung, còn xa lạ với nhiều người mà nhất là học sinh Tiểu học ở lứa tuổi nói chưa rành, hiểu chưa thông, ngôn ngữ tiếng Việt nắm chưa vững mà nói chi là tiếng Anh thì việc học Tin học rất dễ bị chán nản, tiết học dễ bị nhàm chán. Một thực tế phổ biến hiện nay là cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học Tin còn nhiều hạn chế. Vì vậy tiết học thực hành ít có hiệu quả, giờ thực hành không khỏi còn nhiều lộn xộn, xảy ra tình trạng học sinh dành máy, ba bốn học sinh một máy, thậm chí có những học sinh nhúc nhát bị bạn dành máy nên rất ít khi được thực hành. Như vậy để khắc phục được hạn chế nêu trên, trước hết người giáo viên cần phải có một phương pháp dạy học thật tốt, một phương thức tổ chức dạy học giờ thực hành sao cho thích hợp và có hiệu quả nhất. Phương pháp dạy học của giáo viên có vai trò rất quan trọng, nó sẽ là công cụ làm nhão thức ăn thô đó đi, học sinh dễ nuốt hơn, cảm thấy ngon hơn, hứng thú học tập hơn. Hơn nữa, trong xu thế xã hội ngày càng phát triển, sự đổi mới của đất nước, nền giáo dục cũng có những thay đổi căn bản cả về nội dung lẫn phương pháp dạy học và ngày càng hội nhập sâu vào sự tiến bộ chung của các nền giáo dục trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy việc vận dụng các phương pháp dạy học tiến bộ, tích cực trong tất cả các môn học nói chung cũng như trong giảng dạy môn Tin học ở trường tiểu học nói riêng cũng là phù hợp với xu thế chung của nền giáo dục hiện đại và là cần thiết để nâng cao chất lượng giáo dục của môn học này.

       Tin học là một môn học mang tính khoa học và công nghệ, tốc độ phát triển và thay đổi rất nhanh, diễn ra hàng ngày, hàng giờ và thậm chí hàng giây. Vì vậy khi giảng dạy, giáo viên nên hướng cho học sinh ý thức tự học, tự tìm tòi nghiên cứu, học thông qua nhiều nguồn khác nhau, đổi mới phương pháp trong giảng dạy, sử dụng các phương tiện dạy học mới như học qua mạng, soạn giáo án điện tử, kiểm tra trắc nghiệm trên máy, sử dụng đồ dùng dạy học trực quan như máy chiếu, projector … để phát huy tính tích cực, tự giác học tập của học sinh. Tóm lại: Từ những thực trạng nêu trên muốn nâng cao chất lượng giáo dục, theo kịp với nền giáo dục hiện đại người giáo viên cần phải đổi mới phương pháp dạy học sao cho có hiệu quả nhất khắc phục được những hạn chế nêu trên.

B- PHẦN NỘI DUNG

     Mỗi môn học có một phương pháp dạy học khác nhau tùy thuộc vào đặc thù của nó. Tuy nhiên  một phương pháp dạy học nào cũng dựa trên cơ sở lý thuyết về tâm lý học và phương pháp luận dạy học.

I- Cơ sở tâm lý học

1- Cơ sở tâm lý của học sinh tiểu học

    Đây là giai đoạn gồm những em từ  6 đến 11 tuổi, chuyển tiếp từ nhà trẻ sang tuổi thiếu niên. Ở lứa tuổi này tâm sinh lý chưa có sự thay đổi đáng kể, trí nhớ chưa phát triển nên rất dễ mau quên, những chú ý có chủ định chưa hình thành rõ nét, khả năng tập trung chú ý chưa sâu, dễ bị phân tán. Tuy vậy những gì để lại cho các em những ấn tượng, những rung động mạnh mẽ cũng tạo nên chú ý của trẻ.

    Hoạt động tư duy của trẻ chưa có nhiều chuyển biến, tư duy trừu tượng chưa phát triển, tư duy cụ thể giữ vai trò quan trọng trong cấu trúc của tư duy. Vì vậy hoạt động tư duy của các em phụ thuộc rất lớn vào biểu tượng trực quan, nội dung trực quan sẽ để lại cho trẻ ấn tượng nhiều hơn là các nội dung trừu tượng, khả năng lập luận, suy đoán, diễn đạt chưa hình thành rõ nét.

