TÀI LIỆU MÔN XÃ HỘI HỌC GIÁO DỤC

Báo Dân trí - Thứ Sáu, 07/03/2014 - 10:43



































   Bi kịch học đường

(Dân trí) - Không chỉ một học sinh đạt mức trung bình yếu như cháu tôi đạt danh hiệu học sinh giỏi, mà gần như ở cấp tiểu học thì tỉ lệ học sinh giỏi, khá ở lớp nào, trường nào cũng có tình trạng tương tự như vậy...

Năm ngoái sau khi đi họp tổng kết năm học cho cháu nội, tôi đã viết bài viết ngắn đăng trên báo Văn nghệ phê phán căn bệnh thành tích của ngành Giáo dục đã làm nền giáo dục nước ta xuống cấp như thế nào. Nhưng đáng buòn thay, mặc dù dư luận báo giới, dư luận nhân dân và ngay cả trong các cuộc họp của cơ quan thượng đỉnh là Quốc hội đã không ít đại biểu phát biểu phê phán căn bệnh này nhưng… Có thể nói. Mọi ý kiến lên án, chê trách về căn bệnh - tệ nạn này vẫn chỉ là “nước đổ đầu vịt”.
 
Thành công của vở diễn về đạo thầy trò và chống tham nhũng
Nhà văn Nguyễn Hiếu - tác giả bài viết.


Năm nay vì bố mẹ cháu bận công tác nên tôi vẫn phải thay mặt đi họp tổng kết năm học của đứa cháu nội. Vốn thường xuyên kèm cặp cháu học ở nhà nên tôi không lạ gì học lực của cậu học sinh đích tôn đang trong tuổi ham chơi, ngại học này. Mọi bài tập về toán đều làm qua loa đại khái cho xong chuyện, sau đó là nhờ ông hay bà chữa cho đúng rồi chép lại. Có lần cậu cháu học lớp 4 ngồi ngẩn người ra ao ước "Ước gì giờ con quay lại học mẫu giáo”. Tôi bật cười hỏi “Sao con lại mong ước vậy?”. Cháu tôi thản nhiên bám vào lưng ông thủ thỉ “Vì sẽ không phải học bài, không phải làm bài tập, không phải đi học phụ đạo, học thêm”. Theo đánh giá của tôi, cũng như của mẹ và bà cháu đều là một giáo viên thì trình độ của thằng bé chỉ đat mức trung bình yếu, nếu không cẩn thận để ý trông coi, thúc giục thì khó mà lên nổi lớp. Vậy mà tôi thật bất ngờ khi cháu tôi lại được cấp giấy khen vì trong diện học sinh giỏi. Tôi ngạc nhiên hỏi cô giáo chủ nhiệm của lớp cháu. Cô giáo cho biết: “Ông cũng mừng cho con, là lớp 4C của con có 58 học sinh thì 40 cháu trong đó có cháu ông đạt danh hiệu học sinh giỏi. Còn lại là học sinh khá. Không có cháu nào là học sinh trung bình chứ chưa nói là kém”.

Nghe cô giáo nói, tôi chợt nhớ gần 50 năm trước. Vào năm 1966 khi đại hội “Hai tốt” lần thứ 2 mở ra thì Trường cấp 3 Xuân Đỉnh của tôi cũng là một trong ba điển hình của phong trào “Hai tốt” do ngành Giáo dục phát động theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch vào năm 1960. Vậy mà cả lớp 10A của tôi gần 60 người chỉ có một học sinh xuất sắc A1. Hai học sinh giỏi A2. Hai học sinh khá A3 trong đó có tôi cho dù tôi là thành viên trong đội tuyển học sinh giỏi Hà Nội đi thi học sinh giỏi văn miền Bắc (đơn giản vì tôi chỉ giỏi Văn, Toán, còn các môn khá chỉ đạt khá)… Tỉ lệ này hoàn toàn phù hợp với cách tính của các nhà chuyên môn. Theo cách tính này thì xác xuất tỉ lệ người giỏi chỉ đạt từ 3-5% dân số. Như ở nước ta theo tỉ lệ này thì với dân số khoảng 90 triệu người thì số người khá, giỏi chỉ chiếm khoảng 3 triệu người. Còn đối với một lớp học hơn 50 học sinh chỉ có độ từ 2-3 học sinh khá và giỏi. Vậy mà. Thật kì lạ… Không chỉ một học sinh đạt mức trung bình yếu như cháu tôi đạt danh hiệu học sinh giỏi. Mà gần như ở cấp tiểu học thì tỉ lệ học sinh giỏi, khá ở lớp nào, trường nào cũng có tình trạng tương tự như vậy. Một cô cháu gọi tôi bằng cậu cũng bảo “Thằng bé nhà con chữ như gà bới, học lớp 4, chưa biết qui đồng mẫu số là gì mà cuối năm cũng có giấy khen là học sinh khá”. Đem thắc mắc này về hỏi con dâu đang là giáo viên và vợ tôi vốn từng là lãnh đạo một trường Trung học cơ sở thì được nghe giải thích. Thời của tôi cách đây gần nửa thế kỉ học sinh giỏi là giỏi thật, còn bây giờ tất cả phải tuân theo cái gọi là “tỉ lệ của cấp trên phân bổ cho từng lớp, từng trường”. Nếu không thực hiện đúng tỉ lệ đó thì cô, thầy chủ nhiệm bị phê bình, rồi Hiệu trưởng bị phê bình, xong đến trưởng phòng giáo dục bị sở phê bình… rồi Giám đốc sở… cứ tuần tự như thế đến ông bộ trưởng bộ Giáo dục - đào tạo bị khiển trách…

Với tình trạng chất lượng học sinh như thế nên mới có trường hợp tức cười xảy ra ở ngành giáo dục Tây Ninh. 9 huyện của tỉnh này cử 79 học sinh giỏi đi thi học sinh giỏi cấp tỉnh khoá học 2012 - 2013. Thang điểm chất lượng là 20 thì có tới 14 học sinh giỏi bị 0 điểm. Còn diện đạt điểm dưới trung bình chiếm khá nhiều. Trong khi đó có thể điều kiện học hành của học sinh từ cấp Tiểu học (TH) đến Trung học cơ sở (THCS) đều kém rất xa và gần như bị thả nổi đến mức vô trách nhiệm đối với sự học, sự sinh hoạt đối với học sinh hai cấp này đang là lứa tuổi ưa hoạt động, vui chơi. Mọi điều kiện học hành, sinh hoạt sẽ tác động lớn đến trình độ cũng như sự hình thành nhân cách của các cháu sau này. Đầu tiên phải kể đến sự bất hợp lý từ nhà nước. Cách đây nửa thế kỉ. Thế hệ chúng tôi đi học từ cấp 1 đến cấp 2 rồi cấp 3 đều không phải đóng học phí. Còn nay theo như GS Trần Phương Chủ tịch Hội đồng Quản trị Đại học Kinh doanh - Công nghệ cho biết thì Việt Nam là nước duy nhất thu tiền học phí của học sinh tiểu học. Ngoài tiền học phí học trong các buổi học chính thức thì học sinh lại phải đóng tiền học thêm, học phụ đạo. Tiện đây tôi cũng xin nói lại cách đây nửa thế kỉ khi thế hệ chúng tôi thì những học sinh học kém nhất mới buộc phải tập trung để thầy dạy phụ đạo ngoài giờ không thu tiền. Còn hiện nay từ cháu bé chưa vào học mẫu giáo, cho đến học sinh chưa vào lớp 1 đến học sinh lớp 1 cho đến học sinh lớp 12 đều phải đóng tiền bắt buộc để theo học các lớp phụ đạo của các thầy, các cô chủ nhiệm, của các bộ môn dạy thêm, dạy phụ đạo tại các lớp ở nhà riêng thầy, cô, ở tại trường ngoài giờ học. Bốn đứa cháu nội của tôi từ anh đầu lớp 4 cho đến cô út mẫu giáo đều rùng mình, phát khóc mỗi khi buộc phải trèo lên xe để bố, mẹ hay ông bà đưa đi học thêm, học phụ đạo.
 

Sau giờ học, nhiều PH có nhu cầu cho con đi học thêm.

Ngoài tiền học thêm là việc mỗi học kì, mỗi năm học phụ huynh lại đóng đủ thứ tiền dưới chiêu bài tự nguyện. Chính vì các kiểu moi tiền phụ huynh này nên sự học của học sinh các cấp giờ đây luôn trở thành gánh nặng kinh tế đối với nhiều gia đình. Không cho con đi học thêm thì sợ thầy, cô trù úm cho con đi học thêm quả là vất vả cho ngân quỹ gia đình. Từ góc độ kinh tế đó, tôi chợt hiểu ra một thực trạng cay đắng. Khi quan hệ thầy trò thiêng liêng “tôn sư trọng đạo” đã bị đồng tiền chen vào giữa (cũng như đồng tiền giá lạnh chen vào giữa thầy thuốc và con bệnh hiện nay) thì chắc chắn quan hệ này sẽ bị hoen ố đi rất nhiều. Sự mua bán xuất hiện trong quan hệ đáng ra phải lấy tiêu chuẩn trong sáng, vô tư “vì tương lai con em chúng ta làm chuẩn mực” đã gây ra những hậu quả đáng xấu hổ. Trên báo chí đã từng phản ảnh những câu nói hỗn xược của học sinh đối với thầy cô “bố mẹ tôi đã trả tiền cho thầy cô, chứ thầy, cô không dạy không công mà bắt ne bắt nẹt tôi”. Tôi cũng từng nghe thấy những phụ huynh quát nạt, thậm chí đánh thầy cô vì cho điểm kém, hay dùng hình phạt sư phạm đối với con mình với những câu nói làm nhói đau những người đứng trên bục giảng. “Đã nhận tiền thì phải biết điều chứ.. Dạy thế mà đòi lấy tiền”… Còn về phía thầy cô khi nhận đồng tiền của phụ huynh thì cũng tự mình tạo ra sự phân biệt phản khoa học là lưu ý đến học sinh nào phụ huynh đóng tiền nhiều, nặng quà cáp và vô cảm, thậm chí vô trách nhiệm đối với học sinh nghèo. Tôi còn nhớ cách đây gần nửa năm đã có vị phụ huynh đề nghị và đã được không ít thầy cô, giáo tán thành. Đó là việc tạo ra lớp học sinh VIP trong lớp học khi phụ huynh nộp các khoản chi phí cao hơn các học sinh khác để con cái mình được dậy dỗ, quan tâm tốt hơn. Nếu đề nghị này được thực hiện thì mới thấy sự khủng khiếp của yếu tố thương mại gây tác hại lớn như thế nào vào không gian nghiêm túc của việc trồng người ở nước ta.
 
Tiền học đã vậy, còn điều kiện học và sinh hoạt vui chơi của học sinh TH và THCS ở không ít trường giữa Thủ đô đang rơi vào tình trạng đáng sợ, phản sư phạm nặng nề. Học sinh bị “cầm tù” trong trường học suốt tám tiếng như thế nào. Xin tạm lấy số liệu ở Quận Hai Bà Trưng. Quận trung tâm Hà Nội này có 257 trường mầm non, 17 trưởng TH, 15 trường THCS…  Nhưng hầu hết các trường đều không đủ cơ sở vật chất, không ít trường có tình trạng giống như Trường tiểu học Bà Triệu (phố Bùi Thị Xuân) sân chơi dành cho học sinh chỉ vẻn vẹn 10 mét vuông. Một trường nổi tiếng khác mà tôi nghe dư luận đang rộ lên rằng để xin được vào trường này phụ huynh mất khoảng 2.000 đô la (trên 40 triệu). Vậy mà trường này có 1.500 học sinh tiểu học, 1.000 học sinh trung học trong đó có tới 31 lớp học sinh bán trú. Nhiều lớp phải học nhờ trong nhà dân. Còn không ít lớp có 50 học sinh khi diện tích lớp vẻn vẹn 30 mét vuông. Cậu học sinh lớp 4 cháu tôi không hôm nào về không ca cẩm. Gần 60 học sinh bán trú ngủ trưa mà chỉ có một chiếc quạt trần chạy lờ đờ. Các cháu bị nóng bức, vã mồ hôi giữa trưa hè nóng nực. Còn ngôi trường nổi tiếng kia cũng đã hơn 10 năm xin được cấp đất xây trường những không được trên chấp nhận. Vậy mà ngành Giáo dục Quận Hai Bà vẫn hùng hồn khẳng định, tới năm 2015 quận này sẽ có 50% số trường đạt chuẩn quốc gia. Lại thêm một lời tuyên bố điển hình của căn bệnh thành tích.

Lại nói khi thế hệ chúng tôi đang là học sinh phổ thông thì đất nước ta còn rất nghèo. Vậy mà nghe tiếng trống báo hết giờ học, chúng tôi sung sướng biết bao khi được ùa ra chơi, chạy nhảy trên khoảng sân rộng mênh mông, rợp bóng cây. Khi tiếng ve kêu, hoa phượng nở, chúng tôi đã nôn nao nghĩ đến kì nghỉ hè thanh thản, không vướng bận học hành. Vậy mà ngày nay, dưới khẩu hiệu được nói như vẹt “trẻ em là tương lai đất nước” thì tiếng trống tan trường vang lên, tiếng ve kêu, màu hoa phượng chỉ làm các cháu học sinh lại giật thót mình vì lại bước vào những giờ học thêm nóng bức, ngột ngạt và cả vô bổ, tốn tiền bố mẹ.

Tương lai đất nước sẽ ra sao khi ngành giáo dục vẫn chưa giải quyết được “bi kịch học đường” - một thứ tệ nạn xã hội. Vì đồng lương chưa thỏa đáng dành cho thầy cô?. Vì quyền lợi vật chất của đội ngũ những người trồng người, hàng chục thế hệ học sinh đã qua, hiện nay và sắp tới vẫn đang nặng trĩu, oằn người vì bi kịch học đường khủng khiếp này?. Hay đơn giản chỉ vì nhà nước ta chưa thực sự quan tâm, chưa tìm ra đường hướng tốt nhất, phù hợp nhất đến nghiệp trồng người ở nước ta.

Nhà văn Nguyễn Hiếu


Biến đổi trong hệ chuẩn mực đạo đức xã hội ở nước ta trước tác động của nền kinh tế thị trường
22:44' 14/1/2014

Theo TCCS - Kể từ Đại hội VI của Đảng (năm 1986), đất nước ta từ cơ chế kinh tế tập trung quan liêu bao cấp đã chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là một bước phát triển về tư duy của Đảng và của xã hội, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại.



Nhờ đó, đất nước đã vượt qua khủng hoảng, khắc phục tình trạng trì trệ trước đây. Từ một nước nghèo nàn và lạc hậu, đất nước đang vươn tới một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nhiều khu đô thị hiện đại được mọc lên khắp nơi, diện mạo đất nước đổi thay, khởi sắc.

Có một thực tế ở nước ta cũng như ở nhiều nước khác là sự phát triển về đời sống vật chất đã không tỷ lệ thuận với đời sống văn hóa tinh thần và các giá trị đạo đức xã hội cần có để phát triển hài hòa và bền vững. Các đại hội Đảng gần đây đều nhận định, đánh giá tình trạng suy thoái về đạo đức đang diễn ra. Văn kiện Đại hội XI đã chỉ ra rằng: “Môi trường văn hóa bị xâm hại, lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, các tệ nạn xã hội, tội phạm và sự xâm nhập của các sản phẩm và dịch vụ độc hại làm suy đồi đạo đức, nhất là trong thanh, thiếu niên, rất đáng lo ngại”(1), rằng: “Xu hướng thương mại hóa và sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục còn chậm, hiệu quả thấp, đang trở thành nỗi bức xúc của xã hội”... “Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp, cùng với sự phân hóa giàu nghèo và sự yếu kém trong quản lý, điều hành của nhiều cấp, nhiều ngành, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước”(2). 

Sự xuống cấp về đạo đức xã hội như đã nói đang diễn ra chính là kết quả của những biến động, biến đổi trong hệ chuẩn mực đạo đức xã hội ở nước ta. Vậy quá trình biến động và biến đổi đó đã diễn ra như thế nào?

Đạo đức, lối sống là những vấn đề cốt lõi trong đời sống văn hóa của mỗi cá nhân, cộng đồng và dân tộc. Sự ổn định hay không ổn định, phát triển hay suy thoái của các quốc gia thường có quan hệ trực tiếp với vấn đề đạo đức xã hội. Để hình thành những chuẩn mực đạo đức và lối sống tốt đẹp, đòi hỏi một thời gian khá dài, có khi phải vài ba thế hệ. Nhưng để phá bỏ những chuẩn mực có giá trị và thay vào đó những phản giá trị thì chỉ cần một thời gian rất ngắn.

Việc xây dựng đạo đức và lối sống có văn hóa hiện nay không thể không bắt đầu bằng sự nhận diện các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc. Lịch sử dạy chúng ta rằng để giải quyết những vấn đề hiện tại của đời sống xã hội, không thể không trở về với những bài học của quá khứ của cha ông. Mặt khác, trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường và của xu thế toàn cầu hóa với tính hai mặt của nó, mỗi người Việt Nam cần nhận biết chúng ta là ai và từ đâu tới. Không nhận biết được những điều đó thì làm sao có thể xác định hướng đi của chúng ta sẽ về đâu. Nhận diện được các giá trị truyền thống cũng là điều kiện tham chiếu cực kỳ quan trọng để nắm bắt được những biến động, biến đổi trong hệ chuẩn mực đạo đức xã hội đang diễn ra. 

Dân tộc Việt Nam được hình thành và phát triển trong điều kiện tự nhiên và xã hội vốn rất khắc nghiệt. Những cuộc chinh phục vĩ đại trong lịch sử để chiếm lĩnh vùng đất sình lầy và đầy thú dữ, với những rủi ro thiên tai thường xuyên đe dọa đã hình thành nên bản lĩnh và khí chất của người Việt cổ mà các giai đoạn của nền văn minh sông Hồng xếp lớp qua các thời đại khảo cổ học đã cho chúng ta niềm tự hào to lớn về tổ tiên, cha ông... Ngoài ra, đất nước Việt Nam có vị trí chiến lược quan trọng, dễ bị nhiều thế lực nhòm ngó, xâm lăng. Trong bối cảnh đó, để tồn tại và phát triển, tổ tiên người Việt đã phải tự gồng mình lên để có thêm sức mạnh vật chất và tinh thần. Quá trình đó đã dần hình thành nên những phẩm giá can trường và nhân ái cần thiết để xây dựng mối quan hệ giữa con người với con người. Đó là môi trường thuận lợi để các giá trị đạo đức và lối sống được đặc biệt coi trọng.

Chính vì vậy, chủ nghĩa nhân văn đã trở thành một triết lý, một đạo lý sống của người Việt Nam. Những câu nói: “Thương người như thể thương thân”, “Lá lành đùm lá rách”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng”,... đã trở thành câu nói cửa miệng của người Việt Nam trong rất nhiều hoàn cảnh khác nhau. Phải chăng đó là giá trị nổi bật nhất trong đạo đức truyền thống của dân tộc, và cũng là cội nguồn của sức mạnh đưa dân tộc ta vượt qua bao thử thách, khó khăn của thiên nhiên và của lịch sử.

Quan điểm coi con người và giá trị con người là trung tâm đã trở thành chuẩn mực có tính truyền thống cho việc hình thành đạo lý làm người và nhân cách con người Việt Nam. Người Việt Nam biết tôn trọng và đề cao các giá trị tinh thần. Ngay trong những điều kiện sinh hoạt vô cùng khó khăn và thiếu thốn, cha ông ta vẫn dạy con cháu: “Lời chào cao hơn mâm cỗ”, “Tốt danh hơn lành áo”... Giữa sự giàu sang phú quý với phẩm giá con người, cha ông ta biết coi trọng phẩm giá con người hơn là sự giàu sang phú quý. Như vậy, về phương diện tâm lý và triết lý sống, người Việt Nam quen đề cao, quý trọng các giá trị tinh thần - những cái làm nên phẩm giá thực sự của con người, là nền tảng để hình thành những nhân cách cao đẹp và được mọi giai tầng xã hội chấp nhận, tôn vinh.

Tinh thần vì nghĩa (hay nghĩa khí) đã trở thành nét chủ đạo xuyên suốt trong đời sống cũng như trong các tác phẩm văn học dân gian và văn chương bác học qua các thời đại. Nó là một phẩm chất không thể thiếu để gắn kết con người với con người, và qua đó, trở thành bệ phóng thần kỳ để tạo nên những chiến công hiển hách trong các cuộc chiến tranh giữ nước và phòng, chống thiên tai để bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.

Trong các cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm trước đây, đặc biệt qua hai cuộc kháng chiến cứu nước vĩ đại do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta trực tiếp lãnh đạo, các giá trị đạo đức tinh thần của dân tộc đã phát huy sức mạnh to lớn và có tính quyết định cho mọi thắng lợi. Nữ nghệ sĩ Mỹ Gi. Phôn-đa, sau chuyến thăm miền Bắc Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, đã viết: “Chúng tôi tự hỏi tại sao và làm thế nào một nước nhỏ về địa lý như nước Việt Nam mà không sợ sức mạnh kỹ thuật của Mỹ, lại có thể ngăn chặn được sự tiến công hung bạo của đủ các loại vũ khí Mỹ. Ấy là bởi vì các bạn biết tại sao các bạn chiến đấu, bởi vì các bạn đã đặt giá trị con người chứ không phải lợi nhuận hay bạo lực ở trung tâm của mọi sự vật”(3) Đó là một nhận xét rất sâu sắc về triết lý, văn hóa và đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam.

Từ sau năm 1986, với Đại hội VI của Đảng, đất nước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Đó là bước ngoặt lớn trong đời sống kinh tế - xã hội, tác động trực tiếp không chỉ đến đời sống vật chất mà cả đời sống tinh thần của nhân dân. Bước ngoặt đó đã và đang tạo nên những biến động, biến đổi lớn trong hệ chuẩn mực đạo đức xã hội ở nước ta.

Vấn đề đặt ra là từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường đến nay, sau gần 30 năm vận hành và tìm tòi những lộ trình phù hợp, chúng ta vẫn chưa hiểu thật đầy đủ cả về lý luận lẫn thực tiễn nền kinh tế đó. Tình hình đó dẫn tới một thực tế là: trong khi chúng ta chưa phát huy hết mặt tích cực của kinh tế thị trường, thì mặt tiêu cực của nó lại thao túng, ảnh hưởng trên cả lĩnh vực sản xuất vật chất và sự sáng tạo, sàng lọc các giá trị tinh thần, đạo đức. Tình hình càng trở nên phức tạp hơn, khi xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế thị trường mà chúng ta đang phải đối diện là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Điều này nhiều học giả trên thế giới đã nhận định: toàn cầu hóa kinh tế hiện nay thực chất là toàn cầu hóa kinh tế tư bản chủ nghĩa. Khi kinh tế thị trường bị chủ nghĩa tư bản chi phối, thì đương nhiên nó sẽ hy sinh phần xã hội cho kinh tế, nó duy trì sự phân hóa giàu nghèo, tạo nên sự sa sút về đạo đức và sự tha hóa con người... như C. Mác đã nói. 

Tính chất hai mặt của kinh tế thị trường ở nước ta cũng thường xuyên được đề cập qua các kỳ đại hội Đảng, rằng đời sống vật chất của xã hội được nâng lên, cải thiện rõ rệt, nhưng đời sống tinh thần, đạo đức xã hội thì xuống cấp, mà một trong những nguyên nhân quan trọng là do chúng ta chậm nhận thức ra mặt trái của kinh tế thị trường. Nói đến những biến đổi, biến động trong hệ chuẩn mực đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay thực ra là bàn về tác động của kinh tế thị trường đối với đạo đức xã hội. Đạo đức cũng như văn hóa, là văn hóa. Bao giờ nó cũng nằm trong kinh tế và chính trị, chịu sự quy định khá chặt chẽ của kinh tế và chính trị. Không thể bê nguyên xi các chuẩn mực đạo đức của nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước mang tính tự cung tự cấp vào trong xã hội hiện đại. Trái lại, cũng không thể phủ nhận những nguyên tắc có tính hằng số của đạo đức xã hội truyền thống. Chính các nguyên tắc đó tạo nên tính liên tục của sự phát triển xã hội, sự gắn kết giữa quá khứ với hiện tại và tương lai, sự gặp gỡ giữa các quốc gia, dân tộc. Cố nhiên, trên nền tảng chung của những nguyên tắc đạo đức cổ truyền, xã hội hiện đại cũng đặt ra những vấn đề mới. Lao động và giao tiếp xã hội là hai lĩnh vực cơ bản của đời sống, ở đó thể hiện rất rõ hệ giá trị đạo đức của xã hội. Sự biến động về đạo đức trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay cũng thể hiện tập trung trên hai lĩnh vực này. Trước kia, với kỹ thuật thô sơ, người nông dân luôn miệt mài trên đồng ruộng, để sản xuất ra lúa gạo nuôi sống gia đình mình và xã hội. Để có hạt gạo, bát cơm, họ phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt: Ai ơi bưng bát cơm đầy / Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần... Đó là lời nhắn gửi chất chứa đạo lý là phải trân trọng biết ơn những người nông dân chịu đựng gian khó làm ra sản phẩm nuôi sống cả xã hội. 

Từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945, nhất là qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, vấn đề đạo đức xã hội càng được quan tâm giáo dục thường xuyên. Khái niệm cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư không chỉ được vận dụng trong lao động sản xuất, mà còn trong tất cả các hoạt động xã hội, trong mọi tổ chức, địa bàn dân cư... Một phong trào yêu nước rộng lớn đã xuất hiện ở khắp mọi nơi. Kết quả là đã xuất hiện các anh hùng, chiến sĩ thi đua, các đơn vị và tập thể điển hình tiên tiến. Tất cả các đơn vị và cá nhân tiêu biểu đều có chung một phẩm chất đem hết sức mình cống hiến cho xã hội, cho đất nước, cho nền độc lập dân tộc. Khi ấy, lợi ích cá nhân và tính cục bộ địa phương, đơn vị bị cho là thứ yếu. 

Khi chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường, chúng ta đã khắc phục thiếu sót của tư duy cũ bằng cách quan tâm nhiều hơn đến lợi ích trực tiếp của người lao động. Nhờ đó năng suất lao động được nâng cao, sản phẩm xã hội tăng nhanh, đời sống người dân được cải thiện. Nhưng, sự quan tâm đến lợi ích của người lao động lại không song hành với việc giáo dục ý thức trách nhiệm xã hội của mỗi người, thậm chí vấn đề giáo dục đạo đức xã hội bị coi nhẹ. Nếu trước đây các khái niệm lý tưởng, khát vọng, là những điều gần gũi, thiêng liêng, thường xuyên được nhắc tới, thì ngày nay các khái niệm đó lại ít được đề cập. Khi con người phai nhạt lý tưởng, thiếu những khát vọng cao đẹp, thì nó thường bị trói buộc vào những tham vọng thấp kém. Tư tưởng chạy theo đồng tiền, chạy theo lợi ích vật chất trong một bộ phận xã hội (kể cả người lao động làm ra vật chất hay sản xuất ra sản phẩm tinh thần) đã dẫn tới hiện tượng tha hóa trong lao động. Có nghĩa là quá trình lao động cũng là quá trình đánh mất bản ngã. Các sản phẩm lao động, trong một số trường hợp, không thể hiện trình độ tay nghề, ý thức trách nhiệm và cả lương tâm của người lao động. Trái lại, nó bị chi phối trực tiếp bởi lợi ích, lợi nhuận tầm thường trước mắt. Đây là nguyên nhân dẫn tới tình trạng xuất hiện ngày càng nhiều hàng hóa kém chất lượng, hàng giả, thậm chí cả hàng hóa độc hại. Cũng vì lợi ích cá nhân, không ít cán bộ đã quên lãng trách nhiệm xã hội của mình, gây nhiều phiền hà cho người dân khi thực thi công vụ. Nạn vòi vĩnh, tham nhũng, đòi hối lộ tràn lan. 

Khi hoạt động lao động không thể hiện được giá trị đạo đức, bị tha hóa, nó sẽ tác động xấu đến các mối quan hệ xã hội, từ quan hệ cung cầu trong sản xuất hàng hóa, quan hệ phục vụ và được phục vụ trong các cơ quan hành chính công, trong trường học, bệnh viện và cả quan hệ trong gia đình. Có nghĩa là giao tiếp xã hội cũng xuống cấp. 

Dân tộc ta vốn có truyền thống sống tình nghĩa với nhau. Tình nghĩa đã chi phối mọi quan hệ giao tiếp xã hội. Ngày nay, trước tác động của mặt trái của kinh tế thị trường, không ít người đã chạy theo xu hướng thực dụng, vụ lợi, bất chấp tình nghĩa. Lối sống cơ hội, nịnh bợ, “gió chiều nào theo chiều ấy”... đang làm vẩn đục các quan hệ. Sự phân cấp, phân tầng xã hội theo địa vị, chức vụ, tài sản diễn ra khá nặng nề. Người dân cảm thấy khép nép, lo lắng, khi có việc đến cơ quan công quyền. Nhiều vụ, việc tiêu cực ở các địa phương, các đơn vị bị bỏ qua, không ai dám phanh phui...

Trong khi các quan hệ ngoài xã hội đang suy giảm, thì gia đình là bến đỗ của con người cũng đang bị lung lay, xung đột vì các lợi ích cá nhân. Xu thế giải thể gia đình nhiều thế hệ diễn ra trên thế giới cũng đang tác động tới nước ta. Mối quan hệ ràng buộc các thành viên gia đình trong một tổ ấm đang bị đe dọa. Nhiều vụ ly hôn, ly thân, hôn nhân ngoài giá thú, hôn nhân thử nghiệm xuất hiện làm mất đi tính chất thiêng liêng trong quan hệ gia đình cùng với sự gia tăng nạn bạo hành gia đình, bạo lực học đường đã làm cho xã hội bất an, tác động trực tiếp đến thế hệ trẻ.

Những biểu hiện về suy giảm đạo đức nói trên không chỉ diễn ra trong người dân, mà đáng tiếc, trong đó có cả một số cán bộ, đảng viên. Cố nhiên, đối với cán bộ, đảng viên, đặc biệt là những người có chức có quyền, thì sự suy thoái về đạo đức còn có những biểu hiện tha hóa riêng. Đó là tệ quan liêu, thói đam mê quyền lực, thói hách dịch, tham nhũng, hối lộ, hủ hóa. Trong những năm cuối đời, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhiều lần tỏ ra bức xúc trước các hiện tượng đó, đặc biệt hiện tượng đam mê quyền lực. Ông đã ví thói đam mê quyền lực như nghiện ma túy. Ai bập vào thì khó mà từ bỏ. Đam mê quyền lực sẽ làm hủy hoại nhân cách con người. Nhận định đó đang được chứng thực trong thực tế. Tệ “chạy chức”, “chạy quyền” cũng đã xuất hiện làm cho quyền lực không còn là trách nhiệm pháp lý, mà đôi khi bị biến thành hàng hóa. 

Một biểu hiện khác của sự suy thoái về đạo đức trong cán bộ đảng viên là lời nói không đi đôi với việc làm, thiếu sự trung thực với những người khác và với chính mình. Trước quần chúng thì luôn nói rành mạch theo các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, luôn nhắc đến trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên, nhưng khi thực thi quyền lực thì họ chỉ hướng vào lợi ích cá nhân, lợi ích phe nhóm. 

Sự xuất hiện của một số kẻ cơ hội chủ nghĩa cũng là một biểu hiện về suy thoái đạo đức và chính trị hiện nay. Đặc điểm nổi bật và chung nhất của những người này là trong mọi hành vi và mối quan hệ, đều tìm cách lợi dụng thời cơ để trục lợi. Loại người này sẵn sàng đánh mất lương tâm và danh dự của mình. Họ rất giỏi luồn lách, xu thời, mạnh ai thì theo người đó, việc gì có lợi cho bản thân thì làm, ra sức xoay xở.

Từ những phân tích nêu trên, có thể nêu ra những biến đổi, biến động trong hệ chuẩn mực đạo đức xã hội ở nước ta trong kinh tế thị trường hiện nay như sau:

1- Dù đang bước vào kinh tế thị trường, nhìn chung nhân dân ta vẫn giữ được các giá trị đạo đức truyền thống, đại đa số nhân dân vẫn tôn vinh các giá trị đạo đức nền tảng và cốt lõi. Kết quả điều tra xã hội học về những đức tính cần có đối với người phụ nữ hiện nay, có 91,1% khẳng định phụ nữ phải biết yêu thương gia đình, 82,2% cho rằng phải có lòng chung thủy, 80,9% cho rằng phải chăm sóc con cái tốt(4).

2- Tuy vậy, những biến đổi và biến động trong hệ chuẩn đạo đức đang diễn ra ngày càng phức tạp, đan xen những nhân tố tích cực và tiêu cực, trong đó xu hướng tiêu cực có lúc “trồi” lên mạnh, trở thành nỗi lo chung của toàn xã hội. Sự biến đổi và biến động đó diễn ra trên tất cả các khía cạnh trong đời sống, từ đạo đức đến lối sống, từ lao động, công tác đến giao tiếp và ứng xử xã hội, từ gia đình, nhà trường đến các cơ quan công sở, xí nghiệp,... Đáng lưu ý nhất là đã xuất hiện sự lệch chuẩn về đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ của xã hội:

- Từ một xã hội mang tính cộng đồng, đề cao tính cộng đồng, đã xuất hiện lối sống ích kỷ, tuyệt đối hóa lợi ích cá nhân, coi nhẹ lợi ích cộng đồng.

- Từ một xã hội coi trọng tình nghĩa nhân ái, bao dung, đã xuất hiện lối sống vô cảm, thờ ơ với những khó khăn và khổ đau của người khác.

- Từ một xã hội đề cao các giá trị tinh thần, đã xuất hiện lối sống tôn thờ đồng tiền, chạy theo các giá trị vật chất, bỏ qua phẩm giá và nhân cách con người.

Những lệch chuẩn ấy đang tác động xấu đến mọi quan hệ xã hội và làm phát sinh các tệ nạn xã hội.

Lao động vốn là nghĩa vụ, quyền lợi của mỗi con người. Thông qua lao động, xã hội được phát triển, con người dần dần được hoàn thiện. Trong điều kiện của kinh tế thị trường, do tác động của mặt trái của nó chưa được khắc phục thì nguyên tắc công bằng xã hội bị vi phạm; lợi nhuận trở thành mục tiêu duy nhất của hoạt động kinh tế; ý thức trách nhiệm xã hội trong lao động, và quyền được lao động bị vi phạm... Đó sẽ là cơ sở xã hội để xuất hiện hiện tượng tha hóa trong lao động. Sự xuất hiện không ít những “công ty ma”, những doanh nhân giả với nhiều thủ đoạn kinh doanh bất chấp pháp luật và đạo lý làm người rất khó kiểm soát. 

Chủ nghĩa thực dụng, tâm lý ích kỷ đang làm suy yếu các quan hệ thiêng liêng trong gia đình. Nó làm rạn vỡ các thuần phong mỹ tục, kỷ cương và gia phong mà dân tộc ta đã xây nên qua nhiều thế hệ. Ngay trong hôn nhân - một bảo đảm chắc chắn cho sự tồn tại và phát triển của gia đình cũng đang bị những tính toán vật chất lấn át. Xu hướng lấy chồng nước ngoài với lý do chính nhằm vào lợi ích vật chất đang gia tăng, khiến nhiều phụ nữ trở nên bất hạnh. 

Chuyển sang nền kinh tế thị trường, là con đường tất yếu của kinh tế nước ta, cũng như của mọi quốc gia trong thời đại ngày nay. Sự xuất hiện của kinh tế thị trường như cơ sở kinh tế của xã hội, tất yếu sẽ tác động và chi phối kiến trúc thượng tầng, trong đó có đạo đức xã hội.

Nhưng kinh tế thị trường với bản chất là nền kinh tế sản xuất hàng hóa, một nền kinh tế quan tâm rất nhiều đến lợi nhuận và lợi ích cá nhân,... nên nó là cơ sở để hình thành những phẩm chất mới về mặt đạo đức con người; đồng thời cũng là cơ sở để nuôi dưỡng, hoặc làm phát sinh những phản giá trị về mặt đạo đức. Kinh nghiệm lịch sử chỉ ra rằng, ở bất cứ quốc gia nào đang vận hành nền kinh tế thị trường, thì ở đó tâm lý ỷ lại, thụ động của người lao động đều bị đẩy lùi, thay vào đó là ý thức tìm tòi, vươn lên, dám chịu trách nhiệm với bản thân mình. Đó là mặt mạnh chung của kinh tế thị trường. Về phương diện này, qua gần 30 năm chuyển đổi nền kinh tế, đời sống tinh thần của các tầng lớp nhân dân ta đã trở nên năng động, sáng tạo, khắc phục được tính ỷ lại, thụ động, vốn là sản phẩm của nền kinh tế quan liêu, bao cấp. Ở những quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển ở trình độ cao, vai trò của các thương hiệu hàng hóa cực kỳ quan trọng. Xây dựng được thương hiệu là xây dựng được lòng tin giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Đó là một biểu hiện văn minh của đạo đức trên lĩnh vực kinh tế. Đối với các quốc gia vốn xuất phát từ nền kinh tế kém phát triển, lại chưa hiểu biết nhiều về kinh tế thị trường và quản lý xã hội còn yếu kém, thì khi mới chuyển sang kinh tế thị trường, thường trải qua một giai đoạn có sự đảo lộn và rối loạn về các chuẩn mực đạo đức xã hội. Nguyên nhân là, trong khi cả xã hội chưa kịp nhận ra khía cạnh tích cực của kinh tế thị trường, thì đã bị xô đẩy bởi những mặt tiêu cực vốn có của nó. Những mặt tiêu cực này lại đáp ứng nhu cầu khỏa lấp những thiếu thốn vật chất mà cả xã hội đang phải chịu đựng. Cơ chế kinh tế thị trường cộng với sự lỏng lẻo trong công tác giáo dục tư tưởng đạo đức, sự yếu kém trong quản lý xã hội, chính là miếng đất thuận lợi để những nhu cầu ham muốn tầm thường, thấp kém xuất hiện và phát triển.

Vì vậy, việc nhận thức đầy đủ và sâu sắc những biến đổi, biến động trong hệ chuẩn mực đạo đức xã hội ở nước ta thời kinh tế thị trường và đề xuất những giải pháp cần thiết, là rất quan trọng để thúc đẩy sự ổn định và phát triển của đất nước.

Phải thấy rằng hơn 300 năm nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa đã đưa lại sự phồn vinh và tăng trưởng kinh tế vượt bậc. Nhưng đó cũng là thời gian mà nhân loại phải chứng kiến nỗi đau của sự suy thoái về đạo đức trong xã hội tư bản. Lương tâm con người bị xúc phạm. Những quan hệ thiêng liêng giữa con người bị rạn nứt. Để tồn tại và phát triển, nhân loại đang phải tiếp tục tìm con đường đi tới. Chủ nghĩa tư bản cũng đang tự điều chỉnh để có thể kéo dài thêm sự tồn tại của nó. Đã xuất hiện những tín hiệu đáng mừng, dù còn khá mỏng manh. Tổ chức UNESCO của Liên hợp quốc đã ra tuyên bố khẳng định vai trò to lớn của văn hóa đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Các chương trình, dự án quốc tế về hỗ trợ các nước nghèo đã ra đời. Từ thực tế cuộc sống của mình, một bộ phận cư dân giàu có và trung lưu ở các nước tư bản phát triển đã cảm nhận được hạnh phúc con người không phải đến từ các giá trị vật chất, mà chủ yếu từ các giá trị tinh thần. Đây là điều rất quan trọng làm xuất hiện ở Pháp gần đây phong trào từ bỏ dần xã hội tiêu dùng vật chất (société de consommation) để bước sang xã hội đi tìm ý nghĩa (société de sens). Hiện tượng nhiều tỷ phú ở Mỹ đã hưởng ứng lời kêu gọi của tỷ phú Ua-rên Bu-phét, bỏ ra hàng tỷ USD để gây quỹ từ thiện, cứu giúp những người nghèo khổ trên thế giới, cũng là hiện tượng đáng lưu ý ở thời đại chúng ta. Những hiện tượng đó ở các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đem lại cho chúng ta một thông điệp rằng, lương tâm và đạo lý con người vẫn còn, vẫn đang ẩn sâu trong trái tim của nhiều người. Những điểm sáng về văn hóa và đạo đức đó đã giúp chúng ta tin tưởng và khẳng định rằng, nếu biết xây dựng và quản lý tốt nền kinh tế thị trường, biết coi kinh tế thị trường như một phương thức hoạt động kinh tế nhằm giải phóng, phát triển và hoàn thiện con người, thì chắc chắn sự phát triển kinh tế sẽ song hành với sự phát triển xã hội, phát triển con người./.

-----------------------------

(1), (2) Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 169, 168, 173

(3) Báo ảnh Việt Nam - số ra ngày 22-7-1972

(4) Xem: GS, TS. Trần Văn Bính (chủ biên): Những tác động của xu thế toàn cầu hóa đối với việc xây dựng và phát triển văn hóa ở Thủ đô Hà Nội, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 130 

Trần Văn BínhGS, TS, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Không nên quá thiên về quan điểm kinh tế trong giáo dục, đào tạo
8:25' 25/7/2008
Theo TCCS điện tử

Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tích cực hội nhập quốc tế và xa hơn nữa tiến tới phát triển kinh tế tri thức, vấn đề giáo dục, đào tạo ở nước ta có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Nhưng quan điểm hiệu quả kinh tế trong giáo dục, đào tạo như thế nào đang là vấn đề "nóng" của dư luận xã hội.

