CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN VÀ NHÂN DÂN CÁC DÂN TỘC XÃ LƯƠNG THỊNH
QUYẾT TÂM THỰC HIỆN HOÀN THÀNH CÁC CHỈ TIÊU NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG
NHIỆM KỲ 2020 - 2025 ĐÃ ĐỀ RA
* 95 NĂM GIAI CẤP NÔNG DÂN VIỆT NAM (14/10/1930-14/10/2025)
- NÔNG HỘI ĐỎ, TIỀN THÂN CỦA HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM
Đầu năm 1920, sau khi dập tắt các cuộc khởi nghĩa của nông dân, ruộng đất nước ta chủ yếu tích tụ vào tay một số ít địa chủ Pháp, phong kiến, quan lại, địa chủ thường và địa chủ kiêm công thương đã làm xã hội phân hóa mạnh mẽ. Giai cấp địa chủ chiếm 9% tổng số chủ ruộng nhưng lại sở hữu trên 50% diện tích đất canh tác. Tiểu nông chiếm trên 90% tổng số chủ ruộng nhưng lại chỉ có gần 40% diện tích trồng trọt. Ngoài ra còn khoảng 2,2 triệu hộ trong tổng số 4 triệu hộ nông thôn lúc bấy giờ hoàn toàn không có đất. Họ bị bóc lột dã man bởi tô, tức, thuế…
Đời sống nông dân dưới thời Pháp thuộc vô cùng nghèo nàn, đau khổ. Song chính trong sự áp bức bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp và tay sai đã khiến cho họ nhận rõ bộ mặt thực của kẻ thù dân tộc và kẻ thù giai cấp. Bằng những kinh nghiệm trực tiếp của mình, giai cấp nông dân đã tiến từng bước tới giác ngộ chính trị. Họ sẵn sàng ủng hộ, đi theo các phong trào đấu tranh vì độc lập dân tộc, vì quyền lợi của người lao động.
Nguyễn Ái Quốc là người cộng sản đầu tiên của Việt Nam, từ lâu, Người đã hiểu và gắn bó với nông dân Việt Nam. Trong cuốn Đường Kách mệnh (1927), đồng chí Nguyễn Ái Quốc đặt vấn đề nông dân Việt Nam muốn thoát khỏi ách áp bức, bóc lột thì phải “tổ chức nhau lại”, vì vậy, Người đã dành riêng một chương phân tích về tình hình nông dân Việt Nam và tầm quan trọng của “Tổ chức dân cày” (1). Vạch rõ nguồn gốc đói nghèo, đau khổ của nông dân Việt Nam chính là do sự áp bức, bóc lột tàn nhẫn của đế quốc, phong kiến và bè lũ tay sai. Vì vậy “Nếu dân cày An Nam muốn thoát khỏi vòng cay đắng, thì phải tổ chức nhau kiếm đường giải phóng”; (2). Giai cấp nông dân cần phải có tổ chức riêng của mình là Hội dân cày. Nhưng trong tình hình hiện tại chưa nên gọi là Hội dân cày, mà nên gọi là phường lợp nhà, phường đánh cá, phường chung lúa…
Ngày 1/11/1929, Báo “Dân cày” số đầu tiên của tỉnh Ninh Bình được phát hành, nội dung tờ báo tố cáo sự bóc lột dã man của thực dân, kêu gọi nhân dân đoàn kết đấu tranh chống đế quốc cướp nước và đánh đổ tay sai.
