Trần Đăng Khoa

"Chiều buông ngọn khói hoang sơ. Tiếng chuông ngàn tuổi tỏ mờ trong mây" (Trần Đăng Khoa).  Văn chương đích thực là món ăn tinh thần sạch và ngon của người dân, là chân thiện mỹ, ngọc cho đời. Tôi tin nhiều thế kỷ, bạn đọc sẽ còn quay lại với Trần Đăng Khoa để hiểu một thời. May mắn thay tôi là người cùng thời. Nhận định về Lão Khoa, tôi cẩn thận đọc lại blog Lão Khoa, sắp xếp, bổ sung thêm bài viết Trần Đăng Khoa trong tôi cùng những bài của Khoa và những bài bạn bè viết về Khoa mà tôi đã tập hợp trong thư mục Trần Đăng Khoa: https://sites.google.com/site/hoangkimvietnam/tran-dhang-khoa 

NGỌC PHƯƠNG NAM. Trong các nhà văn nhà thơ đương đại, tôi thích nhất Nguyên Ngọc, Nguyễn Khải và Trần Đăng Khoa. Riêng về Lão Khoa, tôi may mắn ở chung xóm Lá nên trò chuyện tự nhiên, đôi khi suồng sả thân tình vì nghĩ mình người quen và nhiều tuổi hơn Khoa một chút. Đọc Đảo Chìm của Trần Đăng Khoa nhà văn Lê Lựu nhận xét : “Tất cả những truyện viết trong Đảo chìm, Khoa đã kể cho tôi nghe không dưới 10 lần, nhưng đến khi đọc văn vẫn thấy có cái gì như mình mới khám phá, như mới bắt gặp, như mới đột nhiên ngỡ ngàng và cứ như thần. Mà chuyện thì rõ ràng là đã nghe kể đến thuộc làu rồi”. Tôi cũng đã đọc Chuyện ở Quảng Bình của Trần Đăng Khoa không dưới 10 lần và tự mình tẩn mẫn chép vào thư mục cá nhân  những bài tâm đắc nhất..Lạ thật!  một thời gian sau rỗi rãi đọc lại. Như hôm trước 12 giờ đêm, tôi đọc lại lần nữa “Quyền lực thứ tư” vẫn thấy “có cái gì như mình mới khám phá, như mới bắt gặp, như mới đột nhiên ngỡ ngàng và cứ như thần”. Tài thật ! Đúng là văn chương đích thực:  giản dị, xúc động, ám ảnh ! Lão Khoa  Vài nét về thơ Việt Nam hiện đại đã xuất sắc khái quát nữa thế kỹ thơ Việt tại cuộc gặp gỡ các nhà thơ thế giới tổ chức tại Pháp từ ngày 22-5 đến 02-6- 2013. Tôi tâm đắc với bài viết và thật sự thú vị  khi đọc kỹ nhiều lần chính văn cùng những lời bình hay của bạn hữu xóm Lá. Khoa là giấy thông hành thơ Việt hiện đại đi ra thế giới.

Thần đồng văn chương

Trần Đăng Khoa sinh ngày 24 tháng 4 năm 1958 ở làng Trực Trì, xã Quốc Tuấn huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương là nhà thơ, nhà báo, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam hiện làm Trưởng ban Văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam, Giám đốc Hệ Phát thanh có hình.

Trần Đăng Khoa là thần đồng văn chương Việt Nam. Bài thơ đầu tiên của Trần Đăng Khoa được in trên báo Văn nghệ năm 1966 khi đó Khoa 8 tuổi, đang học kỳ hai lớp Một trường làng. Năm 1968, khi mới 10 tuổi, tập thơ đầu tiên của ông Từ góc sân nhà em (tập thơ tiếp theo là Góc sân và khoảng trời) được Nhà Xuất bản Kim Đồng  xuất bản. Tác phẩm nổi tiếng nhất là bài thơ “Hạt gạo làng ta”, sáng tác năm 1968, được thi sĩ Xuân Diệu hiệu đính, sau được nhạc sĩ Trần Viết Bính (Đồng Nai) phổ nhạc năm 1971.

Lúc bấy giờ chiến tranh ác liệt, bom đạn mù mịt và những bài thơ thuở thơ ấu của Trần Đăng Khoa từ một làng quê bé nhỏ hẻo lánh đã được bạn đọc cả nước đón nhận nồng nhiệt và được dịch ra hơn 40 thứ tiếng trên thế giới đầu tiên là nước Pháp, với chùm thơ in trên báo “Nhân đạo” năm 1968, do nhà thơ nhà báo Mađơlen Riphô dịch, giới thiệu và sau đó là tập thơ “Tiếng hát kế tục”, mà Trần Đăng Khoa có tới 35 bài. Cũng năm đó, hãng Truyền hình Pháp đã làm một cuốn phim tài liệu dài 30 phút mang tên “Thế giới nhỏ của Khoa” (Le petit monde de Khoa) do đạo diễn Gerard Guillaume trực tiếp viết kịch bản và lời bình. Bộ phim này đã được phát trên các kênh truyền hình Pháp và Châu Âu theo lời giới thiệu của nhà thơ Xuân Diệu, vào thời điểm giao thừa ngày 1-1-1969.

Cuốn phim tài liệu này 40 năm sau mới xuất hiện trên kênh truyền hình Đài Tiếng nói Việt Nam VOV và thành một hiện tượng có sức ám ảnh rất mạnh đối với khán giả, đặc biệt là những người dân quê ở Nam Sách, Hải Dương. Nhiều người xem đã khóc vì bất ngờ gặp lại người thân của mình. Hầu hết các nhân vật của phim đã chết. Trong đó, có nhiều liệt sĩ mà bây giờ vẫn chưa tìm được hài cốt. Bộ phim đã hóa thành một viện bảo tàng, lưu giữ những vẻ đẹp sống động của con người và cảnh sắc một làng quê Bắc bộ, mà giờ đây không còn nữa” như Trần Đăng Khoa đã kể lại như vậy trong bài viết của mình khi nhìn lại nửa thế kỷ thơ Việt.

Trần Đăng Khoa nhập ngũ ngày 26 tháng 2 năm 1975 khi đang học lớp 10/10 tại trường phổ thông cấp 3 Nam Sách, quân số tại Tiểu đoàn 691 Trung đoàn 2 Quân tăng cường Hải Hưng. Sau đó Trần Đăng Khoa được bổ sung về quân chủng hải quân có thời gian ở Trường Sa (để sau này tác phẩm Đảo chìm nổi tiếng ra đời năm 2006 đến 2009 đã tái bản 14 ?-25 lần) . Sau đó ông theo học Trường Viết văn Nguyễn Du và được cử sang học tại Viện Văn học Thế giới M. Gorki thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Nga. Khi trở về nước ông làm biên tập viên Văn nghệ Quân đội. Từ tháng 6 năm 2004, khi đã mang quân hàm thượng tá Quân đội nhân dân Việt Nam, ông chuyển sang phụ trách Ban văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam. Hiện nay ông giữ chức giám đốc của hệ phát thanh có hình VOVTV của đài.

Trần Đăng Khoa không có nhiều tác phẩm thơ và văn chương nhưng viết rất kỹ, rất có trách nhiệm với xã hội, với một lối thơ hay văn đều hướng tới “giản dị, xúc động, ám ảnh” như ý thức thường xuyên suốt đời của Khoa.  Những tác phẩm văn chương nổi bật có : Từ góc sân nhà em, (thơ, 1968).Góc sân và khoảng trời (thơ, 1968, tái bản khoảng 30 lần, được dịch và xuất bản tại nhiều nước trên toàn thế giới); Khúc hát người anh hùng (trường ca, 1974). Bên cửa sổ máy bay (tập thơ, 1986); Chân dung và đối thoại (tiểu luận phê bình, Hà Nội: Nxb Thanh niên, 1998, tái bản nhiều lần. Tác giả cho biết ban đầu đã dự kiến phát hành tập II của tác phẩm này, nhưng hiện đã gộp bản thảo vào phần I để tái bản); “Thơ tình người lính biển” (bài thơ đã được Hoàng Hiệp phổ nhạc); Đảo chìm (tập truyện – ký, Nxb Văn hóa thông tin 2006, tái bản nhiều lần). Khoa đã có đóng phim từ tuổi thơ được lưu lại trong chuyện đời tự kể Lão Khoa làm diễn viên và ít nhất ba lần được tặng giải thưởng : Giải thơ của báo Thiếu niên Tiền phong (các năm 1968, 1969, 1971), Giải nhất báo Văn nghệ (1982) và Giải thưởng Nhà nước (năm 2000).

Ngày 29 tháng 6 năm 2013, nhà thơ Trần Đăng Khoa nhận giải thưởng văn học tạiThái Lan. Giải thưởng Sunthorn Phu trao cho các nhà thơ Đông Nam Á có những cống hiến xuất sắc trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. Sunthorn Phu (สุนทรภู่, 1786–1855) là nhà thơ Thái Lan, danh nhân văn hoá thế giới, có tác phẩm lớn là pho sử thi đồ sộ Phra Aphai Mani và hàng ngàn bài thơ đã đi vào đời sống tinh thần của nhân dân Thái Lan suốt mấy trăm năm nay. Sunthorn Phu là một thường dân đã phá bỏ lối thơ tháp ngà của nhiều thi sĩ trước đó bằng cách viết dung dị với ngôn ngữ bình dân cùng các chủ đề gần gũi với đời sống bình thường của người dân Thái lam lũ. Khoa đã có một bài phát biểu thật ngắn “giản dị, xúc động và ám ảnh”  khi nhận giải mà ý sau cùng của bốn ý phát biểu là:  “Thật kỳ diệu khi đất nước Thái Lan văn hiến đã có sáng kiến rất đẹp trong việc giữ gìn di sản của Sunthorn Phu, và biến những di sản ấy không còn là những hiện vật bất động ở trong viện bảo tàng mà là một hiện thực sống động được giữ gìn trong thế phát triển và hội nhập, để nhà thơ vĩ đại Sunthorn Phu vẫn tiếp tục đồng hành cùng chúng ta đến với tương lai. Chúng ta tin, và rất tin rằng, cùng với Nguyễn Du, cây đại thụ Sunthorn Phu không phải chỉ tỏa bóng xuống các miền đất Đông Nam Á, mà còn tiếp tục tỏa bóng xuống nhiều châu lục trên nhiều bến bờ thế giới.”

Nhà thơ Trần Đăng Khoa có vợ và con gái. Hai cụ thân sinh sống ở quê với chị gái của Khoa là Trần Thị Bình, một cụ vừa mất gần đây.  Nhà thơ có anh trai  là nhà thơ, nhà báo Trần Nhuận Minh – tác giả các tập thơ Nhà thơ và Hoa cỏ, Bản xô nát hoang rã, 45 Khúc Đàn bầu của kẻ vô danh…, nguyên là Chủ tịch Hội văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh và một người em gái nữa tên là Trần Thị Thuý Giang, hiện làm giáo viên tại Cẩm Phả Quảng Ninh. Đời thường của Khoa là một người tử tế, thông minh, giỏi ăn nói, có khiếu hài hước, không thích bia rượu, gái gú, chẳng có đam mê gì  ngoài những trang viết mà ở đấy “thường là y dồn hết tâm lực” như chính Trần Đăng Khoa chân dung tự họa.

Lão Khoa và Hoàng Kim

Trần Đăng Khoa có trang Lão Khoa còn Hoàng Kim thì có trang Dạy và học  trên blogtiengViet. Tôi và Khoa có duyên ở ba việc:

Thứ nhất, thuở 17 tuổi, tôi được nghe duy nhất một lần bài thơ dài của Trần Đăng Khoa “Em kể chuyện này” do bác Xuân Diệu đọc. Thế mà không hiểu sao,  tôi đã nhập tâm thuộc luôn cho đến ngày nay. Bình sinh tôi cũng chẳng mấy khi thuộc thơ văn một ai, kể cả thơ văn mình,  nhưng lại thuộc được Hịch Tướng sĩ, phần lớn Truyện Kiều, nhiều bài thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm “Qua đèo chợt gặp mai đầu suối” của Bác Hố, và bài thơ trên của Trần Đăng Khoa. Tôi nghiệm ra:  khi mình rất thích ai đó và thích điều gì đó thì mới tự nhớ được. Thơ Trần Đăng Khoa có nhiều bài được bạn đọc nhớ.

Thứ hai, Trần Đăng Khoa trên blog treo hai câu thơ “Cái còn thì vẫn còn nguyên. Cái tan dù tưởng vững bền cũng tan“. Hẵn anh chàng tâm đắc nhất hai câu này!  Riêng tôi thì cho đến lúc này vẫn thích nhất chọn ở Khoa hai câu “Ngoài thềm rơi cáí lá đa.Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”. Sự tinh tế đến kỳ lạ ! Tôi tin một cách thành thực là Khoa có năng khiếu dự cảm và nhận được chiếc lá  tâm linh để làm thư đồng thời đại. Tôi đã ngồi một mình ở hang cọp sau chùa Bảo Sái lúc gần ba giờ khuya đêm 17 tháng 1 năm 2010. Trời rất tối.  Đêm rất sâu và vắng, Lắng nghe một tiếng xạc rất khẽ từ vời vợi trên cao kia của chiếc lá cây gạo 700 tuổi ở non thiêng Yên Tử thả vào thinh không. Tôi chợt rùng mình thấm hiểu sự nhọc nhằn của đức Nhân Tông “giờ Tý. Ta phải đi rồi”.  Người tại thế võn vẹn chỉ 50 năm, lúc 35 tuổi sung mãn nhất đời người đã trao lại ngôi vua, chia tay người đẹp, rũ bỏ vinh hoa, tìm về Yên Tử, kịp làm năm việc chính trong đời ! Tôi ngộ ra câu thơ thần của Nguyễn Trãi viết về Người “Non thiêng Yên Tử chòm cao nhất/ Trời mới canh năm đã sáng trưng” khi và chỉ khi, tôi đã 57 tuổi và tự mình chứng nghiệm Lên non thiêng Yên Tử: “Tỉnh thức giữa non thiêng Yên Tử/ Để thấm hiểu đức Nhân Tông/ Ta thành tâm đi bộ.  Lên tân đỉnh chùa Đồng/ Tâm sáng Ức Trai trong tựa ngọc…” Trần Đăng Khoa thì đã viết hai câu thơ thần đồng trên khi Khoa còn tuổi thơ. Tôi lẫn thẫn nghĩ rằng Trần Đăng Khoa có được sự tinh tế đặc biệt này có lẽ là đã nhận được chỉ dấu “lá bối” tâm linh của thiên tài văn chương Ức Trai gửi lại.

