Trần Ngọc Hoằng

Dưới đáy đại dương là ngọc

DẠY VÀ HỌC. Bác Năm Hoằng và chị ba Sương. Lâu nay chúng ta đã xúc động nhiều với cuộc đời bất hạnh của chị Ba Sương nhưng hình như việc  "tích tụ ruộng đất" "lập quỷ trái phép", và "xây dựng nông trại điển hình" của Nông trường sông Hậu thời bác Năm Hoằng và chị Ba Sương vẫn chưa được nghiên cứu thấu đáo để rút ra những bài học sâu sắc về tầm nhìn, quan điểm, cách đầu tư khép kín trong nông nghiệp. Bác Năm đã yên nghĩ, chị ba Sương kêu án tù 8 năm và được thả.  Người đương thời chưa thể mổ xẽ và phân tích đúng sai về cách "lập quỷ trái phép" và "tích tụ ruộng đất" nhưng nếu khép lại điều này thì không thể nói rõ nhiều việc và cũng không đúng tâm nguyện của những bậc anh hùng trượng nghĩa Nam Bộ đã quyết liệt dấn thân trọn đời cho sự nghiệp và niềm tin ấy.  Hôm bác Năm Hoằng mất,  chúng tôi gần như đi suốt đêm từ Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (Đồng Nai) về Nông trường sông Hậu (Hậu Giang) để kịp viếng bác. Tôi biết ơn năm lần bác lội ruộng thăm đồng Trung tâm Hưng Lôc và đã gợi ý nhiều điều. Trong đó có một lần bác tặng cho tôi chiếc máy điện thoại di động "Cháu giữ mà dùng, bác mua lại cái khác", "Thông tin là cần thiết, đừng tiết kiệm quá con ạ !" "Chưa kỹ đâu con đừng vội làm sư" "Bác có chút kinh nghiệm thau chua, rữa phèn, lấn biến" "Hiểu cây và đất thì mới làm ra được giống mới con ạ !" "Phải sản xuất kinh doanh khép kín mới khá được" "Dưới đáy đại dương là ngọc !". Những bài học của bác Năm và chị Ba đã giúp chúng tôi rất nhiều. Nay tôi tập hợp tư liệu như là ném tâm hương tưởng niệm cụ Năm Hoằng,  bậc anh hùng chân đất vang bóng một thời để tự mình chiêm nghiệm và rút ra những bài học sâu sắc về đất và người Nam Bộ.


Chị Ba Sương xưa và nay


- Ngô Ngọc Ngũ Long

Giới truyền thông, báo chí đều hồ hởi đồng loạt đưa tin như báo một tin vui cho cả nước trong những ngày trước Tết Nguyên đán Nhâm Thìn 2012. Vụ án đã khép lại, chị Ba Sương vui trong niềm vui chung của những người đồng chí thân thiết, những bậc cha chú lão thành cách mạng sát cánh bên chị suốt 4 năm với biết bao tủi cực, và cuối cùng thì công lý đã thắng. Nhưng đã gọi là công lý thì phải rõ ràng, minh bạch, chị vẫn cảm thấy chưa tâm phục khi cầm Quyết định đình chỉ vụ án trên tay với tội danh “Lập quỹ trái phép”. Chị bảo chị vừa làm đơn Xin đề nghị xét lại gửi đi 31 nơi để tường trình về quá trình lập quỹ, bởi bản thân chị chỉ là người kế thừa, vì quỹ này đã được lập từ năm 1979.

Chị không phải là người lập quỹ, cũng không hề điều hành nguồn quỹ này. Bản thân việc thu và sử dụng minh bạch các nguồn tiền không có nguồn gốc từ tài sản Nhà nước thông qua hoạt động công đoàn đã hình thành từ trước khi chị về nhận trách nhiệm giám đốc nông trường 21 năm trước. Vậy tại sao lại quy tội cho chị khi quỹ này được sử dụng thực tế vào lợi ích chung của nông trường, cá nhân chị không tơ hào đồng nào?

Chị Ba Sương trong ngày nhận danh hiệu Anh hùng lao động thời đổi mới
Nhắc lại chuyện cũ, chị không khỏi chạnh lòng, chị đau lắm, từ ngày nông trường bị thanh tra quăng quật suốt 12 năm (1993-2005), rồi cá nhân chị bị khởi tố năm 2008, bị kêu án 8 năm tù… Suốt 4 năm khổ ải, từ một Anh hùng lao động thời đổi mới, Người phụ nữ ấn tượng Châu Á, nữ giám đốc được kính trọng, yêu thương của hơn 3.000 hộ dân trong nông trường bỗng chốc trở thành người bị án tù đày, bơ vơ, không nhà…

Căn nhà chị thuê của nông trường trên đường Điện Biên Phủ để ở tạm cũng bị đuổi trước thời hạn, nên phải về tá túc nhà người em dâu ở quận Bình Thạnh. Từ một người phụ nữ tươi trẻ 54kg, chị suy sụp chỉ còn 38kg với bao nhiêu căn bệnh ập đến cùng với nỗi đau nhói tận tâm can của một người phụ nữ đã dành hết sức lực và tâm huyết cho nông trường. Cả tuổi thanh xuân của chị đã phơi trong nắng gió, sình lầy, theo bước chân của người cha - ông Năm Hoằng - nơi những cánh đồng chua phèn ngập úng, chỉ canh tác được một vụ lúa mùa nước nổi từ những ngày nông trường mới thành lập.

Chị đã sống ở nông trường và xem nó như mái nhà của mình với tâm huyết: “Tôi ôm cục đất theo nông dân đến hết đời”. Đó là lý do tại sao chị không tự tích lũy tài sản cho mình, không màng cơ ngơi lộng lẫy, hoành tráng như nhiều người đã làm cũng như chị đã từ chối chiếc ghế Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp - Phát triển nông thôn…

Quyết định số 56/QĐ/KSĐT do viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân TP Cần Thơ Hồ Thanh Long ký ngày 17/1/2012 đình chỉ vụ án Nông trường sông Hậu ghi rõ: “Trần Ngọc Sương đã có hành vi “Lập quỹ trái phép” nhưng xét hoàn cảnh lịch sử xảy ra sai phạm và những tình tiết giảm nhẹ, công lao đóng góp của gia đình và của cá nhân Trần Ngọc Sương nên miễn truy cứu trách nhiệm hình sự (khoản 1 điều 25 Bộ luật hình sự)…”. Và gần đây nhất, quyết định phục hồi sinh hoạt Đảng cho chị đã khép lại vụ án từng gây chấn động dư luận cả nước…

Bây giờ chị ngồi đây, dù sau những tháng ngày bị đày ải, chị vẫn đau đáu hướng về nông trường, chị vẫn nói về những dự tính, những hoạch định tương lai mà chị đã dồn tâm sức cho cái nơi chị từng xem như cuộc sống của mình. Ở nơi đó, những căn nhà tường và cao tầng đầu tiên được xây dựng trong nông trường chính là trường học mẫu giáo và trường cấp 1 và trường cấp 2-3, miễn phí cho con em nông trường viên. Nơi đó, có những tiêu chuẩn dành riêng cho con em nông trường đậu vào các trường cao đẳng, đại học: 16kg gạo và học bổng từ 100.000đ, 150.000đ, 200.000đ mỗi tháng dành cho từng thứ hạng…

