Hoàng Hữu Thanh

Thời lửa đạn

Hồi ký


Nhà Xuất bản Thuận Hóa Huế 2013


Lời nói đầu

        Hàng năm cứ đến ngày mùng một tháng chạp là ngày tảo mộ Đức Thành hoàng bản thổ làng Minh Lệ - Trương Hy Trọng. Một vị tướng thời Tiền Lê vâng mệnh triều đình mang gươm đi mở cõi. Ngày ấy con cháu khắp mọi miền Tổ quốc kéo nhau tìm về quê hương xứ sở. Họ thắp hương cho ông bà, tổ tiên. Họ tìm lại nhau, một thời xa vắng.

       Năm 2003, quê nhà chuẩn bị đón Huân chương Anh hùng lực lượng vũ trang nên con cháu về đông và vui hơn. Sáu giờ sáng, dòng người từ các ngả đường lũ lượt kéo đến sân đình. Họ gặp nhau tay bắt mặt mừng. Có người rưng rưng rơi nước mắt sau năm mươi năm xa cách gặp lại lần đầu. Họ bỡ ngỡ nhận nhau, rồi ôm nhau thắm thiết. Những kỉ niệm vui buồn của một thời tuổi trẻ, những kí ức về làng quê yêu dấu cứ hiển hiện ùa về. Đã hơn nửa thế kỉ rồi, một thời họ đã sống, chiến đấu bên nhau. Hai cuộc kháng chiến thần kì của dân tộc đã cuốn hút lấy mỗi con người. Nay ai nấy đầu tóc bạc phơ, mỗi người có một nỗi niềm, một danh phận riêng nhưng họ vẫn cứ hồn nhiên như ngày nào. Họ lôi cả tên cúng cơm của nhau ra để gọi. Họ kể lại những đêm sáng trăng tập võ, tập đánh trận giả, những trận đặt bom, cài mìn đánh địch ở động Lòi, những trận chống càn, và cả những hi sinh mất mát.

       Hoàng Đăng Các - nguyên một sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, một tiểu đoàn trưởng thời chống Mĩ, về hưu ở nông trường Việt Trung đề nghị: Chúng mình là những đội viên thiếu niên du kích làng Minh Lệ. Chiến công của chúng mình có kém gì đội thiếu niên du kích Đình Bảng đâu. Tôi đề nghị anh Hoàng Hữu Thanh nguyên là đại đội trưởng đại đội thiếu niên du kích làng Minh Lệ viết lại. Phải để cho con cháu chúng ta biết, trong kháng chiến chống Pháp, làng Minh Lệ đã có một đại đội thiếu niên du kích anh dũng như thế nào, đã từng làm cho quân thù thất điên bát đảo. Đội quân đó đã cùng lực lượng bộ đội, du kích người lớn đánh giặc bảo vệ xóm làng”. 

      Anh Hoàng Hữu Ban, một cán bộ cao cấp đang nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh đồng tình: “Phải đó! Lớp già chúng mình mà chết đi, con cháu chúng ta không ai biết được truyền thống cha anh mình đã đánh giặc như thế nào thì chúng ta là người có tội. Tôi đề nghị anh Hoàng Hữu Thanh chấp bút viết về cả làng quê Minh Lệ - một thời lửa đạn”. Thầy giáo Nguyễn Quế - một giáo viên đang nghỉ hưu nơi xóm Bắc nói: “Anh Thanh cứ viết đi! Có gì đó thì em giúp sức với”.  Và tôi rất e dè khi phải gánh vác trọng trách lớn lao này, nhưng quỹ thời gian của chúng tôi không còn nhiều nữa. Những nhân vật, sự kiện cũng quá lâu rồi. Nay kẻ mất người còn, kẻ nhớ người quên. Tôi không có tham vọng là viết được hết cả làng Minh Lệ. Nhưng nhớ đến đâu tôi xin viết đến nấy. Những hiểu biết về Tây - Bắc Minh Lệ nhiều hơn nơi khác. Chắc chắn sự suy nghĩ và nhớ lại không thể tránh khỏi thiếu sót, mong bạn đọc biết thì bổ sung thêm.


Hoàng Hữu Thanh

                                               Chương 1

        Vài nét sơ lược về làng Minh Lệ .

       Theo đường sắt Bắc Nam, bước xuống ga Minh Lệ là đúng ngay chính giữa xóm Ga, thôn Tây - một xóm mới của làng Minh Lệ. Bạn cũng có thể đi theo đường Quốc lộ 1A, gặp đường 12A, qua thị trấn Ba Đồn, sang cầu Quảng Hải đến giếng Bàu Quảng Hòa, rẽ trái tiếp 500 m là đến đầu thôn Bắc.  

      Không biết tự bao giờ làng tôi mang cái tên “Minh Lệ”. Nay nhiều người trong làng phân vân: “Minh Lệ” hay là “Minh Lễ”. Nhưng chắc chắn tên làng có từ lâu trước khi xây dựng đình Minh Lệ năm 1464.

        Căn cứ vào hai câu đối ở đình làng Minh Lệ “Tự sự Khổng Minh- Gia hội hợp lễ”. Hay hai câu “Xa thư cộng đạo văn minh xiển- Hương hỏa thiên thu điển lễ tồn”, cố nhà giáo Hoàng Hữu Sam nói tên làng Minh Lệ được ghép bằng hai chữ MinhLễ. Chữ Lễ ở đây là lễ nghĩa, phép tắc. Làng có văn minh, lễ nghĩa. Một cái tên thật hay, thật sang và cũng thật đậm chất nhân văn.

       Minh Lệ: Minh là sáng, là minh bạch không mập mờ đổi trắng thay đen. Lệ là đẹp, đẹp lộng lẫy, quý phái như chính cha ông mình ngàn đời đã sống. Minh Lệ hay Minh Lễ đều là phép đặt tên. Tên nào cũng đẹp, tên nào cũng sang như chính những con người ở vùng đất này. Cha ông ta quen gọi Minh Lệ  lâu rồi, nên cũng đừng tranh cãi nhiều nữa.

      Trở lại với mảnh đất làng Minh Lệ. Mảnh đất này chắc chắn đã có người ở trên hai ngàn năm. Nghĩa là cùng thời với làng Thọ Linh, huyện Thọ Linh, sông Thọ Linh (sau này gọi là Linh Giang). Thời kì đó dân tộc ta bị bọn phong kiến phương Bắc cai trị. Trước năm 1306, Minh Lệ một thời thuộc về Chiêm Thành. Cha ông ta đã phải hy sinh gian khổ chống Bắc, định Chiêm mới hình thành nên giang sơn ngày nay.

      Theo “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim, quyển 1 trang 167 thì năm Tân Sửu (1301), vua Trần Anh Tông sang thăm Chiêm Thành có ước gả Huyền Trân công chúa cho vua Chế Mân để nối tình hòa hiếu giữa hai dân tộc. Ngay từ thuở xa xưa cha ông chúng ta đã khao khát cuộc sống hòa bình, thân thiện.

       Năm Bính Ngọ (1306), vua Chế Mân cho người đem vàng bạc, châu báu quý giá làm lễ vật sang triều cống, xin cưới Huyền Trân công chúa. Trong triều đình nhà Trần có người không chấp thuận nên vua Chế Mân tự nguyện dâng hiến hai châu Ô, Lý làm sính lễ cầu thân. Hai câu: “Hai châu Ô Lý vuông ngàn dặm/ Một gái thuyền quyên được mấy mươi” thời ấy đã nói lên điều đó.

       Năm Đinh Mùi (1307), vua Trần Anh Tông thâu nhận hai châu Ô, Lý đổi tên thành Thuận Châu và Hóa Châu. Trần Anh Tông thiết lập nền hành chính và bộ máy quân sự từ Hoành Sơn Quan đến sông Thu Bồn (Quảng Nam), phân chia thành hai phủ Tân Bình và Triệu Phong. Phủ Tân Bình chạy từ đỉnh Đèo Ngang đến Cửa Tùng, được phân bố thành một châu và ba huyện. Châu Bố Chính gồm các huyện Tuyên Hóa, Quảng Trạch và Bố Trạch ngày nay. Các huyện còn lại là Khang Lộc, Lệ Thủy, Minh Linh tức Ma Linh cũ (Vĩnh Linh).

        Châu Bố Chính ôm trọn sông Thủy Vực (Ròn) và lưu vực sông Linh Giang (sông Gianh). Châu Bố Chính gồm 68 xã. Xã Thị Lệ được giữ nguyên cho đến nhiều triều đại sau. Cho đến trước ngày Cách mạng Tháng Tám thành công (1945), xã Thị Lệ thuộc tổng Thuận Thị, phủ Quảng Trạch, là một xã gồm có 5 thôn nên người ta thường nói “Nhất xã ngũ thôn”. Thôn Đoài (Diên Trường - Quảng Sơn), Minh Lệ (Quảng Minh), Vĩnh Ninh (Hòa Ninh- Quảng Hòa), Vĩnh Phước, Vĩnh Lộc (Quảng Lộc).  

        Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Tiếp đến cuộc kháng chiến trường kì 9 năm của dân tộc ta chống thực dân Pháp, một tổ chức hành chính mới được thiết lập đã sát nhập ba xã Quảng Minh, Quảng Sơn, Quảng Thủy (ngày nay) thành một xã mới gọi là Minh Trạch.

       Năm 1954, hòa bình lập lại. Làng Minh Lệ được chia thành các chòm: Trần Phú, Hòa Bình, Hạnh Phúc, Minh Tân, Minh Hòa, Minh Bình, Đồng Tâm, Hiệp Lực, Cộng Hòa. Qua các lần nhập tỉnh, nhập huyện rồi tách ra, ba xã vẫn giữ nguyên tên như ngày nay. Xã Quảng Minh cũng có nhiều thay đổi về cơ cấu, tổ chức sản xuất, các hợp tác xã nhập lại rồi tách (Minh Lệ, Minh Khai rồi lại Minh Lệ…). Tên xóm, tên chòm cũng có nhiều sửa đổi. Có người nói “Quảng Minh có

đến ba cồn, chín xóm”. Các làng bờ Bắc sông Nan là Minh Lệ, Thái Hòa, Cồn Vượn (Minh Trường). Cồn Vượn và Thái Hòa mới hình thành sau này. Đặc biệt Thái Hòa là khu dân cư dành riêng cho người dân đi Thái Lan về sau ngày hòa bình lập lại, lúc đó miền Bắc đang xây dựng tổ đổi công rồi hợp tác hóa nông nghiệp. Bên kia sông là Minh Tiến, Cồn Nâm, Tân Định, Nội Hà, Hà Bồng, Giáp Tam …vv .

                                                                *

                                                          *          *

 

      Cha tôi tên là Hoàng Khắc Đoài. Ngày còn sống, ông là một người thầy dạy chữ Hán nổi tiếng trong làng. Ông hiểu biết rất rộng, sách vở chữ Nôm, chữ Hán đọc làu làu. Nhiều người quanh vùng thường gọi là thầy Suế hay cố Chề. Suế là tên con đầu. Anh Hoàng Văn Suế của tôi đã mất trước Cách mạng Tháng Tám. Anh Suế lấy chị Duê con ông Hoàng Đăng Thạ, sinh được một cháu gái, cháu bị sài lặn vào mà chết. Con chết, anh buồn bực rồi sinh bệnh mà chết. Chề là tên đứa cháu ngoại đầu - con của chị Suề, người con thứ hai. Ông nói Tây - Bắc làng Minh Lệ là đất Kim quy. Đầu rùa là xóm Tây, thân rùa là xóm Bắc. Xóm Bắc Minh Lệ ngày nay chính là vùng đất “Hạ Yên Trạch”. Hạ Yên Trạch tương truyền là nơi ngã ngựa của Trung lang Thượng tướng quân Trương Đức Trọng (vì kiêng tên húy nên gọi chệch sang tên Trương Hy Trọng). Ông đã đọc gia phả dòng họ Trương, làng Minh Lệ dịch ra tiếng Việt cho con cháu nghe. Cuốn gia phả đó do ông Trương Dình, trưởng tộc họ Trương, hậu duệ đời thứ 16 của Trương Hy Trọng lưu giữ được đến ngày hòa bình. Gia phả đựng trong một cái ống tre. Trong các cuộc tản cư hay chạy giặc, đi đâu ông Trương Dình cũng giữ kè kè bên mình cái ống. Tiếc rằng do chất lượng giấy thời đó quá xấu, thời gian lại quá dài nên nó tự phân hủy. (Nay cháu Trương Minh Đức, giáo viên về hưu, con cả của ông Trương Dình vẫn còn lưu giữ được sắc phong của vua Quang Trung - Nguyễn Huệ truy phong cho Trương Hy Trọng là “Trung lang Thượng tướng quân” )

       Cha tôi nói Trương Hy Trọng quê ở Hải Dương vào trấn giữ vùng đất Thuận Hóa giữa thế kỉ XV. Ông vâng mệnh vua Lê vào đây chinh phạt quân Lồi. Tên thật của ông là Trương Công Chấn, hậu duệ đời thứ 6 của Trương Công Án. (Trương Công Án làm quan Tham lang Tướng dưới trướng phủ Tể tướng Trần Nguyên Hãn - đời Trần). Ông đã di dân lập ấp dựng lên xóm làng. Bốn họ Trương, Nguyễn, Hoàng, Trần lấy vùng đất Hạ Yên Trạch làm nơi kết nghĩa anh em. Trương Hy Trọng là người nhỏ tuổi nhất nhưng lại là người có tài cao, chí lớn, văn võ song toàn. Ông là người có chức tước cao nhất trong bốn anh em. Đời sau, vua Quang Trung năm thứ hai đã cấp sắc truy phong cho ông là “Trung lang Thượng tướng quân” về công lao “Bình Lồi thiết xã”. Vua phong cho ông làm Thành hoàng làng. Bốn anh em kết nghĩa trên đất Hạ Yên Trạch, là thủy tổ của bốn dòng họ có nhà thờ cùng lăng mộ được trùng tu, thờ cúng quanh năm.

      Năm 1992, đình làng được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa và cấp 900 triệu đồng cho trùng tu lại. Bài vị của bốn anh em (Tứ đức thần tổ) được rước vào đình làng Minh Lệ. Hoàng Công Lục thủy tổ họ Hoàng là người lớn tuổi nhất.

       Theo cuốn sách viết bằng chữ Hán cha tôi để lại, hôm rước bằng công nhận đình làng Minh Lệ là Di tích lịch sử - văn hóa, anh Hoàng Văn Suyết của tôi dịch cho anh Nguyễn Nghiền ghi lại bằng chữ Quốc ngữ thì trước đây Thị Lệ “Nhất xã ngũ thôn” theo Phật giáo cùng sinh hoạt tại đình Minh Lệ. Đình là nơi “Xuân thu nhị kì” năm thôn hội họp bàn việc thờ cúng an dân. Về sau Hòa Ninh, Vĩnh Lộc xin lập đình riêng. Hai thôn Diên Trường, Vĩnh Phước theo Công giáo xây dựng nhà thờ. Vừa rồi đình làng được tu sửa lại lần thứ ba nhưng tôi thấy hàng rào phía ngoài làm bằng gỗ là không nên. Hàng rào gỗ đứng giữa trời bị mưa nắng không chóng thì chầy sẽ hỏng, trâu bò và trẻ con vào đùa nghịch nơi chốn linh thiêng. Cần phải trùng tu lại bằng tường đá để vừa trường tồn với thời gian lại vừa bảo tồn mặt di tích. Trong ngày tảo mộ làng các anh, các chị ở xa về và con cháu trong làng ta không vừa lòng với các câu đối bị người nào dùng vôi quét bừa lên. Đã thế một số câu đối, đặc biệt bia Di tích lịch sử - văn hóa thì chỉ ghi là lịch sử. Đình làng Minh Lệ trước đây lợp vọt, được xây bằng vôi và mật mía vào năm “Bảo Đại nhị niên”. Theo tôi nếu xây vào năm “Bảo Đại nhị niên” không phải năm 1923 mà phải là năm 1927. Vì ngày 6 tháng 1 năm 1925 khi vua cha Khải Định mất, Vĩnh Thụy về nước thọ tang cha. Ngày 8 tháng 1 năm 1926, Vĩnh Thụy kế vị lên ngôi vua lấy hiệu là Bảo Đại. Đình làng Minh Lệ, một di tích lịch sử - văn hóa xứng đáng là niềm tự hào không chỉ là của người dân Minh Lệ mà cả năm thôn. Chúng ta cần nghiêm túc trong việc trùng tu đình làng.

                                                               *

                                                        *             *

       Ngày nay con cháu họ Hoàng có dân số đông nhất xã. Ngoài họ Hoàng gốc còn có họ Hoàng gốc Mạc. Theo gia phả của cụ Hoàng Bá Chuân do các anh Hoàng Thúc Cẩn, Hoàng Gia Cương - các con của cụ cung cấp thì năm 1677, tập đoàn Lê - Trịnh đánh bại triều đình nhà Mạc trên đất Cao Bằng, chấm dứt sự tồn tại 150 năm của vương triều Mạc. Vua Lê - chúa Trịnh tìm mọi cách báo thù. Bị truy sát, con cháu của Mạc Đăng Dung phải li tán khắp nơi, thay tên đổi họ để tránh “tru di cửu tộc”. Con trai Mạc Đăng Doanh là Mạc Đôn Nhượng chạy vào Quảng Bình. Họ sửa chữ Mạc thành chữ Hoàng và xin gia nhập làng. Bởi vậy trong làng Minh Lệ lại có thêm một chi nhánh họ Hoàng gốc Mạc. Chính gia đình cụ Hoàng Bá Chuân mà người làng thường gọi “cụ Bộ Trình” là hậu duệ cụ Mạc Đôn Nhượng đã làm rạng danh cho cả làng. Cụ đặt tên con theo vần Trình, Cành, Tuệ, Cẩn, Tấn, Thân, Cương.

      Anh Hoàng Thúc Cảnh (tức Cành) là lão thành cách mạng, tham gia cách mạng từ năm 1944. Anh làm thư kí cho cụ Hồ Tùng Mậu rồi lên Việt Bắc, công tác tại Văn phòng Chính phủ suốt 38 năm liền cho tới ngày nghỉ hưu. Anh được tặng thưởng Huân chương Độc lập. Đại tá Hoàng Thúc Tuệ là người tham gia chỉ huy trận Phú Trịch nổi tiếng. Sau hòa bình anh về công tác ở Bộ tổng tham mưu và là ủy viên Ban chấp hành Hội hữu nghị Việt - Nhật. Đại tá, nhà văn Hoàng Thúc Cẩn là người cùng thiếu tướng Tư lệnh Hoàng Sâm tham gia chỉ huy quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng Pathét Lào đập tan âm mưu đảo chính của phái phản động Lào từ trong trứng nước. Anh có con trai là Tiến sĩ Hoàng Minh Phương, Phó chánh văn phòng Bộ Thông tin Truyền thông đã được Nhà nước tặng Huân chương lao động. Cả anh Tuệ và anh Cẩn đều được tặng thưởng Huân chương Quân công.

     Trong năm người con của cụ Hoàng Bá Chuân thì Hoàng Thúc Tấn có thời gian học tập và công tác ở nước ngoài lâu nhất. Anh nguyên là Thứ trưởng - Phó chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, nguyên Đại diện thường trực nước CHXHCNVN tại Hội đồng Tương trợ kinh tế (SEV). Anh cũng đã được tặng thưởng Huân chương Độc lập. Hoàng Quý Thân là Phó giáo sư, Tiến sĩ đã từng giảng dạy đại học tại Algerie. Anh là thành viên BCH Hội hữu nghị Việt Nam – Hungary. Con trai anh là Hoàng Minh Giang hiện giữ chức Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Chè Việt Nam.  Nhà thơ Hoàng Gia Cương có con trai đầu Hoàng Minh Cường là giám đốc Trung tâm Internet Việt Nam, một cơ quan trực thuộc Bộ Thông tin Truyền thông, mang hàm Vụ trưởng khi còn rất trẻ. Cường được trao giải “Quả cầu vàng” và giải thưởng VIFOTEC của Liên hiệp các hội KHKTVN về công trình sáng tạo “Tên miền tiếng Việt”. Cường được tặng Huân chương lao động và nhiều giải thưởng của Tổng Công đoàn và Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.

