Phạm Văn
 

 

 

 

Hà Thị Cầu - cuộc đời vất vả như dặm đường hát xẩm

 

Bà già nhỏ bé ngồi trước hiên ngôi nhà lụp xụp, nhai trầu bỏm bẻm, bên cạnh là chiếc đài con con không lúc nào dứt tiếng. Khó ai đoán được bà đã từng trải khắp trời Nam, đất Bắc, từ miền xuôi tới miền ngược, bà là nghệ sĩ ưu tú - nghệ nhân hát xẩm Hà Thị Cầu.

Mười tuổi bắt đầu nhập tâm câu hát của cha mẹ là những người hát xẩm; cũng 10 tuổi, Hà Thị Cầu bắt đầu biết uống rượu, ăn trầu, điệu hát, lời ca phiêu bạt, lam lũ vận vào số phận của bà từ đấy. Bà hát: "Một đời đánh phấn đeo hoa. Một đời khổ ải cũng qua một đời". Năm nay đã 78 tuổi, người nghệ sĩ già chỉ thấy đời mình trong câu hát.

Lênh đênh câu hát 

Hát xẩm là một thể loại hát rong của người Việt, còn được coi là thể loại đặc trưng của người mù với thành ngữ "sờ như xẩm sờ". Là ngón nghề kiếm sống của của những người hát rong, xẩm được dạy theo kiểu truyền khẩu nhập tâm. Câu hát xẩm như một vật vô hình được người hát rong nâng, truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Từ cái thuở là một cô gái nhỏ, Hà Thị Cầu theo cái nghiệp của gia đình phải phiêu bạt khắp nơi, kiếm ăn bằng lời ca tiếng hát. Cô bê thau nhận tiền của người nghe dần dà nhập tâm học được những lời ca, ngón đàn, tiếng sênh phách từ cha mẹ. Cũng là những làn điệu hà liễu, huê tình, thập ân, xẩm ba bậc... với câu sáu câu tám nhưng với tiếng hát cao và thanh lạ lùng của Hà Thị Cầu, bài ca người hát xẩm đã vượt qua tiếng hát rong giải khuây của nơi phố chợ, ven đường, không chỉ là phút dừng lại lắng nghe đôi câu hát rồi lại đi của khách qua đường. Đó là nghệ thuật, là tiếng vọng tâm hồn của những lớp người lam lũ. Cả cuộc đời với xẩm, bà Cầu tóm gọn lại trong một câu: "Xẩm là hát nơi đầu đường xó chợ". Ấy là bà nói vậy nhưng xẩm của bà đâu chỉ có vậy. Trong những buổi nào đó thủa ấy, khi chiếu cói đã được trải xuống tại một góc chợ, đường làng, ai đi qua mà không dừng lại khi thấy một cô gái nhỏ trong bộ quần sô áo gụ bạc màu, miệng hoa cất tiếng, tay thon kéo nhị, chân son gõ phách. Hát rằng:

"Con sông kia nước chảy đôi dòng,

Đèn khêu đôi ngọn anh trông ngọn nào?

Muốn tắm mát lên ngọn sông đào

Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh..."

Điệu hát có những tiếng đậm, tiếng đưa hơi đều nổi lên ngang với lời hát chính, tiếng trống xẩm đùng đục mà không vang càng làm nổi lên lời ca thanh mà khỏe, tiếng hát da diết mà tròn vành rõ chữ của cô hát xẩm Cầu. Người ta mê, người ta xúm đông xúm đỏ quanh chiếu xẩm, quanh người hát. Cái phút đông vui, hồn nhiên ít có ở cái thời buổi "chạy ăn từng bữa toát mồ hôi" đấy. Đàn ông thì nhờ ca cho bài Dâu lười, đối lại, các bà, các cô đứng quanh lại nói cô Cầu hát Rể lười. Rồi người hát cũng vui, hát ghẹo tất cả bằng bài Ngược đời, hát rằng:

"...Một trăm quả hồng nuốt bà tám mươi

Nắm xôi nuốt trẻ lên mười

Con gà nậm rượu nuốt người lao đao..."

