Chế độ công an trị và luật rừng

Chánh sách công an trị

Milovan Djilas, Phó Tổng Thống của nước Cộng sản Nam Tư đã bị bỏ tù vì ông đã can đảm vạch trần các tội ác của chủ nghĩa Cộng Sản và trong tù, ông gởi tác phẩm The New Class qua New York xuất bản vào năm 1957. Nói về công an và luật pháp ông viết:

Dưới chế độ Cộng Sản, mọi người phải biết cái gì được làm, cái gì bị cấm và ai có quyền cấm. Luật lệ đối với Cộng Sản không cần thiết, quyền lực nằm trong tay đảng được hổ trợ bởi hệ thống công an mật vụ. Vai trò lãnh đạo của đảng không thấy ghi trong các đạo luật thành văn, không thấy trong văn kiện nào cho phép công an có quyền theo dõi, bắt bớ, tra tấn người dân, không thấy ở đâu nói rằng Tòa án, Viện kiểm soát phải báo cáo cho đảng và công an, nhưng sự thực là như vậy.

Các phương tiện của Cộng sản sử dụng có bản chất vô nhân đạo và thô bạo và để đạt được quyền lực tuyệt đối, họ không từ chối bất cứ thủ đoạn nào. Cộng sản đã biến tài sản của nhân dân thành tài sản của giai cấp mình, hứa hủy bỏ nhà nước cùng với tiến trình dân chủ hóa, nhưng trong thực tế họ càng lúc càng củng cố quyền lực để được độc tôn. Cộng sản đã trung thành với nguyên tắc “mục đích biện minh cho phương tiện, và phương tiện là Đảng”
(Milovan Djilas. The New Class. London: Thames&Hudson, 1957. Chapter: The Party State, p.70,71, trích dịch).

Ngoài ra, mặc dù Cộng sản dư biết lý thuyết Karl Marx hôm nay chỉ là một đống giấy vụn lỗi thời và Hồ Chủ tịch của họ chỉ là một tên ma đầu dâm đảng (xem phụ lục), nhưng chúng vẫn lập hình tượng để núp bóng tiếp tục áp dụng những nguyên lý mà Djilas đã mô tả.

Trên thế giới, không một nước nào có một lực lượng an ninh khổng lồ như VN, nếu tính theo tỉ lệ dân số. Theo Carl Thayer, GS Học Viện Quốc Phòng, Đại học New South Wales thì VN có khoảng 6,7 triệu người làm việc toàn thời và bán thời trong ngành an ninh và quốc phòng trên tổng số 43 triệu người dân trên thị trường lao động. Nói khác đi, cứ 6 người lao động thì có một người là công an hay bộ đội (Polash Ghost. VN: a police state where one-in-six works for security forces, 29/08/2013).

Không kể số tài sản mà công an và bộ đội trấn lột bằng tham nhũng, ăn cắp, ăn cướp, không kể những tác hại vật chất và tinh thần mà họ tạo ra cho người dân và đất nước, chỉ với tiền lương thôi, nếu tính mỗi người trung bình lãnh 100 USD một tháng, ngân quỹ quốc gia phải tốn 8 tỉ mỹ kim để nuôi lực lượng công an quân đội nầy.Theo báo cáo của Cổng Thông Tin điện tử của Bộ Tài Chánh, ngân sách chi của VN năm 2014 là 1 006 700 tỉ VNĐ tương đương với 48 tỉ USD, như vậy chỉ lực lượng nầy đã tốn 17% ngân sách chi của quốc gia. Ngoài ra, còn phải kể thêm Bộ Chính trị Trung ương của Đảng có 2895 đảng viên cao cấp phải tốn 1294 tỉ đồng gần tương đương với 100 triệu USD tiền lương, dĩ nhiên không kể tiền tham nhũng không thể biết được (nhưng chắc chắn là khổng lồ vì đây là các loại cá mập).

Luật pháp chỉ là trò hề

Đúng như Djilas đã nói, luật pháp ở Việt Nam chỉ là trò hề. Điều nầy đã minh chứng rõ rệt qua cái bìa của quyển sách “Bộ Luật Dân sự và Văn bản hướng dẩn thi hành 2014” với bức hình của diễn viên hài kịch ăn khách ở VN tên là Công Lý, ở trần, mặc cái quần đùi thật ngắn chỉ đủ che hạ bộ dang hai tay làm cán cân công lý. Luật pháp là bức tường thành bảo vệ công lý cho người dân. Khi bộ sách Luật dùng cho các nhà luật học, các quan tòa, cho người dân đã bị hạ thấp đến cái hình thức thô tục như vậy thì thấy rõ chế độ cộng sản là một chế độ không có luật pháp.

Bà Ngô Bá Thành, chuyên viên xách động xuống đường thời VNCH, được đảng Cộng Sản trả ơn bằng cách đưa vào Quốc Hội và phong cho chức Chủ nhiệm Ủy Ban Pháp Luật đã tuyên bố: “VN có một rừng luật nhưng lại chuyên xài luật rừng”.