       Đây là một gia đình khá thành đạt, tuy đã định cư nơi xa nhưng luôn hướng về quê hương Minh Lệ. Ngày tảo mộ Đức Thành hoàng năm nay, anh Cẩn đã đem về trồng một cây đại vàng, chiết từ Tổng hành dinh của Bộ tổng tham mưu, nơi đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy trận Điện Biên Phủ trên không đánh B.52 trên bầu trời Hà Nội cùng cây đại đỏ từ đền thờ vua Quang Trung tại thành Thăng Long.     

                                                              *

                                                       *            *

      Những cái tên như Đồng Chăm, Cồn Trại, cồn Nghĩa Trũng, Bốn Miếu, giang sơn Bến Lội ghi đậm dấu ấn một thời trận mạc. Quân của Trương Hy Trọng đã lội qua sông Nan tiến đánh quân Lồi (thường gọi là giặc Ai Lôi). Bến Lội cách cầu Minh Lệ ngày nay chừng 200 mét về phía tây. Nay thành nhà Lồi ở Cao Lao Hạ vẫn còn rêu phong bên bờ Nam sông Gianh, một chứng tích lịch sử trường tồn không phai nhạt với thời gian. Thành nhà Lồi ở phía Tây Nam cách cầu Gianh gần hai cây số. Cha tôi nói tương truyền quân Lồi bị chém không chết. Chặt cái đầu này thì lại lồi lên cái đầu khác. Sau này quân ta phải bôi cứt gà sáp vào lưỡi gươm mới chặt được. Xét về mặt khoa học thì đó là chuyện hoang đường, không thể có. Tôi nghĩ có lẽ hồi trước, quân Chiêm Thành nhiều người giống nhau. Chém chết tướng này thì hôm sau tướng khác có y phục giống như thế lại cầm quân đánh trả. Tôi cũng nghe nhiều người đi rừng nói vẫn còn gặp những người bà con dân tộc ở Cà Roòng (Bố Trạch) truyền nhau quê cha đất tổ của họ ngày xưa ở ngoài Bến Lội. Họ nhớ các địa danh Giăng, giếng Mội, khe Lò Rèn, bến Sãi. Trải qua nhiều thế kỉ chiến tranh, họ phải lùi sâu vào rừng núi Trường Sơn định cư. 

      Ngẫm lại, các địa danh từ Linh Giang trở vào đến hết dải đất miền Trung có rất nhiều nơi mang tên “Đồng Chăm”. Phải chăng người Việt các đời sau muốn nói cánh đồng đó ngày xưa là đất ChamPa. (Mọi phán đoán của tôi chỉ là giả định).

      Ngoài bốn họ chính thống nói trên thì trong xã rải rác còn có các họ Võ, Lê, Đinh, Đặng, Phạm… ở các nơi về. Nhưng các họ đó định cư chủ yếu ở các làng cồn. 

                                                                *

                                                         *             *

     Minh Lệ là nơi đất học. Ngày xưa hệ thống giáo dục không rộng rãi trong toàn dân như bây giờ, chủ yếu là do từng cá nhân tổ chức. Những người biết chữ dạy cho những người chưa biết chữ. Ai có nhu cầu thì xin thầy đến học, hàng tháng phải trả tiền học phí. Có khi không có tiền thì họ trả bằng lúa hoặc khoai. Họ dạy Tam tự kinh cho trẻ con và  được gọi là thầy đồ. Ở xóm Nam, ngày nay người ta thường gọi bố vợ tôi - cụ Trần Dao là “thầy đồ Dán” vì lí do như vậy. Dán là tên anh Trần Đình Dán - anh cả của vợ tôi. (Người miền Trung mình thường gọi tên bố mẹ theo tên người con đầu lòng). Tôi cũng nghe thầy giáo Hoàng Hữu Sam nói trong làng Minh Lệ vẫn có những thầy văn hay chữ tốt được vua vời vô dạy chữ cho con cái các bậc Vương gia trong triều đình Huế. Ở làng cũng có những người thầy hay chữ nổi tiếng khắp vùng như thầy Thoong.

       Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong làng có nhiều người đi lính cho Nam triều. Nhưng người may mắn nhất vẫn là ông Trương Thạc. Ông làm đến quan thất phẩm và người ta thường gọi là ông Thất Khiếng (ông Hòa). Ông Trương Thạc đã từng sang phục vụ vua Hàm Nghi ở Alger từ năm 1938 đến năm 1944. Ông sang làm bạn với ông vua yêu nước bị lưu đày nơi xứ người cho đến khi chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc. Vua Hàm Nghi mất ngày 14 tháng 1 năm 1944 tại Alger vì bị bệnh ung thư dạ dày. Lúc đó các đứa con của vua như hai công chúa Như Mai, Như Ý và hoàng tử Minh Đức đều ở Pháp. Nước Pháp đang bị quân Đức của Hitler chiếm đóng nên không một người con nào của Hàm Nghi sang Alger được để chịu tang cha. Chính quyền Pháp do Pétain đứng đầu thân Hitler kiểm soát nước Pháp rất chặt nên dân Pháp và dân thuộc địa của Pháp ra khỏi nước Pháp đến Alger là rất khó khăn. Mãi đến tháng 6 năm 1944, quân đồng minh đổ bộ lên giải phóng nước Pháp thì những người làm việc cho Pháp mới đến Alger được. Các con vua Hàm Nghi đến được Alger thì người cha của họ đã mất được nửa năm. Tài sản của vua Hàm Nghi để lại không có gì quý giá ngoài các bức tranh của ông vẽ. Những bức tranh đó ông tặng cho những người bạn thân thiết làm kỉ niệm. Trương Thạc là người Việt Nam duy nhất cuối cùng bên linh cửu của ông.

       Trong cuốn sách viết về nhà vua Hàm Nghi, nhà văn Hải Âu đã dành một chương nói về tình bạn của ông Trương Thạc với vua Hàm Nghi. Vua Hàm Nghi đã coi Trương Thạc như một người bạn, một người dân của một đất nước nô lệ đang sống lưu vong nơi xứ người. Triều đình An Nam phái ông sang phục vụ vua trong ba năm cho ngài bớt cô đơn, nhưng kẹt chiến tranh thế giới lần thứ hai cho nên kéo dài đến sáu năm. Sau này ông Trương Thạc về làng ở chòm Minh Hòa, xóm Bắc Minh Lệ cách nhà tôi chưa đến một trăm mét, ông là xã viên hợp tác xã nông nghiệp Tây Bắc. Năm 1976, một hôm ông đi cày ruộng về bị nước ăn chân, ông xin được một viên thuốc Pê-nê- xi-lin bôi vào kẻ chân thì bị phản ứng thuốc và mất.

      Nay anh Trương Huế con ông vẫn lưu giữ được một bộ cúc áo của vua Hàm Nghi. Ngoài các bức tranh mà vua Hàm Nghi tặng bạn bè là vật thể di sản văn hóa được đấu giá rất cao thì vua còn để lại một tài sản vô giá là tinh thần dân tộc không bao giờ mai một của một ông vua yêu nước bị lưu đày.

       Anh Trương Huế hồi còn nhỏ đi học với tôi cùng một lớp tại trường Tiểu học Thọ Linh. Khi cai trị được nước An Nam, người Pháp lập nên ngôi trường đầu tiên dạy cho học sinh vùng Nam Quảng Trạch tại Thọ Linh (Quảng Sơn). Mỗi làng có một trường do dân làng dựng lên gọi là hương trường. Ở Minh Lệ có hương trường tại trung tâm hai xóm Tây - Bắc. Trường chỉ có ba lớp.

Lớp Đồng Ấu (Cours En fantin)

Lớp Dự Bị (Cours Préparatoire)

Lớp Sơ Đẳng ( Cours Élémentaire)

      Ba lớp đầu gọi là bậc Sơ học. Học xong lớp Sơ Đẳng, học sinh thi lấy bằng sơ học yếu lược (Primaire Élémentaire). Muốn học lên cao đẳng tiểu học (Primaire) phải đến trường Tiểu học “École Primaire Complémentaire de Thọ Linh”.

      Khi tốt nghiệp tiểu học xong thì chỉ có một số gia đình khá giả mới cho con em vào Đồng Hới, Huế, Bình Định, Quy Nhơn học tiếp. Những người học đến tú tài rất hiếm. Cả làng tôi chỉ có một người học đến tú tài như anh Hoàng Hữu Đản. Hai anh Hoàng Thúc Cảnh, Hoàng Hữu Xứng có bằng cao đẳng tiểu học (Diplôme d,Étude Primaire Supérieurs Franco-lndigène), còn gọi là bằng Thành Chung. Đây là hai gia đình ở xóm Tây có con cái được học hành đến nơi đến chốn, trở thành những nhân vật nổi tiếng không những chỉ trong làng mà cả nước đều biết đến.

                                                             *

                                                      *            *

      Xóm Tây là xóm có nhiều gia đình có người làm quan và lắm chữ nghĩa nhất trong làng. Họ bán ruộng nương cho con cái học hành. Xóm Bắc làng tôi đồng xôi, ruộng mật. Đa số con em học xong về nhà làm ruộng. Về vụ mùa các cánh đồng làng đa phần làm lúa vãi. Chỉ có những ruộng sâu ở các rôộc, bàu cấy lúa Nước Hai. Các cánh đồng gần làng như Cửa Nương, Nương Giữa, Trường Học lúa tốt bời bời. Những ruộng tốt thì trồng lúa Mành, ruộng cao như đồng Dứa, Giếng Đồng, đồng Chăm, đồng Văn Vũ người ta thường vãi lúa Ba Trăng, lúa Chành, lúa Ré. Chờ mưa xuống là đàn ông đàn bà kéo nhau xuống đồng tét chỗ lúa dày dắm sang chỗ thưa.

       Những gia đình xóm Bắc có chút của ăn của để, vẫn ăn cơ nhịn cực để dành tiền mua ruộng. Về vụ chiêm, khoai Đập Ngang, Giếng Đồng củ to như bắp vế. Khoai đồng Lòi, đồng Chăm củ nhỏ hơn nhưng mà thơm và ngọt. Người Minh Lệ hay ví củ khoai lang là “sâm Việt Nam”.

       Đất làng Minh Lệ phía tây giáp với Quảng Sơn, phía bắc giáp Quảng Hòa. Sau cải cách ruộng đất tôi có về làm sổ sách ở xã mấy tháng, tôi thấy có 4 mẫu, 8 sào đất ở cánh đồng Văn Vánh nhô ra sát với Quảng Hoà. Ngày vào hợp tác xã, Ban quản trị đã “bắn” cho hợp tác xã Cao Cựu Biên. Một số đất đai phía ngoài đồng Tiền Miếu và phía dưới Hói Đồng “bắn” cho Hòa Ninh làm nghĩa địa.

       Những đồng cao có đất cát pha của làng Minh Lệ rất hợp với cây bông, cây lạc. Giữa những ruộng lạc và bông bà con trồng xen thêm ngô, hành, ớt, tỏi. Xóm Nam trồng lạc ở đồng Cơn Ươi, Tây - Bắc trồng ở đồng Chăm, đồng Văn Vũ. 

     Tôi còn nhớ trước Cách mạng, có năm được mùa lạc. Lạc cày xong rũ sạch đất phơi từng hàng đến bốn, năm ngày ngoài đồng cho khô nhưng không hề bị mất mát. Con buôn ngoài chợ Thượng (Hà Tĩnh) vào mua tại ga Minh Lệ. Ban đầu là lạc vỏ, sau là lạc nhân. Lượng người tràn về đông quá nên nhà ga không cho bỏ lên tàu nữa. Thế là họ thuê 2 héc ta ở đồng Đình để dựng xưởng ép lạc. Cứ mỗi ngày ép được 4 tấn lạc nhân. Nhân dân ba huyện Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hóa mang lạc về nhập cho họ. Được mùa, họ ép giá xuống chỉ còn một nửa. Các anh lớn tuổi hơn tôi tổ chức họp bàn, đấu tranh với chủ xưởng để nâng giá lạc. Không ngờ bọn cướp nơi khác đến kết hợp với một số phần tử xấu ở xóm Nam Minh Lệ đến đốt mất xưởng ép dầu lạc. Các thùng dầu nổ như bom, những ngọn khói đen ngòm bốc cao hàng chục mét. Dân làng tôi trồng lạc không còn nơi tiêu thụ.

      Phía đông làng Minh Lệ có cánh đồng Lăng Bạc hay còn gọi là đồng Lăng Trắng. Đồng Lăng Bạc giáp với Hói Đồng và hồ Tù Bình của Quảng Hòa. Đất Lăng Bạc là đất hang rươi, vụ chiêm chỉ trồng được một vụ lúa Nước Hai, vụ mùa để cỏ năn cỏ lác mọc đầy. Mảnh đất ấy rất thích hợp với việc làm hồ tôm, hồ cá nhưng ngày ấy chưa ai biết đánh bắt và nuôi trồng hải sản như bây giờ.

      Cha tôi mua một mảnh ruộng trên đường từ chợ Mới ra Hòa Ninh của ông Thập Cháu. Mảnh đất này nằm đúng nơi thấp nhất của cánh đồng Nguyên Toại phía trong đồng Lăng Bạc. Cha tôi cho con cái đào mảnh ruộng xuống thành một cái đìa. Đất đắp lên theo đập ông Đành thành đường đi chợ. Người dân Hòa Ninh đi chợ Mới không phải lội nước như những năm trước. Người ta thường gọi vùng đồng nhỏ này là “đồng đìa ông Chề”. Về mùa hè nước rút cạn dần, cá theo nước tràn xuống đồng Nguyên Toại mà vào “đìa ông Chề”. Ban đêm đi giữa đồng, nghe tiếng cá quẫy nhiều người yếu bóng vía cứ tưởng ma. Cứ mỗi bữa tát đìa, tôi phải xuống thả mồi ở cửa đìa nhử cá vào trước rồi mới đắp cửa đìa để tát. Đi tát đìa phải chuẩn bị dây dợ của các chiếc gàu dai cho chắc chắn. Cả nhà xách theo một cái ống đựng nước uống làm bằng lồ ô. Buổi khuya các anh chị tôi phải tập trung đến ăn cơm để đi tát cá. Có khi cá tát được hàng gánh, đổ đầy cả một cái nống (cái nong). Các loại cá chưng, cá gáy, cá hanh, cá móm theo nước lụt tràn về, có những con cá mẹ kẻ to hơn chiếc đòn, nặng đến dăm ba cân. Lươn thì đựng trong cái nồi bung. (Cái nồi bung là của người Quảng Tân đền nhân mạng cho một người trong họ của tôi khi đi tìm trâu bị bọn cướp chém chết trên Đồng Đâu). Những con lươn to dài như cán dao hèo vàng rộm. Cha tôi thường dành những cặp cá gáy hay cá mẹ kẻ to nhất biếu các nóc thông gia. Về sau còn có thêm đìa của ông Rịnh và đìa ông Khuyềng nhưng họ ở nơi cao hơn, lại không biết làm mồi nhử cá nên được ít.

      Mùa nước cạn, anh em chúng tôi thường đi đào hầm cá nhảy giữa các bờ làn. Nhớ đến tuổi thơ đơm mợng, đơm lờ, đến nay tôi vẫn thấy thòm thèm.

      Bên cạnh nghề làm ruộng thì dân làng Minh Lệ còn đi rừng chẻ mây, lấy củ nâu, chặt giang, “ăn” lá nón. Họ lấy về bán ở chợ Họa, chợ Đồn. Ngày giáp hạt họ chỉ biết bám lấy rú rừng để chạy gạo nuôi con.

                                                               *

                                                          *        *

      Lúc nhỏ cha tôi bắt tôi ở nhà để học chữ Hán với anh Suyết tôi. Mãi đến năm 1938, tôi mới được đi học chữ Quốc ngữ. Học xong ở trường làng chúng tôi lên học trường Tiểu học “École Primaire Complémentaire de Thọ Linh”. Thầy Lương Duy Tâm nói với chúng tôi rằng: “Các em phải học sử nước Nam ta. Các em phải biết noi gương những liệt nữ anh hùng như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, các anh hùng Ngô Quyền, Lí Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung. Lịch sử dân tộc ta đã có hơn bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước. Thời huyền sử Hồng Bàng, nước ta có tên đầu tiên là Văn Lang. Trải qua mấy ngàn năm Bắc thuộc, cha ông ta đã đứng lên tự lập, tự cường. Đại Việt được hình thành. Lí Thường Kiệt với bài thơ thần đã viết nên bản hùng ca bất hủ. Áng thơ tuyệt tác này được coi là bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất: Sông núi nước Nam, vua Nam ở/ Rành rành định phận tại sách trời/ Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/ Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

      Nguyễn Trãi với Đại cáo Bình Ngô tuyên bố với quốc dân đồng bào bản tuyên ngôn độc lập lần thứ hai : Xã tắc từ đây vững bền/ Giang sơn từ đây đổi mới/ Càn khôn bĩ rồi lại thái/ Nhật nguyệt hối rồi lại minh/ Ngàn năm vết nhục nhả sạch làu/ Muôn thuở nền thái bình vững chắc. Quan điểm cha ông ta là mở lòng hòa hiếu với các dân tộc khác. Thế nhưng lịch sử dân tộc ta cũng đã trải qua bao cuộc binh đao, hết giặc ngoại xâm rồi lại nội xâm. Mảnh đất miền Trung là bãi chiến trường không bao giờ nguội tắt ngọn lửa chiến tranh. Dòng sông Gianh trở thành dòng sông đầy máu và nước mắt. Những cuộc chém giết lẫn nhau, chiến tranh huynh đệ tương tàn. Hơn hai trăm năm đôi bờ sông Gianh chứng kiến hai thế lực Trịnh - Nguyễn phân tranh, nồi da xáo thịt. Phong trào Cần Vương, cứu nước, cả tổng Thuận Thị theo đề đốc Lê Trực và lãnh binh Mai Lượng đi đánh giặc”.

       Cách mạng Tháng Tám thành công. Tại vườn hoa Ba Đình, Bác Hồ - người anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa của thế giới đã trịnh trọng đọc bản tuyên ngôn độc lập tuyên bố với thế giới rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Lần đầu tiên nước ta có tên trên bản đồ thế giới. Cả nước đi theo Đảng, Bác Hồ.

      

                                                               *

                                                         *            *

      Lớp hậu thế chúng tôi lần đầu tiên đến với cách mạng từ trường Tiểu học Thọ Linh. Người trực tiếp dẫn dắt chúng tôi đi theo cách mạng là anh Nguyễn Hữu Vũ hay còn gọi là Nguyễn Văn Đồng (tức trung tướng Đồng Sĩ Nguyên).

      Tôi còn nhớ hồi đó chúng tôi vào lớp Coursen fan thì đã thấy anh Nguyễn Hữu Vũ (Nguyễn Văn Đồng) đang học lớp nhì đệ nhất với anh Hoàng Văn Chuể - người anh trai thứ ba của tôi. Các anh Hoàng Đình Ngữ, Phạm Lơn học một lớp với anh Vũ là người cùng xã với anh. Tôi lần lượt học xong các lớp Moyen un tiếp Moyen deux (lớp nhì đệ nhất) rồi lớp nhì đệ nhị vẫn thấy anh Nguyễn Hữu Vũ học cùng trường. Năm tôi học lớp Cours Suppérieur (lớp nhất) thì anh Vũ đến ngồi học dự thính ở hàng ghế cuối lớp như giáo viên dự giờ ngày nay. Anh ăn mặc như thầy giáo, cũng quần trắng, áo dài the màu đen, đầu đội khăn đóng, chân đi guốc mộc. Có lúc anh bận bộ đồ complê vải Tissor màu mỡ gà, chân đi giày Cuir, tóc chẻ ngôi hai mái.

