Mai Văn Quyền


Mai Van Quyen 1

Giáo sư tiến sĩ  Mai Văn Quyền sinh tháng 12 năm 1936 chưa rõ ngày sinh, khai sinh ngày 16 tháng 3 năm 1938. Quê quán tại thôn Thủy Khê, xã Vĩnh Liêm, huyện Vĩnh Linh ( sau giải phóng đổi thành xã Gio Mỹ, huyện Gio Linh) tỉnh Quảng Trị,  nguyên Phó Viện Trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam , đã nghĩ hưu, hiện thường trú tại BA4-8, khu phố Cảnh viên 2, Đường 17, phường Tân Phú, Phú Mỹ Hưng, Quận 7 thành phố Hồ Chí Minh,

Tiểu sử

Giáo sư xuất thân trong một gia đình rất nghèo, bố mất sớm khi ông mới sinh, chưa biết mặt. mẹ lao động lam lũ để nuôi con, các anh chị đều làm thuê, làm mướn, mò cua bắt ốc, đánh cá sông và cá đồng. Mẹ  là Trương Thị Iu, thời đánh Mỹ bị quản thúc tại gia vì trước có tham gia hội mẹ chiến sĩ thời chống Pháp.và có con ở miền Bắc.Bà mất do bom Napan của Mỹ ngày 12 tháng 8 âm lịch năm 1967, tại quê. Chị cả Mai Thị Miến lấy chồng khác xã, đã mất cùng hai người con vào tháng 11 năm 1951 do bom Pháp ném trúng nhà. Chị thứ hai Mai Thị Lũy có hoạt động phụ nữ kháng Pháp, mất năm 1986. Anh thứ ba gia nhập bộ đội Vệ Quốc Đoàn, chống Pháp, bị thương, giải ngũ. Sau này bị Mỹ-Ngụy trả thù, bắt giam, tra tấn dã  man. Sau khi thả ra đã ra Bắc chữa bệnh và đã mất ngày 21 tháng năm 1965 tại Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Anh thứ tư là Mai Phú, tham gia họat động bộ đội địa phương chống Pháp, khi Mỹ xâm lược miền Nam có tham gia đường dây họat động bí mật ở quê, sau bị lộ đã đưa gia đình ra sơ tán ở Tân Kỳ, Nghệ An, mất năm 1984 tại quê. Sau này, giáo sư đã tìm cách quy tập mộ của người anh ở Thanh Hóa về cùng một chỗ với bố, mẹ và người anh kế tại cồn Cát thôn Thủy Khê, đồng thời hổ trợ để các cháu tu bổ phần mộ cho hai chị gái nằm ở  hai quê khác nhau để tỏ lòng biết ơn bố mẹ sinh thành nuôi dưỡng và sự chăm sóc của các anh chị cho đến ngày người  rời quê sống ở nơi xa.

Giáo sư có vợ Lê Thị Thanh Vân, sinh năm 1943 và hai con trai Mai Việt Cường, sinh năm 1969 và Mai Trúc Quỳnh sinh năm 1972, đều thành đạt, có gia đình riêng, mỗi gia đình đều có hai con. Cô Lê Thị Thanh Vân là kỹ sư bảo vệ thực vật, tốt nghiệp đại học năm 1966, công tác tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam, cô về hưu non tháng 5 năm 1990 do sức khỏe với thời gian công tác 24 năm 6 tháng khi nhân sự đang còn ở IRRI.

Tuổi thơ gian khó

Do xuất thân trong một gia đình rất nghèo, nên bản thân sớm biết quí trọng sản phẩm lao động và có tinh thần tự lực vươn lên, biết thông cảm và giàu lòng thương yêu những người nghèo khó. Tuổi thơ, khi các chị đi lấy chồng sớm, các anh đi làm thuê, ở nhà một mình, lúc 4-5 tuổi, cậu bé Mai Văn Quyền đã biết lao động  phụ mẹ như nuôi lợn, gà, mót củi, lấy nước, nấu ăn, dọn dẹp việc nhà. Do là con út, cả nhà không ai được đi học, nguyện vọng của mẹ muốn cho đi học chữ để sau này có thể đọc được văn tự khế ước. Bảy tuổi cậu đi học một buổi còn một buổi làm các việc nhà. Không có đèn, cậu đã đốt củi hay dùng hạt bưởi xâu lại đốt lên xem chữ để học. Ấy vậy mà bài nào cũng thuộc, chữ viết đẹp, ngoan ngoãn, lễ phép nên luôn được thầy yêu, bạn mến. Do nhà quá nghèo nên việc học thường đứt đọan.Tuy vậy cậu học rất giỏi, khi bắt đầu đọc được khế ước, thì Cách mạng tháng Tám bùng nổ, sách vỡ bị cháy, một phần do người anh dùng làm giấy quấn thuốc để hút, nên hiện không còn dấu tích học chữ nho. Tuổi thơ gian khó và ý chí tự lực vươn lên, nhờ vậy mà cậu khá thành thạo các việc nội trợ cũng như làm gạo.Việc đó đã giúp  rất nhiều khi thoát ly gia đình tự lập để theo học.