Không thể nào nói hết được các “thành tích” của đảng và công an trong việc đàn áp và trấn lột người dân, bài viết chỉ giới hạn trong lãnh vực nhân quyền và truyền thông mà công an và công lý luật rừng đã sử dụng để khủng bố những nhà tranh đấu nhân quyền, những nhà văn, nhà báo độc lập (độc lập hiểu theo nghĩa là không giống với 99% văn nô, nhà báo của đảng).

Muốn bắt ai thì bắt

Cái luật rừng mà chế độ thường đem ra áp dụng là điều 88 của bộ Hình luật đã được CS tùy tiện dẫn giải để muốn bắt ai thì bắt, muốn bỏ tù ai thì bỏ tù như ông Nguyễn Quang A , một nhà tranh đấu nhân quyền trong nước đã nói với đài VOA.

Các hành vi chống nhà nước theo đìều 88 được các cơ quan tư pháp, bộ công an hiểu, giải thích và áp dụng như sau: Hành vi tuyên truyền nhằm giảm lòng tin với đảng Cộng Sản, với chế độ XHCN, phá hoại sự thống nhất về chính trị, tư tưởng trong xã hội, xâm phạm sự vững mạnh của chính quyền và chế độ XHCN. Hành vi xuyên tạc, đả kích các chủ trương, chính sách của đảng CS và nhà nước trong các lĩnh vực quản lý kinh tế, quản lý xã hội, quản lý cán bộ, công chức nhà nước…Hành vi lợi dụng những tiêu cực khoét vào những khó khăn trước mắt, thổi phòng những khuyết điểm trong quản lý kinh tế, quản lý xã hôi làm cho người khác không tin vào chế độ và sự lãnh đạo của đảng CS, sự quản lý điều hành của bộ máy nhà nước.

Giải thích như vậy, bất cứ người dân Việt Nam nào cũng có tội khi phát biểu ý kiến.

Ngoài ra còn nhiều điều khoản ác ôn khác như điều 258 (xâm phạm lợi ích của nhà nước, của đoàn thể nhân dân), điều 79 (hoạt động nhằm lật đổ chánh phủ) mà các ông “tòa nhân dân” tùy tiện áp dụng theo lịnh của đảng. Đảng điều khiển tất cả tòa án , các thẩm phán đều là đảng viên trung kiên. Liên đoàn Luật sư thì nằm dưới sự giám sát của Mặt trận Tổ quốc, một cơ quan ngoại vi của đảng cũng như Bộ Tư phápHội Luật gia Việt Nam. Nói tóm lại, luật pháp của Việt Nam là luật pháp của đảng.

Từ nhiều năm nay, CS đã bắt giam không xét xử hay xét xử với những bản án phi lý hàng trăm tù nhân lương tâm, những người tranh đấu cho tự do, nhân quyền, những người can đảm vạch trần những thối nát của chế độ.

Theo Phúc trình của Phóng Viên Không Biên Giới (Reporters sans Frontières= RSF) năm 2012, Cộng Sản đã bắt giam 166 người và kết án 48 người với tội danh là phá hoại an ninh trong đó có những bloggers, những nhà tranh đấu đòi hỏi nhân quyền. Đầu năm 2013, CS bắt giam 14 giáo dân trong đó có 8 bloggers bị kết án âm mưu lật đổ chính quyền. RSF kết luận Việt Nam là nhà tù lớn thứ nhì trên thế giới đối với các bloggers sau Trung Quốc.

Human Rights Watch (HRW) cũng cho biết tình trạng công an sắc phục và công an giả dạng côn đồ sách nhiễu, đe dọa, bắt giam, tấn công các nhà hoạt động cho nhân quyền tiếp tục gia tăng trong năm 2014, sự đi lại của các chức sắc giáo hội bị kiểm soát và hạn chế, công an và chánh quyền lợi dụng các công trình phát triển kinh tế để cướp đất của người dân vẫn tràn lan. Theo Phúc trình 2015, trong năm 2014, VN đã kết án 29 nhà hoạt động bất đồng chính kiến và bắt giam ít nhứt 13 nhà tranh đấu nhân quyền trong đó có các blogger được nhiều người biết đến như Anh Ba Sàm (Nguyễn Hữu Vinh), Trương Duy Nhất, Phạm Viết Đào, Bùi Thị Minh Hằng. Chỉ trong tháng 12 năm 2014, chánh quyền đã bắt nhà văn Nguyễn Quang Lập, chủ biên trang mạng Quê Choa, blogger Nguyễn Đình Ngọc, bút hiệu Nguyễn Ngọc Già cộng tác viên thường xuyên cho Dân Làm Báo, và Hồng Lê Thọ chủ biên trang mạng Người Lót Gạch. Điểm đặc biệt GS Hồng Lê Thọ là một Việt Kiều yêu nước ở Nhựt, đã tận tụy phục vụ đảng trong thời “Chống Mỹ Cứu Nước”, nhưng với CS bạn và thù không có ranh giới.,

Việt Nam là kẻ thù của Internet

Đó là cái tựa của Tổ chức Phóng viên Không Biên Giới , trong bản phúc trình công bố ngày 10 tháng 3 năm 2013 nhân Ngày Thế giới chống lại sự kiểm duyệt không gian ảo (Journée mondiale contre la cyber - censure).

