Một trí tuệ Việt Nam, một tấm lòng trung với nước

SGTT.VN - “Sức mạnh kỳ diệu nào khiến một con người gầy gò như ông lại mang chứa một sức nặng quá lớn của lịch sử?”. Tôi tìm thấy câu trả lời trong hồn những trang viết của ông. Trong bất cứ công trình nào, hoàn cảnh nào, tác phẩm của ông vẫn ngời lên tấm lòng trung với nước…

Bui một tấm lòng trung với hiếu
Mài chẳng khuyết,nhuộm chẳng đen.

Ký 1. Một trí tuệ Việt Nam, một tấm lòng trung với nước

Ông may mắn vừa là người trong cuộc, vừa là chứng nhân, vừa là những con người đã làm ra lịch sử và viết lại lịch sử. Ảnh: TL Trầm Hương

Bàng bạc trong lòng tôi câu thơ của Nguyễn Trãi khi tôi được đọc bài nghiên cứu của Giáo sư Trần Văn Giàu. Từ năm 1932, tại trường Đại học Phương Đông lao động cộng sản chủ nghĩa (Liên Xô), ông đã viết bản luận án “Vấn đề ruộng đất ở Đông Dương”. Từ ấy đến nay, gần 7 thập niên dằng dặc trôi đi, ông đã có hơn 50 quyển sách lớn nhỏ, có những bộ sách dày cả ngàn trang như “Duy vật luận nước Pháp”(1949), “Đảng Cộng sản, đảng của trí tuệ Việt Nam”(1949), “Chống xâm lăng”(3 tập, gần 1.000 trang), “Giai cấp công nhân Việt Nam” (4 tập, 1.500 trang), “Miền Nam giữ vững thành đồng”(dạng sử biên niên, 5 tập), “Sự phát triển tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỉ 19 đến Cách mạng tháng Tám”(3 tập,1.200 trang), “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc”(1980), “Trong dòng chủ lưu của văn học Việt Nam tư tưởng yêu nước”(1983), “Triết học và tư tưởng”(1988), “Long An 21 năm đánh Mỹ”(1989)…Chưa kể hàng trăm bài báo, nghiên cứu, tham luận khoa học của giáo sư được đăng trên các tạp báo chí, các báo ở Trung ương và địa phương , trong các kỷ yếu khoa học…

Mùa thu năm 1999, ông tặng cho bảo tàng cách mạng TP.HCM cây bút viết lời hiệu triệu đồng bào Nam bộ đứng lên chống giặc Pháp xâm lược ngày 23.9.1945 là một việc làm mang đầy tính nhân văn. Hôm ấy, tôi đã ngắm cây viết mà ông đã giữ bên mình hơn nửa thế kỷ với lòng xúc động tràn ngập. Cây viết đơn sơ, chẳng có ý nghĩa gì về giá trị vật chất nhưng nó đã trở thành vô giá vì đã mang lấy hồn thiêng sông núi dân tộc. Từ lời hiệu triệu của ông viết ra năm ấy, hàng ngàn lớp lớp đồng bào chiến sĩ đã kề vai sát cánh hơn 3.000 ngày đêm chiến đấu, quyết giành lại độc lập cho đất nước.

Ông có lối nói chuyện giản dị và cảm động: “Hôm nay, tôi nói chuyện với các cháu đây, không phải là một thanh niên nói chuyện với hàng triệu đồng bào Sài Gòn trong Cách Mạng Tháng Tám, mà là một ông già gần 90 nói chuyện với các cháu nhỏ Sài Gòn. Cuộc kháng chiến của đồng bào Nam bộ bắt đầu từ ngày 23.9…”. Từ trong một góc khuất của Bảo tàng Cách mạng, tôi đăm đắm chiêm ngưỡng ông, lòng thầm hỏi: “Sức mạnh kỳ diệu nào khiến một con người gầy gò như ông lại mang chứa một sức nặng quá lớn của lịch sử?”. Tôi tìm thấy câu trả lời trong hồn những trang viết của ông. Trong bất cứ công trình nào, hoàn cảnh nào, tác phẩm của ông vẫn ngời lên tấm lòng trung với nước …