Nơi đó, tệ nạn cờ bạc, rượu chè, hút sách, trộm cắp, mại dâm không có chốn nương thân. Nông trường cải tạo đồng ruộng và giao khoán cho những hộ nông dân nghèo không có đất canh tác; bà con được nông trường đầu tư đồng vốn, vật tư và được bao tiêu sản phẩm... Nơi đó, chị xây dựng khu sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, có hạ tầng cơ sở về nghiên cứu và sản xuất cây, con giống; nuôi trồng thương phẩm nông-lâm- thủy sản và chế biến các sản phẩm này dưới dạng tươi, muối, sấy khô, đông lạnh và đóng hộp, với một đội ngũ hơn 100 người là cao đẳng, kỹ sư, thạc sĩ dày kinh nghiệm được đào tạo từ trong nước và nước ngoài để chuẩn bị kế tục chị…

Nhưng chị không dừng lại ở sản xuất nông nghiệp, chị đã hoạch định để tận dụng ưu thế vùng đất xanh và sạch của mình mà khó nơi nào có được bằng nền công nghiệp không khói: du lịch. Đôi mắt chị như ánh lên tia lửa sáng rực, cả một ước vọng tràn đầy đang chuẩn bị cất cánh với 3 cụm du lịch: Thứ nhất là khu du lịch dã ngoại Home-stay, chị sẽ chọn một số hộ nông trường viên trang bị phòng ốc đàng hoàng để mời khách du lịch về cùng sinh hoạt với gia đình, khách sẽ được sống giữa màu xanh bạt ngàn của ruộng lúa, vườn cây ăn trái, sẽ cùng chăm sóc lúa, tưới cây, làm rẫy và chăn nuôi cá, heo, bò, gà, vịt với chủ nhà…

Thứ hai, nông trường có sẵn 120km đường sông, khách sẽ được tập bơi thuyền trên sông, đến tối trên thuyền họ sẽ cùng nghe đờn ca tài tử, và được phục vụ bằng những món ăn dân dã đặc trưng Nam Bộ. Thứ ba, nông trường có sẵn cái hồ khá lớn, chị sẽ cho đào rộng ra vài ba hét ta, chính giữa có ốc đảo để làm nhà thủy tạ, sẽ có những mái nhà tranh cực kỳ thơ mộng quây bên hồ dành riêng cho từng gia đình. Khách sẽ được xe đưa đón từ mọi nơi về, mỗi nhà đều có người phục vụ nấu nướng, thức ăn mua ở siêu thị nông trường, hoàn toàn tươi xanh và sạch. Và nếu khách muốn thì mỗi ngày sẽ học nấu miễn phí một món ngon ở đây.
Đây là cách tận dụng lao động những chị em trong nông trường, chị sẽ tuyển chọn và cho đi học nữ công, gia chánh để vừa có khả năng đứng bếp vừa có khả năng chỉ dạy cho du khách. Chị còn có ước vọng làm tour du lịch khoa học kỹ thuật nông nghiệp công nghệ cao, để du khách đến tham quan những phòng thí nghiệm, nơi nuôi trồng, các ngành nghề chế biến lương thực, nông, thủy sản, chế biến gỗ từ rừng cây bạch đàn giao cho dân trồng trên những bờ đê bao…

Và từ những siêu thị nông nghiệp với con giống, hạt giống, máy móc, khách sẽ được thao tác máy móc trên chính những mảnh ruộng dưới sự hướng dẫn của nhân viên nông trường. Ngoài ra, chị còn ước mơ thành lập những nhà nghỉ dưỡng cho người lớn tuổi trong và ngoài nước với dàn nhân viên được cho đi học các lớp điều dưỡng chuyên nghiệp. Bên cạnh sự yên tĩnh của khu dành riêng cho người già là những khu đặc biệt dành cho giới trẻ với những chương trình ca nhạc sôi động, đặc biệt có chỗ dành riêng cho sinh hoạt cắm trại của giới sinh viên học sinh với chi phí tượng trưng.

Nhưng tất cả những ước vọng, những hoạch định cho một xứ sở thần tiên mà chị muốn có cho nông trường đã không bao giờ thực hiện được. Chị đã nói, nói miên man về giấc mơ không có thực ấy bằng giọng trầm và chùng hẳn xuống với nỗi buồn rất sâu… Chị không khóc, chuyện đã qua nhiều năm rồi, chắc chị cũng không còn nước mắt.

Trận cuồng phong đã đi qua, bây giờ, chị còn lại một mình, không nhà cửa, không vốn liếng… Nhưng chị không ngã, chị nói, chị không có quyền gục ngã. Vì chị là chị, Trần Ngọc Sương, Anh hùng lao động, chị sẽ làm lại từ đầu từ bàn tay trắng. Có rất nhiều đơn vị kinh tế muốn mời chị về làm cố vấn, lương tháng vài chục triệu, nhưng chị từ chối. Dễ hiểu thôi, vì mấy chục năm nay chị chỉ chịu đứng sau người cha quyết đoán của mình.Người cha mà chị vừa kính trọng vừa yêu thương ấy đã là chỗ dựa cho chị và chỉ đường cho chị tiến lên phía trước.

Ông mất, chị đã tiếp bước ông, xứng đáng với lòng tin yêu của ông. Bây giờ cũng sẽ bước tiếp, nhưng không còn nông trường, chị sẽ đi đúng con đường mà chị lẽ ra đã đi, nhưng vì thương cha mà chị đã ngoặt bước đi làm nông nghiệp. Chị bảo, từ năm 15 tuổi học lớp 8 chị đã đoạt giải nhất toàn tỉnh Bạc Liêu trong cuộc thi nữ công. Chị mê nghề thiết kế thời trang, mê nấu ăn, thêu thùa. Chị nói quần áo chị đều do chị tự thiết kế cho thợ may và niềm vui nhất của chị là tự tay nấu một bữa ăn ngon. Chị, người lãnh đạo rất quyết đoán của một nông trường nổi tiếng, hai lần đạt danh hiệu Anh hùng, là người phụ nữ tràn đầy trái tim nhân hậu và đầy nữ tính…

Chị Ba Sương với các sản phẩm làm ra bán dịp Tết Nhâm Thìn

Bây giờ thì chị sẽ trở về với nỗi đam mê từ bé của mình, bắt đầu bằng những lọ dưa kiệu, dưa hành, dưa món, những keo chanh muối, chanh dây, những gói chuối khô, trái cây đóng hộp… để phục vụ bà con trong dịp Tết này. Nhưng chị Ba Sương, điểm dừng của chị đâu chỉ là như thế, với kinh nghiệm tổ chức sản xuất, quản lý và chế biến các sản phẩm từ nông nghiệp hơn 30 năm qua; hiện tại chị đang tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện các công thức cho từng loại sản phẩm để sản xuất, đại trà và thành lập một chuỗi cửa hàng với thương hiệu Cô Ba Sương đạt chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm để phục vụ cho người tiêu dùng và phục vụ cho xuất khẩu...

Hỏi chị vốn ở đâu ra? Chị thở dài, vì không có vốn nên hiện nay chị chỉ làm theo dạng hợp đồng gia công thôi. Làm sao có thể tin được, giám đốc Nông trường Sông Hậu, nơi đã tiếp hàng ngàn đoàn khách tham quan học tập, khi bước chân ra khỏi nông trường không có nổi trăm triệu phòng thân. Chị cười, nếu chị muốn lúc đương thời còn làm giám đốc thì mỗi năm chị có thể bỏ túi cả chục tỉ, nhưng là đồng tiền đàng hoàng, không hề là tham nhũng.