    Trong giai đoạn này trong gia đình, các em luôn được yêu thương, nuông chiều, các em chưa có ý thức về việc học tập của mình để làm gì, mà chỉ thích chơi hơn là thích học. Vì vậy khi đến trường để các em học tập tốt thì phương pháp dạy học của người giáo viên có vai trò rất quan trọng, dạy học không nên áp đặt, bắt học sinh phải làm cái này hay phải thuộc cái kia, mà quan trọng hơn là phải tác động đến tâm lý của các em, làm sao cho các em cảm thấy hứng thú, thích học tập và tự giác học tập.

     Như vậy nắm được đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh là điều kiện rất quan trọng để tôi đưa ra một phương pháp dạy học phù hợp nhất, phù hợp với lứa tuổi, phù hợp với môn học và điều kiện thực tại sẽ góp phần nâng cao chất lượng trong giảng dạy Tin ở tiểu học nói chung cũng như trong công tác giảng dạy của bản thân tôi nói riêng.

2- Các lý thuyết dạy học

a- Thuyết hành vi

     Cơ sở của thuyết hành vi: Năm 1889 nhà sinh lý học người Nga Pavlov nghiên cứu thực nghiệm tiết nước bọt của chó khi đưa các kích thích khác nhau. Ban đầu dùng thức ăn kích thích, chó có phản ứng tiết nước bọt đó là phản xạ bẩm sinh. Sau đó kích thích đồng thời bằng ánh đèn và thức ăn. Sau một thời gian luyện tập, con chó phản xạ tiết nước bọt khi chỉ có kích thích ánh đèn là phản xạ có điều kiện. Với thuyết phản xạ có điều kiện lần đầu tiên có thể giải thích cơ chế của việc học tập một cách khách quan theo cơ chế  Kích thích - Phản ứng.

     Các lý thuyết hành vi giới hạn việc nghiên cứu cơ chế học tập vào các hành vi bên ngoài có thể quan sát khách quan bằng thực nghiệm. Không quan tâm đến các quá trình tâm lý bên trong như tri giác, cảm giác, tư duy, ý thức vì không thể quan sát khách quan.

     * Hạn chế:

- Quá trình học tập không chỉ do kích thích từ bên  ngoài mà còn là quá trình chủ  động bên trong của chủ thể nhận thức.

- Việc chia quá trình học tập thành chuỗi các hành vi đơn giản không phản ánh hết được các mối quan hệ tổng thể.

b- Thuyết nhận thức

     Các lý thuyết nhận thức nguyên cứu quá trình nhận thức bên trong với tư cách là một quá trình xử  lý thông tin tương tự như một hệ thống kỉ thuật.

     Qúa trình nhận thức là quá trình có cấu trúc, và có ảnh hưởng quyết định đến hành vi. Con người tiếp thu các thông tin bên ngoài xử lý và đánh giá chúng từ đó quyết định các hành vi ửng xử.

     Trung tâm của các lý thuyết là các hoạt động trí tuệ: Xác định, phân tích và hệ thống hóa các sự kiện và các hiện tượng, nhớ lại những kiến thức đã học, giải quyết các vấn đề và phát triển, hình thành các ý tưởng mới.

     Cấu trúc nhận thức của con người không phải bẩm sinh mà hình thành qua kinh nghiệm. Mỗi người có cấu trúc nhận thức riêng. Vì vậy muốn có sự thay đổi đối với một người thì cần có tác động phù hợp nhằm thay đổi nhận thức của người đó.

     Con người có thể tự điều chỉnh quá trình nhận thức, tự đặt mục đích, xây dựng và thực

 hiện. Trong đó có thể tự quan sát, tự đánh giá và tự  hưng  phấn không  cần kích  thích từ

bên ngoài.