Giáo sư Trần Văn Giàu và gia đình. Ảnh: Tư liệu gia đình

Và ông đã sống nhất quán với những trang viết của mình. Cậu bé được sinh ra trong một gia đình trung nông vào năm 1911, tại xã An Lục Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tân An (nay là Long An) đã làm cho dải đất bờ sông Vàm Cỏ toả sáng niềm tự hào về một công dân yêu nước, một nhà cách mạng tiền bối, một tài trí Việt Nam… Ngay từ khi lên Sài Gòn học trường Chasseloup Laubat, ông đã để tang nhà chí sĩ Phan Châu Trinh và phong trào thanh niên do nhà yêu nước Nguyễn An Ninh tổ chức. Với niềm mơ ước được xuất ngoại, học hành thành đạt rồi trở về nước làm trạng sư và ra một tờ báo bênh vực cho những người dân nghèo, thế cô, bị ức hiếp, năm 1928, chàng trai với thân hình mảnh dẻ ấy sang Pháp trên chiếc tàu Cap Saint Jacques để hoàn tất chương trình trung học rồi thi vào trường Đại học Toulouse. Với hoài bão đấu tranh cho một xã hội công bằng, văn minh; chàng trai ấy sớm gia nhập Đảng cộng sản Pháp (vào tháng 5.1929). Và cũng chính vì lý tưởng cộng sản ngời sáng trong tim thôi thúc, chàng sinh viên Trần Văn Giàu đã có mặt trong đoàn đại biểu của học sinh binh lính và thợ thuyền Việt Nam ở Toulouse, lên Paris tham gia cuộc biểu tình trước dinh Tổng thống ngày 19.5.1930, đòi xoá án tử hình cho 13 chiến sĩ Yên Bái. Vì tội danh tham gia cuộc biểu tình mang tính cách đối kháng với “Mẫu quốc” lúc đó, Trần Văn Giàu bị cảnh sát Pháp bắt vào nhà tù La Roquete. Rồi ông bị trục xuất về nước cùng 18 người khác…

Về Sài Gòn, trong vai trò khiêm nhường của một giáo viên trường trung học tư thục, ông Trần Văn Giàu gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Cùng vời Hải Triều, ông phụ trách “ban phản đế và học sinh” của Xứ uỷ Nam Kỳ. Đầu năm 1931, nhờ quen với thuỷ thủ tàu Cap Saint Jacques, ông Giàu bí mật sang Pháp, khi làn sóng khủng bố các cơ sở Đảng ở Sài Gòn đang lên cao, nhiều đảng viên và những người yêu nước bị bắt. Từ Pháp, ông quyết tìm đường sang Nga để học, nhờ sự giúp đỡ của đồng chí Nguyễn Văn Tạo, Uỷ viên Trung ương Đảng cộng sản Pháp. Đến Moskva, ông xin vào trường Đại học Phương Đông lao động cộng sản chủ nghĩa. Tại đây, ông trình bày Luận án tốt nghiệp mang tựa đề “Vấn đề ruộng đất ở Đông Dương”…