Và thứ ba là bài ký “Chuyện ở Quảng Bình” . Tôi có sự đồng cảm lạ lùng của người trong cuộc. Anh Hoàng Hữu Ái cùng quê Quảng Bình, cùng học Trường Đại học Nông nghiệp 2 Hà Bắc. Anh học lớp Trồng Trọt ba, tôi học lớp Trồng Trọt bốn. Chúng tôi đi bộ đội cùng ngày 2.9 và cùng chung đơn vị. Sau này tổ chúng tôi bốn người thì anh Xuân và anh Chương hi sinh, chỉ còn Phạm Huy Trung và tôi về Trường học tiếp. Tôi kể chuyện này trong “Thầy bạn là lộc xuân cuộc đời” và vẫn tự hỏi là vì sao mình là người trong cuộc mà chưa thể viết được như thế ?

Trong loạt bài của Trần Đăng Khoa , tôi thích nhất các bài Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đảo chìm, Hoa xương rồng nở, Ngày xuân nghĩ về Bác, Nguyên Ngọc, Vài nét Hữu Ngọc, Ivan Noviski, Nhớ thày cũ, Người từ cõ trước, Thời sự làng tôi, Quyền lực thứ tư. Lão Khoa, Vài nét về thơ Việt Nam hiện đại; Khoảng khắc và muôn đời

Ba đóng góp nổi trội của Trần Đăng Khoa cho văn chương Việt có lẽ là “thơ”, “chân dung văn” và “văn thông tấn”. Đó là sở trường và cũng là ba chặng đường sự nghiệp của Trần Đăng Khoa. Bạn nếu có chút khoảng lặng mời ghé vào góc riêng của tôi cùng nhấm nháp đọc lại thư mụcTrần Đăng Khoa một số bài viết chọn lọc  https://sites.google.com/site/hoangkimvietnam/tran-dhang-khoa

Những điều lắng đọng

Đọc Lão Khoa, blog khời đầu từ ngày 21 tháng 2 năm 2011, bài đầu tiên bạn gặp là Tựa (Lời thưa), kế đến là Nông thôn bây giờ, Nguyên Ngọc, Chuyện tào lao Lão Khoa, và Thơ Trần Đăng Khoa. Tôi không nghĩ trình tự sắp xếp những bài đầu tiên này của Khoa mà đó chính là những điều lắng đọng.

Cao hơn trang sách là cuộc đời, là kinh nghiệm sống được trãi nghiệm . Theo Lời thưa của Trần Đăng Khoa, chúng ta nên đọc chính văn, thơ văn và trao đổi của chính tác giả để tránh những điều ngộ nhận qua lời đồn.

Trần Đăng Khoa, nói cho cùng, đó là nhà thơ nhà văn nông dân. Khoa viết trong Nông thôn bây giờ:  Mươi năm về trước, Trần Đăng Khoa có những nhận định … trong tiểu phẩm có tên là Nông dân: “Nông dân thời nào cũng rất khổ. Hình như họ sinh ra để khổ. Có cho sướng cũng không sướng được. Có phủ lên vai họ tấm áo bào lộng lẫy của vua thì họ cũng không thể thành được ông vua.Họ có sức chịu đựng gian khổ đến vô tận. Nhưng mất hoàn toàn thói quen để làm một người sung sướng. Thế mới khổ. Họ khổ đến mức không còn biết là mình khổ nữa. Người nông dân ta dường như không có thói quen so sánh mình với người dân ở các nước tiên tiến, cũng như người dân đô thị. Họ chỉ so mình với chính mình thời tăm tối thôi. Và thế là thấy sướng quá”.

Cho đến ngày nay, sau mười năm suy ngẫm, Khoa lại viết tiếp: “Theo tôi, muốn đánh giá hiệu quả của công cuộc đổi mới đất nước thì phải nhìn vào chất lượng đời sống của những người nghèo nhất xã hội là nông dân. Nếu người nông dân không thay đổi được số phận mình thì công cuộc đổi mới của chúng ta vẫn chưa đạt được hiệu quả đích thực.”  “… những sáng tác hay nhất của chúng ta vừa qua vẫn là về đề tài nông thôn. Người đầu tiên viết hay về nông thôn phải nói đến các cụ Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Phạm Duy Tốn, rồi đến Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Bính… Sau này là Nguyễn Kiên, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Đào Vũ, Ngô Ngọc Bội, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, Trần Nhuận Minh, Nguyễn Duy, Phạm Công Trứ… và gần đây nhất trong giới trẻ là Nguyễn Ngọc Tư…. Đến bây giờ, tôi vẫn cho rằng, đề tài nông thôn không hề kém hấp dẫn. Đấy vẫn là mảnh đất mầu mỡ. Hi vọng ở đó, chúng ta sẽ có những tác phẩm lớn. Nông thôn vẫn gắn bó xương cốt với người viết, là vùng người viết thông thạo hơn cả. Trở về vùng đất màu mỡ ấy, hi vọng chúng ta mới có được những vụ mùa văn chương. Còn có ý kiến cho rằng văn sĩ quay lưng với nông thôn, vuốt ve thành thị thì tôi cho rằng cái đó không hẳn đâu. Tôi không tin như thế. Còn việc nhà văn sống ở đâu thì không quan trọng. Cái quan trọng là người đó có am tường nông thôn không và họ đã viết như thế nào. Tất cả những gì đã có, dù ít dù nhiều cũng cho chúng ta niềm hy vọng. Đó là đau đáu, tâm tư sâu thẳm của tác giả.

Nguyên Ngọc, Hữu Ngọc, Tô Hoài, Trần Nhuận Minh, Nguyễn Khải, Xuân Diệu, Lê Lựu  … ảnh hưởng nhiều đến chất liệu và chất lượng sáng tác của Trần Đăng Khoa. Hình như những chân dung văn của Trần Đăng Khoa về những người này là hay hơn cả.

Đọc thơ Trần Đăng Khoa, tôi  thích chiêm nghiệm những bài viết mới gần đây: “Chiều buông ngọn khói hoang sơ/Tiếng chuông ngàn tuổi tỏ mờ trong mây… Người xưa hồn ở đâu đây/ Nhìn ra chỉ thấy tuyết bay trắng chiều…” “Ta ngự giữa đỉnh trời /Canh một vùng biên ải/ Cho làn sương mong manh/ Hoá trường thành vững chãi … Bỗng ngời ngời chóp núi / Em xoè ô thăm ta ?/ Bàng hoàng xô toang cửa/  Hoá ra vầng trăng xa…”. Đó là những câu thơ hay đến chốn thung dung, về nơi tĩnh lặng, lắng đọng sâu thẳm

Lão Khoa làm diễn viên, tự truyện mới đây của tác giả, tôi rất thích đoạn kết. Lời văn của Khoa viết rất thực lòng và thật bùi ngùi. “Tôi rất yêu bộ phim này, không phải vì trong đó có tuổi thơ của tôi, mà có hình ảnh con người thật của Xuân Diệu. Tôi cứ tiếc, giá hồi đó, mình xuất hiện ít hơn, để giành nhiều thời gian cho Xuân Diệu, Trần Thị Duyên và bạn bè tôi, những người không bao giờ còn về lại được nữa. Bây giờ, chúng ta có Bảo tàng Hội Nhà Văn, lại có Hãng phim Hội Nhà văn, tôi mong Hãng phim chỉ làm phim về các nhà văn thôi. Làm sao ghi lại được hết hình ảnh, bóng dáng và vẻ đẹp của họ. Đừng để khi họ đã mất rồi, chúng ta mới khẳng định giá trị của họ. Và đến lúc ấy, chúng ta mới lại thấy tiếc. Tiếc nhưng tất cả đều đã muộn rồi. Có muốn làm lại cũng không làm lại được nữa. Buồn vô cùng…” . Những ý nghĩ trên có vẻ cực đoan nhưng chân thành.

Tôi thầm nghĩ, Khoa có lẽ mang ơn Xuân Diệu nhiều hơn cả trong tư cách một nhà thơ mang ơn một nhà thơ. Xuân Diệu chính là người phát hiện, giới thiệu rất thuyết phục cái “thần đồng” tinh tế trong văn chương của Trần Đăng Khoa ra bè bạn. Đó là một người Thầy lớn. “Ngoài thềm rơi cáí lá đa.Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”. Câu thơ tinh tế của Khoa do Xuân Diệu phát hiện, bốn mươi năm sau tôi mới cảm nhận được thực sự. Những bài viết của Khoa không thật nhiều, nhưng tôi cũng nghĩ như Khoa ” không cho rằng nhà báo thua nhà văn, hay Văn chương vĩnh cửu hơn Báo chí. Sức sống của tác phẩm không nằm trong thể loại, mà hoàn toàn phụ thuộc vào tài năng của người sáng tạo ra nó. Một bài báo hay có giá trị hơn một truyện ngắn, hay một cuốn tiểu thuyết mà lại viết xoàng”. Một tác phẩm “giản dị, xúc động, ám ảnh”  thà ít mà tốt vẩn hay hơn là một tác phẩm dài mà chưa đến tầm.

Văn chương đích thực là món ăn tinh thần sạch và ngon của người dân, là chân thiện mỹ, ngọc cho đời. Tôi tin nhiều thế kỷ, bạn đọc sẽ còn quay lại với Trần Đăng Khoa để hiểu một thời. May mắn thay tôi là người cùng thời. Nhận định về Lão Khoa, tôi thích đọc lại hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh viết về Trần Đăng Khoa , và một số  người  khác mà tôi đang tập hợp trong thư mục Trần Đăng Khoa một số bài viết chọn lọc  https://sites.google.com/site/hoangkimvietnam/tran-dhang-khoa

Hoàng Kim


Hoàng Kim
DẠY VÀ HỌC




Trần Đăng Khoa

Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Trần Đăng Khoa (sinh ngày 24 tháng 4 năm 1958), quê làng Trực Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, là một nhà thơ, nhà báo, biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam. Hiện nay ông là trưởng ban Văn nghệ Đài tiếng nói Việt Nam và là Giám đốc Hệ Phát thanh có hình VOVTV.


Tiểu sử

Từ nhỏ ông đã được nhiều người cho là thần đồng thơ văn [1]. Lên 8 tuổi, ông đã có thơ được đăng báo. Năm 1968, khi mới 10 tuổi, tập thơ đầu tiên của ông Từ góc sân nhà em (tập thơ tiếp theo là Góc sân và khoảng trời) được nhà xuất bản Kim Đồng xuất bản. Có lẽ tác phẩm nhiều người biết đến nhất của ông là bài thơ "Hạt gạo làng ta", sáng tác năm 1968, được thi sĩ Xuân Diệu hiệu đính, sau được nhạc sĩ Trần Viết Bính phổ nhạc (1971).

Trần Đăng Khoa nhập ngũ ngày 26 tháng 2 năm 1975 khi đang học lớp 10/10 tại trường phổ thông cấp 3 Nam Sách, quân số tại Tiểu đoàn 691 Trung đoàn 2 Quân tăng cường Hải Hưng. Sau khi thống nhất, việc bổ sung quân cho chiến trường khong còn cần thiết nữa, ông được bổ sung về quân chủng hải quân. Sau đó ông theo học Trường Viết văn Nguyễn Du và được cử sang học tại Viện Văn học Thế giới M. Gorki thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Nga. Khi trở về nước ông làm biên tập viên Văn nghệ quân đội. Từ tháng 6 năm 2004, khi đã mang quân hàm thượng tá Quân đội nhân dân Việt Nam, ông chuyển sang phụ trách Ban văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam. Hiện nay ông giữ chức giám đốc của hệ phát thanh có hình VOVTV của đài. [2]

Tác phẩm

Trần Đăng Khoa không có nhiều tác phẩm, và danh hiệu "thần đồng thơ trẻ" của nhà thơ thời thơ ấu không hề liên quan hay được nối tiếp đến quãng đời về sau khi nhà thơ vào lính, theo học ở Nga, khi về nước làm biên tập viên, làm báo. Thi hứng một thời, hiển nhiên, không là động lực cho xúc cảm khi tác giả đã cao tuổi. Những tác phẩm nổi bật của Trần Đăng Khoa:

  • Từ góc sân nhà em, 1968.
  • Góc sân và khoảng trời, tập thơ, 1968, tái bản khoảng 30 lần, được dịch và xuất bản tại nhiều nước trên toàn thế giới
  • Khúc hát người anh hùng, trường ca, 1974.
  • Bên cửa sổ máy bay, tập thơ, 1986.
  • Chân dung và đối thoại, tiểu luận phê bình, Hà Nội: Nxb Thanh niên, 1998, tái bản nhiều lần. Tác giả cho biết ban đầu đã dự kiến phát hành tập II của tác phẩm này, nhưng hiện đã gộp bản thảo vào phần I để tái bản.
  • Bài "Thơ tình người lính biển" đã được Hoàng Hiệp phổ nhạc[3]
  • Đảo chìm, tập truyện - ký, đến đầu năm 2009 đã tái bản 25 lần.[4]

Giải thưởng

Ông 3 lần được tặng giải thưởng thơ của báo Thiếu niên Tiền phong (các năm 1968, 1969, 1971), Giải nhất báo Văn nghệ (1982) và Giải thưởng Nhà nước (năm 2000).

Thông tin khác

Nhà thơ Trần Đăng Khoa có một anh trai là nhà thơ, nhà báo Trần Nhuận Minh-tác giả các tập thơ Nhà thơ và Hoa cỏ, Bản xô nát hoang rã, 45 Khúc Đàn bầu của kẻ vô danh..., nguyên là Chủ tịch Hội văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh. Một chị gái là Trần Thị Bình, hiện sống ở quê cùng với hai cụ thân sinh của Nhà thơ. Ông còn có một người em gái tên là Trần Thị Thuý Giang, hiện làm giáo viên tại Cẩm Phả Quảng Ninh.

Tham khảo

  1. ^ Trần Đăng Khoa: "Tôi chọn vợ tôi"
  2. ^ Xuân Long, “Làm thế nào xem VOVTV?”, Tuổi Trẻ Online, 11 tháng 9 năm 2008. Truy cập 11 tháng 9 năm 2008.
  3. ^ Chút Thơ Tình Người Lính Biển
  4. ^ . Nguyễn Lương Phán, “Đảo chìm: "Thần bút" của người lính biển Trường Sa”, 27 tháng 2 năm 2009. Truy cập 27 tháng 2 năm 2009.

