Hoa cắt cành


 Hoa cẩm chướng

Tên tiếng Anh : Carnation
Họ : Dianthus caryophyllus
Tên thông dụng : "Jove's Flower" - "Pinks" - "Gillies" - "Gilliflower" - "Sops-in-wine"
Tên khoa học Dianthus caryophyllus L. (họ Caryophyllaceae). Có nguồn gốc từ châu Au.
Thông điệp - ý nghĩa
Ý nghĩa chung : Sự ái mộ - Sự thôi miên, quyến rũ - Tình yêu của phụ nữ - Niềm tự hào - Sắc đẹp - Tình yêu trong sáng và sâu đậm, thiết tha (Admiration; Fascination; Woman's Love; Pride; Beauty; Pure and deep love).
Cẩm chướng thuần một màu : Đồng ý (Yes)
Cẩm chướng có vằn, sọc : Lời từ chối tình yêu (No, Refusal, Sorry I Can't Be With You, 
Wish I Could Be With You)
Cẩm chướng hồng : Anh sẽ không bao giờ quên em
Cẩm chướng đỏ : Sự ái mộ (Ardor, Admiration)
Cẩm chướng đỏ thẫm : Trái tim tôi đau nhói vì em (Alas, for my poor heart. My heart aches for you)
Cẩm chướng vàng : Sự từ chối, sự khinh thường, thất vọng, hối hận (Rejection; Disappointment; Contempt; Disdain; Rue).
Cẩm chướng trắng : Ngọt ngào và đáng yêu, ngây thơ, tình yêu trong sáng, món quà may mắn cho phụ nữ (Sweet and Lovely, Innocence, Pure Love, Woman's Good Luck Gift)
Cẩm chướng tím : Tính thất thường, đồng bóng (Capriciousness)


Hoa Bibi 


khoa học là Gypsophila

hoa bibi mang ý nghĩa của sự che chở, muốn nói với người ấy rằng bạn luôn là chỗ dựa tinh thần và không bao giờ thay đổi.




Hoa cẩm nhung

Tên khoa học: 
Gloxinia
là một loài hoa có dáng vẻ nhỏ nhắn với nhiều màu trắng, đỏ, hồng, đỏ tía, tím khi nở có màu sặc sỡ.  

Ý nghĩa: Tôi mến bạn lắm! 


Xem thêm


Hoa cẩm tú cầu

Tên tiếng Anh: Hydrangea, Hortensia

Tên Khoa Học: Hydrangea macrophylla

Nguồn gốc xuất xứ: Trung Quốc, Nhật Bản
Phân bố ở Việt Nam: Nam Trung Bộ
Đặc điểm hình thái:
   Thân, Tán, Lá: Cây gỗ nhỏ cao khoảng 1m, phân cành nhánh nhiều, nhẵn. Lá mọc đối dạng bầu dục rộng, đầu 
có mũi, mép có răng cưa, màu xanh bóng.
   

Hoa cát tường

Hoa cát tường có tên khoa học Eustoma grandiflorum (Raf.) Shinn có nguồn gốc từ miền tây nước Mỹ, có khả năng chịu lạnh tốt, du nhập vào Đà Lạt nước ta lần đầu tiên khoảng hơn 8 năm về trước với nhiều chủng loại và màu sắc đa dạng như: kem, tím, vàng, hồng, hồng phai, tím đậm, trắng viền tím… Cát tường không rực rỡ như hoa cúc và không lộng lẫy như hoa hồng nhưng lại thu hút khách bởi vẻ đẹp đơn sơ,
Hoa không rực rỡ nhưng hoa toát ra vẻ đẹp ngọt ngào, đằm thắm và quý phái. Cát tường là giống hoa được người
Nhật Bản nói riêng và Á Đông nói chung rất ưa chuộng, vì cát tường có ý nghĩa là “may mắn”.
Một loài hoa mềm mỏng như lụa, sắc hoa dịu dàng nhưng cũng rất da dạng: trắng, hồng, tím, đỏ... Nhìn những bông Lan tường luôn khiến người ta nghĩ đến vẻ đẹp dịu dàng e ấp của những thiếu nữ mới lớn. Tuy có vẻ đẹp gợi cho ta sự mỏng manh nhưng Lan tường lại là loài hoa vươn lên mạnh mẽ, có như thế nó mới chống chọi được thời tiết tháng 6. Lan tường cũng là một loài hoa thể hiện cho tình yêu, không mãnh liệt như hoa hồng, Tình yêu thể hiện qua Lan tường mềm mỏng, nhẹ nhàng, tinh tế... Màu hồng cũng là màu tượng trưng cho tình yêu


