Tản mạn và cây tre

Nguyễn Quốc Toàn

Cây tre đi vào huyền thoại và gắn bó với người Việt đã hàng ngàn đời nay. Có lẽ phải kể từ thời Thánh Gióng nhổ Tre Ngà tiêu diệt giặc Ân. Rồi hoàng tử Lang Liêu dùng lạt tre gói bánh chưng dâng vua Hùng. Mũi tên của Thục An Dương Vương bằng đồng, còn thân hẳn là bằng tre. Đến thế kỷ 20 tre vẫn theo người ra trận. Gậy tre Tầm Vông đánh Pháp giành chính quyền. Chông tre của đồng bào Miền Nam đánh Mỹ. Măng tre đi vào bữa ăn người chiến sĩ, lá tre tươi nguỵ trang che mắt quân thù, lá tre khô được anh nuôi thay củi đun bếp. Sang thời hiện đại, đụng vào đâu cũng gặp tre trong gia đình người Việt. Từ cái đũa tre, tăm tre, nơm bát cá, cho đến cái chổi tre, quạt nan tre. Với văn hoá ẩm thực, con cháu nhà "tre" làm vui lòng bạn bè năm châu bốn biển bằng những thực đơn nhắc đến đã thấy ngon: Bún măng, măng xào củ hành, măng kho thịt. Tre đi vào văn hoá địa danh với những: Tỉnh Bến Tre , hồ Trúc Bạch, Bến Nứa, Trúc Lâm Yên Tử, Suối Lồ Ồ....

Thế nhưng, các nhà ngôn ngữ vẫn tốn khá nhiều công sức, giấy mực để bàn về cây tre. Cũng cái cây ấy nhưng khi này tre, khi khác trúc, lẫn lộn nhau tưởng như vô hồi kì trận. Sách "Điển cố văn học" (1) ở trang 412 có câu: "chặt hết trúc trên núi Nam Sơn (2), chẻ thành tre cũng chẳng đủ để ghi tội ác Tuỳ Dượng Đế"(3). Hoá ra tre chỉ là mảnh nhỏ của trúc sao ? Thế thì lạ quá. Băn khoăn được "Từ điển tiếng Việt" (4) đã thông ngay. Trang 1028 ghi: "Trúc - tên gọi chung của các loài tre nhỏ, gióng thẳng". Nhưng chính từ điển này lại tạo ra thắc mắc khác! Thành ngữ "Trúc chẻ ngói tan" được giải thích trong dòng thứ 6 sau đó bằng một ví dụ: "Vì thế quân địch mạnh như chẻ tre, đánh đến đâu quân đối phương tan rã đến đó". Trúc chẻ ...tức là chẻ tre, vậy tre cũng chính là... trúc ! Trúc chẻ chữ Hán là "phá trúc" mà "phá trúc" dịch ra tiếng Việt là "chẻ tre". Uyên bác như cụ Đào Duy Anh mà Trong từ điển truyện Kiều, cũng gián tiếp đồng ý như thế. Sự oái oăm ấy chung quy do bất đồng ngôn ngữ, do cái kho từ vựng của mỗi nước trái hèo nhau. Ngoài ra còn do niêm luật, thanh điệu nên trong văn chương của ta ngày xưa chữ tre không được dùng, chữ trúc không dược dịch. Tre (thanh bằng) không thể thay thế cho trúc (thanh trắc) được. Rốt cuộc các tác giả đã chọn cái hay nhưng tối nghĩa, thay cho cái đúng nằm ngoài vòng luật lệ. Thử tưởng tượng hai câu lục bát sau đây mà thay chữ trúc bằng chữ tre, đọc lên sẽ ngang như cua.

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

(Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Miệng ăn măng trúc, măng mai
Những giang cùng nứa lấy ai bạn cùng

(ca dao)

Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo bằng chữ Hán, ông buộc phải dùng chữ trúc trong hai câu sau:

Quyết Đông hải chi thuỷ, bất túc dĩ trạc kỳ ô
Khánh Nam sơn chi trúc , bất túc dĩ thư kỳ ác

Cụ Bùi Kỷ không thể biến trúc thành tre mà phải dịch:

Tát cạn nước Đông Hải, không đủ rửa vết nhơ
Chặt hết trúc Nam Sơn, không đủ ghi tội ác

Với người Việt, cây tre còn là biểu tượng cho tinh thần đoàn kết dân tộc. "bụi tre che tứ phía". "tre già măng mọc" là thế hệ trước nằm xuống, thế hệ sau vươn lên giữ cho trường tồn nói giống . Đã có chiến sĩ hy sinh trong trận chiến với quân thù ở thế đứng tựa vào cây rừng, miệng chưa tắt hết nụ cười, như cây tre cuối đời còn gửi vào trời đất chùm hoa duy nhất màu vàng rơm lúa. 