       Anh ở chợ Sãi, làng Trung Thôn, xã Quảng Trung (Lệ Trạch) cách Minh Lệ làng tôi gần 5 cây số. Nhà anh ở sát rào Nậy, một nhánh phía Bắc của con sông Gianh. Buổi trưa chúng tôi kéo nhau vào đình chợ hoặc xuống nghè Thọ Linh sát bờ Bắc sông Nan giở cơm nắm ra ăn. Nắng xiên qua những vòm cây kẻ lá tạo thành những vòng tròn loang lỗ đậu xuống sân nghè. Gió Nam hiu hiu thổi. Hoàng Hữu Ban cất tiếng: “Ken - lơ- e- tin- a- pơ- rê- dăng- mơ- xi- ơ”. (Hiện tại là mấy giờ rồi anh). Anh Vũ đáp: “Đu- giơ” (Tức là mười hai giờ). Anh khuyên chúng tôi ở trường họ bắt nói tiếng Pháp nhưng ở đây chỉ có anh em mình với nhau nên dùng bằng tiếng mẹ đẻ. Chúng ta là người Việt phải nói tiếng dân tộc mình. Chúng tôi giở cơm nắm ra ăn chung. Anh bảo: “Đứa nào cũng có gói cơm đẹp như hoa. Màu vàng của ngô, màu nâu của khoai, màu hồng của hạt gạo Nước Hai, màu đen của vừng ngon như ăn tiệc”. Ăn xong anh bảo: “Hạt gạo củ khoai do người dân mình một nắng hai sương làm ra cũng không được hưởng trọn vẹn vì phải nộp sưu cao thuế nặng cho thực dân Pháp. Thực dân Pháp rêu rao là khai hóa văn minh cho người dân An Nam nhưng thực chất là chúng đến để vơ vét bóc lột. Chúng khai thác tài nguyên khoáng sản của nước ta để đưa về nước chúng. Chúng bắt dân ta phải làm cu - li mà gọi là khai hóa văn minh à? Chúng bắt dân ta phải gọi nước Pháp là Mẫu quc. Chúng bắt dân ta phải quên tiếng mẹ đẻ đi, làm tay sai cho chúng để dễ bề cai trị. Bên cạnh nước mẹ Đại pháp thì chính phủ An Nam chỉ là một thứ bù nhìn. Khi các em thấy thầy Tôn Thất Đính khoác bộ Complê thắt Caravat dậm đôi dày Cuir điều khiển chào cờ hô: “Aujourd, hui C,es lu ascension. (Ôruôcđuy cést la fête atention). Chào cờ buổi sáng, cờ Tam tài của nước Đại Pháp kéo lên đến đỉnh rồi mới đến lượt cờ An Nam kéo theo phía dưới. Các em thấy như thế có nhục không?”. Chúng tôi đồng thanh đáp: “Nhục ạ!”.

      Thực tế nhà trường Tiểu học Thọ Linh lúc bấy giờ do người Pháp lập ra để đào tạo những lớp người phục vụ cho chúng nên đa số các thầy giáo do chính phủ thực dân cử đến. (Thầy Tôn Thất Đính người Huế, tốt nghiệp tú tài tại Pháp, sau Cách mạng tháng Tám vào Vệ Quốc đoàn. Tôn Thất Đính chỉ huy một trung đội do Đỗ Mậu - người Quảng Thuận, (Quảng Trạch) làm tiểu đoàn trưởng, chống liên quân Anh - Pháp. Đơn vị thất trận, tan rã, Tôn Thất Đính cùng Đỗ Mậu ngã sang hàng ngũ Việt Binh đoàn của Bảo Đại. Thời còn chế độ Mỹ - Ngụy Sài Gòn, Tôn Thất Đính làm đến trung tướng, Đỗ Mậu làm Phó thủ tướng).

     Trở lại sự ảnh hưởng của anh Vũ đối với học trò Minh Lệ. Chúng tôi tập võ nghệ, đá bóng cùng các anh lớp trên. Chúng tôi tập diễn kịch đả kích bọn quan lại phong kiến. Tôi dựng một vở kịch có nội dung là một người tên Lê có người vợ mới đẻ con so. Anh Lê nghe người ta nói đàn bà đẻ cũng dữ tợn như chó đẻ nên phải dùng sào đem cơm vào buồng cho vợ. Từ đó người ta gọi anh ta là “Lê sợ vợ”. Hôm đốt lửa trại, vở kịch được công diễn. Bà con yêu cầu diễn đi diễn lại nhiều lần. Trong hàng ngũ khán giả còn có cả chánh tổng và lí trưởng đến xem. Ông chánh tổng chỉ vào Trương Văn Xuyên: “Thằng Xuyên nhà tôi đó. Hàng ngày ở nhà nó hiền như con gái mà ra đây nói lời lẽ sắc sảo ghê”. Ông lí trưởng chen vào: “Có học thì có khác. Thằng Sinh nhà tôi cũng nhanh nhẹn hoạt bát lạ thường. Nó nói tiếng Tây như gió”. Tôi kể lại với anh Vũ. Anh cười: “Lescheveux phiên âm Lê-sơ-vơ là “Lê sợ vợ” (tiếng Pháp có nghĩa là những sợi tóc). Anh bảo vở kịch đó chỉ ra được cái đần độn dốt nát của một anh nông dân mù chữ. Suy cho cùng thì cũng là do chính sách ngu dân của thực dân Pháp mà dân ta không được học hành. Phải dựng những vở kịch có nội dung lớn hơn. Kịch phải khơi dậy lòng yêu nước của nhân dân ta, phải thực sự là thứ vũ khí sắc bén lợi hại chĩa thẳng mũi dùi vào thực dân Pháp và bọn quan lại làm tay sai cho chúng. Anh nói: “Ở nông thôn ta hàng ngũ hội tề lí trưởng, hương kiểm, hương mục, hương dịch, bản bộ làng đều là những người Việt nhưng lại làm tay sai cho giặc Pháp. Hiện nay trong nước ta đã có nhiều người đứng lên để chống thực dân Pháp. Các em phải học cho thật giỏi, lấy tri thức đó để tuyên truyền vận động nhân dân không được đi lính khố xanh, khố đỏ, không làm việc cho Tây, chờ thời cơ đứng lên giành chính quyền đánh đổ chế độ thực dân”. Nói xong anh dặn chúng tôi phải tuyệt đối giữ bí mật vì bọn mật thám có thể cài người của chúng vào trong trường. Tôi nhớ mãi một vở kịch mà anh tập cho chúng tôi là “Quan ăn cứt chó”.

       Có một tên quan tri phủ hay ức hiếp dân lành. Cái gì hắn đã muốn là bằng mọi cách cố chiếm đoạt cho bằng được. Một hôm có con chó anh nhà nghèo đi bậy ra gốc cau nhà quan. Hắn túm lấy cổ anh nhận xuống đất bảo: “Hôm sau chó mày mà đi bậy ra đây lần nữa là tao bắt ăn cho bằng hết nghe chưa”. Anh nhà nghèo vâng dạ rồi rang cốm trộn với đường đen và khoai lang chín bỏ vào trong ống tre, ban đêm đến thụt xuống gốc cau nhà hắn. Lần này tên tri phủ chạy sang: “Mày sang mà ăn hết mấy thứ của quý con chó nhà mày thải ra đi”. Anh nhà nghèo ngoan ngoãn sang nhặt hết các thứ “của quý” ăn một cách ngon lành. Ngạc nhiên, tên quan bèn xin anh một viên ăn thử. Thấy ngon, hắn đòi đổi cho anh cô con gái rượu. Hôm sau hắn cho con chó ăn no nê rồi lên tỉnh mời các quan về dự tiệc. Vở kịch được công diễn ở làng tôi làm bà con bò lăn bò càng.

        Ngày 25 tháng 12 là ngày lễ Nô en. Chúng tôi biểu diễn tại sân trường Minh Lệ. Trường làng đóng ở trung tâm hai xóm Tây - Bắc, do giáo viên hương trường dạy. Đêm ấy diễn xong, sáng ngày 26 tháng 12, chúng tôi bị thủ giáp đem trát lại triệu tập. Nội dung là 9 giờ sáng tất cả những diễn viên tham gia diễn kịch phải có mặt tại đình làng để gặp ban hội tề. Chúng tôi nói với nhau: “Phải nói với họ là chúng tôi diễn kịch theo sách tiếu lâm. Phải cầm theo sách để chứng minh”.

      Thấy chúng tôi không đến, hương kiểm đến từng nhà bắt chúng tôi ra giam ngoài cái điếm. Cái điếm đó sát với trường làng, có dây thép gai rào xung quanh (ngay trên con đường cái quan đi lên nhà ga). Ông lí trưởng hầm hè: “Chúng mày định phá làng à? Quan trên mà biết được cho người về thì chúng mày chết”. Chúng tôi bị thủ giáp đánh cho mỗi người mười roi mây. Lý trưởng gửi giấy lên cho thầy hiệu trưởng. Thầy hiệu trưởng tên là Lương Duy Tâm. Thầy lên thay thầy Nguyễn Văn Điềm người Quảng Ngãi được chuyển đi nơi khác từ năm 1941. Thầy Tâm gửi công văn về can thiệp, ngày thứ 3 thì chúng tôi được thả. Thầy Tâm hỏi chúng tôi: “Ai bị đánh nhiều nhất”. Cậu Hoàng Bá Tôn nhanh nhẩu: “Thưa thầy bằng nhau ạ! Mỗi đứa bị đánh mười roi”. Thầy Tôn Thất Thuật bảo: “Trưa các em lại phòng học Cours Suppérieur (lớp nhất) để thầy giảng lại bài của 2 ngày trước cho”. Thầy còn nói thêm: “Em nào không hiểu thì cứ đến phòng thầy. Các em sắp thi tốt nghiệp rồi đó”. Anh Vũ đến động viên an ủi chúng tôi: “Có đáng gì đâu. Mười roi mây không là cái gì cả. Rồi đây khó khăn gian khổ còn nhiều. Sau này các em phải đứng lên đánh đổ chế độ thực dân Pháp, phải đối mặt với mũi tên hòn đạn phải chịu sự hy sinh mất mát. Bây giờ nhiệm vụ của các em là tuyên truyền trong nhân dân. Phải làm cho bà con căm ghét cái chế độ này”. 

       Cứ mỗi lần tiếp xúc với anh Vũ, chúng tôi cảm thấy mình lớn lên rất nhiều. Chúng tôi biết đoàn kết thương yêu nhau hơn. Chúng tôi không còn phân biệt hằn thù, gây chia rẽ với học sinh công giáo như trước.

       Anh Vũ thường đi lại với các thầy giáo trường Tiểu học Thọ Linh như thầy Tôn Thất Hiên, thầy Lương Duy Tâm, thầy Hoàng Diệu. Cũng có thầy bằng tuổi anh như thầy Nguyễn Đống, có thầy nhỏ tuổi hơn anh như thầy Tôn Thất Thuật quê ở Huế. Có khi anh vắng hẳn vài ba tháng lại trở về trường học tiếp.

      Một dạo anh đi đâu hơn ba tháng rồi về học dự thính (Cour Suprieur) ở lớp thầy Lương Duy Tâm. Anh để tóc dài búi lên trong chiếc khăn đóng rộng vành. Anh tuyên truyền phong trào thanh niên mặc quần đen, có ba sọc đỏ của các tổ chức Phan Anh, tổ chức phản phong, phản đế. Phong trào thể dục thể thao, cắm trại, tham quan không chỉ diễn ra ở thành phố mà còn về cả nông thôn. Anh Vũ vào trường Thành Chung học năm thứ nhất ở trong Đồng Hới nhưng thỉnh thoảng vẫn quay trở lại trường thăm thầy. Năm 1942 anh còn đến trường phát báo Hồng Lạc do anh làm chủ bút để tuyên truyền trong giáo viên, học sinh.

     Phong trào cách mạng đã bí mật lan rộng ở nông thôn. Cha tôi nói: “Thế là đã có người đứng lên lãnh đạo nhân dân mình đánh Tây. Không thể ngồi chờ được nữa. Các con, các cháu cũng phải lo học võ dần đi. Sẽ có lúc cần đến”. Ban đầu chỉ có tôi và các bạn Hoàng Đăng Các, Hoàng Hữu Nghỉnh, Hoàng Đạnh, Hoàng Hữu Thiền, Hoàng Nìa (Hoàng Văn Minh)…  và một số bạn bè cùng trang lứa tham gia học võ. Thầy dạy võ là anh Hoàng Văn Suyết - anh trai của tôi và các anh Hoàng Đăng Hiền, Hoàng Đăng Ruể con cháu cụ Bát Dưỡng (Hoàng Thiện Dưỡng). Về sau chúng tôi vận động được nhiều bạn bè ở các lứa tuổi cùng tham gia. Có một số anh lớn tuổi hơn đã đậu primè re những năm trước và cả những người chưa biết chữ cũng tham gia học võ và dạy võ. Rất nhiều học sinh ở lứa tuổi mười lăm, mười sáu. Chúng tôi học “Bách Thủ Thế”. Dưới ánh trăng sáng vằng vặc và những ngọn gió nồm nam mát rượi, tiếng vi vút của siêu đao: Trảm, phạt, nghinh, trung bình tấn vang lên làm lòng tôi rạo rực phấn chấn lạ thường. Tiếng leng keng, tiếng rít xé không khí của thảo song kiếm, thảo roi rồi tiếng nhảy huỳnh huỵch, cộng với tiếng thở hổn hển của người luyện thảo ngọc trản ngân đài, tả hữu triển khai, kim kê độc lập thuận, nghịch. Các động tác đẹp đến mê hồn.

       Cứ vài ba tuần thì có các anh Hoàng Phúc, Hoàng Văn Chuể, Hoàng Khắc Quê, Nguyễn Sính vv… đến kiểm tra chúng tôi một lần. Có khi có cả các anh Hoàng Trá, Hoàng Khắc Nhượng, Hoàng Đình Bường, Nguyễn Đình Ngô. Những người dạy võ cho chúng tôi là lớp đàn anh đều đứng trong tổ chức Phan Anh, thanh niên phản Đế ở trường về. Họ nói trước đây cũng luyện võ ở những bãi tập này. 

      Vào đầu năm học mới, nhà trường tiểu học Thọ Linh tổ chức thi đấu võ. Thầy Tôn Thất Thuật đứng trước học sinh toàn trường kêu gọi: “Trò nào biết võ hãy ra biểu diễn cho toàn trường xem”. Chúng tôi ai nấy nhìn mặt nhau. Bỗng anh Vũ đẩy tôi ra sân: “Em ra biểu diễn đi”. Tôi bối rối chưa kịp định thần thì Hoàng Đăng Các bước ra sân trong tiếng reo hò động viên cổ vũ của mọi người. Chúng tôi vung đôi tay và chân vào động tác “Bái tổ” với “Thảo mai hoa quyền” trong vòng tròn đường kính một mét. Biểu diễn xong lại có tiếng nhiều người reo lên: “Đề nghị thi đấu võ. Đấu võ đi! Đấu võ đi!”. Chúng tôi lâng lâng trong tiếng vỗ tay, reo hò, cổ vũ của mọi người. Thầy hiệu trưởng khen hai chúng tôi biểu diễn đẹp. Thầy kêu gọi học sinh toàn trường phải thi nhau tập võ nghệ để rèn luyện thân thể nâng cao sức khỏe. Một năm học mới bừng bừng khí thế của tinh thần thượng võ. Mãi sau này tôi mới biết anh Vũ cùng thầy Lương Duy Tâm hoạt động bí mật trong tổ chức Phan Anh. Anh phát động tập võ trong giáo viên, học sinh để chuẩn bị cho Cách mạng Tháng Tám sau này.

                                                                *

                                                           *         *

        Chiến tranh thế giới lần thứ hai đã tác động sâu sắc đến đời sống chính trị và kinh tế của những người dân miền Trung. Ngay cả học sinh, giáo viên trong trường Tiểu học Thọ Linh cũng bị ảnh hưởng ít nhiều. Bọn Phát xít Nhật đã tràn vào Đông Dương. Cô giáo người Pháp bỏ trường không dạy nữa nhưng chương trình Pháp - Việt vẫn dạy bình thường. Học sinh vẫn cứ phải chào cờ Tam tài của nước Đại Pháp vào ngày thứ 2 hàng tuần. Trong trường có 18 thầy giáo thì chỉ có 5 thầy là người Quảng Bình. Phần lớn là người Huế và Quảng Nam, Đà Nẵng. Lúc này các hoạt động xã hội cũng phong phú hơn. Thầy Lương Duy Tâm đã cho mời các đoàn xiếc, đoàn kịch nói về biểu diễn tại trường. Sôi nổi nhất là những đêm đốt lửa trại. Những hoạt động của tổ chức Phan Anh về phong trào thể dục, thể thao như thi đấu bóng đá, bóng chuyền, hội vật, đua thuyền cũng phong phú hơn. Lệnh cấm “quần tam, tụ ngũ” của chính quyền hình như được nới lỏng.

     Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật làm đảo chính hất cẳng Pháp. Những chuyến tàu hỏa dài trên chục toa chở đầy lính ky binh của Nhật tràn về miền Trung.  Chúng đổ quân xuống ga Minh Lệ hàng ngàn tên. Chúng chiếm lĩnh nhà ga, trường học, đình chùa miếu mạo để ở. Chúng cướp bóc ngô, khoai, lúa của dân cho lừa ngựa ăn. Đàn bà con gái phải lẩn trốn suốt ngày đêm. Đàn ông phải đi phu phen tạp dịch. Chúng bắt họ vác lương thực, đạn dược, vác gỗ, tà vẹt sửa chữa đường tàu. Chúng tôi đi học bị chúng ngăn lại lục soát sách vở nên buổi học nào cũng trể. Mặc dù gian khổ như thế nhưng kì thi tốt nghiệp Hoàng Thúc Tấn vẫn đỗ đầu Primaire của tỉnh Quảng Bình.

      Giặc Nhật bắt dân ta nhổ lúa để trồng đay. Người chết đói đầy đường. Những dòng người ăn xin nối nhau về chợ Mới. Họ nằm la liệt dưới gốc đa. Có một em bé gái khoảng 9 tuổi đói quá nhặt cả cá thối, cá ươn người ta vứt ra giữa chợ bỏ vào mồm ăn. Em ăn cả lá gói bánh ruồi nhặng bâu đầy. Mặt em bị phù, hai mí mắt sưng to, dày lên không thấy rõ đường mà đi. Thương quá! Mẹ tôi mua cho em hai cái bánh rán. Em bỏ vào mồm nhồm nhoàm nhai không kịp nuốt. Mẹ tôi đi chợ về nói với cha. Hôm sau hai vợ chồng xuống chợ thì thấy em nằm mê man bất tỉnh bên cạnh một đứa bé gái chừng mười hai tuổi rụng tóc trọc đầu. Cả hai đứa bị phù thũng nặng. Đứa lớn hơn có tên là Hới. Nó nói được nhưng da xanh như tàu lá. Hới là người ngoài Hà Tĩnh, cha mẹ em đã bị chết đói hết. Cha tôi là thầy dạy chữ Hán, chữ Nho nhưng cũng biết đôi chút về nghề thuốc. Ông đã từng chạy chữa cho nhiều người lành bệnh bằng thuốc Nam. Ông bảo mấy chị em của tôi cáng hai đứa bé về. Ông cắt thuốc Bắc, thuốc Nam cho nó uống. Mẹ tôi hàng ngày bón từng thìa cháo cho nó. Ba tháng sau đứa bé cũng khá hơn. Nước da nó mỏng như tờ giấy, thấy nước bên trong. Em đã nói ú ớ được mấy tiếng nhưng ngọng nên không biết tên gì. Nghe giọng nói tôi đoán em là người làng Thổ Ngọa (Quảng Thuận- Quảng Trạch). Cha tôi đặt cho em tên là Nuôi. Nuôi sống được sáu tháng thì em chết. Cha tôi đóng một cái quan tài bằng ván khép lại và chôn cất em dưới cánh đồng Cửa Nương. Hàng năm đến ngày giỗ, chạp, xủi mả cũng thờ phụng như những người thân trong gia đình. Ngày hợp tác xã quy tập mồ mả họ đã đưa em về nghĩa địa đồng Chăm. Tiếc rằng trong những năm đó tôi theo trường sư phạm chuyển từ vùng này sang vùng khác nên không biết họ bốc mộ em về đâu. Em trở thành vô danh.

     Còn Hới thì về sống với gia đình tôi được hai năm là giặc đến. Hai anh em Trớ nậy, Trớ con đều theo giặc. Họ cậy thế làm lính bảo vệ (Việt binh đoàn) lên cướp Hới đem về làm con ở. Nghe chị Khầm (vợ anh Trần Kim Vầng con dì tôi) nói sau này em lấy chồng ngoài Vĩnh Phước.

      Cũng cần phải nói thêm rằng, trong cái năm đói khủng khiếp đó cha tôi đã đem về nuôi thêm hai đứa bé nữa. Một em tên là Hà, người làng La Hà (Quảng Văn), một em tên là Thu người Quảng Tân. Cha tôi cho ăn uống rồi cắt thuốc Nam mà hai em lành bệnh. Hà theo mẹ tôi đi chợ Mới, họ hàng em nhận được liền đưa tiền lên xin chuộc về. Cha tôi nói ông đem về “nuôi làm phúc chứ tiền bạc cái nỗi gì”. Cha tôi cho không. Mấy tháng sau họ hàng Thu cũng tìm lại được cháu mình.

