Hoa Vu Dinh's Life
 

         My Life

 

9/62 – 74:            School

15/7/1974:        Silber Medai Internationaler Mathematik Olympiade 

1974 – 1976:       German at Highschool in Hanoi and Leipzig

26/5/1981:           Dip. der diskreten Mathematik in der DDR, 

24/10/1984          Dr. rer. nat. in Germany

1985–1989 :        Institut of Computerscience.

8/89  -  3/96        worked in Germany

 12/11/1996         Dr. rer. habil.  in Germany

9/98–12/ 2002     Institute for Information Technology.

Since 1/1/2003 Teacher at University of Education Hanoi,

19/10/2005          Associate Professor.

 

 

                           Of tender age

 

Chúng mình đã kịp lớn đâu

Mà những ước mơ đã chết

Những ngôi sao dịu hiền

Tắt trên bầu trời trẻ thơ...

                                 (thơ cô bé láng giềng, 1974)   

    

             Love

...Gia tài anh chỉ có những vần thơ

Anh trao tặng cho em từ ngày ấy

Quá khứ dài cùng nhau anh đã thấy

Những vui buồn dằn vặt đớn đau

Bao tâm tình... tiếng nói, nụ cười em

Qua gương mặt anh hiểu điều mong ngóng

Em nghĩ gì khi viết những vần thơ...

                                                                                          (1998)

 

        Tặng

con gái nhỏ

 

Đầu tháng giêng Châu Âu giá lạnh,

Đất biển trời nghiêng trong bão tuyết

Mặc bão tuyết lòng anh vui đến thế

Cả không gian như sống lại mùa hè...

*

Con của cha ơi ôi thiên thần nhỏ bé

Cha muốn đứng bên con lặng thầm se sẽ

Hôn lên vầng trán ngây thơ sáng ánh trời

Và ngắm con mãi mãi không thôi

*

Cha ở xa con đến vậy, bé của cha ơi

Ôi những niềm vui nỗi nhớ dạo rực bồi hồi

Cha muốn mượn ánh sao đêm để nói thay lời

Chúng thương cha nên lấp lánh không thôi.

*

Những vì sao đêm thương em nhỏ lệ

Anh vẫn biết ánh sao dịu hiền thế

Như ánh mắt em đẹp nghìn sao sáng

Cháy rực tình yêu trong trắng diệu kỳ...

                                                  (1/1982)

 

                     EM

Giữa đêm đông buốt lạnh chuyến đi dài

Có một người thao thức với anh thôi

Trong khuya vắng chỉ riêng người ấy đợi

Khi anh khổ có mình người ấy tới

Với tình yêu và lửa ấm yêu thương

Người ấy bên anh suốt đoạn trường

Trong lạc bước vẫn cùng anh trở lại

Xóa cỗi cằn những tháng ngày mệt mỏi.

Em - bình minh của mùa xuân tuổi trẻ

Một bông hoa của ngoại ô phố bé

Đến cùng anh - đến với nắng mưa

Đến với tình yêu sớm tối chiều trưa.

Em bên anh đời thành tiếng hát

Em gợi trong anh bát ngát yêu thương

Em thức dậy mỗi sớm tinh sương

Cảm ơn em - người thêu thùa nấu nướng

Đôi bàn tay vì con không biết mỏi

Đôi mắt mộng mơ, đôi vai ấm dịu dàng

Ánh mắt em trong mỗi tối cùng anh

Vẫn cháy lửa của một thời thiếu nữ.

Em trong anh là bàn tay tin cậy

Hỡi bàn tay luôn xiết chặt bàn tay

Hãy đón nhận từ anh - trái tim này

Một tình yêu say đắm mãi vì Em.,.

                                                      (11.11.1997)

 

Gửi các bạn khóa 1975 ở phương xa!

Thoáng cái mà đã là 30 năm rồi nhỉ. Bao nhiêu sóng gió cuộc đời vẫn còn chưa hẳn đã qua đi. Tự nhiên bùi ngùi thương cảm mọi người và mình. Nhớ bao nhiêu ngày tháng vất vả long đong đất khách quê người, bao nhiêu thăng trầm vui buồn... Tặng các bạn bài thơ:

         

HÀ NỘI TRỜI TRỞ RÉT

 *

Rét nơi ai lạnh tới tận nơi tôi,

Trời lạnh giá như muốn cùng chia xẻ

Gió lùa đầy những căn phòng nhỏ bé

Đông về đường vắng ít người qua.

 *

Tôi đưa con đi học qua những ngã ba

Qua những cây đèn cùng hàng đinh thứ nhất

Những ngọn đèn xanh người xe tấp bật

Gió thổi về giữa giá lạnh mùa đông.

 *

Trời mùa đông như nét mặt của gương

Trời dịu xanh như lòng ai dễ hiểu

Trời nổi gió cho lòng người mềm yếu

Đổi thay mùa sắc mặt thoáng ưu tư.