Năm 2015, VN “được” kể là một trong 6 quốc gia có chính sách tự do báo chí tồi tệ nhất thế gìới. Thứ hạng tự do báo chí của VN năm 2015 (số liệu năm 2014) hạng 175 trong số 180 quốc gia. So với vùng Đông Nam Á, VN là quốc gia có quyền tự do báo chí thấp nhất, thua cả Miến Điện (hạng 144) vốn là quốc gia có chế độ quân phiệt đã cầm tù bà Aung San Suu Kyi, nhà tranh đấu nhân quyền đoạt giải Nobel, thua cả Campuchia (hạng 139) và Lào (171). So với thế giới, VN chỉ hơn Trung Quốc (176), Syria (177), Turkmeistan (178), Bắc Hàn (179). Ở cuối bảng vẫn luôn là Eritrea (180). Không phải lần đầu tiên VN bị liệt kê vào sổ đen về tự do báo chí như vậy, mà từ năm 2008, VN luôn nằm trong danh sách 10 quốc gia có chỉ số tự do báo chí thấp nhất thế giới. Ngoài ra, RSF còn điểm mặt 39 hung thần đối với báo chí trên thế giới (Predators of Freedom of Information) trong đó có Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, mà dân VN gọi là Trọng lú, bởi lẽ ngoài biệt tài sắt máu với báo chí, Trọng lú còn là tay sai đắc lực cho Trung Cộng. Chính Trọng lú đã xác nhận “ tại VN, báo chí có quyền hành nghề tự do, miễn là không chỉ trích đảng Cộng Sản”. Thử hỏi với một chế độ cực kỳ thối nát và độc tài mà không ai được quyền đụng tới thì chỉ có bọn ngu xuẩn mới ăn ngược nói ngạo như vậy. Theo dự trù, Trọng lú sẽ viếng nước Mỹ năm 2015, và chờ xem phản ứng của dân Mỹ vì theo “truyền thống” , cứ mỗi lần một lãnh tụ cộng sản ra nước ngoài là mỗi lần báo chí có dịp diễu cợt về tác phong và sự ngu dốt.

Internet là phương tiện truyền thông phát triển kỷ lục trong 10 năm qua tại VN. Đến đầu năm 2015, VN có 39. 8 triệu người sử dụng internet, chiếm 44% dân số. Ngoài ra còn phải kể thêm 28 triệu người dùng internet di động (theo WeareSocial, January 2015). Sự phát triển phương tiện truyền thông nầy đã giúp dân chúng tiếp nhận nhanh chóng những tin tức trong nước và ngoài nước, do đó chính quyền cộng sản không ngừng tìm đủ mọi cách để ngăn chận những tin tức bất lợi cho chính phủ và khủng bố những cá nhân, đoàn thể sử dụng hay phổ biến nguồn thông tin nầy.

Chính trong chính sách ấy, tháng 7/2013, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ban hành nghị định 72, theo đó các người sử dụng internet và trang mạng xã hội chỉ được quyền trao đổi thông tin cá nhân của mình, không được phép trích dẫn và tổng hợp, phổ biến tin tức từ báo chí hoặc các trang mạng khác. Ngoài ra, các công ty Internet nước ngoài như Google, Facebook phải đặt một máy chủ tại Việt Nam để chánh phủ có thể kiểm soát nội dung nếu cần. Nghị định 72 như vậy hủy diệt sứ mệnh căn bản của Internet là trao đổi thông tin liên mạng và quốc hữu hóa tất các công ty internet. Thông tin sẽ hoàn toàn bị kiểm soát, bị bưng bít và các biện pháp trừng phạt người sử dụng cũng như cơ quan cung cấp dịch vụ internet được xử lý theo quan điểm độc đoán của chính phủ. Với nghị định nầy, VN bị xem như một quốc gia côn đồ (état voyou) mà trước đây Trung Quốc cũng đã ban hành những biện pháp tương tự với Google, nhưng sau cùng phải hủy bỏ. Nghị định 72 đã khơi dậy lên sự phản kháng của cả thế giới.

RSF tuyên bố: Sự ra đời của nghị định nầy là cuộc tấn công tàn khốc nhất nhắm vào quyền tự do thông tin. RSF yêu cầu toàn thể cộng đồng quốc tế lên án một cách nghiêm khắc nếu chính quyền VN thực thi nghị định 72.

Liên Minh về Quyền tự do trên Mạng (Freedom Online Coalition gồm 21 quốc gia: Hoa Kỳ, Anh, Ái nhỉ Lan, Áo, Canada, Đức, Pháp, Hòa Lan, Phần Lan, Thụy Điển,Tiệp Khắc, Costa Rica, Estonia, Georgia, Ghana, Kenya, Latvia, Maldives, Mễ , Mông Cổ, Tunisia) cũng ra thông cáo chung cho rằng Nghị định 72 không phù hợp với nghĩa vụ của VN đối với Công Uớc Quốc Tế, cũng như đối với cam kết của VN với Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.(Freedom Online Coalition Joint Statement on VN’ decree 72).

