Giáo dục‎ > ‎

Chính sách giáo dục

Từ năm 2006 đến 2010: Lương giáo viên tăng gấp 2,1 lần

đăng 11:06 17-06-2010 bởi sach tvc

(GD&TĐ)-Bộ GD&ĐT trả lời chất vấn ĐBQH Nguyễn Hữu Nhơn - Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp về chủ trương cải cách tiền lương trong ngành giáo dục.

ghg
So với năm 2006, năm 2010 lương giáo viên hàng tháng đã tăng gấp 2,1 lần

Nội dung chất vấn:

“Tại kỳ hợp thứ 10, Quốc hội khóa XI vào tháng 10 năm 2006, tôi đã chất vấn Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân về chủ trương cải cách tiền lương trong ngành giáo dục. Bộ trưởng cho biết đang xây dựng Đề án và sẽ trình Chính phủ vào tháng 7 năm 2007, Bộ trưởng còn trả lời trước hội trường rằng: Chưa có đề bài sao có đáp án được.

Vậy đến nay gần 4 năm (10/2006 – 5/2010), đề án cải cách tiền lương của Bộ trưởng tới đâu? Đã có “đề bài và đáp án chưa”? Kính đề nghị Bộ trưởng cho biết kết quả, nếu chưa thì lộ trình bao giờ xong.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin được trả lời như sau:

Từ năm 2006, lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác định cần xây dựng Đề án tăng thu nhập cho giáo viên trình Thủ tướng Chính phủ. Sau khi nghiên cứu phương án của Bộ đề xuất là tăng hệ số ưu đãi cho giáo viên bình quân từ 1,35 lên 1,7. Đây là mức đề xuất hệ số ưu đãi trong tương quan với hệ số ưu đãi của lực lượng vũ trang (bộ đội, công an là 1,8). Tuy nhiên, Chính phủ đã bàn bạc và chưa chấp thuận với lý do còn phải tính đến nhu cầu tăng thu nhập của cán bộ, công chức viên chức ngành y tế, văn hoá và các ngành khác.

Mặt khác đội ngũ giáo viên ngành giáo dục đã và đang được hưởng hệ số phụ cấp đứng lớp theo Quyết định số 244/2005/QĐ-TTg ngày 06/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy tại các trường công lập cụ thể: Nhà giáo dạy cao đẳng, đại học là 25% mức lương đang hưởng; nhà giáo dạy trung học cơ sở, trung học phổ thông ở đồng bằng, thành phố là 30%; nhà giáo dạy mầm non, tiểu học ở đồng bằng, thành phố, trung học cơ sở, trung học phổ thông ở miền núi, hải đảo vùng sâu, vùng xa là 35%; giáo viên dạy mầm non, tiểu học ở miền núi, vùng sâu, vùng xa hải đảo là 50%; nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy trong các trường sư phạm, khoa sư phạm (đại học, cao đẳng) là 40%; nhà giáo dạy các môn Mác - Lênin là 45%. Bình quân phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy là 35% hay hệ số ưu đãi là 1,35.

Ngoài ra, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2006/NĐ-CP ngày 20/6/2006 về chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở trường chuyên biệt, ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn: Mức phụ cấp 50% áp dụng đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đang công tác tại trường năng khiếu thể dục thể thao, trường năng khiếu nghệ thuật, trường phổ thông dân tộc bán trú, trường dự bị đại học. Mức phụ cấp 70% áp dụng đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đang công tác tại trường phổ thông dân tộc nội trú, trường trung học phổ thông chuyên, trường dành cho người tàn tật, khuyết tật và nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đang công tác tại các cơ sở giáo dục, đào tạo thuộc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Để từng bước nâng cao tiền lương, thu nhập cho đội ngũ cán bộ công chức, viên chức và những người hưởng lương từ ngân sách nhà nước (trong đó có nhà giáo), trong giai đoạn từ 2006-2012, Chính phủ đã có lộ trình tăng mức lương tối thiểu: từ 350.000 đồng/tháng năm 2006 lên 730.000 đồng/tháng từ tháng 5/2010. Như vậy, so với năm 2006, năm 2010 tiền lương của giáo viên hàng tháng đã tăng gấp 2,1 lần. 

Ví dụ, nếu một giáo viên tốt nghiệp đại học ra trường năm 2010, thì sẽ có mức lương là 2,306 triệu đồng/tháng (mức lương tối thiểu nhân với hệ số lương cơ bản nhân với hệ số phụ cấp ưu đãi bình quân chung toàn ngành: 730.000 đồng x 2,34 x 1,35). Nếu ở thời điểm năm 2006 thì giáo viên này có mức lương là 1,105 triệu đồng/tháng (350.000 đồng x 2,34 x 1,35). Nếu giáo viên này năm 2010 công tác ở vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn, thì thu nhập là 3,9 triệu đồng/tháng. Nếu giáo viên tốt nghiệp đại học thời gian công tác 10 năm (hệ số lương là 3,33) thì mức lương hiện nay là 3,3 triệu đồng.