Trong văn chương dân gian nói về cây tre hay nhất có lẽ là câu đối

Vị xuất thổ thời tiên hữu tiết
Đáo lăng vân xứ dã hư tâm

Chưa mọc lên khỏi mặt đất đã có đốt
Chạm đến mây trời ruột vẫn rổng không

Dân gian nói tre mà thực ra là nói người. Một thứ người siêu phàm vừa dân tộc lại vừa nhân loại mà ta tu luyện mấy đời cho bằng được. "chủng tộc" tre cũng có nam có nữ, thì chẳng có tre đực tre cái là gì. Tôi chưa được đọc luận văn nào nghiên cứu sự sinh con đàn cháu giống của họ hàng nhà tre có đến 150 loài. Chỉ nghe người dân quê nói gọn "tre đẻ ra măng" như kiểu trâu đẻ ra nghé ấy. Cái cơ thể tre một khi sinh trưởng lại biết nghe. Người đời nhắc nhau "bụi tre có lỗ tai", liệu mà giữ mồm giữ miệng. Biết nghe thì phải biết nhìn để mà phân biệt, để mà đối xử. "Mắt tre" là một thứ tuệ nhãn nhìn thấu suốt triết lí sâu xa. Chả thế mà "người Bamoun và người Bamiléké gọi mỗi đốt tre là một nụ cười (Guis) là một biểu tượng của niềm vui sống giản dị, không bệnh tật chẳng ưu tư"(5). Lại có "tre bánh tẻ" để đi vào ca dao, phụng sự cho tình yêu con người

Lạt này gói bánh chưng xanh

Cho mai lấy trúc cho anh lấy nàng

Chưa ai nói đến miệng tre bao giờ nhưng " tiếng tre kẻo kẹt thì một vài bậc hiền minh coi là tiếng hiệu của sự thông tuệ" (6) Cho nên cái cơ thể tre bé bỏng kia chưa nhú lên khỏi mặt đất (vị xuất thổ thời) đã hàm chứa hình hài một cơ thể hoàn chỉnh (tiên hữu tiết). Đấy chính là cái nhìn nhân văn "nhân chi sơ tính bản thiện" của ông cha ta ở bài học vở lòng làm người trong thời quá vãng. Thế rồi cái "thân tre" chỉ hút tinh đất, khí trời, và ánh sáng mà tu luyện, mà lớn lên cho đến lúc "đáo lăng vân xứ", tức là chạm đến xứ mây của ngài Lão Tử để tu cho rổng không thân mình. Đến đây thì Phật và Lão gặp nhau "đó là thoát ra ngoài các cơn lốc hình ảnh, các ham muốn và cảm xúc, thoát ra khỏi bánh xe các cuộc đời phù du, để chỉ còn cảm thấy niềm khát khao cái tuyệt đối" (7) .

Câu đối 14 từ Hán Việt, dịch ra 16 chữ Quốc ngữ chỉ nói về một giống tre của xứ sở. Và những ai học hết sách thánh hiền, thông tuệ thiên kinh địa nghĩa, liệu có đáng nghiền ngẫm thêm bài học về cây tre ấy không ??


(1) Điển cố văn học: Nhà XBKHXH- Hà Nội 1977 Đinh Gia Khánh chủ biên

(2) Nam Sơn : Ngọn núi phía nam, chỉ việc Đào Tiềm đời Tấn bỏ quan về vui thú điền viên , làm bài thơ "ẩm tửu" có câu "Thái cúc đông ly hạ , Du nhiên kiến Nam Sơn" (Hải cúc dưới giậu phía đông, Ung dung ngắm dãy núi phia nam)

(3) Tuỳ Dượng Đế: Sách "Điển cố văn học" có thể nhầm, vì Tuỳ Thư quyển 3 gọi tên nhân vật này là Tuỳ Dạng Đế Dương Quảng (569-618 )- vị Hoàng Đế thứ 2 của triều Tuỳ, cực kì xa hoa và dâm đảng, bị những kẻ nổi dậy thắt cổ chết tháng 3 năm thứ 14 (618)

(4),Từ điển tiếng Việt: Viện KHXH VN, Viện ngôn ngữ học 1992

(5), (6), (7) : Biểu tượng văn hoá thế giới của Jean Chevalier và Alain gheerbrant nxb Đà Nẵng, trường viết văn Nguyễn Du 1997. Bamoun và Bamiléké là những vùng đất thuộc Cameroun, châu phi.


Comments