Chuỗi ngọc



(TNO) Hoa hypericum (còn gọi là hoa chuỗi ngọc)

Đây là loài cây bụi, thân gỗ, hoa nở thành chùm, mỗi hoa có 5 cánh màu vàng như hoa mai. Sau khi hoa rụng sẽ kết thành những chùm quả đỏ mọng, vàng mơ, xanh lam…

Cty Dalat Hasfarm đã nhập giống hoa này từ châu Mỹ La Tinh, sau đó hỗ trợ giống và chuyển giao kỹ thuật cho hộ anh Tiến trồng trong nhà kính rồi bao tiêu toàn bộ sản phẩm.

Ngay trong lần đầu thử nghiệm, loài hoa có giá trị kinh tế khá cao này  đã thích nghi tốt với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng của Đà Lạt.

Kim Anh



Hoa đồng tiền

Tên khoa học: Hoa đồng tiền jamesonii

Gia đình: Họ Cúc / Compositae (Daisy gia đình)

Tên thường gặp: Hoa đồng tiền, cúc châu Phi, Transvaal hoa cúc, hoa cúc Barberton


Ý nghĩa chính: thứ năm của một loài hoa phổ biến nhất trên thế giới, hoa cúc đồng tiền có thể có nghĩa là vô tội, thuần khiết, và vui tươi.

Những biến thể hoa cúc lớn đến trong một số 

màu sắc sống động, và gửi chúng là cách hoàn hảo để sáng ngày của ai đó.

Khi bạn muốn gửi những món quà của cổ vũ, hoa cúc đồng tiền là sự lựa chọn chắc chắn của bạn. 



Hoa cúc chùm (kép)


Tên khoa học Chrysanthemum sp. (họ Asteraceae), có nguồn gốc từ trung quốc và các nước Châu Âu.

Hoa cúc đã được trồng phổ biến ở Việt Nam từ rất lâu. Từ xa xưa, chơi cúc đã là một thú chơi tao nhã của các bậc học sỹ và các gia đình giàu có của Việt Nam. Trải qua nhiều năm, cùng với các kỹ thuật lai ghép, các phương pháp trồng hoa mới, chất lượng và chủng loại hoa cúc ở Việt Nam đã được cải thiện rất nhiều. Cho đến nay có khoảng trên 70 giống hoa cúc được trồng với mục đích cắt cành tại Việt nam.


Hoa cúc đại đoá (cúc đơn)

Tên khoa học Chrysanthemum sp. (họ Asteraceae), có nguồn gốc từ trung quốc và các nước Châu Au. Hoa cúc được trồng làm cảnh tại Đà Lạt từ lâu nhưng thực sự trở thành sản phẩm kinh tế từ năm 1995. Cho đến nay có khoảng trên 70 giống hoa cúc được trồng với mục đích cắt cành tại Đà Lạt. Giống hoa cúc hiện nay chủ yếu xuất phát từ Hà Lan và du nhập vào Đà lạt với nhiều hình thức khác nhau. Hiện nay không thể xác định tên thương phẩm của từng chủng loại cúc được trồng tại Đà lạt.

Hoa cúc được trồng làm cảnh tại Đà Lạt từ lâu nhưng thực sự trở thành sản phẩm kinh tế từ năm 1995. Cho đến nay có khoảng trên 70 giống hoa cúc được trồng với mục đích cắt cành tại Đà Lạt. Giống hoa cúc hiện nay chủ yếu xuất phát từ Hà Lan và du nhập vào Đà lạt với nhiều hình thức khác nhau. Hiện nay không thể xác định tên thương phẩm của từng chủng loại cúc được trồng tại Đà lạt. Các giống cúc trồng tại Đà Lạt có thể chia theo các nhóm sau:


Hoa hồng

Họ Hoa hồng (danh pháp khoa họcRosaceae) là một họlớn trong thực vật, với khoảng 2.000-4.000 loài trong khoảng 90-120 chi, tùy theo hệ thống phân loại. Hiện tại hệ thống APG II công nhận 2.520 loài trong 90 chi[1]. Theo truyền thống nó được chia thành 4 phân họ: Rosoideae, Spiraeoideae, Maloideae, Amygdaloideae. Các phân họ này được miêu tả đặc trưng chủ yếu theo cấu trúc của quả, mặc dù cách tiếp cận này không phải là được tuân theo một cách rộng khắp. Các công trình gần đây đã xác nhận rằng kiểu phân chia truyền thống 4 phân họ như vậy không phải đều có tính đơn ngành
vì thế cấu trúc của họ này vẫn phải chờ giải pháp hoàn thiện và tổng thể hơn.
Hồng hay hường là tên gọi chung cho các loài thực vật có hoa dạng cây bụi hoặc cây leo lâu năm thuộc chi Rosa, họ Rosaceae, với hơn 100 loài với màu hoa đa dạng, phân bố từ miền ôn đới đến nhiệt đới. Các loài này nổi tiếng vì hoa đẹp nên thường gọi là hoa hồng. Đa phần có nguồn gốc bản địa châu Á, số ít còn lại có nguồn gốc bản địa châu Âu, Bắc Mỹ, và Tây Bắc Phi. Các loài bản địa, giống cây trồng và cây lai ghép đều được trồng làm cảnh và lấy hương thơm.[1]. Đôi khi các loài này được gọi theo tiếng Trung là tường vi (薔薇).
Hoa hồng đỏ được xem là hoa thánh dành riêng cho thần Vệ nữ, nữ thần tình yêu. Màu đỏ tượng trưng cho một tình yêu mãnh liệt. Không chỉ thế hoa hồng còn là một vị thuốc quý.

Hoa hướng dương

Tên tiếng Anh : Sunflower

Tên tiếng Pháp : Soleil

Tên Latin : Helianthus

Biểu tượng : sự kiêu kỳ, sức mạnh, lòng trung thực, trung thành. 

thể hiện niềm tin và hy vọng trong tình yêu, luôn hướng về điều tươi sáng nhất.

Hướng dương (danh pháp khoa họcHelianthus annuus) là một loài thực vật chỉ sống một năm thuộc họ Asteraceae với bông hoa lớn (inflorescence). Thân cây hướng dương có thể cao tới 3 mét, với đường kính bông hoa là 100cm. Hoa hướng dương là loài hoa biểu tượng của Kansas và là một trong các loài hoa biểu tượng của thành phố KitakyushuNhật.
Hướng dương là loài cây có từ châu Mỹ, và đã được con người nuôi trồng vào khoảng năm 1000 TCN. Francisco Pizarro đã phát hiện những người dân Inca có sự sùng bái hoa hướng dương giống như hình ảnh thần Mặt Trời của họ, và những hình ảnh màu vàng kim của bông hoa cũng giống như những hạt giống đã được mang về châu Âu từ trước thế kỷ 16. Từ Helianthus để chỉ hoa hướng dương có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp. Hoa hướng dương thuộc lớp thực vật hai lá mầm.

Hoa hồng môn

Tên tiếng Việt : Hoa hồng môn
Tên tiếng Anh : Anthuriums

Biệt danh : Trái tim của Hawaii (Heart of Hawaii), Hoa Hồng Hạc (Flamingo Flower), Painted Tongue... Còn theo tiếng Hy Lạp thì hoa hồng môn có nghĩa là "hoa đuôi" - tail flower .

Dù mang màu gì : đỏ thắm nhiệt tình nồng ấm, màu xanh tràn đầy hy  vọng, hay màu trắng của sự thuần khiết. Trái tim này sẽ mãi mãi thuộc về em (anh). Có loài hoa nào mang hình trái tim đầy ý nghĩa tượng hình? đó là Anthurium hay còn gọi Hoa hồng môn.

Anthuriums thuộc họ Araceae. Họ Araceae có hơn 100 giống với khoảng 1500 loài (gồm cả taro - khoai nước, philodendron ?, monstera ?...và Thủy Vu - Calla hay Calla Lily nữa). Chúng thường có cánh hoa hình trái tim tương tự nhau, sắc màu sặc sỡ, cành dài...

Anthuriums xuất xứ từ những rừng mưa nhiệt đới Nam Mỹ. Năm 1889, Anthuriums được một nhà truyền giáo người Anh tên là S.M.Damon đem từ Colombia đến Hawaii qua London. Bén duyên với quê hương mới, ngày nay Anthuriums đã trở thành một trong những bông hoa đặc trưng cho xứ đảo Hawaii, được người dân nơi này yêu mến gọi là "trái tim Hawaii" (dù nó không phải là biểu tượng hoa của Hawaii - Hawaii official flower là Yellow Hibiscus).