Cuối thập kỷ 20 của thế kỷ XX, Nông hội đỏ đã xuất hiện ở một số địa phương. Tháng 11/1929, Ban Chấp hành Tổng Nông hội Nghệ An ra đời, do đồng chí Phan Thái Ất làm Bí thư. Dưới sự lãnh đạo của xứ ủy Trung Kỳ, ngày 10/12/1929 ở thành phố Vinh – Bến Thủy và một số vùng ở Nghệ An rải truyền đơn kêu gọi các tầng lớp nhân dân tham gia các tổ chức quần chúng của Đảng cộng sản. Truyền đơn có phần kêu gọi Dân cày gia nhập Nông hội, theo Đảng Cộng sản đấu tranh đòi bỏ thuế người, thuế vườn, thuế chợ, thuế đò, bỏ lệ bắt phu… Tiếp theo nhiều tổ chức Nông hội đỏ được thành lập ở Thái Bình, Hà Nội, Hà Đông, Hải Phòng, Hải Dương và các tỉnh Trung Kỳ, Nam Kỳ…
Đầu năm 1930, Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức tại Cửu Long (Hương Cảng - Trung Quốc), trong Sách lược vắn tắt của Đảng do đồng chí Nguyễn Ái Quốc dự thảo, được Hội nghị hợp nhất thông qua ngày 03/02/1930 đã nêu ra những vấn đề cơ bản đối với giai cấp nông dân: “Đảng phải thu phục cho được đại đa số dân cày nghèo làm cách mạng thổ địa đánh đổ bọn đại địa chủ và phong kiến''; đồng thời, Đảng nhấn mạnh ''Nông dân là lực lượng to lớn của cách mạng". Vì vậy, phải tập hợp nông dân vào một tổ chức dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, đấu tranh giành độc lập tự do và thực hiện cách mạng ruộng đất.
Cao trào cách mạng 1930 - 1931, dưới sự lãnh đạo của các Đảng bộ địa phương, các tổ chức Nông hội cấp cơ sở được hình thành ở Nam Kỳ, Trung Kỳ, đặc biệt là ở Nghệ - Tĩnh. Nông dân cả nước đã vùng lên đấu tranh cùng với công nhân giành thắng lợi từng bước. Chỉ tính từ tháng 5/1930 – 10/1930 cả nước có 53.000 hội viên nông hội.
Trên cơ sở đó, Hội nghị lần thứ Nhất, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp trong tháng 10/1930 tại Hương Cảng đã thông qua bản Luận cương chính trị, trong đó nêu rõ: “Dân cày là hạng người chiếm đại đa số ở đông Dương (hơn 90 phần trăm), họ là một động lực mạnh cho cách mạng tư sản dân quyền”. Luận cương vạch rõ: “Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền, vô sản giai cấp có đứng đầu và cùng với quần chúng dân cày để tranh đấu và binh vực quyền lợi hằng ngày cho dân cày và để thực hành thổ địa cách mạng cho triệt để thì mới giành quyền lãnh đạo dân cày được”.
Cùng với việc thông qua Luận cương chính trị, Hội nghị còn ra Nghị quyết về Tình hình hiện tại ở Đông Dương và nhiệm vụ cần kíp của Đảng, trong đó nêu rõ các quyết định quan trọng của Hội nghị, một trong các quyết định đó là “phải chỉnh đốn Nông hội lại cho có hệ thống theo điều lệ mới và dự bị việc tổ chức Đông Dương Tổng Nông hội”.
Tại Hội nghị quan trọng này, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết về thành lập Tổng Nông hội Đông Dương và thông qua Điều lệ Tổng Nông Hội Đông Dương gồm 8 điều trong đó nêu rõ mục đích ''Thống nhất hết thảy Tổng Nông Hội Đông Dương để tranh đấu bênh vực quyền lợi hàng ngày của nông dân và để thực hiện cách mạng thổ địa''. Điều lệ Tổng Nông hội Đông Dương quy định: “Hễ Nông hội nào thừa nhận mục đích, Điều lệ và chịu thi hành những án nghị quyết của Tổng Nông hội Đông Dương và nộp hội phí thì được nhận làm hội viên”. trong đó trọng tâm là xây dựng tổ chức Nông hội, cơ sở của Nông hội là làng. Tổ chức phải theo hệ thống dọc: từ tổng Tổng Nông hội, huyện Tổng Nông hội, tỉnh Tổng Nông hội, xứ Tổng Nông hội, đông Dương Tổng Nông hội. Cũng tại hội nghị này Điều lệ Nông hội làng được thông qua. Mục đích của Nông hội làng là đoàn kết hết thảy bần và trung nông trong làng, liên hiệp với nông dân và công nhân các nơi trong nước để đấu tranh chống áp bức, bóc lột, bênh vực quyền lợi của nông dân và thực hiện cách mạng ruộng đất.