Trong phụ lục “Con người – Sự kiện” của “Địa chí Long An” đã ghi rõ công lao to lớn của nhà cách mạng Trần Văn Giàu trong những ngày đầu xây dựng Xứ uỷ Nam Kỳ: … “Đầu năm 1933, ông từ Liên Xô trở về Pháp, rồi từ cảng Marseille, đáp tàu Hà Lan đi Singapore, và từ đây ông bí mật về Sài Gòn trên chiếc tàu Félix Roussel. Về đến Sài Gòn, ông tìm lại cơ sở cũ (lúc này, qua những đợt khủng bố ác liệt, hệ thống tổ chức Đảng bị vỡ hầu hết), bắt liên lạc được các đồng chí Phan Vân, Trương Văn Bang… Cùng với một số đồng chí, ông vận động xây dựng lại tổ chức Xứ bộ Nam Kỳ, ra tờ báo “Cờ đỏ”và bộ “Cộng sản tùng thư”. Đến cuối năm này, ông bị mật thám bắt tại Bà Hom (Bình Trị Đông), nhưng vì không đủ bằng chứng, nhà cầm quyền Pháp kết án ông 5 năm tù treo. Sau khi được phóng thích, ông lại tiếp tục hoạt động. Tháng 5.1935, ông bị bắt cùng một số đồng chí khác. Chúng đưa ông ra toà tiểu hình và kết án 5 năm tù, đày đi Côn Đảo. Ông không được “ân xá” trong thời kỳ chính phủ Mặt trận bình dân cầm quyền ở Paris. Tháng 5.1940, mãn hạn tù, ông về nhà được 9 hôm thì bị bắt trở lại. Lần này chiến tranh thế giới lần thứ 2 nổ ra, bọn thực dân đưa ông đi an trí ở căng Ta Lài…”.

Đó cũng là thời gian nổ ra cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ. Qua những hành vi thực dân Pháp đối xử với ông Trần Văn Giàu, ta cũng hiểu phần nào chúng hoảng sợ sự ảnh hưởng và trí tuệ sắc bén của ông. Ở trại giam Tà Lài, ông là chứng nhân và ghi đậm trong tâm trí lời tuyên bố hùng hồn của viên chủ tỉnh Maurice Larivière mấy tuần sau cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra và bị thực dân Pháp dìm trong biển máu:

Giáo sư Trần Văn Giàu lúc bị thực dân Pháp giam giữ ở Tà Lài. Ảnh: Tư liệu gia đình

“…Hắn tập trung tất cả chúng tôi lại. Đứng trên dốc, tay trên bao súng lục, sau lưng có một trung đội bảo an mút – cơ – tông lên đạn, hắn nói giọng hùng hổ:

- Hãy nghe đây! Thừa lúc nước Pháp thua trận ở châu Âu và mắc kẹt ở biên giới Thái, Đảng của các ngươi đã nổi lên định giết hết người Pháp trên đất Nam Kỳ, mà làm không được. Người Pháp đã không bị tiêu diệt mà chính Đảng của các ngươi bị tiêu diệt hoàn toàn. May lắm thì mươi mười lăm năm nữa, đảng của các ngươi mới có thể ngóc đầu dậy. Bây giờ các ngươi hãy trả lời cho bản chức câu hỏi này: hỏi vậy ở Tà Lài các ngươi có đồng tình với anh em của các ngươi vừa mới nổi loạn không? Hãy trả lời ngay!”…

Như thường lệ, đã được toàn thể anh em bầu ra, tôi có trách nhiệm trả lời câu hỏi gài bẫy của thằng chủ tỉnh. Tính rằng sẽ có đại biến đẫm máu, tôi sẽ ra tay hiệu cho non già 400 trại viên đứng giãn ra, tôi chọn tảng đá cao gần bằng gần bằng chỗ đứng của tên chủ tỉnh, với ý thức rằng, nếu lát nữa hắn nổ súng thì tôi thà đổ xuống chứ không chịu ngã ngang. Tôi thong thả nói, đồng chí Văn ( đồng chí Trần Văn Kiệt đã đi học ở Liên Xô về, bí danh Rémy. Khi có sắc lệnh 20.1.1940, Pháp đã lùng sục, nhưng mãi đến 13.7.1940, mới bắt được đồng chí Kiệt ở Vĩnh Long và nhốt vào trại Tà Lài) dịch cho anh em:

- Ông chủ tỉnh hỏi vậy chúng tôi ở Tà Lài đồng tình hay phản đối cuộc khởi nghĩa vừa xảy ra ở Nam Kỳ. Nước Việt Nam của tôi bị Pháp cai trị mấy chục năm nay cũng giống như nước Pháp yêu quý của ông bị Đức xâm chiếm thống trị bây giờ. Chắc ông cũng như tôi đều được tin phấn khởi là nhân dân Pháp kiên cường không cam chịu mang ách Đức Hitler, nhân dân Pháp không chịu đầu hàng, mà trái lại đã anh dũng cầm súng tiếp tục đánh quân phát xít xâm lược tàn bạo. Tuy ông chủ tỉnh không nói ra, nhưng tôi biết chắc lòng ông khâm phục và đồng tình với những người Pháp kháng chiến đó. Vậy thì, thưa ông chủ tỉnh, chắc ông thừa hiểu rằng ở xó rừng Biên Hoà này, cũng như ông thôi, chúng tôi tự nhiên thông cảm với đồng bào chúng tôi ở Nam Kỳ trong biến cố tháng 11 vừa qua.

Tôi trông thấy Lariviére nãy giờ tay phải để trên vỏ súng lục, bây giờ bỏ tay xuống. Tôi nói tiếp:

- Còn như ông chủ tỉnh bảo rằng mươi mười lăm năm nữa đảng chúng tôi mới có thể ngóc đầu dậy nổi, thì ông ơi, ai mà biết trước cho đúng, nhưng ông, tôi, tất cả chúng ta hôm nay chắc còn sống, chúng ta sẽ thấy là trong 10, 15 năm hay trong 5 năm thôi, nước Pháp yêu quý của ông và nước Việt Nam yêu quý của tôi sẽ được hoàn toàn giải phóng.

Chủ tỉnh Lariviére đột nhiên làm “đờ mi tua”, xoay lưng đi về trụ sở, toán lính bảo an xuống cò, theo sau lặng lẽ.

Mấy trăm anh em tôi thoát nạn, cười thút thít, ai về trại nấy, bàn luận về cuộc “thiện chiến” nguy hiểm. Đảng uỷ trại giam họp rút kinh nghiệm buổi đối đầu vừa xong và để hết tâm trí tiếp tục nghiên cứu nguyên nhân thất bại của Khởi nghĩa Nam Kỳ qua hàng chục bài báo cáo tỉ mỉ của những đồng chí mới bị bắt đưa lên trại giam Tà Lài…”.

Kỳ 2: Sức mạnh của lời hiệu triệu

SGTT.VN - Sau khi vượt ngục Tà Lài, tháng 10.1943, trong cuộc hội nghị đại biểu toàn kỳ tại Chợ Gạo, xứ ủy mới được thành lập gồm 9 uỷ viên, do ông Trần Văn Giàu làm Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ.

Mừng thọ Giáo sư Trần Văn Giàu 98 tuổi (2008). Ảnh: sggp.org.vn

Vào khoảng tháng 3.1945, chính ông là người giấu mặt viết bài diễn văn kêu gọi nhân dân Sài Gòn – Chợ Lớn quyên tiền, lương thực cứu đói đồng bào miền Bắc. Bài diễn văn ấy do cô giáo Nguyễn Thị Ngọc Phượng, con gái lương y Nguyễn Văn Hinh đọc trong một đêm trăng bên bờ sông Chợ Đệm… Chính ông là người đã đứng phía sau giúp sức cho bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, kỹ sư Kha Vạn Cân thành lập và phát triển phong trào Thanh niên Tiền phong ở khắp các tỉnh thành Nam bộ, chuẩn bị lực lượng giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám ở Nam Bộ.

Ngày 25.8.1945, ông Trần Văn Giàu cùng với các đồng chí trong xứ ủy lãnh đạo giành chính quyền thắng lợi ở Sài Gòn và các tỉnh Nam kỳ. Ông được cử làm Chủ tịch Lâm ủy Hành chánh Nam bộ. Ngay trong những ngày dòng thác cách mạng dâng cao cuồn cuộn, ông Trần Văn Giàu có cái nhìn rất biện chứng, sâu thẳm: “Một trong những nguyên nhân thành công của Nam bộ ngày 24, 25.8.1945, bắt nguồn từ kinh nghiệm thất bại của Nam kỳ khởi nghĩa tháng 11.1940. Người đi trước lấy thân mình lót đường cho người tới sau là thế. Thất bại – mẹ thành công là thế…”.