Xem thêm

Hình ảnh


Hoa huệ

Tên khoa học: Polianthes Tuberosa Linn
Hoa huệ trắng( Tây) : Là biểu tượng sự thanh khiết.

Cây hoa huệ thuộc họ thuỷ tiên, hình dáng giống cây tỏi. Hoa huệ có hai giống, huệ đơn còn gọi là huệ xẻ, cây thấp bông ngắn và thưa; huệ kép còn gọi là huệ tứ diện, cây cao, hoa dày và bông dài.

H

oa huệ có màu trắng, bao hoa hình phễu, hương thơm ngào ngạt, toả hương về ban đêm. Người ta cho rằng hương thơm của huệ không tốt cho sức khoẻ nên ít ai cắm huệ trong phòng ngủ, nếu có thì ban đêm phải đưa 

ra ngoài sân. Huệ là thứ hoa được dùng nhiều trong việc cúng, lễ mà ít dùng để tặng nhau. Cắm huệ vào bình nên rửa chân hoa và thay nước hàng ngày để giữ hoa được lâu. Nước cắm hoa nên nhỏ vài giọt thuốc tím hay thuốc đỏ để diệt khuẩn gây thối chân hoa.

 

Cây hoa huệ ưa ánh sáng, cho hoa quanh năm. Tuy nhiên, mùa hoa huệ là mùa hè, sang mùa đông thì cây cho ít hoa, hoa cũng nhỏ và bông ngắn hơn so với hoa chính vụ. 

Hoa huệ cây cối hấp thụ nhiều ánh sáng mặt trời,nhưng vẫn có thể phát triển vào mùa đông khi hầu hết các loài khác trở nên khan hiếm. Hoa của họ thường có màu trắng  phát ra một mùi thơm ngọt vào ban đêm. Chúng thường được sử dụng trong các nghi lễ tôn giáo



Hoa kỳ lân

là loài hoa có màu tím, có hình đuôi chồn. chủ yếu được dùng như phụ liệu cắm hoa






Xem thêm

Hoa lay ơn (Glayơn)


- Tên khoa học: Gladiolus Communis.

- Họ: Iridaceae (Họ layơn).

Tên khoa học : Gladiolus x Gandavensis Van Houte. Gladiokus communis L. (họ Iridacaea). Hoa Glayơn có nguồn gốc từ Trung Au, Tây Á và Nam phi, được trồng trọt nhiều ở Đà Lạt vào khoảng năm 1955. Giống được nhập từ Hà Lan nhưng phải thông qua Pháp mới được đưa trực tiếp về Đà Lạt.

- Là cây thân thảo, sống nhiều năm, thân giả được tạo bỡi 

các bẹ lá, lá xếp thành 2 dãy, mọc thẳng đứng. Hoa nở trong những cụm hoa hình xim. Hoa tươi từ 10 – 15 ngày.

Cây có nguồn gốc từ các nước châu Phi nhiệt đới và vùng Trung Cận Đông (phía Tây của châu Á). Layơn là loài hoa đẹp, được trồng rất rộng rãi mọi nơi trên thế giới, với nhiều dạng lai, màu sắc khác nhau. Trên thế 

giới hiện có khoảng 250 loài với trên 10.000 giống khác nhau, Việt Nam ta có khoảng 90 giống đang được trồng làm hoa cắt. Viện Nghiên cứu rau quả Việt Nam trong những năm qua đã xây dựng được quy trình tạo giống bằng lai hữu tính. Bước đầu Viện đã lai tạo thành công 2 giống Layơn ĐL1 và ĐL2, đồng thời tạo rất nhiều nguồn vật liệu phục vụ công tác lai tạo cho những năm tới đây.

Lay-ơn mang ý nghĩa của sự hẹn hò. Hoa này còn một cái tên khác nghe rất đài các nữa là “kiếm lan”. Hoa được gọi là kiếm lan vì lá nó dài giống như lưỡi kiếm, tiếng Anh gọi là gladiola. Kiếm lan thường được tặng cho người mình thầm yêu với ngụ ý rằng mình mong được gặp mặt người yêu. Vì vậy, người nhận sẽ tìm cách hẹn gặp người gởi hoa. Nếu nhận bó hoa mà không biết ý người gửi thì thật là uổng công người tặng.