Ngoài ra, hơn 500 trí thức trong nước và ngoài nước đã ký một Tuyên cáo chung lên án Nghị Định 72 là vi hiến và đi ngược lại các cam kết của VN với quốc tế về vấn đề nhân quyền, Tiến sĩ Nguyễn Quang A, nguyên chủ tịch Hội Tin Học VN , người đầu tiên ký vào bảng Tuyên cáo đã nói với đài VOA ngày 29 tháng 8 năm 2013 là “ Những điều khoản của nghị định nầy rất mơ hồ, là cái cớ để nhà chức trách muốn bắt ai thì bắt, muốn bỏ tù ai thì bỏ tù”.

Trước những phản ứng nầy, Thứ Trưởng Bộ Thông Tin và Truyên thông Lê Nam Thắng (con của Lê Đức Thọ) đã trả lời: Nghị định 72 là nhằm bảo vệ sở hữu trí tuệ vì có người sao chép lại nội dung các trang báo rồi đăng lên trang mạng của mình để lấy quảng cáo. Câu trả lời trên là một lối ngụy biện trơ tráo, lật lộng, bởi lẽ nếu muốn bảo vệ tài sản của người dân thì cứ áp dụng các luật về bản quyền hiện hành, cớ sao phải làm luật để kiểm soát người sử dụng internet ? Vã chăng, với một quốc gia mà tham nhũng, cướp đất là quốc sách thì nói chuyện bảo vệ tài sản nhân dân là trò cười. Đảng Cộng Sản Việt Nam không hề biết nhục khi nói láo.

Đánh phá trang mạng thù nghịch

Từ nhiều năm qua, chính phủ đã dùng nhiều thủ thuật hèn nhát để đánh phá các trang mạng mà cộng sản cho là phản động, kiểm soát người sử dụng internet, kiểm duyệt thông tin. Tướng Vũ Hải Triều, Phó Cục trưởng Tổng Cục An Ninh đã ngông nghênh tuyên bố ngày 05/05/2010 là các chuyên gia kỹ thuật của cơ quan của ông đã đánh sập 300 trang mạng có nội dung “không phù hợp”. Đến nay, số trang mạng lớn nhỏ bị đánh phá lên đến cả ngàn. Theo RSF, Việt Nam có một đạo quân cảnh sát internet khoảng 80 0000 người chuyên theo dõi bloggers, đánh phá các trang mạng, và nghe lén điện thoại những người bị tình nghi. Nhiều trang mạng bị tấn công thường xuyên như trang mạng Bôxit, Talawas, Anh Ba Sàm, Dân Làm Báo, Quan Làm Báo… bằng nhiều cách như tung virus, tung tin giả, thay đổi nội dung, thay đổi mật mã, không cho độc giả truy cập, từ chối dịch vụ (Distributed Denial of Service = DDoS). Việc đánh phá các trang mạng trong nước còn dễ dàng hơn so với các trang mạng, các blog ở hải ngoại bởi lẽ đa số các cơ quan, công ty cung cấp dịch vụ internet là công ty quốc doanh như VNPT (VN Post and Telecommunication) chiếm 75% thị trường., công ty VietTel của quân đội. Công ty FTP Telecom, tuy là của tư nhân nhưng phải tùy thuộc vào bande passante của cơ quan nhà nước.

Thông thường, các công ty cung cấp dịch vụ internet có thể ngăn chận, kiểm duyệt bằng tên miền DNS (domain name server), Man-in-the-middle attack = Attaque de l’homme du milieu (chận bắt những dữ kiện gởi qua trang mạng https mà cả hai đầu không biết), kiểm soát lý lịch cá nhân khi đăng ký (phải có địa chỉ hộ khẩu, kê khai nghề nghiệp, chỉ có 3 quốc gia trên thế giới áp dụng thủ tục nầy là VN, Trung Quốc và Bắc Hàn). Các công ty tư phải tuân theo những chỉ thị của chính quyền thí dụ như văn thư số 2545/VNVT đóng dấu tối mật ngày 07/06/2013 của Bộ Viễn Thông gởi cho các công ty cung cấp dịch vụ internet như sau: Để bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự xã hội, ngăn chận các thế lực thù địch vả phản động lợi dụng Facebook để tuyên truyền chống phá đảng và nhà nước ta, yêu cầu các đơn vị khẩn trương ngăn chận truy cập đến trang mạng xã hội Facebook theo địa chỉ IP, website đính kèm.

Với bằng chứng nầy nầy, không ai có thể nói khác hơn VN hôm nay là một nước độc tài lạc hậu nhất thế giới về phương diện truyền thông. Ngoài ra, thủ tướng Ba Dũng đã ra chỉ thị: các bộ, ngành, các địa phương, cán bộ, công chức, viên chức không xem, không sử dụng, loan truyền và phổ biến thông tin đăng tải trên các trang mạng phản động như Dân làm Báo, Quan làm Báo, Biển Đông… (công văn số 7169/VPCP-NC).