 *

Và rộn ràng bao cô bán hàng rong

Giá lạnh thế mà miệng cười hé mở

Như nụ hoa để mặc người qua phố

Đang thu mình tránh rét với lo âu.

 *

Tôi đi thấy lòng rộn vẩn vơ

Giữa gió lạnh thương người bên xứ lạ

Dù bão táp cuộc đời chưa hết giá

Hết rét rồi lại ấm những ngày qua.

 *

Ở nơi đây đang lạnh thấu thịt da

Trời lạnh giá như muốn cùng chia rét...

                             (Bắt đầu những ngày rét 25.10.05)

 

 BÔNG HOA XANH

Bông hoa nở ven đường

Tươi thắm và ngát hương

Như ngàn đóa hoa thương

Trên đồng xanh bát ngát.

*

Văng vẳng nghe tiếng hát

Theo bước chân nhẹ nhàng

Từ xa một cô nàng

Lại gần hoa... lại gần...

*

"Ấy" hoa tội nghiệp nhủ,

"Giá ta xinh đẹp nhất

Trong muôn loài hoa thật

Để được tay nàng ngắt

Để được tay nàng nâng

Gần trái tim nàng đặt

Dẫu chỉ vài phút giây..."

*

Ấy.. nhưng ấy.. cô nàng

Chẳng ngó ngàng tới hoa

Một phút bỗng tối nhòa

Hoa bị chân dẫm nát.

*

Trong phút giây nhợt nhạt

Lạnh mát phút lìa thân

Hồn hoa vẫn nhủ thầm

"Nếu phải chết vậy ư?

Thì ta chết vậy đó

Bởi nàng... bởi nàng..

Dưới bàn chân người đẹp!"

                  (dịch từ Gớt: "Ein Veilchen", 24.2.1982)

TỔ QUỐC

Tôi yêu tổ quốc một mối tình kỳ lạ

Nó không nghe theo lý trí ở nơi tôi

Bao vinh quang từng đổi máu xương rơi

Và tập tục ngàn xưa thăm thẳm

Không khuấy lên tình thương mến trong tôi

Không khuấy lên niềm ước vọng trong tôi.

*

Nhưng tôi yêu vì sao tôi chẳng biết

Những ngọn đồi lạnh lẽo đứng lặng yên

Những cánh rừng bát ngát gió lay nghiêng

Những dòng sông nước tràn như bể biếc.

*

Yêu những đường quê hồn ta rong ruổi miết

Mắt rõi bóng đêm lòng nhớ quán bên đường

Khi bắt gặp xa xa đôi ánh lửa

Leo lét đỏ trong xóm nhỏ thê lương.

Yêu gốc rạ cháy lưng chừng khói nhẹ

Một cánh cò bay chớp nắng trên sông

Những chuyến xe trâu chuyển lúa giữa đồng

Đôi gốc bạch đàn thân trắng song song

Giữa biển lúa vàng bên gò đơn lẻ.

*

Với niềm vui sướng nhiều kẻ chưa từng

Tôi đứng ngắm nhìn sân phơi đầy ắp

Một ngôi nhà con vàng rơm mới cất

Một khung cửa nhỏ chạm trổ khéo tay...

Những đêm hội hè sương đậm lá cây

Tôi mải mê xem đến canh khuya muộn

Những cảnh chèo ồn ào vui nhộn

Dăm bác thợ cày rượu đã ngà say...

      (thơ Lermontop)

CẢM XÚC KHI ĐI THĂM HOÀNG THÀNH HÀ NỘI

Vũ Đình Hoà

 

Ngày chủ nhật, vào giờ cuối trưa, thăm Hoàng thành Hà nội.

Cảm xúc của tôi thật là kỳ lạ, như trở về nơi cũ của tổ tiên. Đây quả xứng đáng là mảnh đất thiêng liêng của tổ quốc. Giữa Hà nội bụi, chật chội, đất trũng, nơi đây là vùng đất cao ráo, nắng vàng nhẹ, mặt trời trên cao, bầu trời xanh thẳm... Hoàng thành quả là đất cũ của đế vương.

 

Nhưng còn gì đâu? Những dấu tích lịch sử hào hùng? Nơi nào sứ nhà Mông nghênh ngang dùng roi đánh lính cấm vệ, nơi nào sứ nhà Nguyên thốt lên "Nghe trống dậy, thấy bạc đầu...  nhớ lại chiến trường xưa đẫm máu.." Đâu còn những bức tường thành cao ngất bên sông Hồng sóng vỗ ...

