Đại học Sư phạm Hà Nội vĩnh biệt giáo sư Trần Văn Giàu

Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân, Anh hùng Lao động TRẦN VĂN GIÀU - Nguyên Bí thư Đảng ủy đầu tiên của Đảng bộ Trường ĐHSP Hà Nội đã vĩnh biệt chúng ta.
Lastest update (17/12/2010)

Vào hồi 17g20 ngày 16-12-2010, tại Bệnh viện Thống Nhất (TP.HCM), Nhà cách mạng lão thành, Nhà khoa học lỗi lạc, Nhà giáo Nhân dân, Anh hùng Lao động, Giáo sư Trần Văn Giàu đã vĩnh biệt chúng ta, hưởng Đại thượng thọ 100 tuổi. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội mất đi một cán bộ lãnh đạo lão thành, một trong những người đầu tiên xây dựng nền móng cho sự hình thành và phát triển của Nhà trường. Đất nước và dân tộc Việt Nam mất đi một người con ưu tú. Đảng Cộng sản Việt Nam mất đi một chiến sĩ cách mạng kiên trung. Giới khoa học Việt Nam mất đi một nhà khoa học lỗi lạc. Cả nước Việt Nam mất đi một người anh hùng.

 

Giáo sư Trần Văn Giàu, 95 tuổi (TP.HCM, tháng 7/2005). Ảnh: Nguyễn Bá Cường.

         Đối với lịch sử của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tên tuổi của Giáo sư Trần Văn Giàu gắn liền với giai đoạn đầu của quá trình xây dựng đầy gian khó nhưng lại tạo nên nền tảng vững chắc cho sự phát triển hết sức vẻ vang của Nhà trường.

        Năm 1951, Trường Sư phạm cao cấp được thành lập tại Khu học xá trung ương (Nam Ninh - Trung Quốc). Tháng 11 năm 1954, chỉ sau 2 tháng tiếp quản Thủ đô, dựa trên cơ sở Trường Sư phạm Cao cấp, Văn khoa, Khoa học, Chính phủ đã quyết định thành lập Đại học Sư phạm Văn khoa và Đại học Sư phạm Khoa học. Nhà cách mạng, nhà giáo dục Trần Văn Giàu là người đầu tiên đảm nhận công tác lãnh đạo Đảng bộ Nhà trường, kiêm giảng dạy các môn khoa học Chính trị, Triết học, Lịch sử cận hiện đại thế giới và Lịch sử cận đại Việt Nam. Bởi thế, lịch sử phát triển các ngành Lịch sử, Giáo dục Chính trị, Triết học của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội nói riêng và của nền giáo dục đại học Việt Nam hiện đại được gắn liền với tên tuổi của Giáo sư Trần Văn Giàu với tư cách là người sáng lập.

Giáo sư Trần Văn Giàu thời trẻ

        Năm học 1955 - 1956, với những thành tựu đặc biệt to lớn trong khoa học và đào tạo lớp trí thức cách mạng đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, một số nhà giáo của Đại học Sư phạm Văn Khoa và Đại học Sư phạm Khoa học được coi là tinh hoa trí tuệ Việt, trong đó có Giáo sư Trần Văn Giàu, được Nhà nước phong học hàm Giáo sư đợt đầu tiên. Giữa năm 1956, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội được thành lập, trên cơ sở của hai trường Đại học Sư phạm Văn Khoa và Đại học Sư phạm Khoa học.  Tuy được Đảng và Nhà nước cử giữ chức vụ Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội nhưng Giáo sư Trần Văn Giàu vẫn miệt mài tham gia đào tạo những khóa sinh viên thế hệ đầu của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, sau này trở thành những trụ cột của các ngành khoa học xã hội và nhân văn, khoa học giáo dục ở Việt Nam.
     Trong lớp thế hệ các nhà khoa học danh tiếng của Việt Nam đã dày công xây nền, đắp móng cho sự hình thành và phát triển của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, có sự cống hiến đặc biệt của Giáo sư Trần Văn Giàu. Các thế hệ lãnh đạo, cán bộ và sinh viên của Nhà trường trong suốt 60 năm qua, luôn nỗ lực phát huy truyền thống và sức mạnh trí tuệ đã đưa Trường Đại học Sư phạm Hà Nội trở thành trường đại học sư phạm đầu ngành, trọng điểm, máy cái của ngành giáo dục, là trung tâm nghiên cứu khoa học, đào tạo giáo viên chất lượng cao và lớn nhất cả nước.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Giáo sư Trần Văn Giàu 

Hai người "đồng chí", "đồng niên", đồng Chủ tịch danh dự Hội khoa học Lịch sử Việt Nam.