Có gì đâu, mỗi năm chị xuất 300.000 tấn gạo, mỗi ký chị lấy hoa hồng 10đ thôi thì chị đã có 3 tỉ. Mỗi năm nhập 200.000 tấn phân bón, mỗi tấn lấy hoa hồng 1 đôla thôi thì chị đã có 200.000 đôla… Chị chỉ thí dụ một mảng vậy thôi để thấy nếu chị muốn giàu thì chị đã giàu, nhưng chị không làm vì chị là Ba Sương con gái ông Năm Hoằng, vì cuộc sống chị là nông trường, chị không có cuộc đời nào khác, dành cho ai khác ngoài mảnh đất này.

Chị rất giống ba, khí khái và ngang ngạnh như ba. Muốn làm cái gì là phải đi tới cùng. Chị không biết sợ khi tin chắc là mình đúng. Và chị biết, chính cái khí khái ấy đã làm chị tơi tả suốt mấy năm nay, nhưng chị không hề ân hận vì chị vẫn là chị, dù có lúc chị đã nghĩ tới cái chết. Chị nói, nếu họ quyết tâm bắt giam chị thì chị sẽ tự sát, chị không hề hù dọa ai, chị đã chuẩn bị sẵn tờ di ngôn để lại… Như chị đã viết trong lá đơn kêu cứu khẩn thiết tháng 8/2011 gửi đi 53 nơi: Tôi nghĩ rằng, thà rằng chết trước khi đưa ra xét xử còn được nén nhang của bà con cô bác, của hầu hết cán bộ, nhân viên Nông trường Sông Hậu vẫn hằng quý mến và đòi chân lý cho tôi còn hơn là chết ở trong tù trong nỗi oan ức triền miên và sự cô quạnh tột đỉnh…

Hỏi chị về vụ án Tiên Lãng, chị cười buồn. Đó là chuyện của cả nước, không riêng Hải Phòng. Chị từng là đại biểu Quốc hội khóa 8 nên Luật đất đai chị đã từng thảo luận nhiều lần. Câu “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” là đúng với tinh thần XHCN, nhưng khá mơ hồ. Vì vậy, trong tình hình đất đai ngày càng có giá như hiện nay, những người có quyền lực ở các địa phương có thể dựa vào đó để thu hồi đất của dân trái phép.

Ở Nông trường Sông Hậu, chị dựa vào sức mạnh tập thể là chính. Phải nhiều lần đưa ra công khai giáo dục, nếu không sửa đổi, vẫn chây lười không chịu làm mà cho người khác thuê mướn lại thì nông trường mới cắt hợp đồng… Vì đất nông trường là loại đất trồng cây hàng năm, đến khi hết hạn 20 năm theo Luật đất đai, với những gia đình nào làm ăn đàng hoàng thì sẽ được tiếp tục ký hợp đồng lại, bởi chính họ mới là người làm ra của cải cho nông trường, tại sao lại thu hồi đất để làm gì?


Theo Hoài Tố Hạnh blog
http://hoaitohanh.blogtiengviet.net/2012/06/30/char_ba_samanng_xama_va_nay_nga_ngar_c_n


Nông trường Sông Hậu, 30 năm nhìn lại

- Loạt bài trích đăng từ một công trình nghiên cứu về mô hình Nông trường Sông Hậu của một tiến sỹ, cũng là một nhà báo, tác giả Triều Hải Quỳnh.

Khởi nghiệp gần như từ tay trắng, chỉ sau 30 năm, từ một cái tên xa lạ và rất đỗi bình thường, Nông trường Sông Hậu (NTSH) đã làm ngời sáng tên tuổi của mình bằng hai lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động. Hai giám đốc của hai thế hệ kế tiếp đều được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới.

Kết quả của ba mươi năm xây dựng và phát triển của NTSH đã chứng tỏ mô hình sản xuất - kinh doanh tổng hợp, đa dạng và phương thức liên kết kinh tế rộng rãi với kinh tế hộ nông dân và các hợp tác xã nông nghiệp, các cơ quan khoa học, đào tạo… là những hướng đi đúng đắn và hợp lý.

 

Máy gặp đập liên hợp dùng thu hoạch lúa ở Nông trường Sông Hậu, hình ảnh sau 30 năm xây dựng và phát triển. Ảnh: CTV.

 

 

Những nghiên cứu bước đầu dưới đây của hai tác giả (Triều Hải Quỳnh và Tấn Vũ) nhằm góp một tiếng nói khẳng định những bước đi vượt thời gian của mô hình sản xuất - kinh doanh của NTSH sau 30 năm xây dựng và phát triển, để đông đảo bạn đọc có cái nhìn toàn cảnh về NTSH.

 

Bài 1: Cuộc chuyển đổi ngoạn mục ở vùng đất hoang hóa sình lầy

Những thành tựu mà NTSH đạt được về kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh quốc phòng đã thể hiện thành công một mô hình xã hội chủ nghĩa thu nhỏ. Bởi nếu so sánh chương trình 135/CP của Chính phủ về xây dựng 1.500 xã nghèo trên toàn quốc, thì NTSH là một xã nghèo tự lực hoàn toàn (thay vì lẽ ra Nhà nước phải “rót” vào đây một nguồn ngân sách rất lớn); trở thành xã khá và giàu sớm nhất của cả nước bằng việc phát huy nội lực trong quá trình xây dựng và phát triển.

 

Ông Lê Quang Đạo (nguyên Chủ tịch đoàn Chủ tịch UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khi đến thăm Nông trường ngày 8/8/1998) đánh giá: “… Nông trường đã đi từ không đến có, từ nhỏ đến lớn, từ thô sơ tiến lên ngày càng hiện đại, đi từ sản xuất có tính chất tự túc, tự cấp tiến lên sản xuất hàng hóa ngày càng lớn, từ nghèo nàn tiến lên ngày càng giàu có.

 

Nông trường đã coi trọng xây dựng cả cơ sở vật chất kĩ thuật và xây dựng con người, xây dựng cơ sở chính trị vững vàng, phát triển kinh tế đi đôi với giải quyết các vấn đề văn hóa xã hội, nâng cao không ngừng đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ, công nhân, nhân viên và tất cả các thành viên của nông trường… đem hết tâm huyết, sức lực, tài năng và trí tuệ sáng tạo ra một mô hình kinh tế tiên tiến xuất sắc, làm gương cho các cơ sở kinh tế trong cả nước, góp phần đáng kể để xây dựng đất nước ta tiến lên giàu mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh…”.

 

Đoàn người “đi mở đất” 30 năm trước

 

Nằm về phía Tây, cách thành phố Cần Thơ 30 km, NTSH được thành lập tháng 4 năm 1979 theo Quyết định số 33/QĐ-UBT của UBND tỉnh Cần Thơ. Tiền thân của NTSH là Nông trường Quyết Thắng, với ý nghĩa quyết tâm chiến thắng thiên nhiên, giặc giã, lạc hậu, đói nghèo. Trong hai thời kỳ kháng chiến, đây là nơi cán bộ kháng chiến nằm vùng.

 

Do địa hình sình lầy, cỏ lác ngập đầu, nên trong kháng chiến chống Mỹ, do không thể đi càn trên bộ nên quân đội Mỹ phải dùng phi cơ oanh tạc tự do từ trên cao nhằm biến nơi đây thành vùng đất trắng. Sau giải phóng, vùng đất heo hút và rộng ngút tầm mắt này một thời là chốn dung thân của đám tàn quân, sau này đã bị tiểu đoàn Tây Đô của Tỉnh đội Hậu Giang xóa sổ rồi thành lập Nông trường Quyết Thắng vào năm 1976.