Liên kết ngoài
      Lão Khoa  http://lao.blogtiengviet.net
     Ảnh đại diện trên blog và câu nói ưa thích của tác giả:

Giới tính:male
Địa chỉ:VOV
Công việc:Thợ cày không có trâu
Sở trường:Ngủ gật

Cái còn thì vẫn còn nguyên,

Cái tan dù tưởng vững bền cũng tan ...
TĐK

Tác phẩm

Phỏng vấn

Thể loại: Sinh 1958 | Người Hải Dương | Trần Đăng Khoa (nhà thơ) | Nhà thơ Việt Nam thời kỳ 1945-1975 |
Nhà thơ Việt Nam thời kỳ từ 1976 | Nhà văn Việt Nam thời kỳ từ 1976 | Nhà báo Việt Nam | Thần đồng

LÃO KHOA LÀM “DIỄN VIÊN”

- Thưa nhà thơ Trần Đăng Khoa, nhân dịp “đầu năm Con Dê”, thay mặt anh em báo Văn nghệ, đặc biệt là các phóng viên trẻ, tôi muốn được gõ cửa “xông đất” anh. Cũng nhân thể hỏi anh dăm ba chuyện. Anh đồng ý chứ!
- Khiếp! Ông cứ vẽ! Tôi là cái mõ làng. Ai mà chẳng gõ được cơ chứ.
- Cách đây không lâu, tôi có được xem một bộ phim tài liệu rất thú vị về anh khi anh còn là một cậu học trò do một hãng phim nước ngoài quay. Bộ phim ấy, họ quay năm nào vậy?
- Đấy là năm 1968. Hồi đó tôi đang học lớp bốn. Cũng năm đó, tôi có tập thơ đầu tay “Góc sân và khoảng trời” 50 bài do Ty Giáo dục Hải Dương in (mãi đến năm 1973, Nhà xuất bản Kim Đồng mới chính thức in tập thơ này với tư cách là một tác giả. Hồi đó, việc in thơ khó khăn lắm, không thoải mái như bây giờ). Cũng năm 1968 ấy, thơ tôi được Madeleine Riffaud giới thiệu trên hai trang ruột báo Nhân đạo của đảng Cộng sản Pháp (xuất bản ở Paris): Thơ Trần Đăng Khoa, tiếng hát mạnh hơn bom đạn. Sau bài viết giới thiệu là 5 bài thơ dịch của tôi. Rồi ngay sau đó, đoàn quay phim Pháp, do đạo diễn-nhà thơ cộng sản Pháp Gérard Guillaume về làng tôi quay phim Thế giới nhỏ của Khoa, một bộ phim tài liệu dài 30 phút, do G. Guillaume viết kịch bản và lời bình. Claude Burel dựng phim. Dominique Labourie và Zofra Menuet đọc thơ tôi bằng tiếng Pháp với hai giọng nam và nữ. Marc Boussard tạo tiếng động… Trong lời bình, có một đoạn G. Guillaume viết nguyên văn như sau (Xuân Diệu dịch): “Cả làng xã của Trần Đăng Khoa quyết tâm “bảo vệ” cậu, không cho chúng tôi làm phim về cậu. Để có những hình ảnh này của cậu, chúng tôi đã phải tạo ra một cái cớ, là làm một bộ phim phóng sự về cuộc sống hằng ngày của thiếu niên xã Quốc Tuấn, một ngôi làng nhỏ nằm ở đồng bằng sông Hồng, với sự “đồng lõa” của Trần Thị Duyên”.

Chị Duyên là cán bộ phụ trách thiếu niên nhi đồng của Tỉnh Đoàn Thanh niên Lao động Hải Dương, người được Bí thư Tỉnh ủy Ngô Duy Đông, một người đồng hương Thái Bình của chị rất quý trọng. Chị thường về xã kiểm tra các phong trào của thiếu nhi rồi làm việc với lãnh đạo xã, có lần chị còn mang cả thư tay của ông Ngô Duy Đông, gửi bí thư xã về việc quan tâm đến cháu Khoa, mà cụ thể là không được cho người vào nhà Khoa hỏi giấy tờ khi khách các nơi đến thăm, mà không có giấy thì yêu cầu ra khỏi làng... vì thế rất được lãnh đạo xã nể trọng. Vì vậy mà phim mới được quay. Đoàn làm phim Pháp do Xuân Diệu dẫn về làng, ông trực tiếp làm phiên dịch, rồi trực tiếp giới thiệu thơ tôi với bà con dân làng và các cháu thiếu nhi, đứng ngồi vây quanh ông.Trong phim, Xuân Diệu xuất hiện ba lần. Phần mở đầu ông nói về thơ tôi. Rồi sau đó, ông đọc thơ tôi ở phần giữa và khi kết phim. Đó là những trường đoạn rất sinh động và rất quý hiếm. Đây cũng là hình ảnh duy nhất lưu giữ được hình bóng ông trọn vẹn cả hình cả tiếng lúc sinh thời. Phim đã được chiếu trên màn hình Pháp và các nước châu Âu, đêm Giao thừa 01/01/1969, được giải thưởng Kunture của Đảng cộng sản Pháp, như Xuân Diệu giới thiệu trên nhiều báo chí thời ấy, cũng trực tiếp nói trong buổi “Tiếng thơ” của đài Tiếng nói Việt Nam 10h đêm ngày 1-6- năm 1969. Và sau đó, các tư liệu ấy còn được ông sử dụng trong bài giới thiệu “Thơ em Khoa” in ở đầu tập thơ Góc sân và khoảng trời, do chính Xuân Diệu tuyển chọn, in ở Nhà xuất bản Kim Đồng năm 1973. Bài đó nay vẫn được in lại đến non 100 lần rồi...
- Xung quanh bộ phim này, có gì ấn tượng nhất mà anh còn nhớ được không?
- Thực ra, tôi chỉ biết những việc vặt vãnh của đám trẻ con lau nhau chúng tôi thôi. Còn những điều thú vị lại nằm ở bên ngoài khuôn hình. Chuyện này thì ông anh trai cả của tôi, nhà thơ Trần Nhuận Minh lại biết. Nhưng ông ấy cũng chỉ nghe hóng chuyện hậu trường do chính người trong cuộc kể. Những người ấy hiện vẫn đang sống. Bác Minh có tiết lộ trong cuốn Đối thoại Văn chương. Bác Minh viết nguyên văn như sau:

Trong việc quay phim hy hữu đó, có ba chuyện bạn đọc nên biết, như dấu ấn một đi không trở lại của một thời.
Chuyện thứ nhất: Bác Đ.S. kể, tôi ghi lại.
Bác S. nói: Chú Minh này, cái đoàn quay phim Pháp nó về làng mình, quay phim về cháu Khoa nhà chú ấy, (bác coi tôi như em, nhưng lại coi chú Khoa, em tôi, như con mình), tổng cộng có mười một người chú ạ, trong đó có bốn tên gián điệp quốc tế, đóng vai nhà báo, sang mình để dò la tình hình, giúp cho máy bay Mỹ ném bom miền Bắc. Vì thế, cả khu vực quay phim quanh nhà chú, chúng tôi cho canh phòng rất cẩn mật. Trừ một vài người phải quay vào phim, còn lại thì chúng tôi “trục xuất” hết, “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Bố mẹ chú cũng phải chuyển đi, vì sợ vô ý làm lộ bí mật. Hàng xóm cũng thế. Các thầy cô giáo chỉ có những người được duyệt là tin cậy mới cho được gặp họ.
Xã có ba người nhập vào đoàn làm phim là tôi với bí thư đảng ủy xã và chủ tịch xã. Chúng tôi khổ quá chú ạ. Khổ như con chó (tôi xin lỗi, ghi lại đúng lời bác S). Hằng ngày, ba chúng tôi ngồi chầu chực ở cổng nhà chú, họ có gọi thì mình mới được vào nhà, họ sai mình cái gì thì mình làm cái ấy. Cơm không được ăn, nước không được uống. Xong việc buổi sáng, trưa họ lại đánh cả đoàn xe lên tỉnh đánh chén, (ăn cỗ, quê tôi gọi là “đánh chén”), chiều họ lại đánh cả đoàn xe về. Cứ thế lằng nhằng đến mấy ngày trời có chết chúng tôi không? Việc chính của xã, biết bao nhiêu là việc, chúng tôi đều phải làm vào ban đêm. Khổ nhất là quay cái bài Mưa mung chết tiệt gì ấy (bài thơ Mưa). Lấy đâu ra gió thổi cho lá mía tung lên như múa gươm. Chúng tôi phải mượn về mấy cái quạt hòm quạt lúa, để khi nó hô một tiếng thì mình quay tít cái quạt lên thành gió. Chúng tôi thì đói, sức lại yếu, mắm môi mắm lợi vào mà quay tít thò lò, cũng chỉ được dăm ba phút là bở hơi tai. Rồi phải chọn đến 5 - 6 đoàn viên thanh niên tin cậy và rất to khoẻ, quay thay chúng tôi. Sức trẻ nó quay ghê lắm chú ạ. Thế mà cái thằng Tây đạo diễn chó chết gì đó vẫn hét lên là không được, là không đủ gió, lá mía không múa gươm được. Nói thực với chú, lúc ấy, tôi chỉ muốn phang cho nó vài gậy thôi. Rồi cái đoạn thả diều (quay bài thơ Thả diều) không hiểu sao, khi diều lên cao nhất lại phải cầm dao cắt cho nó đứt dây, và cái diều lại phải rơi xuống ao bèo. Thế là “bố chúng nó” lại phải lóp ngóp lội xuống vớt cái diều lên. Mà phải làm đi làm lại đến ba, bốn lần một cái việc đứt dây diều với vớt cái diều ấy mới xong. Tôi nghĩ, có khi đây là ý đồ chính trị, nó cho là cuộc kháng chiến chống Mỹ của chúng ta như cái diều đứt dây. Nếu không thì làm gì phải làm nhiều lần thế. Rồi đến cái bài “Lọc cà lọc cọc”…, tả về cái việc kéo xe chở gạch về xây trường. Tôi trông thấy cái xe bò xếp đầy gạch đỏ mà mình sẽ phải kéo cho nó quay phim mà ngán quá. Lại nghĩ bụng, bỏ mẹ, mình là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của xã. Nó biến mình thành con bò à. Tôi đã nói thẳng cái dụng ý thâm độc ấy với anh cán bộ đối ngoại của tỉnh mà tôi biết chắc chắn là cán bộ an ninh của ta, thì đồng chí ấy chỉ cười và lặng lẽ lắc đầu, không nói gì. Chú có biết không? Người kéo xe là tôi đấy, còn bí thư và chủ tịch xã đẩy phía sau. Tôi rất ngạc nhiên thấy cái xe quá nhẹ. Đồng chí bí thư bảo tôi là chỉ có mấy chục viên gạch đỏ ở trên, còn dưới lót toàn rơm thôi. Lần đầu tiên, tôi biết làm phim là làm cái trò giả dối chú ạ…”
Bốn mươi năm sau (2008), tôi mới được xem những thước phim tuyệt vời đó, do một Việt kiều Pháp mang về tặng chú Khoa. Báo chí ở Việt Nam cũng có một dạo bàn luận về cái phim hy hữu này. Nhưng xem hết phim, không thấy bóng dáng ba ông cán bộ thân yêu của xã tôi ở đâu. Đoạn diều đứt dây thì vô cùng sinh động tự nhiên, còn đoạn cây mía múa gươm do quạt hòm quay thành gió và kéo xe bò thì cũng không thấy có.
Chuyện thứ hai: Trong phim có một người đàn bà đang nấu cái gì đó trong bếp, mà ai xem cũng tưởng là mẹ tôi và hỏi tôi sao mẹ tôi trẻ thế. Không phải. Đấy là cháu dâu tôi, năm ấy khoảng hơn ba mươi tuổi. Cô là chị ruột của một anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nên mới được chọn đóng phim độ khoảng mười giây.(Đúng là trong phim, cảnh đun bếp này được quay qua khung cửa sổ tre ở bàn học của tôi. Người phụ nữ không thấy mặt, chỉ thấy dáng người rất trẻ thoáng qua 1 – 2 giây và hai bàn tay đun bếp. Sau đó là cận cảnh bếp lửa rạ. Nồi đồng. Đầu rau…như từ thời cổ đại. Đấy là những hiện vật mà các nước phương tây không thể có được. TĐK)
Chuyện thứ ba: Tôi ra thăm trường cấp I xã Quốc Tuấn, nơi chú Khoa học. Anh hiệu trưởng cho tôi xem một cái ảnh chụp chung với đoàn làm phim Pháp khi đoàn ra trường chào trước khi về Hà Nội. Trong ảnh chỉ có một mình anh với đoàn. Vì bức ảnh này, anh là đảng viên dự bị không được công nhận là đảng viên chính thức. Anh đã lý sự rằng: Một, không ai thông báo cho tôi biết trong đoàn có gián điệp quốc tế để tôi không chụp ảnh chung với họ. Tôi hoàn toàn không biết họ là ai. Hai, để thể hiện khí phách của dân tộc, tôi đã đứng, đã thế lại chống hai tay vào hông, trông rất anh hùng, trong khi họ ngồi dưới chân tôi cả đấy thôi. Vậy tôi không có khuyết điểm.
Tôi đã cầm cái ảnh ấy về gặp nhà thơ Chế Lan Viên, đương kim đại biểu Quốc hội. Sở dĩ gặp Chế Lan Viên vì ông vừa được bí thư huyện ủy mời cơm sau chuyến thăm nhà tôi. Ấy là mẹ tôi bảo thế, khi muốn giữ ông ở lại ăn cơm với gia đình. Chế Lan Viên nhìn tôi kinh ngạc: “Thật thế à? Nếu thế thì phải bỏ tù tôi vì tôi còn sang tận nước Pháp. Ông bảo, để tôi sẽ can thiệp ngay. Tôi gửi lại ông bức ảnh. Mấy tháng sau, tôi về nhà, ra thăm trường, thì được biết anh hiệu trưởng đã chuyển đi trường khác. Không biết phải chuyển đi ngang chừng như thế là tốt hơn hay xấu hơn và có còn giữ được chức hiệu trưởng hay không?... Tôi không tiện hỏi. Bây giờ đôi lúc nghĩ đến, vẫn thấy áy náy…”.