     * Hạn chế:

- Việc dạy học nhằm phát triển tư duy, giải quyết vấn đề, dạy học khám phá đòi hỏi nhiều thời gian, đòi hỏi cao ở sự chuẩn bị cũng như năng lực của giáo viên. Cấu trúc quá trình tư duy không quan sát trực tiếp được nên chỉ mang tính giả thuyết.

c- Thuyết kiến tạo

     Tư tưởng cốt lõi của lý thuyết kiến tạo là: Tri thức được xuất hiện thông qua việc chủ thể nhận thức tự cấu trúc vào chủ thể bên trong của mình, tri thức mang tính chủ quan.

     Với việc nhấn mạnh vai trò chủ thể nhận thức trong việc giải thích và kiến tạo tri thức, thuyết kiến tạo thuộc lý thuyết chủ thể.

     Cần tổ chức sự tương tác giữa người học và đối tượng học tập, để giúp người học xây

 dựng thông tin mới vào cấu trúc tư duy của chính mình, đã được chủ thể điều chỉnh. Học

 không chỉ là khám phá mà còn là sự giải thích, cấu trúc mới tri thức.

     * Hạn chế:

- Quan điểm cực đoan trong thuyết kiến tạo phủ nhận sự tồn tại của tri thức khách quan là không thuyết phục.

- Một số tác giả nhấn mạnh quá đơn phương rằng chỉ có thể học tập có ý nghĩa những gì mà người ta quan tâm. Tuy nhiên cuộc sống đòi hỏi cả những điều khi còn đi học người ta không quan tâm.

- Việc đưa các kỹ năng cơ bản vào các đề tài phức tạp mà không có luyện tập cơ bản có thể hạn chế hiệu quả luyện tập.

- Việc nhấn mạnh đơn phương việc học trong nhóm cần được xem xét. Năng lực học tập của cá nhân vẫn luôn luôn đóng vai trò quan trọng.

- Dạy học theo lý thuyết kiến tạo đòi hỏi thời gian lớn.

 Kết luận về các lý thuyết học tập

     Trong lĩnh vực tâm lý học dạy học có rất nhiều lý thuyết học tập khác nhau.

     Mỗi lý thuyết có những ưu điểm và giới hạn riêng. Tuy nhiên không có một lý thuyết học tập toàn năng có thể giải thích thỏa đáng đầy đủ cơ chế của việc học.

     Xu hướng chung của các nhà khoa học ngày nay không tìm kiếm một lý thuyết tổng quát mà chỉ xây dựng những mô hình riêng lẻ. Một trong những xu hướng đó là nghiên cứu cơ chế học tập trên cơ sở sinh lý thần kinh với trợ giúp của công nghệ mới.

     Trong công việc dạy và học ngày này và trong cải cách giáo dục thì việc vận dụng kết hợp một cách thích hợp các lý thuyết học tập khác nhau là cần thiết.

II- Cơ sở phương pháp luận dạy học

1- Khái niệm phương pháp dạy học

a- Phương pháp dạy học theo nghĩa rộng

     Thuật ngữ  phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (methodos) có nghĩa là con đường để đạt mục đích. Dấu hiệu bản chất của phương pháp là tính hướng đích, phương pháp gắn liền với hoạt động, với các hệ thống, các chỉ dẫn. Theo đó, PPDH là con đường để đạt mục đích dạy học.

     PPDH là cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học. Cách thức hành động bao giờ cũng diễn ra trong những hình thức cụ thể. Cách thức và hình thức không tách rời nhau một cách độc lập.

     PPDH là những hình thức và cách thức, thông qua đó giáo viên và học sinh liên hệ những hiện thực tự nhiên và xã hội xung quanh trong những điều kiện học tập cụ thể.

     Các PPDH là những hình thức và cách thức hoạt động của giáo viên và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt mục đích dạy học.

b- Phương pháp dạy học theo nghĩa hẹp

     Khái niệm PPDH ở đây được hiểu với nghĩa hẹp, là những hình thức, cách thức hành động của giáo viên và học sinh nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù hợp với những nội dung và điều kiện cụ thể.

     PPDH cụ thể quy định những mô hình hành động của giáo viên và học sinh.