1 - Cơ sở lý luận

Trong kinh tế thị trường, người lao động bán sức lao động của mình tức là sức lao động đã trở thành hàng hóa. Cũng như các hàng hóa khác, hàng hóa sức lao động có 2 thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị.

Về mặt giá trị, hàng hóa sức lao động cũng do lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra nó quyết định. Song, nó lại có đặc điểm là không thể tính trực tiếp mà tính gián tiếp bằng:

+ Giá trị các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của người lao động để có thể tiếp tục làm việc bình thường.

+ Giá trị các hàng hóa và dịch vụ cần thiết để nuôi sống gia đình người lao động.

+ Giá trị hàng hóa và dịch vụ cần thiết để đào tạo, nâng cao nghiệp vụ chuyên môn của người lao động.

Mức độ và phương thức thỏa mãn những nhu cầu nêu trên tùy thuộc vào trình độ văn minh và những điều kiện, thói quen và nhu cầu sinh hoạt của người lao động ở mỗi nước.

Về mặt giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động, đó là cung ứng được lao động, nhờ vậy mà có thể tạo ra được sản phẩm hoặc một hoạt động có ích thỏa mãn được nhu cầu của người mua. Đặc điểm giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động là:

+ Khi được sử dụng, công dụng của nó không mất đi mà vẫn được duy trì, hơn nữa còn có thể tăng thêm nhờ kinh nghiệm và năng lực chuyên môn nghề nghiệp được trau dồi.

+ Khi được sử dụng, nó tạo ra một lượng giá trị - công dụng mà không hàng hóa nào có được, hơn nữa lại tạo ra được lượng giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó. Bộ phận lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư; bộ phận hết sức quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến sự tăng trưởng kinh tế của bất cứ chế độ xã hội nào.

Như vậy, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với xã hội. Nó có được tiêu dùng thì mới bảo đảm được các nội dung sau: giá trị sức lao động được thực hiện cũng tức là bảo đảm được đời sống không chỉ của bản thân, mà còn của cả gia đình người lao động; tạo điều kiện cho sức lao động được trau dồi kinh nghiệm, trình độ chuyên môn, góp phần tăng năng suất trong hoạt động; không để xã hội bị lãng phí, bị tụt hậu vì sức lao động không được sử dụng, hơn nữa không phải nuôi một số người không lao động vì không có việc làm; tăng được thu nhập quốc dân, không chỉ tăng thêm được ngân sách bảo đảm cho bộ máy nhà nước hoạt động tốt hơn, mà còn phòng chống có hiệu quả các tệ nạn xã hội, bảo đảm tốt an ninh, an toàn xã hội; tạo điều kiện để nâng cao dân trí, thực hiện văn minh, công bằng, dân chủ và xã hội tiến bộ hơn.

Song, không phải bất cứ giá trị sử dụng nào của sức lao động cũng dễ dàng được thực hiện. Là hàng hóa, nên sức lao động cũng phụ thuộc vào quy luật cung cầu. Cầu về sức lao động trong xã hội là do yêu cầu về số lượng và chất lượng của mỗi loại giá trị sử dụng sức lao động nhất định phù hợp với mỗi một loại ngành nghề trong xã hội. Trong thời đại hiện nay, cung về giá trị sử dụng sức lao động này chủ yếu phụ thuộc vào vấn đề giáo dục, đào tạo của đất nước, vì cầu về giá trị sử dụng sức lao động đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn nhất định. Cân đối cung - cầu về giá trị sử dụng sức lao động này là vấn đề hết sức khó khăn, phức tạp. Hiện tượng thừa ở ngành này, thiếu ở ngành kia, chất lượng đào tạo không đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động hay hiện tượng thất nghiệp, thiếu việc làm vẫn đang diễn ra khá phổ biến.

2 - Yêu cầu của thực tiễn

Với việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, gia nhập WTO, các nhu cầu trên lại càng trở nên bức xúc. Hiện nay, mặc dù chúng ta có lực lượng lao động đông đảo, 70% là lao động trẻ khỏe, song mặt bằng về trình độ chuyên môn, tay nghề của người lao động còn rất thấp. Hiện có 74,7% lực lượng lao động chưa qua đào tạo, tập trung phần lớn ở nông thôn. Tình trạng thiếu hụt trầm trọng về lực lượng lao động kỹ thuật thực hành, lao động kỹ thuật cao, các chức danh quản lý như giám đốc nhà máy, giám đốc ma-két-tinh, trưởng phòng, trưởng dự án,... khiến nhiều doanh nghiệp không triển khai hoạt động được hoặc hoạt động không mang lại hiệu quả. Kết quả điều tra của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiến hành ở 63.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa cho thấy: 55,63% số chủ doanh nghiệp có học vấn trung cấp trở xuống, trong đó có 43,3% số chủ có trình độ học vấn sơ cấp và phổ thông các cấp. Số người có trình độ trung cấp trong các doanh nghiệp ở nông thôn chỉ chiếm 9,8%.

Tình hình trên do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là giáo dục, đào tạo của ta còn yếu kém. Đến nay cả nước ta có 311 cơ sở giáo dục đại học (bao gồm cả học viện và cao đẳng), 236 trường dạy nghề, 400 trung tâm dạy nghề, nhưng chưa có một cơ sở nào đúng nghĩa và đủ năng lực đào tạo nhân lực cho các ngành sử dụng công nghệ cao, nhân sự cao cấp và các chức danh quản lý phù hợp với mô hình doanh nghiệp hiện tại, vì chúng ta chưa có một trường đại học, cao đẳng nào được xếp hạng có uy tín trong khu vực và thế giới; chưa có một trường đại học nào có được "thương hiệu" đủ để thu hút nhiều sinh viên quốc tế đến học.

Thực tế đó đang đặt ra một nhiệm vụ vô cùng nặng nề đối với nền giáo dục, đào tạo trong việc đáp ứng nhu cầu cả về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực cho nền kinh tế nước ta hiện nay. Đó là chưa nói trong điều kiện hội nhập để tiến đến nền kinh tế tri thức sẽ còn phải cố gắng gấp bội mới đáp ứng nhu cầu cung ứng sức lao động với giá trị sử dụng có năng lực sáng tạo. Năng lực sáng tạo là năng lực có khả năng hệ thống hóa cái đã và đang được tạo ra để hoàn thành một công nghệ mới, một phương cách hoạt động mới hoặc một sản phẩm mới có tính ưu việt hơn, tiện ích hơn. Nó hoàn toàn khác với năng lực vận dụng thể lực và trí tuệ để tạo ra các giá trị sử dụng dập khuôn theo nguyên mẫu có công thức đã lập trình sẵn, sự vận động của năng lực lao động dập khuôn hoạt động phụ thuộc hoàn toàn vào quy trình công nghệ theo quy tắc đã được quy định sẵn từ trước. Trong thực tế, năng lực lao động dập khuôn và năng lực lao động sáng tạo luôn tồn tại trong một cơ thể sức lao động. Song, trong nền kinh tế tri thức, năng lực lao động sáng tạo chiếm ưu thế hơn và tỷ trọng cao hơn trong bản thân sức lao động. Chính năng lực lao động sáng tạo này đã làm cho giá trị sức lao động được tăng lên, đồng thời tạo ra nhiều giá trị sử dụng đa dạng, phong phú, tiện ích hơn cho xã hội, làm tăng nhanh giá trị thặng dư, đẩy nhanh và mạnh hơn tốc độ tăng trưởng nền kinh tế xã hội.

Thời điểm để nước ta mở cửa dịch vụ giáo dục cho tất cả các thành viên WTO đang đến gần. Vấn đề không chỉ là sự cạnh tranh gay gắt làm cho nhiều trường đại học trong nước khó có thể đứng vững, mà còn là vấn đề bảo vệ nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Nếu nền giáo dục, đào tạo không cung ứng sức lao động có năng lực sáng tạo cao, thì nền kinh tế nước ta sẽ càng tụt hậu, khoảng cách chênh lệch sẽ càng gia tăng so với các nước. Nguy cơ hơn là trong quá trình hội nhập các ngành công nghệ cao, các chức danh quản trị, quản lý, điều hành sẽ dần bị sức lao động nước ngoài nhập vào thay thế. Như vậy, lời giải của bài toán "chọn thế mạnh" là ở đây. Càng đầu tư vào năng lực lao động sáng tạo, sản phẩm càng có giá trị, thì càng giảm bớt gánh nặng lao động chân tay, bớt đi sản phẩm thô xuất khẩu. Hãy xem một con tính nhỏ: Để thu về 500 USD, người thợ mỏ phải đào để xuất đi 5 tấn than, nông dân phải bán 2 tấn gạo, trong khi hãng Sony bán 1 ti-vi chỉ nặng khoảng 10kg, còn Microsoft bán phần mềm trọng lượng chỉ là 0kg.Vấn đề này không phải là nước ta không làm được.

Theo quan điểm của Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO), giáo dục là một quyền lợi cơ bản của con người và bất cứ ai trên cơ sở xứng đáng, cũng có quyền tiếp cận giáo dục đại học. Vì vậy, giáo dục, kể cả giáo dục đại học thường được xem là lĩnh vực phi thương mại. Song, khi gia nhập WTO, giáo dục nước ta khó có thể không thừa nhận tính thị trường. Quả thật, nếu ngân sách nhà nước đủ bảo đảm cho mọi người được học miễn phí hay chỉ trả sau khi đi làm đạt được một mức lương nhất định, thì đó là điều tốt nhất mà nhiều nước tiên tiến trên thế giới đã làm và phù hợp với truyền thống coi trọng sự nghiệp "trồng người" của nước ta. Nhưng trong khi nguồn tài chính của Nhà nước chưa cho phép thì gánh nặng này phải được tư nhân cùng san sẻ để có hệ thống giáo dục mở rộng hơn, số con em được học lên bậc cao sẽ nhiều hơn.

Điều mà ngành giáo dục cần quan tâm là, theo cam kết với WTO thì từ năm 2009 trở đi, nhà đầu tư nước ngoài được phép mở cơ sở giáo dục 100% vốn của họ và có quyền đưa giáo viên của họ đến giảng dạy tại Việt Nam. Thị trường giáo dục đại học Việt Nam được các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá là một thị trường giàu tiềm năng do hệ thống các trường đại học ở Việt Nam hiện nay cũng như một thời gian nữa hoàn toàn không có khả năng đáp ứng yêu cầu đại chúng hóa và nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Ngoài các nước như Mỹ, Anh, Ô-xtrây-li-a, Niu Di-lân, Nhật Bản, Pháp, Hà Lan... đang có nhu cầu lớn về xuất khẩu giáo dục, các nước trong khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ, Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po, Thái Lan cũng đang tìm cơ hội đầu tư vào giáo dục đại học nước ta.

Thực tế, trước khi gia nhập WTO, giáo dục đại học của nước ta cũng đã làm quen với các hình thức hội nhập với giáo dục quốc tế như đã nhập khẩu chương trình từ nước ngoài, cho phép cơ sở đào tạo của nước ngoài mở trường, cho phép giáo viên nước ngoài vào giảng dạy, đưa lưu học sinh ra nước ngoài du học ... Những sự hợp tác đó, trước nay được thực hiện dưới hình thức song phương, tức là chúng ta được lựa chọn đối tác. Vào WTO, đến năm 2009 nước ta phải mở cửa dịch vụ giáo dục cho tất cả các nước thành viên WTO, người học có cơ hội để được hưởng thụ nền giáo dục tiên tiến hơn, nhưng đối với giáo dục, đào tạo tình hình sẽ phức tạp hơn, cạnh tranh sẽ gay gắt, nếu không tự khẳng định thì một số trường đại học của nước ta khó có thể đứng vững được.

Đó là chưa nói đến vấn đề nan giải hiện nay, bảo vệ nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc như thế nào; bảo vệ độc lập tự chủ ra sao..., khi con người lại đặt dưới sự "dạy dỗ" của "thế giới"?! Bởi vậy, không thể xem nhẹ vai trò quản lý của Nhà nước đối với ngành giáo dục đào tạo. ở đây không chỉ là việc cho hay không cho phép "khởi nghiệp" hàng loạt các cơ sở đào tạo, mà là quản lý các "dây chuyền" cung cấp kiến thức, định lượng kiến thức, cũng như kiểm soát chất lượng loại sản phẩm đặc biệt này - sản phẩm quyết định tương lai của cả dân tộc. Và như vậy, không thể chỉ nhìn thấy hiệu quả kinh tế thiển cận, thực dụng của loại hình dịch vụ đặc biệt theo kiểu "lấy thu - bù chi", xã hội mà trước hết là Nhà nước phải đầu tư thỏa đáng, đồng thời kiểm soát hiệu quả việc sử dụng mới là vấn đề đáng bàn.

Sức ép về nguồn nhân lực cần được đào tạo nhanh, nhiều, nhất là nguồn nhân lực có trình độ cao đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tăng số lượng và nâng cao chất lượng các trường đại học, cao đẳng, cố gắng đạt chuẩn quốc tế. Bất cứ nội dung, chương trình của các trường đều phải bảo đảm được 3 tiêu chí: Hiện đại (bảo đảm kiến thức chung của nhân loại); Thực tiễn (đào tạo sát với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam); Đặc thù (phù hợp với đối tượng sinh viên Việt Nam). Như vậy, mục tiêu đã rõ ràng, từ yêu cầu phát triển của đất nước đến thực tiễn của lộ trình hội nhập đặt ra cho các trường đại học, cao đẳng sứ mệnh phải thực sự đào tạo nhân tài cho đất nước. Muốn đào tạo nhân tài thì phải đặt chất lượng đào tạo lên hàng đầu, phải làm hết sức mình vì chất lượng đào tạo.

Liệu chúng ta có thể đào tạo được số lượng nhiều sinh viên với chất lượng cao trong điều kiện mức đầu tư của Nhà nước thấp không? Câu trả lời là có thể bằng việc xã hội hóa giáo dục, đào tạo. Song, điều cần phải xác định rất rõ trong nhận thức của mọi người là dịch vụ giáo dục là một dịch vụ rất đặc thù. Muốn con em mình được hưởng chất lượng đào tạo cao thì phải có nhiều tiền. Điều đó đúng, nhưng ngược lại, không phải cứ có nhiều tiền là con em đã được hưởng nền giáo dục tốt nhất, vì chất lượng giáo dục còn phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên, mà trong cơ chế thị trường, với điều kiện thực tế hiện nay của Việt Nam, điều này không dễ gì được bảo đảm. Chưa kể, mục tiêu của chúng ta là đào tạo được nguồn nhân lực giỏi, mà điều này còn phụ thuộc ở sự tuyển chọn đầu vào của các trường đại học, cao đẳng, nếu các trường tuyển chọn được học sinh giỏi, lại được đào tạo bởi đội ngũ giáo viên giỏi thì kết quả như mong muốn, nhưng nếu người được vào học không giỏi mà vẫn được học vì có nhiều tiền thì liệu có chắc chắn rằng sẽ không có tiêu cực, hay một sự nương nhẹ để vẫn cho họ sau này được tốt nghiệp không? Đây là vấn đề rất hệ trọng, bởi vì, nếu không, chúng ta sẽ xa rời mục đích ban đầu và sẽ cung cấp cho xã hội một lớp người tuy có bằng cấp cao, nhưng không có đủ kiến thức thực chất. Tệ hơn nữa, họ sau này lại nắm giữ các vị trí quan trọng trong các đơn vị, phán xét người khác, điều hành hoạt động trong các đơn vị đó. Còn người có tài năng, nhưng vì điều kiện kinh tế gia đình khó khăn sẽ không bao giờ tiếp cận được những thành quả của nền giáo dục đã được bao thế hệ xây dựng, vun đắp.

3 - Giải pháp nào cho giáo dục hiện nay?

Từ thực tế và những yêu cầu trên, để phát triển giáo dục, trước mắt nên tập trung thảo luận để có những giải pháp tối ưu trên một số nội dung sau:

Thứ nhất: bên cạnh giải pháp trao quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội cho các trường ở những nội dung: tuyển sinh, tài chính, nhân sự và nội dung chương trình đào tạo, phải có những biện pháp nhằm bảo đảm chất lượng giáo dục thực sự, như có quy định khung điểm chung tối thiểu cho tuyển sinh ở các cấp, bậc học; hằng năm có đánh giá xếp loại uy tín, chất lượng giáo dục của các trường theo một tiêu chí chung, có sự bình xét của những nhà sử dụng lao động, các gia đình có con em học tập trong các trường đó; hoặc căn cứ số lượng học sinh quốc tế đang theo học ở những trường này để đánh giá uy tín của trường....

Thứ hai: trường được tự chủ về mặt tài chính, tự bảo đảm thu chi, coi đó như một động lực khích lệ các cơ sở giáo dục cung cấp dịch vụ giáo dục có chất lượng cao. Tuy nhiên, ngoài mục đích lợi nhuận phải có thêm những quy định như cơ sở giáo dục cần trích tỷ lệ phần trăm cho quỹ dự trữ, nghiên cứu khoa học, quỹ nâng cao điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ giảng dạy và học tập tốt hơn, đầu tư thỏa đáng cho bồi dưỡng giáo viên giỏi và khen thưởng học sinh giỏi... Chế độ học phí cũng cần được sửa đổi, mặc dù gắn với mức độ chất lượng giáo dục được cung cấp theo cơ chế thị trường, chứ không thu bình quân, nhưng phải được quy định tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương, từng đối tượng theo hướng khuyến khích học sinh tài năng. Chẳng hạn, sinh viên quá nghèo hoặc sinh viên giỏi được miễn học phí, hay có học bổng, còn nếu có khả năng phát triển và muốn đi du học thì có thể có chế độ cho vay trả góp sau khi đi làm.

Thứ ba: khâu quyết định để nâng cao chất lượng đào tạo là đội ngũ giáo viên giảng dạy bao gồm từ các cấp phổ thông đến đại học. Tuy nhiên, hệ thống các trường sư phạm của nước ta hiện khá dàn trải, số lượng khá nhiều, mà chất lượng vẫn chưa cao. Một vấn đề cấp bách về đội ngũ giáo viên nữa là cung ứng giảng viên cho các trường đại học, cao đẳng. Tỷ lệ sinh viên/giảng viên hiện nay ở mức 28,55, trong khi mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 phải đạt: đối với ngành năng khiếu là 5-10 sinh viên/giảng viên, ngành khoa học kỹ thuật và công nghệ là 10 - 15 sinh viên/giảng viên, ngành khoa học xã hội và nhân văn là 20 - 30 sinh viên/giảng viên; hơn nữa quy mô sinh viên lại tăng đến 3,5 lần thì nhu cầu giáo viên sẽ lớn biết chừng nào. Cũng cần nói rõ thêm là giảng viên có trình độ tiến sĩ của nước ta hiện mới chỉ đạt ở mức quá thấp là 7,9%; phó giáo sư và giáo sư 1,57%. ở các trường dân lập, tỷ lệ này lại càng thấp hơn (trong tổng số 5.012 giảng viên của 19 trường đại học dân lập chỉ có 35 giáo sư (chiếm 0,7%), 78 phó giáo sư (chiếm 1,56%) và 206 tiến sĩ (chiếm 4,11%).

Giải quyết vấn đề này, ngay từ bây giờ phải nỗ lực cấp tốc đào tạo, bồi dưỡng. Ngoài đào tạo trong nước, phải mạnh dạn mở rộng hơn nữa việc thực tập, bồi dưỡng, tu nghiệp, đào tạo ở nước ngoài, đi đôi với chính sách khuyến khích ưu đãi việt kiều có trình độ, tài năng về tham gia giảng dạy.

Thứ tư: đầu tư cho giáo dục, đào tạo để đáp ứng nhu cầu về giảng viên, nhân sự cao cấp cho các trường đại học và cao đẳng đối với nước ta là một nguồn chi rất lớn. Song, không nên tính lỗ lãi việc đầu tư cho giáo dục, đào tạo một cách đơn giản, trực tiếp trong ngắn hạn. Bởi vì, nếu tính chi ly về mặt kinh tế thì so sánh số tiền chi ra để đầu tư với số tiền thu lại trên cơ sở số thu của thuế thu nhập cá nhân, cùng số giá trị thặng dư mà nhân lực được giáo dục đào tạo đem lại hằng năm đã thấy có nguồn lợi rất lớn rồi. Đầu tư cho giáo dục, đào tạo là đầu tư cho sự tiến bộ, hưng thịnh, phát triển kinh tế, phục vụ ngày càng tốt hơn cho tiêu dùng vật chất và tinh thần của xã hội, từ đó càng nâng cao vị thế của nước nhà trên trường quốc tế. Vì vậy, cùng với biện pháp xã hội hóa, Nhà nước cần có sự quan tâm đầu tư thích đáng hơn cho giáo dục, đào tạo - lĩnh vực quyết định tương lai của đất nước. Thị trường giáo dục, đào tạo cũng không thể để tự phát, mà phải được sự định hướng mạnh mẽ của Nhà nước. Nếu Nhà nước và ngành giáo dục, đào tạo đề ra cơ chế, chính sách xã hội hóa đúng, cùng với những quy định cụ thể, rõ ràng, bảo đảm sự minh bạch trong thu chi, trên nền tảng môi trường xã hội, giáo dục lành mạnh, hạn chế thấp nhất những tiêu cực, yếu kém, thì chắc chắn sẽ tạo điều kiện cho các trường thật sự tự chủ, phấn đấu đạt chất lượng cao, tạo niềm tin trong nhân dân, đưa đất nước ngày càng tiến nhanh đến nền kinh tế tri thức./. 
Nguyễn Quốc Luật

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Xếp hạng đại học và cách tiếp cận mới trong xếp hạng đại học
7:13' 28/6/2009


Theo TCCSĐT - Vấn đề xếp hạng các đại học (university) và trường đại học (college) trong phạm vi quốc gia vốn đã có từ lâu. Cách đây 26 năm, tuần báo US News & World Report (USNWR) có sáng kiến đầu tiên trong việc xếp hạng các đại học và trường đại học Mỹ.

Các xếp hạng quốc gia

Về cơ bản, đây là một sáng kiến cạnh tranh trong một thị trường truyền thông rất khốc liệt ở Mỹ. Việc xếp hạng này nhắm tới đối tượng độc giả đông đảo là học sinh, sinh viên và các bậc phụ huynh. Nó giúp cho lớp khách hàng này có một đánh giá tổng thể về cơ sở giáo dục đại học dựa trên thứ bậc của cơ sở đó trên thang xếp hạng. Điểm số xếp hạng được tổ hợp từ các tiêu chí liên quan đến 7 dữ liệu đầu vào, 4 dữ liệu về quá trình, 4 dữ liệu đầu ra. Bên cạnh các dữ liệu khách quan nói trên, còn phải tính đến một dữ liệu chủ quan là việc đánh giá danh tiếng nhà trường trên cơ sở thu thập ý kiến các nhà quản lý của các trường khác.

Thành công không thể chối cãi được của USNWR là đã đi đầu trong công tác xếp hạng phức tạp này, đã thiết lập được nguồn dữ liệu cốt lõi cho việc đánh giá, đã cung cấp được thông tin minh bạch cho sinh viên trong việc chọn trường. Tuy nhiên, đến nay, rất nhiều học giả, nhà quản lý và nhà nghiên cứu vẫn phê phán gay gắt việc xếp hạng của USNWR trên nhiều phương diện như sự võ đoán trong cách chọn tiêu chí và trọng số, độ tin cậy của dữ liệu, khả năng bóp méo thực tế nhà trường, tác động tiêu cực tới hoạt động dạy và học. Thậm chí một loạt hiệu trưởng các trường đại học Mỹ, trong năm 2007, đã lên tiếng bất cộng tác với USNWR trong việc trả lời các phiếu khảo sát.

Ở Anh, từ năm 1992, báo The Times đã công bố hằng năm bảng xếp hạng các đại học Anh dựa trên một số tiêu chí liên quan đến chất lượng giảng dạy, kết quả nghiên cứu khoa học, sự hài lòng của sinh viên, điểm trung bình nhập học, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp, tỷ lệ sinh viên khá giỏi, tỷ lệ sinh viên kiếm được việc làm sau tốt nghiệp. Nhiều báo khác như The Guardian, Daily Telegraph, Financial Times… cũng công bố các bảng xếp hạng riêng tạo thành một thị trường cạnh tranh trong xếp hạng đại học.

Ngày nay, ở khá nhiều nước trên thế giới, việc xếp hạng đại học đã trở thành một hoạt động phổ biến và quan trọng. Mặc dù còn nhiều tranh cãi về phương pháp luận và tác động mặt trái của việc xếp hạng đại học, nhưng tác dụng tích cực của nó trong việc chiếu X quang vào các cơ sở giáo dục đại học đã khiến đại bộ phận các nhà chính trị và công chúng đi đến kết luận rằng, giáo dục đại học cần tìm cách chung sống với việc xếp hạng.

Xu thế xếp hạng quốc tế

Xu thế này hình thành ngẫu nhiên từ cố gắng của các nhà khoa học Trung Quốc muốn trả lời một số câu hỏi thoạt đầu không hề liên quan đến việc xếp hạng. Đó là: 1/ thế nào là một đại học đẳng cấp quốc tế; 2/ khoảng cách giữa các đại học hàng đầu của Trung Quốc với các đại học đẳng cấp quốc tế là bao xa.

Để có câu trả lời khách quan, chính xác và tin cậy, các nhà khoa học của Đại học Giao thông Thượng Hải (SJTU) tiến hành khảo sát, đánh giá và xếp hạng các đại học hàng đầu thế giới. Do yêu cầu về tính khách quan và đo được của các tiêu chí đánh giá nên chất lượng dạy và học vốn là một tiêu chí không đo được, bị đặt ra bên ngoài việc đánh giá. Việc đánh giá và xếp hạng quy về một chiều đo duy nhất là thành tựu nghiên cứu khoa học của đại học, với các tiêu chí khách quan như số bài báo đăng trên các tạp chí khoa học hàng đầu, số nhà khoa học được trích dẫn thường xuyên nhất, số giải Nobel và Fields. Vì thế phạm vi khảo sát của Đại học Giao thông Thượng Hải thu lại đáng kể, chỉ gồm khoảng 2000 đại học trên toàn thế giới, với kết quả công bố hằng năm từ 2003 đến nay là bảng xếp hạng của top 500.

Theo SJTU, đại học đẳng cấp quốc tế là đại học thuộc top 100. Trung Quốc hiện mới có 2 đại học hàng đầu thuộc top 200, 6 thuộc top 300, 15 thuộc top 400, 18 thuộc top 500.

Trên một phương diện khác, báo The Times Higher Education (THE) cho rằng, đại học đẳng cấp quốc tế phải dựa trên 4 cột đỡ chính là chất lượng giảng dạy; chất lượng nghiên cứu; khả năng làm việc sau tốt nghiệp; tầm quốc tế. Vì vậy, THE chủ trương một sự đánh giá toàn diện hơn. Tuy nhiên, bảng xếp hạng của THE không được đánh giá cao bằng bảng xếp hạng của SJTU vì THE đưa vào một tiêu chí mang nặng tính chủ quan là ý kiến đánh giá của các chuyên gia giáo dục và các nhà tuyển dụng toàn cầu. Các ý kiến đánh giá chủ quan này lại được cho điểm với trọng số cao là 50%. Khá nhiều học giả cho rằng, đây là một kiểu đánh giá thiếu tin cậy. Mặc dù vậy, từ 2004 đến nay, THE vẫn công bố đều đặn bảng xếp hạng hằng năm của các trường thuộc top 100, top 200… trong tổng số khoảng 600 đại học trên thế giới được xem xét để xếp hạng.

Với sự quan tâm đến các đại học đẳng cấp quốc tế, hiển nhiên SJTU và THE mới tạo ra một “sân chơi” cao cấp dành riêng cho các đại học nghiên cứu có tầm cỡ. Vì vậy, cũng vào năm 2004, Webometrics đã tạo ra một “sân chơi” đại chúng hơn, dành cho mọi cơ sở giáo dục đại học miễn là cơ sở đó có trang web. Việc xếp hạng dựa trên 4 dữ liệu đo được là kích thước trang web, khả năng nhận diện, số lượng các files giàu, số lượng các tài liệu khoa học được công bố trên mạng.

Với mức độ phủ rộng, Webometrics đưa được vào diện khảo sát tới hơn 16.000 cơ sở giáo dục đại học thuộc 191 nước và lãnh thổ, hằng năm 2 lần công bố bảng xếp hạng top 4000.

Trong năm 2009, Việt Nam có 89 cơ sở giáo dục đại học được đưa vào cơ sở dữ liệu của Webometrics, trong đó 17 được xếp hạng với vị trí rất khiêm tốn. Thứ hạng cao nhất là Trường đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh (hạng 1.522), thấp nhất là Trường đại học Kỹ thuật công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh (hạng 4986).

Cách tiếp cận mới trong đánh giá và xếp hạng đại học

Trong mấy năm gần đây, ở nhiều nước trên thế giới đã hình thành hội chứng xếp hạng đại học. Mặc cho cảnh báo của những người am hiểu, rằng đây chỉ là “sân chơi” của các đại gia đại học, tâm lý được “ngồi cùng chiếu” gần như đã trở thành một nỗi ám ảnh toàn cầu.

Việc xếp hạng đại học vốn có một mục tiêu cụ thể và một chiều đo xác định, nhưng giờ đây dường như đã trở thành một hoạt động mang mục đích tự thân. Vì vậy, cũng giống như căn bệnh thi gì học nấy, trong giáo dục đại học thế giới đang nảy sinh xu hướng xếp hạng thế nào thì hoạt động thế nấy. Chẳng hạn muốn được có mặt trong bảng xếp hạng của SJTU, cần tăng cường mời giảng viên là các nhà khoa học được giải Nobel hoặc Field, cần có phụ cấp ưu đãi cho các giảng viên có bài báo khoa học đăng trên Nature và Science. Còn muốn lọt vào bảng xếp hạng của THE thì, theo cách nói của GS Marginson, cần phát triển du lịch học thuật, ưu đãi các học giả nước ngoài theo chế độ “5 sao”.

Có một điều mà ai cũng hiểu là không có đại học nào là vua trong mọi lĩnh vực, cũng không có đại học nào chiếm vị trí “ngôi báu” trong sự chọn lựa của mọi sinh viên. Các bảng xếp hạng đại học quốc tế chỉ là bức tranh phiến diện, tập trung phản ánh một chiều đo của nhà trường đại học, chứ chưa thể hiện hết chân dung đa chiều của nó. Trong đó, điều đáng nói nhất là chưa phản ánh đầy đủ các chiều đo cốt tử khác là giảng dạy, học tập và phục vụ xã hội.

Vì thế, việc xếp hạng đại học đang dần nhường chỗ cho những lối đi mới, cách tiếp cận mới trong đánh giá và xếp hạng.

Chẳng hạn, ở Đức, Trung tâm phát triển giáo dục đại học CHE và tuần báo Die Zeit đã đưa ra một hướng xếp hạng mới. Điểm xuất phát cơ bản trong cách xếp hạng này là cho rằng, mọi xếp hạng đều mang tính chủ quan trong việc tổ hợp các tiêu chí và chọn trọng số. Cho đến nay, việc xếp hạng chỉ phục vụ cho mục đích của người xếp hạng chứ không phải người sử dụng. Vì vậy, trong tiếp cận của CHE, các đại học và trường đại học chỉ được phân thành 3 nhóm tốt, trung bình và kém. Dữ liệu về cơ sở giáo dục đại học trong từng nhóm được cung cấp đầy đủ. Việc xếp hạng các cơ sở đó như thế nào là do người học tự thực hiện trên cơ sở tự quyết định các tiêu chí và trọng số cần thiết theo định hướng của riêng mình.

Tuy nhiên, có lẽ giới học thuật và các nhà hoạch định chính sách trên thế giới đang chờ đợi hơn cả là cố gắng của khối EC trong việc đưa ra cách tiếp cận mới trong xếp hạng quốc tế. Trong cách tiếp cận này việc xếp hạng từng đại học riêng lẻ được thay thế bằng việc xếp hạng từng hệ thống đại học giữa các quốc gia. Cách xếp hạng đơn nhất, một chiều cũng được thay thế bằng cách xếp hạng đa chiều phản ánh tính đa dạng trong tổ chức cũng như sứ mệnh của các hệ thống đại học trên thế giới. Mục đích của việc xếp hạng này không phải là để tạo ra người thắng, kẻ thua giữa các đại học mà là đem lại sự đối sánh cần thiết giữa các hệ thống đại học trong việc thực hiện sứ mệnh chung là đáp ứng các thách thức mới trong bước chuyển sang nền văn minh trí tuệ.

Sự lựa chọn của Việt Nam

Giáo dục đại học Việt Nam cũng đang đứng trước bài toán xếp hạng. Tuy nhiên, để tìm ra lời giải của bài toán này, cần có cách tiếp cận sòng phẳng trong một số vấn đề tuy đơn giản nhưng nhạy cảm.

Trước hết là việc làm rõ các loại trường đại học của nước ta. Theo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục, nước ta có ba loại trường đại học là đại học, học viện và trường đại học. Khái niệm đại học của nước ta tương đồng với khái niệm university trên thế giới; khái niệm học viện và trường đại học tương đồng với khái niệm college.

Về chính danh, hiện nước ta chỉ có 5 đại học, bao gồm 2 đại học quốc gia và 3 đại học khu vực, còn lại là các học viện và trường đại học. Tuy nhiên, thực tế lại khá lộn xộn. Phần lớn các trường đại học đều tự xưng là đại học trong tên gọi bằng tiếng Việt cũng như tiếng Anh. Vì vậy, cũng chẳng có gì để trách cứ khi Webometrics, suốt nhiều năm nay, đã đặt một số trường đại học thành viên ở vị trí cao hơn cả cơ sở mẹ là Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Dĩ nhiên, hiện có một số học viện và trường đại học nước ta đã hội đủ tiêu chuẩn để được gọi là đại học. Nhưng để việc xếp hạng được phù hợp và công bằng, nhất thiết phải có bước phân loại đầu tiên bằng một văn bản pháp quy liệt kê rõ ràng cơ sở nào là đại học, cơ sở nào là học viện, trường đại học.

Tiếp đến lại là việc phân loại trong nội bộ các đại học để làm rõ đại học nào là đại học nghiên cứu. Trên thế giới, các đại học nghiên cứu đều có tiêu chí riêng, trong đó có tiêu chí về vai trò trung tâm của nghiên cứu khoa học trong các hoạt động của nhà trường; tiêu chí về tỷ lệ cao các nghiên cứu sinh trong tổng số người học trong trường. Nếu xét theo các tiêu chí này, e rằng, trước mắt cũng như trong trung hạn, chúng ta chưa có đại học nào đủ tiêu chuẩn là đại học nghiên cứu.

Vì thế, giáo dục đại học Việt Nam cần làm rõ cái lõi hợp lý trong xếp hạng, từ đó tìm ra lối đi riêng với những lựa chọn ưu tiên phù hợp. Trong điều kiện cụ thể của nước ta hiện nay, ưu tiên là nâng cao chất lượng đào tạo của toàn hệ thống và vì vậy cần tập trung vào xếp hạng quốc gia. Dự kiến kết quả xếp hạng này sẽ được công bố trong năm 2009, tuy nhiên công việc này còn phải vượt qua rào cản về việc phân loại các đại học và trường đại học như đã nói ở trên, đồng thời phải không ngừng hoàn thiện từ năm này sang năm khác để nâng cao chất lượng và hiệu quả.

Riêng đối với tầm nhìn 2020, giáo dục đại học Việt Nam chỉ nên tập trung vào cuộc đua khu vực, chưa nên dấn mình trong cuộc đua thế giới. Trong xếp hạng quốc tế, chúng ta đều biết hiện Việt Nam chưa có đại học nào trong top 500 của SJTU và trong top 400 của THE.

Việc phấn đấu để có thứ hạng cao trong khối ASEAN xem ra khả thi hơn, tuy rằng cũng không đơn giản chút nào. Ngoài ra, cũng phải làm rõ các tiêu chí xếp hạng trong nội khối, trong đó có tính đến việc triển khai thực hiện “Tuyên bố Thăng Long - Hà Nội về không gian giáo dục ASEAN” công bố ngày 23-11-2007 tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám.

Để thử sức trên sân chơi quốc tế thì sự lựa chọn hợp lý hơn cả là Webometrics. Với sự thâm nhập mạnh mẽ của ICT vào đời sống giáo dục, chắc chắn trong tương lai không xa, đây sẽ là một “sân chơi” có hạng về chất lượng và hiệu quả giáo dục. Chúng ta lại đang có một số lợi thế nhất định trên “sân chơi” này, dù rằng vị trí xếp hạng còn rất khiêm tốn. Một tin vui để chúng ta hy vọng và tin tưởng: trong bảng xếp hạng về mức độ nổi tiếng trang web nhà trường 2009, của công cụ tìm kiếm 4 International Colleges and Universities với 8.750 cơ sở giáo dục đại học, thì Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh được xếp hạng thứ 58, trên hẳn rất nhiều đại học danh tiếng khác trên thế giới./.

Phạm Đỗ Nhật Tiến

Những nhà giáo nổi tiếng trong lịch sử thế giới Thứ hai, 25 - 03 - 2013 17:22

(Dân trí) – Lịch sử ngành giáo dục thế giới đã từng ghi dấu ấn những nhà giáo tài năng, nhiệt huyết và nổi tiếng đến tận bây giờ.

Khổng Tử (551–479 trước Công nguyên)

Những nhà giáo nổi tiếng trong lịch sử thế giới

 

Khổng Tử là một nhà tư tưởng và triết học nổi tiếng của Trung Quốc. Những học thuyết của ông có tầm ảnh hưởng sâu rộng không chỉ đối với Trung Quốc mà còn lan truyền sang những nước lân cận khác như Hàn Quốc, Nhật Bản và cả Việt Nam.

Người Trung Quốc gọi ông là “Vạn thế sư biểu” nghĩa là “Bậc thầy của muôn đời”. Học thuyết của ông nhấn mạnh sự tu dưỡng đức hạnh cá nhân với những tiêu chuẩn cụ thể đặt ra cho mỗi người thuộc những địa vị khác nhau trong xã hội. Nam nhi phải gắn mình với những tiêu chuẩn như “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”. Nữ giới phải đề cao “công, dung, ngôn, hạnh” v.v…

Khổng Tử đề ra những ranh giới giữa các mối quan hệ xã hội rất rõ ràng và khắt khe để đảm bảo tôn ti trật tự trong gia đình, xã hội. Các giá trị đó đã có tầm ảnh hưởng lớn tại Trung Quốc trong suốt triều đại nhà Hán và đã được phát triển thành một hệ thống triết học gọi là Khổng giáo.

Aristotle (384–322 trước Công nguyên)

Những nhà giáo nổi tiếng trong lịch sử thế giới

 

Aristotle là một nhà triết học và bác học nổi tiếng thời Hy Lạp cổ đại, là học trò xuất sắc của Platon. Học trò nổi tiếng nhất từng được Aristotle dạy dỗ là Alexander Đại đế. Các nghiên cứu mà Aristotle thực hiện trong suốt cuộc đời trải rộng trong nhiều lĩnh vực như vật lý, hình học, văn thơ, kịch nghệ, âm nhạc, lý luận, ngôn ngữ, chính trị, sinh học...

Cùng với Platon và Socrates, Aristoteles là một trong ba cột trụ của nền văn minh Hy Lạp cổ đại. Sau khi hoàn tất việc dạy dỗ cho hoàng tử xứ Macedonia, ông quay về Hy Lạp và mở trường học của riêng mình, lấy tên là Lyceum. Sau này Lyceum đã trở thành một danh từ để chỉ trường trung học nói chung – “lycée”.

Trường do Aristotle mở ra được nhận xét là tiên tiến nhất trong thời kỳ cổ đại và mang lại đầy đủ lợi ích cho người học với khu vườn rộng trồng đủ mọi loại cây và trở thành viện bảo tàng thực vật tại chỗ cho thầy và trò cùng nghiên cứu. Ngoài ra, ông cũng lập nên một thư viện sách đồ sộ ngay trong trường học.

Ở đây, ông chỉ dạy học trò vào buổi sáng. Buổi chiều là những bài học “mềm”, khi đó thầy trò sẽ cùng nhau đi bộ trên những quãng đường dài, cùng quan sát, bàn luận và học hỏi từ những quan sát đó. Sau này, cách giảng dạy của Aristotle đã hình thành nên một trường phái trong ngành giáo dục có tên là “peripatos” (tiêu dao học).

Johann Amos Comenius (1592–1670)

Những nhà giáo nổi tiếng trong lịch sử thế giới

 

Comenius là một nhà giáo sinh ra tại vùng đất nay thuộc Cộng hòa Séc. Ông là người đầu tiên trong lịch sử xây dựng nên những khái niệm về một nền giáo dục hiện đại đang tồn tại trên thế giới hiện nay.

Trong cuốn sách nổi tiếng mang tên “Didactica Magna” (Nền giáo dục tuyệt vời), ông đã chỉ ra một hệ thống giáo dục lý tưởng mà ngày nay hầu hết các nước trên thế giới đều áp dụng. Đó là sự phân cấp bậc học với trường mầm non, tiểu học, trung học, trường cao đẳng dạy nghề và đại học.

Ông cũng là người đầu tiên đề cập đến khái niệm “giáo dục tự nhiên”, theo đó, mỗi người có những thiên hướng khác nhau và nhiệm vụ của giáo dục là phát hiện và phát triển những thiên hướng tiềm ẩn trong mỗi cá nhân.