      Trong những năm mất nước, người dân ta đói khát, khổ cực trăm bề, cha mẹ mất con, vợ mất chồng, nhiều người tha phương cầu thực, cửa nhà li tán. Viết đến đây lòng tôi lại quặn đau và cảm thấy bùi ngùi. Không biết bây giờ các em có còn sống hay không?  

                                                               *

                                                         *           *

       Lại nói về những đổi thay của làng Minh Lệ từ ngày giặc Nhật kéo về. Bọn Pháp thất trận chạy trốn vào rừng. Có một toán lính Pháp gặp người làng Minh Lệ đi chẻ mây, chúng bắt trói lại bên gốc cây sợ về báo với lính Nhật. May mà các anh ấy cà sợi dây vào thân cây cho đứt rồi cởi trói cho nhau.

      Lính Nhật vào lùng sục trong rừng áp giải lính Pháp ra. Họ kéo đi từng đoàn có một sợi dây thép xâu tay. Mỗi sợi dây xâu được vài chục thằng. Dây thép xâu qua giữa lòng bàn tay. Chỉ ba tên lính Nhật mà áp giải được hàng trăm tên Pháp. Chúng tập trung tù binh về nhà ga Minh Lệ. Nghe nói lính Pháp trốn vào các hang lèn Đá Chác, Khe Gát, Đá Đẽo (Minh Hóa) và lèn Khe Ngang (Phúc Trạch, Bố Trạch bây giờ)

      Nhật - Pháp bắn nhau. Pháp bị bại trận rất nhanh. Lính Nhật bảo vệ cầu Minh Lệ được bố trí trận địa pháo cao xạ trên động Cu Tri đầu cầu phía nam. Những xạ thủ Nhật bị xích chân vào ụ pháo để bắn, không được chạy tránh. Máy bay đồng minh bay rất thấp, tốc độ lại chậm nhưng khi bom trút xong rồi, khói lên mù mịt đã mới nghe tiếng súng nổ. Bọn Nhật bắn “vuốt đuôi” nên không hạ được chiếc nào. Cầu Minh Lệ bị sập hẳn một nhịp, một nhịp bị xiêu, nhịp thứ ba thì móng sụt xuống nửa mét. Cầu Minh Lệ bị đánh sập. Quân Nhật đổ xuống Minh Lệ ngày càng đông. Mỗi tên lính được trang bị một con ngựa, một thanh gươm dài, 1 khẩu súng trường hoặc tiểu liên, 2 quả thủ pháo, 2 bao da đựng đạn, 1 ăng gô nhôm dùng để nấu ăn, 1 bao gạo cho người và 1 bao lúa cho ngựa. Ngoài ra còn có các vật dụng khác đựng trong hai cái bao tải to mang hai bên mình ngựa. Khi nghỉ, chúng buộc ngựa bên đường, người trải tăng ra nằm bên cạnh ngựa. Cọc buộc ngựa chúng cắm khắp vườn, các cây cau, chuối bị phạt đổ ào ào. Lúa cho ngựa ăn hết, chúng phá ngô, khoai của bà con cho ngựa ăn. Bọn Nhật ăn hổ lốn. Bình thường mỗi tên tự nấu lấy theo khẩu phần ăn hàng ngày của chúng. Mỗi tên bỏ gạo, thịt, rau, đậu, cá khô vào trong cái ăng - gô rồi treo lên cây, chất củi đốt. Nấu chín chúng lấy thìa nĩa ra ngồi ăn một mình. Có khi chúng nấu ăn tập trung. Anh Trần Đình Dán, anh trai của vợ tôi có kể lại rằng. Chúng đóng quân ở trong nhà anh. Không có cái gì đựng thức ăn thế là chúng đổ vào một cái vại đựng nước tiểu để chia phần ăn cho lính.

       Hàng ngày chúng bắt đàn ông đi chặt gỗ, đào đá, đan giỏ sắt bỏ xuống sông rồi khiêng đá hộc ném vào giỏ, chặt gỗ chống lại các nhịp cầu. Trong thời gian đang làm cầu chúng cho tàu hỏa từ trong Huế ra, tăng bo hàng qua sông Nan. Trên sông Nan lúc nào cũng có thuyền để vận chuyển hàng hóa. Chúng bắt dân ta phải chở hàng qua sông cho chúng. Chúng bắt họ chống gỗ xuống cột bin để dựng cầu nhưng không ai hiểu tiếng Nhật nên chúng đánh đập rất dã man, có nhiều người chết đi sống lại. Có những việc quá sức bà con không thể làm được nhưng chúng bắt phải làm, làm không được thì đánh. Phải có những người đại diện để đối thoại với chúng. Trước tình hình đó nhà trường và dân làng phải cử ra hai học sinh biết tiếng Nhật. Anh Hoàng Văn Chuể và Hoàng Văn Soảnh được chọn làm thông ngôn cho bà con. Chúng chữa gần hai tháng đến ngày 1 tháng 5 năm 1945 mới thông được cầu. Nhịp cầu đổ xuống không trục lên được mà phải làm lại nhịp mới hoàn toàn.

     Ngày 14 tháng 8 năm 1945, Hội đồng chiến tranh tối cao và nội các Nhật thông qua chiến dịch đầu hàng. Ngày 15 tháng 8 năm 1945, đài Nhật phát đi lệnh của Nhật Hoàng kêu gọi quân sĩ đầu hàng đồng minh vô điều kiện. Lính Nhật tập trung tại nhà ga Minh Lệ để phân chia quân số theo các đường về nước. Một số về đường sắt lên tàu hỏa đi ra Hà Nội, một số về đường thủy thì xuống ca nô về cửa Gianh. Mục đích chính của chúng là tập trung tại đây để chứng kiến tên quan năm tự sát bằng gươm. Ông Trần Sơu - một người dân xóm Bắc lên bán quán trên nhà ga Minh Lệ kể lại rằng. Tên quan năm, tay cầm gươm, đứng nghiêm, miệng nói rất to. Không biết hắn nói điều gì mà thái độ nghiêm trang lắm. Hai bên hắn có 2 người lính hộ tống. Một người đứng đằng sau. Hắn co tay phạt ngang cổ một nhát. Cái đầu rụng xuống đã có hai người lính đỡ lấy đặt lên bàn, khiêng đi. Vòi máu phọt xa 2 mét. Bọn lính đặt xác tên quan năm vào một cái hòm. 

       Pháp bại, Nhật hàng. Quân đồng minh vào tước vũ khí và giải giáp quân đội Nhật. Đạn dược bọn chúng bỏ trong túi vải mà vẫn rơi vãi đầy đường. Chúng tôi lượm về gói lại trong mo cau giấu trong bụi tre.

      Trong làng lúc này cha tôi cùng các cụ Cửu Ngô, Bát Dưỡng, cụ Bộ Trình, cụ Tiều, cụ Phan, cụ Huyến, cụ Càn, cụ Chửng, cụ Hời…hay bàn luận về việc nước. Cha tôi xem sấm kí của Trạng Trình - Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Mười người chết bảy còn ba. Chết hai còn một thì ra thái bình”. Các cụ nhận định: “Pháp bại, Nhật hàng chắc chắn vua Bảo Đại và bọn tay sai cũng phải đo theo thôi. Đây là thời cơ giành độc lập”. Quả thật, sau năm đói 1945 khủng khiếp, người chết đầy đường, ngọn lửa cách mạng đã bùng lên thiêu cháy chế độ thực dân nửa phong kiến ngót gần một thế kỉ. Cuộc Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, Pháp bại, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị.

       Chúng tôi về làng lại kéo mấy thanh niên địa phương, ban đêm ra đồng Chăm luyện võ. Chúng tôi còn tập võ công khai ngay giữa đình làng. Bạn bè ban đêm đến nhà tôi ngủ chật giường. Chúng tôi còn mắc thêm võng trước hàng hiên nữa.

       Đêm 22, rạng ngày 23 tháng 8 năm 1945, cả Quảng Trạch rộn ràng không khí chuẩn bị khởi nghĩa. Đêm hôm đó trăng rằm sáng vằng vặc như ban ngày. Một số học sinh về hè (Va can) đến nhà ngủ với anh Chuể tôi. Chúng tôi theo cha đi bộ ra bến đò Phú Trịch. Người ở các làng kéo về đông như hội. Đò các làng tập trung ở bến đò Phú Trịch đông như mắc cửi. Thanh niên trai tráng vùng Nam Quảng Trạch theo các cụ phụ lão đi qua bến đò Phú Trịch đến đình Lũ Phong để tập trung. Người các nơi đổ về làng Lũ Phong tầng trong lớp ngoài, đứng chật sân đình. Ai nấy đều bừng bừng khí thế cách mạng.

      Ngày 23 tháng 8, trúng phiên chợ Đồn nên bà con đi chợ nhập đoàn kéo đến bao vây Phủ Quảng Trạch cướp chính quyền. Bà con vào phủ đường hô vang khẩu hiệu: “Việt Nam độc lập muôn năm”, “Ủng hộ Việt Minh”, “Đả đảo chính phủ Trần Trọng Kim”. Tri phủ Quảng Trạch cùng bọn nha lại xin đầu hàng. Lực lượng tự vệ chiếm phủ đường, nhà dây thép, nhà đoan… Sổ sách, triện đồng bị tịch thu thiêu hủy tại chỗ.

       Ngày 24 tháng 8 năm 1945, Ủy ban khởi nghĩa ra mắt đồng bào. Cả một rừng người, rừng cờ vui mừng đón chào Ủy ban khởi nghĩa. Anh Nguyễn Văn Đồng đứng trên lô cốt hàng bò, chợ Đồn tay cầm loa tuyên bố với nhân dân cuộc khởi nghĩa ở Quảng Trạch đã thành công. Vua Bảo Đại đã thoái vị. Anh hô: “Việt Nam độc lập vạn tuế! Hồ Chí Minh muôn năm! Cách mạng muôn năm!” Đồng bào không biết hô hai tiếng “Muôn năm” nên anh phải nhắc lại: “Hô đi! Hô đi!” Nhiều người hô theo “Hô đi! Hô đi!” Anh phải sửa lại cho họ lần nữa.

       Nhìn những lá cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió, lòng tôi rưng rưng khi được biết người bạn lớn tuổi của mình bây giờ đã là người đứng đầu của Ủy ban khởi nghĩa. Bấy giờ tôi mới biết anh làm chủ nhiệm Việt Minh, anh là một trong những cán bộ chủ chốt của tỉnh Quảng Bình. Những năm tháng anh về học dự thính ở lớp thầy Tâm với mục đích giác ngộ học sinh và giáo viên trong nhà trường. Nói sao hết niềm vui sướng tự hào của một cậu học trò nghèo, một người dân mất nước đã đứng lên làm chủ cuộc đời mình, làm chủ vận mệnh non sông đất nước mình.

      Cuộc tuần hành theo đường Quốc lộ 1A kéo dài đến hai, ba cây số. Càng đi vào, dòng người nhập cuộc càng đông. Chúng tôi vào đến khe nước dưới chân đèo Lý Hòa là tối, đành ngủ lại một đêm dưới rừng dương. Buổi khuya chưa rõ mặt người, ai nấy vội vàng dậy chạy cho kịp giờ. Cuộc tuần hành rầm rộ diễn ra trên đường phố của thị xã Đồng Hới. Dòng người hô vang khẩu hiệu, cờ bay phấp phới, nét mặt ai nấy hân hoan, lòng tràn đầy hạnh phúc. Chúng tôi tập trung tại sân vận động Đồng Hới dự mít tinh. Người đông vô kể. Dòng người như thác cuồn cuộn chảy từ sân vận động đến cầu Dài rồi đổ về bờ sông Nhật Lệ. Dòng người đi mãi đến nhà thờ Tam Tòa, lên cầu Mụ Kề rồi lại lên đường Quốc lộ 1A. Khi đoàn người giải tán, chúng tôi gặp anh Suyết - anh trai tôi. Anh đã có vợ và ra ở riêng. Anh cùng anh Sính đi theo tàu vào Đồng Hới hai ngày trước. Anh lấy trong túi ra mấy củ khoai lang đưa cho hai anh em tôi (tôi và anh Chuể): “Hai em ăn đi. Lát nữa gặp quán hàng anh sẽ mua cho mà ăn. Anh và anh Sính đã ăn cơm rồi. Do tổ chức nấu”. Nhưng đi mãi chẳng thấy một quán cơm nào. Anh Sính hẹn vào quán uống nước. Chẳng có nước chè chúng tôi đành uống nước lã. Mãi quá  nửa đêm chúng tôi mới về đến nhà. Chúng tôi đi bộ theo đường sắt hơn bốn chục cây số.

                                                                *

                                                         *            *

      Sau Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng được thành lập, đồng bào hăng hái tham gia xây dựng chế độ mới. Ông Nguyễn Xừ với ông Nguyễn Đình Ngô là hai người chủ chốt đầu tiên của chính quyền xã. Ông Nguyễn Xừ nguyên là một đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương. Ông được kết nạp vào Đảng tại Quảng Ngãi từ năm 1937. Ông hoạt động bí mật trong quân đội Pháp cho nên ngày nay người ta vẫn thường gọi ông là ông Quản Xừ. Ông Nguyễn Đình Ngô là bạn thân với cha tôi và các ông Hoàng Bá Chuân, Hoàng Thiện Dưỡng. Trước Cách mạng ông làm thầy địa coi hướng đất làm nhà, lấy nền mồ mả cho mọi người. Họ thường được bà con các nơi trọng vọng mời đi xem đất. Anh Hoàng Thúc Cẩn cho biết ông Ngô được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương từ năm 1933. Hồi đó ông đi khắp đó đây bằng một chiếc thuyền nan với cái vỏ bọc là một thầy địa lí. Ông hoạt động khắp các vùng trên đất Quảng Bình. Hai ông đứng ra thành lập chính quyền cách mạng lâm thời. Ông Cửu Ngô làm Chủ tịch, ông Quản Xừ làm Phó chủ tịch xã. Một số người lớn tuổi tham gia cách mạng dần dần được lựa chọn vào các vị trí chủ chốt của Ủy ban cách mạng lâm thời.

      Minh Lệ mới thành lập được vài ba tháng hợp nhất ba xã (Minh, Sơn, Thủy ngày nay) lại thành một xã mới gọi là Minh Trạch. Mấy tháng sau ông Ngô lên công tác trên huyện, ông Nguyễn Xừ lên thay. Thực hiện chính sách lương giáo đoàn kết của Đảng và Bác Hồ, Nguyễn Huỳnh được cử làm Phó chủ tịch. Nguyễn Huỳnh là dân Công giáo ở chợ Mới, có trình độ văn hóa. Anh ta đang học lớp đệ tứ với anh Chuể tôi.

      Ủy ban hành chính lâm thời lấy mấy nhà còn lại chưa bị đốt của xưởng ép lạc phía trên đình làng làm trụ sở. Sau khởi nghĩa, mọi người trong làng đến tập trung tại trường làng Minh Lệ để nghe các anh, các chú tham gia cướp chính quyền ở Ba Đồn, Đồng Hới về kể chuyện. Ủy ban thông báo thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám đã đập tan xiềng xích của chế độ thực dân phong kiến ngót tám mươi năm. Từ nay chính quyền thuộc về tay nhân dân lao động. Cách mạng sẽ thành lập nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á. Mọi người dân Việt Nam từ nay đều có quyền bình đẳng ngang nhau trong việc bảo vệ, xây dựng và tái thiết đất nước.

       Chính quyền cách mạng mới được thành lập đã phải đối mặt với bao  khó khăn chồng chất. Hai triệu người chết đói, nền kinh tế kiệt quệ, ngân khố trống rỗng. Bác Hồ phát động phong trào thi đua tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm được lan rộng khắp toàn dân. Ruộng đất bị bỏ hoang trong chiến tranh đã được phục hóa. Cả nước hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ tiêu diệt ba thứ giặc trước mắt: Giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Lúc này giặc đói còn nguy hiểm hơn cả chiến tranh. Phong trào “lá lành đùm lá rách”, “Hũ gạo cứu đói” được bà con nô nức thực hiện. Đặc biệt Bác Hồ là người đi đầu trong phong trào này. Bác nói: “Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng.

     Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước và tôi xin thực hành trước. Cứ mười ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”. Noi gương Bác, “ngày đồng tâm nhịn ăn” được toàn dân hưởng ứng. Chỉ trong tuần đầu tiên cả nước đã quyên góp được hàng vạn tấn gạo.

      Trong làng tôi, nhiều nhà chưa đủ cơm độn khoai, độn sắn mà ăn nhưng vẫn cưu mang những gia đình “tắt bữa” để cho họ có bữa rau, bữa cháo. Cứ 15 ngày xã lại tập trung thu gạo tại trường làng để cứu tế cho những người nghèo. (Trưởng ban kinh tài lúc đó do anh Nguyễn Khắc Dạ, Phó ban là anh Trần Diệng).

     Gia đình tôi mặc dù lúc đó đang có 4 người con nuôi, mỗi bữa nấu cơm cũng bớt lại một nắm gạo để ủng hộ bà con bị đói. Truyền thống này được duy trì cho đến ngày hòa bình lập lại.

      Song song với việc tổ chức bộ máy chính quyền và lực lượng quân sự xã thì các tổ chức đoàn thể khác cũng ra đời. Tổ chức thanh niên do anh Hoàng Đăng Phông phụ trách. Hội Phụ nữ do chị Hoàng Thị Nga (con ông Niếc) làm hội trưởng, chị Trương Thị Khỉnh làm hội phó. Ngoài ra chính quyền còn thành lập các nhóm hoạt động như Hội Đông y do ông Trần Xưng (ông Tuệ) làm tổ trưởng. Ông Hoàng Khắc Nhượng (ông Phơ), ông Điểng là những người tích cực trong việc bắt mạch khám chữa bệnh cho bà con. Họ vận động bà con trồng cây thuốc Nam để chữa bệnh trong thời buổi khan hiếm thuốc Bắc, thuốc Tây.

        Công tác xóa nạn mù chữ được tổ chức thành một phong trào rất rầm rộ, phát triển khắp làng trên xóm dưới. Anh Hoàng Văn Chuể phụ trách công tác bình dân học vụ của cả làng Minh Lệ và dạy kèm thêm một lớp xóm Bắc. Anh Trần Đình Dán dạy một lớp ở xóm Nam, anh Trần Quang Nọng dạy một lớp ở xóm Tây. Ngoài ba lớp chính, chúng tôi những thiếu niên cũng tham gia xóa nạn mù chữ cho các cụ, mẹ già và các anh chị trung niên. Các cụ, mẹ già mặc dù lớn tuổi ban đêm cũng nhẩm học i tờ. Phong trào có chiều sâu và chiều rộng thực sự chứ không phải học đối phó như một số trẻ con bây giờ. Từ người lớn đến trẻ con ai ai cũng thi đua học chữ. Chúng tôi treo bảng ở cổng chợ, ai không đọc được chữ thì không cho vào. Có một giai thoại mà ngày nay trẻ con vẫn nhắc xem như “một thời để nhớ” về phong trào toàn dân tham gia công tác “Bình dân học vụ”. Có một bà mẹ (Mệ Bằng) đứng trước cổng chợ đọc: “Tờ i ti không cho tôi đi thì tôi đứng. Tờ ứng tứng không cho tôi đứng thì tôi ngồi”. 

                                         Chương 2

       Đội thiếu niên du kích làng Minh Lệ

       Cách mạng thành công. Việc đầu tiên là phải xây dựng lực lượng bảo vệ chính quyền cách mạng còn non trẻ. Lúc này lực lượng thanh niên trai tráng trong làng nô nức ghi tên vào đội tự vệ. Chúng tôi nhỏ hơn nên vào đội thiếu niên.

       Ngày 27 tháng 8 năm 1945, đội tự vệ được thành lập ở trường làng. Đến 9 giờ sáng, họ kéo nhau vào đình Minh Lệ nhường lại ngôi trường cho chúng tôi. Anh Hoàng Thúc Cẩn được phân công phụ trách đại đội thiếu niên. Anh thổi còi (Súyp - pờ - lê) tập trung. Anh Cẩn khá đẹp trai. Anh có vóc người tầm thước, da trắng hồng hào. Anh đứng dưới cột cờ giơ tay: “Anh em đứng thành mười hai hàng dọc tập hợp! Nghiêm! Đằng trước thẳng! Thôi! Cho ngồi xuống!”.