 

Năm 1979, tỉnh Hậu Giang chủ trương cắt 50% diện tích từ Nông trường Quyết Thắng giao cho Ty Nông nghiệp Hậu Giang. Người thiếu tá cựu chiến binh, nguyên Chính ủy trường Quân chính Quân khu 9, nguyên huyện đội trưởng huyện Châu Thành, sau đó là Phó giám đốc Ty Nông nghiệp Hậu Giang Trần Ngọc Hoằng (Năm Hoằng) đã xin tự nguyện về đây để xây dựng Nông trường.

 

Cố giám đốc Trần Ngọc Hoằng (Năm Hoằng, người mặc áo đen, đứng) và bà Trần Ngọc Sương (ngồi gần ông Hoằng) gầy gò thời kỳ đầu xây dựng Nông trường như mọi nông trường viên. Ảnh: CTV.

 

Đoàn người “đi mở đất” do đồng chí Năm Hoằng là đảng viên duy nhất phụ trách ngày ấy chỉ có 16 người, gồm nam nữ đoàn viên thanh niên, bộ đội xuất ngũ, có cả học sinh trung cấp vừa ra trường. Tài sản buổi đầu chỉ có 3.450 ha đất, 10 chiếc máy kéo mua chịu, 50 ngàn đồng để mua sắm nồi chảo, gạo mắm phục vụ cho “cuộc đọ sức với thiên nhiên”.

 

Qua ba thập kỷ, trải qua 3 giai đoạn xây dựng-phát triển, NTSH đã có những bước tiến vượt thời gian mà dấu ấn của những bước tiến ấy là những thành tựu nổi bật trên tất cả các lĩnh vực từ xây dựng phát triển kinh tế bền vững đến đảm bảo công bằng và an sinh xã hội, từ đào tạo đội ngũ cán bộ cơ sở đến xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, từ chăm lo thế hệ trẻ đến việc chăm lo, phụng dưỡng người cao tuổi…

 

Rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà quản lý, nhà kinh tế… khi đến đây đều có chung một nhận định: NTSH đã “làm nên một huyền thoại trong lĩnh vực nông nghiệp ở đồng bằng sông Cửu Long”. Huyền thoại đó gắn liền với ba cuộc chuyển đổi diễn ra qua ba thời kỳ, tùy hoàn cảnh cụ thể được định hình chuẩn xác và triển khai một cách năng động với một bản lĩnh vững vàng và tinh thần cách mạng đầy sáng tạo.

 

Cuộc chuyển mình thứ nhất: Dựng cơ đồ từ tay trắng

 

Giai đoạn khởi đầu này (1979 - 1989), được xác định đây là thời kỳ xây dựng cơ bản với ba nhiệm vụ trọng tâm là tập trung mọi điều kiện để chuyển đổi căn bản từ sản xuất lúa mùa nổi một vụ sang sản xuất lúa đặc sản 2 vụ; thực hiện cơ giới hóa trong sản xuất; xác lập và ổn định một số ngành nghề căn bản trong sản xuất nông - công nghiệp.

 

Chính trong giai đoạn đầy khó khăn thách thức này đã bắt đầu hình thành cơ sở cho những bước đi vượt thời gian của nông trường Sông Hậu.

 

“Đòn bẩy kinh tế” đầu tiên mà cố giám đốc Năm Hoằng áp dụng là đất đai được cải tạo đến đâu, tùy theo khả năng lao động, Nông trường khuyến khích các hộ nhận khoán đến đó. Nội dung chủ yếu của phương thức khoán là Nông trường hoàn toàn đầu tư vốn, đảm nhận các khâu cày đất, cung cấp giống, phân bón, tưới tiêu nước; hộ dân nhận đất, bỏ công chăm sóc, thu hoạch và nộp khoán cho Nông trường theo mức quy định, phần vượt khoán họ được hưởng trọn.

 

Thu hoạch lúa trong những năm đầu gầy dựng nông trường Sông Hậu. Ảnh: CTV.

 

Trong điều kiện Nông trường không được nhà nước cấp vốn, người lao động không ai được hưởng lương “biên chế”, cách làm mới mẻ mà giám đốc Trần Ngọc Hoằng gọi là “Phương cách tự cân đối, tự trang trải” với tính thiết thực của nó trong việc bảo đảm ba lợi ích: Nhà nước, tập thể nông trường và nông dân đã có một sức hút mạnh mẽ đối với người dân.

 

Phương thức giao khoán đã giúp các hộ nông trường viên có đất, tìm được bát cơm manh áo trên mảnh đất nhận khoán của mình nhờ mô hình đa canh, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất dưới sự hướng dẫn của đội ngũ cán bộ kỹ thuật của Nông trường. Người dân từ chỗ lang bạt trên những chiếc xuồng cũ nát, cuộc sống trôi nổi, bấp bênh bởi “ba không” (không nhà cửa, không đất đai, không việc làm), khi trở thành hộ nông trường viên, họ đã thực sự đổi đời nhờ Nông trường cùng lúc đem đến “nhiều có”: đó là có đất để sản xuất, có việc để làm, có vốn để sản xuất, có nhà ở, trường học, trạm y tế...

 

Không đâu khác, chính cuộc sống mới hứa hẹn “an cư lạc nghiệp” đã mang đến cho họ niềm tin, thôi thúc họ tìm đến và tự nguyện “neo” lại với Nông trường ngày càng đông.

 

Quả vậy, trong khi cùng thời điểm, hầu hết các nông trường trong cả nước đang loay hoay tìm hướng đi hoặc đang trong tình cảnh “làm đâu lỗ đó”, “làm ít lỗ nhiều” thì ở NTSH, chỉ sau 4 năm (1979-1982), “tiếng lành” đã “đồn xa”, vượt ra khỏi phạm vi địa phương và khu vực. Bằng sức người là chính, kết hợp với sự hỗ trợ của máy móc, NTSH đã đào 21 km kênh mương, phục hóa hoàn toàn 3.450 ha đất canh tác, nhanh chóng chuyển đổi trên 3.000 ha đất hoang hóa từ quảng canh sang thâm canh, đưa sản lượng lương thực nộp nhà nước lên 5.000 tấn, gấp 7 lần năm đầu.

 

Cùng với trồng trọt, Nông trường đẩy mạnh phát triển mạnh chăn nuôi với mục đích tăng hiệu quả kinh tế và tạo thế tương hỗ trong sản xuất ttheo phương châm “vững cả hai chân”. Một trại heo giống Yóoc - sai 700 con, trại ngỗng giống Hung-ga-ri, trại vịt giống Bắc Kinh, Hà Lan hàng chục ngàn con, đàn trâu cày kéo, sinh sản hàng trăm con… đã giúp Nông trường tăng vốn tài sản, tăng thu nhập cho cán bộ, nông trường viên, góp phần nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng.

 

Liên tục bốn năm, NTSH được tỉnh và Bộ Nông nghiệp công nhận là đơn vị xuất sắc. Trong báo cáo tổng kết 4 năm đầu hoạt động của NTSH, Tỉnh ủy Hậu Giang khẳng định: “Phương thức quản lý của nông trường là thích hợp với trình độ sản xuất và điều kiện kinh tế - xã hội trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Hậu Giang”. Tỉnh ủy cũng có chỉ thị yêu cầu “… các nông, lâm trường trong tỉnh phải đến nghiên cứu, học tập kinh nghiệm làm ăn của NTSH”.

