Yên Thắng

 

  Tạ Uyên 

  An Viết Đàm

  Hà Thị Cầu

 

     

 

HUYỆN YÊN MÔ

 

         Nằm ở phía Tây Nam tỉnh Ninh Bình, huyện Yên Mô có diện tích tự nhiên 144,08 km², dân số 119.078 người. Từ xưa vùng này đã có tên là Mô Độ, đến thời nhà Minh đô hộ nước ta (1414- 1427) được đổi tên thành Yên Mô như ngày nay. Yên Mô là địa danh có sớm và bền vững, gắn với tên tuổi các danh nhân văn hoá: Ninh Tốn, Vũ Phạm Khải, Phạm Thận Duật, nhà tiền bối cách mạng Tạ Uyên và hàng loạt các địa danh từng là nơi các triều đại phong kiến xưa "dựng đế, xây thành, lập trại, xưng vương". Ngày nay, đảng bộ và nhân dân Yên Mô đang tạo ra những bước tiến mới quan trọng trong phát triển kinh tế- xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá- hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. 

 

        Trong sản xuất nông nghiệp: với diện tích đất hai lúa khoảng 13.000 ha, do thâm canh tốt, năng suất lúa của Yên Mô ngày càng cao, (vụ đông xuân 2003 đạt 61,9 tạ/ha), sản lượng lúa đạt 73.574 tấn (năm 2002) và 39.277 tấn (vụ đông xuân năm 2003), góp phần nâng mức bình quân lương thực đầu người lên 650kg/ năm, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực. Ngoài ra, Yên Mô còn có khoảng 100 ha đất trồng cây màu và cây công nghiệp. Về chăn nuôi: đàn trâu, bò hàng năm có khoảng 7.000 con; đàn lợn có 50- 60 nghìn con; đàn gia cầm đạt khoảng 60 vạn con. Là huyện có địa hình đa dạng, có núi đồi, ao hồ, sông ngòi, đồng trũng...nên những năm gần đây, Yên Mô tập trung nhân rộng việc nuôi dê, nuôi cá các loại. Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở Yên Mô chưa chiếm ưu thế, nhưng đang có sự chuyển dịch tích cực, ngày càng tăng tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế. Yên Mô có tới 11 làng nghề truyền thống, nhiều làng nghề có từ rất lâu như nghề dệt vải, dệt chiếu, làm mộc, làm nề, khai thác đá, chế biến lương thực, thực phẩm, mây tre đan.... Lực lượng lao động của Yên Mô khá dồi dào, 63.349 người trong độ tuổi chiếm hơn một nửa dân số trong đó số người được đào tạo nghề là 1.055; hàng chục nghìn người khác được truyền nghề qua lao động thực tế. Yên Mô có tiềm năng lớn về sản xuất vật liệu xây dựng: 9 xã có núi đá vôi với trữ lượng lớn (diện tích 1.772 ha); có mặt bằng rộng, thuận lợi cho việc xây dựng các cơ sở sản xuất công nghiệp, dịch vụ. Về du lịch, Yên Mô có khá nhiều núi non, hang động, đầm hồ đẹp như: động Mã Tiên, hang Trời, hồ Đồng Thái (Yên Đồng), hang Chùa (núi Voi- Yên Mạc), động Trà Ty, hồ Yên Thắng...Mặt khác, Yên Mô còn có tới 12 di tích lịch sử văn hoá được xếp hạng. Về ẩm thực, đặc sản của Yên Mô một thời được nhắc đến với ổi Phù Sa, mía Yên Lâm, nem Yên Mạc, giò trứng Yên Từ, bún Khánh Dương... Trong xây dựng cơ sở vật chất, Yên Mô có tốc độ phát triển khá nhanh. Toàn huyện có gần 250 km đường giao thông nông thôn trong đó 44,8 km đường nhựa, 174 km đường bê tông, 30,6 km đường cấp phối. Đường nhựa, bê tông về tới 100% các trung tâm xã trong huyện; hầu hết các thôn, xóm đều có đường ô tô, nhiều xóm 100% đường dong, đường ngõ đều được đổ bê tông. Hệ thống thuỷ lợi đã đáp ứng yêu cầu tưới tiêu của hầu hết các khu đồng; 43/73 km kênh mương cấp I đã được kiên cố hoá. Toàn huyện có 52 trạm biến áp với tổng công suất 9.840 KVA; 100% số xã, thôn, xóm có điện với 99,72% số hộ dân được dùng điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất. Năng lực cơ giới hoá trong sản xuất và đời sống ngày càng tăng, toàn huyện có hàng chục xe ô tô tải và chở khách, hàng trăm xe công nông, hàng trăm thuyền máy, xe lam... đáp ứng nhu cầu vận tải hàng hoá, tuốt lúa, xay xát, làm đất và đi lại của nhân dân. 100% số xã trong huyện đã có trạm bưu điện văn hoá; dịch vụ bưu chính viễn thông đã phủ sóng tới hầu hết các thôn; số người sử dụng điện thoại ngày càng tăng. Về giáo dục: Yên Mô có tới 18 trường mầm non; 21 trường tiểu học; 18 trường THCS; 2 trường THPT; đội ngũ giáo viên toàn huyệncó 2.667 người, trong đó gần 200 người có trình độ đại học. Hàng năm, Yên Mô có từ 150- 200 em đạt học sinh giỏi cấp huyện, 200 em đạt học sinh giỏi cấp tỉnh; năm học 2001- 2002 có 2 em đạt học sinh giỏi quốc gia. Về y tế: Yên Mô có 1 bệnh viện, 1 phòng khám khu vực và 18 trạm y tế xã, thị trấn với 180 giường bệnh; có 23 bác sỹ trong đó 10 bác sỹ làm việc tại các trạm y tế xã, thị trấn. Yên Mô là đơn vị đã thanh toán và loại trừ được các bệnh bại liệt, phong, uốn ván sơ sinh, sởi, sốt rét, lao. Nhiều năm nay trên địa bàn huyện không có dịch bệnh xảy ra. Yên Mô có 239 làng và đều đã xây dựng được hương ước, quy ước; có 33 làng đạt tiêu chuẩn làng văn hoá, trong đó 18 làng văn hoá cấp huyện, 15 làng văn hoá cấp tỉnh; có trên 160 khu dân cư đạt khu dân cư tiên tiến. Hầu hết các địa phương đều tổ chức các hoạt động lễ hội văn hoá truyền thống hàng năm. Huyện Yên Mô có 1 người được công nhận là nghệ nhân (bà Hà Thị Cầu ); 3 nghệ sỹ ưu tú; 1 vận động viên cấp quốc gia; 3 vận động viên cấp kiện tướng. Những năm gần đây, công tác dân số- KHHGĐ của Yên Mô luôn được đánh giá là đơn vị đạt kết quả cao của tỉnh. Tỷ lệ tăng dân số là 0,47%0; tỷ lệ sinh con thứ 3 là 14,7 %0 ; chất lượng dân số ngày càng được nâng cao. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, ổn định; các tổ chức cơ sở Đảng không ngừng được củng cố, nâng cao chất lượng, khẳng định vai trò lãnh đạo trong mọi hoạt động của đời sống xã hội; chính quyền các cấp ngày càng nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong quản lý, điều hành. Mặt trận và các tổ chức đoàn thể vận động đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia các phong trào và hoạt động của địa phương, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội của huyện.

 

(Nguồn: website Ninh Bình).