     Các phưong pháp dạy hoc cụ thể: Thuyết trình, đàm thoại, trình diễn, làm mẫu, luyện tập, thực nghiệm, thảo luận…

2- Đặc điểm của phương pháp dạy học

    PPDH là một khái niệm rất phức hợp, có nhiều bình diện, phương diện khác nhau. Có thể nêu ra một số đặc trưng của phương pháp dạy học như sau:

-         PPDH định hướng mục đích dạy học

-         PPDH là sự thống nhất của PP dạy và PP học

-         PPDH thực hiện thống nhất chức năng dạy học và giáo dục

-         PPDH là sự thống nhất của lôgic nội dung dạy học và lôgic tâm lý nhận thức.

-         PPDH có mặt bên ngoài và bên trong, PPDH có mặt khách quan và chủ quan.

-         PPDH là sự thống nhất của cách thức hành động và phượng tiện dạy học.

3- Phân loại các phương pháp dạy học

     Khái niệm PPDH nằm trong mối quan hệ với rất nhiều thành phần của quá trình dạy học. Khái niệm PPDH rất phức hợp, có nhiều bình diện và phương diện khác nhau. PPDH được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp, với nhiều mức độ rộng hẹp khác nhau. Không có sự thống nhất về phân loại các phương pháp dạy học. Mọi phương án phân loại có những ưu điểm và giới hạn riêng. Khi không phân biệt các bình diện, phương diện của PPDH, có xu hướng gọi chung tất cả là phương pháp dạy học. Có nhiều cách phân loại phương pháp dạy học, tuỳ thuộc vào cơ sở phân loại.

     Tóm lại các phương pháp dạy học có nhiều cách phân loại khác nhau nhưng quan trọng là vấn đề ở chỗ giáo viên phải nắm được thực chất từng phương pháp, các ưu nhược điểm của nó để có thể sử dụng thích hợp đúng lúc, đúng chỗ, phù hợp với các tình huống xảy ra. Không có một PPDH có hiệu quả vạn năng. Cần vận dụng phối hợp các PPDH phù hợp với mục tiêu và nội dung, đối tượng và điều kiện dạy học cụ thể.

III- Dạy và học với phương pháp dạy học mới trong môn Tin ở trường tiểu học

      Trên cơ sở nghiên cứu và tìm hiểu các cơ sở tâm lý của học sinh tiểu học và cơ sở phương pháp luận dạy học tôi thấy vận dụng các phương pháp dạy học mới trong giảng dạy môn Tin ở tiểu học sẽ đem lại hiệu quả cao hơn, nâng cao chất lượng dạy và học. Xu hướng chung trong phương pháp dạy học mới hiện nay chủ yếu dựa trên ứng dụng của lý thuyết kiến tạo:Dạy học lấy người học làm trung tâm hay hoạt động hoá người học, phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của học sinh” .

     Người học có vai trò tích cực và tự điều khiển. Học là quá trình kiến tạo tích cực. Quá trình học được tiến hành trong các chủ đề phức hợp và theo tình huống. Kết quả học tập là quá trình kiến tạo phụ thuộc cá nhân và tình huống cụ thể không nhìn thấy trước. Người dạy có nhiệm vụ đưa ra các tình huống có vấn đề và chỉ dẫn các công cụ để giải quyết vấn đề. Giáo viên là người tư vấn và cùng tổ chức quá trình học tập. Việc dạy được tiến hành với ý nghĩa gợi ý, hỗ trợ và tư vấn cho người học. Tính lặp lại các phương pháp dạy đã sử dụng bị hạn chế. Quá trình học là đối tượng đánh giá nhiều hơn là kết quả học tập. Học sinh cần được tham gia vào quá trình đánh giá.

     Phương pháp dạy học mới trong giảng dạy Tin học ở tiểu học còn dựa trên lý thuyết hành động nhận thức, lý thuyết hoạt động. Bỡi vì trong quá trình nhận thức cần có sự kết hợp giữa tư duy và hành động, giữa lý thuyết và thực hành: “Tâm lý của con người hình thành và thể hiện qua hoạt động”. Vì vậy phương pháp dạy học mới trong giảng dạy môn Tin ở tiểu học có các đặc điểm sau:

1- Người học là chủ thể của hoạt động dạy học, học trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực.