Đồng bào Sài Gòn vừa được sống trong bầu không khí độc lập chưa tròn một tháng đã phải chống lại quân xâm lược. Ngay trong ngày 2.9, đứng lên lễ đài đại lộ Norodom (nay là đường Lê Duẩn), đọc diễn văn mừng Cách mạng Tháng Tám thành công, trong sự hưởng ứng nồng nhiệt của một hơn triệu dân Sài Gòn - Gia Định, ông Trần Văn Giàu hiểu, sớm muộn gì bọn Pháp cũng sẽ quay trở lại. Đúng như sự nhận định của ông, quá trưa ngày 2.9, khi rừng người, rừng cờ hừng hực khí thế, chuẩn bị chuyển sang tuần hành thì bất ngờ, từ lầu cao bên cạnh nhà thờ Đức Bà, quân Pháp chĩa súng bắn vào đoàn biểu tình, làm 47 người chết và bị thương. Căm thù trước hành động khiêu khích của quân Pháp, hàng trăm người tay không lập tức tỏa ra, trèo lên các tòa lầu truy lùng và tước khí giới hàng trăm người Pháp. Quân Pháp gây xung đột, cố ý làm cho người Việt Nam giết lầm người Anh, rồi vin vào cớ đó, quân Anh can thiệp, phá chính quyền cách mạng còn non trẻ của ta. Hôm đó, quân Pháp có 7 người chết và gần 1.000 người bị bắt. Không có người Anh nào thiệt mạng. Cuộc biểu tình vẫn được tiếp tục, chìm ngập trong tiếng hoan hô của nhân dân mừng Cách mạng thành công…

57 năm sau, nhớ lại cuộc biểu tình lịch sử vào ngày 2.9.1945, được tổ chức trọng thể giữa lòng thành phố Sài Gòn, Giáo sư Trần Văn Giàu chân thành nói: “Khi địch nổ súng, phải nói là những người đứng trên lễ đài diễn thuyết cũng rất sợ… trúng đạn. Nhưng khí thế của hơn triệu đồng bào khiến chúng tôi có thêm sức mạnh đứng trên lễ đài cho đến giây phút cuối cùng. Đồng bào còn nghe, chúng tôi còn ở lại…”.

Bọn Pháp ráo riết chuẩn bị đánh chiếm Sài Gòn và Nam Bộ. Đến ngày 21.9, ở Sài Gòn đã có 10.000 quân gồm: 1 tiểu đoàn biệt kích Pháp thuộc trung đoàn bộ binh thuộc địa số 5, tù binh Pháp tái vũ trang thuộc trung đoàn bộ binh thuộc địa số 11, Pháp kiều có vũ trang, 1 lữ đoàn quân đội Hoàng gia Anh và 7 tiểu đoàn Nhật… Đại quân của Leclerc thì trên đường gần tới Sài Gòn. Trước ngày “hạ thủ”, phái đoàn Pháp mời ông Trần Văn Giàu và Phạm Ngọc Thạch đến trụ sở dinh Thống đốc Nam Kỳ dự một bữa “tiệc công tác”. Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, người có công xây dựng lực lượng Thanh niên Tiền phong – một lực lượng nòng cốt cướp chính quyền trong Cách mạng tháng Tám gặp Chủ tịch Lâm ủy Hành chánh Nam Bộ Trần Văn Giàu bày tỏ nỗi ưu tư. Và cuộc đối thoại lịch sử, đầy kịch tính đã diễn ra…

Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch:

- De Gaulle có gửi sang một đề nghị. Họ đòi ta trở lại đội ngũ… Còn ta thì đòi chúng phải thừa nhận độc lập cho Việt Nam. Họ gửi giấy mời chúng ta dự tiệc, vào lúc 19 giờ tối nay… Đi không ông Giàu?