 

Tin tưởng ở hướng đi mới và hiệu quả sản xuất của Nông trường, năm 1984, khi Tiểu đoàn Tây Đô được rút đi làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới Tây Nam, UBND tỉnh Hậu Giang quyết định tiếp tục giao 50% diện tích còn lại của Nông trường Quyết Thắng cho NTSH, đưa tổng diện tích của Nông trường lên xấp xỉ 7.000 ha.

 

Cái mới vốn thường ra đời trong bi kịch

 

Tuy nhiên, cái mới vốn thường ra đời trong bi kịch, thưòng phải đối diện với những phán xét và sự hoài nghi. Cách làm “không giống ai” của ban Giám đốc NTSH mà người khởi xướng là giám đốc Trần Ngọc Hoằng buổi đầu khó tránh khỏi những điều tiếng dị nghị.

 

Ngôi nhà xây cao tầng đầu tiên ở Nông trường Sông Hậu chính là trường học. Ảnh: CTV.

 

Nhưng với ý chí “gặp sóng cả không ngã tay chèo” của người Đảng viên cộng sản, Ban Giám đốc Nông trường vẫn vững tin: tính mục đích, hiệu quả của mô hình làm ăn mới trước hết là vì dân và cho dân, tự nó sẽ có sức thuyết phục.

 

Thực tiễn đã chứng minh, những bài học được rút ra từ thực tiễn ở NTSH sau đó không chỉ đã góp phần vào sự ra đời của một chủ trương (khoán hộ) hợp lòng dân mà còn đánh thức mọi tiềm năng, mang đến cho con người và đồng ruộng một sức sống mới. Sau này, trên cơ sở cách làm thành công của các đơn vị quốc doanh, trước hết là từ NTSH, Trung ương Đảng đã có Chỉ thị 100 về khoán sản phẩm trong nông nghiệp.

 

Kết thúc chặng đường 10 năm tạo dựng (1979-1989), NTSH đã trở thành một “hiện tượng mới” của kinh tế quốc doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, được biểu hiện bởi các thành tựu nổi bật. Đó là hoàn thành việc cải tạo đồng ruộng, cơ bản xác lập và xây dựng công trình thủy lợi với hệ thống bờ bao phục vụ tưới tiêu, kết hợp xây dựng hệ thống giao thông nội bộ hoàn chỉnh. Thực hiện cơ giới hóa gần như toàn bộ các khâu trong sản xuất nông nghiệp.

 

Chuyển đổi 100% diện tích lúa mùa nổi một vụ thành đất trồng lúa 2 vụ ăn chắc với diện tích 5. 640,7 ha, nâng tổng sản lượng bình quân từ 2000 tấn/năm trước đây lên trên 60. 000 tấn/năm, mở ra một hướng mới trong trong sản xuất là kết hợp mô hình canh tác lúa - nuôi trồng thủy sản trên 5.000 ha đất, đạt tỷ lệ 90% diện tích.

 

Hình thành khá đầy đủ, đồng bộ hệ thống hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống như trạm biến thế, lò gạch, nhà xưởng, kho tàng, phương tiện vận chuyển; hệ thống đường sá - trường học - trạm y tế - nhà văn hóa… tạo ra những điều kiện cơ bản và thuận lợi để bảo đảm cho người dân vừa có điều kiện “an cư”, vừa có cơ hội “lạc nghiệp. Xây dựng được bộ máy quản lý và sản xuất kinh doanh gồm 245 người, thu hút 1.100 hộ vào làm nông trường viên với trên 3. 000 lao động (tính đến năm 1985); thành lập chi bộ đảng có 15 đảng viên, chi đoàn 55 đoàn viên, tổ chức công đoàn với 170 đoàn viên…

 

Với 35 tỷ đồng vốn vay ngân hàng là chủ yếu và tích cóp lợi nhuận từ sản xuất để đầu tư cho mua sắm máy móc, thiết bị, cộng với sức người, Nông trường đào đắp và san ủi trên 24 triệu m3 đất, tạo nên 200 km kinh mương thủy lợi, xây dựng 300 cống lớn nhỏ và 2 trạm bơm điện… nhờ đó đã đưa toàn bộ diện tích canh tác của Nông trường từ đất loại 5, loại 7 lên thành “nhất nhị đẳng điền”, chuyển hoàn toàn từ quảng canh sang thâm canh, đạt năng suất bình quân 9 tấn/ha.

 

Trong khi cùng thời điểm, cả nước có khoảng 400 nông trường quốc doanh, phần lớn đang bối rối trong việc tìm hướng đi, thì ở NTSH, hầu hết hộ dân nhận khoán với Nông trường đã tự tổng kết rằng: Nhận khoán ở NTSH, hộ nông trường viên có được những cơ hội và điều kiện mà chắc chắn không nơi nào có được. Đó là trong sản xuất không sợ bị thiên tai bão lũ vì có những lũy bạch đàn và có đê bao cao ngăn chặn gió bão, lũ lụt; sản xuất đạt hiệu quả cao vì có hệ thống thủy lợi chủ động tưới, tiêu nước và mạng lưới dịch vụ bảo vệ thực vật với trang thiết bị kỹ thuật vật tư đầy đủ.

 

Được gieo trồng giống tốt, được Nông trường hỗ trợ phương tiện sản xuất và phương pháp canh tác tiên tiến; sản xuất không sợ lỗ vì được Nông trường bảo hiểm giá và bao tiêu sản phẩm; quyền làm chủ của nông trường viên và CBCNV luôn được phát huy nhờ cơ chế khoán hấp dẫn, công bằng, minh bạch.

 

CBCNV và con em nông trường viên được quan tâm đào tạo, được học hành chu đáo nhờ hoàn toàn được bao cấp bằng quỹ tích lũy tập thể và nhờ Nông trường thực hiện xã hội hóa giáo dục hiệu quả. Ở NTSH không sợ bị thất nghiệp, không có các tệ nạn xã hội vì Nông trường luôn quan tâm đến việc làm, thu nhập; chú trọng đến đời sống tư tưởng và văn hóa tinh thần, coi trọng xây dựng và phát huy vai trò của các đoàn thể và có phong trào bảo vệ trật tự - an ninh quần chúng tốt.

Bên cạnh đó, góp phần cùng Nhà nước trong việc giúp người dân có đất sản xuất và ổn định đời sống, trong 3 năm (1989 - 1991), dù phải đương đầu với bao khó khăn, thách thức nhưng NTSH đã tiếp nhận thêm trên 1.300 hộ nông dân, đưa họ vào sản xuất theo cơ chế khoán sản phẩm.

Đều đặn từ 1990 trở đi, theo yêu cầu của tỉnh và bằng khả năng của mình, năm nào Nông trường cũng tiếp nhận thêm hàng trăm hộ, nâng số hộ nông trường viên lên 2.800 hộ với hơn 10.000 lao động, gần 15.000 nhân khẩu.

 

Năm 1993, trước tình hình một bộ phận nông dân do từng bỏ đi hoặc đã giao đất cho chủ cũ nên bị mất đất sản xuất, thay vì phải trông chờ vào Nhà nước, Nông trường quyết định vay trên 16 tỷ đồng lúc lãi suất tăng cao để thực hiện chi trả thành quả lao động cho số hộ cũ có đất tại Nông trường, được nông dân phấn khởi và nhiệt liệt hưởng ứng (phần vốn và lãi phát sinh hoàn toàn do Nông trường tự trả, sau 10 năm đã lên trên 50 tỷ đồng, đến năm 2002 mới được nhà nước thừa nhận bồi hoàn gốc vay).