Rất cám ơn nhà thơ Trần Nhuận Minh. Nếu bác ấy không ghi lại thì chính tôi cũng không biết chuyện này. Và đặc biệt, rất cám ơn bác Đ. S. một cán bộ lãnh đạo tận tụy của xã. Nếu bác không kể lại cho Trần Nhuận Minh những câu chuyện ở đằng sau khuôn hình thì cũng chẳng ai có thể biết được. Bác Minh dạy học ở khu mỏ Hồng Quảng, dăm sáu tháng, bác mới về quê được một lần. Mà lần ấy, nếu bác Minh có vô tình về thì chắc cũng bị “trục xuất” vì không đủ tiêu chuẩn. Cả bố mẹ tôi cũng vậy. Và tôi cũng thế thôi. Để quay phim tôi, đoàn làm phim cũng phải mượn cớ làm phóng sự về đời sống thiếu nhi xã Quốc Tuấn. Bây giờ nhớ lại một thời, chúng ta chỉ thấy thương thôi. Thương cho một số người và thương cho cả một thời đại. Cũng thương cho cả chính mình. Cái thời ấy nó thế. Mấy nghệ sĩ điện ảnh Pháp, những Đảng viên Đảng Cộng sản Pháp bị nghi là gián điệp Quốc tế thì cũng dễ hiểu thôi. Tôi lại nhớ hồi qua Đức theo lời mời của bạn. Giáo sư, nhà nghiên cứu lịch sử nổi tiếng của Đức, ông J. Berke có lần bảo tôi: “Ở Việt Nam, thích nhất là đi xe đạp. Chỉ cần bỏ ra hơn chục dolla là đã có cả một chiếc xe đạp rồi. Đi xe đạp Việt Nam rất hay bị xịt lốp. Nhưng không sao. Xe xịt ở bất cứ chỗ nào thì cứ tạt vào rệ đường. Thế là lập tức ở đó sẽ có ngay một ông thợ bơm vá xe. Mà những ông thợ này rất đặc biệt. Họ không phải người bình thường đâu. Họ là những anh hùng trong những năm chiến tranh. Đó là pho sử sống của cả một thời đại. Chỉ cần một lần bơm xe hay vá xăm xe, là ta biết được bao nhiêu chuyện. Cứ tự nhiên là họ tự nói ra hết. Người Việt xởi lởi lắm. Họ chẳng giữ được cái gì lâu ở trong lòng. Nhưng mà đừng có hỏi. Nếu cứ tò mò hỏi, lập lức họ sẽ nghi ngay mình là một thằng gián điệp Quốc tế. Người Việt vốn cảnh giác cao độ. Những đau khổ trong bao năm chiến tranh đã cho họ đức tính cảnh giác đến đa nghi này...”. Và một trong những tên “gián điệp”, đạo diễn G. Guillaume đã viết tặng tôi bài thơ: “Ở xã Quốc Tuấn bươm bướm lượn bay”. Bốn năm sau, khi ký kết Hiệp định Paris, ông lại viết tiếp tặng tôi bài thơ thứ hai “Gửi em Khoa”. Hai bài thơ này đã được in trong nhiều tập tuyển thơ thế giới viết về Việt Nam do Xuân Diệu dịch. Trong bài giới thiệu thơ tôi, ông cũng nói đến hai bài thơ rất hay này.
- Để thực hiện bộ phim đó anh phải làm “diễn” mất bao lâu?
- Chừng ba ngày. Nhưng tôi đâu có diễn. Chúng tôi sống thế nào, làm thơ thế nào, vui chơi thế nào, họ quay đúng như thế. Ông đạo diễn chỉ bảo: “Các em đừng để ý đến máy quay, cũng đừng để ý đến các bác”.
- Xem bộ phim tài liệu, tôi thấy có đoạn anh nhận xét thơ của các bạn có vẻ rất chững chạc và chuyên nghiệp. Hẳn hồi đó anh đã là cậu học trò giỏi môn văn, giỏi ăn nói?
- Thực ra đó là buổi họp bình thường của tòa soạn báo “Chim Họa Mi”. Tờ báo tường của học sinh lớp 4B mà tôi là “Tổng Biên tập”. Điều này tôi cũng đã kể trong bài thơ “Họp báo Chim Họa Mi”: “Mấy nhà ngồi xuống đất – Bàn ra báo ngày mai – “Nhà thơ” thì nói ngắn – “Nhà báo” lại nói dài”…Đúng là ngày thường, chúng tôi ngồi bệt dưới đất. Hôm ấy quay phim, chúng tôi ngồi trên bàn, hơi giả một chút. Nhưng nội dung cuộc họp chọn bài, nhận xét từng tác phẩm rồi quyết định đăng thì rất chân thật, đúng như vậy. Trong phim, tôi có dẫn một bài thơ cụ thể của bạn bè. Rồi tôi nói: “Các bạn thấy không, bài thơ chưa có kết. Kết làm sao phải nâng được cả bài thơ lên. Bài này vẫn còn dang dở: “Bạn ơi cắp sách đến trường – Thắm trang sách mới tỏa hương hoa hồng”…Tại sao lại có hoa hồng ở đây? Câu thơ này là của các bạn ở thành phố, chứ không phải học sinh nhà quê chúng mình. Chúng mình đi học qua cánh đồng lúa. Vậy thì trang vở của chúng ta phải “thoảng hương lúa đồng”, chứ không phải “hoa hồng”. Đoạn sau, các nhà làm phim cắt, chỉ giữ lại hai câu thơ.
Mãi đến gần đây, bộ phim này mới được phát trên kênh truyền hình VOV. Bộ phim để lại ấn tượng rất mạnh đối với bà con quê tôi. Rất nhiều người xem phim đã khóc vì họ bất ngờ gặp lại người thân của mình. Chỉ lót đót còn lại một đôi người, còn hầu hết những người xuất hiện trong phim đều đã mất. Chị Trần Thị Duyên, nữ nhạc sĩ, tác giả của các bài hát “Bông hoa mừng cô”, “Hải Dương quê em”, “Em làm kế hoạch nhỏ”…cũng đã qua đời năm 1975, sau trận đau tim, khi mới tròn 32 tuổi. Bạn bè của tôi, những người cùng tôi làm báo tường, thả diều, câu cá, bịt mắt bắt dê, cũng đã cùng tôi nhập ngũ, rồi nằm lại ở các chiến trường. Có người đến nay vẫn không tìm thấy được hài cốt như liệt sĩ Nguyễn Xuân Học, anh con bác tôi…Nhà thơ Xuân Diệu cũng đã qua đời cuối năm 1985. Lúc bấy giờ, điện ảnh, truyền hình cũng đã phát triển rất mạnh, nhưng cũng không có thước phim nào về ông. Hình ảnh của ông lưu lại được duy nhất cũng lại chỉ có trong thước phim này. Mà bộ phim này, ông lại không phải là nhân vật chính. Tiếc lắm thay.
Cái làng quê của tôi bây giờ cũng đã khác. Khác hoàn toàn. Căn nhà tôi cũng khác xưa. Ngoài vườn, chỉ còn lưu lại duy nhất cái chuồng lợn ở ngay tay phải cổng vào, mẹ tôi không cho phá, vì cụ bảo, để tao còn nhận ra cái thời của tao... Cả làng cũng thế. Không còn một dấu vết nào như ở trong phim nữa. May sao các nhà làm phim của Truyền hình Pháp đã kịp thời ghi lại. Bây giờ cuốn phim của mấy ông “gián điệp quốc tế” ấy đã thành bảo vật, thành một cái bảo tàng đặc biệt, lưu giữ lại những vẻ đẹp của cảnh sắc và con người quê tôi. Những vẻ đẹp đã bị xóa hết không còn dấu vết. Bây giờ, bộ phim ấy đang có trong Bảo tàng Hội Nhà Văn Việt Nam. Tôi rất yêu bộ phim này, không phải vì trong đó có tuổi thơ của tôi, mà có hình ảnh con người thật của Xuân Diệu. Tôi cứ tiếc, giá hồi đó, mình xuất hiện ít hơn, để giành nhiều thời gian cho Xuân Diệu, Trần Thị Duyên và bạn bè tôi, những người không bao giờ còn về lại được nữa. Bây giờ, chúng ta có Bảo tàng Hội Nhà Văn, lại có Hãng phim Hội Nhà văn, tôi mong Hãng phim chỉ làm phim về các nhà văn thôi. Làm sao ghi lại được hết hình ảnh, bóng dáng và vẻ đẹp của họ. Đừng để khi họ đã mất rồi, chúng ta mới khẳng định giá trị của họ. Và đến lúc ấy, chúng ta mới lại thấy tiếc. Tiếc nhưng tất cả đều đã muộn rồi. Có muốn làm lại cũng không làm lại được nữa. Buồn vô cùng…
- Cám ơn nhà thơ Trần Đăng Khoa

Trần Vũ Long (thực hiện)


..:Chuyện văn chuyện đời của Trần Đăng Khoa:..

Tác giả:
Lê thị Mỹ Ý

Xuanduc.vn: Trời vẫn không chịu mưa, hết đi ra lại đi vào, lòng dạ không sao yên hàn được. Không thể viết thêm được chữ nào. Có bài chười trời thì bị chú Tễu đưa ra xuyên tạc chế riễu. Nhìn con số truy cập biết bạn bè vẫn đến đông, mà  Hồ khô cạn đáy khôn chài lưới/ Vườn nhỏ, cỏ queo chẳng còn gà. Biết lấy chi đãi bạn đây. Đành lục kho lương khô, may quá kiếm được chút thực phẩm dự trữ. Xin bạn bè cảm thông mà xài tạm vậy

CHUYỆN VĂN, CHUYỆN ĐỜI CỦA TRẦN ĐĂNG KHOA

LÊ MỸ Ý thực hiện

Tám tuổi đã trở thành thần đồng thơ, cảm giác đó rất hay, phải không thưa anh?

      Trước hết, tôi không có cảm giác gì cả. Khi làm thơ và in thơ, tôi hoàn toàn không để ý mình là cái gì. Ở làng quê tôi lúc bấy giờ không có báo chí, người dân chỉ nghe đài. Việc in sách riêng cũng rất dè dặt, nhất là ở các nhà xuất bản trung ương. Tôi in thơ trên báo nhiều nhưng để ra một tập riêng thì mãi đến năm 1973, NXB Kim Đồng mới in "Góc sân và khoảng trời" 66 bài với số lượng 50.000 bản. Tập sách này ra sau 5 năm tập thơ "Góc sân và khoảng trời" với 52 bài của tôi in ở  địa phương do Ty Giáo dục Hải Hưng xuất bản. Tôi cũng chẳng nghĩ mình là người nổi tiếng gì đâu. Hồi ấy, chỉ thấy nhiều khách đến thăm. Thế thôi. Còn cái nhãn hiệu "thần đồng thơ", thì bây giờ người ta mới nói. Tôi nghĩ đó là thứ nước đường ban phát cho trẻ con, và chỉ dành riêng cho trẻ con thôi. Không ai gọi người lớn là "Thần đồng" cả. Tôi bây giờ đã là bố trẻ con, đã là ông lão rồi, nên danh hiệu ấy đối với tôi cũng không có gì ấn tượng. Tôi nghe như người ta nói về ai ấy chứ không phải tôi. 

 Bài thơ đầu tiên anh viết trong cuộc đời thơ của mình là ...?

Đó là bài "Con bướm vàng". Một buổi trưa tôi đang nấu cơm, thấy con bướm vàng bay vụt qua cửa bếp, liền nảy ra bài thơ đó. Tôi chọn thể thơ ba chữ, vì nó hợp với con bướm đang bay, đang vỗ cánh. Đó là tôi cảm giác thế thôi. Nguyên cả bài là "Con bướm vàng - Con bướm vàng - Bay nhẹ nhàng - Trên bờ cỏ - Em thích quá - Em đuổi theo - Con bướm vàng - Nó vỗ cánh - Vút lên cao - Em nhìn theo - Con bướm vàng - Con bướm vàng...Thoạt đầu là  Con bướm vàng - Con bướm vàng - Bay nhẹ nhàng - Trên bờ rào... Tôi thấy gì ghi nấy, không có ý đồ nghệ thuật gì đâu. Con bướm chao trên bờ rào thật, chứ không phải bờ cỏ. Làm sao có bờ cỏ ở vườn nhà. Người quê quý đất lắm. Có miếng đất nào thì người ta tận dụng cho bằng hết, dù chỉ là miếng đất cạnh chân rào, hay ô đất bé bằng bàn tay bên vại nước, không trồng cây được, thì họ gieo một ít rau thơm, hay húng láng. Nhưng viết "Trên bờ rào", tôi linh cảm thấy không ổn. Bốn câu này toàn dấu huyền Con bướm vàng - Con bướm vàng - Bay nhẹ nhàng - Trên bờ rào... (sau này tôi mới biết là vần bằng). Nhưng lúc ấy, tôi chỉ cảm giác rằng dùng đến bốn dấu huyền trong bốn câu thơ liền, thì con bướm không phải đang bay mà đang sà xuống. Phải cho nó vỗ cánh lên thôi. Thế là tôi đổi bờ rào thành bờ cỏ.  Với từ "bờ cỏ", tôi cảm thấy con bướm đang vỗ cánh. Hồi ấy, viết xong, tôi cũng thích bài thơ này lắm. Nó là con bướm nhưng cũng không chỉ là con bướm. Nó như tuổi thơ chập chờn đến rồi đi, có đuổi theo cũng không được, níu giữ cũng không được.

Một lần tôi đến thăm nhà cô bạn học cũ. Bà mẹ giới thiệu rất hãnh diện với cậu con trai: "Đây là bác Khoa, nhà thơ, bạn học của mẹ đấy." Không ngờ, thằng bé đúng bằng tuổi tôi khi làm bài thơ này, bộp  luôn một câu: "Ai chứ bác Khoa thì con biết rồi. Bác ấy chuyên làm thơ con cóc". Bà mẹ hoảng quá, vì không chuẩn bị cho cái tình huống như thế, hơn nữa, bạn của mẹ, lại là khách quý, vừa chân ướt chân ráo đến nhà mà con thì bổ luôn vào mặt khách một lưỡi búa của ông...Tầm sét. Cô bạn rất bối rối, còn tôi thì vô cùng sung sướng. Tôi bảo "Không phải mẹ cháu là bạn bác mà chính cháu mới đúng là bạn bác. Cháu nói cho bác nghe xem bác đã làm thơ con cóc như thế nào?". Thằng bé hỏi "Thế bác có biết bài thơ con cóc không?". "Bác biết.  Con cóc trong hang, Con cóc nhảy ra. Con cóc ngồi đấy, Con cóc nhảy đi". Thơ con cóc là thơ nói điều hiển nhiên, ai cũng thấy, chẳng cần phải nhà thơ phát hiện. "Bác có bài thơ y hệt bài "Con cóc". Đấy là "Con bướm vàng". Kia là con cóc từ xa đến, nó ngồi đấy rồi nhảy đi, đây là con bướm vàng nó cũng từ xa đến, rồi bay đi, nghĩa là chẳng có gì khác nhau cả. Chỉ khác là bác đã gắn cho nó đôi cánh của con bướm và bác cứ tưởng nó là con bướm. Thực tình nó vẫn chỉ là con cóc thôi... Tôi rất phục cháu bé ở Hải Dương đó. Bằng tuổi nó, tôi chỉ làm được những câu thơ ngớ ngẩn, chứ đâu đã có được ý kiến riêng, đặc biệt là ý kiến khác mọi người. ý kiến của cháu, đối với tôi là một sự phát hiện mới. Tất nhiên, lớn lên, cháu sẽ hiểu, khi con cóc có đôi cánh của con bướm thì con cóc cũng đã không còn là con cóc nữa rồi.