Ảnh (chụp lại): Nguyễn Bá Cường

          Dù trải qua nhiều cương vị công tác, dù sống và làm việc ở Miền Bắc hay Miền Nam, Giáo sư Trần Văn Giàu luôn giành cho toàn thể cán bộ, giảng viên, sinh viên của Trường Đại học Sư phạm Hà Nội những tình cảm đặc biệt thân tình, ấm áp. Theo người cháu của Giáo sư kể lại: Lúc còn khoẻ  cứ có ai ngoài Bắc vô thăm, Cụ đều hỏi đến sự tiến bộ của Trường Sư phạm I thế nào rồi? Có gì mới không?. Chúng tôi được biết, hồi đầu năm 2010, Giáo sư Nguyễn Viết Thịnh - Hiệu trưởng Nhà trường dẫn đầu đoàn cán bộ cốt cán vào thăm hỏi sức khoẻ Giáo sư. Sau khi nghe báo cáo tình hình công tác của Trường, Giáo sư tỏ ra rất vui mừng, hài lòng và khuyến khích thầy trò cùng mau tiến bộ. 

         Phong thái Nhà hiền triết ở tuổi 95 (tháng 7/2005). Ảnh: Nguyễn Bá Cường

       Giáo sư Trần Văn Giàu là tấm gương sáng ngời về tinh thần yêu nước, sức sáng tạo, sự tận hiến phụng sự Tổ quốc và Nhân dân, là mẫu mực về nhân cách, năng lực trí tuệ tâm huyết của nhà sư phạm, nhà khoa học nhà cách mạng cả trong thực tiễn và tư tưởng, tiêu biểu cho lớp trí thức đầu tiên của nước Việt Nam mới, xứng đáng là một trong những học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Người đàn bà đầu tiên và duy nhất của GS. Trần Văn Giàu

Giáo sư Trần Văn Giàu tại Lễ trao giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt I, 1996).

Giáo sư Trần Văn Giàu tại Lễ phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động (2000).

            Giáo sư Trần Văn Giàu và phu nhân cùng ở tuổi 90 (ảnh chụp lại- NBC)

           Sự ra đi của Giáo sư Trần Văn Giàu - Cây đại thụ của ngành khoa học xã hội nhân văn (Lịch sử, Triết học, Chính trị học, Văn học,...), Nhà cách mạng kiên trung, Nhà khoa học lỗi lạc, Nhà sư phạm mẫu mực,... là một tổn thất to lớn đối với Nhân dân và Đất nước Việt Nam. Sự nghiệp cách mạng và sự nghiệp văn hoá - giáo dục của Giáo sư Trần Văn Giàu mãi mãi là di sản quý báu trong sự nghiệp xây dựng đất nước và phát triển nền khoa học - văn hoá - giáo dục Việt Nam thực sự mang tầm vóc thế giới.

Nụ cười Giáo sư Trần Văn Giàu thắm mãi.

          Với lòng biết ơn sâu sắc, toàn thể cán bộ, học sinh, sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội xin được thắp nén tâm nhang thành kính tưởng nhớ Giáo sư Trần Văn Giàu và nguyện tiếp tục phấn đấu không ngừng noi gương Giáo sư trong công tác, học tập và cống hiến để xây dựng Nhà trường ngày càng phát triển và hội nhập thành công vào nền giáo dục tiên tiến của thế giới.

1790796005_gs217122010

Nhà sư phạm mẫu mực với tương lai đất nước. Ảnh tư liệu

   Tin bài: Nguyễn Anh.

Bài viết có tham khảo sách Lịch sử Đảng bộ Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (Nxb Đại học Sư phạm, 2006) và tổng hợp từ các báo điện tử.

Có lần Giáo sư Trần Văn Giàu nói với học trò của mình: “Mấy cô, mấy chú bây giờ trưởng thành cả rồi, tôi rất mừng. Mấy cô, mấy chú gọi tôi là thầy, tôi không dám nhận đâu. Tôi có may mắn được là người lên lớp cho mấy cô, mấy chú chứ còn làm thầy khó lắm. Không phải cứ ai lên lớp cho mình đã có thể trở thành thầy mình đâu. Đời tôi chỉ có hai người thầy - Đó là Cụ Hồ và khoa học Lịch sử. Cụ Hồ dạy tôi làm người sống có ích cho dân, cho nước mình. Còn khoa học Lịch sử dạy tôi phải trung thực. Trung thực với đời khó mà dễ. Còn trung thực với mình mới khó. Vì mình có trung thực với mình hay không chỉ có mình mình biết mà thôi”.