Thoát ly gia đình

Từ năm 1950-51, giặc Pháp tăng cường càn quét vùng du kích, nên trường học luôn bị bắn phá, buộc phải dời rất nhiều chỗ, gây khó khăn cho học sinh theo học.Trước tình hình đó,Chính quyền cho phép ai có điều kiện thoát ly ra vùng tự do để học thì tìm cách để thoát ly. Một nhóm bạn học lớp Bốn cùng thôn, rủ nhau lên chiến khu Ba Lòng để xin giấy thông hành ra Thanh Nghệ Tịnh học.Vượt đường số Một, lánh qua các bót gác của Pháp để lên chiến khu, nhóm đã có giấy thông hành sau 4 ngày đi về.Tháng 11/1952 nhóm cùng nhau lên đường ra Thanh-Nghệ-Tịnh. Vượt đường rừng lên chiến khu Thủy Ba thì tối. Hôm sau đi đến chân núi U Bò thì cũng vừa tối.Dừng lại, nấu ăn, ngủ lại, rạng sáng leo núi U-Bò, trưa lên đến đỉnh núi, tối xuống núi, đi qua xóm Cà, xóm Rẫy (nơi quân Pháp hay phục kích).Từ xóm Cà, xóm Rẩy đến Gia Hưng, tối đi đò dọc từ Gia Hưng ra Minh Cầm, Minh Lệ, Lệ Sơn thì trời sáng. Sau đó đi xe Gòn ( Vagon tàu hỏa) ra Thanh Luyện của Hà Tỉnh, từ đó đi đò đến Đức Thọ,  Hà Tỉnh là vùng tự do của khu Bốn  Nhóm ba bạn thân được cho ở trong nhà anh chị tên là Túy, làm bún bán để sống..Sau vài tháng, nhóm được chuyển sang Nghệ An để theo học lớp 5. Về sau học cấp 3 ở Vinh rồi ra học đại học Nông Lâm Hà Nội, du học Bungari, về nước công tác tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (Hà Nội). Từ tháng 11/1979 được cử vào xây dựng cơ sở II tại TP Hồ Chí Minh cho đến tháng 1/1981, cơ sở II của Viện sáp nhập với Viện Miền Đông thành Viện Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam.Thời gian này làm trưởng phòng trồng trọt, đảng ủy viên, kiêm bí thư chi bộ. Từ 1981 đến tháng 4 năm 1988, trưởng phòng Sinh lý - Đất phân, Đảng Ủy viên, bí thư chi bộ khối trồng trọt. Từ tháng tư 4 năm 1988 đến tháng 9 năm 1999, Phó Viện Trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam. Từ tháng 9 năm 1999 tham gia các dự án Quốc tế ngắn hạn, chủ tịch Hội đồng khoa học của Công ty phân bón Bình Điền cho đến nay.

Học hàm, học vị

            6/1978:Tốt nghiệp phó tiến sĩ sinh học về sinh lý cây trồng (nay là Tiến sĩ) tại Viện Sinh lý Thực vật PoPop, Xofia, Bungaria  

            6/1990: Hoàn thành chương trình sau tiến sĩ (khách mời) tại Viện Lúa IRRI

            1991 được phong học hàm phó giáo sư

            Tháng 7/1996.được phong học hàm giáo sư

Hoạt động chuyên môn

            1964-1967: Nghiên cứu sinh lý bệnh lúa vàng lụi tại các tỉnh phía Bắc. Kết quả nghiên cứu đã góp phần chứng minh bệnh vàng lụi không phải là bệnh sinh lý mà chỉ có các hiện tượng bên ngoài biểu hiện giống bệnh sinh lý.Kết luận này đã góp phần xây dựng phương pháp phòng trừ hợp lý và nhanh chống dập tắt bệnh nguy hiễm này trên đồng ruộng các tỉnh phía Bắc.

            1975-6/1978: Nghiên cứu đặc điểm hoạt động quang hợp và khả năng di truyền của các giống ngô lá thẳng khi lai với các giống ngô lá thông thường (Gốc lá rộng). Đề tài nghiên cứu sinh.

            1979-1986: Nghiên cứu tính chống chịu phèn của lúa trên đất phèn ĐBSCL

            1986-1999: Chủ trì các đề tài nghiên cứu Hệ thống Canh tác (HTCT) trên nền lúa.