Ông Trần Văn Giàu không trả lời ngay câu hỏi của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, trầm ngâm một lúc hỏi lại:

- Đi không ông Thạch?

Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch:

- Nên quá đi chứ!

Mới 5 giờ chiều, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đã “đóng bộ” tề chỉnh, cravate thít chặt cổ, đến trụ sở của Ủy ban Hành chánh Nam Bộ gọi cửa. Vị chủ tịch bước ra, cũng ăn mặc rất lịch sự, dường như trong tư thế sẵn sàng đến dự “hội yến”. Nhưng thay vì tiến lên, bước ra cửa, ông ngồi xuống ghế, bình thản nói:

- Đã chuẩn bị rồi nhưng… cuối cùng, mình không đi.

Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch trợn tròn mắt:

- Bộ trẻ con sao mà hứa với người ta rồi lại không đi?!

Vị chủ tịch chậm rãi, từ tốn:

- Không phải trẻ con đâu, người lớn đó. Người lớn mới suy nghĩ như vậy. Thạch ơi, chẳng lẽ ông không biết ý đồ của Cédille (đại diện của Cộng hòa Pháp). Mình bên quân sự, ông bên ngoại giao… cùng một lúc kéo đến hang ổ đối phương, tự chui mình vào rọ… Ông thực tình không biết là Cédille gài bẫy chúng ta hay sao?

Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch vẫn còn chưa hiểu ra… Ông Giàu nói:

- Chúng đang giăng bẫy bắt chúng ta đó – ngay trong buổi tiệc chiều nay. Có thể truyện Tây anh đọc nhiều nhưng chuyện Tàu anh không thấm hơn tôi đâu. Sau khi chia tay ở đây, anh không nên về nhà mà tìm cách lánh ngay đi nơi khác…

Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch cau mày nghĩ ngợi, chợt hiểu ra tình thế trở nên rất nghiêm trọng. Ngay buổi chiều hôm ấy, thay vì đi “dự tiệc” với “quan lớn” Pháp, mỗi thành viên trong Ủy ban Hành chánh Nam Bộ đều phân tán đi khắp nơi. Ông Trần Văn Giàu đi về Chợ Lớn… Và đêm ấy, đúng như phán đoán của ông Giàu, bọn Pháp nổ súng chiếm lại Sài Gòn. Đó là đêm 22 rạng 23.9.1945 lần lượt các cơ quan trong yếu như Ủy ban nhân dân Nam bộ, Quốc gia tự vệ cuộc, Đài phát thanh, Nhà bưu điện, Nhà đèn, Khám lớn… rơi vào tay bọn Pháp. Các chiến sĩ của ta dũng cảm chống trả nhưng do thiếu vũ khí nên được lệnh rút lui…

Sáng ngày 23.9, trong lúc tiếng súng xâm lược của quân Pháp còn nổ ran quanh các khu vực trọng yếu, thì tại ngôi nhà số 269, đường Cây Mai, Chợ Lớn diễn ra cuộc họp khẩn cấp của Xứ ủy và Uỷ ban nhân dân Nam Bộ. Trong thời điểm nước sôi lửa bỏng ấy, có nhiều ý kiến trái ngược nhau giữa chủ trương “đánh” và “chờ”. Phe “chờ” đưa ra lý: “Đây là chuyện đại sự. Ta phải chờ ý kiến chỉ đạo của Trung ương”. Chính kiến của phe “đánh” cho rằng Trung ương ở xa, giặc đang đánh vào “biên cương”, phàm là tướng cầm quân phải đánh lại. Đánh trước rồi chờ ý kiến của “Vua” sau. Nếu “Vua” không đồng ý, có bắt tội chém đầu cũng cam lòng. Nhưng tận đáy lòng phe “đánh” tin rằng Trung ương sẽ tán thành quyết định hợp lòng dân này. Bên ngoài, nhiều người tụ tập chờ đợi quyết định của hội nghị, tiếng la hét “xin cho đánh” dội vào phòng họp. Cuối cùng phe “đánh” chiếm được đa số… Hội nghị đi đến quyết định: một mặt điện báo gấp ra Trung ương và Hồ Chủ tịch xin chỉ thị, mặt khác phát động ngay cuộc kháng chiến. Rất khẩn trương, hội nghị thành lập Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ và Ủy ban Kháng chiến Sài Gòn - Chợ Lớn. Sáng hôm ấy, ông Trần Văn Giàu với vai trò Ủy ban Kháng chiến Nam bộ viết lời hiệu triệu, kêu gọi đồng bào Nam bộ đứng lên chống lại quân xâm lược.