Theo: Trần Thanh Phương. Báo Đại Đoàn kết.


Xem Từ điển wikipedia viết về cuộc đời Giáo sư Trần Văn Giàu

vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n_V%C4%83n_Gi%C3%A0u#S.E1.BB.B1_nghi.E1.BB.87p_gi.C3.A1o_d.E1.BB.A5c

 

Giáo sư Trần Văn Giàu - Huyền thoại về một con người

 Giáo sư sử học, Nhà giáo Nhân dân, Anh hùng lao động Trần Văn Giàu sinh ngày 6/9/1911 tại xã An Lạc Long, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Cuộc đời hoạt động cách mạng, dạy học và nghiên cứu khoa học của ông là một tấm gương sáng về ý chí và bản lĩnh, về sự quả cảm và đức hy sinh, về tài năng và nhân cách. Ông là một nhà cách mạng tiêu biểu, là nhà giáo và nhà sử học lớn của Việt Nam trong thế kỷ XX. 

Hai lần xuất ngoại du học

Năm 1928, sau khi tốt nghiệp trường trung học Chasseloup Laubat tại Sài Gòn, ông sang Pháp du học tại Đại học Toulouse với quyết tâm sẽ đậu hai bằng Tiến sĩ rồi về nước viết báo và mở văn phòng luật sư. Tại Toulouse, dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ của các đảng viên Đảng Cộng sản Pháp, ông gia nhập Đảng Cộng sản Pháp và bắt đầu bước vào cuộc đời hoạt động cách mạng. Cũng tại đây ông được đọc cuốn sách "Bản án chế độ thực dân Pháp" của đồng chí Nguyễn Ái Quốc và bắt đầu "làm chính trị" khi tròn 18 tuổi.

Khi khởi nghĩa Yên Bái (1930) thất bại và bị thực dân Pháp đàn áp trong biền máu, người đảng viên cộng sản Trần Văn Giàu được cử thay mặt học sinh, thanh niên và những người lao động ở Toulouse lên Paris tham gia biểu tình phản đối và bị Pháp bắt giam. Sau đó, ông cùng 18 người bạn của mình bị trục xuất về nước (tháng 6/1930). Cuối năm đó, ông bí mật gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Giữa năm 1931, ông được cử sang Mátxcơva học Trường Đại học Đông Phương. Tại đây ông được học những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin... Cùng học với ông có những người sau này trở thành các lãnh tụ của Đảng như Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập...

Ba lần làm thầy giáo

Năm 1933, ông bí mật trở về nước và hoạt động cách mạng với nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo cán bộ cho Đảng. ông bị địch bắt giam 7 năm tù ở Khám Lớn Côn Đảo, Tà Lài. Tại các trại giam này ông bị giam cùng với những lãnh tụ và cán bộ của Đảng như Tôn Đức Thắng, Hà Huy Tập, Tô Ký, Dương Quang Đông,.. Trong tù, cùng với các đồng chí của mình, ông giảng bài và biên soạn tài liệu để phổ biến, tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin, về Đảng cộng sản... ông trở thành "Thầy giáo đỏ" như cách gọi hồi đó và đây là một nét đặc sắc trong nghề dạy học của ông.

Những năm 1944 - 1945, sau khi vượt ngục, ông tổ chức lớp học ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ, là Chủ tịch UBHC lâm thời Nam Bộ. Năm 1949, ông ra chiến khu Việt Bắc giữ chức vụ Tổng Giám đốc Nha thông tin. Hai năm sau, năm 1951, ông được cử vào vùng tự do Thanh Hoá xây dựng trường Dự bị Đại học. Ông đã cùng với các trí thức lớn như Nguyễn Thúc Hào, Nguyễn Đức Chính, Đào Duy Anh, Nguyễn Mạnh Tường, Cao Xuân Huy... đào tạo được một thế hệ học sinh dự bị Đại học mà giờ đây hầu hết đều đã trở thành các nhà lãnh đạo quản lý, các nhà khoa học đầu ngành, các chuyên gia lớn của đất nước về khoa học và giáo đục... Năm 1954, ông là Bí thư Đảng uỷ trường Đại học Sư phạm, kiêm giảng dạy các môn khoa học chính trị, triết học, lịch sử cận hiện đại thế giới và lịch sử cận đại Việt Nam. Năm 1956, khi trường Đại học Tổng hợp Hà Nội được thành lập, ông là Bí thư Đảng uỷ của trường kiêm chủ nhiệm sáng lập khoa Lịch sử. Cùng với các Giáo sư Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo, ông đã góp phần lớn công sức và trí tuệ của mình để đào tạo những thế hệ các nhà sử học macxít đầu tiên cho đất nước. Trong số đó có những người giờ đây đã trở thành những tên tuổi lớn của sử học Việt Nam như các giáo sư Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn, Trần Quốc Vượng...