Mười tuổi thì đã quá xa, còn tám mươi tuổi thì đã sắp tới nhưng bà vẫn nhớ cái ồn ào, vui vẻ của những ngày chợ đông ấy. Trong túi đồ nghề của người hát xẩm bao giờ cũng có cái chậu thau để đựng tiền của khách. Nhiều gánh hát khác hát xong lại phải bưng chậu đi một vòng, năn nỉ người nghe nhón tay làm phúc. Chiếu xẩm gia đình cô Cầu không phải thế. Người quê hay kẻ chợ dù có lam lũ thì vẫn tinh đời. Cô Cầu cứ dứt một điệu hát là tiền ném rào rào vào chậu. Cái chậu thau có lúc méo mó, sứt sẹo vì chuỗi nặng tiền chinh Khải Định, Bảo Đại người ta quăng vào.

Người thứ mười tám của ông chánh hát xẩm

"Nghĩ xa xôi lại nghĩ gần,

Làm thân con nhện mấy lần vương tơ.

Chắc về đâu trong đục mà chờ,

Hoa thơm mất tuyết, biết nương nhờ vào đâu"

Như câu hát, đường tình duyên của người con gái tài hoa Cầu cũng vất vả như dặm đường hát xẩm. Một ngày nọ gánh hát xẩm của nhà cô ghé qua Yên Phong (huyện Yên Mô, Ninh Bình). Và nơi đó, bà gặp người chồng của mình. Bà nhớ lại: "Lúc ấy tôi mới 16 tuổi, còn ông ấy đã 49. Ban đầu tôi gọi ông ấy là bác xưng cháu kia mà".

Ông chánh trương Mậu khi đó thuộc hàng "chức sắc" của dân hát xẩm, gánh hát xẩm nào qua vùng Yên Phong, Yên Mô cũng đều phải xin phép ông một tiếng. Mắt ông bị lòa, không thấy được cô Cầu xinh, giòn thế nào nhưng với đôi tai thẩm âm của bậc thầy trong nghề, trước cái giọng cao, trong vắt của cô thì ông xiêu đổ hoàn toàn. Đứng trước "cô cháu" 16 tuổi, ông chánh Mậu cầm lòng không đậu. Người đàn ông trải đời đã từng lần lượt sống với 17 người đàn bà khác nhau (theo cách tính của các cụ trong làng) lại một lần nữa nhờ người đem trầu cau đến hỏi vợ. Rồi bỏ nhà bỏ cửa, ông chánh Mậu chống gậy theo gánh hát nhà vợ tiếp bước con đường nghệ sĩ lang thang.

Ông mê bà nhưng là cái mê đắm của người chồng già cả ghen. Vậy nên cứ mỗi lúc lên cơn ghen là ông lôi vợ ra đánh. Ông mù nên không cảm được bằng mắt, cứ nghe lời ca của vợ lảnh lót, đong đưa, tiếng tiền xu khách ném rào rào vào lòng vợ mình (thay vì ném vào cái chậu thau trước mặt ông) là ông lại nổi cơn ghen. Cuộc đời cô Cầu trải qua những ngày mặn nồng trộn lẫn với những trận đòn ghen không dứt của người chồng già.

Và bà cũng là một người mẹ bất hạnh: hai mươi hai năm chung sống (ông ghen nhưng vẫn coi bà như vật báu, không bỏ đi tìm người phụ nữ thứ 19 nữa), bà có với ông 7 người con. Đời hát xẩm lưu lạc, cơm hàng cháo chợ, nắng mưa sương gió, bốn đứa đầu lần lượt lâm bệnh chết.