Khi viết anh có nghĩ mình sẽ trở thành nhà thơ - và là một thần đồng thơ không?

Hoàn toàn không. Tôi viết như chơi, không hề có ý thức gì. Năm 1968, khi gặp Xuân Diệu, tôi mới biết làm thơ rất vất vả, chứ  trước đó một ngày tôi viết đến 3, 4 bài. Sở dĩ thời đó tôi viết được nhiều, cũng vì mọi người khi xem thơ tôi in trên báo, lấy làm lạ và đến nhà chơi rất đông, không ít người không tin, cho là người lớn gà, nên yêu cầu tôi làm thơ tại chỗ. Ngay cả nhà văn Lý Biên Cương, bạn thân của anh Minh đến nhà , cũng yêu cầu tôi làm thơ tặng. Tôi viết luôn :"Anh đi xe lết cao cao, dừng xe ở cửa anh vào nhà em, mắt anh đeo cặp kính đen, xe anh cũng chẳng có đèn có chuông". Kỷ niệm này, anh Lý Biên Cương vẫn còn nhớ. Đấy là thơ con cóc, tả anh Cương đúng như hôm anh ấy đến nhà, nhưng loạng quạng thế nào lại ra ông thiến lợn. Nhiều bài trong tập "Góc sân và khoảng trời" sau này cũng viết trong trường hợp như thế. Viết theo yêu cầu đã tạo cho tôi thói quen của một người sáng tác chuyên nghiệp khi vẫn còn bé tý. Nghĩa là không phải viết ngẫu hứng. Mà nói thật, tôi chẳng thấy hứng gì khi bắt tay vào viết. Có người bảo làm thơ phải  có hứng, điều đó với tôi rất xa lạ. Tôi cứ viết, viết ào ào, rồi hứng đến sau.

Thưở ấy, anh đã đọc thơ của anh mình, nhà thơ Trần Nhuận Minh chưa? Anh có ngưỡng mộ thơ của anh mình và mong muốn sau này sẽ trở thành một người như anh ấy không?

Ngưỡng mộ thì không hẳn, vì thời đó bác Minh cũng ở vị trí khiêm nhường lắm. Chẳng ai để ý đâu. Ngay tôi, tôi cũng không để ý. Sau này, có người đọc bác Minh, vẫn đọc theo ấn tượng cũ. Đấy là điều rất thiệt cho bác ấy. Thơ Trần Nhuận Minh bật lên từ thời kỳ đổi mới. Tôi cho đó là môt cuộc lột xác. Mà lột đến ba lần, từ Nhà thơ và hoa cỏ, đến Bản xô nát hoang dã và gần đây là 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh. Bác Minh đã đổi mới thành công vì găm được không ít thơ mình vào tâm trí người đọc. Trong hai anh em, nếu chỉ nhìn ở mảng thơ, tôi nghĩ rằng, bạn đọc sau này chỉ nhớ đến Trần Nhuận Minh thôi chứ không nhớ đến cậu Khoa đâu. Còn trước đổi mới, anh ấy chỉ lòe nhòe lẫn trong đám đông. Nhưng trong đời, với tôi, anh ấy là một tấm gương sáng về tất cả mọi phương diện, đặc biệt là sự hiếu học và lòng đam mê sách. Tôi khôn lên được nhờ tủ sách của anh ấy. Còn tủ sách của tôi thì rất vớ vẩn. Tôi không đọc, mà đọc thẳng tủ sách của anh Minh. Anh ấy đi dạy học ở Quảng Ninh, có khi nửa năm mới về, nhưng chìa khoá tủ sách vẫn để ở nhà, anh ấy bí mật nhét vào ruột bức tượng M. Gorki đặt trên nóc tủ. Thế là tôi cứ lôi sách của bác ấy đọc. Đặc biệt là những cuốn sách cấm. Hồi ấy sao mà nhiều sách cấm thế. "Vào đời" và "Hai trận tuyến" của Hà Minh Tuân. Hai cuốn này thì cũng bình thường thôi. Tôi đặc biệt thích "Bỉ vỏ" của Nguyên Hồng, "Số đỏ", "Giông tố" của Vũ Trọng Phụng, "Thi nhân Việt Nam " của Hoài Thanh, "Núi đồi và thảo nguyên " của T. Aimatop, "Truyện ngắn A. Sekhop" có lời giới thiệu của Nguyễn Tuân. "Đỏ và Đen" của Standan...Đấy đều là sách cấm. Anh Minh bọc rất cẩn thận. Ngoài ngăn sách đó, còn có một dòng chữ của bác Minh: "Sách cấm. Đài báo nói là sách độc hại". Chính vì thế mà tôi tò mò đọc và thấy hay đến lạ lùng. Tôi đọc đến hàng ngàn cuốn sách khi còn ở tuổi cấp I, cấp II. Tôi học là học ở trong sách chứ không phải học ở nhà trường. Trường thì có gì đâu, nhất là trường trong chiến tranh và lại ở một làng quê còn nhiều lạc hậu. Đến bây giờ quê tôi vẫn còn rất lạc hậu. Tôi có chút nào nhích hơn so với bè bạn là nhờ ở sách thôi. Trí khôn của loài người nằm hết ở trong sách. Vì vậy, đọc càng nhiều càng tốt, bất kể đó là loại sách gì. Bởi thế, tôi rất mừng khi gần đây, NXBKĐ đã in rất nhiều sách không phải viết cho trẻ con để cho trẻ con đọc. Điều ấy là rất tốt và rất đúng.

Nhà thơ, nhà báo nào là người đầu tiên viết bài về thần đồng thơ Trần Đăng Khoa?

Người đầu tiên viết bài về tôi là anh Nguyễn Nghiệp ở Nhà xuất bản Giáo dục, sau đó là ông Hồng Nhu ở báo Quân đội Nhân dân. Hồi đấy, anh Nguyễn Nghiệp, được Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên giao cho việc về nhà tôi kiểm tra xác minh xem có đúng tôi làm được thơ không. Anh ở nhà tôi đến nửa tháng, cùng sống, đi cất vó, câu cá, cùng đến trường, cùng dự các buổi sinh hoạt...nói tóm lại là "ba cùng", và chứng kiến những vụ sát hạch của các thày ở Ty Giáo dục Hải Hưng và các vị khách vãng lai. Bản báo cáo của anh với Bộ trưởng, cũng là bài báo viết về tôi, in trên báo Người giáo viên nhân dân. Anh Nguyễn Xuân Khánh cũng viết một bài mấy kỳ in trên báo Thiếu niên Tiền phong "Cháu ngoan Bác Hồ, cậu bé làm thơ".

Anh có sưu tập các bài báo viết về mình không?

Hồi đó tôi không biết, vì báo không đến nhà. Chỉ khi nào tôi có thơ in thì người ta mới gửi báo biếu. Nhưng hồi đó sướng lắm. Chỉ có một bài in, là được báo biếu liên tục 6 tháng. Chỉ cần hai bài in đã có một năm báo để đọc. Tôi in bài chủ yếu trên báo Thiếu niên tiền phong, Văn Nghệ, Văn Nghệ Quân Đội. Sau này, đọc những luận văn, luận án của các bạn sinh viên, nghiên cứu sinh, họ thu thập thông tin mới biết các bài báo viết về mình như thế. Chứ hồi đó thì tôi không biết gì cả. Cho đến nay, đã có hơn 20 luận án tốt nghiệp đại học, cao đẳng, luận án Tiến sĩ về các sáng tác của tôi.

Trở thành một nhà thơ "nhí" nổi tiếng có ảnh hưởng nhiều đến việc học tập của anh không?

Thật ra hồi đó tôi cũng không biết mình nổi tiếng đâu, thật sự thế đấy. Phải nói thẳng ngày xưa tôi học không giỏi, bởi rất tài tử. Khi đi học tôi chỉ có một cuốn vở, viết lộn tùng phèo tất cả vào đó, vở hết thì thay cuốn khác. Chẳng có nề nếp trật tự gì cả. Rồi cứ thế nhét vở vào túi quần mà đến lớp. Cho nên chỉ kiểm tra vở sạch chữ đẹp là tôi bị loại khỏi danh sách học sinh tiên tiến. Vì học sinh tiên tiến không được có điểm 7. Hay tập làm văn cũng thế. Tôi rất khốn khổ để luyện câu văn theo khuôn mẫu nhà trường để trở thành học sinh giỏi văn Toàn Miền Bắc (Hồi đó đất nước bị chia cắt, nên Học sinh giỏi chỉ thi nửa nước thôi). Tôi 2 lần thi đều đoạt giải cao (Giải nhất và giải nhì). Sau này, khi ra trường, để phấn đấu thành một nhà văn, tôi cũng rất khốn khổ trong việc thoát ra khỏi những câu văn theo phép tắc học trò. Ở ta, nhà trường và đời sống là một khoảng cách rất xa nhau. Đó là nỗi bất hạnh của người đi học.

Anh khó chịu hay hãnh diện khi là "người của mọi người"? Anh thích tất cả mọi người đều biết đến mình và gọi mình là thần đồng chứ?

Chẳng hay ho gì khi đi đâu cũng có người cứ chỉ chỉ chỏ chỏ. Có người lại còn tò mò kiểm tra xem mình có đuôi hay không, mình ...ị cứt vuông  hay cứt tròn. ( Xin lỗi)...Có không ít ông khách đến ở nhà tôi hàng tuần liền, khi đi mới tiết lộ như vậy. Khiếp quá! Sướng nhất là được làm một người vô danh.

Mệt mỏi như thế, anh có phải gồng mình lên để xứng đáng với vai trò một nhân vật  luôn bị "người ta trông vào"?

Tôi không ý thức lắm đâu. Tất nhiên là các anh chị phụ trách cũng rất hay nhắc nhở cần phải thế này, thế kia và tôi luôn luôn được uốn nắn.

            Anh có "biện pháp" gì đối phó với tình trạng luôn bị kiểm tra, sát hạch ấy?

            Thoạt đầu tôi rất khó chịu. Nhưng rồi quen dần. Quen lại thấy hay hay. Nhờ thế mà tôi trở thành người viết chuyên nghiệp ngay từ khi còn bé

            Bây giờ anh có cảm thấy mệt mỏi như ngày xưa không?

            Nói thế này có lẽ hơi khó tin, nhưng ngày xưa tôi như thế nào, thì bây giờ vẫn như thế.

            Lúc nào cậu bé Khoa cũng nghĩ đến việc phải tìm ra tứ thơ, câu thơ hay, cho ra mắt bài thơ mới chăng?

 Không phải thế. Tôi không yêu thơ đến mức thế đâu. Khi cần viết thì viết. Nếu cảm thấy chán thì thôi. Tôi rất tự tin và không bị tác động bởi dư luận nhuốm đầy mầu sắc cảm tính. Tôi rất biết là mình đang ở đâu.

Anh có thể cho biết mình ở đâu?

Tôi vẫn là mình, vẫn là Trần Đăng Khoa.

Hình như anh đã từng viết trường ca và bị nhà thơ Xuân Diệu " bóng gió" là...không nên đẻ như gà?

Tôi viết trường ca rất sớm. Trường ca đầu tiên viết khi học lớp 4 và trường ca cuối cùng viết năm 1974, khi đang học lớp 10. Sau đó, tôi giã từ trường ca, vì không có nhu cầu viết nữa, chứ không phải vì Xuân Diệu chê. Xuân Diệu không thích trường ca. Ngay trường ca "Đường tới thành phố", tác phẩm đặc sắc nhất của Hữu thỉnh, Xuân Diệu cũng phủ nhận rất quyết liệt. Không phải lúc nào Xuân Diệu cũng đúng.

Người ta bảo anh là nhà thơ nhí được hai cây đại thụ trong làng thơ Việt Nam là nhà thơ Tố Hữu và nhà thơ Xuân Diệu"đỡ đầu", điều đó khiến anh thấy mình may mắn?

Tất nhiên rất may mắn, vì có Xuân Diệu tôi mới ý thức hơn nữa cái gọi là lao động văn chương. Tôi hiểu nghề văn là nghề lao động khổ sai. Làm một nhà thơ lớn đến như Xuân Diệu mà tôi thấy ông cũng chẳng sung sướng gì. Vì thế, nghề văn là nghề chẳng có gì đáng để kiêu ngạo, ngay cả khi anh đã rất thành đạt.

Thưở bé anh là cậu bé tự tin, dạn dĩ, hay xấu hổ? Cậu Khoa ngày đó có giống với Trần Đăng Khoa bây giờ?

Tôi thưở trước y hệt như bây giờ, không khác gì đâu. Có chăng, thuở đó mình là thằng bé con, còn bây giờ là một lão già. Bởi thế, bây giờ, con người tôi hợp với khuôn mặt tôi. Còn hồi đó, nhiều người bảo tôi là ông cụ non. Tám chín tuổi đã đi nói chuyện thơ. Nhiều hội nghị chẳng dính gì đến văn chương cũng mời Trần Đăng Khoa đến, giành cho mấy tiếng đồng hồ để đọc thơ và nói chuyện. Có những hôm tôi phải đứng lên ghế mới cao ngang micrô, nói chuyện và trả lời các câu hỏi của độc giả. Nghĩa là tôi y hệt như bây giờ.

 Khi nhận được những lời mời đi nói chuyện thơ trước rất đông người trong các cuộc hội nghị, anh chuẩn bị bài phát biểu trước không?

Không. Vì biết thế nào mà chuẩn bị. Tôi cứ nhìn vào thính giả mà nói.  Buổi nói chuyện như thế nào là do khán giả quyết định. Khi họ chán là phải đổi chương trình ngay. Không đổi được thì phải rút ngay. Mà phải rút lui trước khi họ chán.

Nhiều người nói anh có trí nhớ tuyệt vời, nhưng hình như đó là trí nhớ biết "nhớ những điều nên nhớ và biết quên những điều đáng quên"?

Điều đó cũng đúng chỉ một phần thôi, bởi ngay cả những cái rất dớ dẩn tôi vẫn nhớ. Nhớ đến không thể xoá đi được. Điều tôi khó nhớ nhất, là những cái  cứ bàng bạc, cứ kẽo cà kẽo kẹt một cách nhạt nhẽo. Còn những cái thật hay hoặc thật dở thì tôi nhớ ngay. Nhớ tắp lự. Tôi ớn nhất là những cái cứ nhàn nhạt. Những cái ấy không thể nhớ được. Có học rồi cũng quên.