 

Sau đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng, Văn phòng Trung ương Đảng có văn bản giới thiệu 15 đơn vị “điển hình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta”; trong đó riêng với mô hình thực tiễn của NTSH.

 

Văn bản trên kết luận: “Kinh nghiệm của Nông Trường Sông Hậu có ý nghĩa phổ biến… Các nông trường, cả lâm trường có thể nghiên cứu áp dụng kinh nghiệm Nông Trường Sông Hậu, áp dụng đầy đủ cơ chế tự cân đối, tự trang trải và chuyển đại bộ phận lao động biên chế sang lao động hợp đồng khoán sản phẩm đến từng gia đình công nhân đi đôi với khuyến khích giúp đỡ phát triển kinh tế gia đình của công nhân”.

 

Như vậy, khởi đầu gần như từ tay trắng, nhưng nhờ "nhận ra cái khó, nhìn tỏ cái khôn", những thành quả mà Nông trường Sông Hậu đạt được có thể nói là ngoài sức tưởng tượng.

Ghi nhận những đóng góp xuất sắc đó, chỉ sau 6 năm xây dựng, năm 1985, NTSH được Nhà nước phong tặng danh hiệu “Đơn vị Anh hùng Lao động".

Trung ương đã nêu lên 5 kinh nghiệm từ mô hình Nông trường Sông Hậu: Mô hình quốc doanh với cơ chế tự trang trải và sử dụng lao động hợp đồng của nông dân theo cơ chế khoán sản phẩm đã giải quyết được khó khăn về vốn ban đầu; Tạo ra sự kết hợp trực tiếp giữa kinh tế nhà nước và kinh tế nông dân, vừa sử dụng và phát huy năng lực sản xuất vốn có của nông dân, vừa sử dụng lực lượng quốc doanh làm dịch vụ nông nghiệp một cách có hiệu quả; tổ chức bộ máy gọn nhẹ, tránh được các hiện tượng tiêu cực do quan liêu bao cấp đẻ ra, tiết kiệm được chi phí, bảo đảm đời sống, tăng tích lũy; với cơ chế tự chủ tài chính, tự trang trải, Nông trường đã phát huy quyền chủ động trong sản xuất kinh doanh

  • Triều Hải Quỳnh và Tấn Vũ (tác giả là Tiến sỹ, hiện là Biên tập viên của Tạp chí Cộng sản. Những nội dung trong loạt bài này trích từ nghiên cứu năm 2008 của tác giả).

     

Theo vietnamnet.vn
http://vnn.vietnamnet.vn/xahoi/200911/Nong-truong-Song-Hau-30-nam-nhin-lai-877286/


'Gian nan là nợ...' ở Nông trường Sông Hậu

 - Tháng 4/1979, 16 chàng trai, cô gái đi theo Giám đốc Trần Ngọc Hoằng bơi xuồng vào vùng đất hoang hóa sình lầy để 30 năm sau lo được cuộc sống ấm no cho gần 16 ngàn người dân.

Dường như ông trời cũng bất công: Người hay lo thường vất vả! Người xưa có câu:  “Lao xao sóng vỗ ngọn tùng/ Gian nan là nợ anh hùng phải vay”, vận vào trường hợp này ngẫm thấy đúng.

16 người, 30 năm và ấm no của gần 16 ngàn người

Năm 2000, chị Ba Sương được tặng danh hiệu Anh hùng Lao động và là một trong số hiếm hoi phụ nữ ngành nông nghiệp thời đổi mới được phong tặng danh hiệu cao quý này. Năm 2002, tại Diễn đàn Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương tổ chức ở Singapore, chị được tặng danh hiệu “Người phụ nữ ấn tượng châu Á - Thái Bình Dương" về kinh doanh.



Những danh hiệu ấy và nhiều danh hiệu khác là sự đánh giá công lao của chị với cộng đồng.

Có thể hình dung một cách rất khái quát như thế này: Cả nước ta có 1.500 xã nghèo thuộc diện 135, tức là diện rất nghèo được chương trình 135 của Chính phủ ưu tiên đầu tư để thoát nghèo.

Nếu so sánh với các xã 135 ấy, điểm xuất phát của Nông trường Sông Hậu xếp hàng cuối cùng, nghĩa là nghèo nhất, nghèo đến mức hầu như không có gì ngoài đất đai hoang hóa, bùn lầy.

Tháng 4/1979, mười sáu chàng trai cô gái đi theo Giám đốc Trần Ngọc Hoằng bơi xuồng vào vùng đất ấy với 10 chiếc máy kéo mua chịu của Chi cục Cơ khí Hậu Giang và 50.000 đồng vay của Phòng Lao động - Thương binh - Xã hội huyện Thốt Nốt để mua gạo, muối, nồi, niêu, bát đũa và dựng mấy túp lều.

Nhưng cái xã 135 nghèo nhất là Nông trường Sông Hậu thời kỳ đầu ấy đã thoát khỏi đói nghèo sớm nhất trong 1.500 xã nghèo. Thoát nghèo mà không tốn tiền ngân sách. Thoát nghèo hòan toàn bằng tự lập, bằng sức lao động bền bỉ cộng với khoa học kỹ thuật và với tư duy sáng tạo, dám nghĩ dám làm.

Đó là điều cuối cùng quan trọng nhất và là cội nguồn sức mạnh của Nông trường, vượt qua các khó khăn trở ngại để đi đến thành công. 


Nông trường có 3.000 hộ với gần 16.000 nhân khẩu, từ đói nghèo hạng nhất đi lên mà mấy chục năm nay, không cần ai phải đến cứu đói. Chỉ có Nông trường đi cứu đói nơi khác.

Những năm đồng bằng sông Cửu Long gặp lũ lớn, nhiều nơi dân tình nháo nhác khổ sở trăm bề, vùng đất Nông trương Sông Hậu vẫn bình yên. Những khi đồng bằng sông Cửu Long gặp dịch bệnh, sản xuất khốn đốn như năm 1992 bị dịch rầy nâu hoành hành xơ xác thì lúa ở Nông trường Sông Hậu vẫn xanh tốt. Năm ấy không những vẫn đạt sản lượng cao mà Nông trường còn có 10.000 tấn lúa kháng rầy cung cấp cho nông dân trong vùng làm giống.

Rồi những xã giàu trầy trật với vấn đề “ly nông bất ly hương” và vấn đề lao động dư thừa thì Nông trường Sông Hậu đã xây dựng xong 16 xí nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, lâm sản, cơ khí để thu hút 2.000 người vào làm việc.

Do đó, khi ở nhiều nơi, không ít nông trường quốc doanh thua lỗ nặng nề thì Nông trường vẫn có lời. Chỉ tính từ 1993 đến 2005 trả lãi vay ngân hàng hơn 235 tỷ đồng, nộp ngân sách hơn 82 tỷ đồng. Vài năm gần đây bị “búa rìu” dư luận chĩa vào nhưng Nông trường vẫn đứng vững bởi Nông trường đứng trên đôi chân của mình, đi lên bằng nội lực của mình, đã quen với sóng gió.