Năm 38 tuổi, đến lượt ông chồng già cũng chầu trời. Gánh hát xẩm tan tác, cô Cầu ôm ba đứa con còn lại về căn nhà nhỏ ở Yên Phong. Đời hát xẩm tài hoa, kiếm nhiều tiêu cũng nhiều. Lúc theo cha mẹ đem tiếng hát tha phương cầu thực, Cầu là cô bé nghèo. Lúc quay về Ninh Bình, bà là một thiếu phụ nghèo. Nghèo đến mức đứa con gái út mới 8 tháng tuổi không chăm sóc được phải cho người ta làm con nuôi. Còn lại ba mẹ con, rau cháo nuôi nhau.

Máu giang hồ chưa tắt

Cả cuộc đời lấy tiếng hát làm vui cho đời, khi tuổi già người nghệ nhân già Hà Thị Cầu sống dựa vào người con gái chưa chồng. Cô Mận, nay đã 44 tuổi, ngày ngày đi đi về về các chợ Bút, Tú, Phát Diệm buôn con gà con vịt kiếm tiền nuôi hai mẹ con. Con trai bà làm công nhân, nay đã nghỉ hưu, cảnh nhà cũng quá nghèo khó, vừa bệnh tật vừa phải lo cho đàn con, không có sức giúp bà.

Giờ bà an phận ngồi nhà. Ngày ba bữa cơm, một ngàn đồng tiền rượu chia làm ba chén.

 Trong một buổi chiều tà, ngồi cạnh giàn trầu không, câu chuyện ca kệ của một bà lão lẫn lộn cả tiếng nhị tiếng phách một thuở. Bà bảo "Mấy cô ca sĩ hát nhạc dân tộc thỉnh thoảng đến chơi, bu chẳng nhớ được ai với ai, chỉ nhớ được cô Hồng Ngát. Nói bu dạy cho vài điệu hát xẩm. Các cô ấy hát hay nhưng sống sung túc như thế làm sao hiểu cái tình trong lời ca của người lam lũ".

 Câu chuyện lan man sang việc cái nhà bà dột nát quá, không có tiền sửa: "Bu còn khỏe, còn hát được. Bu muốn vào trong Nam đi hát, chắc cũng có tiền. Sài Gòn ngày xưa bu đi mãi rồi, còn lạ gì nữa. Nhưng con gái bu nói bu già rồi, lại đi hát rong như vậy là bôi xấu quê hương, nó nói bu mà đi thì nó đập đàn". Lắng nghe câu chuyện của bà, nhìn mái tóc bạc, chân tay khẳng khiu, tôi cũng thấy con gái bà nói phải. Cái tuổi 78 của bà không phải để một lần nữa lạc bước kiếm sống phương xa. Nhưng lại chợt nhớ lời bà "xẩm là tiếng hát nơi đầu đường xó chợ" để rồi tiếc những con đường, quán chợ ở đất phương Nam sẽ không bao giờ được nghe điệu hát rong của một bậc thầy như vậy.

 TH

 

Độc quyền” hát xẩm tuổi 80

Bà là một kho tàng độc nhất vô nhị về làn điệu và lối hát. Nói theo cách bây giờ, bà là “bà hoàng hát xẩm”...

Ngày 25/12/2004 vừa qua, ở tuổi ngấp nghé 80, với “thâm niên” gần 70 năm hát xẩm, NSƯT Hà Thị Cầu chính thức được Hội Văn nghệ dân gian VN trao bằng công nhận Nghệ nhân dân gian cấp quốc gia (cùng 2 nghệ nhân người dân tộc thiểu số).

Bốn bức tường gian nhà nhỏ ở thôn Phố Mỹ (xã Quảng Phúc, Yên Mô, Ninh Bình) “trang hoàng” đầy những bằng khen, tất cả đều hạng nhất. Giọng xẩm sang sảng, tay nhị lão luyện cho đến giờ vẫn không suy xuyển. Hiện trên thị trường, có hai đĩa: Xẩm chợ của Hồ Gươm Audio và Hát Xẩm của Viện Âm nhạc, tổng cộng cũng được 12 bài.