     Người học là chủ thể chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kỉ năng, hình thành thái độ chứ không phải là nhân vật bị động hoàn toàn theo lệnh của thầy giáo. Thầy giáo đóng vai trò chủ đạo điểu khiển, định hướng quá trình hoạt động của học sinh. Học sinh thông qua những hoạt động cụ thể để định hướng thành động cơ, kiến tạo tri thức mới cho mình. Chẳng hạn khi dạy một nội dung lý thuyết Tin học người giáo viên cần đưa ra một hệ thống rất nhiều câu hỏi từ dễ đến khó. Lúc đầu bao giờ cũng nêu ra những câu hỏi rất dễ để lôi cuốn, phát huy tính tích cực hoạt động đến tất cả các đối tượng học sinh mà nhất là những học sinh yếu kém, giáo viên cần ưu tiên, khuyến khích các đối tượng này. Sau đó đưa ra các câu hỏi khó dần để tất cả học sinh tham gia ý kiến và tự hình thành tri thức mới, giáo viên góp ý, nhận xét để học sinh xác nhận lại tri thức mới đó.

Ví dụ: Khi dạy học nội dung Tin học là cách tắt máy an toàn. Giáo viên không nên nêu trực tiếp cách tắt máy an toàn ngay, áp đặt cho học sinh phải nắm ngay mà người giáo viên phải khơi dậy sự tích cực, tự giác hoạt động của học sinh. Học sinh tự hoạt động tìm tòi ra cách tắt máy an toàn, như sau:

     Khi không làm việc với máy tính nữa em cần phải tắt máy. Nếu em không tắt mà cứ để máy hoạt động suốt cả ngày thì có ảnh hưởng gì? Với câu hỏi này thì sẽ có rất nhiều học sinh biết nên lớp chắc chắn sẽ sôi nổi hơn.

     Vậy em tắt máy bằng cách nào? Học sinh trả lời theo nhiều cách khác nhau như: Rút nguồn điện, nhấn vào nút Power trên thân máy, dùng chuột để tắt máy, dùng bàn phím để tắt máy.

     Giáo viên: Có nhiều cách tắt máy khác nhau, nhưng theo em cách tắt máy nào là an toàn, không làm cho máy tính mau hỏng?

     Nếu em rút phích cắm điện khi máy tính đang hoạt động thì có ảnh hưởng gì? Hay nhấn vào nút Power khi máy tính đang hoạt động thì có ảnh hưởng gì?

Đây là một yêu cầu khó đối với học sinh tiểu học vì vậy rất ít học sinh phát biểu hay trả lời đúng. Giáo viên có thể đưa ra liên hệ với thực tế chẳng hạn, một chiếc xe đang chạy với tốc độ cao nếu thắng dừng lại đột ngột thì chiếc xe đó như thế nào? Học sinh trả lời được câu hỏi này thì sẽ trả lời được câu hỏi trước đó.

     Vậy cách tắt máy nào là an toàn nhất, ít làm hư hỏng máy tính? Học sinh tự tìm tòi ra kiến thức mới cho mình.

     Giáo viên nhận xét: Em tắt máy bằng chuột hoặc bàn phím là an toàn nhất, máy tính không bị hư hỏng và bền hơn. Học sinh xác nhận lại tri thức mới.

     Hay khi dạy học với nội dung thực hành, giáo viên không thể áp đặt, bắt buộc học sinh thực hành một cách thụ động theo ý muốn của mình, mà người giáo viên phải có phương pháp để phát huy tính tích cực, tự giác bằng các biện pháp như khuyến khích, khen thưởng, cho điểm để học sinh tích cực thực hành, chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho mình.