Nhà khoa học lớn của đất nước

Là một trí thức lớn có nhiều hiểu biết uyên thâm trên các lĩnh vực của khoa học và đời sống, Giáo sư Trần Văn Giàu đã kết hợp hoạt động khoa học và cách mạng, trước hết là kết hợp giữa lý luận Mác - Lênin với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở Việt Nam và trên thế giới. Những công trình đồ sộ của Giáo sư Trần Văn Giàu chứa đựng một nội dung phong phú về trí tuệ của dân tộc và thời đại. Có thể kể tới một số công trình lớn (trong đó có một số công trình đã được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh) như sau:

Bộ sách về triết học gồm 3 quyển: "Biện chứng pháp”, "Vũ trụ quan”, “Duy vật lịch sử”.
"Chống xâm lăng" (3 tập).
"Lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam" (4 tập).
"Lịch sử Việt Nam" (chủ biên, 8 tập).
"Miền Nam giữ vững thành đồng" (5 tập).
“Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám" (3 tập).
“Địa chỉ văn hoá Thành phố Hồ Chí Minh" (chủ biên, 4 tập).

Giải thưởng sử học Trần Văn Giàu Khi đã bước vào tuổi 90, Giáo sư Trần Văn Giàu quyết định bán căn nhà của mình và ông hiến tặng số tiền trị giá 1.000 cây vàng (thời giá năm 2001) cho Hội khoa học Lịch sử Việt Nam dùng làm quỹ giải thưởng cho những công trình sử học nghiên cứu về Nam Bộ. Đây là lần đầu tiên ở nước ta có một giải thưởng mang tên một người khi người đó còn sống.

Vũ Trường Sơn
Tạp chí Nghiên cứu con người

 

 

ThS Nguyễn Bá Cường thăm Giáo sư Trần Văn Giàu (TP.HCM, tháng 7/2005).

GIÁO SƯ, NHÀ GIÁO NHÂN DÂN, ANH HÙNG LAO ĐỘNG TRẦN VĂN GIÀU

MỘT HỌC GIẢ LỚN

 Giáo sư, Nhà giáo nhân dân, Anh hùng Lao động Trần Văn Giàu, không chỉ là một nhà cách mạng tiêu biểu, một học giả lớn mà chính là một nhân cách lớn. Nét đặc sắc nhất trong nhân cách Trần Văn Giàu là ở chỗ con người ông chính là sự hoà quyện nhuần nhuyễn của một chiến sĩ yêu nước, nhà cách mạng chuyên nghiệp, nhà giáo mẫu mực và nhà học giả uyên thâm.

Nhưng có lẽ nói như thế vẫn chưa đủ. Bất cứ ai được gặp ông, dù chỉ thoáng qua hay được sống và làm việc gần gũi với ông, đều nhận ra rất rõ rằng Trần Văn Giàu trước hết là một nhân sĩ Nam Bộ điển hình. Chất Nam Bộ toát ra từ trong giọng nói, nét cười, trong cách cư xử hàng ngày của ông: vừa nhân hậu, bao dung nhưng cũng rất quyết liệt, thẳng thắn, vừa rất nghiêm khắc nhưng lại chân tình, nồng ấm có pha một chút gì đó rất hóm hỉnh, vui vui, vừa cao ngạo mà lại rất dung dị. Và tố chất Nam Bộ ấy cũng thẩm thấu vào mỗi công việc ông làm, từ hoạt động cách mạng cho tới nghiên cứu khoa học, trong mỗi ý tưởng và trên từng trang viết.