       Chúng tôi thực hiện theo mệnh lệnh của anh răm rắp. Anh nói: “Thừa lệnh của Ủy ban khởi nghĩa thôn Minh Lệ, cho phép thành lập đại đội thiếu niên của thôn. Từ nay mọi hoạt động của đại đội phải theo thể thức luật pháp của chính quyền cách mạng”.

      Thời ấy sinh hoạt của đội thiếu niên như tổ chức quân sự chứ không phải theo các liên đội, chi đội như bây giờ. Đa số là học sinh lứa tuổi mười lăm, mười sáu. Đại đội được phiên chế thành các trung đội, tiểu đội. Mỗi tiểu đội không quá 12 người. Ban chỉ huy đại đội có nhiệm vụ phải liên hệ với Ban chỉ huy quân sự cấp trên để huấn luyện quân sự, chính trị và nâng cao trình độ văn hóa. Đại đội có 1 liên lạc, 1 trinh sát, 3 y tá cứu thương. Liên lạc thì cử Hoàng Đạnh, trinh sát cử tôi, cứu thương cử Trương Xuyên, Trần Khổng, Hoàng Nìa (Hoàng Văn Minh).

        Đại đội học tập và rèn luyện quân sự kể từ ngày 27 tháng 8 năm 1945. Mỗi đội viên đẽo một khẩu súng (gỗ), hai quả lựu đạn, một cái thắt lưng gọi là  xanh - tuya - rông làm bằng dây thừng. Buổi sáng thức dậy lúc năm giờ để tập thể dục và chạy vận động. Sáu giờ vào thao trường, huấn luyện đội hình, các khoa mục quân sự thường thức. Mười một giờ trưa về nhà ăn cơm, một giờ rưỡi chiều tập lại cho đến sáu giờ tối. Bảy giờ rưỡi tối, toàn bộ đại đội tập trung để sinh hoạt chính trị. Hàng ngày cử một tiểu đội canh gác doanh trại, mọi người thay đổi nhau về nhà ăn cơm. Một tuần được nghỉ ngày chủ nhật để tắm giặt, vệ sinh. Lịch sinh hoạt và danh sách cán bộ được công bố trên bảng. Bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in tên của các cán bộ trung đội và tiểu đội thiếu niên ngày ấy. Trung đội trưởng và trung đội phó của trung đội 1 là Nguyễn Lưu, Hoàng Minh Nhuệ (Hoàng Tửng), của trung đội 2 là Hoàng Thế Phiệt, Hoàng Thái Diên, của trung đội 3 là Hoàng Đăng San, Trần Hữu Diếc.

       Đợt huấn luyện quân sự thường thức xong, Ban chỉ huy đại đội giới thiệu anh Nguyễn Văn Sung, một sĩ quan thực thụ trực tiếp huấn luyện quân sự. Anh Nguyễn Văn Sung quê ở Quảng Thuận (Quảng Trạch). Lần này chúng tôi được tiếp xúc với vũ khí thật. Có 3 khẩu súng trường (hai khẩu Mútcatông, 1 khẩu Anhđôsinoa), 4 quả lựu đạn mỏ vịt. Anh Sung giới thiệu tên các bộ phận của súng, của lựu đạn, cách tháo lắp lau chùi, bảo quản, tính năng tác dụng của từng bộ phận và xử lí nhanh những tình huống hỏng hóc bất ngờ. Chúng tôi học xạ kích bắn súng có bệ tỳ, không bệ tỳ đến động tác đâm lê, ném lựu đạn, bắt tù binh. Chúng tôi học cách băng bó vết thương, cứu thương, tải đạn. Tập đánh phục kích, đánh du kích, mật tập, vận động chiến. Đợt tập huấn này rất dày công, thời gian chiếm mất hơn hai tháng. Tiếp theo là học cách trinh sát tình báo. Cách đánh Moócxơ, lập đài quan sát, có địch hay không được báo bằng cờ hiệu cho liên lạc. 

      Sau đợt huấn luyện này đơn vị phải thực tập đánh phục kích với đại đội tự vệ đang hành quân. Đơn vị phục kích nằm dưới các rãnh ao của các gia đình từ trường ra đến xóm Bàu. Còn đại đội tự vệ thì cho trinh sát thận trọng dò tìm các bụi rậm, ao sâu để phát hiện xem có địch hay không? Nếu bị “bắn chết” là phải tự động nằm xuống hai bên đường, tự giác đánh một vệt nhọ vào mặt và không được lên tiếng báo hiệu cho đồng đội. Chao ôi! Mới tập thôi mà khi đài quan sát báo hiệu “có địch” xuất hiện lòng dạ tôi hồi hộp đến lạ lùng.  Đài quan sát báo 800 mét, 700; 500; 400 rồi 100; 50 mét ai cũng lo lắng, hồi hộp. Khi có lệnh xung phong chúng tôi lao ra đâm gậy vào những người anh, người chú, người cậu của mình đang làm “địch”.

                                                                *

                                                         *           *

 

 

      Thực dân Pháp núp bóng sau lưng quân đội Anh gây hấn ở Nam Bộ. Theo lời kêu gọi của Bác Hồ “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, những anh em đủ tuổi theo đoàn quân lên đường Nam tiến đi đánh giặc. Đại đội tự vệ Minh Lệ hầu hết ghi tên xung phong vào Nam Bộ tham gia kháng chiến. Có những người là con một trong gia đình như Nguyễn Vượng, Hoàng Văn Trịa, Hoàng Doanh, có gia đình chỉ có hai anh em trai như Hoàng Đề, Hoàng Chề (ông Tâm nay đã mất ở Huế). Đặc biệt hai anh em Hoàng Thuấn, Hoàng Nghiêu mồ côi cha từ nhỏ nhưng vẫn xung phong đi Nam tiến. Các anh nghiêm trang mang trên mình những bộ quân phục màu xanh lá cây với đôi giày đinh vừa giậm chân rầm rập vừa hát: “Cùng nhau ta tuốt gươm, cùng nhau đứng lên/ Thù kia chưa trả xong thì ta luôn cố bền…” Tiếng hát theo nhịp bước quân hành rất oai hùng. Các bà, các chị tiễn chồng con ra mặt trận ai cũng bịn rịn nhớ thương nhưng không hề có một cử chỉ mềm yếu. Khi 22 toa tàu chật cứng người thì trên toa tàu và cả dưới sân ga cùng hòa chung tiếng hát bài: “Chiến sỹ Việt Nam” của Văn Cao:

“Bao chiến sỹ anh hùng lạnh lùng vung gươm ra sa trường.

       Quân xung phong, nước Nam đang chờ mong tay người.

        Hồn sông núi khí thiêng ghi muôn đời.

        Ngực phi nơi xa, kìa nghe súng vang…”.

Tiếng hát vang lên náo nức hòa cùng tiếng còi tàu hối hả mang các anh tiến ra mặt trận. Nơi đó Tổ quốc đang lâm nguy. Quân thù đang quay trở lại hòng giày xéo đất nước ta một lần nữa. Không! Nhất định không chịu mất nước. Nhất định không chịu làm nô lệ! Cùng lời hiệu triệu của Bác Hồ, lời hịch của non sông đất nước, thanh niên trai tráng làng Minh Lệ của tôi thề “Sống thác coi thường/ Mong xác trong da ngực bọc thân thể trai”.

                                                          *

                                                    *           *

      Trong phong trào Nam tiến. Tôi xin nói băng qua một đôi chút về hai anh em Hoàng Hữu Thuấn và Hoàng Nghiêu con của chú tôi. Năm 1922, chú tôi đi rú mây cùng cha tôi, bị cọp vồ tha đi khi đứa con trai thứ hai Hoàng Nghiêu mới tròn ba tuổi. Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, Hoàng Hữu Thuấn cùng em trai Hoàng Nghiêu tham gia tiểu đoàn đầu tiên của Quảng Bình (tiểu đoàn Lê Trực) cùng các anh Hoàng Đăng Hiền, Trần Duệ, Nguyễn Ngỡ vv…Hoàng Hữu Thuấn rất đẹp trai. Thuấn kết hôn với Nguyễn Thị Hờng và sinh được một cháu trai. Đơn vị Thuấn đang đóng trên chiến khu. Thuấn xin phép đơn vị về giỗ đầu đứa con bị chết vì đau bụng. Buổi khuya Thuấn theo đường rừng trở lại chiến khu thì bị địch phục kích ở xóm Dài (Quảng Sơn) bắt được. Chúng đánh Thuấn rất dã man. Máu me đầy người, quần áo rách nát. Gặp bà con Thọ Linh, Thuấn nhắn về: “Tôi là Hoàng Hữu Thuấn con mệ Dườu người xóm Bắc Minh Lệ”. Chúng bắt Hoàng Thuấn xuống Thanh Khê, giải vào Đồng Hới đánh đập, tra tấn anh hết sức dã man nhưng anh vẫn một lòng một dạ trung thành với cách mạng. Đến năm 1950, chúng đã bắn anh tại nhà giam Đồng Hới sau trận Xuân Bồ. Sau khi địch rút khỏi Đồng Hới, người em trai Hoàng Nghiêu đã đi khắp các nhà tù tìm kiếm nhưng quân giặc đã quăng mất xác. Ngôi mộ Hoàng Hữu Thuấn vẫn là một ngôi mộ gió ở nghĩa trang liệt sĩ của xã, không có hài cốt. Thương tiếc người bạn học cùng thời tiểu học, thầy giáo Hoàng Hữu Sam đã vẽ lại chân dung làm ảnh thờ (nay đang còn tại nhà cháu Hoàng Đăng Ngọ).

      Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nhiều người là lính khố đỏ đã trở về trong lòng dân tộc. Họ đã làm việc cho cách mạng. Giặc Pháp quay lại gây hấn ở Nam bộ, những người lính trong chế độ cũ quay súng trở thành những người lính cách mạng đầu tiên xung phong đi Nam tiến. Nay có những người vĩnh viễn ra đi không một lần trở lại. Họ nằm xuống nơi đất khách quê người, họ là những người con đầu tiên của làng tôi hy sinh cho cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc.

      Những người ra đi đợt đầu ngày ấy, nay chỉ còn lại một vài người. Người còn lại duy nhất đang sống ở xóm Nam làng Minh Lệ ở thời điểm này (năm 2013) là ông Trần Duệ. Phần lớn họ đã hy sinh rải rác trên các chiến trường trong hai cuộc kháng chiến. Một số người sống sót trong chiến tranh khi trở về cuộc sống đời thường đều mang thương tật đầy mình. Họ đã gửi lại một phần xương thịt cho đất nước có ngày hôm nay.

                                                        *

                                                    *        *

         Đơn vị anh Sung về huấn luyện quân sự cho các xã vùng Nam Quảng Trạch được gần ba tháng rồi lên tàu ra đi để lại trong lòng chúng tôi biết bao thương nhớ.

         Các anh đi rồi làng xóm như lặng đi. Mùa đông năm 1945 là một mùa đông ảm đạm đầy gian khổ. Chính quyền cách mạng non trẻ thành lập chưa được bao lâu thì phải đối phó với thù trong giặc ngoài. Nhiệm vụ cấp bách trước mắt là phải tổ chức được cuộc Tổng tuyển cử trong cả nước.

       Ngày 6 tháng 1 năm 1946 đã diễn ra cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên. Có 89% tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu. Cụ Hồ Chí Minh đã được bầu làm Chủ tịch của Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa. Quốc hội thông qua danh sách “Chính phủ liên hiệp kháng chiến Việt Nam” của Nhà nước Việt Nam độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu. Để bảo đảm an ninh cho chính quyền mới thành lập, Chủ tịch đã kí một số sắc lệnh giải tán những tổ chức và nhân vật bị kết tội làm tay sai cho Pháp, Nhật trước đó.

       Cả nước hưởng ứng chiến dịch “Tuần lễ vàng” để xây dựng lực lượng kháng chiến. Trong làng, nhà bố con anh Tọa là người ủng hộ tiền, vàng  nhiều nhất cho cách mạng. Thứ hai là anh Suyết của tôi. Anh Suyết tôi hồi đó được một nhà buôn người Pháp cho vay tiền để đi buôn bông ở trong Tuy Hòa. Anh và Hoàng Hữu Thuấn con ông chú cùng đi. Ông người Pháp cấp cho anh tôi cả tàu thuyền để đi hàng tháng. Người nhiều thứ ba là anh Hoàng Khắc Quê (sau này làm chủ tịch xã trong kháng chiến).

      Tại làng Minh Lệ, đại đội tự vệ đã lần lượt lên đường tham gia Vệ quốc Đoàn gần hết. Ban chỉ huy thôn đội được củng cố. Anh Hoàng Văn Suyết được cử làm thôn đội trưởng Minh Lệ, anh Hoàng Cam làm thôn đội phó, Trương Vành làm chính trị viên. Đội tự vệ phải bổ sung những người lớn tuổi từ ba lăm đến bốn mươi (có người đã đến tuổi bốn lăm như liệt sĩ Hoàng Văn Dạo).

      Đầu năm 1946, xã Minh Trạch được thành lập. Vùng Nam Quảng Trạch gồm ba xã: Minh Trạch, Ninh Trạch, Lệ Trạch. Xã Minh Trạch bao gồm các thôn Giáp Tam, Tân Định, Nội Hà, Cồn Nâm, Thong Thóng, Cồn Vượn, Minh Lệ, Diên Trường, Thọ Hạ, Thọ Linh, Chay, Lâm Xuân. Chủ tịch xã là  ông Nguyễn Xừ, hai Phó chủ tịch xã là Trần Đình Húc người Thọ Linh và Nguyễn Huỳnh chợ Mới. Xã đội trưởng lúc đó là Nguyễn Hữu Xứng quê ở Lâm Xuân (Quảng Thủy ngày nay). Trưởng ban kinh tài vẫn do anh Nguyễn Khắc Dạ phụ trách. Anh Hoàng Đăng Phông phụ trách Văn phòng Ủy ban hành chính xã kiêm Trưởng ban thông tin tuyên truyền.

     Ủy ban xã rút Hoàng Đạnh lên làm liên lạc nên đại đội thiếu niên bổ sung thêm Hoàng Luyếnh và Hoàng Tao vào. Lực lượng phụ nữ tham gia dân quân, du kích ngày càng đông. Họ cũng tham gia huấn luyện đào hầm chông, cài mìn, cứu thương và canh gác. Một số người lớn tuổi trong đại đội thanh, thiếu niên lên đường nhập ngũ hoặc đi làm công tác khác của Nhà nước (chủ yếu là đi bưu điện).

       Tháng 2 năm 1947, cụ Hoàng Thiện Dưỡng được cử làm trưởng ban tản cư. Cha tôi cùng các cụ Cửu Ngô, Hoàng Bá Chuân, Hoàng Trá đi nghiên cứu thực địa trong rừng để đem dân vào đó. Có chỗ làm lán trại đủ cho ba trăm người như Eo Cá. Có chỗ chỉ chứa được dăm ba chục gia đình. Nơi gần nhất là ba cây số nơi xa nhất phải mất một ngày đường. Thực hiện chủ trương của Chính phủ là “vườn không nhà trống” khi giặc đến. Nhận định tình hình giặc đến chắc chắn sẽ chiếm cao điểm động Lòi để khống chế các xã vùng Nam Quảng Trạch. Chúng ở đây có thể quan sát Đèo Ngang lên đến Tuyên Hóa và một số xã vùng Bắc Bố Trạch. Hơn nữa chiếm được ga Minh Lệ sẽ kiểm soát được toàn tuyến đường sắt Bắc - Nam. Lệnh của ủy ban mọi gia đình phải triệt để chấp hành lệnh sơ tán trong vòng mười lăm ngày. Chỉ để lại đại đội tự vệ và trụ sở Ủy ban. Mọi thứ lúa gạo của cải phải đem vào rừng. Chum vại, tủ giường phải đào hầm cất giấu. Nhà nào làm hầm không kịp thì phải làm bục chống cháy trong nhà. Nếu ai muốn quay về nhà lấy cái gì thì phải báo với đại đội tự vệ đóng ở trụ sở Ủy ban. Nếu gia đình nào tự động quay về xem như tội tiếp tay cho giặc. Thế nhưng nhiều gia đình Công giáo không đi. Đặc biệt bà con xóm Bàu và chợ Mới.

      Có hai tên Việt gian vào vùng tản cư. Chúng đi từ dưới Phú Hữu lên.  Chúng lén lút đi đến từng khu vực dò la thì bị bà con phát hiện. Bà con la ầm lên làm chúng bỏ chạy. Trên tay mỗi tên lúc ấy đang cầm một cái mác Lào và một cuộn dây thừng. Chúng khai là đi tìm trâu. Các anh giam nó mấy ngày nhưng nó cứ nói đi nói lại là tìm trâu. Anh Trần Chường cho biết chúng là người Hòa Ninh. Nhà của hai tên này không có trâu. Anh gọi đúng tên của từng đứa làm chúng giật mình người run như cầy sấy. Chúng đọc Kinh, hai mắt nhắm nghiền. Mọi người hỏi cái gì chúng cũng không nói thêm nữa. Anh Hoàng Đăng Ruể đã dắt chúng ra khỏi khu vực tản cư, đem vào rừng sâu xử tử. Tôi đã nhặt một cái mác Lào đem về làm vũ khí tự vệ.

      Trong thời gian này máy bay địch hoạt động khá ráo riết. Chúng rà sát mặt đất để nghiên cứu địa hình đóng quân. Đại đội tự vệ đào hào giao thông dọc bờ sông Nan và tăng cường canh gác bảo vệ tài sản cho bà con. Một tiểu đội nữ tự vệ canh gác trên động Lòi để báo động cho đại đội tự vệ và một số bà con về làng. Tiểu đội nữ tự vệ này chọn trong các chị có chồng con đi Vệ quốc đoàn như chị Hoàng Thị Soài, Hoàng Thị Doánh, Trần Thị Ruyễn…Mỗi khi thấy ca nô địch từ Cửa Gianh lên sông Son thì đánh mõ một hồi một dùi. Khi rẽ sang sông Nan thì một hồi ba dùi. Chúng đổ bộ lên bờ thì thúc giục liên hồi. 

                                                            *

                                                      *           *

      Tháng 3 năm 1947, giặc Pháp đánh chiếm Quảng Bình. Đầu tháng 4 năm 1947, có bốn chiếc ca nô từ Thanh Khê tiến lên làng Văn Phú, qua La Hà rồi dừng lại giữa dòng đợi bốn chiếc khác từ Kênh Kịa, chợ Ba Đồn hợp lực lên sông Son. Tiếng mõ báo động nổi lên thôi thúc. Các anh Hoàng Đăng Ruể, Nguyễn Sính, Nguyễn Điệp, Hoàng Khắc Quê cùng ban chỉ huy Thôn đội chạy đến nửa động Lòi thì dừng lại quan sát. Chắc bọn chúng đỗ bộ vào vùng Nam Quảng Trạch hay đóng đồn tại đây.

     Toàn đại đội triển khai trận đánh. Trung đội 1 do ông Hoàng Văn Dạo chỉ huy bố trí ở chợ Mới. Trung đội 2 do ông Trần Ruých chỉ huy bố trí giữa xóm Nam theo đường hào giao thông chạy dọc bờ sông Nan. Trung đội 3 bố trí ngay ở đầu cầu Minh Lệ.

      Vũ khí của ta lúc đó chỉ có lựu đạn Mỹ và lựu đạn mỏ vịt Trần Táo sản xuất tại xưởng quân giới Đồng Lào (Tuyên Hóa). Đa số được trang bị gươm, đại đao, mác Lào và thùng lùng. Thùng lùng có hình ngọn lá đót sắc hai bên như ngọn giáo.