2- Dạy học lý thuyết gắn liền với thực hành

     Phương pháp dạy học lý thuyết gắn liền với thực hành có thể nói là mới đối với các môn học khác, nhưng với môn Tin học tiểu học thì phương pháp này là không thể thiếu khi dạy bất kì một nội dung Tin học nào. Đây là một phương pháp dạy học chủ đạo trong quá trình dạy học Tin ở tiểu học. Bỡi vì: Học sinh tiểu học là lứa tuổi mà tâm lý chưa phát triển, khả năng diễn dạt kém, nếu học lý thuyết chung chung học sinh rất mau quên. Kiến thức Tin học là những nội dung tương đối mới mẻ, xa lạ và có nhiều khái nệm  rất trừu tượng đối với nhiều học sinh. Hơn nữa kiến thức Tin học đòi hỏi rất nhiều kỹ năng sử dụng máy tính nhanh chóng và chính xác. Chẳng hạn khi dạy nội dung tắt máy an toàn nếu yêu cầu học sinh trình bày cách tắt máy an toàn bằng lý thuyết thì đây là một yêu cầu rất khó ngay cả đối với học sinh giỏi. Còn nếu yêu cầu học sinh lên tắt máy tính theo cách an toàn nhất thì quá nhiều học sinh biết đến, ngay cả học sinh trung bình và yếu.

     Vì vậy dạy học lý thuyết gắn liền với thực hành trên máy tính là điều kiện rất quan trọng để học sinh xác nhận tri thức mới, hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho mình. Tri thức Tin học không đòi hỏi cao ở khả năng trình bày lý thuyết xuông mà đòi hỏi học sinh phải có kỷ năng thực hành giỏi, biết sử dụng máy tính thành thạo.

     Hay khi dạy nội dung tập vẽ trên máy tính thì theo phân phối chương trình của Bộ giáo dục tất cả đều là tiết thực hành, không có tiết lý thuyết. Như vậy dạy Tin học ở tiểu học đòi hỏi cao ở kỹ năng thực hành của học sinh, hình thành các thao tác nhanh chóng, chính xác khi sử dụng chuột và bàn phím. Đây là cơ sở, là nền tảng của một người mới bắt đầu học Tin học

     Nếu đủ máy tính cho mỗi học sinh một máy, thì giờ học Tin học sẽ thực hiện ngay tại phong máy, kết hợp song song giữa lý thuyết và thực hành, học nội dung nào sẽ thực hành ngay nội dung đó.

3- Giáo dục vệ sinh học đường thông qua thực hành máy tính

     Đây là một yêu cầu rất cơ bản và cần thiết đối với lứa tuổi học sinh tiểu học, cần phải được giáo dục tốt. Vào đầu năm học cần cho học sinh học thuộc nội quy phòng máy, nội quy phòng máy phải được đánh máy, in phóng to treo trước phòng học. Các máy tính phải được đánh số thứ tự và có thể giao theo nhóm hai hoặc ba học sinh một máy, các học sinh này có trách nhiệm quản lý và thực hành máy của mình tránh hiện tượng giành máy, gây mất trật tự trong giờ học. Giờ thực hành phải thực hiện nghiêm túc giống như một tiết học lý thuyết bình thường, học sinh ngồi thực hành phải đúng tư thế và đảm bảo các yêu cầu sau:

     - Ngồi thẳng, tư thế thoải mái sao cho không phải ngẩng cổ hay ngước mắt khi nhìn vào màn hình, không ngồi nghiêng, ngồi ngửa khi thực hành.

     - Tay đặt ngang tầm bàn phím không vươn ra xa, chuột đặt bên tay phải.

     - Nên giữ khoảng cách từ mắt học sinh đến màn hình trong khoảng 50cm đến 80cm.

     - Không nên nhìn quá lâu vào màn hình.

     - Máy tính nên đặt ở vị trí sao cho ánh sáng không chiếu thẳng vào màn hình và không chiếu thẳng vào mắt của học sinh.

     - Phòng máy phải gọn gàng, sạch sẽ đảm bảo an toàn cho học sinh.

     Học Tin học phải thường xuyên tiếp xúc với máy tính, mà nhất là học sinh tiểu học ở lứa tuổi còn nhỏ nếu không giáo dục tốt cho học sinh về ý thức vệ sinh học đường khi thực hành máy tính thì học sinh rất dễ mắc các bệnh như cận thị, vẹt cột sống, mệt mỏi khi ngồi học… ảnh hưởng đến sự phát triển cả về thể lực, trí lực của học sinh sau này.