Một ví dụ khác, ở một tỉnh miền núi khu vực đặc biệt khó khăn, một công chức có trình độ cao đẳng được hưởng hệ số lương cơ bản 2,1, hệ số phụ cấp khu vực là 0,7 thì tiền lương được nhận một tháng là 2,069 triệu đồng/tháng. Nhưng cũng một giáo viên trình độ cao đẳng làm việc tại vùng đặc biệt khó khăn thì ngoài hệ số lương cơ bản 2,1, hệ số phụ cấp khu vực (0,7) còn thêm phụ cấp ưu đãi (35%), phụ cấp thu hút (70%) cộng lại tiền lương hơn 3,5 triệu đồng/tháng.

Như vậy, xét về mức độ tăng, thì thu nhập của giáo viên vào năm 2010 bằng 2,1 lần so với năm 2006, còn về giá trị bình quân thì tăng nằm trong khoảng từ 2,5 triệu đến 4 triệu đồng/tháng và cao hơn so với công chức, viên chức của các ngành khác. Tuy nhiên, với nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng lên như hiện nay, thì chưa đáp ứng được đòi hỏi tăng thu nhập thực tế cho giáo viên, nhất là khi đã có con nhỏ, đời sống của một bộ phận nhà giáo vẫn còn không ít khó khăn.

Việc làm sao để cán bộ, công chức, viên chức được sống bằng lương là sự quan tâm lớn của Đảng, Chính phủ trong quá trình đổi mới quản lý kinh tế - xã hội của đất nước. Việc tăng lương cơ bản theo lộ trình từ năm 2006 đến năm 2010 đã có tác dụng thiết thực. Tuy nhiên, vẫn còn bất hợp lý và Chính phủ sẽ tiếp tục thiết kế các giải pháp mới cho giai đoạn 2011-2015. Theo kế hoạch tăng lương 2006-2012 đã được Chính phủ duyệt, vào năm 2011 dự kiến mức lương tối thiểu là 850 nghìn đồng/tháng và năm 2012 là 950 nghìn đồng/tháng.

Từ thực tế như trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã trình Chính phủ và Quốc hội đề án đổi mới cơ chế tài chính giáo dục và đào tạo, trong đó có tiền lương của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Tại kì họp thứ V, Quốc hội khóa XII vừa qua, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 35/2009/NQ-QH12 ngày 19/6/2009 về định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo từ năm học 2010-2011 đến năm học 2014-2015.

Trong đó, Quốc hội đã cho phép: Thực hiện chính sách ưu tiên về lương và phụ cấp cho đội ngũ nhà giáo; tiếp tục chính sách khuyến khích nhà giáo dạy học ở các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và giáo dục hoà nhập; đồng thời thực hiện chế độ phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; bảo lưu phụ cấp đứng lớp trong thời hạn 3 năm cho nhà giáo được điều động làm công tác quản lý giáo dục. Chính sách phụ cấp thâm niên cho nhà giáo tiếp tục được khẳng định tại Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục (có hiệu lực từ ngày 01/7/2010).

Hiện nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang khẩn trương phối hợp với các Bộ, ngành soạn thảo các văn bản trình Chính phủ trong quý 3 năm 2010 để thực hiện Nghị quyết số 35/2009/QH12 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục, trong đó có việc thực hiện phụ cấp thâm niên cho giáo viên.

Thông qua biện pháp này, một mặt chúng ta khuyến khích các nhà giáo tận tụy với nghề, mặt khác thu nhập thực tế của nhà giáo sẽ tiếp tục tăng thêm. So với năm 2006 thì đây là biện pháp sẽ làm tăng thu nhập của nhà giáo, thể hiện đặc thù riêng của ngành giáo dục, bên cạnh chính sách ưu đãi đứng lớp và chính sách thu hút đối với các trường đặc thù và vùng đặc biệt khó khăn đã được áp dụng các năm qua. Tuy chưa được Chính phủ ban hành văn bản về chế độ phụ cấp thâm niên, song chủ trương này của Quốc hội đã được các thầy cô giáo cả nước rất hoan nghênh và là một động viên lớn đối với đội ngũ nhà giáo.

Bộ GD&ĐT

,

Nhà giáo đã nghỉ hưu vẫn được xét danh hiệu NGND, NGƯT

đăng 11:04 17-06-2010 bởi sach tvc

(GD&TĐ)-Bộ GD&ĐT trả lời chất vấn Đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng, ông Huỳnh Nghĩa về việc phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú.

Nội dung chất vấn:

Chính phủ đã có chủ trương phong tặng danh hiệu: nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú và thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú. Chúng tôi cho rằng, đây là một chủ trương đúng đắn nhằm tôn vinh nhà giáo và thày thuốc.

Nhưng trong thực tế, hướng dẫn của Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và Đào tạo mới chỉ hướng dẫn nội dung phong tặng nhằm vào đối tượng đương chức. Riêng cán bộ hưu trí trong ngành giáo dục và y tế chưa được hướng dẫn cụ thể vì phần đông cán bộ hai ngành này có nhiều công lao, thành tích nay đó nghỉ hưu và có người đó qua đời.