Anh có làm thơ tặng các thiếu nữ hay đọc thơ lúc nói chuyện riêng với họ không?

Tuyệt nhiên không. Thậm chí tôi rất dị ứng với những anh như thế. Tôi thấy họ không bình thường.

Xin tò mò hỏi anh ...tỏ tình như thế nào khi yêu?

Tôi là một người rất bình thường, nên trong chuyện yêu đương cũng thế, chẳng có gì đặc biệt để đem khoe với bạn. Có người nghĩ tôi là một anh chàng rất lãng mạn, lại có người nghĩ tôi rất nhà quê, thậm chí là rất ngớ ngẩn. Có ông còn viết Trần Đăng Khoa đi Tây mang theo cả can nước mắm, khi về nhà nhớ nước mắm quá lão tu luôn nửa chai. Rồi lão đánh quả mấy thùng khăn quàng đỏ. Đấy, trong con mắt của một số người, tôi hiện lên rất bệnh hoạn.

 Có lẽ vì anh thông minh quá mà người ta không thể bắt được "kênh" của anh?

Cũng chả phải. Có lẽ người ta quen nghĩ dân văn chương là những người không bình thường, hoặc quá lập dị, hoặc quá ngớ ngẩn. Rồi cứ uốn mọi chuyện theo cái khuôn định kiến có sẵn ấy. Thế nên rất buồn cười.

Đọc lại những bài thơ viết khi còn nhỏ, anh nghĩ gì? Anh cho mình sẽ viết hay hơn như thế, nếu trở lại tuổi thơ không?

Theo tôi, chúng ta không nên đặt vấn đề như thế. Không nên bắt ông già làm một đứa bé con. Cũng như không thể bắt con voi bé lại thành con kiến và rồi hy vọng con kiến lại có cái đầu của con voi.

Nghĩa là anh không muốn trở lại làm một thần đồng như thưở trước?

Không ai có thể trở lại làm trẻ con một lần nữa. Thời đó đã xong rồi. Hay dở gì thì cậu Khoa cũng đã hoàn thành xong nghĩa vụ của cậu ấy. 

-Trong những chân dung văn học mà anh đã công bố, có bao nhiêu phần trăm sự thật và bao nhiều phần trăm sự gần-giống-cái-thật?

- Nói đến sự thật là một vấn đề không mấy đơn giản, nhất là đối với việc sáng tác văn học. Vì cùng một sự việc, có thể tôi nhìn khác bạn. Và bạn thì nghĩ khác tôi? Điều ấy là rất bình thường. Bởi vậy không thể lấy mắt tôi ra làm tiêu chí, làm thước đo để đánh giá cách nhìn của bạn. Tôi rất tôn trọng sự trung thực, nhất là trung thực với chính mình. Tôi thường viết đúng như những gì mình thấy, mình nghĩ. Vốn là người làm báo và cũng say mê với nghề báo, nên tôi có nhiều tư liệu rất tốt, gần đây, làm chương trình về một vài nhà văn đã khuất, các bạn bên truyền hình đã sử dụng không ít những tư liệu của tôi. Tôi quay phim các nhà văn cũng vì lòng yêu mến, ngưỡng mộ, muốn giữ lại hình bóng của họ trên cõi thế. Chỉ đơn giản vậy thôi chứ cũng chẳng có mục đích nào khách. Tôi rất tiếc không kịp quay Xuân Diệu, Chế Lan Viên và một số nhà văn khác mà tôi yêu mến. Hồi các cụ còn sống, nước mình khổ quá. Bây giờ có muốn  ngắm gương mặt các cụ cũng chịu. Thế nên sau này, có điều kiện, tôi cứ ghi lại.  Ghi rồi để đấy. Cái gì sử dụng được thì sử dụng.  Cái gì chưa sử dụng thì để ở dạng tư liệu. Có cuộc đối thoại, tôi chép từ băng ghi âm ra (hiện băng tôi vẫn còn giữ, và đã chuyển sang đĩa CD), vậy mà khi sách ra, có ý kiến phê phán, quy chụp, thế là người ta chối từ, bảo tôi bịa, tôi đã nhét vào miệng họ chứ họ không nói như thế. Tôi thấy chán quá. Vừa chán vừa buồn cười.

-Những tác phẩm văn học mà mà anh đang đọc trong thời điểm này? Và nó có tác động lên anh không?

- Tôi đọc rất nhiều. Ngày nào cũng đọc. Tôi rất thích Mạc Ngôn. Anh có hai cuốn dịch sang ta đều vào loại rất hay. Cuốn "Báu vật của đời" còn có đôi chút cường điệu, chứ "Đàn hương hình" thì nhuần nhuyễn từ đầu đến cuối. Trong bể sách hiện nay, nói thực với bạn, tôi chỉ thấy có hai cuốn đó là đáng đọc thôi. Không còn nghi ngờ gì nữa, Mạc Ngôn là một trong những nhà văn lớn nhất của hành tinh này ở chính thời điểm này. Tôi phục Mạc Ngôn một phần, còn phục hơn là phục các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc.  Họ đã đổi mới đúng. Nhờ thế mà trong một khoảng thời gian rất ngắn, Trung Quốc đã thực sự trở thành một quốc gia hùng mạnh trên tất cả mọi lĩnh vực. Riêng văn học và điện ảnh, chúng ta thấy quá rõ. Suốt ngày, dân mình xem phim Trung Quốc. Tất nhiên, đó mới chỉ là hàng chợ của họ thôi.  Nhưng hàng chợ, họ làm cũng giỏi vô cùng. Còn văn học thì một trong những đại biểu của họ là Mạc Ngôn. Mạc Ngôn lại là một nhà văn còn rất trẻ. Anh cùng trang lứa với chúng tôi. Thế mới hãi. Đọc anh, không biết các nhà văn khác thế nào, chứ tôi thì tôi sốt ruột lắm. Sốt ruột và đau đớn. Tại sao cũng da vàng mũi tẹt như mình mà sao lão làm được những việc lớn như thế, mà mình thì cứ bi bét mãi. Trong cuộc hội thảo gần đây về tiểu thuyết, có nhà văn bảo: "Rồi chúng ta sẽ có những Mạc Ngôn". Tôi không tin. Không phải vì nhà văn chúng ta kém tài, mà vì chúng ta thiếu một cái gì đó. Cái đó lại nằm ngoài chúng ta.

- Hiện nay ở ta, hình như đang có một hiệu ứng Mạc Ngôn. Nhiều cây bút bắt chước Mạc Ngôn, trước đây thì bắt chước R. Marquez.

- Tôi không phải kẻ vọng ngoại. Xin bạn hãy lưu ý cho điều ấy. Và cả anh em mình nữa, nếu họ có tiếp thu những tinh hoa của nhân loại thì cũng nên xem là điều bình thường và nên khuyến khích chứ đừng vội quy kết. Tuy thế, học được cái hay của thiên hạ cũng chẳng dễ đâu. Gần đây, tôi có đọc một cuốn tiểu thuyết của một nhà văn cũng chưa phải là già. Cuốn sách nghe đồn có vấn đề. Tôi đọc và thấy nó chẳng có tội vạ gì cả. Nó chỉ có mỗi một tý nhược điểm là ...không hay. Thế thôi. Nhiều trang sa vào dung tục và đọc cứ thấy bẩn bẩn. Tôi kêu thì tác giả bảo: "Ông đã đọc Mạc Ngôn và R. Marquez chưa? Mạc Ngôn toàn vú vê. Marquez toàn cởi truồng. Bà Hồ Xuân Hương của ta cũng đâu có kém". Tôi thật sự kinh ngạc. Hoá ra ông bạn tôi  chẳng hiểu gì Mạc Ngôn và cũng không biết gì về các bậc tiền bối. Quả trong tiểu thuyết Trăm năm cô đơn của Marquez có nhân vật là một cô bé quanh năm cởi truồng. Cô cởi truồng từ khi còn bé cho đến lúc thành một thiếu nữ xinh đẹp. Đó là một vẻ đẹp thánh thiện, đến nỗi chẳng ai để ý đến việc cô cởi truồng. Thế rồi một buổi trưa, cô đang tắm thì có tiếng động ở khe liếp phía sau. Cô quay lại. Có một ánh mắt đàn ông đang nhìn trộm. Thế là cô sợ quá, vội đưa tay che ngực rồi co người bay vút lên trời qua kẽ ngói thủng ở trên nóc nhà tắm. Cái chi tiết người bay qua kẽ ngói này quả là phi lý, nhưng người đọc lại không thấy phi lý, thậm chí lại có cảm giác rất thật. Đây là cái thật cao hơn sự thật. Khi bị nhìn trộm, vẻ đẹp của cô bé không còn thánh thiện nữa, nó đã bị nhuốm bẩn mất rồi. Không còn chốn nương náu nên cái đẹp phải "biến " thôi. Toàn bộ những chi tiết cởi chuồng là sự chuẩn bị cho cú bay ngoạn mục này. ông bạn tôi dường như chỉ học được phép cởi truồng và lại cứ tưởng cởi truồng là R. Marquez. Nhầm. Tinh  hoa của Marquez chính là cái phép bay qua kẽ ngói thủng...

 Có người bảo, người đàn ông ngoài 40 tuổi Trần Đăng Khoa bây giờ chỉ là cái bóng mờ của cậu bé con 8 tuổi Trần Đăng Khoa xưa kia. Anh nghĩ sao về nhận định này?

 Chẳng ai yêu Trần Đăng Khoa bằng tôi và cũng chẳng có ai ghét Trần Đăng Khoa bằng tôi. Chính vì thế mà tôi rất hiểu ...bố con lão. Tôi có thể thành thật nói với bạn rằng, chẳng bao giờ lão già Trần Đăng Khoa lại là cái bóng mờ của thằng bé con Trần Đăng Khoa mà phải ngược lại mới đúng. Nhân đây, tôi cũng muốn nói thêm rằng, đừng nên lấy trẻ con làm thước đo người lớn, vì nó rất phản khoa học. Muốn so sánh phải so cùng cấp độ. So cậu Khoa với bạn bè cùng trang lứa với cậu, là những tác giả nhí nổi tiếng thời ấy, như  Cẩm Thơ, Hoàng Hiếu Nhân, Nguyễn Hồng Kiên, Chu Hồng Quý, vv... hoặc nới rộng hơn, so cậu với mấy thi sĩ thuộc bậc đàn anh của câu, là những tác giả cùng nổi tiếng thời ấy xem bây giờ họ sống và viết ra sao, chứ sao lại so sánh giữa cô bé 8 tuổi với người phụ nữ trưởng thành. Chưa nói đến những vấn đề cao siêu, chỉ riêng cái ai cũng nhìn thấy ngay là cơ thể đã hoàn toàn khác nhau rồi. Nếu lấy cô bé 8 tuổi làm thước thì sẽ thấy người phụ nữ vô lý đùng đùng. Bởi trước kia sao nó nhẵn nhụi phẳng phiu thế mà bây giờ thì lại gồ ghề, lồi lõm thế. Đúng là một cơ thể có bệnh u bướu rồi. Đâu ngờ, chính những đường nét gồ ghề "bệnh tật" ấy  lại chính là vẻ đẹp mê hồn của họ. Nếu không tin, bạn cứ thử  đi hỏi giới mày râu mà xem! Thiên đường đấy!

Có người còn bảo nhà thơ Trần Đăng Khoa "về hưu" lúc 10 tuổi, anh nghĩ sao? Anh có cảm thấy cay đắng và khó chịu khi nghe người khác nói vậy không?

Tại sao lại cay đắng và khó chịu? Đó là một câu ông Trần Mạnh Hảo đề cao tôi. Mà đề cao hơi quá đáng, vì ông xếp tôi ngang với Thánh Gióng, Thánh Gióng 3 tuổi đã về hưu còn tôi 10 tuổi (nghĩa là tính đến năm 1968) đã xong một sự nghiệp, thế thì kinh quá còn gì ! Có lời đề cao nào hơn như vậy? Rồi còn bao thứ lão làm sau "hưu" nữa chứ. Khiếp quá!.  Mấy ai được như thế?

Mỗi năm, các nhà xuất bản đều in đi lại những bài thơ thiếu nhi của anh, nhưng thơ người lớn của anh thì xuất hiện ít hơn, nếu không nói là không được như vậy?

Nhà xuất bản Kim Đồng chỉ in thơ thiếu nhi của tôi. Còn thơ người lớn thì Nhà xuất bản Văn hoá, Nhà xuất bản Thanh niên, Nhà xuất bản Văn Học in đi in lại trong các  tuyển tập. Tôi không tách ra thơ người lớn và trẻ con. Đơn giản, nó là thơ của một tác giả, là thơ một đời. Mỗi lần in lại, tôi lại bổ sung thêm. Tôi in gộp luôn vào một cuốn để bạn đọc có dịp so sánh thơ tôi ở cả hai thời.

Dù không trở lại được thời trẻ con nữa, nhưng dường như anh đang muốn lại là Trần Đăng Khoa thuở bé trong  lĩnh vực văn xuôi?

Nói thật, tôi rất yêu văn xuôi. Vì văn xuôi nói được rất nhiều điều. Tôi không phải là người viết cho thiếu nhi đâu, bởi khi viết, tôi không nghĩ đến thiếu nhi, cũng không nghĩ đến một lứa tuổi cụ thể nào.

Xin tò mò được hỏi, thưa anh, thủơ bé anh có hay nói dối không?