Bịt miệng báo chí

Năm 2014, Việt Nam có một lực lượng cơ quan truyền thông khổng lồ: 845 tờ báo, 3 đài truyền hình quốc gia, 67 đài phát thanh truyền hình trung ương và địa phương, 90 báo và tạp chí điện tử, 215 trang tin điện tử tổng hợp, với khoảng 18 000 nhà báo có thẻ và 5000 phóng viên không có thẻ (theo VN Economy ngày 31/12/2014) nhưng gần như tất cả đều nói chung một ngôn ngữ của đảng.

Các tổng biên tập phải là đảng viên trung kiên, ngay cả với báo thể thao, báo nhi đồng, người đứng đầu cũng do đảng bổ nhiệm. Các ký giả đều là cán bộ, công an, muốn hành nghề phải có thẻ. Các tổng biên tập báo, đài phát thanh, đài truyền hình phải trình diện hàng tuần ở Bộ Thông Tin và Truyền Thông (bộ 4T) để nhận chỉ thị và báo cáo hoạt động của cơ quan. Bộ 4T lại phải chịu sự chỉ đạo của Ban Tuyên giáo Trung ương của Đảng về đường lối thông tin. Như vậy, các cơ quan ngôn luận có khi thoát khỏi gọng kềm của Bộ Thông tin nhưng có thể bị Ban Tuyên giáo trừng phạt vì đi “chệch hướng”. Thí dụ như hồi cuối năm 2012, khi Trung Quốc leo thang trong việc bắt bớ ngư dân, tàu đánh cá VN và sinh viên xuống đường chống Trung Quốc, ban Tuyên giáo ra chỉ thị yêu cầu các đài phát thanh cũng như các cơ quan ngôn luận chính thức của đảng như Nhân Dân, Thanh niên, Lao Động, Tiền Phong không được loan tin, hình ảnh, và phải sửa đổi các tin tức. Đối với các đài truyền hình ngoại quốc phát sóng tại VN, các công ty nầy phải thuê người biết tiếng Anh, tiếng Pháp xem trước để kiểm duyệt, loại bỏ những tin tức, hình ảnh “có vấn đề”, do đó chương trình phải chậm lại nửa giờ để cho các người kiểm duyệt lọc tin. Bưng bít, xuyên tạc, ngụỵ tạo tin tức là sở trường tinh vi của phóng viên, ký giả. Họ viết theo lịnh của đảng, bóp méo sự thực, cốt sao có lợi cho đảng. Trường hợp điển hình là hồi tháng 8 năm 2013, các cơ quan truyền thông tại VN đã truyền tin đi là Đại sứ Mỹ tại VN, ông Davd Shear tuyên bố là “nhân quyền tại VN đã có những cải thiện đáng kể…”. Đó là một tin láo khoét khiến tòa đại sứ Mỹ phải lên tiếng cải chánh, thực là nhục nhã cho VN.

Tuy bị kềm kẹp, thỉnh thoảng vẫn có những ký giả có lương tâm dám viết trung thực những điều tay nghe mắt thấy, nêu lên tệ trạng tham nhũng và bất công xã hội. Thiểu số ký giả can đảm đi theo “lề trái” nầy thường phải đi tù và các tổng biên tập bị cách chức. Thí dụ như khi báo chí loan tin tiền in của công ty Techbank của Lê Đức Minh, (con của cựu thống đốc ngân hàng Lê Đức Thúy) không có phẩm chất thì hai tờ báo Thời Đại Công Lý bị đình bản và 6 tờ báo khác như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Công Luận….bị cảnh cáo. Một vụ khủng bố báo chí khác hồi tháng 5/2008 là hai tờ báo Thanh NiênTuổi Trẻ phanh phui vụ tham nhũng khổng lồ PMU-18 liên quan đến các lãnh đạo chóp bu, hai phó tổng biên tập là Nguyễn Văn Hải, Nguyễn Việt Chiến bị bắt giam và 7 nhà báo bị thu hồi thẻ hành nghề. Tháng 9/2012, Nguyễn Hoàng Khương, cũng là ký giả báo Tuổi Trẻ, cũng viết bài tố cáo tham nhũng và cũng bị 4 năm tù. Tội danh của các bị cáo: phá hoại quốc gia, tiết lộ bí mật nhà nước.

Gần đây, ngày 09/02/2015, Cơ quan An ninh Điều tra thuộc Bộ Công an ra quyết định khởi tố báo Người Cao Tuổi theo điều 258 Luật hình sự, rút giấy phép trang web của tờ báo nổi tiếng chống tham nhũng này (nguoicaotuoi.org.vn). Tổng biên tập Kim Quốc Hoa bị cách chức, thu lại thẻ nhà báo và bị truy tố ra tòa.

Nói tóm lại, về quyền tự do báo chí nói riêng và nhân quyến nói chung, VN bị xếp chung với 47 quốc gia không có tự do trên thế giới theo báo cáo của Freedom House công bố hồi tháng 1/2013. Theo báo cáo nầy, trong số 195 nước trên thế giới có 90 nước tự do, 58 nước bán tự do, và 47 nước không tự do trong đó VN gần ở cuối bảng. Theo bảng xếp hạng của bất cứ cơ quan quốc tế tranh đấu cho nhân quyền nào, Việt Nam vẫn đội sổ.