Đĩa Hát Xẩm tuy chỉ là “đĩa xanh” (chất lượng không cao) nhưng có nhiều bài đặc sắc, đặc biệt có Thập ân, bà hát liền 23 phút. Cả hai đĩa đều không ghi thời điểm phát hành, nhưng ước tính chúng phải lưu hành đến 7 - 8 năm nay. Bao nhiêu khách du lịch đã đến Việt Nam và mang tiếng hát bà đi khắp thế giới.

Quê bà ở xã Yên Phú (Ý Yên, Nam Định). Nhà bà 3 đời hát xẩm. Bà ngồi thúng, bố mẹ gánh đi hát xẩm từ nhỏ. Lên 10 đã có thể hát lấy tiền thiên hạ. Năm 11 tuổi, bố bà qua đời. Hai mẹ con đi hát mới tới Yên Mô. Về sau bà lấy ông Mậu - Trùm phường xẩm Yên Mô - khi ấy bà 16 tuổi, ông 49. Ông tuy mù, mặt lại rỗ nhưng bầu nhị trống phách… đều giỏi và cực đào hoa.

Bà là vợ thứ 18 (tưởng bà đùa, tôi phải hỏi lại)! Một năm 10 tháng, họ đi lưu diễn 3 người - có cả bà thứ 12 đánh trống. Bà kéo nhị, ông đàn bầu. Kiếm được không ít, đại khái mỗi buổi diễn được hai xâu tiền… Nhưng mỗi khi về Yên Mô gia tài còn lại vẫn chỉ hai cái niêu - một rang một nấu. Ông mất, bà ở vậy từ năm 33 tuổi.

Năm Ất Dậu, vợ chồng bà dạt vào khu 4, lên “Mường”, nhờ thế mà tránh chết đói. Vào giữa những năm 1950, có chủ trương tập hợp những người hát xẩm vào hợp tác xã để kiếm sống “chính đáng” bằng việc vót tăm, bện chổi. Con đường phát triển của xẩm chấm dứt từ đây. Nhưng chỗ bà Cầu ở, không có nhiều người hát xẩm đủ để lập HTX. Bà đã đầu tư quá nhiều thời gian để thành thạo một nghệ thuật là xẩm và không còn biết làm gì khác.

Bà không phải nông dân, nên đến tận những năm 1980 mới được cấp ruộng. Khoảng những năm 1960, bà mất một người con và phải cho đi một người nữa - cũng vì đói. Nhắc lại những chuyện ấy, bà lại đưa chiếc khăn mặt vắt vai lên chấm nước mắt.

Trong nghệ thuật hát xẩm, không biết còn có người thứ hai như bà Cầu không, nhưng việc có tiếng, được xã hội công nhận xét ra cũng không đem lại cho bà quyền lợi đáng kể gì về vật chất.

Hiện bà không một đồng trợ cấp hay “tác quyền”. Chị Mận là con gái út làm ruộng, chạy chợ nuôi mẹ. Bà có 3 người con, nhưng không ai theo được nghiệp xẩm. Và có thể khẳng định, bà không có đệ tử - không ai thừa hưởng hết được vốn liếng của bà hoặc có thể hát theo kiểu của bà!

Một nhà nghiên cứu cho biết, bất cứ lúc nào anh cũng muốn ghi âm vì mỗi lần bà hát mỗi khác - nói theo cách bây giờ là phiêu. Khi chúng tôi đến thăm bà vào cuối tháng 11/2004, tuy vẫn được nghe bà đàn hát, phách sênh thỏa thích nhưng bà không được khỏe đã lâu. Bà phải hạ suốt nhị xuống (kiểu như giảm tông) và bẻ làn để hát. Trước đây, bà vẫn thường được vời tới các đám giỗ, mỗi “show” cũng được vài trăm, “cát-xê” ở nông thôn như thế là cao lắm. Nhưng nay chị Mận không dám cho mẹ đi nữa… Bà chuyển sang ăn chay và phải kiêng uống rượu. Việc này không dễ…

 MH