     Học sinh tiểu học là lứa tuổi hồn nhiên, chưa có ý thức nhiều về hành vi của mình nên giờ thực hành rất dễ xảy ra tình trạng lộn xộn, đùa giỡn trong khi thực hành, ngồi thực hành với tư thế tùy tiện theo thói quen của mình. Vì vậy giáo dục vệ sinh học đường có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách của học sinh sau này. Giáo viên cần phải chú ý đúng mức, kịp thời uốn nắn những sai lệch, hình thành những thói quen, thao tác đúng đắn cho học sinh. Bỡi vì những nền tảng kiến thức ban đầu luôn có vai trò hết sức quan trọng, là nền tảng cho các cấp học sau này. Những sai lệch ngay từ ban đầu sẽ tạo nền những thói quen không đúng và rất khó sửa chữa sau này, ảnh hưởng đến chất lượng học tập ủa học sinh.

4- Các hình thức đánh giá thông thường sẽ được sử dụng phối hợp với hình thức trác nghiệm, kiểm tra trên máy.

a- Kiểm tra: Là quá trình  nhằm cung cấp cho thầy và trò những  thông tin về kết quả dạy

 học được thực hiện thường xuyên và xen lẫn trong quá trình dạy học. Việc kiểm tra nhằm hai mục đích là tức thời và lâu dài.

     Tức thời: Tại thời điểm nào đó, thầy giáo dùng một biện pháp nào đó (thường là các câu hỏi trắc nghiệm kèm theo phương án trả lời) để nắm được ngay kết quả kiểm tra làm căn cứ cho các bước tiếp theo của tiết học.

     Lâu dài: Giúp thầy giáo thấy được sự thành công hay thất bại của quá trình dạy học, cung cấp một bức tranh về tình hình học sinh làm cơ sở cho việc lập kế hoạch dạy học, đi sâu giáo dục học sinh cá biệt.

* Một số hình thức kiểm tra:

     Kiểm tra miệng: Ngoài việc thực hiện mục tiêu chung là đánh giá kết quả học tập ngắn của học sinh. Kiểm tra miệng còn có mục tiêu riêng là thu hút sự chú ý của học sinh đối với bài học, tạo liên kết giữa bài học trước, bài học hiện tại và bài học sắp tới. Kích thích sự tham gia tích cực của học sinh vào bài giảng của giáo viên. Giúp giáo viên thu thập kịp thời thông tin phản hồi để có những điều chỉnh thích hợp.

   Không nhất thiết phải kiểm tra miệng vào đầu giờ, có thể kiểm tra ở giữa giờ, kết hợp dạy bài mới. Không nên chỉ yêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức đã học mà cần yêu cầu học sinh chỉ ra mối liên hệ giữa các kiến thức và vận dụng nó vào các tình huống mới. Nếu hiểu được kiến thức chỉ nên cho không quá 7 điểm, 3 điểm còn lại dành cho sự sáng tạo và vận dụng kiến thức. Chỉ cho điểm kiểm tra miệng khi thấy câu trả lời đã đủ để đánh giá chính xác kết quả kiểm tra bài của học sinh. Nên kèm theo kiểm tra miệng là một lời nhận xét hoặc khen chê nhưng đều mang tính động viên, khích lệ. Kiểm tra miệng là một hoạt động quan trọng nên cần chuẩn bị chu đáo về thời điểm, về nội dung câu hỏi.

     Kiểm tra thực hành trên máy: Mục tiêu đánh giá năng lực thực hiện các bài tập thực hành tin học của học sinh. Đánh giá kỹ năng thực hành của học sinh. Đánh giá về thái độ trung thực độc lập, hợp tác, tính kiên trì, thận trọng trong khi thực hành. Gây hứng thú cho học sinh trong việc học tin học.

   Trước giờ kiểm tra cần kiểm tra phòng máy, đảm báo các máy tính hoạt động tốt, đảm bảo an toàn cho học sinh. Cần chuẩn bị trước bài kiểm tra thực hành trên máy. Đảm bảo phần mềm cài đặt và thiết lập các tùy chọn giống nhau trên tất cả các máy. Có biện pháp quản lý nhằm tránh hiện tượng thiếu trung thực như lấy bài của học sinh thực hành trước làm bài kiểm tra của mình.