Hoa loa kèn (Arum)

Tên khoa học của nó là Araceae
Tên tiếng Anh là Arum còn được gọi là cây chân bê vì bông hoa trông phảng phất như móng của một chú bê con. Hoa rum được tượng trưng cho cảm nhận sâu sắc về tình yêu.
Hoa rum còn được gọi với nhiều tên khác như Arum Lily, Calla Lily, White Arum và  Lily của sông Nile. Hoa rum thuộc họ Araceae có nguồn gốc Nam Phi. Cây có chiều cao 1m  là cây ưa nắng mọc thành bụi. Giai đoạn trổ hoa rộ nhất 
là tháng 5 tháng 6. Hoa phổ biến có màu trắng tinh khiết, đôi khi có một số màu khác như vàng, hồng, đỏ.  

Hoa có thể gây ngộ độc nếu ăn phải hoặc gây hại nếu để dính vào mắt. Bông hoa có chiều dài từ 10-15cm

Do có màu trắng tinh khiết và ý nghĩa đẹp nên hoa rum đặc biệt được ưa chuộng trong trang trí đám cưới và làm hoa cưới cầm tay cho cô dâu.


Hoa lyly

Tên Latin : Lilium 
Tên khoa học: Lilium Longiflorum 
Họ : Liliaceae 
Các Lilium tên thực vật là Latin và là một hình thức Linnaeus tên. Tên tiếng Latin có nguồn gốc từtiếng Hy Lạp λείριον, leírion, thường được giả định để nói đến sự thật, hoa loa kèn trắng như được minh chứng bằng các lily Madonna . [12] Những lời được vay mượn từ Coptic (dial. Fayyumic) hleri,từ hreri tiêu chuẩn, từ Demotic hrry, từ Ai Cập "hrṛt" hoa. Meillet cho rằng cả Ai Cập và Hy Lạp từ đó là các khoản vay có thể từ 
một substratum ngôn ngữ, đã tuyệt chủng của Địa Trung Hải Đông. Người Hy Lạp cũng được sử dụng các κρῖνον từ, krīnon, dù cho không phải màu trắng, hoa lily sai. Từ này hiện nay được sử dụng cho tất cả các hoa loa kèn, đúng hay sai.


Hoa Lys

Tên tiếng Việt : Bách Hợp, Loa Kèn, hoa Huệ Tây 
Tên tiếng Anh : Lily 
Tên tiếng Pháp : Lis, Amaryllis (Red Lily) 
Tên Latin : Lilium 
Tên khoa học: Lilium Longiflorum 
Họ : Liliaceae (Hành tỏi)

Ý nghĩa :

 Sắc đẹp - Đức hạnh - Thanh cao, quý phái - Kiêu hãnh 

còn gọi là ho loa kèn. Có nguồn gốc từ Nhật bản và các nước ở Châu Âu.

Hoa lys được trồng tại Đà lạt từ năm 1945 với các giống ở Hà nội. Từ 1970 Đà lạt đã nhập giống lys từ Hàn quốc, Nhật bản



Salem

Tiếng Mỹ gọi là Hoa Salem là Statice (Limonium Sinatum)

Hoa Salem muốn nói với bạn rằng mình nhớ bạn tha thiết.

Hoa salem còn gọi là Hoa Olympus: đây là một loại hoa cắt cành phổ biến tại Đà Lạt, thích hợp trồng trong vụ Đông Xuân hàng năm. Xuất hiện tại Đà Lạt trước 1975. Hoa salem có nhiều màu như tím, trắng, vàng, hồng. 
oa Salem - hay còn gọi Statice: Thường được dùng làm hoa khô. Hoa Salem cũng được đặt tên như 1 loại thảo 
dược và được gọi là Oải Hương Biển. Loại này trong nghệ thuật cắm hoa cũng thường tỏ ra rất hữu dụng với chức năng hoa. Vì vậy, nghe đâu trong loại thánh kinh nào đó đã nói rằng "hãy gửi 1 bó hoa có xen hoa Salem để người nhận biết rằng bạn nhớ họ".

Sao tím

Sao - Limonium: Ở một vài vương quốc khác thì hoa Sao tượng trưng cho lòng ngưỡng mộ. Hãy tặng một bó hoa có xen lẫn hoa Sao cho người bạn thân yêu của bạn.
Chủ yếu được dùng như phụ liệu cắm hoa.



Hoa thạch thảo

Hoa Thạch thảo (Aster amellus L) thuộc họ Cúc (Asteraceae). Tại Việt Nam,  người miền Nam hay gọi là Cúc Sao, Cúc Cánh mối, người Bắc gọi là Thạch thảo. 