Việc thành lập Tổng Nông hội Đông Dương (tên gọi đầu tiên của Hội Nông dân Việt Nam ngày nay) đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử giai cấp nông dân Việt Nam, sự trưởng thành và lớn mạnh về của phong trào nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trước tình hình dịch bệnh tả lợn châu phi còn diễn biến phức tạp, nhiều hộ dân trên địa bàn xã Lương Thịnh vấn tự ý tái đàn lợn trở lại, nguy cơ bùng phát dịch tả lợn lần 2 là rất cao. Hội nông dân xã Lương Thịnh đề nghị các chi hội cơ sở đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên nông dân không nên tái đàn, chăn nuôi trở lại trong vòng 24 tháng, để kiểm soát tình hình dịch bệnh và có thời gian cách ly phù hợp nhằm hạn chế tối thiểu thiệt hạn do dịch bệnh gây ra.
* TUYÊN TRUYỀN PHÒNG CHỐNG DỊCH COVID - 19
- Để đảm bảo công tác phòng chống dịch covid -19 hiệu quả, Hội nông dân xã Lương Thịnh đề nghị các chi hội nông dân phối hợp cùng Chi bộ, Ban công tác mặt trận thôn, Tổ truy vết, giám sát dịch bệnh tại thôn, tổ chức thực hiện tốt một số nhiệm vụ sau:
- Tổ chức tuyên truyền các thông tin chính thống về tình hình dịch bệnh, các dấu hiệu, triệu chứng, cách phòng chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp (Covid -19) do chủng mới của virus Corona gây ra và nguy cơ xâm nhập của dịch bệnh vào tỉnh Yên Bái.(Được đăng tải trên cổng thông tin điện tử của Bộ Y tế và Sở Y tế tỉnh Yên Bái, Trang fanpage của xã: LƯƠNG THỊNH - Quê hương ngày một đổi mới)
- Chủ động phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở, ngành y tế tuyên truyền đến từng địa bàn khu dân cư, từng hội viên và các tầng lớp nhân dân để mọi người dân đều nhận rõ tính chất nguy hiểm, các tác hại nghiêm trọng của dịch bệnh; phổ biến, nâng cao ý thức tự dự phòng của người dân trong bảo vệ, nâng cao sức khỏe và biện pháp, giải pháp phòng chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona gây ra.
- Kịp thời cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, đúng mức về tình hình dịch bệnh để người dân chủ động, tích cực tham gia phòng chống dịch. Tuyên truyền đấu tranh với các tổ chức, cá nhân đưa các thông tin không chính xác, gây hoang mang, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân; trong thời gian đang có khuyến cáo về dịch bệnh, không tự tổ chức các hoạt động tập thể đông người nếu chưa được sự đồng ý của cấp ủy, chính quyền địa phương.
- Thường xuyên nắm chắc tình hình ở cơ sở thôn, bản, khi phát hiện người có các dấu hiệu nhiễm bệnh hoặc đi từ vùng có dịch, người đi qua vùng dịch trở về địa phương, cần phản ánh, điện báo kịp thời đến cấp ủy chính quyền, ngành y tế địa phương và Hội Nông dân xã Lương Thịnh qua số máy 0973385013.
* CHUYÊN MỤC HỎI - ĐÁP ! Vào hội để làm gì ?? Vào hội có lợi ích gì ???
Trả lời: Vào hội, sống có đoàn thể tổ chức, được hỗ trợ tiếp cận thông tin chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước, nhận được sự rùm bọc, chia sẻ của Tổ chức như ốm thăm, chết viếng....Được Tổ chức hội đứng ra bênh vực, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng khi bị xâm hại. Ngoài lợi ích trên: Hội nông dân xã Lương Thịnh còn có dịch vụ hỗ trợ hội viên nông dân tiếp cận các nguồn vốn vay thông qua các ngân hàng như: Ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn, Ngân hàng bưu điện lienvietposstbank, Ngân hàng chính sách xã hội và dịch vụ hỗ trợ phân bón NPK trả chậm.
* HƯỚNG DẪN QUY TRÌNH THÀNH LẬP TỔ HỢP TÁC !
* CƠ SỞ HÌNH THÀNH TỔ HỘI NGHỀ NGHIỆP.