Xin được đề nghị đồng chí Bộ trưởng cho biết, các đối tượng trên đã nghỉ hưu hoặc đó qua đời có được phong tặng hay truy tặng không? Và làm thủ tục thế nào? Mong Bộ trưởng vui lòng hướng dẫn cụ thể để trả lời cho cử tri.

Bộ Giáo dục và Đào tạo trả lời như sau:

1. Về đối tượng xét tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú:

Thực hiện Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2003, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2005 và Nghị định số 121/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2005, ngày 23 tháng 4 năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành về việc Hướng dẫn về tiêu chuẩn, quy trình, đối tượng, thủ tục và hồ sơ xét tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú (NGND-NGƯT). Thông tư số 22/2008/TT-BGDĐT ngày 23 thỏng 4 năm 2008 đó hướng dẫn cụ thể những quy định của Luật Thi đua, Khen thưởng năm 2005 và Nghị định số 121/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 của Chính phủ về tiêu chuẩn, quy trình, đối tượng, thủ tục và hồ sơ xét tặng danh hiệu NGND, NGƯT.

Tại mục I, khoản 1, điểm c, của Thông tư số 22/2008/TT-BGDĐT đó ghi rõ “Các nhà giáo đã nghỉ hưu vẫn thuộc diện được xét danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú. Những nhà giáo lão thành trên 70 tuổi có công lao to lớn, tiêu biểu được xã hội tôn vinh, được giáo giới trong ngành tín nhiệm được đề nghị xét đặc cách danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú”. (Đây là điểm mới so với các Thông tư Hướng dẫn về tiêu chuẩn, quy trình, đối tượng, thủ tục và hồ sơ xét tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú trước đây và được áp dụng xét, phong tặng từ lần thứ 10 - năm 2008).

Trong đợt xét, tặng danh hiệu NGND, NGƯT lần thứ 10 (năm 2008), Chủ tịch nước đó ký Quyết định phong tặng danh hiệu NGND cho 101 nhà giáo, có 67 nhà giáo đã nghỉ hưu (trong đó có 48 nhà giáo trên 70 tuổi diện đặc cách) và truy tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú cho 01 nhà giáo (GS.TS. Dương Thiệu Tống, Nguyên giảng viên Trường Đại học Ngoại ngữ - Tin học thành phố Hồ Chí Minh đó mất trong quá trình xét, đề nghị phong tặng).

2. Về quy trình, thủ tục và hồ sơ xét tặng danh hiệu NGND, NGƯT:

Để phục vụ đợt xét phong tặng danh hiệu NGND-NGƯT lần thứ 11 (năm 2010), Bộ Giỏo dục và Đào tạo đó gửi Công văn số 665/BGDĐT-VP ngày 09 tháng 2 năm 2010 đến các Bộ, ngành, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các Sở Giáo dục và Đào tạo, các trường đại học, cao đẳng, các đơn vị thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong đó nêu rõ quy trình xét, phong tặng danh hiệu NGND-NGƯT thực hiện theo 4 bước, cụ thể như sau:

Bước 1: Họp toàn thể cán bộ, giáo viên giới thiệu và bỏ phiếu tín nhiệm. Các nhà giáo có từ 60% số phiếu tín nhiệm của cán bộ, giáo viên trở lên được đưa vào danh sách trình Hội đồng xét tặng sơ duyệt.

Bước 2: Thành lập Hội đồng, Hội đồng họp trao đổi thành tích của các nhà giáo đối chiếu với tiêu chuẩn và bỏ phiếu phê duyệt.

Bước 3: Công bố kết quả phê duyệt và tổ chức thăm dò dư luận.

Bước 4: Hội đồng họp bỏ phiếu tán thành.

Trên cơ sở danh sách đó sơ duyệt và kết quả thăm dò dư luận, Hội đồng họp để xem xét và bỏ phiếu tán thành. Các nhà giáo có số phiếu đạt từ 2/3 tổng số thành viên Hội đồng (theo Quyết định thành lập Hội đồng) trở lên được hoàn chỉnh hồ sơ đưa vào danh sách đề nghị lên Hội đồng cấp trên (xin gửi kèm Thông tư số 22/2008/TT-BGDĐT ngày 23 tháng 4 năm 2008).

Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan thường trực Hội đồng xét tặng danh hiệu NGND, NGƯT lần thứ XI đang tiếp tục nhậm hồ sơ của Hội đồng xét tặng danh hiệu NGND, NGƯT cấp cơ sở (các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các trường đại học, cao đẳng). Đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nhận đựoc 1.112 hồ sơ của các nhà giáo được Hội đồng xét tặng danh hiệu NGND, NGƯT cấp cơ sở gửi đến, trong đó có 218 hồ sơ của các nhà giáo đã nghỉ hưu, 44 hồ sơ của các nhà giáo trên 70 tuổi đề nghị xét đặc cách.

Bộ GD&ĐT

1-2 of 2