      Đúng như nhận định, bọn địch giảm tốc độ, dừng hẳn tại ngã ba Chợ Mới rồi dùng cối 81 và canont bô pho bắn vào xóm. Loại này bắn thành băng vào đất lại nổ tiếp. Cả đại đội vẫn im lìm chờ giặc. Giặc từ ca nô chạy ào xuống bến chợ Mới tràn lên bờ. Du kích ném lựu đạn ra tới tấp. Bọn địch la oai oái. Đã có một số tên bị thương vong. Hỏa lực địch trên ca nô lại phản kích dữ dội. Đợt thứ hai chúng lại nhào lên. Ta lại ném lựu đạn và nhảy lên khỏi công sự xung phong chém bừa. Địch bỏ mạng ba tên. Chúng chạy tán loạn nhảy lên ca nô rồi bắn như mưa vào bờ. Nhận thấy lực lượng giữa ta và địch quá chênh lệch. Trung đội 1 quyết định rút lui. Anh Hoàng Văn Dạo ném một quả lựu đạn mù để cho tự vệ chạy vào làng. Quả lựu đạn nổ tỏa ra một đám khói màu vàng đặc như mỡ bưng mắt bọn chúng. Bọn địch bắn như điên. Anh Hoàng Văn Dạo trúng đạn ngã xuống phía ngoài chợ Mới. Bọn địch vác xác ba tên lên ca nô rồi chạy xuống đổ bộ dưới Hói Đồng. Đây là bãi đất trống giữa hai làng Minh Lệ và Cồn Vượn nên không gặp sự chống cự nào. Chúng hành quân ra Hòa Ninh, có tiếng súng đì đẹt lẻ tẻ. Qua vùng Công giáo thấy có nóc nhà thờ chúng không đánh sâu vào trong làng nữa.

      Ở Lâm Xuân bọn địch từ đồn Tiên Lệ đánh xuống. Ở đây có anh Trần Hữu Xứng cùng anh Nguyễn Láng, Trần Chường chỉ huy tự vệ đánh trả quyết liệt. Họ dàn trận giữa cánh đồng khoai. Bên ta vũ khí chủ yếu là mác Lào và đại đao và lựu đạn, không sao địch nổi bọn địch được trang bị đến tận răng. Có 55 chiến sĩ hy sinh, (nay đã xác được danh tính 53 liệt sĩ). Bọn địch thiêu trụi hàng trăm nóc nhà và giết hại nhiều người. Chủ yếu trẻ em và phụ nữ. Lửa khói ngất trời, đau thương tang tóc trùm lên làng xóm. Chúng mở rộng phạm vi càn quét sang các thôn Thọ Linh, Biểu Lệ đốt hàng trăm nóc nhà khác nữa. 

      Sau trận này đại đội tự vệ làng Minh Lệ đúc rút kinh nghiệm. Ta chưa có kinh nghiệm chống càn. Đáng lẽ trên đường hành quân của địch phải bị các đơn vị phục kích đánh chặn. Nếu cho dân sơ tán hay ẩn náu dưới các căn hầm bí mật thì chắc chắn giảm bớt được tổn thất rất nhiều.

      Tuy là đã hợp nhất lại thành một xã nhưng Minh Trạch chưa có phương án tác chiến chung, chưa có sự hợp đồng lực lượng giữa các đội tự vệ. Thiếu sự yểm trợ cho nhau nên quân địch đã bẻ gãy các mũi đề kháng một cách dễ dàng. Hơn nữa vũ khí của ta còn quá thô sơ nếu dàn hàng ngang mà đánh ngoài đồng thiếu nơi ẩn nấp như thế thì khó mà có thể địch nổi đội quân nhà nghề thiện chiến được trang bị đầy mình như quân đội thực dân Pháp. Trận đánh ở chợ Mới thế ta là chủ động phục kích nhưng kĩ năng đánh giáp lá cà còn yếu.

      Ủy ban hành chính đóng ở xưởng dầu lạc khó bề tránh được sự khủng bố của địch.

                                                            *

                                                      *           *

       Giữa tháng 2 âm lịch các anh Hoàng Đăng Phông, Hoàng Đạnh cùng ông Nguyễn Xừ, Chủ tịch xã đi kiểm tra công tác xay xát gạo ở xóm Khe Dét bên kia sông Nan trở về thì gặp một trận càn. Ba người rúc vào đám bụi bờ mọc toàn cây dành dành nơi bàu Vịt. Lần này bọn Pháp xảo quyệt hơn. Chúng cho ca nô tắt máy chống vào bến cây trầm kết phía dưới chợ Mới nên các anh hoàn toàn bị động. Hệ thống canh gác trên động Lòi không phát hiện để báo động được. Bọn chúng tràn qua Tây - Bắc làng Minh Lệ. Trên đường đi, chúng đốt phá nhà cửa, lửa cháy rực trời. Một toán lính Pháp vượt qua bàu Vịt để lên đồng Văn Vũ. Bỗng nghe tiếng khóc của trẻ con (ông Hoàng Đăng Thạ nói là con bà Bẹo) trốn trong lùm dứa dại ở bàu Vịt, lũ giặc quay lại. Hồi đó ven bàu Vịt, mây nước và cây dành dành mọc um tùm. Chúng chĩa súng bắn vào từng lùm cây. Anh Phông nằm phía ngoài cùng, ở giữa là anh Đạnh. Anh Đạnh trúng đạn vào đùi. Ông Xừ lấy máu của anh Đạnh bôi lên đầy người. Anh Phông lấy sổ sách vùi xuống bùn rồi lên nói với tên chỉ huy là hai anh đã chết. Anh nói bằng tiếng Pháp. Chúng bắt anh đi. Ông Nguyễn Xừ cõng anh Đạnh sang Hói Gió. Ông về báo với ông Hoàng Đăng Thạ, bố của anh Phông (ông nội của cháu Hoàng Đăng Quang Phó bí thư tỉnh ủy Quảng Bình bây giờ) là anh Phông đã bị bắt. Ông Thạ cùng mấy người con trong gia đình đi dọc bờ sông Nan đến bến đò Cửa Hác để tìm nhưng không thấy. Lúc đó có một số phần tử phản động theo Việt binh đoàn tung tin là anh Phông đã đi làm tay sai cho địch. Nhiều người trong làng nửa tin nửa ngờ. Mãi đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, tên Trúc (Trúc gọi mẹ anh bằng dì, chạy theo giặc vào Nam năm 1954) mới khai ra là chúng đã giết anh Phông ở Khe Nước sát đồn Thanh Khê. Bấy giờ anh Phông mới được minh oan và công nhận là liệt sỹ. 

      Ngày 10 tháng 4 năm 1947, thực dân Pháp đánh chiếm Minh Lệ, đổ quân xuống đóng đồn ở động Lòi. Chúng lùng bắt dân ở các làng không tản cư gánh đất xây dựng sân bay dã chiến đến gần cồn Ông Sáo. Chúng tháo đường sắt dựng lên làm hàng rào. Ở vòng ngoài chúng giăng dây thép gai chằng chịt. Dây thép gai bao quanh hai động Lòi và gần hết cánh đồng Lòi. Những thanh toa vẹt được xếp chồng lên để làm chiến lũy có lỗ châu mai.

       Đại đội tự vệ vừa tổ chức phục kích địch vừa canh giữ tài sản cho nhân dân. Đại đội thiếu niên du kích hầu hết theo gia đình đi tản cư. Anh Hoàng Thúc Cẩn cùng một số anh em lớn tuổi cũng đã lên đường nhập ngũ. Cha tôi cùng anh Dèn đang cúng làm lễ cầu yên cho dân làng vào nơi ở mới thì thấy có sáu con cọp vàng đi qua trên hòn Môộc. Cả làng được chứng kiến giữa ánh nắng ban mai bầy cọp đùa giỡn với nhau giữa rẫy tranh.

       Thanh niên đi trầm ngày nay chắc không hình dung được mật độ cọp ở trong rừng. Ngày xưa rừng cây còn rậm rạp lắm. Cọp dữ hay ra khe Dét, chọ Mụ Bà để vồ người. Cọp còn lội qua sông bắt bò bắt lợn trong làng.  Tôi xin nói lại chuyện ông chú tôi bị cọp vồ. Năm 1922, ông chú kề cha tôi (là bố của liệt sĩ Hoàng Hữu Thuấn) cùng cha đi chẻ mây. Mặt trời đứng bóng, cha tôi nghe một tiếng “ự” cùng với bụi mây kéo “roạt” một tiếng dài, ông quay lại thì đã thấy con cọp thọt đen tha chú tôi đi. Máu chú tung tóe khắp lối đi. Cha tôi về gọi bốn chục người thắp đuốc vào hang. Ông tôi cầm cây mác Lào đi trước. Ông tôi vừa đi vừa hét: “Con khái thọt! Mi đã ăn con tau, tau vô lấy mạng của mi”. Con cọp nghe tiếng động đã chạy ra khỏi hang. Trong hang nhiều người bị ăn hết thịt còn lại đầu lâu và những bộ xương. Con cọp ăn hết ruột và một phần đùi của chú tôi. Ông tôi ôm lấy một phần thi thể của chú tôi đem về. Ngày nay thi hài của chú tôi đã được đem vào lăng mộ ở nghĩa địa đồng Chăm do các cháu Thìn, Ngọ thờ phụng. 

        Trong đợt tản cư có một con cọp bồng bà Hoàng Thị Chườu (mẹ của chị Chẩu - vợ Hoàng Khạ xóm Bắc). Lúc đó bà Chườu dựng một cái chòi gần khe nước, bà cho hai con nằm ở phía trên. Bà ôm đứa con trai đang còn nhỏ (bị mù) nằm ở dưới đất. Bà rúc vào nằm trong một cái tơi. Một con cọp nhảy vào chụp bà. Con cọp ôm cái tơi nhảy qua khe cạn làm bà Chườu rớt xuống khe. Cả xóm thức dậy đốt lửa la hét làm con hổ bỏ chạy.

        Theo gia đình tản cư được vài ba tháng, một số đội viên thiếu niên vượt sông về làng phối hợp với đội tự vệ. Một số đội viên không biết bơi nên hai đội viên Trần Khổng và Trần Tó phải dùng thuyền chở anh em qua sông rồi gần sáng chở vào lại với gia đình.

       Tháng 6 năm 1947, lác đác có một số người về làng gặt lúa chín rũ ngoài đồng để có gạo mà ăn. Nhà nào cũng có một vài người, tối đến đã có những ngọn đèn le lói, buổi chiều đã có khói bay lên dưới lũy tre làng thấp thoáng. Bọn địch thấy nhưng không làm gì cả.

      Lực lượng thiếu niên trống vắng đi khá nhiều vì những đội viên lớn tuổi đã tham gia quân đội. Tháng 7 năm 1947, ông Nguyễn Xừ giao cho tôi phụ trách đại đội du kích thiếu niên làng Minh Lệ thay cho anh Hoàng Thúc Cẩn vừa mới nhập ngũ. Anh Hoàng Hữu Nghỉnh được chỉ định làm đại đội phó kiêm chính trị viên. Hoàng Khảnh làm trung đội trưởng trung đội 1, Trương Du trung đội 2, Trần Văn Sinh trung đội 3. Chúng tôi sinh hoạt theo sự chỉ đạo của thôn đội và đại đội tự vệ.

      Để ngăn chặn các hoạt động của địch nống ra vùng tự do, Huyện ủy chỉ đạo du kích các địa phương và bộ đội đánh địch ngay trong vùng bị chúng tạm chiếm. Đêm 16 tháng 8 năm 1947, du kích Minh Lệ phối hợp với đại đội 5 (về chặn địch càn quét) diệt 13 tên Pháp và 30 tên ngụy. Cũng xin nói thêm, khi tôi đang viết đến đoạn này thì anh Hoàng Thúc Cẩn nay là đại tá, cựu chiến binh (cố vấn quân sự của Việt Nam cho Bộ tư lệnh pháo binh Lào) từ Hà Nội điện về bổ sung thêm. Ngay sau khi chúng tôi theo gia đình đi tản cư vào rừng là anh Cẩn gia nhập quân đội. Anh về làng trinh sát thì bị giặc Pháp bắt về đồn Minh Lệ (cùng với các anh Trình,  Nghiền, Đản). Các anh đã vẽ lại một cách tỉ mỉ sơ đồ đồn giặc. Vì hồi đó đồn chúng chưa được rào chắn gì nên đêm đến các anh đã trốn thoát. Anh đem sơ đồ về cho anh Nguyễn Văn Đồng (Đồng Sĩ Nguyên) lúc đó là Bí thư Huyện ủy kiêm Huyện đội trưởng huyện đội Quảng Trạch. Chính đêm 16 tháng 8 năm 1947 anh Đồng đã chỉ huy đại đội 5 về tập kích đồn Minh Lệ. Anh nói trận đó có anh Đáo người Ba Đồn ôm bom ba càng lao vào đồn địch.

      Lúc này địch có ưu thế về lực lượng và vũ khí nên cách tốt nhất vẫn là phục kích, mật tập bất ngờ. Cách đánh chủ yếu thời ấy vẫn là đặt bom cài mìn, giật dây khi có bọn địch hành quân qua. Ông Nguyễn Xừ nói đội viên thiếu niên còn nhỏ, lại nhanh nhẹn nên dễ tiếp cận sát đồn địch hơn người lớn. Ông giao cho chúng tôi nhiệm vụ đặt bom, cài mìn xung quanh đồn địch và dò la tình hình hoạt động của chúng báo cho du kích và thôn đội. Cả làng Minh Lệ tập hợp được ba trung đội du kích thiếu niên. (Riêng xóm Nam Minh Lệ nằm trong vùng địch tạm chiếm nên chỉ được một tiểu đội). Toàn đại đội có 86 đội viên. Những người nào có họ hàng và đi lại với lính bảo vệ, Trúc, Huỳnh thì không được kết nạp. Chúng tôi gọi nhau bằng bí danh. Ai không tham gia du kích thì không biết chúng tôi có những bí danh gì. Chúng tôi đào hầm chông, gài mìn xung quanh đồn địch, canh gác các ngã đường, đánh mõ báo động khi thấy có lính địch đi ra khỏi đồn. Mỗi khi địch đi theo hướng nào thì báo dây chuyền cho đại đội tự vệ và Ban chỉ huy thôn đội biết. Một tiểu đội chuyên lượm đạn pháo không nổ của địch lấy thuốc súng để làm mìn tự tạo. Đội du kích thiếu niên được trang bị 2 khẩu súng bức kích pháo và một số lựu đạn với đại đao.

                                                               *

                                                       *              *

       Từ ngày giặc Pháp về đóng đồn Minh Lệ, tên Nguyễn Huỳnh trở mặt đi theo chúng. Hắn được giặc Pháp cử làm lí trưởng làng Minh Lệ thay cho ông Phầu. Hắn lập đồn hương vệ chợ Mới (thuộc xóm Nam). Hầu hết anh em, họ hàng của hắn ở chợ Mới đều theo giặc. Hắn còn lôi kéo một số thanh niên công giáo nhẹ dạ cả tin ở xóm Bàu đi theo chúng. Huỳnh đã bắt dân làng chặt tre thành những khúc dài 3,5 m, rào thành 3 lớp xung quanh đồn. Địch đóng tiếp đồn hương vệ Hòa Ninh (Quảng Hòa) và đồn Tiên Lệ (Quảng Tiên) để khống chế toàn bộ vùng Nam Quảng Trạch.

       Lúc này bà con ở trong rừng nhiều nhà ốm rụng tóc trọc đầu. Đói khát bệnh tật, nhiều người bị sốt rét ác tính không có thuốc chữa trị chết dần chết mòn. Trước tình hình đó trưởng ban tản cư quyết định cho dân rút hết về làng. Đến đầu tháng 7 âm lịch thì bà con rút về bám trụ hẳn trong làng.

      Ngày mồng 6 tháng 7 âm lịch năm 1947. Mẹ tôi tản cư về bị sốt rét chết. Cha tôi nhắn tôi từ chiến khu Hói Gió về thì Cửu Danh cho người đến bắt. Tên Diễn nắm lấy tóc tôi kéo chà ra ngoài sân. Hắn nhận nhay mặt tôi xuống đất và dùng dây thừng trói tréo cánh gà hai tay tôi lại sau lưng. Chú Vức của tôi nói: “Nó đi tản cư rèo bò cho người ta ở Thùng Thùng mới về đó chứ Việt Minh Việt miếc chi mô”. Kiểm Căn là người có họ hàng với tôi liền nói: “Cho nó đưa đón o ấy xong đã rồi bắt lên đồn cũng chưa muộn”. Tôi nói chôn cất mẹ tôi xong thì tôi sẽ lên đồn quy thuận theo “chính phủ quốc gia”. Chịu tang chưa kịp mở cửa mả, đêm đến tôi vượt sông Nan lên chiến khu Hói Gió cùng Ủy ban hành chính xã với ông Nguyễn Xừ. Sau cái chết của mẹ tôi là cái chết của chị gái kề tôi. Cả nhà lâm vào cảnh túng thiếu, đã thế năm này trời làm nắng hạn to. Có những gia đình phải đào giếng lấy nước tưới lên một đám đất chừng một vài thước để bắc mạ. Bắc xong lại phải lấy lá chuối phủ lên tiếp tục chống hạn cho đến khi lúa sống. Lúc này đời sống của người dân quá khó khăn, người chết đầy đường. Cả thôn chết hết 270 người. Có nhà như nhà ông Chảnh có tất cả bảy người thì chết mất năm. Người chết không có ván để đóng quan tài phải bó chiếu lại để mà chôn.

      Tản cư về cha tôi nuôi một lúc tám đứa trẻ mồ côi không nơi nương tựa. Cha tôi phải đi lấy củ nâu về vằm nhỏ nấu cho hết nước chát đi để trộn với khoai lang non cho các cháu ăn. Ngoài một đứa trẻ người Thổ Ngoạ (tên Nuôi bị chết đầu năm 1946) và các em Thu, Hà, Hới là các nơi đến trong năm Ất Dậu thì những đứa cháu mồ côi trong làng như hai anh em Khạ, Nạ, hai anh em Nìa, Nà còn có em Trìa (bây giờ là vợ của Nguyễn Chiếu). Cha tôi đã nuôi em khi mới lên ba tuổi. Cha tôi đã chèo chống nuôi cho đàn cháu vượt qua cơn đói. (Sau này đến thời kì cải cách ruộng đất có một số kẻ xấu xúi giục các em tố cha tôi là địa chủ nhưng các em tôi như Trìa, Nìa nói “Tại sao tôi lại đấu tố cậu tôi. Nếu không có cậu tôi thì chúng tôi đã chết đói từ lâu rồi”. Gia đình tôi bị xếp “Phú nông”. Khi sửa sai, trả lại thành phần “Trung nông lớp dưới”).

                                                            *

                                                     *           *

      Trở lại năm 1947. Vào năm đó anh Chuể tôi bị bắt. Anh tôi là Phó phòng Bình dân học vụ huyện Bố Trạch. Trưởng phòng là anh Đinh Bá Kệ người Quảng Lộc (sau này anh cũng về công tác tại trường Cao đẳng sư phạm Quảng Bình với tôi. Anh làm hiệu phó). Bọn Pháp bất ngờ phục kích vào cơ quan anh tôi. Anh leo lên tra (gác của người miền Trung) của một nhà dân nhưng không kịp. Một thằng Tây nắm lấy chân anh tôi kéo xuống. Anh tôi nói lên tra lấy bằng Primaire xuống trình diện để về làm việc cho chúng. Chúng đưa anh tôi vào Đồng Hới. Anh tôi khai tên là Hoàng Thanh Hải. Một thằng lính bảo vệ người làng nhận ra bảo: “Mày là thằng Hoàng Văn Chuể chứ có phải tên Thanh Hải, Thanh Hiếc gì”. Tên Huỳnh vào nhận mặt và nói với bọn Pháp: “Thằng này là bạn học cũ với tôi. Hắn làm cán bộ Việt Minh. Đưa nó về làng cho tôi xử tử”. Bọn Pháp giao anh tôi cho thằng Huỳnh. Hắn học cùng lớp với anh tại trường École Primaire Complémentaire de Thọ Linh. Hắn đem anh tôi về giam tại phố Cụ Trương. Ngày chợ phiên, hắn lôi anh tôi ra giữa chợ Mới tra tấn để uy hiếp tinh thần bà con. Hắn treo ngược hai chân anh tôi lên cành đa giữa chợ rồi dùng nước ớt, nước vôi để đổ vào lỗ mũi rồi dùng dùi cui mà đánh vào mạng sườn. Đánh chán chúng hạ anh xuống chợ và đặt lên ngực, bụng anh một thanh toa vẹt. Hai thằng đứng dậm hai đầu cho nước vôi và máu trào ra từ mồm và hậu môn. Tưởng đã chết chúng cho người về kêu người nhà đem về mà chôn. Chị Suề của tôi (người kề sau anh Suế là mẹ của cháu Trần Hữu Tuề bây giờ) cùng chị Soài xuống thì người anh Chuể đã tím ngắt. Hai chị cáng anh về. Đi qua cổng nhà thằng Huỳnh, hai chị tôi đã chửi hắn thậm tệ: “Quân khát máu! Quân giết người”. Bố thằng Huỳnh đứng giữa sân nghe thế đã mắng con: “Mi học với thầy Đoài mà mi đánh chết con người ta. Đồ vô ơn!”. Thằng Huỳnh lặng im trong nhà không dám nói gì.