            1990-1999: Chủ nhiệm chương trình HTCT ở Đồng Tháp Mười trong khuôn khổ hợp tác giữa Viện KHKTNNMN với quỹ viện trợ phát triển của Bỉ

          1993-1996: Chủ nhiệm chương trình nghiên cứu và phát triển HTCT trên đất dốc ở Miền Đông Nam Bộ trong khuôn khổ hợp tác giữa Viện KHKTNNMN với trường Địa học KU-Leuvan của Bỉ

1985-1988: Điều phối  viên chương trình nghiên cứu Mạng lưới Phân bón Quốc gia của Viện KHKTNNMN

1991-1995: Điều phối viên chương trình nghiên cứu thâm canh lúa của Việt Nam  

1991-1999: Thành viên ban điều phối màng lưới HTCT Việt Nam hợp tác với IDRC (do IDRC tài trợ)

1997: Phó chủ nhiệm chương trình đánh giá 10 năm khai thác Đồng Tháp 10, Đồng Bằng Sông Cửu Lông do Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt chủ trì.

4/1995: Cố vấn kỹ thuật đánh giá chương trình VIE/91/005 của Viện Lúa ĐBSCL do FAO tài trợ và IRRI cố vấn kỹ thuật.

12/1995: Cố vấn kỹ thuật đánh giá dự án công nghệ sau thu hoạch DANIDA tài trợ cho 4 tỉnh trồng lúa ở Việt Nam- Dự án tiền khả thi.

10/1999: Cố vấn kỹ thuật đánh giá kết quả thực hiện dự án phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em, Dự ánGCP/VIE/021 AUL do Úc tài trợ

1999-2002: Điều phối viên chương trình công nghệ sau thu hoach lúa ở ĐBSCL do chính phủ Pháp tài trợ cho Viện CN sau thu hoạch TP.HCM

1996-2002: Ủy viên HĐKH chuyên ngành trồng trọt và BVTV của Bộ NN&PTNT

1995-2009 Uỷ viên HĐKH chuyên ngành đất phân, đánh giá các sản phẩm phân bón do các công ty đăng ký khảo nghiệm.

1996-2004: Ủy viên HĐKH (khách mời) của Viện Sinh học Nhiệt đới Việt Nam tại TP.HCM

9/2001-12/2002: Nhóm trưởng cố vấn kỹ thuật cho chương trình phát triển nông thôn Quảng Ngãi do Úc tài trợ.

7/2002: Cố vấn kỹ thuật cho Công ty tư vấn Lương Nông Quốc tế tại ĐBSCL

Tháng 10-11/2004 Cố vấn kỹ thuật vế phát triển khuyến nông, dự án tiền khả thi cho chương trình phát triển nông thôn tại Thừa Thiên-Huế, do Phần Lan tài trợ

7/2008: Cố vấn kỹ thuật đánh giá giữa kỳ chương trình VE/002 giữa chính phủ Luxambua với Tỉnh Hậu Giang và Đại học Cần Thơ về sử dụng cây lục bình cho sản xuất Biogas, điện, phân bón, thức ăn cho cá, trồng nấm để góp phần xóa đói giảm nghèo cho nông dân trong tỉnh.

1999- đến nay Chủ tịch Hội đồng cố vấn khoa học cho Công ty Phân bón Bình Điền

Đã đào tạo 12 tiến sĩ khoa học nông nghiệp (đến tháng 6/2008) nhiều thạc sỹ, kỹ sư nông học, viết sáu sách chuyên khảo và nhiều bài báo, bài viết đăng trên các tạp chí, sách ở trong và ngoài nước.

Khen thưởng

            Huân chương Lao động hạng 3

            Huy chương chống Mỹ hạng 3.

            Huy hiệu 40 năm tuổi đảng ( 2001),

            Năm 2011sẽ tròn 50 năm tuổi đảng

            Huy hiệu vì sự nghiệp phát triển khoa học

            Huy hiệu vì sự nghiệp phát triển nông nghiệp

            Huy tượng người bạn nhà nông

            Hội viên danh dự Hội Nông dân Việt Nam

            Hai năm chiến sĩ thi đua cấp Bộ,
           
            Nhiều năm chiến sĩ thi đua cấp Viện

 

Cảm nhận


ƠN THẦY


Kính tặng Thầy Mai Văn Quyền
và những ngơời Thầy quý mến

Cha ngày xưa nuôi con đi học
Một nắng hai sương trên những luống cày
Trán tư lự, cha thường suy nghĩ
Phải dạy con mình như thế nào đây?

Cha mất sớm, bom thù rung mặt đất
Cái chết giằng cha ra khỏi tay con
Mắt cha lắng bao niềm ao ước
Vẫn lo cho con đến phút cuối cùng

Giặc giết cha, cha chưa kịp thấy
Tương lai con đi, sự nghiệp con làm
Cha có biết, luống cày cha bỏ dỡ
Cha ngã xuống rồi trao lại tay con

Trên luống cày này, đường cày con vững
Bởi có dáng Thầy thay bóng cha xưa
Hiểu mảnh đất máu đào cha nhuộm đỏ
Thôi thúc tim con học tập phút giờ …

Rút trong tập THƠ CHO CON

Hoàng Kim


Comments