- Trong một chi hội, lựa chọn, vận động những hội viên, nông dân cùng sản xuất một loại giống, cây, con… hay cùng kinh doanh, cùng làm dịch vụ một nhóm ngành, nghề, lĩnh vực, có những điểm chung về sử dụng tư liệu sản xuất, công cụ lao động, về phương thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, về thu hoạch, chế biến, bảo quản, tiêu thụ nông sản hàng hóa … vào tham gia sinh hoạt trong một tổ hội, gọi chung là “Tổ hội nghề nghiệp”.
- Tổ hội nghề nghiệp cũng có thể được hình thành trên cơ sở các tổ vay vốn, tổ góp vốn hoặc những hội viên có nhu cầu liên kết sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hướng tới mục tiêu thành lập “Tổ hợp tác”.
- Số lượng một “Tổ hội nghề nghiệp” nên khoảng từ 10 - 30 hội viên (khi mới thành lập có thể từ 3 hội viên trở lên).
* Quy trình thành lập Tổ hội nghề nghiệp:
- Khảo sát tình hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, nhu cầu tham gia các tổ nghề nghiệp của hội viên, nông dân trên địa bàn.
- Họp thảo luận, bàn bạc, thống nhất chủ trương và báo cáo cấp ủy, chính quyền về việc thành lập các tổ hội nghề nghiệp.
- Tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân tham gia các tổ hội nghề nghiệp.
- Ban Chấp hành Hội Nông dân cơ sở ra quyết định thành lập, chỉ định hoặc hướng dẫn bầu tổ trưởng, tổ phó.
- Tổ chức ra mắt, xây dựng quy chế và triển khai hoạt động.
* Định hướng sinh hoạt, hoạt động:
- Nội dung sinh hoạt, hoạt động của tổ hội nghề nghiệp tập trung vào việc trao đổi thông tin về thời tiết nông vụ, về thị trường, giá cả, về thiết bị, vật tư nông nghiệp, phương tiện sản xuất, các loại giống cây con, về phòng trừ dịch bệnh, chia sẻ kinh nghiệm sản xuất, bảo quản, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, về sáng kiến, sáng tạo, ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất, về cách thức lập dự án sản xuất kinh doanh, thủ tục vay vốn, quản lý và sử dụng hiệu quả vốn vay… Bên cạnh đó vẫn đảm bảo các nội dung sinh hoạt theo quy định của Điều lệ Hội để thực hiện chức năng tuyên truyền, giáo dục hội viên, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên, nông dân.
- Thời gian sinh hoạt: Tổ hội nghề nghiệp thực hiện sinh hoạt ít nhất 1 lần/1 tháng. Tùy tình hình thực tế của địa phương hoặc đặc điểm sản xuất, kinh doanh có thể ấn định ngày sinh hoạt định kỳ trong tháng hoặc linh hoạt chọn thời điểm sinh hoạt cho phù hợp như vào dịp cuối tháng, đầu tháng, dịp ngày rằm (trăng sáng), trước hoặc sau cao điểm nông vụ…
- Tổ hội nghề nghiệp nên thực hiện việc góp vốn, góp quỹ để hỗ trợ các thành viên trong tổ vay vốn theo hình thức quay vòng, bốc thăm hoặc hình thức khác theo quy chế chung của tổ để đầu tư vào sản xuất hoặc giải quyết những vấn đề chính đáng của hội viên.
- Việc đánh giá, xếp loại tổ hội nghề nghiệp sẽ gắn liền với đánh giá, xếp loại hội viên, do Ban Thường vụ Hội Nông dân cơ sở quy định trên cơ sở hướng dẫn đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở Hội của Ban Thường vụ Trung ương Hội Nông dân Việt Nam.
* HƯỚNG DẪN THÀNH LẬP CHI HỘI NÔNG DÂN NGHỀ NGHIỆP, TỔ HỘI NÔNG DÂN NGHỀ NGHIỆP.
1. Các yếu tố, điều kiện để thành lập Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp
- Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp cũng có thể được hình thành trên cơ sở các Tổ vay vốn, trong các Hợp tác xã, Tổ Hợp tác, các mô hình, dự án do Hội xây dựng và tổ chức hoạt động hoặc từ những hội viên có nhu cầu liên kết sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hướng tới mục tiêu thành lập Hợp tác xã, Tổ hợp tác và Doanh nghiệp.