       Các chị cáng anh Chuể về. Cha tôi cho anh nằm trên nền nhà lấy hơi đất. Cha gọi hồn anh về, may anh thoi thóp thở được. Tiếng thở nhè nhẹ khò khè yếu ớt nhưng những tia hy vọng của sự sống đã đến. Anh tôi phải nằm trên lá chuối vì thịt da lở loét. Hồi phục được bốn tháng anh tôi lại lên chiến khu.

                                                            *

                                                     *           *

      Địch tổ chức nhiều đợt càn quét lùng sục bắt cán bộ nằm vùng. Lực lượng kháng chiến của ta còn non yếu, súng đạn thiếu thốn nhiều nên bọn địch đi lại nghênh ngang. Chúng bắt dân chặt tre vác lên động Lòi rào đồn. Lợi dụng cơ hội này đội du kích thiếu niên cho đội viên trà trộn vào nắm lực lượng và cách bố phòng của địch. Ta thực hiện chủ trương rào làng chiến đấu không cho giặc tự do cướp phá nhà cửa của dân. Đêm 1 tháng 1 năm 1948, các đội viên thiếu niên du kích làm giao liên dẫn đường cho du kích các xã bạn đem các tấm rào đến rào hai xóm Tây - Bắc Minh Lệ. Mỗi tấm rào cao gần 3 mét. Du kích đặt bom và hầm chông ở các cổng chính xong thì trời vừa sáng. Đúng 9 giờ sáng, bọn địch nã trọng pháo xuống làng để phá hủy các hàng rào. Khi toán lính đầu tiên vừa ra khỏi cổng đồn thì bị trúng ngay một quả bom tự động, chúng phải khiêng lính thương vong vào. Hai cánh quân của chúng dè dặt bao vây Tây Bắc Minh Lệ nhưng giày đinh của chúng không lội bùn được nên chúng phải chạy trên bờ ruộng. Bom nổ. Bọn địch nhốn nháo chạy toán loạn. Một số sập hầm chông, một số tên vướng phải mìn tự động bị thương. Chúng gọi máy bay “bà già” đến ném lựu đạn mù chỉ thị mục tiêu cho pháo bắn. Khói lửa mù trời, đến trưa chúng vào được làng du kích đã “độn thổ” mất tiêu.

       Ngày 23 tháng 6 năm 1948, tại chợ Mới ta bố trí lực lượng thiếu niên  ôm gà đi bán. Phía trước cổng chợ có một tốp coi gà chọi nhau. Hôm ấy tên Huỳnh mặc áo sơ mi trắng đi lại lung tung giữa chợ. Hắn xoi mói nhìn vào mặt những người dân Tây - Bắc. Tên Trúc anh hắn quanh quẩn bên dãy hàng lâm sản. Lúc đó đằng sau mỗi tên đều có một công an biệt động và một thiếu niên bí mật bám sát. Anh Lê Văn Sơn, công an biệt động đột ngột đứng chắn ngang trước mặt tên Huỳnh giơ khẩu súng lục hô: “Nguyễn Huỳnh! Ông đã bị bắt”. Tên Huỳnh né người lao vào giữa đám đông, chạy vào nhà dân lẫn trốn. Tên Trúc nghe động nhảy xuống đám đò gần năm chục chiếc dưới bến, lặn một mạch. Chúng tôi tìm mãi không thấy. Bọn dân vệ trong đồn Chợ Mới đã kịp thời ra ứng cứu. Thật tiếc. 

      Bọn địch ở đồn Minh Lệ đã bị đội du kích thiếu niên cài mìn, đặt bom trước cổng đồn nhiều lần. Từ đó mỗi khi đi chợ Cầu hay chợ Mới, bọn trên đồn bắn 3 phát 12 li 7, bọn hương vệ Hòa Ninh đáp trả 3 phát để phối hợp với nhau. Chúng tôi nắm được quy luật đó báo cho bà con lùi lại phía sau để đơn vị gài bom mìn đánh địch. Có trận du kích địa phương kết hợp với C365 của huyện tấn công chớp nhoáng diệt địch thu vũ khí rồi rút lui vào 2 phố Vĩnh Tường và Hiệp Lợi về khu căn cứ an toàn. Ban đêm đội du kích thiếu niên bao vây đồn Trúc, Huỳnh quấy rối. Chúng tôi ném lựu đạn, bắn bức kích pháo vào trong làm hắn phải ra ngủ ở đồn hương vệ Hòa Ninh.

       Cuối tháng 6 năm 1948, một trung đội thuộc C365 do các anh Phạm Điệt và Trương Sô chỉ huy đã phối hợp với du kích Minh Lệ phục kích bọn địch đi chợ Cầu. Hai thiếu niên là Trần Khổng và Hoàng Hữu Thiền chèo đò xuống cồn Si chặn người họp chợ lại để bảo đảm an toàn. Trận địa bố trí cách xa chợ nhưng sát đồn Minh Lệ. Đồng chí Nguyễn Hoàn người Cao Cựu (Quảng Hòa) leo lên một cây dừa của ông Niếc để quan sát. Khi chúng lọt vào trận địa, anh thổi kèn báo hiệu cho các chiến sĩ giật bom, lũ giặc bắn loạn xạ. Các chiến sĩ nấp từ trong bụi rậm nhảy ra dùng đại đao chém tới tấp. Pháo địch trên đồn câu xuống cấp tập. Bọn địch trên đồn tăng viện. Quân ta đã kịp thời rút lui nhưng địch phát hiện được anh Hoàn trên ngọn cây dừa. Tên Am là con ông bác của anh Hoàn đã bắn anh rồi lấy đại đao của anh chặt anh thành ba khúc. Chưa hả dạ, hắn còn bổ đầu anh “xem óc thằng Việt Minh lớn hay bé”. Đợi trời tối cha tôi cùng các cụ Hoàng Ủy, Hoàng Huyến, Hoàng Trá vào lấy xác anh về ghép ván thành quan tài chôn cất cẩn thận. Một thời gian sau gia đình anh vào cất bốc về quê.    

     Bị lực lượng du kích và bộ đội địa phương phục kích đánh phá liên tục, ngày 9 tháng 7 năm 1948, thực dân Pháp phải rút khỏi đồn Minh Lệ lần thứ nhất, đến đầu năm sau chúng mới đóng lại. Lần này chủ yếu là lính ngụy Việt binh đoàn.

                                                        *

                                                   *         * 

       Đứng trên động Lòi có thể quan sát được mọi hoạt động của cả làng Minh Lệ. Bọn địch đã triệt phá hết cây cối trong làng để quan sát lực lượng kháng chiến của ta ở chiến khu về. Chúng bố trí một vọng gác tại xóm Bàu để hỗ trợ cho bọn phản động ở xóm Bàu và thôn Diên Trường hoạt động.

       Đến cuối năm 1949 lực lượng kháng chiến của ta ngày càng lớn mạnh. Tháng 10 năm 1949, trung đoàn 57 được bổ sung cho tỉnh Quảng Bình. Hai đại đội thuộc tiểu đoàn 418 ém quân trong xóm Bắc. Đại đội khinh binh 60 do anh Lê Kháng chỉ huy phục kích đánh 1 trung đội lính “bảo vệ” gác bốt xóm Bàu, bắt sống gần hết. Cứ hai thằng bị trói chung một sợi dây. Đặc biệt hai mẹ con mẹ Luyềng - Trương Du tay không bắt giặc. Đội viên Trương Du đuổi theo cướp được một khẩu súng. Đại đội 60 cùng đại đội trợ chiến kiềm chế hỏa lực địch cho trung đội thiếu niên xóm Bắc chúng tôi giải tù binh lên chiến khu (Thọ Linh - Quảng Sơn) vừa đánh trả cánh quân từ đồn hương vệ Hòa Ninh vào tiếp viện. Đồn Minh Lệ tăng viện hai đại đội. Chúng dàn hàng ngang chặn đường rút lui của ta. Bộ đội ta dựa vào bờ bàu ven đồng Văn Võ mà đánh trả cho đến chiều tối. Anh Kháng đại đội trưởng bị thương ở bắp chân. Anh Phu đại đội phó bị gãy mất một cánh tay. Trận đó bên ta một số chiến sĩ bị thương. Đơn vị có hai chiến sĩ hy sinh được chôn cất cẩn thận. Riêng anh Lân cuối trận đánh không thấy đâu, ai cũng tưởng anh bị địch bắt đi nhưng ba ngày sau anh chết nổi lên giữa một cái đìa bên bàu. Bên dân quân tải thương có anh Trương Chiếc (bố của các cháu Doe, Kí, Siên) hi sinh khi đang vận động tới gần ngôi mộ tổ họ Hoàng. Trận đó. Một quả Moócchiê nổ tung hất tôi lên bờ ruộng. Chị Hoàng Thị Hén (nay đổi sang tên Hiên vợ anh Điểng, mẹ của các cháu Đào, Trúc, Mai bây giờ) về báo với các chị tôi: “Anh Choát bị hy sinh rồi”. Đơn vị sang tập kết bên làng Diên Trường. Các chị ở làng Minh Lệ gánh cơm sang Diên Trường cho bộ đội. Các mẹ còn mang cam, chuối, trứng gà sang để bồi dưỡng cho các anh. Cơm nước xong đơn vị được lệnh rút về xóm Dài. Các chị tôi lên tìm vừa chạy vừa khóc. Gặp nhau ba chị em ôm lấy nhau mừng rỡ. Tổng kết trận đánh, anh Nguyễn Huy Cận tiểu đoàn trưởng quyết định anh Nguyễn Việt Bình chính trị viên lên thay anh Kháng đi điều trị vết thương.

 

       Đêm 23 tháng 10 (âm lịch) năm 1949, là ngày cả làng tôi ăn giỗ (ngày nhiều người làng bị chết vì chìm đò). Tiểu đội Hoàng Đàn canh gác các ngõ. Ban đầu chúng tôi sinh hoạt tại nhà của chị Tẹo (Chị Tẹo là em gái của chị Khầm - vợ anh Trần Kim Vầng con dì ruột của tôi). Nhưng Trớ nậy, Trớ con lên ăn giỗ nơi nhà chị Tẹo. Trớ nậy, Trớ con bà con với chị Tẹo, chị Khầm. Chị Tẹo hoạt động cho ta nhưng là hai anh em Trớ nậy, Trớ con hắn đã theo Trúc, Hùynh làm tay sai cho địch. Sợ bị lộ, chúng tôi chuyển địa điểm họp về nhà tôi để phổ biến kế hoạch phục kích diệt bọn lính đi chợ trên đoạn đường Kiến Thiết. Gần 9 giờ tối, có 2 em nhỏ là Hoàng Dòa con anh Hoàng Phúc (nay là thiếu tá Hoàng Minh Sơn về hưu tại Thôn Bắc Minh Lệ) và Hoàng Ngọc Khởi chạy vào. Khởi nói “Có một toán không biết Tây hay lính bảo vệ mặc áo dầu đi xuống đằng sau nương mình. Một thằng tát em 2 cái làm tắt mất cái đèn”. Sơn nói chen vào: “Em nghe mùi khét Tây”. Các đội viên nhanh chóng xuống hầm bí mật, số còn lại rúc qua nạp tre thoát ra ngoài. Một lúc sau có một tràng trung liên FM vang lên. Hai đội viên thiếu niên Hoàng Tao và Hoàng Luyếnh nhận mật khẩu về thì gặp địch phục kích bên đống đá trước cổng trường. Tao chạy thoát còn Luyếnh bị thương rất nặng. Luyếnh nhìn chúng tôi ứa nước mắt. Em nói rất nhỏ, chỉ thều thào: “Mật khẩu hỏi Sao, đáp Trăng”. Em nói được mấy tiếng mật khẩu hôm ấy rồi tắt thở. Chúng tôi cõng Luyếnh về nhà. Các cụ, các mẹ kéo xuống gặp Huỳnh bắt hắn lên đồn Minh Lệ đòi bồi thường tính mạng cho những người dân vô tội. Bây giờ ngẫm lại nếu lúc đó không có hai em nhỏ Khởi và Dòa thì chúng tôi khó mà thoát được cái chết trong gang tấc.

        Chúng tôi đã nghiêm khắc thi hành kỷ luật quân sự đối với đội viên Hoàng Đàn. Đàn cho biết vì trời có mưa lâm thâm lại rất đông người đi lại nên tiểu đội không thể phát hiện được. Hoàng Đàn xin bái tội lập công, chuyển sang trung đội chiến đấu. (Sau ngày hòa bình Hoàng Đàn làm cán bộ  xưởng in. Bây giờ đang nghỉ hưu tại xóm Bắc Minh Lệ. Anh đã được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng ba).

       Biến đau thương thành hành động, ngày 28 tháng 10 (âm lịch) năm 1949, một tiểu đội du kích do Trương Suấc chỉ huy cùng một tiểu đội thiếu niên của Hoàng Khàm phối hợp với một trung đội thuộc C365 của huyện phục kích bọn địch đi chợ Mới. Tất cả chia thành 2 cánh mang tơi đội nón đi nơm. Một toán lính đi chợ trên 50 tên theo con đường Kiến Thiết xuống giữa đồng mênh mông nước. Chúng chủ quan đi vào giữa đội hình những người nông dân đang nơm cá thì bỗng hai loạt tiểu liên nhằm vào lũ lính đang đi trên đường mà nhả đạn. Lực lượng bộ đội, du kích từ dưới ruộng nhất tề nhảy lên. Đại đao, gươm mác lia vun vút làm bọn chúng trở tay không kịp. Chúng chạy bán sống bán chết vào đồn hương vệ chợ Mới. Ba giờ chiều, hai chiếc ca nô lên chở lính tử nạn về Thanh Khê. Trận đó ta thu được 22 súng trường Anh, 2 khẩu pittollê - mintridơ, 1 trung liên FM. Trận này Trương Suấc bị thương. 

                                                           Chương 3

       Công tác địch vận ở làng Minh Lệ

       Giặc Pháp có chính sách xảo quyệt: “Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh. Dùng người Việt trị người Việt”. Chúng muốn tách cá ra khỏi nước. Chúng rào xóm Nam lại như ấp chiến lược của Mĩ Diệm sau này nhằm cách li dân với Việt Minh. Chúng ta đã vận dụng từng hoàn cảnh cụ thể để cài người của ta vào hàng ngũ địch. Do địch bắn Moócchiê xuống làng nhiều quá nên bà con đã bầu lên Ban hội tề để đàm phán với chúng. Ban ngày đi làm việc cho chúng nhưng đêm về làm việc cho ta. Chúng ta dựa vào họ để đấu tranh với địch. Từ ngày Hùynh theo giặc Pháp, hắn phế truất ông Trần Diên (ông Phầu) để làm lí trưởng, Huỳnh đã biến ban hội tề do dân bầu ra thành công cụ tay sai đắc lực cho chúng. Ta đã vận dụng hoàn cảnh một cách sáng tạo.

       Anh Trần Hữu Phất là trinh sát tình báo của tiểu đoàn 274. Tiểu đoàn này là tiền thân của trung đoàn 18 do anh Nguyễn Hòa làm trung đoàn trưởng. (Nguyễn Hòa người Hòa Ninh. Sau này là trung tướng, có biệt hiệu là “Hòa Sẹo” do bị thương nhiều lần). Anh Phất có người em trai là Trần Hữu Phức. Phức học xong Primaire năm 1941. Phức bị bắt vào lính lên đến chức cai. Anh Phất về tổ chức lớp học công tác địch vận ở Quảng Sơn. Anh bày cho chúng tôi cách tiếp cận lấy thông tin từ binh lính địch. Anh nói nhiều người muốn trở về với cách mạng lắm nhưng chưa có cơ hội. Tôi cùng một số đội viên du kích thiếu niên đã tiếp xúc được với một số tên lính bảo vệ. Chúng tôi nắm thật chắc tình hình địch rồi về báo lại với anh Phất. Chúng tôi nắm được sơ đồ đồn địch và quân số của chúng hàng tháng. Và cũng chính nhờ thế chúng ta đã biết trước được một phần kế hoạch càn quét của chúng. (Sau này chúng tôi còn bố trí được một số chị em vào tiếp cận với binh lính địch để lấy thông tin. Năm 1949, nếu ta táo bạo hơn còn có thể lấy được cả đồn địch)

      Anh Phất là bạn học với Nguyễn Huỳnh và anh Chuể tôi. Nhà anh sát bờ sông Nan phía dưới bến Đình một quãng chừng ba trăm mét.

      Vừa rồi (tháng 12 năm 2012), biết tôi đang viết về anh Trần Hữu Phất, qua điện thoại, nhà văn Văn Linh tác giả cuốn tiểu thuyết “Mùa hoa dẻ” nổi tiếng có kể lại. Anh Linh nằm trong Ban trinh sát tiểu đoàn 103 (Hà Tĩnh) vào kết hợp với Ban trinh sát tiểu đoàn 274 (Quảng Bình). Anh Luật người Thọ Linh, đem Văn Linh đến gặp anh Phất trinh sát nằm vùng của tiểu đoàn 274 tại làng Minh Lệ. Khi qua đồn Minh Lệ có một tên lính gác hỏi: “Chúng mày đi đâu”. Anh Phất trả lời: “Tôi đi thuê thằng này về làm đứa ở”. Đêm đó cả nhà ngồi nghe Văn Linh kể chuyện chiến khu. Nhà không có đèn. Mọi người ngồi trên bộ phản. Ông bố của anh Phất sang ngồi nghe nhà văn Văn Linh kể chuyện say sưa lắm. Lúc đó có một người bà con anh Phất làm hương kiểm sang nói ngày mai phải huy động bà con chặt tre lên làm đồn. Ông bố của anh Phất nhanh ý lấy tay gạt một cái làm Văn Linh nằm ngửa người ra phía sau. Ông đứng lên bắt anh hương kiểm đưa ông về. Sáng mai có một người con gái trong nhà đưa cho Văn Linh một dây thừng để dắt trâu xuống thả Hói Đồng. Lúc đó anh Phất đã đón dưới Hói đồng chèo anh qua trinh sát đồn Cao Lao Hạ. Rất may đêm hôm đó bọn bảo vệ nằm phục trong vườn nhà anh nhưng chúng không hề hay biết.

      Đồn địch đóng ở Cao Lao Hạ còn phía trên Cao Lao Thượng thì do ta kiểm soát. Hai anh sang Cao Lao đã có một du kích tên là Sơn đón. Các anh đang đi trên đồng Cao Lao thì gặp một thằng lính trong đồn đi săn gái. Hắn hỏi: “Các anh đi đâu”. Anh Sơn trả lời: “Chúng tôi đi chặt tre còn anh này là người Minh Lệ xuống đây kiếm việc làm”. Hắn bắt anh Phất đi theo hắn. Thấy một cô con gái đi qua, mắt thằng lính sáng ngời lên. Anh Phất xô hắn ngã xuống ruộng rồi bỏ chạy. Một lúc sau Văn Linh nghe tiếng súng nổ. Anh Phất đã chạy thoát.

       Có một lần Văn Linh và anh Phất gặp hai thằng lính áp tải bắt dân gánh nước ngọt trên khe Sắn về đồn cho chúng. Một người du kích bảo: “Các chú có súng bắn ra lửa như thế này chứ Việt Minh chúng chỉ có mác Lào với đại đao”. Hai người khẩn khoản xin chúng cho coi hai khẩu súng và tháo mất quy lát. Một lúc sau họ đứng dậy chĩa súng vào hai thằng lính: “Súng này bây giờ là của bọn choa”. Hai thằng lính lao vào vật lộn với các anh. Anh Phất và Văn Linh trói chúng lại rồi lấy hai khẩu súng vào đồi bắn thử mấy phát. Sau này bà con kể lại khi hai thằng lính được bà con gánh nước cởi trói cho, chúng đập vỡ các ang vại của bà con rồi về đồn báo: “Việt Minh về đông lắm. Chúng tôi chống không chống nổi bị chúng cướp mất súng”. 