Năm 2007, Nông trường là một trong 129 doanh nghiệp cả nước được trao “Giải thương hiệu mạnh Việt Nam” và chị Ba Sương được tặng danh hiệu “Người phụ nữ tài năng tòan quốc”.

Có một sự kiện không nhiều người biết là Nông trường Sông Hậu đã cử hai cán bộ trẻ tham gia “Tuần lễ nông dân Indonesia” từ ngày 6 đến 12/7/2007. Đây là họat động thường niên của Indonesia, năm 2007 có đại diện nông dân các nước Nhật Bản, Thái Lan, Phi-líp-pin, Căm-pu-chia, Mi-an-ma tham dự.

Hai cán bộ của Nông trường Sông Hậu được phía bạn mời trực tiếp, đại diện cho nông dân Việt Nam là anh Huỳnh Quốc Quân và Nguyễn Tuấn Anh. Trong khuôn khổ Tuần lễ có hội thảo “Diễn đàn nông dân ASEAN” do Bộ Ngọai giao, Bộ Nông nghiệp và Ban thư ký ASEAN tổ chức ngày 8/7, mô hình đa canh của Nông trường Sông Hậu đã được đánh giá cao bởi giải quyết được 4 vấn đề lớn của nông dân ASEAN hiện nay: Giúp nông dân tiếp cận nguồn vốn ngân hàng; đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng; tạo thương hiệu cho nông sản để vào các thị trường phát triển; và cuối cùng thu hút được tuổi trẻ ở lại với nghề nông.

Khi anh Nguyễn Tuấn Anh tự giới thiệu bằng tiếng Anh rằng anh là nông dân thế hệ thứ 3 ở Nông trường Sông Hậu, một Nông trường từ 16 người khai phá ban đầu nay có gần 16.000 dân thì buổi hội thảo vỗ tay kéo dài.

Sau những bộn bề

Lo cho hàng vạn nông dân có cuộc sống no đủ và có tương lai ổn định là giải quyết được vấn đề rất lớn có tầm khu vực, vấn đề của nhiều châu lục trên thế giới. Một vấn đề lớn như thế, nếu thu hút hết tinh lực của một hay hai cuộc đời, thậm chí nhiều hơn thì cũng là điều dễ hiểu.

Nên dù đã được tặng nhiều danh hiệu cao quý, mỗi lần gặp chị Ba Sương, tôi vẫn thấy chị tất bật bận rộn.

Cán bộ Văn phòng Nông trường kể, trong chiếc xe con chị thường đi, chị chuẩn bị sẵn cái gối nhỏ và tấm mền mỏng, rất nhiều khi chị đi suốt đêm trên đường, xe chạy và chị nằm ngủ co ro, đến nơi nào đó vừa sáng là chị làm việc luôn với đối tác, với khách hàng của Nông trường. 



Một tối nọ, tôi đi công tác và ghé vào Nông trường Sông Hậu để hỏi thêm một số thông tin. Khu Nông trường bộ ban tối im ắng, chỉ có mấy ngọn đèn điện lặng lẽ tỏa thứ ánh sáng nửa trắng nửa vàng êm đềm và đượm buồn. Tôi tính đi tìm cán bộ kỹ thuật thì nhác thấy phòng làm việc của chị Ba Sương mở cửa, liếc vào thấy chị đang nằm còng queo trên ghế xem ti vi.

Vóc dáng chị vốn nhỏ, khi nằm còng queo trông càng nhỏ, lọt thỏm trong cái ghế sa lông nom như một cô bé, xung quanh vắng vẻ, chỉ có tiếng nói đều đều phát ra từ ti vi làm cho sự vắng vẻ càng thêm hiu hắt. Một sự cô đơn bao trùm gian phòng! Sự cô đơn se sắt thật khó tả thành lời.

Chỉ có thể hình dung để suy ngẫm mà thôi, là cách một đỗi không xa, theo con đường thoáng đãng kia đi tiếp sẽ bắt gặp những ngôi nhà ấm cúng tràn đầy tiếng nói cười, tiếng của người già xen lẫn tiếng trẻ thơ, tiếng của chồng dịu dàng bên tiếng vợ, tiếng trẻ học bài, tiếng guốc dép đi lại, và có thể cả tiếng mè nheo đòi ăn, đòi uống, đòi chơi, có thể có tiếng cộc cằn không kiềm chế hòa với tiếng gà lục cục trong chuồng, chó sủa đổng bóng trăng và gió xào xạc ngọn cây…

Tất cả âm thanh trộn lẫn ấy làm nên một không gian trìu mến không gì thay thế được: Hạnh phúc gia đình!

Nhưng sẽ chẳng có gì phải nói thêm ở đây, nếu tôi không nhìn thấy một sự cô đơn khác lớn hơn ở chị Ba Sương: Nỗi cô đơn trong công việc. 

Trở lại thời điểm năm 1989, khi tôi hỏi chị là có người cho rằng Nông trường Sông Hậu tổ chức sản xuất theo phương thức tư bản chủ nghĩa? Chị trả lời ngay: “Có thể, nhưng phân phối thu nhập theo phương thức xã hội chủ nghĩa”. Tôi đã viết câu này lên báo bởi tôi thấy sự năng động lạ lùng trong đó, năng động trong tư duy.

Lúc đó, nói đến tư bản chủ nghĩa là người ta thường nghĩ đến một cái gì tương tự với phủ định chủ nghĩa xã hội, cũng như thể phủ định chế độ hiện hữu, một điều “hứa hẹn” nhiều lôi thôi trong cuộc sống.

Nhưng làm việc theo “cách” tư bản chủ nghĩa để thực hiện “mục tiêu” xã hội chủ nghĩa thì vấn đề đã khác rồi. Vế trước chỉ là phương tiện, vế sau mới quan trọng: vế sau còn là tư tưởng, lập trường.

Cuộc sống phát triển, đôi khi con người lại vướng vào những khái niệm do chính mình đặt ra mà không thể nhảy qua như nhảy qua một ngọn núi, phải đau đầu nghĩ ra khái niệm thay thế.

(còn tiếp)

  • Sáu Nghệ 
     
    (Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả - nhà báo hiện sống ở ĐBSCL)

    Theo vietnamnet.vn
    http://vnn.vietnamnet.vn/xahoi/200911/Gian-nan-la-no-o-Nong-truong-Song-Hau-876693/


    Nhìn lại vụ án Nông trường Sông Hậu: Một lần viết báo nói dối


    (Tamnhin.net) - Ngày 19/1/2012, Viện KSND TP Cần Thơ đã trao quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can đối với bà Trần Ngọc Sương, cựu GĐ Nông trường Sông Hậu và 4 người khác. Nhân dịp này, tôi xin có lời đính chính một chi tiết cố ý viết sai sự thật trong lần đưa tin TAND TP Cần Thơ xử phúc thẩm ngày 19/11/2009.

    Bà Trần Ngọc Sương được cựu Phó thủ tướng Đoàn Duy Thành đến thăm tại Cần Thơ ngày 19-11-2011.
    Người đứng là luật sư Nguyễn Trường Thành, bảo vệ quyền lợi cho bà trong vụ án Ảnh: Sáu Nghệ

    Tin ấy, đoạn kết như sau: “Suốt buổi sáng xét xử, bà Sương bị bệnh, không thể đứng nên được phép ngồi trả lời. Khi Hội đồng xét xử nghị án, bà Sương bệnh trở nặng, phải vào cấp cứu ở Bệnh viện Hoàn Mỹ - Cửu Long, nên khi tòa tuyên án không có mặt. Bà Sương đã được xe cấp cứu chuyển lên Bệnh viện Thống Nhất ở TPHCM trong đêm”. Thực tế, đêm hôm ấy và mấy ngày sau, bà Trần Ngọc Sương, cựu Giám đốc Nông trường Sông Hậu, vẫn ở Cần Thơ.