Chắc chắn Trần Văn Giàu là một trong những tác gia đương đại lớn nhất của Việt Nam. Ông khởi nghiệp khảo cứu và trước tác từ rất sớm. Đầu những năm 30 của thế kỷ trước, ngay khi còn học tại Trường Đại học phương Đông mang tên Lênin ở Matxcơva, ông đã tham gia soạn thảo và chắp bút cho một số văn kiện quan trọng của Quốc tế Cộng sản có liên quan đến việc chỉ đạo Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ năm 1935 đến năm 1941, suốt gần 7 năm trong nhà tù đế quốc, lúc ở Khám Lớn (Sài Gòn), khi ở Côn Đảo và trong trại tập trung Tà Lài, Trần Văn Giàu thường xoay trần trên nền xi măng của xà lim, cặm cụi, bí mật soạn ra hàng chục tài liệu tuyên truyền, huấn luyện. Vượt qua sự rình rập, đòn roi khủng bố của mật thám, vị “giáo sư đỏ” ngày ấy đã hăm hở tham gia giảng dạy cho các lớp huấn luyện của Đảng ở trong tù, góp phần trang bị cho nhiều lớp cán bộ, đảng viên những tri thức lý luận và kỹ năng tuyên truyền, tổ chức cốt yếu nhất. Nhiều “học viên” của “trường đại học cách mạng” ấy sau này đã trở thành cán bộ cao cấp của Đảng, như Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng, Phan Đình Khải (Lê Đức Thọ)... Trong những ngày tháng gấp rút chạy đua với thời gian, chuẩn bị lực lượng giành chính quyền ở Sài Gòn và Nam Kỳ trước Cách mạng tháng Tám 1945, đích thân Bí thư xứ uỷ Trần Văn Giàu soạn ra nhiều cuốn sách nhỏ làm tài liệu huấn luyện, tuyên truyền trong công nhân và nhất là trong giới trí thức, công chức cao cấp, để qua đó, bằng lý luận và nhiệt huyết, thuyết phục, lôi kéo họ về phía cách mạng. Tiếc rằng cho tới nay, phần lớn những tác phẩm này của ông - hiển nhiên là có giá trị đặc biệt, còn đang bị thất lạc, chưa tìm lại được bao nhiêu.

Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2.9.1945 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, nhưng chỉ gần 3 tuần sau thực dân Pháp đã núp bóng quân Anh quay lại phát động chiến tranh nhằm tái lập chế độ thực dân ở Việt Nam. Nhân dân Nam Bộ là những chiến sĩ tiên phong anh dũng đối đầu với quân Pháp. Trần Văn Giàu đứng ở vị trí tiên phong trong đội quân tiên phong ấy. Năm 1949, ông được gọi ra chiến khu Việt Bắc, được giao nhiều nhiệm vụ khác nhau. Từ năm 1951 đến 1954, ông là Giám đốc, là giáo sư trực tiếp giảng dạy ở Trường Dự bị Đại học trong vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh. Thời kỳ này ông vẫn tiếp tục viết, chủ yếu là các tài liệu lý luận tuyên truyền, huấn luyện chính trị.

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, từ năm 1954 đến 1960, Trần Văn Giàu là một trong những giáo sư đầu tiên của nền đại học Việt Nam mới, góp phần xây nền, đắp móng cho sự hình thành và phát triển của Trường Đại học Sư phạm và Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Đây là khoảng thời gian có tính chất bước ngoặt trong cuộc đời ông. Từ đây hoạt động học thuật trở thành lĩnh vực hoạt động chính mà ông dành trọn vẹn thời gian, niềm đam mê, trí tuệ và nhiệt huyết để cống hiến hết mình. Những ngày đầu tiên ấy, cơ sở của trường đại học rất nghèo nàn: thầy thiếu tài liệu để dạy, trò thiếu sách để học. Trong bối cảnh đó, những công trình khoa học đầu tiên mà Trần Văn Giàu biên soạn như “Triết học phổ thông”, “Chống xâm lăng” (3 tập, 1956), “Lịch sử Việt Nam” (viết chung, 1957), “Giai cấp công nhân Việt Nam” (1957),có giá trị như những cẩm nang cho thầy và trò các ngành khoa học xã hội - nhân văn.

Từ năm 1960 đến năm 1975, ông chuyển về công tác tại Viện Sử học thuộc Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam, chuyên tâm cho công việc khảo cứu, trước tác. Đây chính là thời kỳ Trần Văn Giàu công bố những công trình đồ sộ nhất của cuộc đời hoạt động học thuật của ông - những tác phẩm được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cao quý, trong đó nổi bật lên là các bộ sách “Lịch sử cận đại Việt Nam” (chủ biên, gồm 4 tập, 1960 - 1963) “Giai cấp công nhân Việt Nam” (3 tập, 1962 - 1963), “Miền Nam giữ vững thành đồng” (5 tập, 1964 - 1965) và “Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám” (3 tập, 1973 - 1993).

Sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, ông về sống ở thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó tới nay, mặc dù tuổi cao, sức khoẻ cũng không còn được như trước nữa, nhưng ông vẫn tiếp tục miệt mài khảo cứu, suy ngẫm, hoàn thiện những công trình đã ấp ủ từ trước đó và công bố những công trình mới. Học trò nhiều thế hệ, từ những người từng được ông kèm cặp, nay đã trở thành những học giả danh tiếng, cho tới lớp sinh viên mới chập chững vào nghề, đọc sách ông viết và tự nhận là môn sinh gián tiếp của ông, vẫn kéo nhau về xin gặp ông để được nghe ông nói, thấy ông cười, được ông chỉ dẫn cho nhiều điều. Học giả nước ngoài, dù với nhiều quốc tịch và chính kiến khác nhau, nhưng nếu nghiên cứu về Việt Nam thời cận - hiện đại mà chưa được gặp ông để phỏng vấn, để tham bác và tranh luận, thì vẫn còn tự coi như chưa “đắc đạo”...

Các công trình được tuyển chọn và công bố trong tập I và II của bộ sách “Tác phẩm được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh” đương nhiên là những công trình tiêu biểu nhất của ông. Mặc dù hai tập sách đã rất đồ sộ (với tổng cộng 3.558 trang), nhưng đó cũng chỉ thể hiện được một phần nhỏ những cống hiến học thuật mà Trần Văn Giàu đã dâng tặng cho cách mạng, dân tộc và nền khoa học xã hội - nhân văn Việt Nam.

Như đã nói ở trên, Trần Văn Giàu khởi nghiệp trước tác từ rất sớm ở lĩnh vực lý luận - chính trị. Ngoài các tài liệu tuyên truyền, huấn luyện, ông cũng biên soạn khá nhiều sách triết học, kinh tế chính trị, khảo luận văn chương. Nhưng sử học chính là lĩnh vực mà tại đó ông đã khẳng định rõ ràng nhất đóng góp to lớn và uy tín học thuật bao trùm của mình.

Ảnh hưởng và uy tín của Trần Văn Giàu trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử Việt Nam cận - hiện đại được khẳng định trước hết không phải bởi vì số lượng khổng lồ các công trình ông đã công bố, mà chính là ở cách tiếp cậnthái độ nghiêm túc nghề nghiệp ông thể hiện nhất quán trong tất cả các công trình đó. Không nghi ngờ gì, rằng Trần Văn Giàu là một sử gia mác xít. Chất mác xít, nói như lời của một học trò của ông (GS. Trần Quốc Vượng), đã “ăn” vào máu thịt ông.

Điều cần nói rõ ở đây là: thế giới quan mác xít được thể hiện theo một cách rất riêng trong phương pháp mà Trần Văn Giàu tiếp cận và nghiên cứu lịch sử. Chắc chắn là ông thuộc vào thế hệ những trí thức Tây học đầu tiên tự nguyện tiếp nhận phương pháp tư duy mác xít một cách hoàn toàn duy lý, khoa học và đối xử với học thuyết Mác - Lênin một cách khoa học - đúng như Mác từng đòi hỏi. Nhờ thế mà trong khi vận dụng phương pháp luận mác xít vào nghiên cứu lịch sử dân tộc, ông đã giảm thiểu được tối đa những khuyết tật do bệnh giáo điều, máy móc vốn là căn bệnh khá trầm kha của giới sử gia mác xít không chỉ ở Việt Nam mà ở nhiều nước thuộc phe XHCN trước đây. Quả thực, ông đã nghiền ngẫm rất nhiều trong việc vận dụng lý thuyết về hình thái kinh tế - xã hội vào việc phân kỳ lịch sử Việt Nam, và chính ông cũng sớm nhận ra rằng không thể cứ nhất nhất phải “gò” giai đoạn này hay giai đoạn khác của lịch sử dân tộc vào hình thái kinh tế - xã hội này hay hình thái kia kinh tế - xã hội kia.