- Số lượng để thành lập 01 Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp: Chi Hội có từ 15 hội viên trở lên (có Ban Chấp hành Chi Hội, Chi Hội trưởng, Chi Hội phó); Tổ Hội có từ 05 hội viên trở lên (có Tổ trưởng và Tổ phó).
- Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp được thành lập trong Chi Hội Nông dân nghề nghiệp và phân theo ngành, nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hoặc được thành lập trực thuộc Chi Hội trên địa bàn dân cư và Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp có thể trực thuộc cơ sở Hội (trong trường hợp hội viên tham gia ở nhiều Chi Hội khác nhau, nhưng chưa đủ số lượng, điều kiện để thành lập Chi Hội Nông dân nghề nghiệp). Hội viên tham gia các Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp này nếu đang sinh hoạt ở những Chi Hội truyền thống trên địa bàn dân cư khác nhau thì không tham gia sinh hoạt tại Chi Hội truyền thống nữa.
- Tổ chức cơ sở Hội có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn hội viên sinh hoạt tại các Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp phù hợp theo đúng quy định của Điều lệ Hội.
2. Thẩm quyền thành lập, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp.
- Các Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp do Ban Thường vụ Hội Nông dân cơ sở ra quyết định thành lập. Chi Hội hoạt động theo sự hướng dẫn và quản lý trực tiếp của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hội Nông dân cơ sở.
- Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc 5 tự: “Tự giác, tự nguyện, tự chủ, tự quản, tự chịu trách nhiệm” và 5 cùng: “(1) Cùng lĩnh vực lao động, ngành nghề sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; (2) Cùng mối quan tâm; (3) Cùng có sự chia sẻ; (4) Cùng chịu trách nhiệm và (5) Cùng hưởng lợi” và thực hiện tốt theo Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam.
- Mỗi Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp chịu sự lãnh đạo của một Chi bộĐảngnơi Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp hoạt động và tích cực gương mẫu đi đầu trong tham gia phát triển kinhh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng tổ chức Hội, xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh. Đối với Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp thành lập trên phạm vi nhiều địa bàn dân cư khác nhau trong cùng một xã thì dưới sự chỉ đạo của Chi bộ Đảng nơi có đông số lượng hội viên tham gia sinh hoạt.
3. Quy trình thành lập Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp.
- Bước 1: Tuyên truyền, vận động hội viên, nông dân nâng cao nhận thức về mục đích, ý nghĩa của việc thành lập Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp để vận động hội viên, nông dân tham gia Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp.
- Bước 2: Ban Thường vụ Hội Nông dân cơ sở, cùng Ban Chấp hành Chi Hội tiến hành:
+ Khảo sát, nắm bắt tình hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, lựa chọn, phát huy thế mạnh ngành nghề, lĩnh vực của địa phương và nhu cầu tham gia của hội viên, nông dân trên địa bàn để thành lập Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp phù hợp, đảm bảo theo tiêu chí 5 tự, 5 cùng.
+ Rà soát nông dân là thành viên các Tổ Hợp tác, Hợp tác xã chưa là hội viên để tuyên truyền, vận độngphát triển hội viên và vận động đăng ký tham gia Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp trong các Hợp tác xã, Tổ Hợp tác.
+ Những nơi khó khăn, chưa thành lập được Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp thì tập trung lựa chọn ở những địa bàn có làng nghề truyền thống, có ngành nghề sản xuất, kinh doanh lớn, tập trung hàng hóa; cây con chủ lực, tiềm năng lợi thế phát triển của địa phương, để xác định loại hình, lĩnh vực hoạt động; hội viên sản xuất, kinh doanh giỏi có uy tín...làm nòng cốt để xây dựng Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp.
- Bước 3: Ban Thường vụ Hội Nông dân cơ sở tiến hành họp thảo luận, thống nhất và báo cáo xin chủ trương của cấp ủy cùng cấp và Hội Nông dân cấp trên trực tiếp quản lý về việc thành lập Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp.
- Bước 4: Ban Thường vụ Hội Nông dân cấp cơ sở ra quyết định thành lập Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp; chỉ định Ban Chấp hành, Chi Hội trưởng, Chi Hội phó đối với Chi Hội và Tổ trưởng, Tổ phó đối với Tổ Hội. Nhiệm kỳ của Chi Hội Nông dân nghề nghiệp thống nhất tính từ khi có quyết định thành lập và thời gian là 5 năm theo quy định của Điều lệ Hội.