“… Tất cả đồng bào: già, trẻ, gái, trai hãy cầm vũ khí xông lên đánh đuổi quân xâm lược; không làm việc, không đi lính cho Pháp, không đưa đường, không báo tin, không bán lương thực cho Pháp. Hãy tìm thực dân Pháp mà diệt. Sài Gòn không điện, không nước, không chợ búa, không cửa tiệm…

Hỡi đồng bào! Từ giờ phút này nhiệm vụ hàng đầu của chúng ta là tiêu diệt giặc Pháp, tiêu diệt tay sai của chúng.

Hởi anh em binh sĩ, dân quân tự vệ hãy nắm chặt vũ khí trong tay, xông lên đánh đuổi thực dân Pháp cứu nước! Cuộc chiến đấu bắt đầu”.

Nhân dân Sài Gòn và Nam bộ đã hưởng ứng lời hiệu triệu của Ủy ban Kháng chiến Nam bộ với quyết tâm chiến đấu chưa từng có. Người dân Sài Gòn đã đánh giặc bằng tất cả mọi thứ vũ khí có được. Thiếu súng, các chiến sĩ của ta đánh giặc bằng diêm quẹt, bằng bùi nhùi, bằng vài lít xăng để đốt… Quân Pháp chiếm được đất nhưng không chiếm được lòng dân. Và Sài Gòn chúng có trong tay là một thành phố không điện, không nước, không cửa hàng, chợ búa…Trên những con đường chính ngổn ngang bàn tủ, cột đèn bị hạ… để ngăn đường tiến quân của quân giặc. Gần một tháng trời, Sài Gòn chìm trong tăm tối vì nhà máy điện bị phá. Bọn Pháp phải giết cả chó berger để có cái ăn. Ngày 30.9, hãng thông tấn Reuters (Anh) đã miêu tả: “Sau 7 ngày tình thế càng nghiêm trọng hơn. Chúng tôi ở Sài Gòn rất nguy hiểm về lương thực, vì trên bộ, quân và dân Việt Nam phong tỏa. Các kho gạo của quân đội Nhật trước đây đều bị người Việt Nam đốt phá hết nơi này đến nơi khác… Càng ngày càng khó kiếm thức ăn và nước uống”.

Trấn giữ “biên cương” Nam bộ, ông Trần Văn Giàu và phe “đánh” đã rơi nước mắt vì xúc động khi qua Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, giọng của Chủ tịch Hồ chí Minh truyền đến đồng bào Nam bộ với lời động viên, khẳng định: “Chính phủ và toàn quốc đồng bào sẽ hết sức giúp những chiến sĩ và nhân dân đang hy sinh tranh đấu để giữ vững nền độc lập nước nhà”.