Lừa gạt thế giới

Cộng Sản lưu manh trong việc sử dụng các tù nhân chính trị như những con tin để trao đổi các quyền lợi chính trị trong các cuộc thương thuyết quốc tế. Cứ mỗi lần Cộng Sản phóng thích một tù nhân chính trị có uy tín trong công luận thế giới là mỗi lần CS có âm mưu trao đổi một ân huệ ngoại giao, muốn làm bộ chứng tỏ một nhượng bộ để đặt yêu sách. Từ mấy mươi năm nay, CS luôn sử dụng dùng chiến thuật xảo quyệt nầy. Chỉ cần đan kể vài thí dụ.

Khi Hiệp định Mậu dịch Song phương (Bilateral Trade Agreement BTA) giữa VN và Hoa Kỳ bắt đầu thương lượng, tháng 9 năm 1998, CS phóng thích ba nhà tranh đấu nhân quyền “có giá” là BS Nguyễn Đan Quế, GS Đoàn Viết Hoạt, GS Nguyễn Đình Huy. Đó là cái giá để Hiệp định được ký kết vào tháng 7 năm 2000.

Sau khi được đắc cử vào Hội Đồng Nhân Quyền LHQ (United Nations Human Rights Council) hồi tháng 11 năm 2013, VN tìm cách đánh bóng mình, tạo ra một hình ảnh mới như tôn trọng nhân quyền và chuẩn bị đến Genève để trả lời trước Ủy Ban Kiểm Điểm Phổ Quát về Nhân Quyền (Universal Periodic Review UPR) vào tháng 2/2014, chánh phủ CS trả tự do cho 4 tù nhân chính trị hàng đầu, đã từng chống đối chế độ quyết liệt và đã bị kết án tù nhiều năm là Nguyễn Tiến Trung, Vi Đức Hồi, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Hữu Cầu.

Rồi đến tháng 9, CS thả thêm hai tù nhân người Mỹ gốc Việt là Trần Tư và Nguyễn Tuấn Nam, nguyên là đảng viên, bị tù chung thân vì can tội “trốn đi nước ngoài, trở về nước chống lại chính quyền”. Việc trả tự do nầy cùng lúc với chủ tịch Hội Đồng Tham Mưu Liên Quân Hoa Kỳ Martin Dempsey đến VN để thương thuyết việc Mỹ bỏ cấm vận bán võ khí cho VN. Rõ ràng là CS sử dụng các tù nhân chính trị như dụng cụ để thương thuyết, đúng như lời của Đặng Xương Hùng, nguyên Đại Sứ Cộng Sản tại Thụy Sĩ: Bắt ai, thả ai là do Bộ Công An và Bộ Ngoại Giao quyết định. (BBC, 13/9/2014).

Tại VN, quyền lực hoàn toàn thuộc Bộ Chính trị Trung Ương Đảng và Bộ Công An, Quốc Hội chỉ là bù nhìn. Ngày 5 tháng 2 năm 2015, Quốc Hội VN phê chuẩn Công Uớc Liên Hiệp Quốc về chống tra tấn (United Nations Convention Against Torture), nhưng trước đó, tháng 10/ 2014, khi Chủ Tịch nước Trương Tấn Sang chuyển Công Uớc cho Quốc Hội để phê chuẩn, Bộ Trưởng Công An Trần Đại Quang ngạo nghễ tuyên bố: Chúng tôi không áp dụng trực tiếp các qui định của Công Ước chống tra tấn tại VN. Điều nầy xác nhận, chẳng những Cộng Sản không tôn trọng luật lệ trong nước mà cả các công ước nhân quyền quốc tế, VN xem như tờ giấy lộn. Điều khôi hài là một quốc gia phi nhân quyền như VN lại được bầu vô Hội đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, nhiệm kỳ 2014-2016, và càng khôi hài hơn là Văn Phòng Cao Ủy Nhân Quyền tại Bangkok lại tuyên dương sự phê chuẩn công ước của VN là “một bước quan trọng trong việc ngăn ngừa sự tra tấn”. Thì ra, về nhân quyền, Liên Hiệp Quốc hôm nay chỉ là cơ quan phát bằng khen thưởng thay vì là cơ quan chế tài, cũng tương tự như Ngân Hàng Thế giới, thuộc LHQ, dù biết rõ VN là quốc gia cực kỳ tham nhũng mà mỗi năm vẫn bơm tiền cho VN.