    Cố ý viết sai sự thật, tôi xin phép được trình bày nguyên nhân như sau. Từ khi mở ra vụ án ở Nông trường Sông Hậu, nỗi lo sợ lớn nhất của nữ Anh hùng Lao động Trần Ngọc Sương là bị bắt vào tù. Cũng dễ hiểu nên nhiều người và tôi chia sẻ. Nên những lần bà phải tiếp nhận các văn bản tố tụng của vụ án, bà đều tìm cách để không bị bắt giữ, sau mỗi lần như thế, tôi cùng nhiều người thầm chung vui cùng bà.


    Nhưng ra tòa phúc thẩm, bản án tuyên là có hiệu lực thi hành ngay, làm sao tránh được bị bắt vào tù? Suốt buổi sáng căng thẳng, tình hình đã rất rõ là tòa sẽ y án sơ thẩm 8 năm tù với bà Sương. Lúc đó khoảng 13 giờ 20 phút, tòa nghỉ để nghị án và cho biết, 15 giờ sẽ tuyên án. Bản thân tôi lúc đó rất mệt mỏi, còn bà Sương chắc chắn mệt mỏi gấp bội phần. Nhưng về nhà người em của bà cách tòa án chừng cây số, bà vẫn không dám nghỉ mà còn phải suy tính làm sao để không bị bắt. Cho đến giờ, tôi không hiểu được sức mạnh ở đâu cho bà như vậy, trong một cơ thể nhỏ bé, già yếu lại bệnh tật mà một nhà thơ đã viết “ngoài hiên trát gọi, thân còm chị đi”. Luật sư Nguyễn Trường Thành đề xuất, khi tuyên án, bà giả ngất xỉu. Bà lắc đầu, mình là Anh hùng không thể gục ngã như thế được. Tính toán 36 chước, chỉ thấy bỏ chạy trước là hay.


    Bà trùm khoăn kín mặt, đeo kính, để một người em chở bà chạy theo Quốc lộ 91 ngược mạn Trà Nóc, xuống một bến phà để sang sông Hậu và lên bờ tỉnh Đồng Tháp rồi kiếm xe chạy về thành phố Hồ Chí Minh. Bà phải trùm kín mặt, và không đi đường qua phà Cần Thơ đông người (lúc đó còn phà, chưa có cầu Cần Thơ) để tránh bị phát hiện. Vì nếu bị phát hiện, biết đâu bà sẽ bị chẹn bắt giữa đường? Tôi xót xa cho bà vô cùng, hồi nào đi đâu cũng được long trọng đón tiếp, nhiều hoa và tiếng vỗ tay. Nhưng nom bà vẫn rắn rỏi, nhẹ nhàng bình tĩnh như không, chỉ có nước da tái nhợt càng tái nhợt trong nắng gắt quá trưa.


    Sau này, tôi biết, bà một mình lủi thủi xuống chiếc phà cũ kỹ, người bà đã nhỏ còn phải cố thu mình để khuất lấp giữa nhiều người khác, vượt sông Hậu mênh mông. Không biết sông Hậu lúc đó xanh hay bạc, sóng lớn hay nhỏ, chỉ biết sông Hậu muôn đời rộng mênh mông, chiếc phà cũ kỹ đi mãi rồi cũng qua, lên được bờ, bà nhìn quanh rất nhanh và bước đến một ông xe ôm luống tuổi, nhờ chở đến bến xe cách đó mấy chục cây số. Từ sáng bà chưa ăn gì, chắc lúc ấy bà đói và sắc mặt nhợt nhạt lắm nên ông xe ôm luống tuổi phải giật mình, khi được nhờ đã vội chạy mua cho bà ổ bánh mì và chai nước. Không dám nấn ná lâu ở bến phà, vừa ngồi sau xe ôm, bà vừa gặm ổ bánh mì. Chiếc xe đang chạy thì điện thoại di động của bà đổ chuông, bà ngừng nhai bánh mì. Người em cho biết, tòa tuyên y án sơ thẩm nhưng không bắt ai, cho tất cả về nhà. Bà hỏi lại, có thật không bắt ai? Người em khẳng định lần nữa, những người bị kết án không bị bắt và họ đã về nhà hết rồi. Bà nói nhỏ với người chạy xe ôm, cho bà quay lại bến phà để trở về Cần Thơ.


    Nhưng khi viết tin, tôi và vài đồng nghiệp cùng luật sư của bà suy tính, biết đâu đêm nay hay ngày mai, ngày kia sẽ bắt bà? Nên bàn với nhau, viết bà bị bệnh nặng, đang phải cấp cứu ở bệnh viện nào đó. Nhưng hôm sau, có một tờ báo làm phóng sự ảnh, chụp bà ngồi trên ghế bố ở nhà người em của bà ở Cần Thơ và chú thích, chụp đêm 19-11. Tựa như “lạy ông tôi ở bụi này”, chúng tôi lại nơm nớp lo. Nhờ trời, tất cả vẫn êm.


    Chi tiết cố ý viết sai sự thật không hại ai nhưng tôi rất băn khoăn, mong có dịp nói lại. Nay đã có sự khoan dung, vụ án được đình chỉ, cũng là dịp cho phép tôi giải trình và kính gửi lời xin lỗi quý bạn đọc về chi tiết viết sai.


    Đến đây, tôi chợt nhớ chuyện khác về bà Sương, liên quan một người bạn của tôi ở một tạp chí nghiên cứu lý luận. Anh bạn này biết bà Sương khi bà đã lâm nạn, nhưng ngày bà phải rời ngôi nhà của Nông trường Sông Hậu ở thành phố Hồ Chí Minh để đi kiếm nhà trọ, vợ chồng anh lại có mặt giúp đỡ. Đồ đạc của bà hầu như chẳng có gì và anh bạn kể, có giá trị nhất là chiếc va li lớn đã cùng bà đi nhiều nước trên thế giới. Va li trống rỗng, nhận biết được đã qua nhiều cửa khẩu hàng không quốc tế vì có tem dán chi chít, và giá trị cũng chỉ ở dấu vết tem dán ấy, dấu vết của một thời vang bóng!


    Nhưng thời không vang bóng mấy năm qua, bà lại được nhiều người làm thơ đề tặng, những người đã gặp lẫn chưa từng gặp bà. Bài Về một người anh hùng của Đoàn Xuân Hòa, tháng 12 năm 2010, với lời đề “Kính tặng chị Ba Sương” có những câu: “Hậu Giang gió nổi bời bời/ Người ta một nắng, chị thời … Ba Sương/ Theo cha đi mở nông trường/ Sáu mươi tóc vẫn còn vương mùi phèn/ Giữa bùn lòng mở cánh sen/ Thương bao phận khó mà quên phận mình/ Không gia cư, chẳng gia đình”. Ôi, mọi hành trình đều có kết thúc! Sự kết thúc hành trình của bà vẫn trọn vẹn trở về trong tình yêu thương, quý trọng của rất nhiều người, có lẽ ông hoàng bà chúa cũng chỉ mong được vậy mà thôi.


    Sáu Nghệ


Theo Tamnhin.net

Comments