Tác giả và giáo sư Trần Văn Giàu, ảnh chụp năm 2006. Ảnh: TL Trầm Hương

Buổi sáng mùa thu hôm nay, Giáo sư Trần Văn Giàu nói với các thế hệ con cháu: “Ngày 23.9.1945, bắt đầu cho cuộc Kháng chiến Nam bộ. Bài hát: “Mùa thu rồi, ngày 23, ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến…” với âm điệu hào hùng, thúc giục cũng bắt nguồn từ cuộc kháng chiến thần thánh ấy. Các cháu ơi, đó là một giai đoạn lịch sử “Nhà nghèo con có hiếu”… “Những người con nhà nghèo có hiếu” ấy là những chiến sĩ chống lại quân xâm lăng bằng tất cả mọi thứ vũ khí, trở thành nỗi khiếp đảm cho bọn Pháp ngay trong hang ổ của chúng, như tờ Tạp chí Quân sự “Guerilla” của Pháp đã miêu tả: “Họ mặc thường phục, trang bị súng ngắn, lựu đạn, dao găm, lúc ẩn, lúc hiện, bất ngờ tấn công vào câu lạc bộ sĩ quan không quân Pháp, vào những nơi hội họp, vui chơi, giải trí của Pháp… rồi tan biến như một làn sương, không để lại một dấu vết nào”…

Giữa lúc toàn quốc đang đi vào cuộc kháng chiến với quyết tâm sắt đá giành lại nền độc lập, ông Trần Văn Giàu được lệnh của Trung ương điều sang giúp bạn xây dựng lực lượng kháng chiến ở Campuchia. Năm 1949, sau khi hoàn thành xuất sắc sứ mệnh nặng nề được Đảng và Nhà nước giao phó, ông về nước được cử làm Tổng giám đốc Nha Thông tin… Năm 1954, ông được cử làm Khoa trưởng khoa Văn – Sử, trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Do những đóng góp to lớn của ông trên các lĩnh vực triết học, sử học và văn học, ông được phong hàm Giáo sư trong lớp giáo sư đầu tiên của nước ta.

Cuộc đời ông đã sống trọn trong một thế kỷ đầy những cột mốc vĩ đại của lịch sử dân tộc. Ông may mắn vừa là người trong cuộc, vừa là chứng nhân, vừa là những con người đã làm ra lịch sử và viết lại lịch sử. Lòng ông vẫn đau đáu trước món nợ lịch sử hào hùng và bi thương của dân tộc. Ở tuổi 90, dù đôi chân không còn khỏe, mắt không còn sáng nhưng lòng ông vẫn đầy tâm huyết trước những công trình sử học mà nếu con cháu lãng quên, không làm đến nơi đến chốn sẽ có tội lớn với lịch sử. Tôi nhớ mùa đông năm nọ, khi dự buổi sơ kết về công trình biên soạn Lịch sử Khởi nghĩa Nam kỳ, trước sự khắc nghiệt của thời gian, giáo sư đã kêu gọi bằng tất cả nỗi bức xúc trước một công trình khoa học hết sức đặc biệt:

“Nếu không có quần chúng, chỉ có những con người tiêu biểu sẽ không có linh hồn của những trang sách. Công trình này phải tái hiện cho được những con người Việt Nam rất tiêu biểu, lạ lùng và kỳ diệu…”.

Không hiểu sao, mỗi khi được nhìn thấy Giáo sư Trần Văn Giàu trong những cuộc họp, trong những hội thảo khoa học là tôi còn thấy được yên tâm, cảm thấy được động viên để dồn sức vào những trang viết. Một ông lão ở tuổi ngoài 90, với thân hình gầy gò, xanh xao, kỳ lạ thay lại làm nơi nào ông xuất hiện trở nên lung linh tỏa sáng, có hồn. Sự thuyết phục tự thân ấy toát ra từ tấm lòng của một con người suốt cuộc đời trung với nước. Đó là sức mạnh của nhu thắng cương – sức mạnh của cây đại thụ tiềm ẩn trong thân trúc thanh cao, bền bỉ. Cốt cách ấy, khi ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động, tôi nghĩ danh hiệu cao quý ấy đã tỏa sáng vì chính tên tuổi của ông được vinh danh.

Ông ra đi, khi đã sống trọn một thế kỷ, với những vinh quang và thăng trầm, vẫn sáng rực như viên ngọc Viễn Đông, sừng sững ngọn núi phương Nam, thách thức với bão giông, thế sự.

Trầm Hương

Comments