- Bước 5: Ban Thường vụ Hội Nông dân cấp cơ sở phối hợp với Ủy ban Nhân dân cùng cấp để Ủy ban Nhân dân xã, phường, thị trấn ban hành quyết định về việc thành lập Hợp tác xã, Tổ hợp tác theo đúng quy định của pháp luật.
- Bước 6: Ban Thường vụ Hội Nông dân cấp cơ sở có văn bản trình, đề nghị Đảng ủy xã, phường, thị trấn ban hành Nghị quyết về việc thành lập Tổ Đảng hoặc Chi bộ Đảng nếu trong Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp có đủ số lượng đảng viên theo quy định của Điều lệ Đảng.
- Bước 7: Tổ chức lễ ra mắt và công bố quyết định thành lập; thông qua dự thảo quy chế làm việc và triển khai chương trình, kế hoạch hoạt động của Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp.
Lưu ý: Trong trường hợp nơi không có tổ chức Hội cấp cơ sở hoặc hội viên cư trú ở nhiều cơ sở Hội khác nhau thì Ban Thường vụ Hội Nông dân cấp huyện trực tiếp chỉ đạo và thống nhất với cấp ủy cấp xã để thành lập Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp trên quy mô liên xã hoặc trên quy mô toàn huyện. Quy trình thành lập được thực hiện theo 7 bước như trên.
4. Hồ sơ đề nghị thành lập Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp.
- Văn bản nhất trí chủ trương của cấp ủy đảng nơi có nguyện vọng thành lập Chi Hội Nông dân nghề nghiệp hoặc văn bản đề nghị của Chi Hội đối với thành lập Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp.
- Danh sách hội viên, đơn xin tham gia Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp của hội viên.
- Danh sách trích ngang đề cử cán bộ Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp, gồm: Ban Chấp hành, Chi Hội trưởng, Chi Hội phó (đối với Chi hội); Tổ trưởng, Tổ phó (đối với Tổ Hội).
- Dự thảo Quy chế hoạt động của Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp.
- Dự kiến phương hướng, nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh.
5. Chuẩn bị và tổ chức Lễ ra mắt Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp.
- Chuẩn bị Ma két: Lễ ra mắt Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp.
- Nội dung Lễ ra mắt:
+ Tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu.
+ Công bố các Quyết định thành lập Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp; Quyết định chỉ định Ban Chấp hành, Chi Hội trưởng, Chi Hội phó; Tổ trưởng, Tổ phó; danh sách hội viên tham gia Chi Hội Nông dân nghề nghiệp; trình bày dự thảo quy chế hoạt động của Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp ….
+ Công bố quyết định kết nạp và trao thẻ hội viên.
+ Phát biểu chỉ đạo của cấp ủy và Hội Nông dân cấp trên.
+ Thảo luận, thông qua phương hướng công tác Hội và kế hoạch sản xuất, kinh doanh; Quy chế hoạt động của Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp.
+ Bế mạc.
6. Thời gian, nội dung sinh hoạt của Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp.
6.1. Thời gian sinh hoạt: Theo quy định của Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam khóa VII, nhiệm kỳ 2023 - 2028.
- Ban Chấp hành Chi Hội Nông dân nghề nghiệp họp 01 tháng/lần.
- Chi Hội Nông dân nghề nghiệp sinh hoạt ít nhất 03 tháng/1 lần và có thể 01 tháng/lần do yêu cầu nhiệm vụ.
- Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp sinh hoạt 1 tháng/1 lần và có thể từ 02 đến 03 lần trong tháng do yêu cầu nhiệm vụ.
Căn cứ vào điều kiện, nhu cầu thực tế sản xuất, kinh doanh, Ban Chấp hành Chi Hội, Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp có thể tổ chức họp và sinh hoạt thường xuyên hoặc đột xuất khi cần thiết để đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh của hội viên.
6.2. Nội dung sinh hoạt, hoạt động của Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp.
- Tuyên truyền, phổ biến sâu rộng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Chỉ thị, Nghị quyết của Hội, nhiệm vụ chính trị của địa phương đến hội viên trong Chi Hội, Tổ Hội đảm bảo các nội dung sinh hoạt theo đúng quy định tại Điều 14, Điều 16 của Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam, Luật Hợp tác xã, Luật Doanh nghiệp, pháp luật để thực hiện chức năng tuyên truyền, giáo dục hội viên, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên, nông dân.