Trên thế giới, Cộng Sản chỉ “nể” hai quốc gia: thứ nhất là đàn anh Trung Quốc vì bảo kê cho CS cầm quyền để tha hồ tham nhũng dù biết là Trung Quốc đang chiếm lãnh thổ lãnh hãi và thứ hai là Hoa Kỳ, thỏa hiệp giai đoạn để buôn bán và tẩu tán tài sản khi rút lui. Về điểm sau nầy, phụ tá ngoại trưởng Hoa kỳ Tom Malinowski, sau 5 ngày viếng thăm và quan sát tình trạng tôn giáo ở VN hồi tháng 10/2014 đã cảnh cáo “… chính phủ Hoa Kỳ muốn xây dựng mối quan hệ chặt chẽ hơn với Việt Nam, kể cả quan hệ hợp tác an ninh và đi đến kết thúc đàm phán Hiệp Định Kinh Tế Đối Tác Chiến Lược Xuyên Thái Bình Dương (Trans - Pacific Partnership Agreement gọi tắt là TPP), nhưng những điều đó chỉ xảy ra với điều kiện tình trạng nhân quyền tại Việt Nam phải được cải tiến nhiều hơn nữa. Trong năm nay Việt Nam đã trả tự do cho 12 tù nhân lương tâm, nhưng nhà nước lại bắt giam 12 người khác. Chính phủ Việt Nam phải cải tổ luật pháp, để thực hiện đúng những điều được ghi trong hiến pháp ban hành 2013 về quyền tự do của người dân, và thi hành đúng những điều nhà nước đã cam kết với cộng đồng thế giới…” (HK kêu gọi VN cải thiện nhân quyền- RFA 26/10/2014).

Kết luận

Việt Nam hôm nay là một quốc gia hậu tiến nếu kể về lợi tức đầu người, chậm tiến nếu kể về kỹ thuật, lạc hậu nếu kể về chính sách truyền thông của nhà nước, nhưng tiến bộ về sử dụng các phương tiện truyền thông hiện đại. Thay cho lời kết luận, trước tiên chúng tôi có hai nhận định:

  1. Về việc sử dụng các phương tiện truyền thông, một hiện tượng khó hiểu là người dân VN tuy nghèo về lợi tức nhưng không nghèo về việc trang bị các phương tiện truyền thông hiện đại. Thống kê mới nhứt của công ty khuyến mãi quốc tế về thiết bị truyền thông We are social (tháng 1/2015) , cung cấp nhiều dữ liệu quan trọng vể lãnh vực nầy mà chúng tôi trích dẫn như sau:
    • Dân số VN: 90.7 triệu.
    • Số người sử dụng internet: 39.8 triệu (44% dân số)
    • Số giờ sử dụng internet: trung bình 4giờ/ mỗi ngày (5g10 với desktop và laptop; 2g40 với mobile). Về điểm nầy, VN chỉ đứng sau Phi Luật Tân (6g30/ngày) nhưng ngang hàng với các quốc gia lân bang như Thái Lan, Singapore, Mã Lai, Đại Hàn. Trong vòng một năm, từ tháng 1/2014 đến tháng1/2015 có 10% người sử dụng gia tăng.
    • Số thuê mua dịch vụ (accounts) điện thoại di động: 28 triệu (31% dân số) nhưng số máy điện thoại di động các loại lên đến 127 triệu máy (141% dân số.). Chỉ trong 12 tháng qua có 40% gia tăng. Con số kỷ lục đối với một quốc gia nghèo với 17% dân có lợi tức dưới 1.25 USD một ngày là mức nghèo cùng cực theo Liên Hiệp Quốc. Người nông dân gặt lúa mang theo điện thoại dù thiếu buổi ăn trưa, người phu quét chợ quần áo tả tơi cũng có điện thoại di động. Mặc dù đó là một xu thế xã hội thời đại nhưng hiện tượng bụng đói mà cầm tay điện thoại đắc tiền là điều cần tìm hiểu chính xác hơn,nhưng không phải là đề tài của bài viết nầy. Người VN già trẻ bé lớn nghèo giàu đều có điện thoại di động, smartphone, tablet, thậm chí một người có hai cái. Để làm gì ? Để xem vidéo (22%), chơi games(18%), tìm đọc tin tức, gởi tin (16%), mua bán e-commerce (14%)… (nguồn: wearesocial.com Vietnam.1st, Jan, 2015).

  2. Quyền tự do ngôn luận đã được gần như tất cả các quốc gia trên thế giới tôn trọng như đệ tứ quyền, chỉ có VN và 2 đồng chí cộng sản là Bắc Hàn và Trung Quốc cùng vài quốc gia nhỏ độc tài là còn kềm kẹp truyền thông.

Chánh sách khủng bố các bloggers, các nhà tranh đấu nhân quyền , công an đàn áp các cuộc biểu tình vì bị tham nhũng cướp đất, vì chống lại Trung Quốc, tuy có tạo nên sự oán hận và khinh bỉ của dân chúng đối với chế độ nhưng vẫn còn lạc lỏng trong sự thờ ơ của giai cấp trí thức, trung lưu có tiền, có thế lực bởi ích kỷ, hèn nhát và nhứt là bị nhồi nhét những tuyên truyền của chế độ từ nửa thế kỷ qua. Về điểm sau cùng, phải hiểu là hiện nay tại Việt Nam có 72% người dân dưới 45 tuổi là những người không biết gì về chiến tranh “Mỹ Ngụy”, về tự do dân chủ, và 30% người sinh ra sau năm 1986 là thế hệ không có kỷ niệm gì về nền kinh tế xếp hàng cả ngày (XHCN). Sống trong chế độ bưng bít truyền thông, tuyên truyền tội ác “Mỹ Ngụy” và truyền thanh truyền hình ru ngủ, đồi trụy hóa xã hội bằng các sản phẩm giải trí phi văn hóa, người VN tuy có điện thoại cầm tay nhưng vẫn chưa thực sự hiểu biết được thế giới tự do dân chủ bởi các bức tường lửa đã ngăn chận, kiểm duyệt truyền thông bất lợi cho chế độ.