Comenius cũng là người áp dụng những bộ sách giáo khoa đầu tiên vào quá trình giảng dạy. Những bộ sách đầu tiên được ông “xuất bản” là bộ Janue Linguarum Reserata dành cho bậc tiểu học, và các bộ dành cho các cấp học cao hơn như Vestibulum và Atrium. Những bộ sách của Comenius không chỉ toàn thông tin mà còn chú trọng phần minh họa và được coi là thử nghiệm làm sách giáo khoa thành công đầu tiên trong lịch sử.

John Locke (1632–1704)

Những nhà giáo nổi tiếng trong lịch sử thế giới

 

John Locke là nhà triết học, nhà hoạt động chính trị người Anh. Ngoài ra, với vai trò là một nhà giáo dục, ông đã đưa ra những tư tưởng vô cùng mới mẻ, mang tính cách mạng lúc bấy giờ. Ông khích lệ mỗi cá nhân hãy biết dùng lý trí để đi tìm chân lý thay vì chấp nhận ý kiến áp đặt tồn tại trong xã hội, sinh ra từ niềm tin mù quáng.

Ông cũng là người đưa ra những khái niệm mới về quyền tự nhiên, khế ước xã hội… và trở thành một nhà tư tưởng lớn của phong trào Khai sáng. John Locke cố vũ cho quan niệm giáo dục là sự dạy dỗ. Ông cho rằng giáo dục trước tiên cần chú trọng vào tính cách và đạo đức, sau đó mới là tri thức, nghĩa là giáo dục bắt đầu từ gia đình, sau đó mới tới nhà trường.

Locke tin rằng giáo dục được một con người có nhân cách, đạo đức tốt thì những giá trị do người đó tạo ra đối với xã hội sau này sẽ vượt xa những đóng góp mà một cá nhân chỉ nhận được sự giáo dục hàn lâm có thể tạo ra.

Anne Sullivan (1866–1936)

Những nhà giáo nổi tiếng trong lịch sử thế giới

Anne Sullivan là cô giáo nổi tiếng trong lịch sử ngành giáo dục. Người học trò được nhắc tới nhiều nhất trong suốt sự nghiệp giảng dạy của cô giáo người Mỹ gốc Ai-len là Helen Keller. Helen là một cô gái khuyết tật bị khiếm thị và khiếm thính từ khi cô bé chưa tròn 2 tuổi.

Sau đó, cô giáo Sullivan đã được mời tới để dạy cho cô bé. Người ta không thể hình dung ra cô Sullivan sẽ làm gì với học trò của mình. Keller vừa không thể nhìn thấy những gì cô giáo viết vừa chẳng thể nghe được những lời hướng dẫn và động viên của cô.

Nhưng cô giáo Sullivan đã vượt qua tất cả mọi trở ngại bằng tình yêu thương và sự kiên trì dành cho cô học trò thiệt thòi. Kỳ diệu thay, sau đó Keller đã có thể đọc được bảng chữ cái rồi biết đánh vần. Tất cả phương pháp giảng dạy của cô nằm ở xúc giác, cô để Keller dùng tay chạm vào những giáo cụ của mình và giao tiếp bằng các ký hiệu vạch lên lòng bàn tay cô bé.

 
Pi Uy
Theo Master Teaching




Giáo dục Việt Nam trước đòi hỏi đổi mới căn bản và toàn diện
22:54' 18/12/2013 - TẠP CHÍ CỘNG SẢN ĐIỆN TỬ - NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
TCCS- Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (năm 1996), Đảng đã quyết định đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Để thực hiện thắng lợi mục tiêu này, phát huy đến mức cao nhất nguồn lực con người được coi là nhân tố quyết định, trong đó giáo dục - đào tạo là đòn bẩy quan trọng nhất. Nhưng cho đến nay, giáo dục và đào tạo nước ta vẫn chưa thực sự là quốc sách hàng đầu để làm động lực quan trọng nhất cho phát triển. Nhiều hạn chế, yếu kém của giáo dục và đào tạo đã được nêu từ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII vẫn chưa được khắc phục cơ bản, có mặt nặng nề hơn. Chính vì vậy mà đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đang trở thành một yêu cầu khách quan và cấp bách trong giai đoạn hiện nay.


Thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII đã ra Nghị quyết về định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000. Sau 16 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII, giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được những thành tựu không nhỏ, góp phần quan trọng vào thành công của sự nghiệp đổi mới và đưa nước ta thoát khỏi tình trạng một nước nghèo. 

Tuy nhiên, như nhận định trong Kết luận Hội nghị Trung ương 6 khóa XI, đến nay giáo dục và đào tạo nước ta vẫn chưa thực sự là quốc sách hàng đầu để làm động lực quan trọng nhất cho phát triển. Những hiện tượng liên quan đến hạn chế và yếu kém trong giáo dục và đào tạo được phản ánh ngày càng nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng, tạo nên những bức xúc có chiều hướng ngày càng tăng trong công luận. Chính vì vậy, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo thành công còn có ý nghĩa củng cố lòng tin vào Đảng và tương lai của dân tộc.

Có một câu hỏi đặt ra khiến nhiều người băn khoăn là phải chăng chúng ta tiến hành đổi mới căn bản và toàn diện là do giáo dục, đào tạo nước ta tụt hậu quá xa so với thế giới và, những hạn chế, yếu kém tới mức nếu không “làm lại từ gốc” (theo cách diễn đạt của một số ý kiến) thì hậu quả khôn lường? 

Đúng là nền giáo dục của chúng ta đang bất cập trước những yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng và sẽ có nhiều vấn đề phải giải quyết trong quá trình thực hiện Đề án đổi mới giáo dục và đào tạo, nhưng nếu chỉ vì khắc phục sự yếu kém và lạc hậu, một bài toán của riêng ta, thì có lẽ chưa phải tầm của công cuộc đổi mới lần này.

Những nhân tố mới tác động đến giáo dục

Trước hết, phải thấy trong mấy thập niên gần đây đổi mới giáo dục, đào tạo là xu thế toàn cầu. Vào những thập niên cuối của thế kỷ XX, khoa học và công nghệ trên thế giới phát triển như vũ bão, tạo ra những bước tiến nhảy vọt, đặc biệt trong các lĩnh vực điện tử - viễn thông, tin học và công nghệ thông tin. Những thành tựu của sự phát triển này đã tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội trong từng quốc gia và trên phạm vi toàn cầu làm thay đổi, nếu không nói là đảo lộn nhiều triết lý, quan niệm, phương thức tổ chức và hoạt động của hầu hết các lĩnh vực, mà trước hết và chủ yếu lại chính là giáo dục và đào tạo. 

Tri thức mới được tạo ra với cấp số nhân, được phổ biến nhanh và rộng đến mức không hình dung được lại có thể lưu giữ những khối lượng khổng lồ bằng những phương tiện vô cùng gọn nhẹ và việc tìm kiếm, sử dụng dễ dàng đến mức trẻ em cũng có thể làm được... Trong bối cảnh ấy kiến thức chuyên môn cụ thể rất nhanh lạc hậu, cái mới luôn có cái mới hơn thay thế trong một thời gian ngắn. Đã xuất hiện và trở nên rất phổ biến các lớp học điện tử, thư viện điện tử, các chương trình đào tạo từ xa, hội nghị trực tuyến... Cho đến hôm nay việc tìm kiếm thông tin, kiến thức và giao lưu qua mạng đã trở nên phổ biến hơn rất nhiều so với việc đọc sách, báo giấy trước đây. 

Các nước, bắt đầu từ những nước có nền khoa học phát triển, từ nhiều thập niên gần đây đã tiến hành xem xét lại toàn bộ hệ thống giáo dục của mình và một chuyển biến tương đối rõ là họ chuyển dần từ dạy kiến thức chuyên môn sang dạy cách tự học. Việc học tập không chỉ thực hiện ở nhà trường mà có thể ở nhà hoặc ở bất cứ đâu. Cơ hội học tập không chỉ dành cho lứa tuổi cắp sách đến trường mà với bất cứ ai. Triết lý xã hội học tập, học suốt đời dần hình thành.

Về phương diện công nghệ, với sự trợ giúp của các thiết bị công nghệ thông tin (mà phổ biến là máy vi tính xách tay) với các phần mềm ứng dụng vô cùng phong phú thì rất nhiều kiến thức trước đây thầy cần rất nhiều thời gian và công sức để dạy và trò phải vô cùng vất vả để nhớ thì nay chỉ cần biết có nó và nó có thể dùng vào việc gì, còn những chi tiết, thậm chí cả những thao tác để tính toán tìm ra kết quả chỉ cần vài cái “click” là xong. Trí tuệ con người được dùng vào việc sáng tạo.

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, trong những thập niên gần đây thế giới cũng diễn ra những biến động vô cùng mạnh mẽ. Từ những biến đổi về khí hậu, những thay đổi theo chiều hướng ngày càng đáng báo động của tình trạng cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái đến những biến động chính trị, quân sự khôn lường đã đặt ra yêu cầu phải trang bị cho các thế hệ tương lai năng lực thích ứng cao trước mọi biến động của thời cuộc và trách nhiệm của những công dân toàn cầu. Không phải ngẫu nhiên mà rất nhiều trường đại học trên thế giới có những đơn vị nghiên cứu và đạo tạo với tên gọi Trung tâm Biến đổi toàn cầu (The Center for Global Changes). 

Về một phương diện khác, sự tha hóa đạo đức trong xã hội (không trừ một nước nào) đang tạo nên những bức xúc, đòi hỏi hệ thống giáo dục phải điều chỉnh theo hướng tăng mạnh việc trang bị nền tảng văn hóa, kỹ năng sống và các giá trị đạo đức cho người học. Chưa bao giờ yêu cầu dạy làm người cấp bách như bây giờ. 

Tri thức là của chung nhân loại. Giáo dục, đào tạo là truyền thụ kiến thức nên từ bản chất lĩnh vực này đã chứa đựng thuộc tính không biên giới. Tuy nhiên, bất cứ nền giáo dục nào cũng lại chịu sự chi phối rất mạnh của văn hóa dân tộc và những bệ đỡ tư tưởng xuất phát từ những ý thức hệ khác nhau, nên trong một thời gian dài từng tồn tại sự khác biệt rất xa về cấu trúc hệ thống giáo dục và cấu tạo chương trình. Quá trình toàn cầu hóa diễn ra như một xu thế không thể cưỡng lại, nhất là từ sau khi Liên bang Xô-viết tan rã và hệ thống phe xã hội chủ nghĩa sụp đổ, các nước (kể cả Tây Âu và Bắc Mỹ) đều xem xét lại hệ thống giáo dục của mình và tiến hành rất nhiều điều chỉnh mang tính cải cách.

Đổi mới giáo dục và đào tạo, vì vậy phải được xem là xu thế mang tính toàn cầu. Việt Nam không nằm ngoài xu thế đó. Trong ý nghĩa này, công cuộc đổi mới giáo dục và đào tạo ở Việt Nam không chỉ là vấn đề của riêng ta mà phải thực sự “nhúng” sâu trong môi trường quốc tế.

Trong bối cảnh nêu trên, giáo dục và đào tạo của ta đang đứng ở đâu?

Bên cạnh những thành tựu rất có ý nghĩa như Kết luận Hội nghị Trung ương 6 khóa XI đã nêu, nhiều hạn chế, yếu kém của giáo dục và đào tạo đã được nêu từ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII vẫn chưa được khắc phục cơ bản, có mặt nặng nề hơn, theo tôi, có thể thấy trên các mặt sau đây: 

Thứ nhất, chúng ta đã dừng quá lâu ở một nền giáo dục chú trọng trang bị kiến thức chuyên môn. Các chương trình đào tạo từ phổ thông đến đại học, sau đại học đều dày đặc các kiến thức cụ thể. Với lượng tri thức mới được sản sinh ngày càng nhiều và liên tục được cập nhật vào chương trình thì tình trạng quá tải là không thể khắc phục, nếu không nói là sẽ ngày càng trầm trọng hơn. Việc nhớ những kiến thức ấy đã khó, vận dụng nó vào cuộc sống lại còn khó hơn. Tri thức cụ thể dù cho mới đến đâu vẫn là cái đã biết nên luôn lạc hậu so với thực tiễn.

Theo triết lý trọng kiến thức chuyên môn nên các trường đại học ở Việt Nam được tổ chức theo hệ thống đại học chuyên ngành. Mỗi ngành hay một khối ngành có một (một số) trường đại học, như Đại học Thủy lợi, Đại học Xây dựng, Đại học Nông nghiệp, Đại học Kiến trúc, Đại học Y, Đại học Dược,...(1) Những trường đại học chuyên ngành đã đáp ứng rất tốt nhu cầu nhân lực cho nền kinh tế kế hoạch hóa trước đây, nhưng đang bộc lộ những bất cập trước nhu cầu phát triển của đất nước trong bối cảnh kinh tế thị trường. Nhiều trường đang tự phát triển theo hướng đa ngành hóa. Hạn chế của những trường chuyên ngành (đơn ngành) còn ở chỗ hạn chế việc nghiên cứu và giảng dạy theo hướng liên ngành và rất thiếu sự bổ sung cho nhau giữa nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng. 

Để phục vụ mục tiêu giáo dục trang bị kiến thức chuyên môn, hệ thống phân loại môn chính, môn phụ cũng được tiến hành một cách giản đơn như đương nhiên phải thế (trong khi đó phương châm của Đảng là giáo dục toàn diện)(2). Đặc biệt nghiêm trọng là hệ thống thi cử, đánh giá. Coi việc nhớ kiến thức chuyên môn là quan trọng nhất nên việc thi cử tuyển đầu vào, kiểm tra trong quá trình học tập và đánh giá đầu ra đều lấy việc hỏi kiến thức cụ thể làm mục tiêu chủ yếu. Phương thức thi cử nhằm đánh giá kiến thức chuyên môn (cụ thể) sinh ra hệ lụy nan giải và những căn bệnh trầm kha khó lòng cứu chữa. Đó là học vẹt, học tủ  quay cóp. 

Cách thức thi cử như vậy không giúp phát hiện được những người có năng lực thực sự mà chủ yếu chọn được những người có trí nhớ tốt (kỹ năng này cũng rất quý, nhưng không giúp nhiều lắm cho năng lực sáng tạo và dường như ngày càng bớt quan trọng trong thời đại công nghệ thông tin phát triển). Đó là chưa kể tới hậu quả chọn nhầm phải người lười (học tủ), người gian (quay cóp). 

Thứ hai, do phải mất quá nhiều thời gian và công sức để “cung cấp và tích lũy kiến thức” cụ thể (luôn quá tải) nên từ chương trình, người dạy, người học đều không còn đủ thời gian và sự quan tâm đúng mức cho việc trau dồi phương pháp, kỹ năng, học để hiểu biết về cuộc sống, về thế giới, dung dưỡng tâm hồn và đạo đức, lối sống… Nói tóm lại là học cách tự học và học làm người. Điều đáng lo ngại là xu thế vị bằng cấp đang trở nên ngày càng phổ biến trong cộng đồng những người đi học. Đi học chỉ cốt để lấy bằng (và tệ hơn là nếu học ít, thậm chí không học mà vẫn có bằng thì càng hay). Nhiều bậc trí giả lo lắng không phải không có cơ sở là xã hội ta ngày càng nhiều những người có học vị, bằng cấp cao, nhưng một đội ngũ trí thức với những nhân cách đáng kính dường như ngày càng thưa vắng. Hiện tượng này có nhiều nguyên nhân, nhưng căn nguyên chính vẫn là từ chính những hạn chế và yếu kém của giáo dục, đào tạo.

Thứ ba, một hạn chế lớn của giáo dục và đào tạo nước ta là việc dạy và học không gắn chặt với thực tiễn, nhất là các trường đại học. Đa phần các chương trình đào tạo hiện nay là những gì nhà trường và các thầy có đem áp đặt cho người học, chứ chưa phải là những cái xã hội cần. Có một nguyên nhân quan trọng là ở nước ta trong một thời gian dài, cung và cầu của giáo dục đại học mất cân đối nghiêm trọng. Việt Nam là nước có truyền thống hiếu học và trọng học nên số người có nguyện vọng đi học (đúng ra là số gia đình mong muốn con vào đại học) thì đông mà số trường đại học (tốt) lại rất ít nên các cơ sở đào tạo đại học không có nhiều động lực để đổi mới. Chương trình cũ, phương pháp dạy không thay đổi, chất lượng đào tạo không nâng cao cũng vẫn có rất đông người học. Những tiêu chí đánh giá về chất lượng giáo dục quốc tế dường như ảnh hưởng không nhiều lắm đến các trường đại học nước ta.

Thứ tư, cũng chính vì động lực đổi mới không cao và do một số nguyên nhân khác nữa, nền giáo dục của chúng ta tương đối khép kín. Mặc dù số lượng cán bộ của ngành giáo dục (bao gồm cả quản lý và tham gia giảng dạy) có cơ hội đi tham quan nước ngoài rất nhiều, nhưng dường như việc học tập kinh nghiệm nước ngoài chưa có một chương trình thật bài bản với những mục tiêu xác định nên kết quả không như mong muốn. Địa điểm tham quan, vấn đề tìm hiểu trùng lặp, những kinh nghiệm tiếp thu manh mún, thiếu đồng bộ... Do vậy về cơ bản, hệ thống giáo dục và các chương trình của các cơ sở đào tạo ở nước ta so với các nước tiên tiến trên thế giới còn có khoảng cách khá xa. Và điều đặc biệt đáng nói là tính liên thông quốc tế của hệ thống giáo dục nói chung và của các cơ sở đào tạo nước ta nói riêng còn rất hạn chế. Nếu như ở nước ngoài (kể cả các nước Đông Nam Á), các trường đại học có thể dễ dàng trao đổi sinh viên với nhau vì họ công nhận hệ thống tín chỉ của nhau, thì điều này còn rất khó khăn với các trường đại học nước ta. 

Sự liên thông trong nước cũng còn không ít vấn đề. Đó là sự phân luồng trong giáo dục phổ thông trung học, sự liên thông giữa các cấp học... Điều này khiến cho nền giáo dục chưa phát huy hết được vị trí và vai trò của mình.

Thứ năm, điều thấy rõ và thường được nói tới nhiều nhất khi đề cập đến những hạn chế của giáo dục Việt Nam là sự thiếu thốn, nghèo nàn về cơ sở vật chất, chính sách đãi ngộ chưa thỏa đáng đối với đội ngũ những người làm giáo dục. Có thể nói trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có những cố gắng lớn trong đầu tư cho giáo dục. Riêng năm 2013, mặc dù nền kinh tế đất nước đang trong thời kỳ cực kỳ khó khăn, nhưng kinh phí cho lĩnh vực giáo dục, đào tạo và dạy nghề vẫn chiếm 20% tổng chi ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, tính ra số kinh phí thực thì so ngay với một số trường đại học ở các nước Đông Nam Á (như Xin-ga-po, Thái Lan, Ma-lai-xi-a...) cũng đã rất thấp. Nguồn kinh phí hạn hẹp lại được sử dụng chưa hợp lý, đầu tư manh mún, dàn trải và hiệu quả thấp, đó là chưa nói tới nguồn lực bị suy hao vì những dự án lãng phí lớn(3).

Tuy nhiên, điều đáng nói hơn cả là vấn đề đầu tư cho nguồn lực con người. Nếu như đây là nhân tố quan trọng hàng đầu trong tất cả mọi lĩnh vực, thì trong giáo dục và đào tạo con người là nhân tố quyết định sự thành bại. Con người ở đây là nói tới cả đội ngũ quản lý các cấp và những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giảng dạy ở các cơ sở. Chất lượng chưa cao ở cả hai lực lượng này dường như không khó khăn lắm để nhận ra. Tuy nhiên điều quan trọng là phải tìm ra nguyên nhân dẫn tới tình trạng đó. Theo tôi, gốc gác của vấn đề chính là trên thực tế giáo dục và đào tạo chưa được coi là quốc sách hàng đầu. Việc tuyển chọn cán bộ quản lý giáo dục cũng như chính sách đãi ngộ khuyến khích người giỏi làm công tác giáo dục còn nhiều bất cập và chưa được chú ý đúng mức.

Trong những năm gần đây, ngành giáo dục và đào tạo đã triển khai khá mạnh mẽ chủ trương xã hội hóa giáo dục. Đây là một chủ trương rất đúng đắn và rất phù hợp với Việt Nam, một dân tộc có truyền thống trọng học. Tuy nhiên, chính sách đúng đắn này dường như đang bị lợi dụng theo hướng nhân danh sự nghiệp trồng người cao cả, núp dưới danh nghĩa phi lợi nhuận, không ít cá nhân và nhóm người đang trục lợi trong việc thành lập các cơ sở giáo dục tư nhân kém chất lượng. Việc cho phép mở ồ ạt nhiều trường đại học mà cơ sở vật chất còn dưới chuẩn trên thực tế cũng là điều đáng suy nghĩ.

Năm điểm nêu trên chưa phải là tất cả, và như đã nói, không phải là tổng kết về thực trạng của giáo dục Việt Nam, nhưng đứng trước yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, theo tôi, đây là những vấn đề cần tập trung giải quyết. 

Những vấn đề căn bản cần phải đổi mới 

Trước tiên, thay đổi triết lý để chuyển một nền giáo dục lấy trang bị kiến thức chuyên môn làm mục tiêu chủ yếu sang một nền giáo dục chỉ dạy những kiến thức chuyên môn căn bản ở mức tối thiểu. Dành nhiều thời gian dạy người học về phương pháp, kỹ năng, cách tự học, dạy cách sử dụng, khai thác các thiết bị… và dạy làm người với mục đích người được đào tạo có khả năng thích ứng nhanh với hoàn cảnh, có khả năng học tập suốt đời và có trách nhiệm cao với gia đình, xã hội và Tổ quốc.

Đi theo sự đổi mới này sẽ là hàng loạt những thay đổi căn bản. Từ chương trình, giáo trình, sách giáo khoa, người thầy và cách thức giảng dạy. Theo triết lý mới này, cách dạy và học sẽ chuyển từ học để nhớ sang học để hiểu

Thứ hai, thay đổi một cách căn bản hệ thống đánh giá từ kiểm tra kiến thức sang đánh giá năng lực. Đầu vào thì đánh giá năng lực có học được (cấp học, chương trình học ấy) không. Trong quá trình thì đánh giá năng lực hiểu và tiếp thu sáng tạo những điều đã học. Đầu ra thì đánh giá năng lực vận dụng những điều đã học tập, rèn luyện vào môi trường sắp tới... Tóm lại phải thay đổi căn bản những gì đang làm hiện nay trong việc thi cử, đánh giá. Sự thay đổi này sẽ mở đường cho một giai đoạn mới, người thi sẽ được sử dụng các thiết bị công nghệ thông tin (như máy vi tính chẳng hạn), sử dụng mạng in-tơ-nét... Việc tổ chức thi sẽ nhẹ nhàng, đơn giản và sẽ không còn hiện tượng học vẹt, học tủ hay quay cóp nữa.

Thứ ba, việc xây dựng các chương trình giảng dạy phải có chuẩn đầu ra. Chuẩn đầu ra ở đây là phải lấy thực tế khách quan và yêu cầu của xã hội làm căn cứ, chứ không phải là “chuẩn” do nhà trường tự quy định như nhiều cơ sở đào tạo đang làm. Như vậy chuẩn đầu ra phải hiểu là đáp ứng nhu cầu rất đa dạng cả về chủng loại và chất lượng. 

Giáo dục đại học và chuyên nghiệp là nơi đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực các loại cho xã hội. Sự đa dạng yêu cầu về chủng loại và chất lượng lao động sẽ quy định chủng loại và sự phân tầng của các cơ sở đào tạo. Bên cạnh những yêu cầu chất lượng rất cao của các cơ sở hàng đầu, có yêu cầu vừa phải của các cơ sở không có nhu cầu đến mức ấy. Cho nên phải có cách nhìn phân tầngđối với giáo dục đại học. Trong ý nghĩa này nhất loạt hô khẩu hiệu “chất lượng cao” là duy ý chí, không thực tế và cũng không phù hợp với thực tiễn.

Thứ tư, có sự phân biệt căn bản giữa giáo dục phổ thông và giáo dục đại học (bao gồm cả sau đại học). Trong một thời gian dài sự phân biệt này chỉ là hình thức. Không phải vô cớ mà nhiều bậc trí giả ví von một cách hài hước, nhưng lại rất chính xác là đại học Việt Nam là phổ thông cấp 4. Quả thực, ở bậc trên đại học, sinh viên cũng chỉ học những kiến thức chuyên môn chưa học ở các lớp phổ thông, còn cách dạy cách học không khác mấy so với học phổ thông.

Điều khác căn bản giữa giáo dục phổ thông và giáo dục đại học là ở chỗ giáo dục phổ thông là dạy những kiến thức đã ổn định, trang bị nền tri thức và rèn luyện những phẩm chất cơ bản cho công dân, còn giáo dục đại học chủ yếu lại là đào tạo nguồn nhân lực có năng lực sáng tạo và ngay trong quá trình học tập đã tham gia sáng tạo tri thức mới. Ở các nước tiên tiến, những phát minh và giải thưởng khoa học quốc tế lớn đều từ các trường đại học là do đặc điểm này của đại học. Chính từ thuộc tính này mà quyền tự chủcủa các trường đại học, trước hết là tự chủ về học thuật, là điều kiện tiên quyết để giáo dục đại học phát triển. Tự chủ phải gắn liền với tự chịu trách nhiệm. Hãy để các trường đại học tự chăm lo lấy thương hiệu và uy tín của mình. Quản lý nhà nước là vô cùng quan trọng và cần thiết, nhưng nếu không xác định được đầy đủ nội hàm của công tác này mà tăng cường quản lý của Nhà nước với rất nhiều những quy trình khắt khe thì chưa chắc đã đem lại kết quả như mong muốn. Không cẩn thận sẽ khiến cho các cơ sở đào tạo ỷ lại, ỷ thế rồi khéo léo lách qua những quy định... Khi ấy toàn bộ trách nhiệm lại được đổ lên các cơ quan quản lý.

Thứ năm, để có thể tiến hành đổi mới một cách căn bản thì giải pháp phải đồng bộ và toàn diện. Trước hết là những đổi mới về cơ chế, chính sách. Trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay của đất nước, không nên đặt vấn đề tăng thêm ngân sách cho giáo dục và đào tạo mà có chính sách phân phối nguồn lực cho hợp lý. Trong quá trình này, đầu tư tập trung và đầu tư hiệu quả được coi là ưu tiên. Cần chấm dứt việc đầu tư dàn trải và kém hiệu quả như hiện nay. Ngoài những cơ chế chính sách về tài chính, phải đổi mới hàng loạt các cơ chế chính sách khác có liên quan đến giáo dục, đào tạo, sao cho giáo dục và đào tạo thực sự là quốc sách hàng đầu.

Vấn đề quyết định cho thành công của sự nghiệp đổi mới giáo dục là chính sách cán bộ. Chọn đúng người, giao đúng việc và có những chính sách thu hút người giỏi vào lĩnh vực giáo dục và đào tạo sẽ đưa giáo dục nước nhà bước vào một thời kỳ phát triển mới./.

----------------------------------

(1) Theo xu hướng này, năm 2002 đã xuất hiện ở Hà Nội Đại học Răng-Hàm-Mặt. Trường này nhanh chóng phát triển với quy mô lên tới hơn 22.000 sinh viên. Nhưng do sớm bộc lộ tính chất bất hợp lý nên đã bị giải thể vào năm 2009.

(2) Chẳng hạn như luôn nói môn Lịch sử là quan trọng, nhưng bị coi là môn phụ thì học sinh không thể coi trọng bằng môn chính và đối với những học sinh dự định không thi khối C vào đại học thì có thể đương nhiên chểnh mảng, thậm chí không học môn này trong những năm cuối phổ thông trung học.

(3) Xem: Việt Nam net, trang Giáo dục ngày 21-7-2013

Vũ Minh GiangGS, TSKH, Đại học Quốc gia Hà Nội

Kiên trì thực hiện triết lý phát triển giáo dục Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh
0:49' 19/11/2013

TCCSĐT - Triết lý giáo dục là cơ sở lý luận, là công cụ nhận thức, định hướng chỉ đạo thực hiện phát triển nền giáo dục của đất nước. Ở Việt Nam, triết lý giáo dục được hình thành và phát triển qua các giai đoạn lịch sử. Ngày nay, khi bối cảnh thế giới đang có nhiều đổi thay, hơn lúc nào hết, triết lý giáo dục Việt Nam cần được bổ sung, hoàn thiện dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, hướng tới mục tiêu xây dựng một nền giáo dục tiên tiến, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.




Triết lý giáo dục Việt Nam 


Triết lý giáo dục bao gồm các quan điểm, tư tưởng về vai trò, vị trí của giáo dục, đường lối, phương hướng phát triển, mục tiêu, phương pháp, nội dung, mô hình tổ chức giáo dục, chủ thể và đối tượng giáo dục…; trên cơ sở khái quát từ thực tiễn, nhằm đào tạo những con người (nguồn nhân lực) phù hợp với đặc điểm kinh tế, chế độ chính trị, đời sống xã hội và trình độ văn hóa của thời đại.

Trong lịch sử, giáo dục Việt Nam bao giờ cũng có triết lý giáo dục riêng phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc. Từ xưa, triết lý giáo dục được diễn giải một cách tự nhiên, giản dị bởi những câu thành ngữ, tục ngữ như: “Không thầy đố mày làm nên”, “Học thầy không tày học bạn”, “Học một biết mười”, “Ăn vóc học hay”, “Học đi đôi với hành”, “Tiên học lễ, hậu học văn”… Qua đó quan niệm giáo dục của nhân dân ta về đối tượng, phương pháp giáo dục được thể hiện khá rõ nét và có bản sắc văn hóa, tính khoa học nên đã để lại kho tàng tri thức đồ sộ.

Triết lý giáo dục cách mạng Việt Nam được hình thành sau Cách mạng Tháng Tám với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó triết lý giáo dục Hồ Chí Minh giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Đây là một bộ phận trong hệ tư tưởng và tri thức làm nên thành công của cuộc kháng chiến kiến quốc vĩ đại, xây dựng đất nước Việt Nam mới, mở ra một kỷ nguyên độc lập, tự do trong lịch sử dân tộc. Triết lý giáo dục cách mạng bao gồm toàn bộ những tư tưởng chỉ đạo xây dựng một nền giáo dục của nước Việt Nam độc lập. Triết lý giáo dục Hồ Chí Minh được hình thành từ quá trình hoạt động cách mạng của Người. Ngay trong những câu thơ trong tập “Nhật ký trong tù” khi đang bị giam cầm hay những lời căn dặn, phát biểu khi gặp mặt các thầy cô giáo, học sinh, sinh viên của nước nhà, quan điểm giáo dục khoa học, tiến bộ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được thể hiện khá rõ. Ở bài “Nửa đêm”, Người nhấn mạnh đến vai trò chủ đạo của giáo dục tới việc hình thành nhân cách của con người là: “Hiền dữ phải đâu là tính sẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên”. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, trong lời kêu gọi Thi đua ái quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ phải diệt được ba thứ giặc, trong đó có “giặc dốt” - nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói, lạc hậu của đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo chính quyền mới ban hành một loạt các sắc lệnh chống nạn mù chữ, đó là Sắc lệnh 17/SL thành lập nha bình dân học vụ, Sắc lệnh 19/SL quy định mọi làng phải có lớp học bình dân và Sắc lệnh 20/SL cưỡng bức học chữ quốc ngữ không mất tiền. Nhờ thế mà từ 95% dân số mù chữ (năm 1945), đến năm 1948 hơn 8 triệu đồng bào ta (chiếm 1/3 dân số) đã biết đọc, biết viết.

Như vậy, trong giai đoạn kháng chiến, kiến quốc, cả dân tộc ta đã tập trung vào ba nhiệm vụ trọng tâm là diệt “giặc đói”, “giặc dốt”, “giặc ngoại xâm”. Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người có trí tuệ, có tinh thần yêu nước, sẵn sàng hy sinh vì nền độc lập dân tộc. Bác còn chỉ ra nhiệm vụ cơ bản nhất của nền giáo dục mới là đào tạo ra những người công dân hữu ích, một nền giáo dục sẽ làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của người học. Nhà nước quyết tâm phát triển một nền giáo dục đào tạo nên những con người sát với thực tiễn cuộc sống, sáng tạo, chủ động thích ứng với hoàn cảnh kháng chiến và kiến quốc. Trong thư gửi giáo viên, học sinh, cán bộ thanh niên và nhi đồng sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Bác đã nói: “Mỗi một cấp giáo dục cần nhận rõ nhiệm vụ của mình trong lúc này. Đại học thì cần kết hợp lý luận khoa học với thực hành, ra sức học tập lý luận và khoa học tiên tiến của các nước bạn, kết hợp với thực tiễn của nước ta, để thiết thực giúp ích cho công cuộc xây dựng nước nhà. Trung học thì cần bảo đảm cho học trò những tri thức phổ thông chắc chắn, thiết thực, thích hợp với nhu cầu và tiền đồ xây dựng nước nhà, bỏ những phần nào không cần thiết cho đời sống thực tế. Tiểu học thì cần giáo dục các cháu thiếu nhi yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công. Cách dạy phải nhẹ nhàng và vui vẻ, chớ gò ép thiếu nhi vào khuôn khổ của người lớn. Phải đặc biệt chú ý giữ gìn sức khỏe cho các cháu. Tôi cũng mong các gia đình hãy liên lạc chặt chẽ với nhà trường, giúp nhà trường giáo dục và khuyến khích con em chăm chỉ học tập, sinh hoạt lành mạnh và hăng hái giúp ích nhân dân”(1). Đến với Đại hội sinh viên Việt Nam lần thứ hai (ngày 07-5-1958), Bác nói: “Đối với thanh niên trí thức như các cháu ở đây thì cần đặt lại câu hỏi: Học để làm gì? Học để phục vụ ai? Đó là hai câu hỏi cần phải trả lời dứt khoát, thì mới có phương hướng để sửa chữa khuyết điểm của mình” hay “Vì lợi ích mười năm trồng cây - Vì lợi ích trăm năm trồng người” (ngày 13-9-1958). Những lời căn dặn trên cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trăn trở về sự nghiệp trồng người của nước nhà và dành sự quan tâm đặc biệt đến ngành giáo dục qua các giai đoạn lịch sử. Người đã đề ra những quan điểm khoa học về đối tượng, nội dung, phương pháp giáo dục một cách giản dị, dễ hiểu mà sâu sắc. Xuyên suốt triết lý giáo dục Hồ Chí Minh là một nền giáo dục toàn diện, thiết thực, đào tạo những con người bản lĩnh, sáng tạo, làm chủ trong mọi hoàn cảnh để làm cách mạng thắng lợi, để nước ta có thể “sánh vai với các cường quốc năm châu”. 

Trên nền tảng triết lý giáo dục của Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn chú trọng bổ sung, phát triển cho phù hợp với yêu cầu của các giai đoạn lịch sử. Triết lý giáo dục Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương, chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ của cách mạng Việt Nam luôn gắn bó với nhau. Quan điểm của Đảng xuyên suốt thời kỳ đổi mới cho đến nay là: giáo dục là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển; sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp của toàn dân. Trong các văn kiện của Đảng, từ Đại hội VI đến Đại hội VIII, Đảng ta khẳng định “Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII (1996), Đảng ta đã xác định mục tiêu cơ bản và nhiệm vụ của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, có tri thức, kỹ năng, vừa hồng vừa chuyên; giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa; thực sự xem giáo dục là quốc sách hàng đầu; giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, Nhà nước và toàn dân; phát triển giáo dục đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội. Đại hội lần thứ IX, Đảng ta tái khẳng định giáo dục là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; thực hiện giáo dục cho mọi người, học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội. Thuật ngữ “xã hội hóa”, “xã hội học tập” mới ra đời nhưng bản chất tư tưởng “giáo dục cho mọi người, mọi người vì giáo dục” đã có trong tư tưởng Hồ Chí Minh từ sau Cách mạng Tháng Tám. Đến Đại hội lần thứ X năm 2006, Đảng ta quyết định: “đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao”. Để thực hiện mục tiêu nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại năm 2020, tại Đại hội Đảng lần thứ XI, Đảng ta đã tiếp tục khẳng định triết lý giáo dục theo đường lối đổi mới. Tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, Đảng ta đã thông qua Nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. 

Công cuộc đổi mới gần 30 năm nay đã đưa nền giáo dục nước ta bước sang giai đoạn mới, đạt được những thành tựu nhất định, góp phần tích cực cho công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Đó chính là kết quả của việc thực hiện triết lý giáo dục của Đảng Cộng sản Việt Nam trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh.

Sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục trong tình hình mới 

Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về định hướng Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000, trong điều kiện đất nước có nhiều khó khăn, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt những thành tựu rất có ý nghĩa. Tuy nhiên đến nay, so với yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế và phát triển bền vững, giáo dục và đào tạo nước ta còn nhiều yếu kém, bất cập. Giáo dục vẫn chưa thực sự là quốc sách hàng đầu, chưa được ưu tiên cao trong các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, chưa được coi là nhân tố quyết định của phát triển đất nước. Nhiều hạn chế, yếu kém của giáo dục và đào tạo đã được nêu ra từ Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII song chậm được khắc phục, có mặt còn nặng nề hơn. Khoa học giáo dục còn lạc hậu; chất lượng giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, chưa tạo ra lợi thế cạnh tranh mạnh mẽ về nhân lực của nước ta so với các nước trong khu vực và trên thế giới, chưa tích cực chủ động góp phần vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc. Quản lý giáo dục còn nhiều bất cập, kinh phí đầu tư cho giáo dục còn hạn chế; thiếu dự báo nhu cầu nhân lực cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và nhu cầu học tập của nhân dân để làm cơ sở cho công tác quy hoạch phát triển giáo dục. 

Trước yêu cầu mới, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI đã thảo luận và quyết định ra Nghị quyết về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Theo đó, triết lý giáo dục - cơ sở lý luận, định hướng cho mọi hoạt động của một nền giáo dục, đã được Đảng ta bổ sung và phát triển phù hợp với yêu cầu thời đại. Đảng ta xác định đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới tư duy về giáo dục, đổi mới từ nền tảng quy định bản chất giáo dục (triết lý giáo dục) mà trước tiên là mục tiêu giáo dục. Mục tiêu giáo dục là dạy và học làm người, đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, năng lực thẩm mỹ, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; kết hợp hài hòa sự phát triển của cá nhân với sứ mệnh đào tạo nhân lực phục vụ xã hội. Tiếp đó là đổi mới toàn diện hệ thống tổ chức, loại hình giáo dục và đào tạo; nội dung, phương pháp dạy và học; cơ chế quản lý; xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ; cơ sở vật chất, nguồn lực và các điều kiện bảo đảm khác, đồng bộ ở tất cả các bậc học (giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học, đào tạo nghề). Đảng ta cũng xác định rõ tính chất nguyên lý giáo dục: Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng. Những mục tiêu và nguyên lý đó phải có tính nhất quán, thống nhất, có hệ thống; được thực hiện và triển khai, quán triệt nghiêm túc thông qua các chương trình, hoạt động giáo dục cụ thể ở các cấp và trong xã hội. Cùng với việc thực hiện các mục tiêu, nguyên lý đó phải có những chế tài đủ mạnh để bảo đảm dân chủ, công bằng, xây dựng một nền giáo dục trong sạch và lành mạnh. Bên cạnh đó, đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, có tầm nhìn dài hạn, các giải pháp đồng bộ, khả thi, có cơ sở khoa học. Đổi mới căn bản và toàn diện cần vừa củng cố phát huy các thành tựu và điển hình đổi mới, vừa kiên quyết chấn chỉnh những lệch lạc, những việc làm trái quy luật; khắc phục cơ bản các yếu kém kéo dài đang gây bức xúc; phát triển những nhân tố tích cực mới; đổi mới có trọng tâm, trọng điểm, có lộ trình phù hợp với thực tế đất nước, địa phương. 

Ngày nay, quá trình toàn cầu hóa đã làm biến đổi thế giới nhanh chóng và đặt nước ta đứng trước nhiều cơ hội cũng như thách thức, nguy cơ. Do đó, giáo dục đào tạo càng đóng vai trò quan trọng hơn bao giờ hết. Những hạn chế, thách thức của giáo dục phải được nhận thức sâu sắc, có giải pháp hữu hiệu và lộ trình để khắc phục, vượt qua, đưa sự nghiệp giáo dục lên tầm cao mới. Để có thể khẳng định được vị trí và hoàn thành sứ mệnh lịch sử của giáo dục, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xác định một số giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo như sau: 

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với đổi mới giáo dục và đào tạo; quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo trong hệ thống chính trị, ngành giáo dục và đào tạo và toàn xã hội; đổi mới công tác thông tin và truyền thông để thống nhất về nhận thức, tạo sự đồng thuận và huy động sự tham gia đánh giá, giám sát và phản biện của toàn xã hội đối với công cuộc đổi mới, phát triển giáo dục.

Thứ hai, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề; đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn; đổi mới và đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người; tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học. 

Thứ ba, đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan, theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận.

Thứ tư, hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập; khuyến khích xã hội hóa để đầu tư xây dựng và phát triển các trường chất lượng cao ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo, tăng tỷ lệ trường ngoài công lập đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; hướng tới có loại hình cơ sở giáo dục do cộng đồng đầu tư; đa dạng hóa các phương thức đào tạo; có cơ chế để tổ chức, cá nhân người sử dụng lao động tham gia xây dựng, điều chỉnh, thực hiện chương trình đào tạo và đánh giá năng lực người học.

Thứ năm, đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng. 

Thứ sáu, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo; phát triển hệ thống trường sư phạm đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; đổi mới mạnh mẽ mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của nhà giáo theo yêu cầu nâng cao chất lượng, trách nhiệm, đạo đức và năng lực nghề nghiệp; có chế độ ưu đãi đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. 