Nguyên tắc quan trọng nhất trong nhận thức và trình bày lịch sử của Trần Văn Giàu là tôn trọng sự thực. Đó là cách viết sử mà ông gọi là “việc có ngày tháng, người có tên tuổi”. Sách ông viết, từ “Chống xâm lăng”, “Giai cấp công nhân Việt Nam” (2 bộ) đến “Miền Nam giữ vững thành đồng” và “Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam” cứ ngồn ngộn tư liệu, tư liệu từ nhiều phía, khai thác từ nhiều nguồn. Ông vốn rất cẩn trọng trong sưu tầm và sử dụng sử liệu, luôn luôn phê phán, so sánh, định rõ độ xác tín của chúng. Tư liệu ông đã dùng thường phải có chú dẫn rõ ràng. Phần nào chưa rõ, còn nghi ngờ, ông cũng nói rõ để người đọc thận trọng, tự kiểm chứng. Công trình của ông, dù ăm ắp những tư liệu nhưng người đọc không hề thấy nhàm chán, mà ngược lại bị cuốn hút mạnh mẽ do cách ông biện giải rất hùng hồn, mạch lạc. Vì thế mà không chỉ người học sử, nghiên cứu sử ở trong nước mà cả học giả nước ngoài cũng ham đọc sách của ông. Ông là học giả Việt Nam đương đại được trích dẫn nhiều nhất trong các công trình của người nước ngoài viết về lịch sử Việt Nam cận đại. Lật xem phần danh mục tài liệu tham khảo ở cuối các công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài nổi tiếng bao giờ cũng có một vài đầu tài liệu của Trần Văn Giàu. Không hẳn những học giả nói trên khi tham khảo sách của ông đều nhất trí với các luận điểm của ông. Dù ý kiến họ có khác hoặc trái hẳn quan điểm của ông - trong khoa học thì điều đó cũng là chuyện bình thường thôi, thì họ đều tỏ ra nể trọng ông. Không ít người ca ngợi ông chẳng kém gì học trò ông tôn vinh ông ở trong nước.

Hai bộ sách của ông viết về lịch sử phong trào công nhân Việt Nam là những công trình được tham khảo và trích dẫn nhiều nhất ở cả trong nước và nước ngoài. Người ta tham khảo hai bộ sách này trước hết vì nó sống động và ngồn ngộn tư liệu, như đã nói ở trên, nhưng điều làm cho các bộ sách này được đánh giá cao, tham khảo rộng rãi còn chính là vì phương pháp, cách tiếp cận mà Trần Văn Giàu thể hiện trong các công trình nghiên cứu này. Ở nước ngoài và nhất là ở Việt Nam có nhiều người đã tìm cách trình bày, lý giải các quá trình, sự kiện của lịch sử cận - hiện đại Việt Nam theo những cách khác nhau. Tuy nhiên, trong phần lớn các công trình được phát hành bằng nhiều thứ tiếng ở nhiều nước ấy đều có chung cách nhìn, cách trình bày khiến cho lịch sử chỉ còn là lịch sử của các chính đảng, các lãnh tụ, các tôn giáo và các nhóm Élite đủ loại. Chỉ có trong các công trình nói trên của Trần Văn Giàu thì lịch sử mới thực sự được trình bày như là “sự nghiệp của quần chúng nhân dân”, trong đó diện mạo, hình hài, tâm tư, nguyện vọng, hoạt động của quần chúng đã được tái hiện sinh động và cụ thể. Cách viết sử ấy của Trần Văn Giàu rõ ràng đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhận thức luận và các tiếp cận của nhiều học giả trong và ngoài nước. Ở Việt Nam, kế tiếp công trình của ông đã xuất hiện một số nghiên cứu khác rất có giá trị về công nhân, nông dân, phụ nữữữữ được thực hiện theo cách tiếp cận này. Ở nước ngoài, phải đợi tới giữa những năm 90 của thế kỷ trước mới xuất hiện một vài nghiên cứu theo hướng “bottom up”, trong đó cuốn sách đồ sộ của David G. Marr về Cách mạng tháng Tám “Vietnam 1945: the Quest for Power” là công trình tiêu biểu nhất.

Ngày nay, việc áp dụng các cách tiếp cận của nhân học, xã hội học và dân gian học vào nghiên cứu và trình bày lịch sử theo kiểu “bottom up” đang ngày một trở nên thịnh hành trong giới sử gia nhiều nước, bắt đầu có dấu hiệu trở thành xu hướng cực đoan, “thấy cây mà không thấy rừng”. Chính trong bối cảnh này bộ sách “Giai cấp công nhân Việt Nam” của Trần Văn Giàu lại càng khẳng định được giá trị có tính phương pháp luận của nó. Trong khi viết sử, dù lấy phong trào quần chúng làm đối tượng chính, Trần Văn Giàu không bị sa vào một thứ “dân tuý” nào đó. Ông vẫn duy trì được cái nhìn đa diện, đa chiều, không cực đoan, thiên lệch. Nghiên cứu về công nhân mà chỉ ra cái ranh giới chính trị - xã hội vừa rõ ràng, vừa mong manh giữa hai lớp người, một lớp là “thầy”, lớp kia là “thợ”; chỉ ra được mối tương tác giữa chính thể, đoàn thể quần chúng và giai cấp công nhân, thì ở Việt Nam chỉ có Trần Văn Giàu làm được, còn ở nước ngoài Joseph Buttinger mới chỉ gợi ra một vài ý tưởng mà thôi.