Từ các nhận định trên, việc tranh đấu cho nhân quyền VN, hơn bao giờ hết phải tích cực với các cuộc tranh đấu đòi hỏi chánh phủ VN phải chấm dứt chế độ kiểm duyệt thông tin, chánh sách khủng bố bloggers, bằng các cuộc vận động với công luận và chính giới các quốc gia có ảnh hưởng chính trị và kinh tế với Việt Nam. Người Việt tị nạn cần đóng góp, mỗi người một cách, vào nỗ lực nầy cùng với các nhà tranh đấu trong nước. Bao giờ người dân trong nước nhận biết được thực sự thế nào là bổn phận và quyền lợi của một con người có tự do, có nhân quyền, bấy giờ họ mới nỗ lực tranh đấu đòi hỏi tự do nhân quyền cho họ. Và lúc bấy giờ 127 triệu chiếc máy điện thoại di động của họ không phải chỉ là thứ trò chơi xa xỉ lố bịch mà thực sự là một thiết bị hữu dụng trọn vẹn cho mọi tiện ích của đời sống và giải phóng con người thoát khỏi nghèo đói, độc tài và u mê.

 

Lâm Văn Bé (tháng 4-2015)

Trích trong tập: Việt Nam: 40 năm sau Tháng Tư Đen

 

Phụ lục: Mặt thật của già Hồ

Cộng Sản xây lăng Hồ Chí Minh, dựng hình tượng Hồ, học tập tư tưởng Hồ , nhưng thực sự Hồ là tên dâm dục, vô đạo đức. Báo Life phát hành ngày 5/8/1957 có đăng bài viết và hình ảnh với tựa The Kissingest Communist (Người Cộng sản hôn nhiều nhất) để nói cách ôm hôn khả ố của HCM nhân dịp viếng thăm Ba Lan như sau:

Khi Hồ Chí Minh, chủ tịch của nước cộng sản miền Bắc, đến thăm xứ Poland tuần rồi trong dịp đi viếng 9 quốc gia cộng sản, ông ta bất ngờ thay đổi phong cách từ một người Á Châu trầm lặng trở thành người du khách hăm hở. Cung cách của ông ta biểu hiện qua lối hôn giữa những đồng chí với nhau, nhưng điều này không được người ta tán đồng, ngay cả những người Nga uống rượu Vodka cũng không làm như thế. Đây là lần viếng thăm long trọng của Hồ Chi Minh tại Âu Châu, nơi mà xưa kia ông ta đã lang thang như một bồi nhà hàng, một phụ tá thợ chụp hình, và một người làm cách mạng được cộng sản bí mật huấn luyện. Như một nhà cách mạng Cộng Sản đã chiến thắng ở miền Bắc VN, ông ta được tiếp đón trọng thể bởi những thành viên của Đảng Polish.

Hồ Chí Minh với dáng dấp yết ớt nhưng mạnh bạo chọn những người phụ nữ mà ông ta ngắm nghía. Ông ta dùng những ngón tay bám vào đầu, vào cổ hoặc lưng , rồi ông ép sát người để hôn người đó với những sợi râu nhám xù xì. Với cô Lisa Larson của tờ báo Life, ông ta cợt nhả nói “Nếu tôi là người đàn ông trẻ, tôi rất có thể yêu cô.”

Hồ Chí Minh còn là tên ấu dâm

Bức ảnh đăng trên báo Straits Times 17/3/1959 cảnh HCM ôm hôn say đắm một em bé tạo nên sự ghê tởm của dân chúng Indonesia

Hành động sàm sỡ đó của HCM được lập lại ở Indonesia khoảng 2 năm sau. Báo Indonesia Straits Times ngày 8/3/1959 đăng tựa lớn là: President Ho is told to stop kissing girls. It’s a violation of Indonesia Customs…(Chủ tịch Ho được báo hãy ngưng hôn những em bé gái. Nó vi phạm các phong tục của Indonesia. Chủ tịch HCM của Bắc Việt 68 tuổi đã bị thông báo không chút vị nể là hãy chấm dứt hôn hít các em gái Indonesia và tôn trọng giáo điều của Hồi giáo. Báo chí Indonesia đã chỉ trích về việc chủ tịch Hồ thường xuyên hôn hít trong chuyến viếng thăm chính thức 10 ngày từ Java đến khu nghỉ mát Bali. Ông A,N. Firdaus, Tổng Thơ ký Giáo hội Hồi Giáo tuyên bố: Những hôn hít ấy vi phạm luật Hồi Giáo mà 90% là tín đồ …)