- Điểm lại những thông tin quan trọng trên các báo, nhất là Báo Nông thôn ngày nay, Tạp chí nông thôn mới, Bản tin công tác hội có liên quan đến lĩnh vực hoạt động của Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp; thông tin về các chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, nhất là các nội dung liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp. Kịp thời nắm bắt tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của hội viên.
- Trao đổi thông tin về thời tiết nông vụ, về thị trường, giá cả, về thiết bị, vật tư nông nghiệp, phương tiện sản xuất, các loại giống cây, con, về phòng trừ dịch, bệnh, chia sẻ kinh nghiệm trong sản xuất, bảo quản, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, về sáng kiến, sáng tạo, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất…
- Tổ chức các hoạt động hỗ trợ nông dân, tập huấn chuyển giao KHKT theo lĩnh vực hoạt động của Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp. Hướng dẫn cách thức lập dự án sản xuất kinh doanh, thủ tục vay vốn, quản lý, sử dụng hiệu quả vốn vay…
- Thảo luận, đánh giá tình hình hoạt động của Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp (kết quả sản xuất kinh doanh; những khó khăn, vướng mắc) và xây dựng kế hoạch về cách thức sản xuất, xây dựng mô hình kinh doanh, dịch vụ nhằm nâng cao giá trị và tính cạnh tranh của sản phẩm, giúp hội viên có công ăn việc làm, thu nhập ổn định xóa đói, giảm nghèo và làm giàu bền vững.
- Thảo luận với các đối tác khi ký hợp đồng liên kết, hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
- Khuyến khích xây dựng Quỹ tương trợ, Quỹ hoạt động để hỗ trợ các thành viên trong Chi Hội, Tổ HộiNông dân nghề nghiệp. Xây dựng mối quan hệ liên kết, hợp tác, đoàn kết, tương thân, tương ái, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau trong lao động, sản xuất kinh doanh và xây dựng xã hội nông thôn văn minh, hiện đại.
- Tổ chức tham quan, học tập, trao đổi kinh nghiệm, trang bị kiến thức về sản xuất kinh doanh, sản phẩm, dịch vụ và thị trường, mạnh dạn khởi nghiệp sáng tạo và thực hành mô hình mới có hiệu quả.
- Tổ chức kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm và xếp loại Chi Hội, TổHội Nông dân nghề nghiệp theo quy định, đồng thời chia sẻ kinh nghiệm trong sản xuất, kinh doanh, động viên khen thưởng và nhân rộng những mô hình mới, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả tạo điều kiện để hội viên trong Chi Hội, TổHội cùng học tập.
7. Công tác chuẩn bị và các bước tổ chức sinh hoạt Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp.
7.1. Công tác chuẩn bị
- Chi Hội trưởng hoặc Chi Hội phó; Tổ trưởng hoặc Tổ phó chuẩn bị nội dung sinh hoạt, dự thảo báo cáo tháng, quý và xác định phương hướng, nhiệm vụ trong tháng, quý tiếp theo, dự thảo Nghị quyết (nếu có) hoặc dự kiến nội dung kết luận của buổi sinh hoạt.
- Họp Ban Chấp hành đối với Chi Hội Nông dân nghề nghiệp; Tổ trưởng, Tổ phó đối với Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp để thống nhất nội dung, thời gian sinh hoạt.
- Thông báo thời gian, địa điểm, nội dung sinh hoạt tới toàn thể hội viên.
7.2. Các bước sinh hoạt Chi Hội, Tổ Hội Nông dân nghề nghiệp
- Bước 1: Người chủ trì (Chi Hội trưởng hoặc Chi Hội phó, Tổ trưởng hoặc Tổ phó) tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu; cử thư ký ghi biên bản; thông báo tình hình hội viên tham dự cuộc họp (có mặt, vắng mặt); thông báo nội dung, chương trình sinh hoạt Chi Hội.
- Bước 2: Thực hiện các nội dung sinh hoạt: Người chủ trì hoặc ủy quyền cho cấp phó triển khai nội dung sinh hoạt đã được Chi Hội, Tổ Hội chuẩn bị.