 

Bốn con rồng đá còn lại bên chân bậc ... có lẽ đó là di tích duy nhất của lịch sử... Tôi nhớ lại chuyến đi thăm Bắc kinh, nhớ lại Cấm thành... Giữa thủ đô hiện đại của quốc gia có nhiều dân nhất trên thế giới này, đột nhiên ta đi lạc vào một vùng đất cổ xưa với những tòa thành nguy nga mờ ảo trong sương sớm... Ta lại đứng giữa vương triều nhà Minh, trong cấm cung giữa những cung điện và đền đài đủ sắc màu...

 

Thoáng chút bùi ngùi trong tôi, thương một dân tộc yếu ớt.. không có gì bảo vệ được bản thân ngoài sức mạnh "nhân nghĩa". Tôi dường như thấy các vương cung nhà Trần đang đi trong sương mờ lịch sử trong cuộc rút lui chiến lược khỏi cung thành, như thấy hoàng tộc nhà Lê lủi thủi kéo lên phương bắc trong các cuộc chạy loạn, thấy cảnh kinh thành náo loạn cấm quân, thấy khói mù đạn đại bác từ chiến thuyền Pháp bắn vào các cửa thành Hà nội ...

 

"Thăng long phi chiến địa", có ai nói như biện minh cho những cuộc tàn phá kinh thành trong lịch sử.

 

Không còn gì là dấu tích lịch sử của dân tộc... Dấu vết còn lại chỉ là văn hóa...Bốn con rồng đá còn đó, nhỏ bé... Bốn con rồng xanh thật độc đáo, như chỉ có người Việt mới khéo léo tạc nên chúng... Rồi các mảnh đất nung, gốm, hoa văn đủ màu sắc ... Trình độ một dân tộc chưa vươn đến những mảnh sứ tuyệt hảo, nhưng thật đủ sắc màu và đậm đà tình yêu...

 

Có lẽ sức mạnh của người Việt là ở tình yêu. Tình yêu giúp họ nhẫn nhục, chịu đựng những năm tháng tủi hờn trong lịch sử. Tình yêu giúp họ gìn giữ giống nòi: còn người thì còn tất cả. Thật lạ lùng, dân tộc này không tàn lụi trong chiến tranh, không chết dần chết mòn trong nô lệ. Ngược lại, họ ngày càng đông đúc... Từ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng họ chỉ có vài vạn dân, trong cuộc chiến với nhà Mông Nguyên họ chưa có tới 1 triệu. Cách mạng tháng Tám, họ là 25 triệu. Bước vào kháng chiến chống Mỹ với 30 triệu... và giờ đây họ đã là 80 triệu. Chỉ với tốc độ tăng dân số như vậy, họ sẽ luôn ra khỏi các cuộc chiến tranh như người chiến thắng...

 

Tôi, một trong những con cháu của họ, đứng bùi ngùi trên thềm lịch sử: một cái sân cao ráo có bệ rồng giữa những cây cao cổ thụ. Tôi đứng đây nhìn về lịch sử xa xưa của dân tộc mình. Tôi dường như trông thấy vị tộc trưởng Hùng Vương đóng khố, tôi dường như thấy nhúm người nhỏ nhoi vây quanh Hai Bà Trưng ... thấy những người lính nhà Trần lủi thủi trở về từ các chiến trường khói lửa ... Tôi thấy kỳ lạ biết bao sức mạnh của họ, sức mạnh nhỏ nhoi của ông cha đã làm nên lịch sử hào hùng. Phải chăng, con người Việt nam chúng ta đã vượt lên chính mình trong những phút giây quên mình nào đó. Phải chăng con người Việt nam chúng ta luôn ám kỷ  mình là con của trời đất và niềm tin đó giúp chúng ta biết hy sinh quên mình. Phải chăng chúng ta biết mượn sức tưởng tượng của con người để ám ảnh và mê hoặc làm khiếp hãi kẻ thù. Phải chăng chúng ta biết mượn sức thiên nhiên, mượn bóng đêm đầm Dạ trạch để ẩn náu, mượn sóng Bạch đằng để dấu những mũi chông nhọn và mượn sức thủy triều để nhấn chìm các hạm đội chiến thuyền phương bắc...

 

Trong ngẫm suy, tôi như trở về với lịch sử xa xưa. Tôi như người trung cổ sống giữa một dân tộc man rợ, chân quấn vải, mình mặc áo chàm xanh, giữa những làng mạc vắng vẻ thưa dân... Tôi dường như phát triển cùng họ, lớn lên giữa lịch sử nhân loại, giữa những cuộc chiến tranh, giữa những xung đột... Tôi đã nhìn thấy họ sinh sôi, ngày càng đông, ngày càng có bản sắc riêng và ngày càng hòa nhập với thế giới xung quanh.

 

Nơi đây, hoàng thành không còn gì cả, chỉ còn những vết tích văn hóa một dân tộc ... Nơi đây, tôi đã được trở lại cội nguồn, trở lại với cha ông thủa trước….

 

10/25/2004

 Vũ Đình Hoà

 

Top