Có lúc, tôi cũng phải nói dối, vì không thể khác được. Chính bây giờ tôi chân thật hơn nhiều. Bây giờ, tôi nói thực, có kẻ ác ý lại bảo tôi là Thằng Cuội. Còn khi đó tôi nói dối người ta lại gọi tôi là cháu ngoan. Hồi đó, sống dễ bị dị nghị lắm. Chỉ cần thật tâm nhận xét về ai đó, nhất là chê ai đó, là dễ thành kẻ kiêu ngạo. Mà đã kiêu ngạo thì là đồ bỏ đi rồi, thế nên, đôi lúc, tôi cũng phải nói dối. Người ta hỏi cháu thích thơ ai? Tôi thường nói cháu thích chú Chế Lan Viên chất trí tuệ, thích chú Tố Hữu chất trữ tình, thích anh Phạm Tiến Duật nét hóm hỉnh... Mỗi người đều có một nét riêng đáng yêu, và cháu yêu tất cả, cháu thích tất cả. Thật ra thì tôi cũng có thích người này hoặc người kia hơn nhưng không thể chê hoặc nói thật ra được. Có lần, bác Hồ Thiện Ngôn làm ở TW Đoàn, ngươì tôi coi như bố về nhà tôi ba tháng để giám sát xem có đúng là thằng Khoa làm được thơ hay người khác làm hộ. Bác Hồ Thiện Ngôn về nhà tôi ngót một tháng và cũng xét nét tôi cũng kỹ hơn những người khác. Bác cùng sống với tôi, cùng tham gia với những sinh hoạt của tôi. Cùng theo tôi dự những buổi tiếp xúc với công chúng. Lúc đó, Bộ Y tế có mở một Hội nghị của Ngành. Hội nghị sơ tán ở huyện Gia Lộc, Hải Dưong. Bác Phạm Ngọc Thạch cũng về dự. Lúc bấy giờ, tôi mới học lớp 3, nhưng đã in khá nhiều thơ, nên được Hội nghị mời đến đọc thơ, nói chuyện thơ suốt hai tiếng đồng hồ. Bác Phạm Ngọc Thạch mừng lắm. Bác tặng ngay tôi một món quà, bác gọi là món quà nhỏ. Đó là cái hộp đựng thuốc lá và cái bật lửa bằng xăng. Bác còn giơ cao món quà bật lên ngọn lửa cho mọi người thấy. Bây giờ mà nghĩ lại, có thể có người sẽ thấy buồn cười, vì ông Bộ trưởng Bộ Y tế, một thầy thuốc lừng danh mà lại mang cái hộp thuốc lá với bật lửa tặng trẻ con. Người lớn muốn khuyến khích trẻ con hút thuốc lá chăng? Nhưng bác Thạch có gì ở trong túi đâu, mà bác lại muốn biểu hiện tấm lòng yêu con trẻ của mình. Hộp thuốc và bật lửa là vật dụng đáng giá nhất mà bác có. Những năm đó, dân mình nghèo lắm, đến cả Bác Hồ cũng rất nghèo. Tôi đứng dậy đáp lễ: " Cháu cảm ơn bác đã tặng cháu món quà nhỏ này. Cảm ơn bác đã tin thế hệ trẻ, đã trao cho thế hệ chúng cháu ngọn lửa cách mạng này. Chúng cháu thề sẽ mang ngọn lửa cách mạng âý đến đích cuối cùng, là xây dựng dựng thành công chủ nghĩa xã hội ngay trên chính quê hương nghèo khó của chúng ta, chứ không phải ở một thiên đường nào khác". Cả hội nghị vỗ tay rầm rầm, cho đó là câu nói hay. Nhưng tôi thì ngượng. Tôi biết mình đã nói dối. Vì ngọn lửa Cách mạng làm sao lại có thể đốt được bằng xăng. Nó đã được thắp sáng bằng tâm hồn, trí tuệ và xương máu của rất nhiều thế hệ, nên nó thiêng liêng lắm chứ không thể phàm tục như ngọn lửa xăng được. Xuống hội trường, bác Hồ Thiện Ngôn  bảo: "Con nói hay lắm. Nhưng vẫn còn một chút sơ xuất. Con biết sơ xuất chỗ nào không?. Con lại gọi đấy là món quà nhỏ...". "Dạ, cháu nhắc lại câu bác Thạch nói, chính bác bảo đấy là món quà nhỏ...". "Người ta gọi là món quà nhỏ, nhưng mình nhận quà, mình lại phải nói đấy là món quà to lớn...". Bác Hồ Thiện Ngôn đã dạy tôi như thế. Bây giờ thì tôi hiểu tấm lòng bác Ngôn, bác dạy tôi trân trọng tấm lòng của người quý mến mình. Nhưng lúc ấy, tôi không hiểu được thế, chỉ nghĩ bụng: "Mình đã là một thằng nói dối, nhưng người lớn còn nói dối hơn..."

Bây giờ, khi đã có con gái, anh có mong con gái mình cũng sẽ là một thần đồng thơ như bố ?

Không. Cháu là con gái, nên tôi muốn cháu có một đời sống bình thường. Chỉ những người bình thường mới có hạnh phúc thứ thiệt. Thơ ca đâu có phải là cái gì ghê gớm mà cả mấy bố con phải phụng sự, theo đuổi. Nhà chỉ cần có một người làm thơ đã là quá đủ rồi. Ba đứa con của ông anh tôi, có đứa nào đi theo nghề của bố và chú đâu. Thậm chí chúng còn nhìn bố và chú như hai lão hâm hâm, hai lão hấp lìm.

 Bây giờ, anh đã có nhiều thời gian để chiêm nghiệm lại những bài thơ của mình, anh thấy có bài thơ nào, câu thơ nào anh cảm thấy ngượng nhất mà không nói ra không? Ví dụ như câu: " ngu xuẩn nhất nhì - Là tổng thống Mỹ". Sau này anh đã phải sửa lại?

Có một nhà phê bình, gần đây trong một cuộc hội thảo, cũng bảo tôi nên giữ câu thơ như cũ cho có tính lịch sử. Khổ lỗi, tôi có phải là nhà sử học đâu. Tôi chỉ tuân theo giá trị đích thực của nghệ thuật thôi. Câu ấy sau này tôi có sửa, không phải vì mối bang giao của ta với Mỹ. Tôi muốn giữ cho hơi thơ được tự nhiên, trong sáng, hợp với không khí đồng dao của toàn bài chứ không phải vì Tổng thống Mỹ. Nói về Tổng thống Mỹ lúc ấy như thế, đến bây giờ vẫn đúng. Tổng thống Mỹ có thể  thông minh ở đâu đấy, vì không thông minh thì chắc nhân dân Mỹ chẳng bầu ông ta, nhưng việc đánh Việt Nam, giết hại hàng ngàn trẻ con vô tội trong những năm chiến tranh thì không thể gọi là một việc làm thông minh được. Nếu ông Nich xơn sáng suốt thật sự thì ông ấy đã chẳng ngã ngựa giữa đường. Nhưng để lại câu thơ ấýy, cả bài mất đi sự hồn nhiên. Đây là cuộc chơi chỉ có chó mèo, cào cào châu chấu mà Tổng Thống Mỹ không thể can dự vào được. Sự có mặt của ông ta lại làm hỏng cuộc chơi.

Tại sao anh lại lấy tên tập thơ là Góc sân và khoảng trời?

Góc sân và khoảng trời không phải là độc quyền riêng của cậu Khoa. Trong đời, ai cũng có một góc sân và một khoảng trời. Góc sân là nơi ta chập chững bước những bước đầu tiên. Còn Khoảng trời là cái đích cao rộng mà ta cần phải vươn tới 

 Với anh, "góc sân" nào đã sinh một thần đồng thơ Trần Đăng Khoa? Và "khoảng trời", đích đến của nhà thơ là  ở đâu? Từ góc sân ấy, anh đã đạt đến khoảng trời của  mình chưa?

Khoảng trời của tôi chính là độc giả. Tôi rất mừng là bây giờ tôi có một lượng độc giả rất đông. Bằng cớ là năm nào sách tôi cũng in đi in lại và in với số lượng lớn và nối bản cũng nhiều. Đấy không phải là những tập thơ cũ, mà là những cuốn sách mới. Cái đích của tôi, khoảng trời tôi cần vươn đến là chinh phục độc giả đương đại. It nhiều, tôi cũng đã làm được điều ấy. Không chinh phục được độc giả đương đại thì đừng hy vọng sự đồng cảm của độc giả tương lai....

Hình như tuổi thơ với hình bóng cậu bé thần đồng quá lớn, nên sau này mỗi khi nói về mình, anh đều cố ý tếu táo, cười cợt bản thân cho hình bóng ấy "nhẹ vía"?

Không phải đâu. Đó chỉ là đánh giá của một vài người theo lối phê bình quán tính, phê bình a dua, chứ tôi thấy cậu Khoa ngày xưa cũng bình thường thôi. Câu thơ mà người ta cứ khen cậu: Ngoài thềm rơi chiếc lá đa, tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng" thực ra chỉ được có một chữ, là chữ ‘mỏng". Đó chỉ là câu thơ viết bằng tai. Loại thơ ấy, vung tay là viết được. Sau này tôi viết "Tiếng chuông ngàn tuổi tỏ mờ trong mây" , hay "Tháng năm lừng lững đi qua" thì cũng vẫn bút pháp ấy. Tôi lại thích những câu không thể dùng tai mắt mà viết được. Đại loại: Cái còn thì sẽ còn nguyên - Cái tan thì tưởng vững bền cũng tan... Hoặc Mái gianh ơi hỡi mái gianh - Ngấm bao mưa nắng mà mà thành quê hương. Đó mới là những câu thơ không dễ viết. Đó toàn là những câu thơ viết thời "về hưu" đấy. Vì thế, tôi thấy chẳng có gì phải sợ cái cậu Khoa thời cậu ta vẫn còn "đương chức".

Ước mơ lớn nhất của anh bây giờ là gì?

Tôi đã nói trong bài thơ "Gửi bác Trần Nhuận Minh": Giờ thì em đã chán - Những vinh quang hão huyền - Chỉ muốn làm mây trắng - Bay cho chiều bình yên...Tôi không õng ẹo, làm duyên làm dáng. Tôi nói rất chân thành đấy. Với tôi, danh tiếng là vô nghĩa. Rất vô nghĩa.

Cũng trong bài "Gửi bác Trần Nhuận Minh" này, anh còn nói: "Bao nhiêu là giun dế- Đã khiêng vác em lên - Tên tuổi em xủng xoảng - Những mõ ran trống rền..." anh đã gửi gắm rất nhiều nỗi niềm về đời thơ của mình?

Cũng có người khó chịu về mấy câu thơ ấy. Họ tưởng tôi gọi độc giả là giun dế. Khổ lắm! Thượng đế đâu lại là giun dế được? Đấy chính là những nhân vật của thơ tôi thuở nhỏ. Cũng vì không muốn hiểu lầm mà tôi đã phải chú thích rõ như vậy ở cuối bài rồi. Chính giun dế, ếch nhái, kiến đen, chó vàng đã công kênh cậu Khoa, đúc cậu ta thành người nổi tiếng, thành cả "Thần đồng". Nhưng đấy chỉ là "Thần đồng" của ... giun dế thôi nhé!...

Cảm ơn nhà thơ Trần Đăng Khoa!


Xuân mới đọc thơ Trần Đăng Khoa

 ĐỈNH NÚI

 

Ta ngự giữa đỉnh trời

Canh một vùng biên ải

Cho làn sương mong manh

Hoá trường thành vững chãi

 

Lán buộc vào hoàng hôn

Ráng vàng cùng đến ở

Bao nhiêu là núi non

Ríu rít ngoài cửa sổ

 

Những mùa đi thăm thẳm

Trong mung lung chiều tà

Có bao chàng trai trẻ

Cứ lặng thinh mà già...

 

Áo lên màu mốc trắng

Tóc đầm đìa sương bay

Lời yêu không muốn ngỏ

E lẫn vào gió mây

 

Bỗng ngời ngời chóp núi

Em xoè ô thăm ta ?

Bàng hoàng xô toang cửa

 

Hoá ra vầng trăng xa...

                                                                          

 QUA XUZĐAN*

 

    Thành xưa đổ bóng vào trời

   Khói sương lãng đãng -  Một thời đã xa

                   *

    Tháng năm lừng lững đi qua

    Chỉ còn mấy đỉnh tháp già ngẩn ngơ

                   *

    Chiều buông ngọn khói hoang sơ

    Tiếng chuông ngàn tuổi tỏ mờ trong mây...

                   *

    Người xưa hồn ở đâu đây

    Nhìn ra chỉ thấy tuyết bay trắng chiều...

                                

 

THƯỞNG  TRÀ XUÂN CÙNG BẠN

Tặng Hoàng Anh Sướng

 

Nhấp chén trà thứ nhất

Da thịt bỗng tỏa hương

Đời thực thành cõi mộng

Trần gian hóa thiên đường

 

Ta nâng chén thứ hai

Cho đất trời tinh khiết

Tâm ta bừng sáng ra

Biết thêm điều chưa biết

 

Mai sau đời dẫu tuyệt

Chắc gì hơn lúc này

Nào châm thêm chén nữa*

Hai đứa mình cùng ...bay!

 

2010

-------------------

* Châm: Rót, ngôn ngữ Trà đạo

 

 TÂY BẮC

 

Bỏ lại phố phường bon chen

Ta về thung thăng với núi

Có màu lính giữa đại ngàn  

Núi bỗng quên mình ngàn tuổi

 

Và thế là mùa xuân tới

Trong từng vó ngựa tuần tra

Nòng súng chán làm sắt thép

Muốn thành cây để trổ hoa

 

Con suối riu riu trầm mặc

Đá hoá chàng trai mộng mơ

Cỏ cây rực màu thiếu nữ

Rừng buông sương tím ỡm ờ…

 

Đất trời bồng bềnh men rượu

Em từ mây trắng bước ra

Ối chao nàng tiên xuống chợ

Váy áo thông thênh nõn nà…

 

Ta cũng trẻ như trời biếc

Núi ngắm nhìn ta mơ màng

Thế rồi mùa xuân hào phóng

Tặng ta cả rừng hoa ban…

 

                                    2005

 

                       

TRÁI ĐẤT QUAY...

       

Chẳng có gì mới lạ

Trái đất tít mù quay

Nóng chán rồi sẽ lạnh

Buồn, vui đều thoảng bay...

 

Cái gì đến sẽ đến

Cái gì qua phải qua

Chả cần chi phấn đấu

Ta cũng thành... cụ già

 

Coi đời như cát bụi 

Muốn yên mà chẳng yên

Thế giới còn chao đảo

Thì có chi vững bền?

 

Hãy làm một việc thiện

Kịp trao nhau lúc này

Ngày mai nào ai biết,

Cõi người mù mịt quay...

2010



* *  Suzdan – Thành phố cổ của Nga, xây dựng từ thế kỷ XI


CHUYỆN TÀO LAO

Lão Khoa vẫn thường viết chuyện thiên hạ. Bây giờ, nhà báo Hà Vân (Phóng viên Nhà báo &công luận) lại chiếu tướng lão. Mà không, cô ấy lột trần lão. Khiếp. Ghê răng lắm. Nhưng thôi, tôn trọng bà nhà báo trẻ, lão cứ đẩy lên Blogcho các bạn cùng cười. TĐK

 

Tào lao chuyện Lão Khoa

Hà Vân

Ngày trước nhắc đến lão Khoa, tôi cứ tưởng tượng hẳn nhà thơ phải phong độ lắm, chỉn chu lắm. Giờ Trần Đăng Khoa là giám đốc kênh truyền hình VOV của Đài Tiếng nói Việt Nam thì tôi lại càng chắc nịch, cái ông này hẳn nguyên tắc lắm, ngạo nghễ lắm, bóng lộn lắm...