Thạch thảo hay mọc thành bụi, nhiều bông với cánh nhỏ xíu xoè rộng ra. Hoa Thạch thảo có ba màu chính: tím, hồng, trắng. Thạch thảo có nguồn gốc từ nước Ý, ngày nay được lai tạo thêm thành loại hoa cánh kép rất đẹp. Tại châu Âu, Thạch thảo tượng trưng cho tình yêu và vẻ đẹp mềm mại, thanh tú, nữ tính. Đôi khi Thạch thảo cũng tượng trưng cho sự chính chắn vì nó thường nở vào cuối Thu, khi mà đa số các loại hoa khác đã tàn.

Do hoa nhỏ, màu sắc dịu nên trong một bó hoa hay lọ hoa, Thạch thảo ít được cắm riêng mà chỉ được cắm xen như hoa phụ. Một số ít người thích vẻ đẹp dịu dàng, mộc mạc của Thạch thảo thì cắm riêng Thạch thảo trong bình gốm để tôn vẻ đẹp của những bông hoa đồng nội này.

Ở Việt Nam, Thạch thảo được trồng nhiều ở Đà Lạt hoặc xứ lạnh. Hoa còn được bắt gặp mọc dại khắp nơi. Có lẽ vì vậy mà ở Việt Nam loài hoa này bị gán cho sự lẻ loi trong tình yêu.


Hoa vàng anh



Cây Vàng anh (Hoa Vô Ưu )có thên khoa học là Saraca dives thuộc họ đậu Fabaceae. Cây này là loài HOA Biểu tượng của Đạo Phật hầu hết các Chùa Phật giáo đều trồng cây này
Có một loài vàng anh khác hoa nhỏ hơn loài này là Saraca indica có nguồn gốc từ Ấn Độ





Hoa địa lan

Tên khoa học cymbidium

Cymbidium được mệnh danh là nữ hoàng của các loài lan nhờ chúng có những điểm nổi bật cả về giá trị khoa học lẫn giá trị mỹ thuật. Vẻ tao nhã, hài hòa của chúng từ lâu đã hiện diện trong văn học, nghệ thuật và gắn liền với đời sống văn hóa của người Á Đông.

Đầu thế kỷ 14, những bức tranh thủy mặc vẽ hoa Cymbidium đã ra đời ở Trung Hoa. Có lẽ sau đó hình ảnh hoa lan Cymbidium trên tranh mộc dân gian Việt Nam về hoa cảnh 4 mùa (xuân lan, thu cúc) mới phổ biến. Đến nay những nét vẽ cổ xưa đó còn thể hiện trên tranh sơn mài truyền thống của ta.

PHÂN LOẠI

Bản mô tả Cymbidium xưa nhất đã tìm thấy có lẽ mô tả loài Mặc lan (Cym. ensifolium) trong sách ghi chép về thực vật chúng của Trung Hoa khoảng cuối thế kỷ thứ 3 sau công nguyên.

Trong hệ thống phân loại thực vật của thế giới ngày nay, người ta đã xếp riêng Cymbidium vào một chi, chi này đã được nhà thực vật học người Thụy Điển Otto Swartz mô tả năm 1799. Trong khóa phân loại của Lindley - Bentham - Brieger năm 1983, chi Cymbidium thuộc tông phụ Cymbidinae, tông Dendreae, phân họOrchidoideae.

Theo tài liệu về thực vật ở Đông Dương, từ năm 1932, Henri Lecompte cho rằng chi này có 120 loài. Gần đây, năm 1978 Jean Carmard sắp xếp lại và xác định có khoảng 60 loài. Những nhà phân loại học Việt Nam như Phạm Hoàng Hộ, Võ Văn Chi... đã giới thiệu ở nước ta có khoảng 12 loài. Các loài thuộc chi Cymbidium phân bố chủ yếu ở châu Á, từ dãy Hy Mã Lạp Sơn (Hymalaya) đến Nam Trung Quốc (Vân Nam), các nước Đông Dương, Miến Điện, Thái Lan ... và một vài loài phân bố ở các châu lục khác.

Phần lớn các loài trong chi này sống ở các vùng rừng núi khá cao, khô và lạnh, một vài loài khác chịu được điều kiện nóng ẩm của rừng nhiệt đới.

Trang con (26): Xem Tất cả