Thứ bảy, đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo.

Thứ tám, nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lý.

Thứ chín, chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa và thành tựu khoa học, công nghệ của nhân loại; góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới giáo dục./. 

-------------------------------

(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr 80,81


Vũ HằngĐại học Xây dựng Hà Nội

Từ triết lý giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh nghĩ về công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay
10:58' 15/11/2013

TCCSĐT - Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến sự nghiệp “trồng người” với triết lý nhân văn sâu sắc “vì lợi ích mười năm phải trồng cây/ vì lợi ích trăm năm phải trồng người”.



Vai trò, sứ mệnh của giáo dục

Cách đây hơn nửa thế kỷ, khi bị giam cầm trong nhà lao của chính quyền Tưởng Giới Thạch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết những vần thơ:

       Ngủ thì ai cũng như lương thiện,
Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền;
Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn,
Phần nhiều do giáo dục mà nên

 (Nửa đêm - bản dịch của Nam Trân)

Những vần thơ trên không chỉ giúp Người vơi đi nỗi cô đơn, buồn sầu trong những tháng ngày bị tù đày, mất tự do mà ẩn sâu trong những câu chữ ấy là một tư tưởng, triết lý giáo dục thấm đượm tinh thần nhân văn, được đúc rút từ chính cuộc đời hoạt động cách mạng và quy luật muôn đời của cuộc sống.

Bản tính, nhân cách của mỗi người không phải do trời sinh mà căn bản, quan trọng là do sự giáo dục của gia đình, nhà trường, xã hội, nhất là sự nỗ lực, cố gắng của bản thân. Ý thức rõ về sứ mệnh cao cả của giáo dục đối với sự hình thành nhân cách con người - những người sẽ làm nên tương lai, vận mệnh nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều thời gian chăm lo cho sự phát triển của sự nghiệp “trồng người”.

Dù trong hoàn cảnh chiến tranh hay khi đất nước hòa bình xây dựng cuộc sống mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác giáo dục. Ở thời điểm cách mạng còn trong “trứng nước”, Người đã có kế hoạch mở lớp đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện cán bộ, truyền đạt những tri thức lý luận về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, về kinh nghiệm làm cách mạng và con đường đấu tranh giải phóng dân tộc. Người đã đào tạo, huấn luyện được những lớp cán bộ tiên phong, những người học trò xuất sắc, những chiến sĩ cộng sản kiên trung, góp phần to lớn vào sự thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.

Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, đất nước lại rơi vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Người coi diệt “giặc dốt” cũng quan trọng không kém việc diệt “giặc đói”, “giặc ngoại xâm”. Nhờ chủ trương đó, các phong trào Bình dân học vụ, mở lớp mở trường được phát động, từ già tới trẻ ai nấy đều ra sức học lấy con chữ, học để ý thức rõ hơn về mình, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, học để mở mang tri thức, làm chủ nước nhà. Trong lần về thăm Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc mới được thành lập tại chiến khu Việt Bắc (năm 1949), Người đã ghi vào sổ vàng lưu niệm những lời căn dặn tâm huyết như nhắc nhở, khuyên răn, thúc giục các thầy cô giáo, các anh chị em học viên cần phải xác định rõ mục đích, động cơ của việc học. Trả lời cho câu hỏi “Học để làm gì?”, Người viết: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại…”.

Giữa bộn bề công việc của một đất nước mới thoát khỏi chiến tranh, trên cương vị Chủ tịch nước, Người luôn luôn nhắc nhở những đồng chí, những cán bộ có trách nhiệm phải thường xuyên quan tâm, đầu tư nhiều hơn nữa cho giáo dục; bồi dưỡng đạo đức, tri thức cách mạng cho thế hệ trẻ, cho muôn đời sau, phải tạo mọi điều kiện để mỗi người có thể phát triển toàn diện, bởi con người là nguồn lực quan trọng để kiến thiết, xây dựng nước nhà. Trước lúc “đi xa”, trong bản Di chúc thiêng liêng, Người căn dặn: “Đảng cần phải chăm sóc, giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”(1). Không chỉ đến Di chúc mà trong các bài báo, bài diễn văn đọc tại Đại hội, Hội nghị giáo dục, thư thăm hỏi, chúc mừng, Người luôn nhấn mạnh đến sứ mệnh thiêng liêng, cao cả của ngành giáo dục. Người viết: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, “Dốt thì dại, dại thì hèn”, “Dốt nát cũng là kẻ địch”,…

Vai trò, vị trí quan trọng của người thầy

Viết về đội ngũ người thầy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao những cống hiến, hy sinh lớn lao, thầm lặng của họ dành cho thế hệ trẻ, cho tương lai nước nhà. Họ xứng đáng là những chiến sĩ văn hóa, kỹ sư tâm hồn, người cha, người mẹ thứ hai của học trò.

Nói về công lao to lớn của người thầy, trong Thư gửi anh chị em giáo viên Bình dân học vụ, Người ngợi ca: “Anh chị em là những người vô danh anh hùng. Tuy là vô danh nhưng rất hữu ích, một phần tương lai nước nhà nằm trong sự cố gắng của anh chị em”(2). Những con người “vô danh anh hùng” ấy đã góp công góp sức mình cho sự phát triển, trường tồn của đất nước, đem trí tuệ gieo vào tâm hồn, suy nghĩ của thế hệ trẻ, để mai này lớn khôn các em sẽ trở thành những nhà khoa học, những cán bộ giỏi, những công dân có phẩm chất, tài năng, đóng góp vào sự phát triển, phồn vinh của đất nước.

Sức mạnh của giáo dục có thể làm nên nhiều điều kỳ diệu, tạo ra những thay đổi lớn, tác động tích cực tới con người và xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “muốn phát triển văn hóa thì phải cần thầy giáo... nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục”. Trong lần về thăm Trường Đại học Sư phạm Hà Nội nói chuyện với các thầy cô giáo tương lai, Người đánh giá cao nghề dạy học: “Có gì vẻ vang hơn là nghề đào tạo những thế hệ sau này tích cực góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản? Người thầy giáo tốt, thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những người anh hùng vô danh”(3).

Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng nhưng người gánh trọng trách lớn lao lại thuộc về những người thầy. Để dạy tốt, đào tạo được những con người mới, có tài năng, trí tuệ, phẩm chất thì thầy cũng phải luôn cố gắng, nỗ lực vươn lên, không ngừng tìm tòi, sáng tạo. Với người thầy, chữ tâm, chữ tài phải được đặt lên hàng đầu. Đề cập đến đạo đức người thầy, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ một lần động viên, khuyên nhủ các thầy cô phải giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính; phải yêu nghề, yên tâm công tác; phải thật thà đoàn kết, nâng cao tinh thần trách nhiệm; không nên “đứng núi này trông núi nọ”, muốn thay đổi công tác, kèn cựa vì địa vị; phải thương yêu các cháu như con em ruột thịt của mình. Người nhấn mạnh: “Thầy và trò phải luôn luôn nêu cao tinh thần yêu Tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, tăng cường tình cảm cách mạng với công nông, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, triệt để tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ nào mà Đảng và nhân dân giao cho”. “Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức”, “Dạy và học để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Nhà trường phải gắn liền với thực tế của nước nhà, với đời sống của nhân dân”(4)...

Theo Người, mỗi cấp học, lứa tuổi đều có những đặc điểm tâm lý khác nhau, người thầy phải xác định rõ đối tượng, mục tiêu để có nội dung, phương pháp giảng dạy phù hợp, đạt kết quả cao nhất. Giáo dục phải làm sao phát huy được những năng lực, tố chất của người học về các mặt đức, trí, thể, mỹ. Trong Thư gửi các học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (tháng 9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi gắm niềm tin tưởng và những kỳ vọng vào một nền giáo dục mới sẽ giúp các em phát triển một cách toàn diện những năng lực sẵn có. Đó là một nền giáo dục năng động, tiên tiến, lấy học sinh làm trung tâm, một nền giáo dục vì sự phát triển toàn diện, tiến bộ của con người: “Ngày nay các em được cái may mắn hơn cha anh là được hấp thu một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em”.

Để thực hiện tốt sứ mệnh cao cả đó, trong nhà trường đòi hỏi các thầy cô phải gương mẫu đi đầu trong việc rèn đức, luyện tài, phải có chuyên môn giỏi, có tình yêu và sự tâm huyết với nghề. Nói về công tác huấn luyện và học tập, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Không phải ai cũng huấn luyện được. Muốn huấn luyện thợ rèn, thợ nguội thì người huấn luyện phải thạo nghề rèn, nghề nguội. Người huấn luyện của đoàn thể phải làm kiểu mẫu về mọi mặt tư tưởng, đạo đức, lối làm việc, phải học thêm mãi. Cách thức huấn luyện phải làm sao cốt thiết thực, chu đáo hơn tham nhiều. Huấn luyện từ dưới lên trên, phải gắn liền lý luận với công tác thực tế, huấn luyện phải nhằm đúng yêu cầu, phải chú trọng việc cải tạo tư tưởng. Phải gắn chặt giữa học với hành, lý luận với thực tiễn, kinh nghiệm và thực tế phải đi cùng nhau. Nghiên cứu mà không thực hành là nghiên cứu suông. Thực hành mà không nghiên cứu thì thường hay bị mù quáng... Người huấn luyện nào mà tự cho mình đã biết đủ cả rồi, thì người đó dốt nhất”(5).

Những câu nói thật giản dị khiêm nhường nhưng hàm chứa cái nhìn biện chứng, khách quan, khoa học về biện pháp, cách thức “trồng người”. Những lời tâm huyết ấy như đang nhắc nhở chính những người thầy hôm nay phải gắn chặt lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành, nêu cao tình thần tự giác học tập của học sinh và của chính mình: Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân.

Đối với công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, Người khẳng định “cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Vì vậy huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”. Do đó, Người đã thẳng thắn chỉ ra những ưu, khuyết điểm mà các cơ sở giáo dục của trường Đảng mắc phải như: “lớp quá đông, mở lớp lung tung. Vì mở nhiều lớp nên thiếu người giảng. Thiếu người giảng thì học viên đâm chán nản. Thiếu người giảng thì phải đi “bắt phu”, vì thế người đến giảng bao giờ cũng hấp tấp, lướt qua lớp này một chút, lớp khác một chút như “chuồn chuồn đạp nước”, dạy không được chu đáo... Rốt cuộc chỉ tốn gạo mà học thì học táp nhoang”(6).

Có thể nói những tư tưởng, quan điểm của Người về giáo dục, về tư cách đạo đức, phẩm chất, trách nhiệm, vị thế của người thầy được viết ra cách đây hơn nửa thế kỷ nhưng vẫn vẹn nguyên tính thời sự, trở thành kim chỉ nam và phương châm hành động của đội ngũ những người làm thầy hôm nay. Với những người thầy, cần phải đi trước đón đầu, “phải có chí khí cao thượng, phải “tiên ưu hậu lạc””(7), “dù khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt học tốt”(8)...

Từ triết lý giáo dục của Người nghĩ về giáo dục hiện nay

Ngày nay, sau 44 năm kể từ khi Người “đi xa”, gần 30 năm đất nước thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, giáo dục Việt Nam cũng có những bước phát triển, song vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế nhận định: ngành giáo dục - đào tạo của nước ta “chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành. Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc. Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất.

Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp.

Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả. Chính sách, cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp. Cơ sở vật chất, kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn”(9).

Đứng trước thực trạng đó, đòi hỏi phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo. Đổi mới phải bắt đầu từ “những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học”. Đó là một quan điểm đúng đắn, đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi cấp bách từ đời sống thực tiễn và xu thế phát triển giáo dục của thế giới, khắc phục những tồn tại, bất cập để giáo dục phát huy tốt vai trò, sứ mệnh cao cả trong việc “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Có thể nói, trong bối cảnh hội nhập, giao lưu hiện nay, những người có trách nhiệm với sự nghiệp “trồng người”, nhất là đội ngũ người thầy phải nêu cao hơn nữa bản lĩnh, đạo đức cách mạng, phải thực hành dân chủ trong trường học, tạo sự đoàn kết, nhất trí, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Ngày nay đọc lại những lời di huấn của Người về giáo dục, chúng ta càng thấm thía hơn tầm nhìn xa rộng, thiết thực của Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Trong trường cần có dân chủ. Đối với mọi vấn đề, thầy và trò cùng nhau thảo luận, ai có ý kiến gì đều thật thà phát biểu. Điều gì chưa thông suốt thì hỏi, bàn cho thông suốt. Dân chủ nhưng trò phải kính thầy, thầy phải quý trò chứ không phải “cá đối bằng đầu””(10). Có dân chủ chúng ta mới có điều kiện nhìn nhận lại chính mình, cùng nhau đoàn kết tìm ra những hướng đi thích hợp, cùng nhau phát triển, để “dân tộc Việt Nam sẽ bước tới đài vinh quang, sánh vai với các cường quốc năm châu” như điều mong ước, kỳ vọng của Người./.

-----------------------------------------------------------

Chú thích:

(1) Hồ Chí Minh: Di chúc, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 1999, tr. 38 - 39

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2000, t. 7, tr. 32

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 330

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 402

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 49 - 50

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 53

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 331

(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 403

(9) Dẫn theo http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Tieu-diem/2013/24426/Nghi-quyet-Hoi-nghi-Trung-uong-8-khoa-XI-ve-doi-moi.aspx

(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 7, tr. 455

ThS. Nguyễn Huy Phòng

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của giáo dục trong việc phát huy nhân tố con người
21:55' 19/5/2013

TCCSĐT - Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, trong đó có tư tưởng về giáo dục - bộ phận quan trọng trong vấn đề xây dựng nhân tố con người.



Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, quan điểm về vai trò của giáo dục trong việc phát huy nhân tố con người giữ vị trí hết sức quan trọng, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Hồ Chí Minh đối với con người, coi con người là vốn quý nhất, là nhân tố quyết định mọi thành công; con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng. Đó cũng là cơ sở khoa học, là kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta trong nhận thức và hoạt động xây dựng nền giáo dục Việt Nam. Có thể khái quát quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của giáo dục trong việc phát huy nhân tố con người trên một số nội dung sau:

1. “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”

Theo Hồ Chí Minh, dốt nát là nguyên nhân cơ bản của yếu hèn và sai lầm. Dốt thì dại, dại thì hèn. Hồ Chí Minh coi dốt nát là một trong ba loại giặc cần phải tiêu diệt (giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm). Chính vì vậy, sau khi đất nước vừa giành được độc lập, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (03-9-1945), Hồ Chí Minh đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách của chính quyền mới, trong đó có 2 nhiệm vụ về giáo dục, đó là “cần mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ” và “giáo dục lại tinh thần nhân dân bằng cách thực hiện: CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH” (1). Người chỉ rõ: Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc lúc này là nâng cao dân trí, bởi không một quốc gia nào có thể tiến hành xây dựng một chế độ xã hội mới và bảo vệ Tổ quốc thành công trong điều kiện văn hóa, dân trí, đạo đức, tinh thần xã hội thấp kém. Chưa đầy một tuần sau ngày độc lập, ba sắc lệnh quan trọng về giáo dục đã được Người ký và ban hành: Sắc lệnh 17-SL, thành lập Nha Bình dân học vụ, Sắc lệnh 19-SL, quy định mọi làng phải có lớp học bình dân, và Sắc lệnh 20-SL, cưỡng bách học chữ Quốc ngữ không mất tiền. Một nền giáo dục mới - nền giáo dục của nước Việt Nam độc lập được Người nêu rõ trong Thư gửi các học sinh: “Ngày nay, các em được cái may mắn hơn cha anh là được hấp thụ một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em… Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em” (2).

Hồ Chí Minh chủ trương phải xây dựng một nền giáo dục hướng vào các giá trị dân tộc, hiện đại và nhân văn, một nền giáo dục phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Theo chỉ đạo của Người, Bộ Giáo dục đã đề ra mục đích, phương pháp và tổ chức của nền giáo dục mới:

- Khẳng định mục đích cao cả của nền giáo dục mới là: tôn trọng nhân phẩm, rèn luyện chí khí, phát triển tài năng của mọi người để phụng sự đoàn thể và góp phần vào cuộc tiến hóa chung của nhân loại.

- Phương pháp của nền giáo dục mới là xóa bỏ lối học nhồi sọ, hình thức, chú trọng phần thực học, phần học về chuyên môn nghề nghiệp chiếm một địa vị quan trọng, hết sức đề cao tinh thần khoa học, nhằm giúp học sinh có lối nhận thức khoa học, phát triển óc phê bình, óc phân tích và tổng hợp, tinh thần sáng tạo và óc thực tế.

- Về tổ chức, nền giáo dục mới là một nền giáo dục duy nhất chung cho toàn thể nhân dân Việt Nam. 
Cũng ngay trong năm 1945, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo mở các khóa huấn luyện cán bộ bình dân học vụ. Khóa huấn luyện đầu tiên được mang tên Hồ Chí Minh. Đồng thời, Người ký Sắc lệnh thành lập Ban Đại học văn khoa, Sắc lệnh thành lập Hội đồng cố vấn học chính,… từng bước định hình nền giáo dục mới, với một hệ thống quan điểm hiện đại, đó là:

- Dân chủ hóa về mục tiêu phát triển;

- Dân tộc và đại chúng hóa về tổ chức đào tạo;

- Nhân văn hóa về nội dung đào tạo;

- Khoa học hóa về phương pháp đào tạo;

- Xã hội hóa về quản lý đào tạo.

Không chỉ quan tâm hoàn thiện thể chế và bộ máy của nền giáo dục mới, Hồ Chí Minh còn khởi động cho toàn dân thấm nhuần tư tưởng “dân mạnh thì nước giàu”, “dân cường thì nước thịnh”, và Người kêu gọi mọi người phải làm cho dân tộc Việt Nam trở thành một dân tộc thông thái, xứng đáng với nước Việt Nam độc lập. Hưởng ứng lời kêu gọi của Người, nhiều trường học cho thanh thiếu niên, cho đồng bào các dân tộc, cho phụ nữ, phụ lão,… đã khai giảng, cả nước sôi nổi với phong trào bình dân học vụ, diệt “giặc dốt”. Từ một nước 95% dân số mù chữ, nhiều làng xã đã xóa nạn mù chữ, nhiều “chiến sĩ diệt dốt” đã được vinh danh.

2. “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục - sự nghiệp “trồng người” là một chiến lược vừa cơ bản, lâu dài, vừa là quốc sách hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta. Điều này cũng đúng với tuyên bố đưa ra năm 1994 của Tổ chức Giáo dục, Khoa học, và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO): Không có một sự tiến bộ và thành đạt nào có thể tách khỏi sự tiến bộ và thành đạt trong lĩnh vực giáo dục của quốc gia đó. Và những quốc gia nào coi nhẹ giáo dục hoặc không đủ tri thức và khả năng cần thiết để làm giáo dục một cách có hiệu quả thì số phận của quốc gia đó xem như đã an bài và điều đó còn tồi tệ hơn cả sự phá sản.

Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định vai trò của giáo dục đối với sự hình thành nhân cách con người. Một mặt, giáo dục là sự tác động có mục đích, có hệ thống, theo một tổ chức chặt chẽ, nó phác thảo trước mô hình nhân cách cần đạt đến. Mặt khác, giáo dục truyền lại những thành tựu của nền văn minh xã hội theo con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất. Nhân cách con người được hoàn thiện bởi một nền giáo dục xã hội và tự giáo dục toàn diện sẽ trở thành những người vừa “hồng”, vừa “chuyên”; vừa có phẩm chất, vừa có năng lực; những công dân tốt, những cán bộ tốt, sẽ thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam mới.

Hồ Chí Minh cho rằng, mỗi con người đều có cái thiện và ác ở trong lòng, ta phải làm thế nào cho phần tốt trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân. Thông qua giáo dục thì cái thiện trong mỗi con người sẽ ngày càng nhiều thêm và cái ác sẽ mất dần đi. Tuy vậy, Hồ Chí Minh không coi giáo dục là yếu tố vạn năng, là tất cả, mà chỉ là phần chủ đạo, phần nhiều. Người viết:

“Ngủ thì ai cũng như lương thiện, 
Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ hiền. 
Hiền dữ đâu phải là tính sẵn, 
Phần nhiều do giáo dục mà nên” (3)”.

Để có những con người vừa “hồng” vừa “chuyên”, Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm việc xây dựng một nền giáo dục toàn diện và khẳng định: Nền giáo dục đó phải kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa đức dục, trí dục, thể dục, mỹ dục, nhằm đào tạo ra những con người có tri thức, có lý tưởng, có đạo đức, có sức khỏe, có thẩm mỹ. Người nói: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, lao động và sản xuất” (4). 
Trong hoàn cảnh đất nước thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược, vừa có chiến tranh, vừa có hòa bình, Hồ Chí Minh càng coi trọng vai trò của giáo dục. Người nói: “không có giáo dục, không có cán bộ, thì cũng không nói gì đến kinh tế, văn hóa” (5). Văn hóa, giáo dục là một mặt trận quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà. Theo Người, xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển sản xuất, phát triển khoa học kỹ thuật và giáo dục - đào tạo gắn bó chặt chẽ với nhau. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải tăng gia sản xuất. Muốn tăng gia sản xuất thì phải có kỹ thuật cải tiến. Muốn sử dụng kỹ thuật tốt thì phải có văn hóa. Người nhấn mạnh, nước nhà đang khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, mà muốn khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa cần phải đào tạo cán bộ, cán bộ phải có văn hóa làm gốc. Bởi muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có học thức, “chủ nghĩa xã hội cộng với khoa học chắc chắn sẽ đưa loài người đến hạnh phúc vô tận”. Con người được giáo dục toàn diện sẽ trở thành những con người mới - chủ nhân tương lai của đất nước, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh.

Đối với người cán bộ cách mạng, Hồ Chí Minh càng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của giáo dục, bởi cán bộ là cái gốc của mọi công việc, muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay cán bộ kém. Nội dung giáo dục cho cán bộ bao gồm: giáo dục lý luận chính trị; giáo dục văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ; giáo dục phong cách, đạo dức cách mạng.

Giáo dục lý luận chính trị có ý nghĩa rất quan trọng vì nó trang bị cho người học lập trường giai cấp vô sản vững chắc, tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, và định hướng cho hành động của con người. Hồ Chí Minh nói: Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi; “Không học lý luận thì chí khí kém kiên quyết, không trông xa thấy rộng, trong lúc đấu tranh dễ lạc phương hướng, kết quả là “mù chính trị”, thậm chí hủ hóa, xa rời cách mạng” (6).

Giáo dục văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ là rất cần thiết. Nếu không học tập văn hóa, không có trình độ văn hóa thì không thể tiếp thu khoa học kỹ thuật và chuyên môn nghiệp vụ. Nếu chỉ học văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ mà không học chính trị, thì như một mắt sáng một mắt mờ.

Giáo dục phong cách, đạo đức cách mạng là yêu cầu đầu tiên của người cán bộ, bởi có đạo đức cách mạng thì mới hy sinh tận tụy, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang.

Ngày nay, nhân loại đang bước vào một nền văn minh trí tuệ, một nền kinh tế tri thức, một xã hội thông tin. Thế giới đang trong cuộc chạy đua về tốc độ trong hệ thống kinh tế - xã hội. Vì vậy, người ta nói, muốn biết tương lai một dân tộc ra sao hãy nhìn vào hiện tại xem dân tộc đó đang làm giáo dục như thế nào? Trong nền kinh tế tri thức, ưu thế không hoàn toàn lệ thuộc vào các nhân tố truyền thống như tài nguyên, đất đai, nhân công,… mà nhân tố có ý nghĩa quyết định là trí tuệ con người, là đội ngũ lao động chất lượng cao, là chất xám của các chuyên gia. Việt Nam muốn “sánh vai với các cường quốc năm châu”, trước tiên phải làm tốt chiến lược “trồng người” theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ có đi bằng con đường phát triển giáo dục, phát triển năng lực sẵn có trong mỗi con người, chúng ta mới có thể đi tắt, đón đầu, phát huy thế mạnh của con người Việt Nam (yêu nước, ham học, thông minh, sáng tạo,…) để xây dựng và phát triển đất nước. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của giáo dục trong việc phát huy nhân tố con người là kim chỉ nam để Đảng và Nhà nước ta xây dựng đường lối giáo dục và đào tạo trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (năm 1991) đã xác định, cùng với khoa học công nghệ, “giáo dục là tương lai của dân tộc”, là “quốc sách hàng đầu”, đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và là một động lực đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới. Giáo dục là tương lai của dân tộc, tức là tương lai của con người, của mọi người, trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Hồ Chí Minh nói: “Muốn xã hội chủ nghĩa phải có người xã hội chủ nghĩa, muốn có người xã hội chủ nghĩa, phải có tư tưởng xã hội chủ nghĩa” (7). Trước hết ở đây là đào tạo, rèn luyện, xây dựng con người, là chiến lược “trồng người”, đồng thời phải tạo cơ sở vật chất kỹ thuật, tư tưởng, văn hóa - những tiền đề không thể thiếu được của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (năm 2001), Đảng ta một lần nữa khẳng định “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, “đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”, “phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” (8).

Sự nghiệp giáo dục của nước ta qua hơn hai mươi năm đổi mới đã thu được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện sứ mệnh nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Tuy nhiên, đến nay, giáo dục nước ta vẫn chưa thực sự trở thành “quốc sách hàng đầu”, động lực quan trọng nhất cho phát triển; thậm chí còn không ít hạn chế, yếu kém, nhất là về chất lượng giáo dục và công tác quản lý. Để có thể cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ sáu, khóa XI (tháng 10-2012) chủ trương “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo”, nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế./.
--------------------------------------

Chú thích:

(1), (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t. 4, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, tr. 7, 34 - 35;

(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 413;

(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 647;

(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập,Sđd, t. 10, tr. 345;

(6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 234;

(7) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 595;

(8) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nx. Chính trị quốc gia, H, 2001, tr. 108 - 109.

TS. Nguyễn Thị Kim DungViện Hồ Chí Minh
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Bàn thêm về khái niệm “hội nhập quốc tế” của Việt Nam trong giai đoạn mới
21:10' 4/12/2012
TCCSĐT - Để làm rõ hơn về nhận thức và những việc cần làm của các tổ chức, cá nhân theo tinh thần “tích cực và chủ động hội nhập quốc tế” của Đảng, rất cần  sự hiểu đúng về khái niệm “hội nhập quốc tế” phù hợp với nước ta trong giai đoạn mới.


Quan niệm về hội nhập

Về ngữ nghĩa, “hội nhập” có nguồn gốc từ “liên kết” (integration) với nghĩa chung nhất là hành động hoặc quá trình gắn kết các phần tử riêng rẽ với nhau; hợp chung các bộ phận vào một chỉnh thể (nhất thể, hợp nhất) và kết hợp các thành tố khác nhau lại (tụ hội, tụ nhóm).

Xét theo nghĩa đó, có thể thấy, từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, quá trình hội nhập quốc tế đã phát triển nhanh chóng trên nhiều lĩnh vực; diễn ra trên nhiều cấp độ: song phương, tiểu vùng, khu vực, liên khu vực và toàn cầu; thu hút hầu hết các nước trên thế giới. Mức độ hội nhập cũng ngày một sâu sắc và toàn diện hơn.

Ở cấp độ toàn cầu, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Liên hợp quốc và các tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc đã ra đời với số lượng thành viên bao quát hầu hết các nước trên thế giới. Kể từ năm 1995 tiến trình hội nhập về kinh tế, thương mại cũng dần dần được thúc đẩy với việc ra đời của Hiệp định chung về thương mại và thuế quan (GATT), sau đó được nối tiếp bằng Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Đến nay, WTO đã phát triển hệ thống “luật chơi” bao quát hầu hết các lĩnh vực trong quan hệ kinh tế giữa các thành viên và trở thành nền tảng của các thỏa thuận kinh tế khu vực khác trên thế giới.

Ở cấp độ khu vực, quá trình hội nhập bắt đầu từ những thập niên 50 thế kỷ XX và đặc biệt bùng nổ từ thập niên 90 đến nay. Hàng loạt tổ chức khu vực đã ra đời trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế. Tính đến tháng 5-2012, có 511 thỏa thuận mậu dịch khu vực (RTAs) đã được thông báo cho WTO(1). Bên cạnh đó, hàng trăm RTAs đang trong quá trình đàm phán. Đặc biệt, tiến trình hội nhập toàn diện trong Liên minh châu Âu (EU) đã đạt đến mức cao, biến tổ chức này trở thành một thực thể siêu quốc gia. Các nước trong Cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cũng đang tiến hành mở rộng và làm sâu sắc tiến trình hội nhập khu vực một cách toàn diện hơn thông qua xây dựng Cộng đồng ASEAN dựa trên ba trụ cột: Cộng đồng chính trị - an ninh, Cộng đồng kinh tế và Cộng đồng văn hóa - xã hội.

Bên cạnh đó, quá trình hội nhập còn được điều tiết bởi các hiệp định liên kết song phương, dưới dạng hiệp ước liên minh (chính trị, an ninh, quốc phòng), hiệp định đối tác chiến lược, hiệp định kinh tế - thương mại,... Từ cuối thập niên 90 đến nay, xu hướng ký kết các hiệp định song phương (FTA) phát triển đặc biệt mạnh. Hầu hết các nước đều đã ký hoặc đang trong quá trình đàm phán các FTA song phương. Có nước đã ký hoặc đàm phán tới hàng chục hiệp định FTA song phương, như Xin-ga-po, Thái Lan, Nhật Bản, Ố-xtrây-li-a,....

Về mặt lý luận, có nhiều cách tiếp cận về hội nhập quốc tế. Các lý thuyết về hội nhập được phát triển ban đầu chủ yếu để giải thích quá trình hội nhập của các nước châu Âu, do đây là khu vực bắt đầu hội nhập rất sớm. Lý thuyết về hội nhập kinh tế cho rằng, hội nhập kinh tế là quá trình gắn kết mang tính thể chế giữa các nền kinh tế lại với nhau;  lập luận rằng, các thị trường chung siêu quốc gia với việc di chuyển tự do các nhân tố kinh tế giữa các nước sẽ tạo ra nhu cầu tự nhiên phải hội nhập sâu hơn, không chỉ về kinh tế, mà còn cả chính trị(2). 

Các lý thuyết chính trị quốc tế cũng có một số cách tiếp cận về hội nhập quốc tế. Nhưng tựu trung, từ thực tiễn và lý luận về hội nhập quốc tế trên thế giới, có thể khái quát một số điểm chung nổi bật như sau:

Thứ nhất, hội nhập quốc tế bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế, nhưng không giới hạn ở đó, mà có thể diễn ra trên nhiều lĩnh vực. Thực tiễn trên thế giới cho thấy, quá trình hội nhập đã và đang diễn ra trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, từ kinh tế đến chính trị, quốc phòng - an ninh, văn hóa - xã hội và các lĩnh vực khác. Về lý luận, từ quan điểm biện chứng mác-xít, quốc tế hóa đời sống kinh tế sẽ dẫn tới quốc tế hóa đời sống trên các mặt khác, hình thành nên những chuẩn mực chung trong đời sống quốc tế trên mọi lĩnh vực.

Thứ hai, hội nhập quốc tế là quá trình không có giới hạn về thời gian. Điều đó có nghĩa hội nhập quốc tế là một quá trình liên tục trong quan hệ hợp tác giữa các nước, có thể đi từ thấp đến cao, từ trạng thái này đến trạng thái khác. Không có quốc gia nào có thể tuyên bố là đã “hoàn thành hội nhập”. Các nước châu Âu là những nước đi đầu trong hội nhập quốc tế, hiện nay vẫn tiếp tục quá trình hội nhập.

 Thứ ba, hội nhập quốc tế không chỉ diễn ra thông qua việc tham gia các cơ chế hợp tác đa phương mà còn trên nhiều bình diện. Về bản chất, hợp tác song phương, nếu dựa trên cơ sở các luật lệ và chuẩn mực chung thì cũng có đầy đủ tính chất của hội nhập quốc tế. Thậm chí, một số xu hướng phân tích gần đây còn mở rộng khái niệm hội nhập sang cả cấp độ quốc gia, tức là quá trình hội nhập bên trong của mỗi nước(3). Tuy nhiên, hội nhập bên trong nên được coi là một trong những “yếu tố nền tảng” với các chính sách đối nội và những biện pháp mà các nước tiến hành để thực hiện hội nhập quốc tế.

Thứ tư, bản chất của hội nhập quốc tế là quá trình xây dựng và áp dụng các luật lệ và chuẩn mực chung. Đây chính là đặc điểm phân biệt hội nhập quốc tế với các hoạt động hợp tác quốc tế khác, như trao đổi, tham vấn, phối hợp chính sách,... Nói cách khác, hội nhập là một hình thức hợp tác quốc tế ở trình độ cao, gắn với luật lệ và chuẩn mực chung giữa các nước.

Hội nhập quốc tế ở Việt Nam

Có thể nói quá trình hội nhập chính trị của nước ta thực tế đã bắt đầu từ khi Việt Nam trở thành thành viên Liên hợp quốc từ năm 1976. Thời điểm Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế có thể được tính khi nước ta gia nhập Hội đồng Tương trợ kinh tế (năm 1978), mặc dù các chuẩn mực và nguyên tắc hợp tác có nhiều khác biệt so với các cơ chế hợp tác quốc tế hiện nay. Tuy nhiên, quá trình phát triển tư duy của Đảng ta về hội nhập quốc tế thực chất chỉ bắt đầu cùng với sự nghiệp đổi mới được Đại hội VI (năm 1986) khởi xướng.

Đại hội VI của Đảng nhận định: Một đặc điểm nổi bật của thời đại là cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ, tạo thành bước phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất và đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa các lực lượng sản xuất”(4). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội do Đại hội VII thông qua năm 1991 khẳng định “Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, cùng với xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế thế giới là một thời cơ để phát triển”(5). Như vậy, cho đến Đại hội VII, khái niệm hội nhập chưa xuất hiện, nhưng nhận thức của Đảng ta về quá trình quốc tế hóa là các tiền đề quan trọng để phát triển tư duy về hội nhập quốc tế. Trong thời kỳ này, trên thực tế, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã bắt đầu diễn ra với việc Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) vào tháng 10-1993.

Thuật ngữ hội nhập bắt đầu được đề cập lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội VIII của Đảng (năm 1996): “Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả”(6). Trước khi khái niệm “hội nhập” được sử dụng chính thức, ở nước ta đã có một số thử nghiệm về ngôn ngữ liên quan tới khái niệm này. Lúc đầu là khái niệm “nhất thể hóa” được sử dụng, sau đó là khái niệm “hòa nhập”. Hai khái niệm này tuy thể hiện khá chính xác nội hàm, nhưng gây lo ngại về mất bản sắc và độc lập, do đó thuật ngữ “hội nhập” được sử dụng và trở thành khái niệm chính thức trong văn kiện của Đảng.

Chính trong giai đoạn này, hội nhập quốc tế của nước ta đã chính thức bắt đầu với việc gia nhập ASEAN (năm 1995), ký Hiệp định hợp tác khung Việt Nam - Ủy ban châu Âu dựa theo các chuẩn mực quốc tế (năm 1995), gia nhập Diễn đàn Hợp tác Á - Âu (ASEM) năm 1996, và Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) năm 1998. Cũng trong giai đoạn này, Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập WTO  (năm 1995), tuy quá trình đàm phán còn chậm và chưa được thúc đẩy mạnh mẽ.

Đến Đại hội IX (năm 2001), chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế tiếp tục được nhấn mạnh: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”(7). Tuy nhiên, quan điểm về hội nhập kinh tế quốc tế được thể hiện cụ thể nhất trong Nghị quyết số 07-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX (năm 2001) về hội nhập kinh tế quốc tế(8).

Giai đoạn này, hội nhập quốc tế của nước ta đã bắt đầu đi vào chiều sâu với việc ký kết Hiệp định Thương mại song phương với Hoa Kỳ năm 2001, đẩy nhanh đàm phán gia nhập WTO, thực hiện AFTA,...

Đại hội X (năm 2006) tái khẳng định chủ trương chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế và nêu định hướng “đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác”(9). Với định hướng này, hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, văn hóa, xã hội được đẩy mạnh, nhất là trong khuôn khổ các cơ chế hợp tác của ASEAN và do ASEAN làm chủ đạo. Tại Đại hội XI, Đảng ta đã có thêm một bước phát triển tư duy quan trọng với việc chuyển từ “hội nhập kinh tế quốc tế” sang “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”(10), tức là mở rộng phạm vi, lĩnh vực và tính chất của hội nhập.

Giai đoạn giữa Đại hội X và Đại hội XI có những thay đổi về chất trong hội nhập quốc tế với đỉnh cao là việc nước ta chính thức trở thành thành viên của WTO (năm 2007). Những năm sau đó, Việt Nam ký kết nhiều FTA song phương và khu vực, như Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện với Nhật Bản (JVEPA) năm 2008; Hiệp định khung về Đối tác và hợp tác toàn diện với EU (PCA) năm 2010; FTA với Chi-lê; FTA của ASEAN với các đối tác; bắt đầu đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) năm 2010. Cũng trong giai đoạn này, hợp tác quốc phòng - an ninh được mở rộng với việc tham gia một số cơ chế đối thoại về quốc phòng, như ADMM, ADMM+. Các bộ, ngành chức năng cũng đã tích cực mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực chuyên ngành, tham gia ngày càng nhiều hơn vào các tổ chức quốc tế và khu vực.

Tóm lại, từ năm 1986, cùng với quá trình đổi mới và mở rộng hợp tác với bên ngoài, tư duy của Đảng ta về hội nhập quốc tế đã liên tục phát  triển, các hoạt động hội nhập quốc tế, với hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm, cũng liên tục phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu. Có thể tổng hợp một số nét lớn như sau:

Thứ nhất, hội nhập quốc tế gắn liền với quá trình gia nhập các tổ chức quốc tế, tức là chấp nhận các luật lệ và chuẩn mực quốc tế chung. Điều này xuất phát từ thực tế là nước ta bị bao vây, cô lập, phải chủ động bình thường hóa quan hệ và gia nhập các tổ chức quốc tế. Cũng vì vậy, hội nhập quốc tế được nhìn nhận thiên về quá trình đàm phán gia nhập các tổ chức quốc tế, chấp nhận “luật chơi” quốc tế.

 Thứ hai, hội nhập quốc tế cũng được diễn ra trong quan hệ song phương. Ngoài các cấp độ đa phương, các văn kiện của Đảng cũng coi hợp tác song phương theo chuẩn mực chung là một phần của hội nhập quốc tế. Nghị quyết số 07-NQ/TW đã coi việc ký kết Hiệp định Thương mại với Hoa Kỳ là một nội dung của hội nhập kinh tế quốc tế. Nhiều văn kiện của Đảng nhấn mạnh các nội dung có tính chất hội nhập bên trong của nền kinh tế như biện pháp thực hiện hội nhập quốc tế. Trên thực tế, phần lớn các điều khoản của Hiệp định Thương mại với Hoa kỳ được xây dựng trên các quy định của WTO.

Thứ ba, hội nhập quốc tế khởi đầu đặt trọng tâm trong lĩnh vực kinh tế và sau đó mở rộng sang các lĩnh vực khác. Trên thực tế, hội nhập quốc tế ở nước ta đã diễn ra trên nhiều lĩnh vực. Trong giai đoạn đầu, các văn kiện của Đảng chỉ đề cập đến hội nhập kinh tế do đây là lĩnh vực trọng tâm. Đến các đại hội Đảng gần đây, hội nhập trong các lĩnh vực khác đã được định hướng ngày càng rõ hơn, xuất phát từ thực tế là hội nhập kinh tế đã tạo cơ sở để Việt Nam mở rộng hội nhập trên các lĩnh vực khác và hội nhập trên các lĩnh vực khác càng củng cố mức độ hội nhập kinh tế của nước ta.

Khái niệm và nội hàm của hội nhập quốc tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Những khảo sát về hội nhập trên thế giới và ở nước ta thời gian qua cho thấy có những điểm chung cả về quan niệm lẫn hành động của các chủ thể. Từ góc độ nhà nước, hội nhập quốc tế là quá trình một quốc gia tham gia các hoạt động chung của cộng đồng quốc tế theo các nguyên tắc, chuẩn mực mà cộng đồng quốc tế thừa nhận. Hội nhập quốc tế là yêu cầu có tính khách quan, theo đó các quốc gia tham gia các hoạt động của đời sống quốc tế trên hầu hết các lĩnh vực và ở các mức độ khác nhau do tác động của quá trình toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng. Nhưng việc lựa chọn lĩnh vực, mức độ và lộ trình hội nhập lại là quyết định chủ quan của từng quốc gia phù hợp với lợi ích và hoàn cảnh cụ thể mình. 

Xét từ hành động của các chủ thể tham gia hội nhập, hai yếu tố quan trọng nhất là: những hoạt động chung của cộng đồng quốc tế (các sân chơi chung) và những nguyên tắc, chuẩn mực của các hoạt động chung đó (các luật chơi chung). Nếu chỉ tham gia các hoạt động chung mà không tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực chung thì chưa được gọi là hội nhập. Ví dụ, khi mới gia nhập Hiệp ước Thuế quan có hiệu lực chung trong ASEAN (CEPT), Việt Nam chưa phải tuân thủ ngay và đầy đủ các điều khoản của Hiệp ước này, do vậy Việt Nam chưa thể được xem là đã hội nhập ASEAN. Ngược lại, một quốc gia thường phải tuân thủ các “luật chơi” của cộng đồng quốc tế khi đã tham gia các “sân chơi” mà cộng đồng quốc tế thiết lập, cũng như tham gia quá trình thay đổi, điều chỉnh “luật chơi” khi hoàn cảnh đòi hỏi. Có rất ít trường hợp ngoại lệ, theo đó các quốc gia tự hội nhập, chấp nhận hoàn toàn hoặc bị áp đặt “luật chơi” dù luật đó không có lợi cho họ.