Bộ sách khác của Trần Văn Giàu cũng rất nổi tiếng cả ở trong nước và ở nước ngoài chính là bộ công trình gồm 3 tập “Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám” mà ông công bố trong khoảng thời gian 1973 - 1993. Đây chính là bộ công trình mà ông “dụng công”, “dụng tâm”, “dụng trí” nhiều hơn cả để hoàn thành. Vốn chuyên viết giáo trình, khảo cứu và dựng lại lịch sử các phong trào quần chúng, khi bắt đầu bước sang lĩnh vực nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam, Trần Văn Giàu biết rất rõ rằng ông đang tự mình đảm nhận một nhiệm vụ rất khó khăn, phức tạp. Tính cách, hay đúng hơn, nhân cách của Trần Văn Giàu là thế. Trong hoạt động cách mạng cũng như trong lao động học thuật, ông ưa chọn việc khó, ưa làm người mở đường và khai phá, không phải cốt lập cho được kỳ công để lưu danh với hậu thế, mà cốt phá cái thế bế tắc, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn.

Quả thật là đến cuối những năm 60, đầu những năm 70 của thế kỷ XX, không chỉ cách mạng Việt Nam mà chính là nhu cầu phát triển chung của đất nước, đặc biệt của chính bản thân các ngành khoa học xã hội - nhân văn, đòi hỏi phải có một sự trình bày mang tính hệ thống và tổng kết về diễn trình tư tưởng Việt Nam từ khi Pháp xâm lược tới năm 1945. Đó là nhiệm vụ nan giải và quá phức tạp, ngoài Trần Văn Giàu khó có ai có đủ tư cách, năng lực và bản lĩnh đảm nhận. Trần Văn Giàu đã tự nhận lấy nhiệm vụ đó về mình, lao tâm, khổ tứ, thận trọng và bền bỉ khảo cứu suốt hơn 20 năm, và chính ở đây, cái Tâmcái Tài của ông đã tỏa sáng mạnh mẽ nhất. Ngay sau khi hai tập đầu của công trình được công bố (1973 - 1975) nó đã được giới khoa học trong nước và quốc tế nhiệt liệt chào đón. David G. Marr, một trong những chuyên gia lớn nhất về Việt Nam ở phương Tây đã nhận xét về bộ sách như sau: “Trong số các công trình đã xuất bản bằng mọi thứ tiếng trên thế giới thì đó là bộ sử tốt nhất về tư tưởng Việt Nam”.

Là nhà cách mạng, Trần Văn Giàu đã góp phần rất to lớn vào công cuộc vận động quần chúng, xây dựng tổ chức Đảng và là người đã trực tiếp lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng tháng Tám ở Sài Gòn và Nam Kỳ, chỉ huy quân dân miền Nam anh dũng chống lại cuộc chiến tranh tái chiếm thuộc địa của thực dân Pháp.

Là nhà giáo, ông đã góp công xây nền, đắp móng cho nền giáo dục đại học Việt Nam mới, trực tiếp tham gia giảng dạy từ Trường Dự bị Đại học tới Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Ông là người đã và đang trực tiếp hoặc gián tiếp đào tạo nhiều học trò xuất sắc cho nền sử học Việt Nam, trong đó có những nhà sử học lớn như Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn và Trần Quốc Vượng.

Là nhà khoa học, thông qua hàng chục công trình khảo cứu khổng lồ của mình ông tự khẳng định vị trí, tầm vóc của một sử gia vĩ đại nhất của nền sử học Việt Nam hiện đại.

Cao hơn tất cả ông là một nhân cách trí thức cộng sản mang đặc tính Nam Bộ giản dị, bao dung, quyết liệt mà nhân ái, một bậc thầy mẫu mực được các thế hệ học trò tôn vinh, yêu kính.

Đinh Xuân Lâm - Phạm Hồng Tung

Comments