      Kiểm tra viết: Theo truyền thống các bài kiểm tra viết vẫn có vai trò chủ đạo trong hệ  thống các bài kiểm tra. Có hai hình thức kiểm tra viết là trắc nghiệm và tự luận.

   Tự  luận: Là hình thức kiểm tra mà các câu hỏi buộc phải trả lời theo dạng mở, học sinh tự mình trình bày ý kiến trong một bài viết để giải quyết vấn đề mà câu hỏi nêu ra.

   Trắc nghiệm: Đề bài thường bao gồm nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu lên vấn đề và các thông tin cần thiết để học sinh có thể trả lời từng câu một cách ngắn gọn. Các thể loại của trắc nghiệm là ghép đôi, điền khuyết, trả lời ngắn, câu đúng sai, câu nhiều lựa chọn.

     Cần khẳng định không có phương pháp kiểm tra nào hoàn toàn tốt. Nên dùng hình thức kiểm tra tự luận khi thí sinh không quá đông, khuyến khích và đánh giá cách diễn đạt, khi muốn hiểu ý tưởng của thí sinh hơn là muốn khảo sát thành quả học tập. Khi có thể tin vào khả năng chấm bài của giáo viên là chính xác. Khi không có nhiều thời gian soạn nhưng có đủ thời gian chấm bài. Dùng phương pháp trắc nghiệm khi số thí sinh rất đông, khi muốn chấm bài nhanh, có điểm số đáng tin cậy không phụ thuộc và người chấm bài. Khi phải coi trọng yếu tố công bằng, vô tư, chính xác và ngăn chặn sự gian lận trong thi cử. Khi muốn kiểm tra một phạm vi hiểu biết rộng, ngăn ngừa học tủ, học vẹt và giảm thiểu sự may rủi.

     Một số yêu cầu của bài kiểm tra trắc nghiệm.

 - Sử dụng ngôn ngữ phù hợp với thí sinh.

 - Không hỏi ý kiến riêng của thí sinh, chỉ hỏi sự  kiện kiến thức.

 - Tránh dùng câu phủ định đặc biệt là phủ định hai lần.

 - Nếu dùng câu phủ định thì phải in đậm, in nghiêng hoặc gạch chân từ phủ định.

 - Với lọai câu hỏi có nhiều lựa chọn, các phương án sai phải có vẻ hợp lý.

 - Chỉ nên dùng 4 đến 5 phương án lựa chọn, chỉ có một phương án đúng.

b- Đánh giá

    Là sự đồng tình hay không đồng tình kể từ cái ban đầu đến sự đánh giá bằng lời cho điểm. Cơ sở của việc đánh giá là những bài kiểm tra, bên cạnh đó còn phải căn cứ vào các quá trình học tập của học sinh. Hai học sinh có cùng số điểm như nhau có thể được đánh giá rất khác nhau.

    Mục đích kiểm tra đánh giá không chỉ dừng ở chỗ cho học sinh một điểm số mà quan trọng là phân tích kết quả cho học sinh thấy được điểm mạnh, chỗ yếu của mình, chỗ nào nắm vững, vạch ra sai lầm và hướng khắc phục.

C- PHẦN KẾT LUẬN

     Như vậy trên đây là một số định hướng về phương pháp dạy học Tin ở tiểu học mà trong quá trình dạy học thực tiễn cũng như với sự nghiên cứu, tìm tòi tôi đã đúc kết và tìm hiểu được. Do thực tế dạy học còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến phương pháp dạy học, vì vậy cần phải vận dụng một cách linh hoạt sao cho đem lại hiệu quả nhất. Phương pháp có vai trò rất quan trọng trong suốt quá trình dạy học, ảnh hưởng to lớn đến chất lượng dạy và học của giáo viên và học sinh. Tuy nhiên đây cũng mới chỉ là những vấn đề cơ bản mà tôi nghiên cứu và tìm hiểu được, chắc chắn còn nhiều thiếu sót, sai lầm mong quý thầy, cô giáo đóng góp ý kiến để tôi rút kinh nghiệm và hoàn thiện cho bản thân hơn.

 

                                                                       Ngô Mây, ngày 20 tháng 2 năm 2008

                                                                                  NGƯỜI ĐĂNG KÝ