Trong hơn 25 năm đổi mới vừa qua, chúng ta đã tiến khá xa trên con đường hội nhập quốc tế nhưng mức độ gắn kết mọi mặt giữa Việt Nam và cộng đồng quốc tế vẫn còn rất thấp. Nếu lấy tiêu chí của Hàn Quốc hay là Xin-ga-po để so sánh thì ở tất cả các lĩnh vực khoảng cách về hội nhập của Việt Nam so với các nước này vẫn còn rất xa. Trong phần lớn các lĩnh vực, nhất là về an ninh, quốc phòng, hội nhập của nước ta mới ở giai đoạn ban đầu.

Ít nhất trong vòng 1 thập niên tới, công việc chính trong quá trình hội nhập quốc tế của nước ta vẫn là thực hiện các cam kết quốc tế, trong đó chủ yếu là các cam kết về thực hiện những chuẩn mực mà chúng ta đã chấp nhận khi gia nhập. Song song với quá trình này là các hoạt động cùng các nước thành viên xây dựng các chuẩn mực mới. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, nhất là hạn chế về thế và lực, mức độ tham gia của nước ta trong các hoạt động này sẽ tiếp tục ở mức thấp. Để góp phần làm rõ các nhiệm vụ phải làm trong quá trình hội nhập quốc tế, có thể hiểu thực chất hội nhập quốc tế của nước ta trong thời gian tới như sau: “Hội nhập quốc tế là hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế, là quá trình chủ động chấp nhận, áp dụng và tham gia xây dựng các luật lệ và chuẩn mực quốc tế nhằm phục vụ tối đa lợi ích quốc gia, dân tộc”.

Về bản chất, có thể coi hội nhập quốc tế chính là một hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế. Hợp tác quốc tế là quá trình các nước giao lưu hoặc hành động cùng nhau để đạt được một mục tiêu, lợi ích nào đó. Có thể chia hợp tác quốc tế thành ba mức độ cơ bản, là: 1- Trao đổi, tham vấn; 2- Phối hợp chính sách, triển khai hoạt động phối hợp và thực hiện các dự án chung; 3- Xây dựng, áp dụng luật lệ, chuẩn mực chung. Mức độ thứ 3 là điểm trùng giữa hợp tác quốc tế và hội nhập quốc tế. Nói rộng ra, hội nhập quốc tế bao hàm việc chấp nhận, tham gia xây dựng và thực hiện các chuẩn mực quốc tế, bao gồm: các thể chế, luật lệ, tập quán, nguyên tắc và tiêu chuẩn chung được chấp nhận rộng rãi. Các chuẩn mực này có thể được hình thành từ quá trình hợp tác quốc tế, thông qua những hiệp định, thỏa thuận giữa các nhà nước hoặc các chuẩn mực, tập quán được đặt ra bởi các tổ chức, hiệp hội phi chính phủ được những tổ chức, cá nhân trên thế giới chấp nhận rộng rãi.

Về mục tiêu, hội nhập quốc tế cũng như các hình thức hợp tác quốc tế khác đều vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Các nước tham gia quá trình này cơ bản vì thấy có lợi cho đất nước. Do đó, việc tham gia phải dựa theo một số tiêu chí với mức độ và lộ trình phù hợp.

Về hình thức, hội nhập quốc tế bao gồm các hoạt động: 1-Thúc đẩy quan hệ song phương dựa trên các chuẩn mực quốc tế chung; 2- Gia nhập các tổ chức quốc tế, các cơ chế hợp tác quốc tế; 3- Xây dựng các luật lệ và chuẩn mực; 4- Thực hiện các luật lệ, chuẩn mực, các hoạt động chung ở phạm vi quốc tế và quốc gia.

Về lĩnh vực hội nhập, quá trình hội nhập diễn ra trong mọi lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế, quốc phòng - an ninh, đến các lĩnh vực khác. Hội nhập trên các lĩnh vực này có mối liên hệ hữu cơ mật thiết, đan xen, tác động qua lại lẫn nhau. Thông thường, kinh tế thường là lĩnh vực đi đầu và là cơ sở vững chắc cho hội nhập trong các lĩnh vực khác. Đồng thời, hội nhập trong các lĩnh vực khác cũng tạo ra một môi trường thuận lợi cho hội nhập kinh tế.

Về chủ thể, cả nhà nước và các chủ thể phi nhà nước đều tham gia quá trình hội nhập, tạo nên một sự đan xen nhiều cấp độ, tầng nấc trong hội nhập quốc tế. Trong các lĩnh vực chính trị và quốc phòng - an ninh, chủ thể chính là nhà nước và các lực lượng chính trị. Tuy nhiên, trong kinh tế, văn hóa, xã hội và nhiều lĩnh vực khác, vai trò của các chủ thể phi nhà nước, như doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, đoàn thể và người dân là rất quan trọng./.

Xét từ nhiều góc độ, quá trình hội nhập quốc tế của nước ta đã bắt đầu từ lâu. Trong các văn kiện của Đảng ta không nêu khái niệm, nội hàm của hội nhập, nhưng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước liên quan đến hội nhập quốc tế thể hiện rõ cách tiếp cận phù hợp với xu hướng chung của khu vực và thế giới, cũng như đặc thù của nước ta. Việc thực hiện chủ trương đó đã đem lại nhiều thành tựu quan trọng.

Tuy nhiên, cho đến nay, trong các văn kiện chính thức của Đảng chưa có định nghĩa rõ về khái niệm hội nhập quốc tế, nội hàm của hội nhập trong từng lĩnh vực. Trong giới nghiên cứu và hoạch định chính sách ở nước ta cũng còn nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này. Hiện mới có một số tác giả nước ta đưa ra định nghĩa hội nhập quốc tế, song phần lớn các định nghĩa này tiếp cận hội nhập ở góc độ mục tiêu cuối cùng: xác lập vị trí trong nền chính trị, kinh tế, văn hóa toàn cầu và nền văn minh nhân loại; tăng cường sự gắn kết trên cơ sở chia sẻ lợi ích, nguồn lực.

-----------------------------------------

(1) WTO (2011), Regional Trade Agreements, website: www.wto.org/english/tratop_e/region_e/region_e.htm, truy cập ngày 13-5-2012

(2) Balassa, В. (1967), “Trade Creation and Trade Diversion in the European Common Market”, The Economic Journal, vol. 77, pp. 1-21

(3) Gill, I. and Kharas, H. (2007), An East Asian Renaissance: Ideas for Economic Growth, The World Bank, Washington DC

(4) Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008, tr. 27

(5), (6), (7) Văn kiện Đại hội đã dẫn, tr. 230, 342, 483

(8) Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27-11-2001 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế, website: www.cpv.org, truy cập ngày 13-5-2012

 (9) Văn kiện Đại hội đã dẫn, tr. 651

(10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội,  2011, tr. 236

Đặng Đình QuýGiám đốc Học viện Ngoại giao

Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để tạo chuyển biến cơ bản trong giáo dục Việt Nam
22:28' 13/8/2012
TCCSĐT - Trong điều kiện chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, nền giáo dục Việt Nam đang có những cơ hội, nhưng cũng gặp phải không ít thách thức. Đây là thời điểm cực kỳ quan trọng cần được tận dụng triệt để nhằm tiếp tục đổi mới hệ thống giáo dục Việt Nam theo xu hướng chung của thế giới.


Một số vấn đề chung về chủ động và tích cực hội nhập quốc tế

Tính chủ động trong hội nhập là trạng thái của chủ thể tiếp nhận tác động hội nhập để vận động với lộ trình tối ưu theo mục tiêu đặt ra. Tính chủ động thể hiện ở việc chủ thể xác định rõ ràng, phù hợp và đúng thời điểm mục tiêu cần đạt được, xây dựng chiến lược, kế hoạch và chương trình cụ thể để bảo đảm tiến trình vận hành hiệu quả của tổ chức, cá nhân, ngành, địa phương và quốc gia trong cả thời kỳ dài cũng như từng khoảng thời gian nhất định. Đồng thời, tính chủ động còn thể hiện ở việc đổi mới đồng bộ bên trong, chuẩn bị kỹ lưỡng các tiền đề và điều kiện để đón nhận cơ hội và sẵn sàng thích nghi với thách thức. Việc dự báo trước tình hình, nghiên cứu kỹ lưỡng những yêu cầu và tính phức tạp của hội nhập, lường tính trước rủi ro, khó khăn và thách thức, chuẩn bị các nguồn lực để thích nghi với tình hình là sự thể hiện cụ thể của tính chủ động. Tính chủ động trong hội nhập còn được bộc lộ ở năng lực tự chủ, độc lập trong suy nghĩ và hành động, sự sáng tạo và nhạy bén, khả năng đi trước và đón đầu, tính tiên phong và kịp thời, mức độ khẩn trương, khả năng kết nối quan hệ của các chủ thể trong quá trình phát triển khi xuất hiện đủ các yếu tố cần thiết. Động lực thúc đẩy việc gia tăng tính chủ động trong hội nhập là những khoản lợi ích to lớn, thậm chí vô tận do hội nhập mang lại và khả năng giảm thiểu sự tụt hậu để tạo bước phát triển đột phá. Tính chủ động còn cho thấy khả năng lường trước được các loại rủi ro trong hội nhập để phòng ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu đến mức tối đa.  

Tính tích cực trong hội nhập là khía cạnh thể hiện khả năng tạo ra những tác động tích cực và lâu dài trong quá trình hội nhập của các chủ thể quốc gia, ngành, tổ chức, cơ sở hoặc cá nhân. Tính tích cực còn phản ánh ở việc các chủ thể triệt để tiếp nhận và khai thác tác động tích cực đồng thời với việc sàng lọc, loại bỏ các tác động tiêu cực của hội nhập để chuyển hoá tác động tích cực thành nội lực phát triển lâu dài, giảm thiểu thậm chí làm vô hiệu hoá các tác động tiêu cực, tận dụng mọi cơ hội để vượt qua thách thức. Các tác động tích cực của hội nhập có thể thấy ở việc tiếp cận kịp thời và nhanh chóng các nguồn lực tiên tiến về công nghệ, nguồn nhân lực, nguồn vốn và động lực vận động của nền kinh tế toàn cầu để mở rộng thị trường, đổi mới sự vận hành, cải thiện năng lực cạnh tranh… và những lợi thế so sánh được bộc lộ. Đồng thời, tính tích cực còn thể hiện ở việc các chủ thể chủ động huy động triệt để mọi nguồn lực, dồn hết “tâm trí và sức lực” đạt mục tiêu đặt ra trong hội nhập với những ràng buộc ngặt nghèo về điều kiện thực hiện cả bên trong và bên ngoài. Tính tích cực còn đòi hỏi mức độ thường xuyên và liên tục, không gián đoạn hoặc chần chừ, do dự của các chủ thể trong khai thác các nguồn lực để phục vụ mục tiêu đặt ra đặc biệt là sự nắm bắt nhanh nhạy các cơ hội xuất hiện. Tính tích cực là một trạng thái có lợi để chủ thể đưa ra những dự báo hoặc những kịch bản lạc quan nhằm đầu tư nhiều hơn cho tương lai và là động lực thúc đẩy chủ thể luôn luôn năng động, nhạy bén và kịp thời trong suy nghĩ và hành động. Tính tích cực còn phản ánh cả tính trách nhiệm và mức độ toàn diện của quá trình hội nhập. Trong trường hợp môi trường trong nước và quốc tế vận động khó lường, tính tích cực còn thể hiện mức độ sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm của các quyết định được đưa ra của các chủ thể.        

Giữa tính chủ động và tích cực trong hội nhập có mối quan hệ qua lại và bổ sung cho nhau. Sự tương tác qua lại giữa chúng tạo nên trạng thái của chủ thể và định vị giá trị của chủ thể trong hệ thống giá trị của hội nhập trong đó chủ động là điều kiện cần để định hình nhanh chóng và đúng mục tiêu cần đạt được trong sự ràng buộc của vị thế và quan hệ, còn tích cực là điều kiện đủ để đạt được mục tiêu. Tính chủ động phản ánh tổng thể mức độ nhận thức về lợi ích thu được từ hội nhập, còn tính tích cực phản ánh năng lực hành động của các chủ thể để triệt để khai thác các khoản lợi ích được nhận thức, và để sự chủ động được hiện thực hoá. Quá trình hội nhập quốc tế càng sâu sắc và toàn diện càng thúc đẩy tính chủ động và tích cực của các chủ thể. Tiếp đến, việc gia tăng tính chủ động và tích cực hội nhập góp phần làm tăng thêm mức độ hội nhập tích cực. Hay nói cách khác, hội nhập quốc tế vốn là một quá trình mang bản chất chủ động và tích cực. Giữa tính tích cực và chủ động có những yếu tố chung và tính chủ động phản ánh cả trạng thái tích cực cũng như tính tích cực phản ánh trạng thái chủ động. Cả hai thuộc tính này đặt ra yêu cầu phải có sự sàng lọc và lựa chọn kỹ lưỡng các tác động trong hội nhập để bảo đảm hiệu quả cao nhất. Hội nhập chủ động và tích cực góp phần thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục ở phạm vi rộng hơn và quy mô lớn hơn.

Hệ thống giáo dục Việt Nam cần chủ động và tích cực hội nhập quốc tế

          Kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, nền giáo dục Việt Nam có nhiều tiến bộ vượt bậc cả về quy mô, chất lượng và hiệu quả. Cơ quan quản lý giáo dục đã được thống nhất giữa Bộ Giáo dục với Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp thành Bộ Giáo dục và Đào tạo. Giáo dục Việt Nam có tính chất của một “nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng”. (Điều 3, Luật Giáo dục). Đồng thời, nền giáo dục Việt Nam vận hành dựa trên nguyên lý cơ bản “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường gắn liền với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” (Điều 3, Luật Giáo dục). Tính chất và nguyên lý cơ bản của nền giáo dục Việt Nam cho thấy nền giáo dục Việt Nam là một nền giáo dục mang bản chất nhân văn và giai cấp sâu sắc. Đồng thời, đây là một nền giáo dục có những đặc thù Việt Nam, có tính kế thừa và tiếp nhận những giá trị dân tộc và nhân loại. Tuy nhiên, đối với Luật Giáo dục trước năm 2010, vấn đề hội nhập quốc tế trong giáo dục chưa được đề cập thoả đáng, mặc dù đây là một vấn đề không thể thiếu đối với sự phát triển đất nước. Sau khi sửa đổi, Luật Giáo dục 2010 đã bổ sung khía cạnh này là “Chương trình giáo dục… phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế” (Điều 6, Luật Giáo dục). Điều này cho thấy quá trình ban hành các quy định pháp luật về hội nhập giáo dục còn chậm hơn so với những thay đổi và yêu cầu của thực tiễn nếu chưa nói là còn thụ động và thiếu tích cực mặc dù chủ trương “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới” đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rõ kể từ Đại hội VI (1986).

Bên cạnh các trường công lập tại Việt Nam còn có trường ngoài công lập như bán công, dân lập, tư thục… và các chi nhánh của các cơ sở đào tạo nước ngoài mở tại Việt Nam hoặc các chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài kể cả những chương trình đào tạo được Việt Nam đưa ra nước ngoài thực hiện. Về số cơ sở đào tạo đại học và trên đại học, Việt Nam đã có tới con số khoảng 300 đó là chưa kể đến các cơ sở đào tạo hay chương trình đào tạo liên kết với nước ngoài tại Việt Nam của các đối tác châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản... Số lượng các trường công lập tăng nhanh hơn so với trường ngoài công lập thể hiện phần đầu tư của nhà nước đối với giáo dục có sự tăng lên đáng kể, đó cũng là những thành công bước đầu của chủ trương xã hội hoá giáo dục. Tuy nhiên, số lượng các chi nhánh hoặc các cơ sở giáo dục nước ngoài hoạt động tại Việt Nam chưa được thống kê và công bố chính thức cũng như số lượng học sinh, sinh viên Việt Nm đi làm việc, đầu tư, kinh doanh hoặc học tập, đào tạo và nghiên cứu ở nước ngoài cũng chưa được chính thức thống kê đầy đủ và công bố rộng rãi.

Hệ thống giáo dục Việt Nam những năm gần đây có nhiều chuyển biến quan trọng cả về chương trình, nội dung, phương pháp giảng dạy, số lượng và chất lượng cũng như quy mô, tính liên thông với nền giáo dục thế giới và có không ít cơ sở đào tạo có định hướng đạt đẳng cấp quốc tế. Nhiều chương trình đào tạo từ các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến đã được đưa vào Việt Nam.

Hệ thống giáo dục Việt Nam thường chịu tác động của những hoạt động mang tính phong trào. Trong kháng chiến có phong trào “tiếng hát át tiếng bom”, phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt”. Trong quá trình hội nhập, phong trào “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” và “Nói không với đào tạo không đạt chuẩn và không đáp ứng nhu cầu xã hội”. Những phong trào này nhằm mục đích “chặn đứng” quán tính suy giảm chất lượng giáo dục, đặc biệt là xu hướng không bảo đảm chất lượng thực chất có khả năng để lại những hệ luỵ lâu dài đối với xã hội...Tuy nhiên, những phong trào này vẫn  chưa đem lại cách tiếp cận mới mang tính cơ bản đối với hệ thống giáo dục Việt Nam trong hội nhập, đặc biệt bệnh thành tích gần như mang tính “thâm căn, cố đế”.

Nhiều cơ sở đào tạo đã chủ động liên kết với nước ngoài để cung ứng dịch vụ giáo dục theo tiêu chuẩn quốc tế cả dạy nghề, cao đẳng, đại học và sau đại học…bằng các kênh xây dựng chương trình, hoàn thiện nội dung, đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, các hoạt động hội thảo khoa học, phối hợp nghiên cứu đào tạo, trao đổi sinh viên… Chương trình 322 của Bộ Giáo dục và Đào tạo:  “Đào tạo cán bộ khoa học – kỹ thuật ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước” bắt đầu từ năm 2000 đã mang lại những kết quả bước đầu đối với việc nâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên theo những tiêu chuẩn quốc tế… Nhiều học sinh, sinh viên nước ngoài đã đến học tập tại Việt Nam nhưng chủ yếu tập trung vào các môn khoa học xã hội.

Cơ sở vật chất của các cơ sở đào tạo đã được đầu tư nâng cấp theo hướng phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế với chủ trương xã hội hoá giáo dục và sự phát triển kinh tế nhiều thành phần, mở cửa thị trường dịch vụ giáo dục trong Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Các cam kết của Việt Nam đã cho phép các cơ sở và giáo viên nước ngoài tham gia giảng dạy ở Việt Nam. Thậm chí việc nhà đầu tư nước ngoài được phép đầu tư với dự án trong dịch vụ giáo dục với tỷ lệ sở hữu 100%. Nhiều chương trình tiên tiến được đưa vào các cơ sở đào tạo và đạt được những kết quả khả quan nhờ các tác động về mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp và sản phẩm của quá trình đào tạo.

Như vậy, quá trình hội nhập quốc tế trong giáo dục của Việt Nam thời gian qua tạo khả năng so sánh, đối chiếu giữa hệ thống giáo dục Việt Nam với các nước có nền giáo dục phát triển cao về chương trình, nội dung, giáo trình, tư liệu, thông tin, dữ liệu, phương pháp giảng dạy. Hội nhập tạo điều kiện để đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp, giáo trình, cập nhật thông tin, tư liệu, thiết bị… của hệ thống giáo dục Việt Nam với thế giới. Đây là căn cứ để đánh giá khách quan hơn thực trạng hệ thống giáo dục trước những yêu cầu khắt khe của hội nhập và mục tiêu tạo khâu đột phá để cải thiện năng lực cạnh tranh quốc gia; là căn cứ để hoàn thiện tổng thể hệ thống giáo dục Việt Nam bằng cách chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Lộ trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của giáo dục Việt Nam

“Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam… Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế…”(1). Việc đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả tăng trưởng, đưa Việt Nam về cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 đòi hỏi phải có hệ thống giáo dục tương xứng.

Ở Việt Nam, sự nghiệp giáo dục và đào tạo là sự nghiệp “trồng người” cho nên cần có một khoảng thời gian dài để đạt mục tiêu đặt ra và điều này có thể kéo dài tới trăm năm như Bác Hồ đã dạy “Vì lợi ích trăm năm trồng người”. Trước mắt, việc đầu tư giáo dục để giải tỏa một trong 3 điểm “nghẽn” của tăng trưởng kinh tế cần được ưu tiên hàng đầu là nguồn nhân lực chất lượng cao và điều này có tác động lâu dài cũng như có khả năng lan tỏa đến nhiều lĩnh vực. Hội nhập chủ động và tích cực cần có lộ trình cụ thể để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện ràng buộc chặt chẽ về thời gian và nguồn lực với tầm nhìn dài hạn. Phương châm hội nhập chủ động và tích cực là “kết hợp đồng thời đổi mới quyết liệt và tái cấu trúc hệ thống giáo dục theo tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế để phục vụ mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá”. Theo cách xem xét đó, lộ trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của giáo dục Việt Nam bao gồm các giai đoạn có mối quan hệ qua lại với tầm nhìn ít nhất là 30 năm.

Giai đoạn 2011-2020: Thực hiện đổi mới quyết liệt và tái cấu trúc hệ thống giáo dục, trước hết với các trường trọng điểm quốc gia thuộc các cấp đào tạo theo những tiêu chuẩn và thông lệ của các trường có đẳng cấp trung bình trong khu vực và tạo tiền đề để tiến đến tiêu chuẩn quốc tế. Đây là giai đoạn rất cần sự học hỏi kỹ lưỡng và sàng lọc cẩn thận kinh nghiệm quốc tế về chương trình, nội dung, giáo trình, tư liệu, dữ liệu, phương pháp giáo dục và phương pháp tổ chức hệ thống giáo dục. Khuyến khích các cơ sở giáo dục sử dụng các chương trình giáo dục tiên tiến và ứng dụng những nghiên cứu mới trong giáo dục vào thực tiễn. Cần coi trọng hơn nữa công tác xã hội hoá giáo dục và đề cao tính tự chủ của các cơ sở đào tạo với cơ chế huy động nguồn lực và sàng lọc nghiêm ngặt, chặt chẽ chất lượng giáo dục để tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng. Đây cũng là giai đoạn vừa từng bước chuẩn bị đội ngũ giáo viên đạt trình độ cao theo tiêu chuẩn quốc tế, vừa chuyển đổi triệt để chương trình, nội dung, phương pháp… theo hướng hội nhập quốc tế chủ động và tích cực. Các chiến lược, chính sách và quy định cần được bổ sung, hoàn thiện theo những tiêu chuẩn khu vực và định hướng đến tiêu chuẩn và đẳng cấp quốc tế. Lấy mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và chuyển đổi mô hình tăng trưởng làm ưu tiên hàng đầu đối với lĩnh vực giáo dục.

Giai đoạn 2021-2030: Thực hiện việc đổi mới và tái cấu trúc cả hệ thống giáo dục trong đó những cơ sở giáo dục đạt đẳng cấp trung bình cần vươn lên tiếp cận đến đẳng cấp quốc tế còn các cơ sở giáo dục khác cần có sự đổi mới và tái cấu trúc theo hình mẫu của các trường điểm hoặc trọng điểm đã thực hiện thành công mục tiêu vươn tới đẳng cấp quốc tế. Đây là giai đoạn cần có sự huy động nguồn lực lớn cả từ phía Nhà nước, xã hội, nhà đầu tư trong và ngoài nước… Khuyến khích các cơ sở giáo dục thu hút người học từ nước ngoài và tỷ lệ học sinh, sinh viên quốc tế ở những cơ sở đào tạo đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế cần chiếm tỷ lệ khoảng 30-35% và đây được coi như là tiêu chuẩn kiểm định cao nhất sự thành công của quá trình đổi mới quyết liệt và tái cấu trúc toàn diện cơ sở giáo dục. Có một số cơ sở giáo dục có thể tham gia vào mạng lưới các trường đại học có danh tiếng trong khu vực và thế giới hoặc tham gia trực tiếp vào quá trình cạnh tranh quốc tế về giáo dục như thu hút giáo viên giỏi, học sinh và sinh viên xuất sắc về học tập, nghiên cứu... Biên soạn, phát triển các loại sách giáo khoa, giáo trình, sách tham khảo và chuyên khảo, cơ sở dữ liệu đạt đẳng cấp khu vực và tiến tới tiêu chuẩn quốc tế, tiến tới “xuất khẩu” các loại tài liệu và dữ liệu này hoặc cung ứng dịch vụ giáo dục đạt đẳng cấp quốc tế.  

Giai đoạn 2031-2040: Tiếp tục quá trình đổi mới và tái cấu trúc hệ thống giáo dục để hình thành được một số cơ sở giáo dục đạt đẳng cấp cao trong khu vực và thế giới với những thành công trong nghiên cứu và đào tạo đội ngũ sinh viên có vị trí quan trọng trong bộ máy quản lý, hệ thống chính trị, các doanh nghiệp, tập đoàn kinh doanh, cơ sở nghiên cứu… Hình thành được đội ngũ chuyên gia đầu ngành để tăng khả năng thu hút nhân tài của các nước và thúc đẩy giao lưu đào tạo giữa Việt Nam với các nước. Xây dựng được một số cơ sở đào tạo và nghiên cứu các chuyên ngành có tính đặc thù và bản sắc độc đáo của Việt Nam có khả năng là điểm đến cũng như điểm thu hút mạnh các nhà khoa học đầu ngành hoặc có danh tiếng, nhà giáo dục và sinh viên chất lượng cao… của khu vực và thế giới đến để hợp tác và làm việc lâu dài./.  



(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 77

Nguyễn Thường LạngPGS, TS, Trường Đại học Kinh tế quốc dân
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Đổi mới chính sách về giáo dục, nâng cao dân trí và phát triển nguồn nhân lực vùng đặc biệt khó khăn để giảm nghèo bền vững
16:21' 7/2/2011


TCCS - Để phát triển kinh tế - xã hội trước hết cần quan tâm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Giáo dục là nhân tố hàng đầu để tạo ra nguồn nhân lực ấy. Và, nó cần được vun đắp ngay từ các bậc học cơ bản đầu tiên trong cải cách giáo dục, nhất là đối với vùng đặc biệt khó khăn.

Giáo dục là nhân tố quan trọng hàng đầu trong việc hình thành và phát triển nguồn nhân lực, nhất là đối với các vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn, nơi mà nguồn nhân lực cần được chú trọng vun đắp ngay từ các bậc học thuộc hệ giáo dục cơ bản để giảm nghèo bền vững cho tương lai.

Thực trạng giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn

Trong một khảo sát tại 3 vùng: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ năm 2009 cho thấy vẫn còn nhiều rào cản hạn chế khả năng tiếp cận cơ hội học tập cho trẻ em gia đình nghèo. Nhóm gia đình có mức sống khá giả nhất chi cho giáo dục nhiều gấp gần 11 lần so với nhóm nghèo nhất. Đối với những hộ càng nghèo, thì việc chi cho giáo dục của con em họ càng là gánh nặng đối với ngân sách gia đình.(1) Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, ở Việt Nam, hằng năm, có khoảng 3,6% số học sinh trong độ tuổi không được đến trường. Tỷ lệ học sinh ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nạn bỏ học cao hơn so với các vùng kinh tế trọng điểm và các khu đô thị (ở đồng bằng sông Hồng, tỷ lệ học sinh bỏ học là 2,96%; khu vực Tây Bắc 6,91%; Tây Nguyên l7,16% và đồng bằng sông Cửu Long 12,64%). Ở các vùng núi cao, số trẻ em gái không biết chữ ở nhóm 10 tuổi là 13,69%, 11 - 14 tuổi là 7,98%, 15 - 17 tuổi là 9,08%. Nếu tính theo nhóm dân tộc thì số trẻ em gái mù chữ người Mông là 90%, Hà Nhì 89%, Gia Rai 83%, Ba Na 82%(2).

Mô hình trường bán trú là mô hình nổi trội tại các vùng đặc biệt khó khăn nhưng có đến 82,81% số trường chưa có giường nằm; 92,19% số trường chưa có nhà vệ sinh, nhà tắm; 84,38% số trường chưa có nguồn nước sạch. Đợt khảo sát thực trạng giáo dục 9 dân tộc rất ít người(3) sinh sống ở các vùng đặc biệt khó khăn của Vụ Giáo dục - Dân tộc, Bộ Giáo dục và Đào tạo (từ tháng 3 đến tháng 6-2009), cho thấy: trình độ văn hóa chung của con em đồng bào nhóm dân tộc rất ít người này số người mù chữ, tái mù chữ, thất học chiếm tỉ lệ cao như: dân tộc Cống chiếm 70,3%, Si La 73%..., tỷ lệ người biết tiếng phổ thông chỉ khoảng 15%. Tính đến năm 2007, mới chỉ có 29 học sinh thuộc các dân tộc rất ít người được cử tuyển vào các trường đại học, cao đẳng. Dân tộc Brâu chưa có người nào đạt trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên.

Một khảo sát mới nhất năm 2010, tại 20 bản dân tộc Mảng sinh sống, chỉ 7 bản có phòng học kiên cố và bán kiên cố, còn lại là nhà tạm. ở nhiều thôn, bản vùng đồng bào dân tộc Cờ Lao, Bố Y, Pu Péo tại tỉnh Hà Giang, dân tộc Cống, Mảng tại tỉnh Lai Châu, phòng học mầm non hầu hết ở dạng bán kiên cố và nhà tạm. Đội ngũ giáo viên thiếu và còn hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, hoặc nếu đủ về số lượng thì lại mất cân đối, thiếu đồng bộ về môn học, rất ít người biết tiếng dân tộc; học sinh lại không thông thạo tiếng Việt, dẫn đến việc giao tiếp và giảng dạy giữa thầy và trò rất thấp.

Những hạn chế trong một số chính sách về giáo dục đối với người dân tộc thiểu số thuộc vùng đặc biệt khó khăn

Chính sách cho giáo dục vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn hiện đang thực hiện đã bộc lộ nhiều bất cập, một số chính sách chỉ mang tính giải quyết tình thế là chính, chưa đáp ứng yêu cầu hình thành chiến lược lâu dài hướng tới tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao đủ khả năng giải quyết triệt để vấn đề giảm nghèo bền vững.

Năm học 2009 - 2010, toàn quốc có 294 trường phổ thông dân tộc nội trú (tăng 9 trường so với năm học trước) và 1.736 trường bán trú. Có khoảng 70.000 học sinh được hưởng học bổng chính sách. Việc mở thêm cấp trung học phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện và các trường thuộc Trung ương đã tạo thêm cơ hội để nhiều học sinh các dân tộc thiểu số được học cấp trung học phổ thông nhưng lại tạo ra sự chồng chéo trong đào tạo hệ dự bị đại học của các trường thuộc Trung ương. Hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú phát triển quy mô không đồng đều. Trong khi có nhiều trường quy mô vượt quy định thì có trường lại chưa đạt. Năm học 2006 - 2007, khoảng 39% số trường phổ thông dân tộc nội trú cấp tỉnh và 25% trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện vượt quy mô tối đa (như An Giang: 686 học sinh, Nghệ An: 557 học sinh, Hòa Bình: 532 học sinh...). Nhiều trường có quy mô dưới tối thiểu (trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Hậu Giang: 176 học sinh, Bà Rịa -Vũng Tàu: 188...).

- Thực hiện Luật Giáo dục, Chính sách ưu tiên cử tuyển học sinh, sinh viên vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp ở một số địa phương thường xuyên không đạt chỉ tiêu, nhất là các dân tộc thiểu số sinh sống ở các vùng đặc biệt khó khăn rất thiếu cán bộ như La Chí, Hà Nhì...

Sự phối hợp giữa chính quyền các cấp với Bộ Giáo dục và Đào tạo chưa chặt chẽ nên cơ cấu ngành nghề được đào tạo cử tuyển chưa phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Nhiều nơi nảy sinh các sai sót trong việc cử tuyển, “lách luật” để giành chỉ tiêu đào tạo như: thay đổi địa chỉ cư trú, thay đổi thành phần dân tộc để được xét cử tuyển. Tình trạng một bộ phận sinh viên diện cử tuyển đã phá bỏ cam kết để tìm việc ở thành phố, ngược lại, có địa phương cử học sinh đi học khi trở về lại không nhận, không sử dụng hết nguồn cán bộ đã được đào tạo dẫn đến lãng phí.

Ngoài ra còn những bất cập khác như sự trói bó vì phải qua nhiều tục phiền toái, cứng nhắc về hành chính nên ở nhiều xã đặc biệt khó khăn không bảo đảm chất lượng và không đủ nguồn(4) cử tuyển.

Chính sách ưu tiên điểm đối với thí sinh thi tuyển đầu vào các trường đại học, cao đẳng được quy định theo Quy chế Tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy. Câu hỏi đặt ra là chính sách cộng thêm điểm có làm giảm chất lượng đầu vào và tạo ra tâm lý ỷ lại vào Nhà nước?! Vì thế, nên chăng thay bằng việc hoàn thiện chính sách dự bị đại học, tăng số năm học phổ thông cho học sinh thuộc diện được cử tuyển để nâng chất lượng đầu vào các trường cao đẳng, đại học?

- Chính sách hỗ trợ sinh hoạt phí đối với học sinh dân tộc bán trú địa bàn các xã đặc biệt khó khăn cũng có một số hạn chế như: thời gian thực hiện chính sách ngắn, chưa đủ để tạo ra hiệu quả xã hội. Năm học hằng năm bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vào tháng 5 năm sau. Nhưng theo Quyết định số 112/2007/QĐ-TTg, thì thời gian thực hiện chính sách hỗ trợ chỉ tính “từ tháng 9 năm 2007 đến hết tháng 5 năm 2010”. Đối tượng được thụ hưởng 3 niên học (2007 - 2008, 2008 - 2009 và 2009 - 2010). Năm 2010 là năm kết thúc thời hiệu nhiều chính sách giai đoạn 2006 - 2010, nếu thực hiện như Quyết định số 112/2007/QĐ-TTg thì 4 tháng còn lại của năm 2010 sẽ là một trở ngại lớn, học sinh rất dễ bỏ học.

Mức hỗ trợ học sinh bán trú theo học tại các trường phổ thông là 140.000 đồng/tháng/người x 9 tháng/năm. Trong thực tế mô hình trường phổ thông bán trú chỉ tập trung ở khu vực miền núi phía Bắc, duyên hải miền Trung, các tỉnh Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, lượng học sinh bán trú được hưởng chính sách này rất ít do các em phải lao động giúp gia đình nên không dám theo học. Hơn nữa, dù có khoản trợ giúp nhưng hằng tháng vẫn phải chi phí thêm. Những hộ nghèo nhất không thể cấp thêm tiền nên đành cho con học tại các trường khác. Việc điều chỉnh mức học bổng chính sách theo Quyết định số 82/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ chỉ được áp dụng với học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số học tại các trường phổ thông dân tộc nội trú và trường dự bị đại học, còn một bộ phận cũng là dân tộc thiểu số theo học tại các khoa dự bị đại học ở trường khác lại không được thụ hưởng chính sách, gây mất công bằng xã hội giữa các dân tộc.

Chính sách đối với đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đối với nhà giáo từ miền xuôi lên công tác ở miền núi về một số phụ cấp ưu đãi theo Nghị định số 61/2006/NĐ-CP chưa đủ mạnh để tạo điều kiện cho nhà giáo và cán bộ quản lý yên tâm cống hiến và chưa tạo thành động lực để thu hút nhà giáo tình nguyện đến công tác ở vùng dân tộc.

Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong thực hiện một số chính sách giáo dục và đào tạo ở vùng dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn trước hết và bao trùm là sự lúng túng và thiếu định hướng thực tế rõ ràng trong các chính sách, phong trào vận động giáo dục cho vùng dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn của ngành giáo dục và đào tạo. Ví dụ phong trào “Hai không”. Một số địa phương như Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Nghệ An cho rằng, một trong những lý do dẫn đến tình trạng học sinh dân tộc bỏ học nhiều ở các địa phương là do kết quả thực hiện “hai không” không tính tới đặc thù văn hóa đã tạo nên hiệu ứng ngược, học sinh bị sốc trước kết quả đánh giá của nhà trường dẫn đến chán nản và bỏ học tăng đột biến.

Một cái nhìn chung về hiện trạng “khủng hoảng” giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam được thể hiện trong Đề án Cải cách giáo dục Việt Nam mà các nhà nghiên cứu giáo dục từ nhiều nước đã nêu là một nền giáo dục mất phương hướng, dường như chỉ nhằm tăng thu nhập cho giáo chức và người quản lý, chạy theo thành tích, tìm cách mở trường đại học ồ ạt, nhận sinh viên và cấp bằng, bất chấp yêu cầu tối thiểu về số lượng và chất lượng.

Suy nghĩ về những giải pháp đặt ra của ngành giáo dục và đào tạo

Báo cáo “Tình hình giáo dục dân tộc hiện nay và phương hướng phát triển đến năm 2020” của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu một số giải pháp về giáo dục, trong đó có xây dựng chính sách giáo dục cho vùng dân tộc thiểu số với các trọng tâm: Tiếp tục củng cố cơ sở vật chất, phát triển hệ thống trường, lớp, cơ sở giáo dục; triển khai chương trình, nội dung, phương pháp dạy học phù hợp với điều kiện học tập của học sinh dân tộc; nâng cao hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho vùng dân tộc đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; tổ chức tốt các hình thức giáo dục nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí, quan tâm đời sống của đội ngũ giáo viên ở các vùng dân tộc và miền núi; tăng tỷ lệ ngân sách cho giáo dục vùng dân tộc.

Xây dựng và bổ sung chính sách phù hợp bao gồm: chính sách về tuyển sinh đào tạo và sử dụng sau đào tạo; về đãi ngộ, phát triển, luân chuyển đội ngũ giáo viên các cấp; về tài chính và huy động nguồn lực đầu tư; về ưu đãi cho cán bộ công tác ở các sở, phòng giáo dục và đào tạo vùng đặc biệt khó khăn.

Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quản lí.

Vận động sâu rộng toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục và đào tạo ở vùng dân tộc thiểu số.

Đây là những giải pháp cần thiết, song khi đối chiếu với thực trạng và những bất cập hoặc sự lạc hậu của chính sách thì phương hướng trên chưa đề cập đến giáo dục cho vùng đặc biệt khó khăn như một vùng dân cư có những nhu cầu giáo dục đặc thù. Chẳng hạn giải pháp về nâng cao tỷ lệ đến trường của học sinh dân tộc thiểu số trong độ tuổi; giải pháp nhằm ngăn chặn nạn tiêu cực phát sinh trong chính sách cử tuyển, chính sách ưu tiên điểm cho học sinh dân tộc thiểu số vùng đặc biệt khó khăn,... chưa được đề cập đến chương trình giáo dục phổ cập bằng tiếng dân tộc, về bình đẳng giới, về chất lượng nguồn nhân lực đầu vào... Như vậy, câu trả lời về chất lượng nguồn nhân lực cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và giảm nghèo bền vững từ động lực quan trọng nhất là giáo dục dường như vẫn là điều còn bỏ ngỏ./.   --------------------------------------------------------------- 

(1) Thực ra, phát triển giáo dục cho vùng dân tộc thiểu số thuộc địa bàn khó khăn, không chỉ là vấn đề nan giải ở Việt Nam mà diễn ra ở hầu khắp các nước đang phát triển có vùng dân tộc thiểu số. Hiện thế giới có khoảng 101 triệu trẻ em không được đến trường, trong đó 50% - 70% là trẻ dân tộc thiểu số. Tại châu Phi, tình trạng còn bi đát hơn. “Khoảng 60% các em không được đến trường, do cuộc sống khó khăn, đói rách, cha mẹ các em kiếm sống chật vật nên không đưa con đi học. Có khoảng 10 triệu trẻ em trên thế giới bị từ chối đến trường vì là người dân tộc thiểu số”. (Marc Latime, giám đốc điều hành Tổ chức quyền Dân tộc thiểu số quốc tế, dẫn theo Minh, Lê Vũ Nguyệt. http://unescovietnam.vn)

(2) (Vũ Đức Thanh. http:// nccd.molisa.gov.vn)

(3) 9 dân tộc rất ít người là: Ơ Đu, Pu Péo, Si La, Rơ Măm, Cống, Brâu, Bố Y, Mảng và Cờ Lao, tất cả còn khoảng 5.000 người. Các dân tộc này phân bố chủ yếu ở các tỉnh Lào Cai, Hà Giang, Điện Biên, Lai Châu, Nghệ An và Kon Tum

Tô Duy HợpPhạm Đức Nghiệm
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Về vấn đề đào tạo và sử dụng nhân tài ở nước ta hiện nay
16:47' 27/1/2011


TCCS - Thực tiễn cho thấy, quốc gia nào đi tiên phong trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và giáo dục, nước đó sẽ dẫn đầu trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế. Vậy làm thế nào để đào tạo và thu hút đội ngũ nhân tài để họ có thể phục vụ một cách tốt nhất cho công cuộc phát triển kinh tế của đất nước, đây là một bài toán khó luôn được các quốc gia đặt lên hàng đầu để tìm lời giải.