Gặp! Mới vỡ lẽ, chẳng hề giống tưởng tượng. Lão Khoa bụi bặm, đời thường đến mức, có cảm giác lão chả bao giờ biết...làm đẹp. Nhưng nhiều người mê lão vì cái tính chân chất, giản dị...Lão bảo, thím cứ nhắm mắt lại mà ngắm, sẽ thấy anh rất đẹp giai, còn cứ mở mắt thì  anh tởm lắm. Tôi nghĩ, lão đẹp bởi những điều rất nhỏ, xin góp mấy mẩu chuyện về lão thần đồng thơ nhân ngày đầu  năm mới!

 

Cái lão nhà thơ lắm việc

Phỏng vấn lão Khoa tưởng dễ mà khó, tưởng thú vị mà rồi lại chẳng hề thích thú gì. Đến cơ quan lão, “âm mưu” làm cuộc phỏng vấn mà đến giờ vẫn ấm ức. Giành giật mãi mới được mấy tiếng  ngồi với lão mà cửa phòng lão cứ toang hoang, người ra người vào chóng mặt. Lão cứ trả lời được một câu là lại có kẻ ập vào “quấy rầy”. Lão phải đứng lên ngồi xuống liên tục, chân đất đi ra đi vào, riêng cái chuyện bắt tay đón khách, chào khách cũng đủ mệt. Thế mà lạ, mặt lão cứ hơn hớn. Nếu lão cởi trần thì thành chú Tễu. Túi bụi thế mà chẳng nhăn nhó gì, cứ cười phớ lớ... Nhân viên và khách đến với lão là vui như tết. Câu chuyện cũng hay ho lắm nhưng ruột gan tôi nóng như lửa đốt. Thỉnh thoảng có những cuộc gọi điện thoại đến, lão lại bảo đang có một nữ phóng viên tra khảo. Thế mới oan uổng chứ. Phỏng vấn thì ít mà ngồi... đếm khách  thì nhiều, mà lão cứ “quy chụp” hoàn toàn cái buổi chiều nay, lão thuộc về tôi! Tôi cứ phải tranh thủ “đuổi” khéo khách của lão để giành lấy thời gian chứ không thì chắc lại phải lọ mọ tìm lão lần khác.  Trước khi ra về tôi nói với lão: “Này anh, em là mang tiếng lắm nhé. Tiếng “ăn cướp” của anh thời gian mà có cướp được anh cho riêng mình đâu, toàn bị “hớt tay trên”. Lão Khoa cười: Ừ, thím thông cảm cho. Anh như cái mõ làng, ai cũng “gõ” được!...

Giọng của lão tha thiết và ấm áp!

 

Bắt đầu từ cái máy ghi âm

Đó là cái máy ghi âm lão Khoa tặng tôi. Chuyện cũng từ cái buổi phỏng vấn đó. Tôi và lão ngồi trò chuyện, ngồi nhiều quá, véo von nhiều quá nên máy ghi âm đầy, không ghi tiếp được.... Nó không xịn, thành thật thế.

- Phóng viên đi làm việc thì phải dùng cái máy tử tế. Máy của thím là đạo cụ diễn kịch. Thím phải nhớ thím là phóng viên chứ không phải diễn viên...

- Dạ vâng – Nói thế nhưng trong đầu tôi thì thầm nghĩ: Ồ, cái lão này đúng là ở trên giời. Người ta mới chân ướt chân ráo vào nghề.. Tiền lo thuê nhà còn đang...toát cả mồ hôi đây. Sắm được máy ghi âm Tầu là oách rồi. Mua máy chuyên nghiệp thì...nhịn đói à!

Chuyện tưởng chỉ có thế. Một vài ngày sau đó, lão Khoa điện thoại và báo tin là lão vừa mua tặng tôi một cái máy ghi âm tốt hơn. Cái Lão này thoáng thế, quen thân gì đâu mà mua quà. Nhưng mà mấy khi được thần đồng tặng quà, tặng một câu thơ đã mừng run rẩy nữa là một cái máy ghi âm kỹ thuật số. Đó là một kỉ niệm.- Tôi nghĩ thế.

Cái máy ghi âm thuộc sở hữu của tôi vào một vài ngày sau đó, trong chuyến rong ruổi vào Sài Gòn tham gia buổi giao lưu “Nhà báo và người lính” do tạp chí Nghề báo tổ chức. Lão Khoa bảo tôi: Cuối năm bận lắm nhưng nhà báo Huỳnh Dũng Nhân mời thì bỏ hết. Hóa ra lão rất quý nhà báo Huỳnh Dũng Nhân. Lão còn bảo: Thím muốn học nghề thì cứ tìm các tác phẩm báo chí của Ngô Tất Tố, Phạm Quỳnh, Hữu Thọ, Nguyễn Trần Bạt, Trần Đăng Tuấn, Đỗ Doãn Hoàng, Huỳnh Dũng Nhân, Phan Vàng Anh ở cuốn “Trường hợp chị Thỏ Bông”, Nguyễn Quang lập ở “Ký ức vụn”, Hoàng Anh Sướng ở “Bùa ngải xứ Mường”. Cứ đọc thẳng tác phẩm của họ rồi tìm ra cách viết riêng của mình.... Còn nhà báo Huỳnh Dũng Nhân hôm trước gọi điện thì bảo:Đi cùng anh Khoa ra sân bay cho đỡ tốn tiền em nhé. Lão ấy có xe riêng. Thế là tôi “bám càng” cái lão Khoa giàu có này.

 

Tớ già, ngoài 70 rồi

Không như suy nghĩ của nhà báo Huỳnh Dũng Nhân, Lão Khoa đi taxi.

-         Tưởng anh có lái xe cơ quan đón chứ? – Tôi hỏi

-         Vất vả nó ra, mình đi việc riêng thì sao lại dùng xe cơ quan- Lão trả lời tỉnh bơ. Anh lái taxi cũng chen vào:

-         Bác việc gì phải vất vả. Cháu thấy người ta có quyền chức thì tận dụng của công nhiều lắm.

-         Tớ thì không ham mấy thứ đó. Hầu như chẳng bao giờ mình dùng đồ cơ quan, kể cả điện thoại bàn. Đi đâu thì gọi Tắc. Rất đàng hoàng, tiện và thanh thản

-         Bác đi nhiều sao không mua ô tô? – Anh lái xe tò mò

-         Thì tớ cũng đang đi ô tô đây thôi. Có xe lại khổ vì xe. Để mua một cái xe tử tế, phải có ít nhất cũng hơn tỷ bạc. Dùng tiền đó, đi tác xi, có phải sướng không? Mà đi đến bao giờ mới hết được hơn tỷ bạc. Có ô tô, loạng quạng húc nhau thì khốn. Mình chết không sao. Nhưng người khác chết thì mình tàn đời. Đền ba chục triệu lo đám tang là xong, nhưng mình sẽ không bao giờ yên vì day dứt, ân hận. Sẽ không bao giờ còn yên ổn được nữa…

-         Dạ. Xin phép được hỏi, bác năm nay bao nhiêu tuổi rồi ạ?-  Anh lái xe chân tình

-         Tớ ấy hả? Ngoài 70 rồi.Già mõm ra rồi.

-   Ngoài 70 mà trẻ thế ạ?

Cậu thấy tớ trẻ à? Nhiều cô còn hỏi tớ: “Bố đi mỹ viện ở đâu mà nõn thế? Tớ bảo, bố tự vôi ve đấy! Loại mỹ phẩm nào ạ? Mỹ phẩm của giời. Cứ không thù ghét ai,không ham hố quyền chức, tiền bạc, không bực giận cáu gắt, thì mặt mũi lúc nào mà chả phừng phừng hơn hớn. Làm sao mà sầu héo được. Bệnh tật, già yếu, suy cho cùng cũng chỉ là lệch nhịp, mất cân bằng sinh thái mà thôi…

Xuống taxi tôi hỏi ngay:

- Anh mà ngoại thất tuần rồi sao. Thật không?

- Thì cứ nói thế, mình mới được khen là trẻ chứ. Chẳng mất một xu mà được cải lão hoàn đồng. Nói thật tuổi, bọn trẻ nó lại thương lão già: “Ối giời, bố lao động trí óc từ bé. Bố già quá, mà lại già không đều. Bụng bó phệ. Trán bố hói. Mắt bố lờ đờ như mắt cá chết. Nghe cứ ghê cả răng.

Hoá ra là thế! Giờ mới biết có một lão Khoa, không chỉ là thần đồng mà còn có phép “cải lão hoàn đồng!”

 

 

Đám tang Trần Đăng Khoa

Câu chuyện về đám tang được lão Khoa kể vào cái buổi đầu tiên đặt chân đến Sài Gòn. Ôi cái lão nhà thơ lạ đời chưa! Lão đã có hẳn một kịch bản về cái ngày lão “thăng thiên”. Lão bảo tang lễ mà buồn thì chán quá. Đã mất người rồi còn mất thêm nữa vì buồn thảm. Khổ quá. Có thể biến nỗi buồn thành niềm vui được không? Khi nào thăng thiên, lão sẽ làm “thí điểm”. Lão đã viết sẵn kịch bản tiễn đưa lão. Lại còn có cả thơ. Lão sẽ dặn lại như sau: Trần Đăng Khoa chỉ là Trần Đăng Khoa khi lão còn sống (tức là thở ra và hít vào), khi không hít thở nữa thì  đấy không phải là Khoa. Vì thế lão không chịu trách nhiệm về cái đống bầy hầy ở trong quan tài. Đó không phải lão. Vì thế không nên nhìn vào. Ghê chết đi được. Tốt nhất thiêu ngay rồi cho vào cái niêu đất chôn dưới gốc khế. Vì xưa nay, chó mèo chết đều như thế cả. Trước khi cho lão vào bếp lò, thì đọc giúp lão bài thơ vái biệt như sau:

Bao năm ròng mệt mỏi

Xuống xứ này rong chơi

Giờ ta làm ngọn khói

Õng ẹo bay về giời…

Giám đốc...tiếc của

Nhà báo Huỳnh Dũng Nhân ra đón chúng tôi ở sân bay rồi đưa vào nhà hàng ăn trưa. Lão Khoa được chỉ định chọn món trong bữa ăn nhưng đến 10 phút  lão chẳng gọi được cái món nào cả ngoài món rau lang luộc... Đến khi Huỳnh Dũng Nhân chọn món thì lão chê hết món này món nọ...

Lão hỏi: Có ốc không? Món này ngon mà rẻ lắm.

Trời đất, mất một chuyến bay vào Sài Gòn mà chọn món ốc cho rẻ trong khi một menu sơn hào hải vị mà lão không ngó ngàng- tôi nghĩ

Té ngửa, hoá ra cái lão nhà thơ tiếc tiền cho lão nhà báo. Mấy món vừa gọi hấp dẫn thế mà lão cứ xuýt xoa không gọi. Giám đốc gì mà ki bo thế, hà tiện cho chủ nhà mới buồn cười chứ. Lão bảo, mình trả tiền thì chắc không được, mà để chủ nhà trả tiền thì mình ăn mất ngon.

Lại nói về cái chuyện tiếc của, Lão Khoa cứ kêu ca cái vụ ở Khách sạn Rex Sài Gòn vì sang trọng quá, tốn kém quá. Mà cái tấm thân khố tải của lão thì nhét vào bờ bụi nào cũng được. Huỳnh Dũng Nhân chu đáo hết sức, bố trí thuê mấy phòng ở Rex – khách sạn sang trọng nhất Sài Gòn cho chúng tôi làm lão nhà thơ cứ ngậm ngùi xa xót...

Lão Khoa này thật lạ, chỉ giỏi tiếc tiền cho người khác.

 

Lão nhà thơ mê công nghệ

Ở cái tuổi ngoài 50 nhưng có cái máy nào mới ra, nào là ipod, ipad, Samsung Galaxy...dù đắt tiền, lão cũng phải mua bằng được rồi mày mò, tìm hiểu, sử dụng. Cái sự chuyên nghiệp và mê công nghệ quả thật đáng nể nhưng tôi cũng đến... khốn khổ với sở thích “giời đày” của Lão.

Tôi và lão lang thang Sài Gòn trước ngày chương trình giao lưu diễn ra. Chúng tôi đi bộ để ngắm Sài Gòn. Sài Gòn nắng đẹp. Lão bảo: Anh muốn đi tìm cái micro SD 32GB.

Ròng rã gần một buổi chiều mà không cửa hàng điện tử nào bán loại đó. Lão Khoa thì cứ mê mẩn, tôi thì chỉ muốn “bốc hơi” vì mệt quá. Lão đi giày bệt, còn tôi đi giày cao gót, toét cả chân.

Đến hôm sau, lão Khoa bảo: Thím này, hay là chúng ta  tìm trong siêu thị xem sao. Cái loại này mới ra, ở Hà Nội chưa thấy, nghe thiên hạ đồn trong này đã có rồi.

Ối giời ơi, cái lão nhà thơ quý hoá. Cả một buổi chiều mà chẳng có, Lão định xơi tái thêm một ngày nữa vì một cái máy...thiên hạ đồn!- Tôi nghĩ  thầm thế.

Tôi mượn Tổng biên tập Huỳnh Dũng Nhân một cái xe máy để tôi và Lão Khoa đi. Cuộc “săn lùng” này diễn ra êm ả và nhanh chóng hơn hôm trước nhưng cũng không kém phần vất vả! Hai anh em lượn lách đánh võng khắp quận 1, vào các siêu thị điện máy lớn mà chẳng moi đâu ra được cái loại mà Lão cần. Cửa hàng nào cũng lắc đầu bảo: Cái loại 16GB thì có nhưng 32GB thì bọn em  ít lấy  lắm vì vừa đắt mà lại ít người mua.

- Ừ thôi thím à, bọn này chẳng biêt gì cả. Thế giới người ta dùng...thải cả ra rồi  mà mình thì vẫn còn chưa thấy cái đồ thải loại. Thôi đành về Hà Nội chờ xem- lão quay ra bảo tôi.

- Thế có khốn khổ không, cái Lão nhà thơ Việt Nam này thật là...quái quỷ - Tôi bắt đầu than thở trong dạ.

Thế đấy, có một chuyến rong ruổi vào Sài Gòn với nhà thơ, kể ra thì còn khối chuyện...Chuyện rời rạc, chẳng đầu, chẳng cuối. Nhưng đúng là Trần Đăng Khoa thật sự ở ngoài đời. Tôi không tạo dựng, mà chỉ xén ra mấy mẩu rồi ghi lại theo kiểu văn nói, thấy gì nói thế, trong cái máy ghi âm SONY sterio kỹ thuật số mà lão tặng tôi để dễ dàng tác nghiệp…