- Bước 3: Thảo luận, tham gia góp ý kiến của hội viên.
- Bước 4: Người chủ trì tiếp thu và giải trình những vấn đề hội viên đặt ra…
- Bước 5: Thông qua Nghị quyết hoặc Kết luận và thông báo kết thúc cuộc họp./.
* CHỈ TIÊU NHIỆM VỤ NĂM 2025 GIAO CÁC CHI HỘI VẬN ĐỘNG, TỔ CHỨC THỰC HIỆN.
QUY ĐỊNH VỀ SÁT NHẬP ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CẤP HUYỆN, XÃ
* Cần tiền ? Hỏi vay ai ? Điều kiện để được vay vốn ???.
* Hỗ trợ hộ nghèo, cận nghèo, mới thoát nghèo, thoát cận nghèo (Trong vòng 3 năm trở lại đây) vay vốn ngân hàng chính sách xã hội huyện Trấn Yên.
- Hội nông dân xã Lương Thịnh Hỗ trợ cho vay tối đa 100 triệu đồng/1 hộ thuộc đối tượng hộ nghèo, cận nghèo, mới thoát nghèo, thoát cận nghèo năm 2022 với lãi xuất như sau: Hộ nghèo 0.55%/tháng. Hộ cận nghèo 0,65%/tháng. Hộ mới thoát nghèo 0,6875%/tháng.
- Thủ tục hồ sơ như sau:
+ Khi hộ nghèo, cận nghèo, mới thoát nghèo có nhu cầu vay vốn thì đăng ký với Tổ vay vốn của Ngân hàng chính sách xã hội tại khu dân cư mình đang cư trú hoặc Hội nông dân xã Lương Thịnh qua đ/c Triệu Đình Chung - Chủ tịch HND xã SĐT: 0973385013.
+ Khi tiếp nhận thông tin hộ có nhu cầu vay vốn, Hội nông dân xã sẽ đối chiếu danh sách hộ nghèo, cận nghèo, mới thoát nghèo do UBND xã quản lý, nếu đủ điều kiện cho vay, Hội nông dân sẽ phối hợp cùng Tổ chức hội đoàn thể phụ trách Tổ vay vốn để làm hồ sơ và giải ngân theo quy định, đồng thời thông báo cho hộ có nhu cầu vay vốn biết để phối hợp làm hồ sơ.
* Đối tượng hộ không thuộc hộ nghèo, cận nghèo, mới thoát nghèo mà có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thổ cư hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trồng cây lâu năm, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng sản xuất:
* Hỗ trợ hộ nông dân tiếp cận các nguồn vốn khác
- Hội nông dân xã Lương Thịnh Hỗ trợ cho vay tín chấp sổ đỏ Tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (Chi nhánh phường Hợp Minh) tối đa 100 - 200 triệu đồng/1 hộ thuộc đối tượng hộ có nhu cầu vay vốn mà có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thổ cư hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trồng cây lâu năm hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng sản xuất.
- Thủ tục hồ sơ như sau:
+ Khi hộ có nhu cầu vay vốn thì đăng ký với Hội nông dân xã qua đ/c Triệu Đình Chung - Chủ tịch hội nông dân xã, SĐT: 0973385013.
+ Khi tiếp nhận thông tin hộ có nhu cầu vay vốn, Hội nông dân xã sẽ phối hợp với cán bộ Ngân hàng nông nghiệp phụ trách địa bàn để thẩm định hồ sơ , đồng thời thông báo cho hộ có nhu cầu vay vốn biết để phối hợp làm hồ sơ đề nghị vay vốn.
* Lưu ý: Thời gian chờ giải ngân sau khi hoàn tất hồ sơ thường kéo dài từ 10 - 15 ngày.
* NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN, TRIỂN KHAI, TIẾP TỤC THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI, PHẤN ĐẤU XÂY DỰNG ÍT NHẤT MỘT THÔN ĐẠT TIÊU CHUẨN " THÔN NÔNG THÔN KIỂU MẪU" NĂM 2025.
* TIÊU CHÍ THÔN NÔNG THÔN MỚI
* TIÊU CHÍ THÔN NÔNG THÔN MỚI KIỂU MẪU