Cuộc chạy đua thu hút nhân tài trên thế giới

Cùng với sự phát triển như vũ bão của nền kinh tế tri thức, cuộc chạy đua tranh giành nguồn lực nhân tài giữa các quốc gia ngày càng diễn ra quyết liệt. Hầu hết các nước trên thế giới đều coi “chiến lược nhân tài” là quốc sách quan trọng, không ngừng phát triển nguồn lực nhân tài trong nước, bảo đảm an ninh nhân tài cho quốc gia. Song song với việc đẩy mạnh công tác đào tạo và bảo vệ nguồn tài nguyên nhân tài, các nước còn ban hành nhiều chính sách ưu đãi nhằm thực thi chiến lược tranh giành nhân tài, tạo nên một cuộc đua “giành giật” nhân tài gay gắt trên phạm vi toàn cầu.

Biến động rõ nét nhất của sự dịch chuyển nhân tài thế giới là, các quốc gia như Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Ca-na-đa và một số nước phát triển ở Đông Âu là những nước “nhập khẩu” nhân tài chủ yếu, còn các nước đang phát triển lại là nguồn “xuất khẩu” nhân tài quan trọng. Theo thống kê, từ thập niên 60 đến thập niên 90 của thế kỷ XX, đã có trên hai triệu người có trình độ khoa học kỹ thuật cao ở các nước đang phát triển di cư sang các nước phát triển. Các nước phương Tây như một “ống hút” khổng lồ không ngừng “hút” nguồn chất xám từ các nước đang phát triển bằng cách thu hút các nhân tài trẻ sang đất nước họ học tập, rồi sau đó giữ lại làm việc. Năm 2009, trong số những nghiên cứu sinh đang theo học nhóm ngành tự nhiên ở Mỹ, tỷ lệ du học sinh nước ngoài chiếm tới 27,8%, tỷ lệ du học sinh nước ngoài tốt nghiệp tiến sĩ (người không có quốc tịch Mỹ) lên tới 32,8%. Còn ở Pháp, năm 2009, trong số nghiên cứu sinh theo học nhóm ngành tự nhiên, có tới 26,3% là du học sinh nước ngoài.

Trong cuộc chiến giành nhân tài, Mỹ là quốc gia đóng vai trò chủ đạo. Chiến lược mà Mỹ áp dụng là thu hút nhân tài trên phạm vi toàn cầu. Các đời tổng thống Mỹ đều tích cực đề cao chiến lược “ưu tiên cho giáo dục”, “đầu tư cho con người” và xây dựng “cường quốc trí tuệ”. Dựa vào thế mạnh kinh tế có một không hai của mình và thông qua chính sách di dân mở cửa, Mỹ đã thu hút được một đội ngũ nhân tài hùng hậu phục vụ cho đất nước. Theo thống kê, mỗi năm toàn thế giới có 1,5 triệu du học sinh, trong đó có 48.000 du học sinh học tập và nghiên cứu ở Mỹ. Từ năm 1993 đến năm 2005, Mỹ đã tiếp nhận 900.000 nhà khoa học và kỹ sư của nước ngoài sang Mỹ làm việc. Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới (WB), trong vòng 10 năm (1969 -1979), Mỹ đã tiếp nhận gần 500.000 nhân tài nước ngoài có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, trong đó có 3/4 số người đến từ các nước đang phát triển, trong số này, có 1/2 số người đến từ châu á. Tháng 5-2000, Tổng thống Mỹ B.Clin-tơn đã trình lên Quốc hội Mỹ Chương trình “nhập khẩu” nhân tài, theo đó, từ năm 2001 - 2003, mỗi năm số nhân tài nước ngoài có trình độ kỹ thuật cao mà Mỹ tiếp nhận sẽ tăng từ 115.000 người lên 200.000 người, và từ năm 2001 đến 2010, Mỹ sẽ thu hút 1 triệu nhân tài có trình độ kỹ thuật cao từ các quốc gia khác vào đất nước mình. Chính phủ Mỹ cho phép mỗi năm có 6.000 nhà khoa học nổi tiếng và các chuyên gia cao cấp của nước ngoài được định cư hợp pháp vào Mỹ.

Ngược lại với Mỹ, các quốc gia và khu vực phát triển khác, một mặt, vừa thu hút nhân tài từ các nước đang phát triển; mặt khác, cũng phải đối mặt với tình trạng “chảy máu” chất xám. Theo thống kê của Hội đồng châu Âu (EC), năm 2005, số nhân tài của EC vào Mỹ chiếm 15% tổng số nhân tài của các nước vào Mỹ, trong đó tình trạng “chảy máu” chất xám ở Anh là nghiêm trọng nhất, 25% số hội viên có quốc tịch Anh trong Hội Hoàng gia Anh đang làm việc ở nước ngoài. Đến năm 2008, có khoảng 400.000 chuyên gia cao cấp của Liên minh châu Âu (EU) đang làm việc ở Mỹ. Báo cáo chỉ tiêu khoa học kỹ thuật của EU năm 2008 đã chỉ ra rằng, 75% chuyên viên cao cấp mang quốc tịch châu Âu muốn tiếp tục ở lại Mỹ làm việc. Theo điều tra của Hiệp hội nghiên cứu sinh Ô-xtrây-li-a, tình trạng “chảy máu” chất xám ở quốc gia này đang gia tăng với tốc độ 10% mỗi năm, chỉ riêng năm 2007, 65% số nghiên cứu sinh thuộc nhóm ngành khoa học tự nhiên của quốc gia này ra nước ngoài làm việc sau khi tốt nghiệp.

Năm 1998, Mỹ thông qua Luật về sức cạnh tranh nhằm tăng cường lực lượng nhân tài cho nước Mỹ. Thực chất của Luật về sức cạnh tranh là đẩy nhanh quá trình tranh giành nhân tài trên thế giới, nhất là nguồn lực nhân tài ở các nước đang phát triển.

Một quy luật biến động nhân tài phổ biến khác là nhân tài từ các quốc gia (hoặc khu vực) có chế độ chính trị - xã hội không ổn định dồn về các quốc gia (hoặc khu vực) có môi trường chính trị - xã hội tương đối ổn định. Theo thống kê, chỉ riêng 7 tháng đầu năm 1992, có 107.000 chuyên gia của Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG) được phê chuẩn định cư ở nước ngoài, trong đó 48.000 người sang Cộng hòa Liên bang Đức, 43.000 người sang I-xra-en, 8.500 người sang Mỹ, 3.400 người sang Hy Lạp. Một con số thống kê khác cũng cho thấy, sau khi Liên Xô giải thể, năm 1991, Mỹ và Nhật Bản đã “cướp mất” 90.000 chuyên gia của SNG, trong đó có hơn 2.000 chuyên gia hạt nhân cao cấp bị Mỹ “phỗng tay trên”. Đến cuối năm 1999, Nga có 30.000 chuyên gia kỹ thuật di cư ra nước ngoài.

Ngoài những quy luật phổ biến nói trên, một quy luật biến động mới của thị trường nhân tài là các công ty xuyên quốc gia của phương Tây xây dựng trung tâm nghiên cứu công nghệ cao ở nước bản địa để thu hút nguồn lực nhân tài của quốc gia đó phục vụ cho họ. Kết quả điều tra đối với 10 trung tâm nghiên cứu công nghệ cao xuyên quốc gia ở thành phố Thượng Hải (Trung Quốc) cho thấy, năm 2008, tỷ lệ nghiên cứu viên người Trung Quốc và người nước ngoài là 40:1. Một cuộc điều tra với 164 trung tâm nghiên cứu công nghệ cao ở Bắc Kinh năm 2008 cho thấy, các trung tâm này tổng cộng tuyển dụng 22.000 nghiên cứu viên Trung Quốc, trong đó có 8.000 thạc sĩ và tiến sĩ, chiếm hơn 36%. Hiện tượng “đầu quân” cho công ty nước ngoài là rất phổ biến ở các nước đang phát triển, điều này vô hình trung đã khiến nguồn chất xám của các quốc gia đang phát triển “chảy máu” một cách nghiêm trọng.

Giữ chân nhân tài: Không còn là chuyện nhỏ

Sách Xanh năm 2007 của Viện Khoa học xã hội Trung Quốc viết: 28 năm trở lại đây, tỷ lệ du học sinh Trung Quốc học tập ở nước ngoài về nước làm việc chỉ đạt 25,77%, trong khi đó hơn 70% số sinh viên Trung Quốc đi du học đều ở lại nước ngoài làm việc. Theo thống kê, từ đầu thập niên 70 đến giữa thập niên 90 của thế kỷ XX, Mỹ đã thu hút được hơn 200.000 nhân tài là các chuyên gia cao cấp sang Mỹ làm việc. Sử dụng mỗi chuyên gia người nước ngoài làm việc cho mình, Mỹ tiết kiệm được 40.000 USD kinh phí đào tạo, như vậy chỉ riêng chi phí giáo dục mà Mỹ tiết kiệm được đã lên tới 80 tỉ USD, và nếu tính trong vòng 20 năm, đội ngũ nhân tài này đem lại ít nhất 60 tỉ USD thu nhập cho nước Mỹ.

Vài năm gần đây, các nước phát triển đã đẩy nhanh tốc độ tranh giành nguồn lực nhân tài, nhiều chính sách nhập cư ưu đãi được các quốc gia ban hành để thu hút những người có năng lực vào nước mình làm việc. Các nước trong EU như Pháp, Đức, Ai-len, Thụy Điển, Anh đã áp dụng chính sách di dân tiện lợi để thu hút nhân tài có trình độ kỹ thuật cao, đặc biệt là các chuyên gia về công nghệ thông tin. Tháng 10-2007, EU đã ban hành “Thẻ Xanh” để cạnh tranh với Thẻ cư trú vô thời hạn “Thẻ Xanh” của Mỹ, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhân tài có trình độ kỹ thuật cao nhập cư vào EU.

Trước cuộc tranh giành nhân tài gay gắt của Mỹ, Chính phủ Nga cũng áp dụng nhiều biện pháp để bảo vệ nguồn nhân tài trong nước. Nguồn kinh phí đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học và giáo dục của Nga không ngừng gia tăng, dự toán ngân sách của Viện Hàn lâm khoa học Nga vài năm gần đây tăng trên 20%/năm. Chính phủ Nga đã nâng cao mức đãi ngộ vật chất và an sinh xã hội cho đội ngũ các nhà nghiên cứu khoa học trong nước, đồng thời mở rộng quy mô xây dựng nhà ở cho các nhà khoa học trẻ. Ngoài ra, Chính phủ Nga còn áp dụng những biện pháp cụ thể để ngăn chặn tình trạng “chảy máu” chất xám như hạn chế những chuyên gia đầu ngành ra nước ngoài làm việc, khuyến khích các nhà doanh nghiệp và chính phủ hỗ trợ các học giả trẻ bằng nhiều hình thức khác nhau...

Cũng giống Nga, vài năm gần đây Chính phủ Ấn Độ đang nỗ lực thông qua nhiều chính sách để tạo môi trường phát triển thuận lợi cho đội ngũ học giả đang làm việc ở nước ngoài về nước làm việc. Chính phủ Ấn Độ đã xây dựng nhiều trung tâm kỹ thuật cao ở các thành phố mới nổi, như Ben-ga-lu-ru, Hy-đê-ra-bát và khuyến khích đội ngũ nhân tài có trình độ kỹ thuật cao về nước làm việc. Hiện nay, nhiều nhân tài Ấn Độ sang trung tâm công nghệ cao Sillicon Valley (Mỹ) làm việc đã mang theo vốn và kỹ thuật quản lý hiện đại từ Mỹ về các trung tâm kỹ thuật cao của Ấn Độ để đầu tư, đem lại nguồn sinh lực mới cho ngành công nghệ thông tin của quốc gia này. Bắt đầu từ năm 2003, mỗi năm Chính phủ Ấn Độ tổ chức “Ngày người Ấn Độ ở nước ngoài” với quy mô lớn nhằm kêu gọi, thu hút người Ấn Độ ở nước ngoài góp tiền, góp sức cho công cuộc xây dựng đất nước. Còn đối với Trung Quốc, để ngăn chặn tình trạng chảy máu chất xám đang diễn ra nghiêm trọng, hằng năm, Chính phủ Trung Quốc đều trao một giải thưởng cao quý nhất nhằm vinh danh nhà khoa học có cống hiến lớn lao nhất cho đất nước trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật với trị giá lên tới 5 triệu NDT (tương đương với 15 tỉ VNĐ).

Đôi điều suy nghĩ về việc sử dụng nhân tài ở Việt Nam

Gần đây, một sự kiện lớn được báo chí đề cập nhiều là trường hợp Giáo sư Ngô Bảo Châu của Việt Nam giành được giải thưởng Fields cao quý. Sự kiện này là niềm vinh dự và tự hào lớn lao, vì đây là lần đầu tiên nhà toán học người Việt Nam được thế giới vinh danh. Tuy nhiên, chúng ta và ngay cả bản thân giáo sư Ngô Bảo Châu đều phải thừa nhận rằng, nếu như không được tiếp cận với hai nền giáo dục tiên tiến, được học hỏi, nghiên cứu và giảng dạy tại Pháp và Mỹ - hai cường quốc về khoa học cơ bản, giáo sư Ngô Bảo Châu có thể sẽ không được bước lên đỉnh cao vinh quang của môn toán học - lĩnh vực khoa học chỉ dành cho những bộ óc siêu việt. Khoa học cơ bản không phải là thế mạnh và cũng không phải là nhu cầu bức thiết của các nước đang phát triển vì nhiều lý do dễ hiểu, trong đó có cả lý do kinh tế. Cho dù là nhân tài ở lĩnh vực nào cũng đều mong muốn có môi trường làm việc tốt, được hưởng mức đãi ngộ phù hợp để có thể phát huy tối đa khả năng của mình. Chúng ta cần nắm bắt quy luật biến động của thị trường nhân tài để kiện toàn cơ chế sử dụng nhân tài cho phù hợp, để có thể chiêu nạp hiền tài phục vụ đắc lực cho công cuộc phát triển đất nước. Qua đó, có thể thấy, kinh nghiệm trọng dụng nhân tài của các nước phát triển là bài học quý đối với một nước đang phát triển, có nền kinh tế lạc hậu muốn đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nước như Việt Nam. Do đó, qua sự kiện giáo sư Ngô Bảo Châu được nhận giải Fields và những kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong việc đào tạo và sử dụng nhân tài, có thể khái quát một số điểm sau:

Thứ nhất, cần xóa bỏ quan niệm “gừng càng già càng cay”. Năm 2005, Ngô Bảo Châu, một nhà toán học tài ba được đặc cách phong hàm giáo sư tại Việt Nam và trở thành vị giáo sư trẻ nhất Việt Nam tính đến thời điểm hiện nay. Được đặc cách, có nghĩa là chưa “hội đủ” tiêu chuẩn giáo sư của Việt Nam, mặc dù trước đó Ngô Bảo Châu đã được phong giáo sư tại Đại học Pa-ri VI và Pa-ri XI, đồng thời được nhận giải thưởng của Viện Toán học Clay (Mỹ). Điều đó cho thấy, tiêu chuẩn về học hàm học vị trong hệ thống đại học của chúng ta còn khắt khe và nghiêm ngặt về tuổi tác.

Quan niệm “gừng càng già càng cay” có thể là một chuẩn mực tốt trong một vài lĩnh vực, nhưng trong các lĩnh vực khoa học, văn học và nghệ thuật nó lại là một rào cản lớn cho sự phát triển của những bộ óc sớm bộc lộ tài năng. Hiện nay, ở nhiều nước phát triển trên thế giới đã có nhiều vị “giáo sư thanh niên” bước lên bục giảng đại học từ lúc còn rất trẻ, chưa đến tuổi 30.

Thứ hai, cần thay đổi tư duy về giáo dục. Qua sự kiện Ngô Bảo Châu, đã đến lúc chúng ta cần phải thay đổi lại tư duy giáo dục và xây dựng một cơ chế thích hợp để đào tạo và giữ chân nhân tài, đặc biệt là các nhân tài trẻ có năng lực thực sự. Trường hợp để những nguồn chất xám quý giá như giáo sư Ngô Bảo Châu ra nước ngoài làm việc là một thiệt thòi lớn cho nước nhà. Đào tạo nhân tài đã khó, nhưng giữ chân nhân tài lại càng khó hơn. Hiện nay, chúng ta đã có con số thống kê tương đối chính xác về tỷ lệ lưu học sinh về nước làm việc sau khi đi tu nghiệp ở nước ngoài hay chưa? Phải chăng chúng ta cũng nên xây dựng một cơ chế khích lệ nhân tài cho phù hợp với tình hình đất nước, đặc biệt, hằng năm nên có các giải thưởng dành cho những công trình nghiên cứu khoa học tiêu biểu với giá trị lớn để khuyến khích các nhà khoa học trong nước có thể dồn nhiều tâm huyết hơn cho hoạt động nghiên cứu khoa học. Để trong một tương lai không xa, chúng ta lại được vinh dự đón mừng một trí tuệ Việt khác tiếp nhận một giải thưởng uy tín quốc tế với tư cách là một công dân Việt Nam, do Việt Nam đào tạo mà không chỉ là người gốc Việt!

Thứ ba, cần có cơ chế và chính sách linh hoạt trong việc thu hút nhân tài. “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, trong thời đại hiện nay, nhân tài chính là động lực để phát triển đất nước. Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách để đào tạo, phát triển và thu hút nhân tài. Nhưng cơ chế hành chính của chúng ta đã tạo ra không ít ràng buộc, do vậy chưa phát huy, tận dụng ở mức cao nhất trí tuệ Việt Nam, cơ chế sử dụng người tài vẫn còn bất cập. Thực tiễn đã chứng minh, bất kỳ lĩnh vực nào, nếu không tạo ra được một cơ chế thích hợp theo đúng quy luật phát triển, nếu người lãnh đạo không biết nhìn nhận, thu hút, trọng dụng nhân tài thì chúng ta không thể sớm tạo ra được sự bứt phá trên nhiều lĩnh vực. Hiện nay nhiều địa phương trên cả nước trọng dụng nhân tài theo kiểu phong trào, cụ thể là địa phương nào cũng có chính sách “trải thảm đỏ” thu hút nhân tài, nhưng không thiết thực, hiệu quả, làm lãng phí nguồn chất xám của đất nước. Ví dụ, tại một số địa phương, hằng năm, có chính sách ưu đãi thu hút sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, thủ khoa, nhưng có không ít người từ chối. Một số người nhận làm việc song rồi lại ra đi sau một thời gian ngắn với lý do là không được phân công theo đúng chuyên ngành đào tạo của họ. Do đó, hiện nay, các địa phương cần căn cứ vào nhiệm vụ và nhu cầu phát triển kinh tê - xã hội của mình để ký những “hợp đồng” cụ thể với những người có năng lực thực sự, đồng thời trả công thỏa đáng cho họ theo cơ chế thị trường. Đặc biệt, ngoài kết quả công việc theo hợp đồng, những người có tài sẽ không bị ràng buộc và chi phối bởi bất cứ yếu tố nào trong quá trình thực hiện công việc của mình. Như vậy, người tài sẽ phát huy được hết khả năng và địa phương cũng có thể giải quyết được rất nhiều vấn đề kinh tế - xã hội đang đặt ra trước mắt.

Thứ tư, chú trọng đầu tư cho đại học, đổi mới công tác quản lý du học sinh. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần đổi mới mạnh mẽ công tác quản lý du học sinh để bảo đảm số lượng du học sinh sau khi học tập, phần lớn sẽ trở về cống hiến cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Điều quan trọng là chúng ta cũng cần phải có những chiến lược đầu tư thích đáng hơn nữa cho giáo dục nói chung, đặc biệt là giáo dục đại học. Trong bối cảnh hiện nay, cần phải đầu tư xây dựng những trường đại học có khả năng thu hút sinh viên trong nước và quốc tế có nhiều tố chất của một nhân tài.

Ngoài ra, chúng ta cần nhìn nhận một điều sâu xa hơn, đó là Việt Nam có rất nhiều tài năng trên nhiều lĩnh vực. Thực tế những cuộc thi quốc tế nhiều năm qua đã chứng minh điều đó. Nếu những nhân tài được ươm, trồng, phát triển trên những mảnh đất có đủ điều kiện về mọi mặt, được chăm chút bởi những con người có tri thức, có tâm huyết thì chắc chắn Việt Nam không chỉ có một Ngô Bảo Châu, một Đặng Thái Sơn... Và như vậy, nhân tài Việt Nam không chỉ phụng sự đất nước, mà còn cho cả sự phát triển của nhân loại, nhất là trong thời kỳ hội nhập và mở cửa. Như vậy, cần có một “điểm nhìn” và tạo ra những cơ chế mới để trọng dụng và thu hút nhân tài trong bối cảnh hiện nay./.

Nguyễn Thành Lợi

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Xây dựng đội ngũ nhà giáo theo tư tưởng Hồ Chí Minh
11:29' 20/11/2010


TCCSĐT - Nhà giáo dục học vĩ đại Cô-men-xki đã từng nói: “Dưới ánh mặt trời, không có nghề nào cao quý hơn nghề dạy học”, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Không có thầy giáo thì không có giáo dục... không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế - văn hoá” (1). Trong thời kỳ hội nhập, những vấn đề về chất lượng giáo dục, đạo đức người giáo viên... đang đặt ra những vấn đề cần suy nghĩ. Hơn lúc nào hết, chúng ta cần phải trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục.

“Không có thầy giáo thì không có giáo dục”

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng sự nghiệp giáo dục, đào tạo. Người luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho đội ngũ giáo viên và những người làm công tác giáo dục. Trong tư tưởng của Người, chúng ta luôn tìm thấy những trăn trở, những yêu cầu, những lời dặn dò và kỳ vọng to lớn đối với việc xây dựng đội ngũ những người thầy trong xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: đội ngũ giáo viên luôn giữ một vị trí, vai trò vô cùng quan trọng, họ là người quyết định thành công công cuộc xây dựng và đổi mới nền giáo dục.“Không có thầy giáo thì không có giáo dục”, câu nói đó của Người khẳng định vai trò không thể thay thế của người giáo viên trong sứ mệnh đào tạo thế hệ trẻ. Phát biểu tại Trường Đại học sư phạm Hà Nội (10-1964), Người nói: “Người thầy giáo tốt, người thầy giáo xứng đáng là người thầy vẻ vang nhất, dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương. Song những người thầy giáo tốt là những người anh hùng vô danh. Đây là một điều rất vẻ vang, nếu không có thầy giáo dạy dỗ cho con em nhân dân thì làm sao mà xây dựng Chủ nghĩa Xã hội được. Vì vậy nghề thầy giáo rất quan trọng, rất vẻ vang. Ai có ý kiến không đúng về nghề thầy giáo thì phải sữa chữa” (2).

Các thầy, cô giáo phải trở thành một lực lượng mạnh mẽ, đầy trí tuệ

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong nền giáo dục cách mạng, người giáo viên có nhiệm vụ nặng nề và vẻ vang là đào tạo cán bộ cho nước nhà, là những chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng, văn hoá có trách nhiệm truyền bá cho thế hệ trẻ lý tưởng đạo đức chân chính, hệ thống các giá trị, tinh hoa văn hoá của dân tộc và nhân loại, bồi dưỡng cho họ những phẩm chất cao quý và năng lực sáng tạo phù hợp với sự phát triển và tiến bộ xã hội. Muốn thực hiện được nhiệm vụ ấy, bản thân các thầy, cô giáo phải trở thành một lực lượng mạnh mẽ, như V.I.Lê-nin từng nói: “đội quân giáo viên phải đề ra cho mình những nhiệm vụ giáo dục to lớn và trước hết họ phải trở thành những đội quân chủ yếu trong sự nghiệp giáo dục xã hội chủ nghĩa”.

Người giáo viên phải có trí tuệ và tài năng mới có thể đào tạo được những thế hệ công dân, cán bộ có tài cho xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, một người thầy giáo giỏi không có nghĩa là phải tinh thông tất cả mọi lĩnh vực, hiểu trọn tri thức nhân loại, vì tri thức nhân loại vô cùng rộng lớn, tuy nhiên, người giáo viên cần không ngừng trau dồi kiến thức, đặc biệt phải thạo lĩnh vực chuyên môn của mình, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của sự nghiệp giáo dục - đào tạo, Người khuyên mọi người thực hiện theo chỉ dẫn của Lê-nin “Học, học nữa, học mãi” để thường xuyên tự rèn luyện mình, đồng thời lấy phương châm “học không biết chán, dạy không biết mỏi” của Khổng Tử để thực hành trong công việc. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu, những người hoạt động trong lĩnh vực giáo dục không được bằng lòng với kiến thức đã có, mà phải thường xuyên tích luỹ kiến thức. Người cho rằng người nào tự cho mình là biết đủ rồi thì người đó là dốt nhất, Người nói:“giáo viên cũng phải tiến bộ cho kịp thời đại thì mới làm được nhiệm vụ, chớ tự mãn cho mình giỏi rồi thì dừng lại mà dừng lại là lùi bước, là lạc hậu, tự đào thải mình trước” (3)

Người giáo viên phải là kiểu mẫu tư tưởng, đạo đức, lối làm việc

Trong sự nghiệp trồng người, đội ngũ giáo viên nếu chỉ có tài thôi thì chưa đủ, ngoài trí tuệ, tài năng, người giáo viên phải có đạo đức. Người nhắc nhở: “các thầy, cô giáo phải trở thành tấm gương sáng, thành kiểu mẫu cho các em noi theo”, “phải là kiểu mẫu về mọi mặt, tư tưởng, đạo đức, lối làm việc”. Tấm gương của người thầy đối với học sinh là vô cùng quan trọng, Người nói: “Óc những người tuổi trẻ trong sạch như một tấm lụa trắng, nhuộm xanh thì nó sẽ xanh, nhuộm đỏ thì nó sẽ đỏ, vì vậy sự học tập ở nhà trường có ảnh hưởng rất lớn cho tương lai của thanh niên và tương lai của thanh niên là tương lai của nước nhà” (4), do đó “Thầy tốt thì ảnh hưởng tốt, thầy xấu thì ảnh hưởng xấu” (5). U-xin-xki - nhà sư phạm lỗi lạc người Nga cũng khẳng định: "Nhân cách của người thầy là sức mạnh có ảnh hưởng to lớn đối với học sinh, sức mạnh đó không thể thay thế bằng bất kỳ cuốn sách giáo khoa nào, bất kỳ câu chuyện châm ngôn đạo đức, bất kỳ một hệ thống khen thưởng hay trách phạt nào khác”. Chính vì thế, Người luôn yêu cầu đội ngũ nhà giáo ngoài tài năng, học vấn phải có đạo đức cách mạng, “trong giáo dục không những phải có tri thức phổ thông mà phải có đạo đức cách mạng, có tài phải có đức”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: “Người có tài mà không có đức thì là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Đối với đội ngũ nhà giáo, tài là sự am hiểu, vốn tri thức, vốn kinh nghiệm thực tiễn của người thầy, đức là tư cách, tình yêu thương, trách nhiệm của người thầy đối với nghề, với các em học sinh… Chính vì thế, Người nhắc các nhà giáo: Dạy cũng như học đều phải biết chú trọng cả tài và đức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người thầy - một nhà giáo dục vĩ đại, cả cuộc đời, Người đã giáo dục, đào tạo biết bao thế hệ cán bộ, những chiến sĩ ưu tú cho cách mạng như Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn... Sức mạnh giáo dục và cảm hóa của Người làm khuất phục cả những kẻ thù ở bên kia chiến tuyến, đưa họ trở về với chính nghĩa, với lương tri của con người. Sở dĩ có được điều đó là do ở Người hội tụ đầy đủ tri thức, bản lĩnh và một nhân cách cao đẹp - một tấm gương cao cả để lớp lớp cán bộ học tập và noi theo.

Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, nâng cao chất lượng giáo dục

Không chỉ nhấn mạnh việc xây dựng năng lực, phẩm chất của đội ngũ nhà giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn quan tâm đến việc xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, đoàn kết, dân chủ, bình đẳng, tương trợ. Người nhắc nhở: Là giáo viên phải có tinh thần đoàn kết, kỷ luật, phát huy dân chủ, đó là mối quan hệ gắn bó giữa thầy với thầy, thầy với trò, cần đoàn kết toàn thể nhà trường thành một khối, phát huy cao độ tinh thần dân chủ xã hội chủ nghĩa, tạo nên sức mạnh, phát huy tính năng động, sáng tạo và đổi mới trong giáo dục. Người nói: “Trong trường cần có dân chủ, đối với mọi vấn đề thầy và trò cùng nhau thảo luận, ai có vấn đề gì đều thật thà phát biểu, điều gì chưa thông suốt thì hỏi, bàn cho thông suốt, dân chủ nhưng trò phải phải kính thầy, thầy phải quý trò, chứ không phải "Cá đối bằng đầu” (6).

Trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã là nhà giáo phải yêu người, yêu nghề, yêu trường, yêu chủ nghĩa xã hội, điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục - đào tạo. Người căn dặn:“Thầy cũng như trò, cán bộ cũng như nhân viên phải thật thà yêu nghề của mình”. Yêu nghề, yêu người là cơ sở để các thầy, cô yên tâm công tác, say mê, toàn tâm, toàn ý với công việc; biết vươn lên, nâng cao năng lực, đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp; nâng cao tinh thần trách nhiệm, yêu thương học sinh như con, em ruột của mình, không thiên tư, thiên vị. Chỉ như vậy, các thầy, cô giáo mới đi tới sự đoàn kết thực sự, chung lòng, dốc sức vì tương lai của con em ta, dân tộc ta. Theo Hồ Chí Minh, yêu nghề, yêu trường thôi chưa đủ mà phải yêu chủ nghĩa xã hội bởi chủ nghĩa xã hội là mục tiêu mà dân tộc đang hướng tới. Khi thầy, cô giáo có tri thức, niềm tin và tình yêu thật sự vào chế độ mới thì đứng trên bục giảng họ mới có thể truyền lại được cho lớp lớp học trò niềm tin, tình yêu và góp sức mình vào xây dựng chế độ mới - chế độ xã hội chủ nghĩa. Vấn đề này có ý nghĩa đặc biệt trong tình hình hiện nay, khi mà một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân nhất là tầng lớp thanh niên đang phai nhạt lý tưởng, đang dần đánh mất niềm tin vào con đường mà dân tộc đi tới, thì hơn bao giờ hết rất cần những tri thức, niềm tin, tình yêu chủ nghĩa xã hội ở các thầy, các cô.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng khi cả nước phát động phong trào toàn dân thi đua yêu nước thì đội ngũ giáo viên không thể đứng ngoài cuộc, mà phải tích cực hưởng ứng phong trào thiết thực này. Thi đua dạy tốt, học tốt, đó cũng là yêu nước, là đóng góp cho thắng lợi của cách mạng. Thi đua chính là đòn bẩy cho sự phát triển của nền giáo dục nước nhà. Cần phải thường xuyên thi đua trong mọi lĩnh vực của công tác giáo dục, trong mọi hoàn cảnh, nhất là trong những thời điểm khó khăn, để các thầy cô giáo có điều kiện thể hiện hết khả năng của mình, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục nhằm đạt được mục tiêu mà nền giáo dục xã hội chủ nghĩa đã đề ra.

Bên cạnh việc nêu lên những điều mà nhà giáo phải làm cho tốt, Người còn dặn dò thêm: các thầy, cô giáo không được đánh mất phẩm chất của mình, dù hoàn cảnh nào cũng phải là tấm gương cho học sinh noi theo, tránh thái độ thờ ơ đối với xã hội, xa rời đời sống thực tế, lười biếng trong học tập và nâng cao trình độ; thái độ kèn cựa địa vị, xem nhẹ công việc của mình, thiếu tinh thần xây dựng tập thể,...

Sản phẩm của giáo dục, dạy học là con người, là thế hệ tương lai của dân tộc, vì vậy, không được phép tạo ra “phế phẩm”. Một người công nhân tồi có thể làm hỏng một vài sản phẩm, một người kỹ sư tồi có thể làm hỏng một vài công trình, nhưng, một người giáo viên tồi có thể làm hỏng cả một thế hệ, đó là hậu quả khôn lường mà cả xã hội phải gánh chịu cho đến tận mai sau. Vì vậy, Người nhận định: Có thầy giỏi thì rồi sẽ có phương pháp hay, do đó, sẽ có trò giỏi, còn thầy đã kém thì khó lấy gì bù đắp nổi.

Nhìn lại nền giáo dục nước nhà, kế thừa và phát huy những tinh hoa trong tư tưởng của Người, Đảng ta xác định: “giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Trong những năm qua, chúng ta đã chú trọng việc “bảo đảm đủ số lượng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở tất cả các cấp học, bậc học”. Tuy nhiên, bên cạnh những người thày âm thầm cống hiến cho sự nghiệp trồng người, hết lòng vì học sinh thân yêu, sẵn sàng hy sinh tính mạng của mình để cứu học sinh trong cơn bão lũ; bên cạnh lớp lớp các thầy cô mang ánh sáng, đưa con chữ đến với mọi miền xa xôi của Tổ quốc; những người thầy đào tạo nên những thế hệ học sinh thổi bùng lên niềm tự hào mang tên Việt Nam trong các cuộc thi tài quốc tế trên mọi lĩnh vực, chúng ta cũng không khỏi băn khoăn khi ngày càng nhiều trên các trang báo, trên các phương tiện thông tin đại chúng, một bộ phận giáo viên tha hóa về đạo đức, nhân cách: nhục mạ học trò, lợi dụng học trò và phụ huynh, chạy theo thành tích, tham ô của nhà trường, nhạt nhòa lý tưởng…Thầy không ra thầy”, không có lời phê nào nặng hơn đối với một nhà giáo, một nhà trường, thậm chí với cả một nền giáo dục.

Để khắc phục những hạn chế đó, hơn lúc nào hết, chúng ta cần trở lại với tư tưởng Hồ Chí Minh, với những luận điểm khoa học, thiết thực về năng lực, phẩm chất của nhà giáo; về xây dựng tập thể những người làm công tác giáo dục; về xây dựng lòng yêu nghề, yêu người; về động lực phát triển của nền giáo dục... Hơn bao giờ hết, chúng ta cần xây dựng được đội ngũ những người làm công tác giáo dục có đầy đủ phẩm chất, năng lực, vừa “hồng”, vừa “chuyên” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra. Điều này không những để khẳng định tri thức, trình độ phát triển giáo dục của dân tộc, mà còn góp phần quan trọng cho thắng lợi của công cuộc hội nhập quốc tế, xây dựng và phát triển đất nước hôm nay. Kế thừa và phát huy những tinh hoa trong tư tưởng của Người, Đảng ta xác định: “giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”./.

(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội 1996, t.8, tr.184

(2) Hồ Chí Minh, Toàn tậpSđd, t.11, tr.331.

(3) Hồ Chí Minh, Toàn tậpSđd, t.9, tr.489.

(4) Hồ Chí Minh, Toàn tậpSđd, t.5, tr.102.

(5) Hồ Chí Minh, Toàn tậpSđd, t.9, tr.492

(6) Hồ Chí Minh, Toàn tậpSđd, t.7, tr.456.

Đinh Thị Thuý Hải

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Giáo dục Việt Nam trong kinh tế thị trường
10:55' 23/9/2010


TCCS - Vấn đề mối quan hệ cũng như sự tác động giữa giáo dục và nền kinh tế thị trường đã được rất nhiều công trình tập trung nghiên cứu và đề cập trong nhiều diễn đàn và hội thảo khoa học. ở đây, chúng tôi chỉ tiếp cận vấn đề trên quan điểm của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự tác động của kinh tế thị trường đối với giáo dục được xem xét trên cơ sở của mối quan hệ giữa giáo dục với thị trường hàng hóa (mang hình thái vật chất); thị trường nhân tài; thị trường dịch vụ lao động và cả mối quan hệ giữa cơ chế giáo dục với cơ cấu kinh tế…

Có thể hiểu, thị trường là nơi hoặc lĩnh vực trao đổi hàng hóa hoặc tiến hành mua bán. Còn thị trường giáo dục - nếu thừa nhận sự tồn tại của nó - thì phải được xét trên các lĩnh vực như: sự nghiệp giáo dục, nguồn lực giáo dục, sản phẩm của giáo dục và dịch vụ giáo dục cũng như cái gì là nơi có thể trao đổi, mua bán.

Những lý luận liên quan

Về sự nghiệp giáo dục: Về việc giáo dục liệu có phải là sản xuất công nghiệp hay không, thì cho đến nay, giới kinh tế học giáo dục đưa ra những ý kiến, góc nhìn và nhận xét khác nhau, thậm chí còn trái ngược nhau về căn bản. Tuy nhiên, chính điều này đã thu hút sự chú ý của rất nhiều người, đặc biệt là những người làm công tác nghiên cứu lý luận giáo dục. Trong đó, sự nghiên cứu về mối quan hệ giữa kinh tế thị trường với nội hàm cải cách giáo dục là một vấn đề rất được quan tâm.

- Quan niệm giáo dục là ngành sản xuất đặc biệt

Quan niệm này cho rằng: nếu chúng ta định nghĩa công nghiệp là sự nghiệp hoạt động sản xuất, thì giáo dục mang tính sản xuất đương nhiên phải là một ngành trong lĩnh vực sản xuất. Trên thế giới, thông thường giáo dục được xếp vào ngành sản xuất thứ ba. Năm 1992, ở Trung Quốc, quyết định về ngành sản xuất thứ ba do Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc Vụ viện Trung Quốc đưa ra rõ ràng; rằng sự nghiệp giáo dục là trọng điểm của ngành sản xuất thứ ba, và chỉ rõ giáo dục là "ngành cơ bản có ảnh hưởng toàn diện, dẫn dắt đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân"; đồng thời cho rằng, tính chất của sản xuất giáo dục là do tính chuyên ngành, tính sản xuất, tiêu hao nguồn vốn và tính có thể kinh doanh của nó quyết định. ở Việt Nam, với cải cách giáo dục năm 1981, giáo dục được xếp vào lĩnh vực công nghiệp và lương giáo viên được xếp theo thang lương kỹ sư.

Tính đặc thù của sản xuất giáo dục là do ba đặc tính cơ bản của nó quyết định, bao gồm giáo dục là ngành sản xuất có tính nền tảng, giáo dục là ngành sản xuất gián tiếp và giáo dục là ngành sản xuất có hiệu quả rất lâu dài. Quan điểm này góp phần làm rõ vai trò và vị trí chiến lược của giáo dục, cung cấp lý luận trụ cột mới cho lộ trình cải cách giáo dục được sâu hơn.

ở nước ta, với nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thì quá trình ấy cần chú trọng sự gắn liền quá trình này với lịch sử phát triển giáo dục. Hay nói cách khác, muốn xem giáo dục có phải là hàng hóa hay hàng hóa ở góc độ nào, thì hãy xem sản phẩm của nó phục vụ cho ai, tức là sự nghiệp giáo dục có thuộc về quốc gia, dân tộc của chúng ta hay không?

Trên cơ sở đó, người ta cho rằng, giáo dục là ngành sản xuất đặc biệt, một ngành đào tạo con người để đặc biệt phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế. Mặt khác, sản phẩm của giáo dục lại có thể đóng góp làm cho các ngành nghề khác tăng GDP. Do giá trị đặc biệt của sản phẩm giáo dục là có thể trở thành nhu cầu tiêu thụ của xã hội, và vì vậy, lẽ đương nhiên, giáo dục là một ngành sản xuất.

Tuy nhiên, nếu giáo dục là một ngành sản xuất, thì nó cũng phải chịu sự chế ước và chi phối của quy luật kinh tế thị trường. Nhưng tự bản thân giáo dục cũng có quy luật riêng, cố hữu của nó, và tất yếu vấn đề chiến lược xây dựng và phát triển giáo dục của một đất nước lại phải tuân theo quy luật của bản thân ngành giáo dục và quy luật xây dựng và phát triển của đất nước đó.

- Quan niệm giáo dục là yếu tố sản xuất

Quan niệm này cho rằng, giáo dục là yếu tố sản xuất quan trọng nhất của sản xuất xã hội. Bởi vì, nhân tài và người lao động chính là sản phẩm của giáo dục và đào tạo. Nói cách khác, sản phẩm từ sản xuất giáo dục là sức lao động có tri thức và kỹ năng nhất định, có "giá trị" và "giá trị sử dụng".

- Quan niệm giáo dục không là sản xuất

Nhiều học giả trên thế giới không hoàn toàn đồng ý với quan niệm giáo dục "là một ngành sản xuất", khi cho rằng, cần phải coi quá trình giáo dục là tái sản xuất tri thức về văn hóa, khoa học - kỹ thuật. Nếu xét từ góc độ này, giáo dục cũng có tính sản xuất nhất định. Mặc dù bản thân giáo dục không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất nhưng đã "sản xuất" ra những con người làm ra của cải vật chất.

Về sản phẩm giáo dục:

- Sản phẩm và hoạt động của dịch vụ giáo dục là hàng hóa. Sản phẩm và dịch vụ giáo dục được tiến hành trao đổi, bao gồm sản phẩm dịch vụ giáo dục và sản phẩm của các ngành khác. Người ta cho rằng, nếu không có kiểu trao đổi này, quan điểm giáo dục là ngành sản xuất sẽ không còn tồn tại. Vì vậy, sản phẩm dịch vụ giáo dục phải là hàng hóa và cần phải được thị trường hóa. Bởi vì:

+ Những thứ mà dịch vụ giáo dục cung cấp, mặc dù giá trị sử dụng là đặc biệt, nhưng xét về bản chất, nó cũng như các hàng hóa khác. Vì vậy, dịch vụ do giáo dục cung cấp có thể nói chính là hàng hóa.

+ Các kiểu dịch vụ hoặc bản thân hoạt động lao động có giá trị, khi trao đổi trên thị trường, về bản chất, không có gì khác về mặt hình thức so với các hàng hóa khác.

+ Thực chất của quan niệm thu hút lực lượng lao động qua đào tạo - hay nói cách khác - năng lực làm việc của người lao động là sự đầu tư tiền bạc khi tiến hành đào tạo, tức là đã tạo giá trị cho lực lượng lao động đó vào thị trường lao động. Với trình độ giáo dục khác nhau thì lực lượng lao động có trình độ và khả năng làm việc khác nhau, nên cũng có giá trị khác nhau khi tham gia thị trường.

- Sản phẩm giáo dục không phải là hàng hóa. Nhiều người cho rằng, giáo dục không giống sản xuất hàng hóa, bởi sản xuất thì lấy việc không ngừng hạ thấp giá thành và theo dõi lợi nhuận làm mục tiêu. Còn giáo dục thì lấy nhiệm vụ chính trị làm mục tiêu. Những người lao động được giáo dục - đào tạo nói chung, thường không bị coi là hàng hóa trên thị trường. Phần lớn kinh phí giáo dục trên thế giới đều do nhà nước chịu trách nhiệm, học sinh và gia đình chỉ gánh vác một phần học phí hoặc toàn bộ học phí chứ không phải là toàn bộ sự nghiệp giáo dục. Giáo dục trải qua bao nhiêu thế kỷ đều được khẳng định là ngoài chức năng và giá trị kinh tế, còn có các chức năng và giá trị chính trị, chức năng văn hóa... Nếu quá nhấn mạnh vào vấn đề chức năng kinh tế của giáo dục thì khó bảo đảm được chức năng xã hội và chính trị. Điều này cũng có nghĩa là khó bảo đảm tính công bằng trong giáo dục.

Về thị trường giáo dục:

- Thị trường hàng hóa mang hình thái vật chất

Thị trường hàng hóa mang hình thái vật chất của giáo dục là ngoài các sản phẩm vật chất, do nhà trường trực tiếp sản xuất, đầu tư, còn tăng cường góp phần làm cho nền kinh tế thị trường thêm phồn vinh. ở đây, chủ yếu là thông qua việc thể hiện vai trò của giáo dục đối với phát triển sản xuất hàng hóa mang hình thái vật chất, được phản ánh thông qua việc rút ngắn thời gian lao động cần thiết của xã hội, nâng cao hiệu suất sản xuất lao động, hàng hóa sản xuất càng nhiều trong cùng một đơn vị thời gian, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị cao.

- Thị trường nhân tài, thị trường lực lượng lao động

Rất nhiều nhà nghiên cứu đã nhận định: thị trường nhân tài, thị trường lực lượng lao động là vấn đề hạt nhân, là khâu then chốt của việc nghiên cứu mối quan hệ và sự tác động của nó đối với thị trường. Nó được thể hiện chủ yếu trên ba mặt sau đây:

+ Trong điều kiện sản xuất hiện đại hóa, nhân tài và sức lao động vừa là đối tượng để giáo dục đào tạo, vừa là người lao động trong các ngành sản xuất, lĩnh vực sản xuất hàng hóa; là yếu tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất. Giải quyết mâu thuẫn giữa cung và cầu về nhân tài chuyên ngành và các loại lực lượng lao động, vừa thể hiện bằng hình thức điều động, phân công của nhà nước, vừa có sự điều tiết bằng quy luật cung - cầu của thị trường.

+ Mối quan hệ nội tại giữa giáo dục với thị trường nhân tài và thị trường lực lượng lao động lại thể hiện ở vai trò của đào tạo nhân tài chuyên ngành và huấn luyện lực lượng lao động chuyên môn sâu. Giáo dục, xét về góc độ thực tế, phải đáp ứng yêu cầu của thị trường nhân tài và thị trường lao động chuyên ngành. Nếu lực lượng này đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn của thời đại, thì chắc chắn sẽ đứng vững trong thị trường cạnh tranh nhân tài và lực lượng lao động.

+ Thị trường nhân tài, thị trường lực lượng lao động là nguồn giá trị nhiều hơn giá trị vốn có của nó như C. Mác từng nói, đại ý là: hàng hóa sức lao động sở dĩ là sản phẩm có sự khác biệt giữa giá trị của bản thân nó và giá trị do nó tạo ra là vì nó có đặc tính riêng biệt, là lực lượng sáng tạo giá trị, là nguồn gốc của giá trị.

- Thị trường khoa học - kỹ thuật

Thị trường khoa học - kỹ thuật gắn liền với 2 yếu tố: thiết bị và công nghệ ứng dụng; con người sử dụng thiết bị và công nghệ đó. ở đây, thiết bị và công nghệ là hàng hóa thì quá rõ ràng, còn người sử dụng thì lại rơi vào thị trường nhân tài và lực lượng lao động như đã đề cập ở trên.

- Thị trường dịch vụ lao động (dịch vụ) C. Mác cũng từng cho rằng: Dịch vụ trường học (chỉ cần anh ta là thứ mà sản xuất cần hoặc có ích); dịch vụ y tế (chỉ cần anh ta bảo đảm được sức khỏe, duy trì tất cả nguồn giá trị tức là bản thân sức lao động), mua dịch vụ này chính là mua hàng hóa có thể bán được, cung cấp bản thân khả năng lao động để thay thế phục vụ bản thân. Dịch vụ này cần thêm phí sản xuất và phí tái sản xuất khả năng lao động. Nói chung, ý nghĩa dịch vụ ở đây chẳng qua là dịch vụ cung cấp hoạt động, giữa giáo dục và thị trường dịch vụ lao động có mối liên hệ mang tính tất nhiên.

Tác động của kinh tế thị trường trong lĩnh vực giáo dục

Đối với giáo dục phổ thông, bao gồm:

- Đối với giáo dục mầm non chưa phải là cấp học bắt buộc, cấp học thực hiện xã hội hóa, thị trường có thể tác động hoặc không tác động như sau:

+ Về sự nghiệp giáo dục, giáo dục mầm non vẫn là phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước, không mang ý nghĩa hàng hóa.

+ Về hoạt động dịch vụ, là hàng hóa trong cơ chế thị trường.

+ Về nhân tài và lực lượng lao động, đối với công lập, là nhiệm vụ chính trị; còn đối với ngoài công lập, có thể có sự trao đổi trong cơ chế thị trường nhưng phần lớn là chưa ngang giá đối với giáo dục giỏi.

- Đối với giáo dục tiểu học và trung học cơ sở cấp học phổ cập, bắt buộc, vấn đề thị trường là không đáng kể. Phần thực hiện xã hội hóa cũng không đáng kể. Thị trường có thể tác động hoặc không tác động vào các lĩnh vực như:

+ Về sự nghiệp giáo dục, giáo dục tiểu học là phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước, không mang ý nghĩa hàng hóa. Cho dù là công lập hay ngoài công lập thì vẫn phải thực hiện nhiệm vụ mà trong Di chúc Bác Hồ đã căn dặn là "Đào tạo thế hệ cách mạng cho đời sau".

+ Về hoạt động dịch vụ, là hàng hóa trong cơ chế thị trường.

+ Về thị trường nhân tài và lực lượng lao động, đối với công lập, là nhiệm vụ chính trị thì phân công, điều động là hình thức chủ yếu; còn đối với ngoài công lập, có thể có sự trao đổi trong cơ chế thị trường về mức thù lao ở một số trường tư thục hoặc một vài trường quốc tế.

- Đối với giáo dục trung học phổ thông chưa phải là cấp học bắt buộc, cấp học thực hiện vai trò trách nhiệm của Nhà nước có kết hợp với xã hội hóa, thì thị trường có thể tác động hoặc không tác động như sau:

+ Về sự nghiệp giáo dục, giáo dục trung học phổ thông vẫn chủ yếu là phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước. Tất nhiên ở đây có một phần của vai trò quốc tế.

+ Về hoạt động dịch vụ, là hàng hóa trong cơ chế thị trường

+ Về nhân tài và lực lượng lao động, đối với công lập, là nhiệm vụ chính trị, được Nhà nước điều động và phân công và tiền lương theo mức quy định của Nhà nước. Đối với ngoài công lập, có thể có sự trao đổi, thương lượng, nhưng phần lớn là sức lao động bỏ ra chưa ngang giá đối với giáo viên giỏi ở một số trường trong nước; có thể ngang giá ở một vài trường quốc tế. Đối với nhiệm vụ quốc tế: thuộc cơ chế thị trường (trừ nhiệm vụ chính trị do Đảng và Nhà nước giao cho ở một vài trường học).

- Đối với giáo dục cao đẳng và đại học

+ Về sự nghiệp giáo dục, đây là bậc học đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước. Cho nên, sự nghiệp giáo dục vẫn phải là đào tạo những con người phục vụ cho đất nước, nhân dân, phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước.

+ Về hoạt động dịch vụ, người ta cho rằng, ngoài đội ngũ giảng viên đòi hỏi phải có chất lượng cao thì chất lượng dịch vụ ở giáo dục đại học đóng vai trò quan trọng. Nhìn vào chất lượng dịch vụ giáo dục ở một trường đại học, có thể đánh giá được năng lực quản lý của nhà trường đó. Vì vậy, lĩnh vực này có mang ý nghĩa hàng hóa trong cơ chế thị trường.

+ Về thị trường nhân tài và lực lượng lao động:

Đối với các trường công lập, Nhà nước cần quan tâm quản lý và đầu tư để có những con người tài ba phục vụ nhiệm vụ chính trị của đất nước. Lực lượng này do Nhà nước điều động, phân công và tiền lương cần được thực hiện như tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam.

Đối với các trường ngoài công lập, lực lượng giảng viên làm việc trong khối này có thể chịu ảnh hưởng của cơ chế thị trường nhân tài và lao động. Chính nơi này cũng sẽ góp phần tạo ra thị trường lao động để người lao động khẳng định tài năng và hiệu quả làm việc.

Đối với nhiệm vụ quốc tế, thuộc cơ chế thị trường, trừ nhiệm vụ chính trị do Đảng và Nhà nước giao cho.

Với thị trường khoa học - kỹ thuật, đây là lĩnh vực hoàn toàn có thể thị trường hóa, không những trong phạm vi của một nhà trường, một đất nước, mà có thể triển khai ở phạm vi quốc tế.

Tóm lại, xét từ góc độ vĩ mô, giáo dục Việt Nam là một hoạt động nhằm thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Mục tiêu của giáo dục đào tạo là đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội; trong đó có chú trọng đến việc đào tạo và huấn luyện lực lượng lao động cho các ngành, các lĩnh vực sản xuất vật chất và phi vật chất. Với lĩnh vực giáo dục phổ thông, do chức năng và nhiệm vụ giáo dục là hết sức đặc trưng, nên thành quả của giáo dục là đa phương diện; trong đó, thành quả của giáo dục đáp ứng nhiệm vụ chính trị là quan trọng nhất và mang tính chất quyết định. Cơ chế thị trường chỉ có thể tác động vào lĩnh vực dịch vụ và hoạt động dịch vụ giáo dục là chính. Riêng đối với khối giáo dục cao đẳng và đại học, thì ngoài lĩnh vực khoa học - kỹ thuật, dịch vụ giáo dục cần phải tham gia cơ chế thị trường và trở thành hàng hóa, còn yếu tố tài năng và lực lượng lao động thì phần lớn phải phục vụ cho nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước ta; phần còn lại có thể tham gia thị trường trong nước và quốc tế./.

Đặng Huỳnh Mai


NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI
Suy nghĩ về định hướng phát triển giáo dục đại học Việt Nam đầu thế kỷ XXI
15:52' 19/12/2009


TCCS - Nhiều năm qua, giáo dục đại học nước ta vẫn loay hoay tìm lời giải bài toán: làm thế nào để vừa nâng cao chất lượng đào tạo đại học, kịp thời cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vừa bắt kịp và phù hợp với trình độ cũng như xu thế phát triển của giáo dục đại học trên thế giới? Bài viết này là trăn trở của tác giả với mong muốn góp thêm một tiếng nói vào việc đổi mới giáo dục đại học phục vụ cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

1 - Tạo sự bình đẳng hơn nữa và mở rộng cơ hội tiếp cận với giáo dục đại học trong cộng đồng

Những năm gần đây, các cơ sở giáo dục đại học nước ta phát triển nhanh chóng về số lượng và thang điểm chuẩn tuyển sinh cũng linh hoạt hơn. Điều đó đã ít nhiều mở rộng cơ hội tiếp cận với giáo dục đại học trong cộng đồng. Như vậy, phải chăng định hướng phát triển hệ thống giáo dục đại học ở nước ta đang đi theo hai hướng: đại học tinh hoa  đại học đại chúng? Theo kinh nghiệm của các quốc gia thành công trong giáo dục đại học, hệ thống này phải được tổ chức, vận hành sao cho ngày càng có nhiều người được tiếp cận và hưởng lợi càng tốt. Chúng ta đã từng thấy những giọt nước mắt lo lắng của những người mẹ nghèo khi con thi đỗ thủ khoa đến ba trường đại học nhưng không có tiền để cho con theo học. Thực tế cho thấy, nhân tài thực học không phụ thuộc vào hoàn cảnh gia đình. Vì vậy, xã hội cần tạo cho học sinh nghèo cơ hội tiếp cận và hưởng sự bình đẳng trong giáo dục đại học. Đương nhiên, để hiện thực hóa nội dung này, thì đằng sau đó là một loạt các vấn đề nan giải, nổi cộm, chẳng hạn, vấn đề học phí và các trợ giúp khác cho các em. Việc cho sinh viên nghèo vay tiền ăn học được Chính phủ thực hiện trong thời gian gần đây là một chính sách công rất đáng kể làm rõ hơn quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với định hướng phát triển giáo dục đại học của đất nước theo chiều hướng mở rộng cơ hội tiếp cận và từng bước tạo sự bình đẳng về cơ hội giáo dục đại học cho mọi người. Tuy nhiên, đi đôi với việc làm trên đây, cũng cần nghiêm túc loại trừ những cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng mặc dù đã được cấp phép hoạt động, nhưng năng lực mọi mặt lại quá yếu kém, cơ sở vật chất cho đào tạo thì thuê mượn, chắp vá, chất lượng đào tạo thấp. Mở rộng cơ hội tiếp cận và tạo sự bình đẳng trong giáo dục đại học cho cộng đồng không đồng nghĩa với sự bất chấp tất cả.

Có nhiều nước trên thế giới, để tạo ra cơ hội giáo dục đại học rộng mở (chẳng hạn ở Mỹ), họ không tổ chức những kỳ thi tuyển được tiêu chuẩn hóa thống nhất trong toàn quốc. Thậm chí, có trường đại học không căn cứ vào kết quả thi cử mà vẫn tiếp nhận sinh viên vào học. Hệ thống giáo dục đại học ở nước này luôn cố gắng tiếp nhận các sinh viên ngay cả khi khả năng của họ còn hạn chế do bị tàn tật về thể xác hay khiếm khuyết về trí tuệ, hoặc những sinh viên mới nhập cư chưa thực sự thành thạo tiếng Anh. Giáo dục đại học ở Mỹ luôn có chỗ cho mọi đối tượng, mọi nguyện vọng, mọi lứa tuổi, mọi khả năng.

Song, điều đó không đồng nghĩa là ở nước Mỹ không coi trọng giáo dục đại học tinh hoa. Không phải bất kỳ một công dân nào ở đây cũng có cơ hội như nhau để vào các trường danh tiếng như Havard, Stanford, v.v.. Nhưng đối với những người có ít năng lực hơn, họ vẫn có thể được thu nhận vào những trường có tiêu chuẩn thấp hơn. Yêu cầu về học vấn thường tăng dần về cuối khóa học, thậm chí yêu cầu trình độ cao hơn chỉ thực sự đặt ra ở các chương trình cao học. Điều đó giúp cho người học thích nghi dần với cách học ở bậc đại học và mở thêm cơ hội cho họ hoàn thành việc học tập theo yêu cầu để có thể nhận bằng tốt nghiệp.

2 - Trao quyền tự chủ thực sự cho các cơ sở giáo dục đại học

Trong nhiều thập niên qua, các cơ sở giáo dục đại học ở nước ta đều chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chỉ tiêu, tiêu chuẩn tuyển sinh, chương trình đào tạo, yêu cầu tốt nghiệp và các quy định về tuyển dụng giảng viên, mức học phí... Mới đây, Bộ đã trao cho các trường đại học quyền được tự lựa chọn giáo trình và tự chịu trách nhiệm quản lý các chương trình giáo dục, đào tạo. Tiếp theo, Bộ Tài chính công bố dự thảo quy chế thí điểm trao quyền tự chủ cho trường học, trong đó có các cơ sở giáo dục đại học. Tiến tới tất cả các nhà trường sẽ thực hiện quản lý theo quy định của Luật Doanh nghiệp và các chế định của những luật liên quan. Đây có thể coi là bước khởi đầu của lộ trình cải cách hệ thống giáo dục đại học nước nhà cho phù hợp với xu thế chung của thế giới.

Giáo sư Nguyễn Văn Chiển(1) cho rằng: Trường học giống như xí nghiệp kinh doanh đặc biệt, sản xuất ra những hàng hóa đặc biệt là tâm hồn, trí tuệ con người. Những trường nào “sản xuất giỏi”, sẽ là địa chỉ tạo ra “sản phẩm chất lượng cao” và có uy tín trong xã hội. Giáo sư Hồ Ngọc Đại cũng đồng tình với việc giao quyền tự chủ cho các trường đại học, nó biểu hiện sự hợp lý cả về trình độ năng lực và quá trình xây dựng thương hiệu trong giáo dục. Uy tín về chất lượng đào tạo của từng trường đại học phải do chính các giáo viên và các nhà quản lý của trường đó quyết định. Để xây dựng uy tín, mỗi giảng viên cũng cần được tự chủ và tự chịu trách nhiệm về những quyết định của mình đối với từng môn học và đối với sinh viên. Tất cả những điều đó, đương nhiên, là vấn đề sống còn mà mỗi trường đại học phải tự quyết định. Những trường đại học muốn tuyển được nhiều sinh viên có chất lượng cao đều phải là những trường thực sự có uy tín về chất lượng giảng dạy. Triết lý ẩn chứa đằng sau sự trao quyền tự chủ cho giáo dục đại học thể hiện tính dân chủ, sự tin tưởng vào giá trị bình đẳng cơ hội và cạnh tranh liên tục để hoàn thiện và phát triển giữa các cơ sở giáo dục đại học với nhau. Có thể coi cơ sở giáo dục đại học khi được trao quyền tự chủ là một loại doanh nghiệp đặc biệt và như vậy, nên chăng, cơ quan chủ quản chỉ tham gia quản lý ở phạm vi hỗ trợ tài chính, giám sát sử dụng tài chính và “nghiệm thu” hiệu quả chứ không trực tiếp tham gia quản lý, tổ chức các hoạt động hằng ngày của các cơ sở đại học, nhất là vấn đề mang tính học thuật, chuyên môn. Lúc này, mọi hoạt động của cơ sở đại học đều nằm dưới sự điều chỉnh và giám sát của luật pháp.

Việc trao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học còn là một quyết sách nhằm phát huy nguồn lực của các thành phần kinh tế, nâng cao chất lượng dịch vụ, đổi mới phương thức quản lý, phù hợp với thực tiễn phát triển của nền kinh tế thị trường. Và như vậy, để tồn tại và phát triển, các cơ sở giáo dục đại học phải bảo đảm cung cấp các dịch vụ giáo dục có chất lượng nhất, linh hoạt nhất, đa dạng nhất, đáp ứng đòi hỏi của người học và của cả xã hội, tạo ra thước đo chính xác nhất, khách quan nhất, sự kiểm nghiệm tốt nhất về chất lượng đào tạo.

3 - Bảo đảm tính đa dạng và linh hoạt trong giáo dục đại học

Sự đa dạng và linh hoạt trong giáo dục đại học thể hiện ở các phương diện:

Một là, đa dạng về loại hình trường, cấp độ bằng cấp và chương trình đào tạo. Trong hệ thống giáo dục đại học, các trường công và trường tư với quy mô, cơ sở vật chất, phương thức quản lý, tổ chức và hoạt động khác nhau cùng tồn tại và hoạt động hiệu quả sẽ phát huy được thế mạnh của mỗi loại hình nhà trường. Chương trình đào tạo đa dạng về yêu cầu, thời gian, chuẩn mực, nội dung, phương pháp cũng sẽ đáp ứng rộng rãi nhu cầu, nguyện vọng, khả năng và điều kiện khác nhau của người học. Sinh viên có thể đến lớp hoặc học từ xa qua sử dụng những phương tiện công nghệ mới.

Hai là, tính linh hoạt thể hiện ở chỗ sinh viên cùng chuyên ngành không bắt buộc phải học tất cả các môn như nhau mà có thể lựa chọn những môn học phù hợp với khả năng, hứng thú và định hướng tương lai của mình, không bắt buộc phải tuân theo một trật tự các môn học cố định hay số lượng cố định các môn học, mà tùy theo hoàn cảnh, nguyện vọng, họ chỉ cần đáp ứng những yêu cầu do nhà trường quy định để có thể nhận bằng tốt nghiệp. Sinh viên có thể tạm ngừng học một thời gian hoặc chuyển đổi từ đại học này sang đại học khác mà vẫn được bảo lưu kết quả đã học; có thể học ở trường đại học gần nhất để tiết kiệm chi phí rồi học tiếp ở trường đại học khác để nhận bằng như mong muốn. Chính sự linh hoạt và liên thông giữa các trường đại học sẽ góp phần đưa tỷ lệ những người học đại học ở nước ta lên cao; đồng thời tăng cường tính xã hội hóa trong giáo dục, đào tạo.

Sự linh hoạt còn phải được thể hiện ở khâu tuyển sinh. Nên coi điểm thi tuyển sinh là một trong những căn cứ để xét tuyển cùng với kết quả các kỳ thi đánh giá quá trình học tập lớp cuối cấp ở trường trung học phổ thông. Cơ sở giáo dục đại học có uy tín phải là nơi chất lượng “đầu vào” không đòi hỏi quá cao nhưng lại có tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp ra trường và cơ hội có việc làm cao. Coi giáo dục đại học như một chiếc cầu thang và khuyến khích các cá nhân bước lên càng cao càng tốt theo nguyện vọng và năng lực của họ. Từ đó, họ có điều kiện cải thiện cuộc sống và vị trí xã hội của mình để không ngừng hoàn thiện bản thân, đáp ứng các nhu cầu phát triển của cá nhân và đất nước.

4 - Phát huy năng lực sáng tạo cá nhân của người học

Yêu cầu này của giáo dục đại học liên quan tới nội dung kiến thức và khả năng tiếp thu kiến thức của sinh viên. Họ phải là chủ thể của công cuộc khai thác kiến thức, tìm ra những thông tin mới, sáng tạo và phát minh ra những cách tiếp cận kiến thức mới mẻ. Vì thế việc học ở đại học không chỉ là việc ghi nhớ một cách thuần túy những kiến thức có sẵn trong sách vở hay những kiến thức do giảng viên truyền đạt mà là một công cuộc tìm tòi, khám phá, thử nghiệm, phân tích, tổng hợp, trong đó sinh viên phải thực sự tích cực tham gia cùng với giảng viên một cách chủ động và độc lập. Như vậy, sinh viên phải học các kỹ năng phân tích, tổng hợp những thông tin tiếp nhận và cách sử dụng kỹ năng đó vào việc chinh phục những kiến thức mới. Nói cách khác, giáo dục đại học phải coi học tập là quá trình sản sinh tri thức, tức là quá trình đòi hỏi ở người học sự chủ động và sáng tạo thay vì phương pháp giảng dạy đại học đang tồn tại khá phổ biến hiện nay là đặt người học ở vào vị trí thụ động, không khơi dậy và phát huy năng lực phản biện, phê phán và tư duy sáng tạo của người học.

Phương pháp giảng dạy đại học hiện nay ở các nước phát triển là tăng cường giao tiếp, trao đổi giữa giảng viên và sinh viên, thông qua các buổi thảo luận, làm việc nhóm, các buổi thuyết trình của sinh viên hay báo cáo trao đổi học thuật cũng như báo cáo nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Điều đó sẽ góp phần quan trọng trong việc rèn luyện tư duy sáng tạo cho sinh viên. Trường đại học thực thụ là môi trường cho hạt giống sáng tạo được gieo mầm và phát triển.

Các trường đại học nên quan tâm đến việc phát triển năng lực tư duy độc lập và quan tâm tới đặc điểm của từng cá nhân người học. Tỷ lệ giảng viên/ sinh viên thấp là điều kiện tốt để họ có thể tiếp cận và tiếp nhận sự giúp đỡ, hướng dẫn trực tiếp của các giảng viên. Gia tăng việc tổ chức các buổi gặp gỡ, trao đổi cả trong phạm vi học thuật và phi học thuật giữa các trường đại học cũng là cách để sinh viên có điều kiện mở rộng kiến thức chuyên ngành và kiến thức xã hội.

Giáo dục đại học còn hướng tới sự quan tâm đến từng cá nhân người học thông qua các hoạt động ngoại khóa của các tổ chức như câu lạc bộ, hiệp hội sinh viên... giúp sinh viên có cơ hội tự thể hiện và phát huy khả năng của mình. Tổ chức các dịch vụ sinh viên như hỗ trợ về học thuật hay tâm lý cũng là những biểu hiện rõ nét của giáo dục hướng tới cá nhân, từ đó, hướng tới việc đào tạo con người toàn diện. Sinh viên được đào tạo sâu một chuyên ngành, song cũng cần có sự hiểu biết nhất định đối với các lĩnh vực học vấn khác. Điều đó không chỉ giúp cho sinh viên hiểu biết rộng, thỏa mãn được nhiều hứng thú của cá nhân mà còn phát hiện được những năng lực tiềm ẩn khác, giúp họ tự tin hơn.

5 - Giáo dục đại học mang tính chuyên nghiệp cao kết hợp với sự tham gia tích cực của gia đình người học

Tính chuyên nghiệp cao trong giáo dục đại học, trước hết, yêu cầu đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý phải được đào tạo chuyên nghiệp. Đội ngũ này là những người đạt được chuẩn mực nhất định về kiến thức và phương pháp sư phạm hay quản lý giáo dục. Hơn thế, họ còn là các chuyên gia về lĩnh vực được đảm nhận và luôn được bồi dưỡng kỹ năng, cập nhật kiến thức, thu nhận thông tin mới về các tiến bộ của khoa học - công nghệ để đưa vào nội dung giảng dạy và quản lý. Giảng viên ở các trường đại học tiến tới phải đạt trình độ tiến sĩ hoặc bằng cấp cao trong lĩnh vực giảng dạy của mình. Tỷ lệ tiến sĩ ở các trường đại học hướng tới phải đạt khoảng 90% - 95% tổng số nhân lực trực tiếp tham gia giảng dạy.

Bên cạnh tính chuyên nghiệp cao của giảng viên, cần coi trọng sự tham gia tích cực của gia đình trong quá trình giáo dục con em họ. Vai trò của gia đình không chỉ ở định hướng nghề qua việc chọn trường học cho con cái mà còn ở việc tham gia cùng nhà trường giáo dục, rèn luyện sinh viên. Nên khuyến khích cha mẹ sinh viên tới thăm trường, tham quan các thiết bị học tập, cơ sở vật chất, dịch vụ sinh viên và gặp gỡ, trao đổi, hợp tác với giảng viên để hỗ trợ việc học tập, rèn luyện của con em họ. Tổ chức những “hội nghị phụ huynh” nhằm thắt chặt thêm mối liên hệ giữa nhà trường với gia đình và sinh viên để thông báo lịch học, những thành tích, kết quả học tập tu dưỡng của sinh viên cho gia đình, thậm chí cho chính quyền ở địa phương nơi gia đình sinh viên cư trú. Điều đó giúp gia đình và địa phương luôn có thông tin cần thiết về các em, từ đó có thể kết hợp cùng nhà trường trong việc giáo dục sinh viên, xây dựng niềm tự hào cho mỗi gia đình, địa phương và chính bản thân họ, góp phần thúc đẩy động cơ học tập và cống hiến cho quê hương, đất nước.

6 - Sự tương đồng với nền giáo dục khu vực và thế giới trong xu thế toàn cầu hóa

Ngày nay, sự liên kết, mở rộng quan hệ để nâng cấp giáo dục bậc đại học tuy không phải là vấn đề mới, nhưng trước yêu cầu hội nhập, hình thức này càng cần phải được thúc đẩy mạnh mẽ hơn. Vì vậy, đòi hỏi ngoài việc chú trọng giảng dạy những môn lý thuyết sát hợp với điều kiện cụ thể của mỗi nước, các trường đại học cần mở rộng phương thức giảng dạy và hướng dẫn cách ứng dụng những lý thuyết đã học vào thực tế. Nếu phương pháp này được thực hiện rộng ra ngoài phạm vi một trường đại học và ngoài phạm vi quốc gia, thì sinh viên sẽ có nhiều cơ hội hiện thực hóa nghề nghiệp mà họ theo đuổi. Giá trị của tấm bằng tốt nghiệp đại học mà họ đạt được sẽ lớn hơn, đem lại cho họ động cơ, hứng thú nghề nghiệp và lợi ích cao. Khi ra trường, họ có thể vững tin vào công việc của mình.

Các trường đại học, nhất là ở khối ngành khoa học ứng dụng, cần chủ động xây dựng quan hệ ổn định và chặt chẽ với cộng đồng và các doanh nghiệp địa phương để có kế hoạch đào tạo sát hợp, đáp ứng đúng những yêu cầu cung ứng nhu cầu lao động trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; đồng thời, nên tận dụng sự ủng hộ của cộng đồng và các doanh nghiệp về nguồn tài chính, về môi trường và cơ sở vật chất - kỹ thuật, công nghệ cho sinh viên thực tập, học nghề.

Tính thực tiễn của giáo dục đại học đang đặt ra yêu cầu với các trường đại học phải luôn nâng cấp cơ sở vật chất, phương tiện dạy và học để giúp sinh viên được tiếp cận với công nghệ hiện đại. ở lớp học và khu ký túc xá, sinh viên được sử dụng in-tơ-nét và hệ thống thư viện liên mạng miễn phí trong tìm kiếm thông tin phục vụ học tập và nghiên cứu.

Thông qua sự liên kết đào tạo có tầm quốc tế, các trường đại học chú trọng cung cấp các khóa học đa dạng về quốc tế, tiến tới yêu cầu bắt buộc đối với một số ngành học sinh viên phải học những môn học chung của giáo dục đại học được quốc tế hóa, kể cả ngoại ngữ, để có thể nhận chứng chỉ học tập; giúp sinh viên có những chuyến đi thực tế nâng cao hiểu biết về đời sống kinh tế, văn hóa - xã hội các nước khác.

Với một phương cách giáo dục mới, gắn với thực tế trước xu thế toàn cầu hóa tại các trường đại học, hy vọng các sinh viên tốt nghiệp đại học của nước ta sẽ có thêm nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm không chỉ trong nước mà còn cả ở nước ngoài./.   -------------------------------- 

(1) Nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam

Vũ Thị Phương Mai


NHỮNG GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG VÀ HIỆN ĐẠI CẦN PHÁT HUY TRONG GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY

23:15' 3/6/2013
TCCSĐT- Ngày nay, khi các chức năng kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa của gia đình đang biến đổi trong điều kiện mới thì thiết chế gia đình cũng cần phải biến đổi cho phù hợp. Việc nâng cao vị thế, vai trò của các thành viên trong gia đình sẽ làm tăng thêm những giá trị cá nhân con người.


Trong lịch sử phát triển, gia đình vừa là một đơn vị kinh tế, vừa là cái nôi đầu tiên nuôi dưỡng, giáo dục con người, duy trì và phát triển ở họ những quan hệ tình cảm đặc biệt và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cùng với các thiết chế của xã hội, gia đình có vai trò quan trọng trong việc xã hội hóa con người. Sự hình thành những chuẩn mực và định hướng giá trị tốt đẹp của gia đình sẽ không chỉ củng cố các mối quan hệ gia đình mà còn kiến tạo một môi trường xã hội thuận lợi cho mỗi cá nhân được phát triển hài hòa và toàn diện. Về phương diện này, gia đình là cơ sở đầu tiên cho việc tái sản xuất ra con người và xã hội. Gia đình là nơi và là nguồn cung cấp lực lượng lao động cho xã hội để tham gia quá trình vận hành của xã hội từ sản xuất, phân phối, đến trao đổi và tiêu dùng. 

Rõ ràng gia đình là môi trường đầu tiên quan trọng nhất để con người hoàn thiện mình trước khi tham gia vào xã hội. Vì vậy, những giá trị, chuẩn mực, đạo đức trong gia đình cần được phân định và chọn lựa. Con người hiện đại có nhiều thuận lợi hơn cha ông trong việc xây dựng, học tập các giá trị, chuẩn mực, đạo đức trong gia đình. Một mặt, họ được kế thừa các giá trị truyền thống. Mặt khác, họ tự mình xây dựng các giá trị mới dựa trên sự phát triển của kinh tế, trí tuệ, khoa học, đó là các giá trị hiện đại. Sự kết hợp hài hòa hai yếu tố này sẽ hướng tới xây dựng gia đình văn minh mà trong đó cuộc sống của con người ngày càng hạnh phúc hơn; sự ứng xử giữa người với người ngày càng nhân hậu và công bằng hơn. 

Các giá trị truyền thống

Cha mẹ nhân từ, con cái hiếu thảo, anh em hòa thuận

Có thể nói, Nho giáo là một trong những tư tưởng triết học phương Đông đã đề cập đến trật tự xã hội và gia đình từ rất sớm. Tư tưởng Nho giáo về gia đình đã có ảnh hưởng to lớn đối với sự phát triển của văn hóa gia đình ở Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, và Việt Nam trong nhiều thế kỷ. Nho giáo có nguồn gốc Trung Quốc nhưng khi xâm nhập vào các nước khác nó chịu ảnh hưởng của văn hóa bản địa, đương nhiên các nguyên tắc chính của nó vẫn tồn tại đến tận ngày nay. Quan điểm của Nho giáo về quan hệ trong gia đình bao gồm quan hệ giữa cha mẹ và con cái, vợ chồng, anh chị em. 

Quan hệ cha con, anh em được thể hiện bằng chữ hiếu và được coi là gốc của các đức khác: Quân tử vụ bản, bản lập nhi đạo sinh. Hiếu đễ giả kỳ vi nhân chi bản dư (theo Luận ngữ , học nhi, 2). Giữa hiếu và đễ thì hiếu làm đầu vì hành vi của con người không gì lớn bằng chữ hiếu, trong các tội của con người thì không có tội nào lớn hơn tội bất hiếu: (Ngũ hình chi thuộc tam thiên, nhi tội mạc đại ư bất hiếu). Người con có hiếu phải là người có ý thức đầy đủ về tình cảm và bổn phận của mình đối với cha mẹ. Đó là sự biết ơn sâu sắc công sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ, suốt đời phải biết làm cho cha mẹ vui sướng dù mình có phải chịu khó khăn, gian khổ, thậm chí hy sinh tính mạng cũng thỏa lòng. Đạo hiếu phải được biểu hiện bằng hành vi cụ thể như phải biết giữ gìn thân thể, sức khỏe của mình để cho cha mẹ yên lòng, không làm điều xấu gây phiền lụy cho cha mẹ; đặc biệt không làm điều bạo ngược để cha mẹ nguy khốn. Người con phải theo đuổi nghề nghiệp của cha, làm nên danh phận cho cha mẹ vui, phải sinh con. Khi cha mẹ còn sống không đi xa để có điều kiện phụng dưỡng cha mẹ, khi cha mẹ mất phải cúng giỗ, để tang trong ba năm. 

Về phía cha, mẹ, phải là những người nhân từ, tử tế, biết khuyến khích khi con làm điều tốt, bao dung khi con có lỗi, không chỉ giáo dục con bằng hiệu lệnh, lời nói mà phải bằng tấm gương của chính mình. Nho giáo đưa ra nguyên tắc là con người phải làm tốt các vai trò ở vị trí của mình: cha nên cha, con nên con, anh nên anh, em nên em, chồng nên chồng, vợ nên vợ thì đạo đức gia đình mới được bảo đảm (Phụ phụ, tử tử, huynh huynh, đệ đệ, phu phu, phụ phụ, nhi gia đạo chính - Kinh Dịch). Nho giáo cũng đặt nặng trách nhiệm cho người mẹ, đó là “Phúc đức tại mẫu” và cũng hàm ý trách cứ người mẹ nếu như gia đình không có phúc. Anh em trong một nhà thì người anh trai cả có quyền lớn nhất, có thể thay cha khi cần thiết, có quyền định đoạt số mệnh, gia đình của các em “ Quyền huynh thế phụ”, cúng giỗ, nối nghiệp dòng dõi và giao tiếp trong họ, ngoài làng…

Tình yêu thương, sự tôn trọng trong gia đình 

Ở Việt Nam, sự hòa trộn giữa bản sắc của dân tộc với đạo lý Nho giáo đã tạo ra văn hóa gia đình với những nét độc đáo mà nền tảng căn bản chính là tình thương yêu và ý thức trách nhiệm của mỗi thành viên. Từ tình thương yêu đối với gia đình dẫn tới tình thương yêu đối với cộng đồng, xã hội Tổ quốc. Chính tình thương yêu đó là chỗ dựa vững chắc cho sự tồn tại, phát triển của gia đình, đất nước trước những biến cố của lịch sử. Việt Nam khi tiếp thu Nho giáo cũng lược bỏ nhiều quy tắc cứng nhắc, cực đoan của nó. Việt Nam có gia giáo, gia lễ, gia phong song không có gia pháp như Trung Quốc. Gia pháp Trung Quốc cho phép cha mẹ có thể xử chết con cái, nhất là con dâu mà không cần tòa án, vì vậy đã có rất nhiều người con bị hại chết oan khuất khi không làm vừa lòng cha mẹ. 

Người Việt thường giải quyết tất cả các mối quan hệ không phải chỉ theo giáo lý và luật pháp mà còn trên cơ sở của tình nghĩa. Trong gia đình Việt Nam “hiếu đễ” được coi là cái gốc của đạo lý. Người Việt cũng cho rằng kẻ nào bất hiếu với cha mẹ, tàn nhẫn với anh chị em mình thì không thể là người tốt và đáng được tin cậy trong xã hội. Bên cạnh đó, mối quan hệ trên dưới trong gia đình được quy định rất rõ ràng. Con người, trước hết là một bộ phận của gia đình, là một mắt xích của một xâu chuỗi dài bắt nguồn từ tổ tiên đến con cháu sau này. Ở những vị trí cụ thể của mình là cha, con, chồng, vợ đều phải ứng xử theo phận sự của mình, cha mẹ nhân từ, con cái hiếu thảo, vợ chồng hòa thuận, thủy chung, anh nhường nhịn em, em kính trọng anh... Nếu tất cả các thành viên đều giữ đúng những nguyên tắc tình nghĩa đó thì xã hội tất ổn định, thái bình. 

Điều này thể hiện rất rõ trong các câu chuyện lịch sử, trong văn chương bác học và văn học dân gian ở Việt Nam. Ngay từ thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã viết “Gia huấn ca” trong đó đưa ra nhiều nguyên tắc xây dựng gia đình và giáo dục gia đình vừa theo quan điểm của Nho giáo vừa kết hợp với những giá trị truyền thống của dân tộc. Phan Bội Châu trong cuốn “Khổng học đăng” cho rằng: “Tề, trị chỉ có một lẽ, gia, quốc chung nhau một gốc”. Nhà tức là cái nước nhỏ, nước tức là cái nhà to, nước phải có phép tắc, nhà phải có gia phong và chính cái gia phong này cũng ràng buộc con người không kém gì phép nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng rất quan tâm đến vấn đề gia đình. Trong nhiều tác phẩm của mình, Người đã đề cập rất rõ đến vai trò của gia đình đối với con người và xã hội. Gia đình là nơi con người xây dựng mối quan hệ yêu thương, bình đẳng, hòa thuận. Nho giáo khuyến khích và đề cao những người con có chí, nỗ lực phát triển gia đình người Việt Nam có câu “con hơn cha là nhà có phúc”. 

Ngày nay, chúng ta cần kế thừa những chuẩn mực về hiếu đễ của truyền thống dân tộc vì đây chính là điểm căn bản của con người có tri thức. Cần giáo dục cho thế hệ trẻ lòng biết ơn sâu sắc đối với cha mẹ là những người đã cho chúng ta cả cuộc đời và công ơn ấy không ai sánh bằng. Chúng ta cũng cần xây dựng tôn ti trật tự trong gia đình mà trong đó mỗi người đều làm tốt trách nhiệm của mình. Một sự biến đổi lớn trong gia đình là vị trí quan trọng nhất trong gia đình không thuộc về ông bà, cha mẹ nữa mà thuộc về những đứa trẻ. Chúng không chỉ là tương lai của gia đình mà còn là tương lai của đất nước. Các gia đình thường dồn sự chăm lo cho con trẻ mà nhiều khi sao nhãng trách nhiệm với cha mẹ già. Đây cũng là một lệch lạc cần điều chỉnh sửa chữa vì sự cân bằng trong gia đình.

Để làm được việc này, Nhà nước và xã hội cần có những chính sách cụ thể cho gia đình. Cần nêu gương và khen thưởng cho những gia đình mẫu mực, đồng thời phải lên án, phê phán nặng những gia đình đồi bại, cha mẹ bỏ rơi, ngược đãi con cáí hoặc con cái bất hiếu, hành hạ cha mẹ...

Các giá trị hiện đại

Bình đẳng giới và quyền của trẻ em


Quan hệ giới trong gia đình theo Nho giáo cũng hết sức chặt chẽ và nghiêm khắc. Đây lại là điểm yếu lớn nhất của Nho giáo. Một mặt, Nho giáo đề cao chữ hiếu nhưng mặt khác Nho giáo lại phân biệt, hạ thấp thân phận phụ nữ. Mâu thuẫn này khiến những quan điểm về giới của Nho giáo là một điển hình của chủ nghĩa gia trưởng, sự vô lý và thiếu nhân đạo của chủ thuyết về đạo làm người.

Phụ nữ trong con mắt của Nho giáo là hạng “khó dạy”. Khổng Tử nói: chỉ có đàn bà và hạng tiểu nhân là hạng khó dạy, khi ta gần thì họ sinh nhờn, khi ta xa thì họ mắc oán. Khổng Tử đặt đàn bà ngang với tiểu nhân.

Nho giáo chia các thành viên trong gia đình thành hai loại người: “sử “và “sự”. “Sử” là những ông chủ trong gia đình có quyền uy tuyệt đối trong đối nội và đối ngoại, có quyền giáo dục người khác. Đó là ông, cha, anh, con trai, còn “sự” là những người thứ bậc dưới như cháu, con, em, phụ nữ, con gái. Mọi người đàn ông trong gia đình khi sinh ra thì thuộc hàng “sự” nhưng đến khi lớn lên, có gia đình riêng, anh ta sẽ thuộc hàng Sử còn mọi người phụ nữ trong suốt cuộc đời mình chỉ là hạng sự, không bao giờ thuộc hạng sửcả. Họ cũn bị trói buộc bởi các nguyên tắc tam tòng (ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con) và tứ đức (công, dung, ngôn, hạnh) để rèn luyện kỹ năng nội trợ, trang điểm dung nhan, nói năng mềm mỏng, phục tùng và giữ gìn trinh tiết để chỉ phục vụ cho người chồng và gia đình. Trong khi Nho giáo đề cao chủ nghĩa đa thê của đàn ông thì đối với phụ nữ, họ coi trinh tiết quý hơn sinh mệnh. Nho giáo dạy phụ nữ: đói chết là việc cực nhỏ, giữ gìn trinh tiết mới là việc cực lớn (Nhiên ngạc tử sự cực tiểu, thất tiết sự cực đại). Các nguyên tắc này đã trở thành luật, phong tục và đã chôn vùi bao thế hệ phụ nữ trong nhà tù của gia đình và xã hội trước kia. Nho giáo còn có quan điểm: Anh em như chân tay, vợ chồng như quần áo nghĩa là vợ hoặc chồng có thể bỏ, có thể thay thế vì không phải ruột thịt còn anh em thì không thể chặt bỏ được.

Ngược lại với Nho giáo, truyền thống Việt Nam là “Trọng Mẫu”, thờ Mẫu. Phụ nữ Việt Nam không chỉ là vợ, là mẹ, là bà mà còn là các anh hùng dân tộc như hai bà Trưng, bà Triệu. Phụ nữ được thờ cúng trong đền thờ các vua Hùng và các đền thờ khác nằm rải rác ở khắp đất nước. Phụ nữ được tôn vinh làm thành hoàng nhiều làng, là bạn chiến đấu của nam giới trong các cuộc đấu tranh chống thiên tai và địch họa. Phụ nữ luôn là bạn đồng hành của nam giới trong suốt chiều dài lịch sử. Trong nhiều gia đình, phụ nữ là người nắm giữ tài chính “tay hòm chìa khóa’ dân gian có câu “Lệnh ông không bằng cồng bà”. Người Việt Nam cũng coi trọng trinh tiết của người phụ nữ nhưng không quá cực đoan như Nho giáo. Ca dao Việt Nam đã phản kháng sự khắt khe của Nho giáo trên vấn đề này: “Gió đưa cành trúc ngã quỳ; Ba năm trực tiết còn gì là xuân” hay “Chính chuyên chết cũng ra ma; Lẳng lơ chết cũng đưa ra ngoài đồng”. Rõ ràng là, ngay trong thời kỳ phong kiến ở Việt Nam thì mối quan hệ giới trong gia đình cũng không khắt khe và tàn nhẫn như một số nước khác. 

Bình đẳng giới là một nguyên tắc được Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra ngay từ Luận cương chính trị năm 1930 và được quan tâm đến nay. Cùng với sự mở rộng của giáo dục và phong trào đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ, phụ nữ ngày nay cũng ít phụ thuộc hơn vào những hủ tục của gia đình truyền thống. Việc thực hiện các quyền của phụ nữ và trẻ em đã làm biến đổi trật tự gia đình cũ. Sự phát triển của những hoạt động dịch vụ và thị trường cũng làm tăng cơ hội để phụ nữ thoát khỏi sự trói buộc của các hoạt động nội trợ, sinh đẻ và chăm sóc con cái. Sự thay đổi trong quan hệ giới đã dẫn đến những tiến bộ trong gia đình cả về phát triển kinh tế, văn hóa và quyền của phụ nữ và trẻ em.

Việc phụ nữ tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội và bình đẳng về kinh tế, chính trị với nam giới, cũng làm cho họ vắng bóng nhiều hơn trong môi trường gia đình. Điều này khiến cho nhiều người đàn ông gia trưởng và cả những phụ nữ “xưa” không vừa lòng. Tuy nhiên, khoa học về giới đã chứng minh rằng công việc trong gia đình không phải của riêng phụ nữ. Họ cũng gánh trọng trách ngoài xã hội như nam giới và họ cũng có quyền chia sẻ gánh nặng gia đình như người chồng và các thành viên khác. Điều này đã trở thành bình thường trong các gia đình có văn hóa cao và trở thành bất thường trong các gia đình gia trưởng. Vì vậy, thực hiện bình đẳng giới trong gia đình không chỉ là tôn vinh một giá trị hiện đại mà đây cũng là sự kế thừa truyền thống, đồng thời là cơ sở và là một đóng góp to lớn để thực hiện bình đẳng giới ngoài xã hội. 

Liên quan đến bình đẳng giới, một chuẩn mực đạo đức được đề cao trong gia đình là tình yêu chung thủy vợ chồng. Trước đây người ta chỉ đòi hỏi phía phụ nữ “Trai năm thê bảy thiếp còn gái chính chuyên chỉ có một chồng”. Đây là một quan điểm bất công và tình trạng bất công đó đã kéo dài hàng chục thế kỷ. Lòng chung thủy và chế độ hôn nhân một vợ một chồng chính là tiến bộ vượt bậc của con người trong lịch sử hôn nhân mà con người phải rất khó khăn mới đạt được.

Cơ hội bình đẳng và công bằng cho các thành viên - quyền và trách nhiệm

Một vấn đề hiện đại nữa cần được phát huy trong gia đình là tạo cơ hội bình đẳng và công bằng cho các thành viên, thực hiện quyền tự do cá nhân của họ. Trước đây, quyền lực tập trung trong tay người gia trưởng có nghĩa là chỉ người gia trưởng mới có quyền và cơ hội phát triển. Ngày nay, các quyền cá nhân được luật pháp bảo vệ. Quyền cá nhân là một quyền cơ bản trong gia đình và xã hội. Khi còn nhỏ con người đã có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền được học tập. Khi lớn lên, có quyền được lựa chọn nghề nghiệp, hôn nhân và định đoạt tương lai của chính mình. Tất cả những gì vi phạm vào quyền cá nhân, tước đoạt quyền quyết định của cá nhân, đó không chỉ là những sai sót về đạo đức mà còn là sự phạm pháp. Khát vọng đó không chỉ cho mỗi cá nhân mà là khát vọng cho gia đình, xã hội, đó cũng chính là thể hiện quyền cá nhân của con người được bảo vệ.

Ê-mê-li Đu-khem (1858-1917), nhà xã hội học Pháp đã tranh luận: Con người cần định nghĩa rõ ràng là trách nhiệm sẽ trói buộc họ với nhau trong một cộng đồng đạo đức. Ông tin rằng con người được kế thừa tính ích kỷ vì thế có thể hình thành các mối quan hệ với người khác chỉ khi họ có tình cảm tự nhiên hoặc sống trong sự kiểm tra bởi các quy tắc xã hội. Hai yếu tố này sẽ kết hợp chặt chẽ với nhau để con người hoàn thành trách nhiệm với gia đình và tham gia vào xây dựng đạo đức xã hội.

Quyền và trách nhiệm thường không giống nhau nhưng có quan hệ với nhau. Chẳng hạn, cha mẹ có quyền chăm sóc con cái nhưng cái quyền đó cũng bao hàm các trách nhiệm. Họ có thể bị coi là vi phạm pháp luật và đạo đức nếu không thực hiện tốt các quyền của mình. Thực chất các quyền và trách nhiệm này rất phức tạp. Đó không chỉ là cung cấp thức ăn, quần áo, nhà cửa cho con cái mà còn biết cách đáp ứng các đòi hỏi hợp lý của con, biết tạo lập nhân cách cho con, chú ý tới những mối quan tâm của con cái, chịu khó tâm sự với con, tôn trọng quyền riêng tư của con, thưởng phạt công minh, biết cách vui đùa, dạy con niềm vui khi được tham gia cộng đồng, không bất hòa với người khác... Muốn làm cha mẹ tốt phải là một quá trình học hỏi và có nghệ thuật cao.

Trong khi đó, những đứa con cũng không chỉ có quyền được huởng sự chăm sóc của cha mẹ mà còn có trách nhiệm với gia đình, bố mẹ. Về phương diện này, sự kết hợp giữa các yếu tố truyền thống và hiện đại là vô cùng cần thiết. Người con phải thấu hiểu quyền và trách nhiệm của mình, học những nét đẹp truyền thống của đạo hiếu và tránh những biểu hiện cực đoan. Khái niệm bất hiếu” là để chỉ những người con vô trách nhiệm với gia đình, cha mẹ. 

Văn hóa tập thể và văn hóa cá nhân


Việc cân bằng giữa quyền và trách nhiệm của các thành viên trong gia đình là khác nhau từ xã hội đến xã hội. Các học giả và các chính trị gia thường phân biệt giữa văn hóa tập thể và văn hóa cá nhân. Văn hóa tập thể là cái mà trong đó các mục đích cá nhân phụ thuộc vào mục đích của nhóm lớn và trách nhiệm đến những người khác được nhấn mạnh trên sự tự do cá nhân. Ngược lại, văn hóa cá nhân là cái mà trong đó quyền cá nhân, sự tự thực hiện, tự quản và sự xác định cá nhân được giành quyền ưu tiên. Văn hóa tập thể trước đây cho rằng các thành viên gia đình là phụ thuộc lẫn nhau và cuộc sống của một người là của cả người khác. Trách nhiệm, sự nhường nhịn, sự hy sinh và sự hòa giải đã được coi là các hoạt động cơ bản của văn hóa tập thể. Chủ nghĩa tập thể không có nghĩa là hoàn toàn tiêu cực đối với cuộc sống cá nhân hoặc quyền lợi của họ. Ngược lại nó là cơ sở, là sự củng cố lối sống của nhóm, bảo đảm một cách cơ bản cho cuộc sống của cá nhân. Văn hóa tập thể là sự phản ánh những hành động của cá nhân cho cả nhóm, các hành vi thường nhật của cá nhân có thể gây ra sự xấu hổ hoặc sự tự hào cho mọi người trong nhóm. Như vậy là, các thành viên gia đình có vai trò quan trọng trong mối quan hệ với các thành viên khác của gia đình. Mỗi người trước khi hành động cần suy nghĩ rằng việc này có lợi hay mang bất lợi cho gia đình. Sự thể hiện không tốt trong ứng xử của một cá nhân có thể làm mất danh dự của tổ tiên cũng như của thế hệ tương lai. “Một người làm quan cả họ được nhờ”. Vì vậy, trong văn hóa tập thể, sự tồn tại của cá nhân thường được xếp vào bên trong gia đình. Các giá trị của gia đình được đặt lên trên các thành tích của cá nhân. Trong nhiều cộng đồng, con người đã rất trung thành với mối quan hệ thân tộc thân thích mà các quan hệ này đã giúp đỡ cho các thành viên vào đúng lúc mà họ cần.

Ngược lại với phương Đông, văn hóa cá nhân được đề cao ở phương Tây ngày càng phổ biến ở các nước đang phát triển khác. Theo đó, con người đang hướng tới các giá trị của sự tự do cá nhân, độc lập, phát triển cá nhân hơn là trách nhiệm và nghĩa vụ với nhóm, tập thể và của gia đình. Ở các xã hội này, những người độc thân thành đạt, thường là trên cơ sở các cố gắng của cá nhân. Thời thơ ấu đôi khi được xem là một sự chuẩn bị cho các sự kiện quyết định của việc rời khỏi gia đình khi đủ 18 tuổi; thậm chí sớm hơn. Họ coi rằng đó là bước đi cần thiết của thời trưởng thành. 

Việc kết hợp hài hòa văn hóa tập thể với văn hóa cá nhân là hết sức cần thiết trong gia đình hiện đại và nó đòi hỏi con người phải học hỏi và sống có trách nhiệm với bản thân mình và gia đình. Những tấm gương sáng như gia đình chủ tịch Hồ Chí Minh, gia đình mẹ Nguyễn Thị Thứ, gia đình anh hùng Trần Thị Lý, và nhiều gia đình khác không phải là những “hiện tượng” kỳ lạ và siêu thực mà họ là những con người cụ thể, xuất thân trong các gia đình cụ thể, bình thường. Ngoài những đóng góp to lớn cho xã hội, họ còn thể hiện tính trách nhiệm rất cao đối với gia đình. Đó chính là những giá trị mà trong một xã hội phát triển cần được coi trọng và tôn vinh để gia đình - tế bào của xã hội được coi trọng. Ở Việt Nam cấu trúc Nhà - Làng - Nước phải là một “hằng số” cho sự phát triển bền vững ./.


GS,TS. Lê Thị Quý

Văn hóa gia đình và bình đẳng giới ở Việt Nam

 Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và giao lưu văn hóa toàn cầu thì nạn bạo hành đối với phụ nữ không đơn giản là vấn đề của riêng phụ nữ, mà đã trở thành mối quan tâm của tất cả chúng ta, bao gồm nam giới, phụ nữ, trẻ trai hay trẻ gái và cả người cao tuổi. “Những năm gần đây, chính phủ đã có nhiều tiến bộ trong việc thúc đẩy vấn đề bình đẳng giới nhưng còn rất nhiều phụ nữ Việt Nam vẫn gặp phải bạo hành gia đình và quan niệm lạc hậu về trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại" (Phát biểu của ông John Hendra, Điều Phối Viên Thường Trú Liên Hợp Quốc tại Việt Nam - Dân trí). Theo một nghiên cứu của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, 1/5 các cặp vợ chồng gặp phải vấn đề bạo lực gia đình. Mặc dù Luật phòng chống bạo lực gia đình của Việt Nam bắt đầu có hiệu lực từ tháng 8/2008, nhưng việc thực thi điều luật một cách có hiệu quả vẫn còn cần phải tăng cường nhiều giải pháp hơn nữa. Năm 2009, Tổ chức Liên Hợp Quốc tại Việt Nam cùng với 12 tổ chức khác sẽ cùng hợp tác với một số cơ quan của chính phủ triển khai một dự án liên kết nhằm nâng cao năng lực của các cán bộ nhà nước cấp trung ương và địa phương trong việc thực hiện luật phòng chống bạo lực gia đình và luật bình đẳng giới.

 
Bình đẳng giới qua vở diễn "Nhà Búp Bê" trên sân khấu Việt Nam:
 
Năm 2006, kỉ niệm một trăm năm ngày mất của kịch tác gia nổi tiếng Ibsen, người Nauy, vở kịch nói "Nhà Búp bê" của ông  được công diễn lần đầu tại Việt Nam dưới sự dàn dựng của Đạo diễn sân khấu Lê Hùng và nghệ sĩ Lê Khanh thủ vai Lora, nhân vật chính trong vở đã để lại nhiều ấn tượng cho người xem. Từ khi "Nhà Búp bê" được công diễn lần đầu (1879) đến nay (2009) đã tròn 130 năm, nhưng nội dung của vở kịch vẫn còn giữ nguyên những giá trị nhân văn, vẫn vang lên tiếng chuông thức tỉnh nhân loại hãy bảo vệ quyền của phụ nữ để họ được sống, được làm việc, được yêu thương trong sự bình đẳng dưới mái ấm gia đình.
Nguyên nhân nào khiến một tác phẩm nghệ thuật kéo dài tuổi thọ như vậy với một chủ đề tưởng chừng chỉ mang tính thời sự ở Châu Âu cuối thế kỉ thứ 19..?  Phải chăng Ibsen đã đưa ra dự báo về một vấn đề nhạy cảm khó giải quyết, hay vì quyền bình đẳng đối với phụ nữ đang diễn ra một cách quá chậm chạp trong nhận thức của xã hội loài người để cho đến đến hôm nay, trong thập niên đầu của thế kỉ 21 vẫn còn tồn tại những ngôi "Nhà Búp bê" ở nhiều quốc gia không phân biệt các nước phát triển hay chưa phát triển? "Nhà Búp bê" trên sân khấu Việt nam gợi mở người xem nhiều suy tư về cuộc sống của mẫu hình "gia đình truyền thống" và về vị thế của người phụ nữ trước những biến động xã hội đa chiều của thời kỳ hội nhập kinh tế và giao lưu văn hóa mang tính toàn cầu. Nói đến vị thế của người phụ nữ trong gia đình gia trưởng không thể không đề cập đến nguồn gốc tạo ra những quan hệ thiếu bình đẳng của gia đình Việt Nam truyền thống, trong đó yếu tố văn hóa là nguyên nhân căn bản hình thành lối sống, cách ứng xử, quan hệ giữa các thành viên gia đình, đặc biệt là quan hệ đối với phụ nữ trong gia đình và xã hội.
Có thể hiểu khái niệm và các đặc trưng của văn hóa gia đình như sau:
“Văn hóa gia đình là hệ thống các giá trị, chuẩn mực được thừa nhận nhằm tạo ra phương thức ứng xử trong quan hệ giữa các thành viên gia đình và quan hệ với xã hội, môi trường”.
- Văn hóa gia đình được hình thành có chọn lọc, được trải nghiệm, lưu truyền và được bổ sung qua các thế hệ;
- Văn hóa gia đình là sự biểu đạt trung thực nhất bản sắc văn hóa dân tộc.
 
Sự tồn tại lâu dài của Gia đình Việt Nam truyền thống:
 
Người Việt Nam từ xa xưa vẫn tôn vinh triết lý sống, "an bần lạc đạo" (chấp nhận sống nghèo, mà giữ lấy cái đạo làm người), nghĩa là vợ chồng cùng nhau thỏa mãn sống trong cảnh "một túp lều tranh với hai trái tim vàng". Do nhận thức còn hạn chế và chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, các triều đại phong kiến dựa vào triết lý sống này để đưa ra những chính sách cai quản đất nước theo chế độ khép kín kiểu "bế quan tỏa cảng", lấy "nông vi bản" (nghề trồng lúa nước làm căn bản) để phát triển kinh tế và duy trì văn hóa làng xã làm nền tảng cho sự ổn định xã hội. Cho đến ngày nay, tư duy người Việt vẫn coi gia đình không chỉ gồm những người có liên kết với nhau bằng huyết thống (cha con, anh chị em) và nghĩa tình (vợ chồng, con nuôi, bố mẹ nuôi) mà còn có sự hiện diện vô hình của tổ tiên, của những người ruột thịt đã khuất nhưng vẫn thường xuyên tham dự vào mọi sinh hoạt gia đình như một thành viên quan trọng, gần gũi mà thiêng liêng, có vai trò rất lớn đối với đời sống tinh thầncủa các thành viên khác).
 
Vị trí địa lý đặc thù tạo cho dân tộc Việt Nam những đợt tiếp xúc, giao lưu, kể cả các cuộc xâm lược từ bên ngoài đã làm nên diện mạo đời sống văn hóa của dân tộc có nhiều biến động trong lịch sử. Văn hóa và triết lý Phật giáo bằng con đường từ Ấn Độ được người Việt Nam tiếp cận từ rất sớm và đã mau chóng đi vào đời sống của tầng lớp bình dân trong không gian văn hóa làng xã một cách hồn nhiên, hòa bình. Tư tưởng nhà Phật rất dễ đi vào lòng người và được cảm nhận, tiếp biến một cách sâu sắc, nội dung thuyết giáo nhà Phật được biểu hiện một cách tự nhiên qua mọi lề thói, nếp sống của các thành viên gia đình (theo cả nghĩa rộng lẫn nghĩa hẹp). Chính vì thế, gia đình truyền thống của người Việt đã sớm hình thành Đạo thờ Mẫu và Đạo thờ cúng tổ tiên. Tiếp theo sau là sự ngự trị của văn hóa Hán – Nho, sản phẩm tinh thần có sức mạnh và là trợ thủ đắc lực cho chế độ quân chủ trong nền kinh tế tự cung tự cấp của xã hội nông nghiệp, Nho giáo rất thích hợp với giai cấp thống trị trong việc áp đặt và duy trì các chính sách “thủ cựu” vào đời sống văn hóa – xã hội của Việt nam qua nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, nho giáo cũng đã có những đóng góp quan trọng trong vấn đề giáo dục con người với cái gốc xuất phát từ “giáo dục gia đình” dựa trên những định chế cụ thể, mang tính thiết thực trong đời sống hàng ngày, vì thế nhiều nội dung luân lí của nho giáo vẫn còn giá trị trong đời sống hiện đại và được nhiều nước Châu Á chọn lọc khai thác như Singapore, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam...
 
Ngày nay, vẫn còn trên 70% người dân Việt Nam làm nghề nông và vẫn sống ở nông thôn, tuy kiểu gia mở rộng (từ 3 thế hệ) không chiếm tỷ lệ đa số như trước đây, nhưng lối sống và những phong tục, tập quán dựa trên mối liên hệ huyết thống, từ trực hệ với ông bà đến quan hệ dòng họ (cùng một ông tổ sinh ra) và rộng hơn nữa là qua hệ làng xã, cộng đồng dân tộc (đại gia đình theo nghĩa rộng nhất) vẫn được duy trì. Sự tồn tại của tổ chức gia đình mở rộng với những qui định ràng buộc chặt chẽ theo dòng họ và bị chi phối bởi chế độ “gia trưởng” ngày nay không còn phù hợp với cuộc sống công nghiệp; đây là mâu thuẫn ẩn chứa nhiều yếu tố tiêu cực, trở thành lực cản trước sự tiến bộ xã hội. Điều này cũng giải thích được lý do mặc dù vấn đề bình đẳng giới và không bạo hành phụ nữ được đảm bảo trong luật pháp Việt Nam, nhưng hiện tượng bất bình đẳng và bạo lực vẫn tồn tại, thậm chí còn đang có chiều hướng gia tăng. Vì ảnh hưởng của lối sống kiểu gia đình truyền thống nên trong nhà có xảy ra bạo lực hay các hành vi thiếu bình đẳng thì các thành viên thường dấu kín, không nói với cha mẹ, bạn bè, không thông báo cho chính quyền địa phương với lối nghĩ “không muốn vạch áo cho người xem lưng” .
 
Phụ nữ Việt Nam trong gia đình truyền thống:
 
Theo tư tưởng Nho giáo, mọi người trong xã hội đều bị trói buộc bởi năm mối quan hệ: vua - tôi, cha - con, vợ - chồng, anh - em, bạn - bè; năm mối quan hệ này phản ánh hiện thực hai mặt của cuộc sống là quan hệ gia đình và quan hệ xã hội. Trong xã hội phong kiến, mối quan hệ gia đình được củng cố bằng chế độ tông pháp (họ tộc) và chế độ gia trưởng, còn các quan hệ xã hội thì được duy trì bởi chế độ chính trị đẳng cấp. Đi cùng với các mối quan hệ đó là những qui định giao tiếp bắt buộc mà mỗi thành viên trong xã hội phải thực hiện. Quan niệm về một gia đình có trật tự, kỷ cương lại càng trở nên chặt chẽ và khắc nghiệt hơn, trong đó quyền hành của người cha, người chồng là tuyệt đối, vị thế của người phụ nữ, người vợ rất hạn chế.
 
Thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến bị chèn ép theo những chế ước hết sức ngặt nghèo, một trong các đạo qui định người phụ nữ phải tuân thủ là “Đạo Tam tòng - Tứ Đức”. Tam tòng là tại gia tòng Phụ; xuất giá Tòng Phu; Phu tử tòng Tử (con gái còn ở trong gia đình  phải nghe theo Cha, đi lấy chồng phải phụ thuộc vào Nhà Chồng, khi Chồng chết phải ở vậy và phụ thuộc vào người Con Trai). Theo Hán ngữ, chữ Tử nghĩa là con nói chung, nhưng trong Đạo Tam tòng, người con gái không được xếp ứng với nghĩa là con trong trường hợp này (Phu tử tòng Tử chỉ con trai) ; cách ứng xử như vậy đủ nói lên sự bất bình đẳng đối với phụ nữ trong xã hội phong kiến; ngày nay hiện tượng này tồn tại không nhiều nhưng vẫn tiềm ẩn trong ý thức của các thệ hệ còn ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo. Tứ Đức là Công – Dung – Ngôn – Hạnh; đây là 04 đức tính thiết yếu phải được dạy và học - hành đối với phụ nữ ngay từ khi còn nhỏ ở gia đình. Thực hành tứ đức có mặt tích cực là giúp người phụ nữ chăm chỉ và khéo léo trong lao động (công); biết giữ gìn thân thể, vẻ đẹp vốn có (dung); biết cách ứng xử giao tiếp qua ngôn ngữ, cử chỉ “lời ăn tiếng nói” (ngôn); và giữ được tư cách, đạo đức cần có ở người phụ nữ (hạnh). Mục đích của giáo dục Công – Dung – Ngôn – Hạnh trong xã hội cũ chủ yếu nhằm trang bị cho phụ nữ những kiến thức, kỹ năng hướng tới việc thực hiện bổn phận làm vợ, làm dâu khi lấy chồng. Nếu lược bỏ đi những mặt hạn chế ở tính mục đích và phương pháp giáo dục ngặt nghèo ở chế độ cũ thì Tứ Đức vẫn còn tác dụng tốt, duy trì được tố chất "nữ tính" của người phụ nữ Việt Nam.
 
Mặt hạn chế trong nội dung giáo dục của Nho giáo nêu trên tạo ra một xã hội với những con người hoặc là bảo thủ, trì trệ, lạc hậu hoặc là nhẫn nhục, cam chịu và như vậy khó mà thi hành được sự bình đẳng trong quan hệ giữa phụ nữ và nam giới. Những quan hệ "ấm cúng" kiểu gia đình gia trưởng là tác nhân kìm hãm năng lực phát triển của con người cá nhân cả về trí tuệ và sự tham gia công việc xã hội; nó góp phần vào việc duy trì sự tồn tại lâu dài của kiểu gia đình truyền thống.
 
Bình đẳng giới trong cuộc sống gia đình thời kỳ công nghiệp hóa.
Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tạo cho gia đình Việt Nam điều kiện tiếp thu những giá trị văn hóa mới của xã hội hiện đại, sự biến đổi về quy mô, cơ cấu và chức năng của gia đình trong cuộc sống công nghiệp đang có những chuyển biến tích cực ở một số giá trị văn hóa gia đình; nhận thức về tình yêu, hôn nhân có nhiều biến đổi trong những năm gần đây, tuổi kết hôn lần đầu của thanh niên, nhất là ở phụ nữ đã được nâng cao, làm cho thiếu niên có nhiều cơ hội và thời gian học tập, tích lũy để chuẩn bị cho cuộc sống gia đình tương lai.Tỉ lệ số phụ nữ được thực hiện quyền bình đẳng về kinh tế, việc làm và được thụ hưởng thành quả lao động ngày càng cao; tự do trong tình yêu và hôn nhân được tôn trọng trên cơ sở bình đẳng giới và được pháp luật bảo vệ, góp phần nâng cao vị thế của người phụ nữ trong gia đình và xã hội.
 
Mặc dù ngày càng có nhiều công cụ và các điều kiện giúp con người giảm nhẹ sức lao động, nhưng người phụ nữ ngoài việc tham gia công việc, đóng góp ngày càng nhiều vào nguồn thu nhập, vẫn phải đảm nhiệm hầu hết các công việc trong cuộc sống gia đình, do vậy họ có ít thời gian chăm sóc bản thân, tham gia công tác xã hội và hoạt động vui chơi giải trí. Một nghịch lý đang tồn tại là việc nội trợ, nuôi dạy con, chăm sóc các thành viên gia đình của phụ nữ thường bị coi là không có giá trị kinh tế, điều này được bộc lộ rõ chỉ từ khi xã hội thừa nhận sự hiện diện của "dịch vụ giúp việc gia đình" (ô shin). Ngoài ra, phụ nữ còn là nạn nhân chủ yếu của sự phân biệt đối xử, phải gánh chịu những lạm dụng về thể xác, tinh thần từ phía người đàn ông.
 
Những quan niệm và hành vi không đúng đắn về tình yêu, tình dục, hôn nhân và gia đình được xuất hiện, phổ biến hoặc đưa tin hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng và mạng internet ở tất cả các quốc gia có điểm xuất phát là đề cao, coi trọng lối sống thực dụng cá nhân, chối bỏ các chuẩn mực tốt đẹp của gia đình trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, điều này làm cho đời sống gia đình hiện nay ẩn chứa nhiều mâu thuẫn với mức độ ngày càng phức tạp và diễn biến dưới nhiều hình thức. Tình trạng ngoại tình, kết hôn bất hợp lý, bạo lực gia đình, ly thân, ly hôn đang có chiều hướng gia tăng mà nạn nhân trước hết và chủ yếu vẫn là phụ nữ và trẻ em gái; các kiểu sống gia đình không bình thường so với lối sống truyền thống đang nảy sinh và trở thành vấn đề xã hội nan giải như sống chung không kết hôn, không muốn sinh con, lối sống thử, sống độc thân hoặc kết hôn đồng tính mà hậu quả của nó để lại nhiều tiêu cực đối với việc ổn định thiết chế gia đình.
 
Tại các nước công nghiệp phát triển, các vấn đề liên quan đến bình đẳng giới trong cuộc sống gia đình không phải không có những vấn đề mâu thuẫn cần phải giải quyết cho hiện tại và trong tương lai:
Ở Mỹ vào những năm 1990, người dân đã phải lên tiếng về tình trạng là khi trẻ đi học về nhà, đã thưa dần những tiếng chào bố, hoặc chào mẹ vì tỉ lệ ly dị ngày càng cao; nam giới Hàn quốc hiện đang gặp khó khăn trong việc lập gia đình vì thiếu phụ nữ trong lứa tuổi kết hôn; vào khoảng năm 2020, Trung Quốc sẽ có tới 30 triệu thanh niên không lấy được vợ vì không có "đối tác", có nghĩa là tuổi trẻ khi đó sẽ gặp khủng hoảng trong việc tạo lập ra một thế hệ gia đình mới; trong khi đó các nhà quản lý và xã hội học khuyến cáo rằng không thể giải quyết tình trạng mất cân bằng giới tính của quốc gia bằng cách khuyến khích lấy vợ người nước ngoài một cách ồ ạt, thiếu thận trọng về các yếu tố văn hóa và thực hiện bình đẳng giới; hiện tại Phần Lan có đến 40% thanh niên sống độc thân, không lấy vợ, lấy chồng; điều này cho thấy khả năng tái tạo nguồn lao động trong tương lai sẽ bị gián đoạn và hậu quả để lại không chỉ dừng ở phạm vi một quốc gia; vì thế 50% trong tổng số hơn 5 triệu dân Phần Lan đang là lực lượng lao động để nuôi sống mình và duy trì đời sống xã hội; còn đất nước Nhật Bản rút ra được bài học kinh nghiệm muộn mằn là sau mấy chục năm thực hiện công nghiệp hóa thì cũng chính thời gian đó nước Nhật đã phá gần xong nền Văn hóa Dân tộc Phù tang.
 
Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ký kết các công ước quốc tế về thực hiện quyền phụ nữ và quyền trẻ em; việc đưa những tư tưởng tiến bộ về bình đẳng giới vào gia đình ở một quốc gia vốn chịu ảnh hưởng của Nho giáo có thể được coi là một bước tiến bộ lớn, tạo điều kiện về mặt pháp lý để nâng cao vị trí và vai trò của người phụ nữ trong gia đình. Đời sống xã hội ở thời kỳ công nghiệp và hậu công nghiệp đang vận động, biến đổi hết sức phức tạp và đa dạng theo chiều hướng: nhiều giá trị văn hóa gia đình truyền thống không còn phù hợp, trong khi những giá trị mới lại chưa được định hình; đây là mâu thuẫn cơ bản cần giải quyết và là vấn đề đặt ra cho các nhà quản lý xã hội.
Việc kết hợp hài hòa các giá trị văn hóa truyền thống với các giá trị hiện đại trên cơ sở bảo tồn bản sắc văn hóa và chủ động giao lưu với bên ngoài là giải pháp tích cực đưa dân tộc Việt Nam vượt qua những khó khăn, thách thức, khơi dậy được vai trò động lực của các giá trị truyền thống cho sự phát triển và tiến bộ xã hội, và ở trong hoàn cảnh đó, phụ nữ Việt Nam mới hoàn toàn có quyền bình d8ảng trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của gia đình, có cơ sở pháp lý để tự tin bước ra ngoài cánh cửa gia đình, tham gia và đóng góp tích cực vàocông cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
 
(Nguồn: Tham luận của Ths. Đinh Văn Quảng - Phó Vụ trưởng Vụ Gia đình –BVHTTDL)


TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA GIA ĐÌNH - NÉT ĐẸP CẦN GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY

Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của pháp luật. Gia đình là tế bào của XH, là môi trường quan trọng, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc, phòng chống bạo lực gia đình và ngăn chặn các tệ nạn XH xâm nhập vào gia đình tạo nguồn lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Có thể nói gia đình là trường học đầu tiên, là môi trường giáo dục đặc biệt đối với sự phát triển của con người.                                                                                                  

Gia đình Việt Nam có truyền thống từ rất lâu đời, trong quá trình phát triển đã hấp thụ tinh hoa văn hóa dân tộc hình thành nền nếp gia phong như: có hiếu với cha mẹ, ông bà” Công cha như núi Thái sơn, nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra”,vợ chồng thủy chung”Đầu tôm nấu với ruột bầu, chồng chang vợ húp gật đầu khen ngon” gia đình còn là mối quan hệ mật thiết sự kính trên, nhường dưới, anh em thuận hòa, tình làng, nghĩa xóm quý trọng nhau, đoàn kết đùm bọc lẫn nhau cùng tiến bộ”Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”...Gia đình có chức năng cơ bản về sinh sản duy trì nòi giống, phát triển kinh tế, giáo dục, xã hội hóa cá nhân, thõa mãn các yêu cầu về tinh thần tâm lý tình cảm. Bên cạnh đó gia đình còn có vai trò đối với các thành viên , với cộng đồng và với XH, mỗi thành viên phải có quyền và trách nhiệm của mình trong mối quan hệ gia đình. 

Nền nếp gia phong xuất phát từ cuộc sống của nhân dân tái tạo nên qua thực tiễn sản xuất, học tập, giao tiếp... Nó hình thành từ mối quan hệ giữa con người với con người, từ lòng nhân ái, tình yêu thương, những giá trị văn hóa thuần phong mỹ tục của dân tộc, của cộng đồng được thấm đẫm trong tâm hồn mỗi người, bởi vậy nó mang tính nhân văn cao cả, sự thể hiện riêng biệt bản sắc văn hóa riêng biệt của một dân tộc này với một dân tộc khác. Ở đó đòi hỏi mọi người tu dưỡng theo khuôn phép, kỷ cương của một gia đình nhưng không phải là luật lệ khắt khe phong kiến, cứng nhắc, mang tính ép buộc.

Cho nên, nền nếp gia phong đã trở thành cốt lõi, là nền tảng để gia đình truyền thống phát triển bền vững cho đến ngày nay. Trong cuộc sống hiện đại, gia đình Việt Nam có những biến đổi như giảm dần những gia đình nhiều thế hệ, con cái trưởng thành xây dựng gia đình thường đi ở riêng, tác động của cuộc sống hiện đại, sự bùng nổ thông tin mở rộng giao lưu văn hóa quốc tế... Nhưng nền nếp gia phong vẫn là cơ sở để gia đình Việt Nam phát triển  truyền thống Á Đông vì nó đã được hun đúc từ đời này sang đời khác và luôn luôn tỏa sáng trường tồn cùng với thời gian. Thật là ví von khi người ta nói rằng” Đi đâu cũng nhớ quê nhà, nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương”.

Hiện nay, mặt trái cơ chế thị trường cùng những sản phẩm văn hóa xấu độc từ bên ngoài tràn vào đang hằng ngày, hằng giờ xâm nhập vào các gia đình, huỷ hoại nền nếp gia phong. Lối sống thực dụng, ích kỷ, thích hưởng thụ, thậm chí có hành vi lừa đảo, giả dối khiến nhiều người phá vỡ kỷ cương, trật tự gia đình, làm cho bạo lực gia đình ngày càng gia tăng. Tình trạng bạo lực gia đình hành hạ ngược đãi xâm hại đến sức khỏe tính mạng, lăng mạ có hành vi cố ý xúc phạm danh dự nhân phẩm, cô lập xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng. Chiếm đoạt, hủy hoại đập phá hoặc có hành vi khác làm hư hỏng tài sản chung hoặc tài sản của các thành viên khác…Đây là hiện tượng thiếu lành mạnh trong phát triển gia đình hạnh phúc. Có ý kiến cho rằng khi kinh tế phát triển thì gia đình tự nhiên ổn định và nó sẽ triệt tiêu những mầm móng trên. Đây là nhận định thiều khoa học coi trọng lối sống thực dụng, xem nhẹ những giá trị đạo đức vốn có thông qua giáo dục được kết tinh trong mỗi gia đình qua bao đời nay” nghèo thì cho sạch, rách cho thơm”chẳng phải cao sang tràn đầy vật chất mà phá vỡ luân thường đạo lý thay trắng đổi đen được.

Thực tế cho thấy có những gia đình khi nghèo khó, mọi người yêu thương nhau “Một túp lều tranh hai quả tim vàng”một đàn con thơ gia đình đầm ấm nhưng khi khá giả, “giàu sang sinh lễ nghĩa”, đời sống sung túc thì mọi người lại nảy sinh mâu thuẫn, chồng thì hay “đi đêm”, con cái thì so bì ăn chơi, ghen tuông, gia đình lục đục, có gia đình còn tranh giành quyền lợi tài sản dẫn đến đổ nát suy tàn” một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”. Như vậy sự giàu sang kinh tế rất cần cho mỗi gia đình, nhưng giàu sang không đồng nghĩa với hạnh phúc tôi nghĩ việc cần giữ gìn gia phong trong sự giàu sang đó nó sẽ là thành trì đủ sức đề kháng với những hiện tượng tiêu cực trong cuộc sống gia đình, nó là tài sản vô giá khó ai có thể định lượng được và là hành trang theo suốt cuộc đời của mỗi con người.

Một XH mà có sự suy thoái lối sống đạo đức của con người thì là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến phá vỡ nền nếp gia phong XH đó không thể đáng giá là bền vững . Cho nên, trong mỗi gia đình, việc thường xuyên giáo dục các thành viên trong gia đình giữ gìn, nền nếp gia phong là vô cùng quan trọng được cô đọng trong khuôn vàng, thước ngọc “Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín”. Ba chữ” Nhân, Lễ, Nghĩa” theo tôi phải được đề cao lên hàng đầu trong phép tắc giữ gìn gia phong bởi nó là điểm mấu chốt xâu chuỗi xuyên suốt trong nền nếp gia phong, chi phối tất cả các mối quan hệ khác trong gia đình.

Công tác gia đình và phong trào toàn dân xây dựng đời sống văn hóa cần lấy việc gìn giữ nền nếp gia phong là nội dung chủ yếu vì nó hướng tới xây dựng con người, gắn gia đình với phát triển xã hội, với làng xã. Gia đình ngày nay cũng rất cần sự gắn bó mật thiết với khu dân cư, với cộng đồng và xã hội nằm trong một thực thể tồn tại, phát triển bền vững. Nền nếp gia phong trong cuộc sống hiện đại sẽ được bổ sung những yếu tố tiến bộ của xã hội văn minh như bình đẳng giới, sinh hoạt dân chủ trong gia đình, quy ước khu dân cư, giao lưu hội nhập phát triển... Dư luận trong đời sống xã hội rất quan trọng, giúp mỗi gia đình gìn giữ nền nếp gia phong làm điều tốt tránh điều xấu nhằm mong gia đình không bị dư luận chê cười không để” môi hở , răng lạnh”. Gắn bó với xã hội sẽ giúp các gia đình thực hiện tốt chủ trương, chính sách, pháp luật của Ðảng và Nhà nước liên quan tới gia đình, càng có điều kiện để củng cố nền nếp gia phong.

Ngày nay, nếu chỉ quan tâm đến việc phát triển kinh tế thôi thì cũng chưa đủ dễ dẫn đến một sai lầm lớn đối với sự phát triển của XH hài hòa, bởi vì thực thể sức mạnh của XH bắt nguồn từ mỗi gia đình, từng tế bào có tính chất nền tảng của XH, là động lực cơ bản thúc đẩy sự phát triển ổn định bền vững XH. Do đó giữ gìn gia phong, gia giáo truyền thống của gia đình là vốn quý tốt đẹp rất đáng trân trọng trong XH hiện đại cần phải quan tâm.

Ċ
Lê Hùng,
07:59 03-02-2014
Ċ
138.pdf
(7007k)
Lê Hùng,
00:02 14-01-2014
Ċ
Lê Hùng,
17:48 02-01-2015
Ċ
Lê Hùng,
00:03 14-01-2014
Ċ
Lê Hùng,
00:29 12-01-2014
Comments