       Tháng 3 năm 1949, anh Phất đến nhà thằng Huỳnh. Anh khen hắn thu thuế đã xây được giếng Vường và làm đường Kiến Thiết cho dân đi, nhân dân phấn khởi lắm. Anh khuyên hắn làm gì cũng phải có chừng có mực. Làm lí trưởng cho Pháp nhưng cũng phải nghĩ đến dân, biết nương nhẹ cho dân mình để đến khi thất thế có đường mà quay về với bà con. Nói xong anh chào hỏi hắn nhã nhặn rồi lên nhà. Thằng Huỳnh để cho anh ra về tự nhiên. Khi bước vào cổng, anh chợt quay lại đã thấy thằng Huỳnh dắt mấy thằng hương vệ đi theo. Anh Phất hỏi: “Làm gì thế Huỳnh? Cậu dắt mấy người này đi theo là thế nào”. Thằng Huỳnh trâng tráo trả lời: “Làm gì nữa? Mày với tao đi hai con đường khác nhau. Mày là Việt Minh. Tao là chính nghĩa quốc gia. Tao đến giết mày. Có bọn tao thì không bao giờ có mày”. Nghe hắn nói đến đó anh Phất nhảy ùm xuống sông lặn một hơi dài. Thằng Đình em của Huỳnh kê súng lên bụi tre ngắm bắn. Cứ thấy anh ngóc đầu lên là hắn bóp cò. Anh bơi sang được hai phần ba sông sát bờ Minh Tiến thì hắn bắn trúng. Anh hi sinh để lại hai người con nhỏ tên là Túy và Trị. 

                                                           *

                                                    *             *

      Công tác địch vận khó khăn gian khổ là thế. Ta đã biết vận dụng tình cảm gia đình, bạn bè, bà con làng xóm để vận động địch. Chỉ dùng lời ăn tiếng nói, lấy điều hay lẽ phải để giải thích cho những con người lầm đường lạc lối về với cách mạng. Cái lợi thế của công tác địch vận là trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, có nhiều gia đình có hai người đi hai phía. Một phía là vì lợi quyền dân tộc, là đấu tranh gian khổ, là hy sinh mất mát. Một phía là ôm chân đế quốc giết hại giống nòi, bà con làng xóm để kiếm bơ thừa sữa cặn của giặc. Ta dùng đấu tranh chính trị tránh bớt đổ máu, phân hóa hàng ngũ địch giảm thiểu tổn thất cho cách mạng.

     Gia đình Nguyễn Căn, một hương kiểm trong Ban hội tề. Ban đầu Kiểm Căn làm tay sai cho Pháp rất đắc lực. Nguyễn Căn có hai người em trai là bộ đội Vệ quốc quân (Nguyễn Mùi và Nguyễn Văn Lậu). Chúng ta đã lợi dụng điểm đó để khống chế ông ta. Bắt ông ta đem yêu sách lên đồn khi chúng bắt cu - li, phu phen, tạp dịch hay bắn phá thiệt hại đến tài sản đồng bào.

     Ta đã kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, giằng co với địch để giành dân. Tại lớp huấn luyện địch vận tổ chức tại xóm Dài làng Thọ Linh, tôi đã gặp hai anh Nguyễn Tú và Nguyễn Mân con ông nghè Nhơn (còn gọi theo tên cháu là nghè Truông) ở sát nhà thờ họ Hoàng. Hai anh ở lại nhà chị Phiên xóm Hà bên kia sông Nan. Ông nghè Nhơn  (sau này  trở lại Công giáo đi theo Pháp). Ông có người con gái đầu là chị Kiều Trinh lấy chồng vào sống tại Huế. Học xong tiểu học lấy bằng Primaire, Tú vào Quy Nhơn học tiếp. Hai anh Tuấn và Mân đang học Tiểu học Thọ Linh thì vừa lúc ta cướp chính quyền. Tôi và Tú được phân công viết bài phát thanh cho tổ địch vận. Anh Tú kể có gặp anh Bùi Ái con ông Cai Ba hồi ở ga Minh Lệ. Anh Ái hăng hái lắm. (Cũng xin nói thêm đôi chút về anh Bùi Ái. Anh Ái là con ông Cai Ba lấy vợ người làng Minh Lệ. Anh Ái trước đây ở cùng anh Hoàng Thúc Tuệ, sư đoàn 304. Nay anh là trung tướng về hưu tại Hà Nội. Anh vẫn sinh hoạt đồng hương với làng Minh Lệ). 

      Tháng 8 năm 1948, Ủy ban kháng chiến hành chính xã thành lập tổ địch vận. Các chị phụ nữ như Hoàng Thị Mĩ Miều, Hoàng Thị Trợ, Hoàng Thị Ruyển người làng Minh Lệ. Các chị Đinh Thị Hồng Phiên xóm Hà, Mai Thị Nữ Nhi xóm Chùa (Thọ Linh) là những người có giọng đọc tốt, giọng hò hay đêm đêm đến bên hàng rào để phát thanh.  Các chị trong tổ địch vận đến làng Diên Trường gặp chị Võ vợ của một người lính bảo vệ trong đồn Minh Lệ để tìm hiểu vợ con của những người lính khác. Chúng tôi nhắc tên vợ con từng người lính trong đồn kêu gọi họ quay trở về với nhân dân. Các chị chĩa loa vào đồn hát đồng ca:

“Ngọn trào quay súng giết quân thực dân

Anh em ta mau lên đường về miền quốc gia Việt Nam

Ôi hiên ngang những anh hùng chiến sĩ

Coi khinh quân thù, đã phá nhà tù đi

Về đây trong thi đua chiến công oai hùng một mùa

Về đây nghe rừng sâu hú hồn quân Pháp gian ác

Về đây ta hát vang trên con đường quật cường huy hoàng

Về đây ta chia với nhau hạnh phúc

Quay súng! Quay súng! Giết quân thực dân

Quay đầu gươm giết quân tham tàn”

      Ban đầu bọn địch bắn xuống như mưa. Chúng tôi ngồi dưới hầm tròn đào bên bờ ruộng, chờ dứt tiếng súng lại hát. Dần dần tiếng súng thưa dần rồi sau chúng không bắn nữa mà nghe các chị hát.

      Một tiểu đội du kích thiếu niên đi theo để bảo vệ tổ phát thanh, kêu gọi những người lầm đường lạc lối trở về với nhân dân.

     Tôi còn nhớ sự kiện lần đầu tiên thấy pháo sáng địch. Các chị nấp ở cồn Ông Sáo, chĩa loa bằng mo cau về phía sân bay, vào đồn địch hát những bài địch vận thì từ trong đồn có một tiếng đề pa nhẹ. Một vệt lửa bay vọt lên trời, một khối sáng treo lơ lửng trên đầu chúng tôi. Tất cả cúi rạp xuống bờ ruộng nằm yên không động đậy. Tiểu đội du kích thiếu niên phục kích trước cổng đồn, nếu thấy địch ùa ra thì ném lựu đạn để cho các chị rút, cũng may bọn địch bắn đến quả thứ 5 rồi thôi. Lần đầu tiên chúng tôi biết thế nào là pháo sáng.

      Đêm sau chúng tôi lại đến quấy rối. Đêm này địch không bắn pháo sáng nữa. Sau khi phát thanh xong đội địch vận rút. Đúng 1 giờ sáng chúng tôi đặt hai khẩu bức kích pháo từ hai hướng. Một khẩu từ Thọ Hạ bắn xuống, một khẩu từ đồng Cây Ươi bắn lên. Mục đích là quấy rối gây hoang mang trong lòng địch. Hơn nữa du kích phải cầm chân chúng lại không phối hợp được với bọn ở các nơi khác đánh vào vùng tự do của ta. Đêm ấy bọn địch vãi đạn như mưa. Chiến sĩ Trần Văn Khơ bị thương nhưng chỉ trúng phần mềm. Hoàng Khuỳa đến sát hàng rào ném thêm một quả lựu đạn. Súng giặc bắn đến sáng. Tiểu đội của Nguyễn Thưởng gác ở vọng gác số 1 ở Đồng Chăm cũng ném lựu đạn vào đồn hương vệ Hòa Ninh về. Gặp nhau ai cũng kêu đói bụng. Chị Soài tôi nấu cho một nồi ba khoai lát khô cho ba người ăn. Tôi và Nìa, (con trai của cô tôi ở với cha tôi sau khi cô mất) gọi thêm Nguyễn Hữu về theo. Ba chúng tôi ăn một bữa khoai ngon hơn ăn tiệc.

       Thời gian này đội du kích thiếu niên hoạt động mạnh. Ban đêm chúng tôi ném lựu đạn và bắn bức kích pháo vào đồn địch quấy phá làm cho chúng mất ăn mất ngủ. Bọn chúng vãi đạn tứ tung về bốn phía.  

                                                                *

                                                           *         *

      Đã thành quy luật, mỗi khi đi càn chúng cho pháo hạng nặng trên đồn bắn dọn đường. Chúng thường bắn vào những trục đường chúng định đi qua nên ta biết bố trí gài bom mìn nơi đó. Ban đầu ta đặt bom giữa đường còn đầu dây kéo vào trong xóm để giật xong thì chạy. Có khi cả đội hình của chúng lọt vào giữa vùng sát thương nhưng bom không nổ. Có khi bọn địch vượt qua vùng sát thương rồi bom mới nổ. Ta thay đổi cách đánh. Cắm hai cọc giữa đường chăng dây qua. Một đầu dây kia ta nắm kéo dài hơn, xa hơn. Bọn địch phát hiện được đứng kéo giằng co với ta thì bom nổ. Hầm chông chôn ở mọi nơi mà quân giặc có thể đi càn qua. Đa số là chông tre ngâm nước tiểu. Các cụ tìm kiếm răng bừa, mảnh bom rèn chông cung cấp cho du kích.

        Bọn địch tức tối bắn bừa bãi vào làng. Đạn nổ cháy nhà, sát thương người và súc vật. Ta lại tổ chức các cụ, các mẹ kéo lên đồn đấu tranh trực diện với địch, giảm thiểu sự bắn giết người và trâu bò vô tội vạ. Hội mẹ chiến sĩ như mẹ Khảnh, mẹ Khiu, mẹ Doạnh, mẹ Luyềng tổ chức bà con kéo xuống chợ Mới gặp tên Huỳnh bắt chúng bồi thường thiệt hại vì pháo trên đồn bắn bừa bãi vào làng giết hại bà con và trâu bò lợn gà. Bọn chúng đã phải trích tiền thu thuế chợ và thuế nông nghiệp cho xây lại cái giếng Vường, làm lại đường Kiến Thiết và trùng tu bốn miếu thờ các vị đức thần tổ tại bến Lội. (Cái giếng Vường đã có từ khi mới xây đình làng từ thế kỉ XV).

       Các mẹ còn thuyết phục các gia đình có con em đi theo giặc quay trở về với cách mạng. Ngoài anh em các tên Trúc, Huỳnh, Đình, Hằng, Nhị, Vồ, Trớ nậy, Trớ con, thì còn có một số giáo dân vùng chợ Mới (không tiện nêu tên) đi theo giặc. Có khi anh đi theo Vệ quốc đoàn em lại theo giặc kiếm bơ thừa sữa cặn. Bọn chúng cướp bóc của cải của bà con chạy giặc và các gia đình tham gia kháng chiến. Chúng càn quét đến đâu thì có người nhà của chúng đi theo hôi của đến đấy, đặc biệt là bọn lính bảo vệ người Hòa Ninh. Ở xóm Bàu, ngoài cha con Cửu Danh, Tiếng, Diễn… là dân Công giáo theo giặc còn có một số người lương vì miếng cơm manh áo mà phải làm tay sai cho chúng. Họ chỉ điểm nhà anh Suyết tôi lúc đó làm thôn đội trưởng Minh Lệ cho giặc Pháp. Chúng dỡ ngôi nhà năm gian của anh tôi lên làm đồn. Bọn địch càn ra Tây - Bắc, đi đến đâu chúng đốt nhà đến đấy. Xóm Bắc Minh Lệ là vùng tự do của ta, xóm Nam được xem như là vùng địch hậu.

      Tên Huỳnh đã bắt bà con xóm Nam rào làng theo đường ngang từ bến Đình ra đến bìa làng đồng Nương Giữa xuống tận chợ Mới để tách li xóm Nam với Việt Minh. Chúng tôi dẫn cán bộ chiến sĩ đại đội 5 (sau này là đại đội 365) về phục kích ở hàng rào ngoài bìa làng vận động bà con không làm tay sai cho giặc. Có lần vào ban đêm anh em ngồi ngoài bìa làng làm nhàu  nát cỏ bờ ruộng lúa bắc nên một số bà con trong xóm đã báo lại cho chúng tôi sơ hở đó. Ngày đó chúng tôi gọi nhau bằng các bí danh. Ngay cả bố mẹ trong nhà cũng không biết con mình mang bí danh gì. Tôi có bí danh là Nam Sơn. Chúng tôi thường liên lạc với những đội viên thiếu niên du kích xóm Nam. Chúng tôi lọt qua hàng rào vào trong xóm đi đến từng nhà có người theo giặc, nói giọng Bắc đóng giả bộ đội để thuyết phục vợ con họ khuyên chồng không làm hại gì đến cách mạng. Thế nhưng có những người nhẹ dạ cả tin vẫn đi làm tay sai cho giặc. Trong thời gian này có hai chiến sĩ của trung đoàn 18 tên là Đồng và Phong về bắt liên lạc với cơ sở của ta quấy rối đồn Minh Lệ. Vì ban đêm nên các anh lạc vào Bốn Miếu. Buổi sáng hôm sau một người dân xóm Nam đem chó lên săn trông thấy. Ông ta về báo với Trúc, Huỳnh để lĩnh thưởng. Hai anh đã bị sa vào tay giặc. Bọn giặc hèn hạ buộc đá vào cổ các anh rồi trắn xuống cầu Minh Lệ. Lúc đó các anh mang theo bên mình một ống muối và một vắt cơm nắm chưa kịp ăn. Xác các anh nổi lên, hai chân nổi lềnh bềnh, đầu chúi xuống đáy sông trôi theo con nước cạn. Đêm đến hai người dân xóm Nam bí mật bơi ra vớt xác các anh về chôn. Cả đơn vị quyết trả thù cho hai anh:

      “Chúc hai bạn về nơi chín suối

       Chúng tôi thề đeo đuổi thù chung

       Bài trần vong khắc hai chữ Phong Đồng

       Bao năm tháng vẫn nhớ mối thù của hai bạn”.

       Đến nay nhiều người vẫn còn nhớ như in bài thơ ca ngợi các anh. Ông Só, một người dân xóm Nam Minh Lệ vẫn thường kể lại câu chuyện trên với tấm lòng phẫn nộ, ông biết rất rõ những kẻ đã đi báo tin các anh nấp trong Bốn Miếu với Trúc, Huỳnh để lấy tiền. Nhưng nay thời gian đã xóa nhòa cũng không nên nhắc lại làm gì nữa cho thêm đau lòng. Truyền thống dân tộc ta là vậy. Đánh kẻ chạy đi ai đánh người chạy lại. Chính sách hòa hợp dân tộc, đường lối đoàn kết của Đảng và Bác Hồ khép lại quá khứ đau thương để vươn tới tương lai.

                                                      *

                                               *             *

       Bọn địch cũng dùng thủ đoạn xảo quyệt đóng giả bộ đội Việt Minh về làng để thăm dò lòng dân. Đã có trường hợp đáng tiếc do thiếu cảnh giác xảy ra. Một đêm Trúc, Huỳnh đi lùng trên xóm Bắc. Chúng gặp anh Nguyễn Sười đứng gác. Chúng giả giọng Bắc liền bảo anh chỉ nhà Trúc Huỳnh để “bộ đội Việt Minh” trị tội. Ban đầu anh Sười lưỡng lự không đi, sau chúng đưa cho anh khẩu súng trường không có đạn bảo anh đi trước. Anh Sười dẫn “bộ đội” đi chỉ vào nhà của Trúc Huỳnh. Vừa đến cổng nhà hắn, anh bị thằng Chình đánh một trận thừa sống thiếu chết.

       Nắm được điểm yếu của ta là lắm lúc sơ hở chỉ nghe theo một chiều, thiếu kiểm định thông tin nên chúng cho người đem giấy của “Huyện đội” bỏ vào điếm gác về triệu tập gần 20 người cốt cán đến nhà trường để họp kế hoạch “tiêu diệt Trúc Huỳnh”. Đúng 9 giờ tối ngày 13 tháng 7 năm 1948, các anh đến trường chờ thì thấy có bóng người lảng vảng trong vườn chuối. Anh Nguyễn Khắc Suyền chột dạ, cảnh tỉnh ngay: “Mắc mưu địch rồi anh em ơi.” Anh nhảy qua nhà mẹ Dùm và la lên để đồng chí mình trốn thoát. Các anh Trần Văn Ruých, Trần Tuyển, Trần Chường… chạy theo anh Suyền nhưng hai anh Nguyễn Điết và Hoàng Doạnh chạy không kịp bị chúng bắt đi. Chúng bắt giam tra tấn các anh rồi mấy ngày sau mới thả.

      Vỏ quýt dày đã có móng tay nhọn. Ta và địch chơi trò ú tim. Ta dùng kế “gậy ông lại đập lưng ông”. Một hôm có ba tên giả giọng Bắc nói là cán bộ Việt Minh đang tìm nơi ẩn nấp đến nhà cụ Hoàng Thiện Dưỡng gõ cửa. Nghe tiếng, cụ Dưỡng biết ngay là giọng của Trớ con. Cụ Dưỡng bảo: “Nếu là Việt Minh tôi xin trói các anh lại để giấu vào nơi cất giấu vàng bạc và khế ước của dòng họ chúng tôi”. Cụ bà sang báo với cụ Trá. Cụ Trá lại đi gọi các cụ khác tới. Các cụ kéo nhau lại dùng dùi cui gậy gộc phang tới tấp: “Chết này! Chết này!” Bọn chúng bị đánh đau quá liền la to: “Đừng! Đừng đập! Chúng cháu là thằng Trớ, thằng Chình, thằng Dệt đây!” Nhưng chúng càng la thì tiếng gậy gộc quất xuống càng mạnh, càng dồn dập, tới tấp. Cả ba thằng bị đánh một trận “tơi bời khói lửa”. Khi thắp đèn lên, bọn chúng lột râu tóc ra. Thằng nào cũng bị bươu đầu mẻ trán các cụ mới tha cho. Chúng tập tểnh dắt nhau về đồn.  

 

       Bọn chúng cũng dùng những thủ đoạn chiến tranh tâm lí để li gián anh em trong đơn vị với nhau. Chính vì thế một số người mắc mưu giặc. Có người chịu không nổi đòn thù đã khai ra đồng đội. Anh Trương Vành người chính trị viên của thôn đội Tây Bắc đã bị bắt. Ngày 16 tháng 3 (âm lịch) năm 1949, bọn địch chia thành hai cánh quân bao vây xóm Bắc làng Minh Lệ. Một toán địch từ xóm Tây tràn xuống. Một toán nằm phục giữa các ruộng khoai vùng Dứa và Cồn Nghĩa Trũng. Chúng bắt nhiều người chạy xuống đồng đem vào tập trung tại Mả Họ rồi đưa lên giam trên đồn. Chỉ có hai người già cả và lớn tuổi như anh Hoàng Dương (gọi theo tên con là anh Nghiềng) và ông Día được thả về. Anh Trương Vành vốn là chính trị viên thôn đội hoạt động bí mật nên kẻ chỉ điểm không biết mà lập “sổ đen”. Sáng 17 tháng 3 năm 1949, chúng thả anh ra thì một người du kích không chịu nổi sự tra tấn đã khai anh là chính trị viên thôn đội Minh Lệ. Bọn địch dốc ngược hai chân anh lên trời, treo lên tháp nước (Satônô) rồi đổ nước vôi vào miệng, mũi anh. Anh Trương Vành vẫn một lòng một dạ với cách mạng. Chúng lấy báng súng đánh chết anh rồi đem xác anh ra ngoài hàng rào. Chúng vu cho anh là bỏ trốn nên bị bắn. Người du kích nói trên đã dẫn địch về tìm hầm vũ khí của anh Vành nhưng du kích đã nhanh chóng chuyển đi nơi khác. Một số chị em phụ nữ và anh Nguyễn Khoảng (con ông Nguyễn Khuấng) bị địch bắt vào Đồng Hới. Chúng đánh chết anh Khoảng trong tù. Ta đã cho gia đình và các chị em phụ nữ lên đồn đấu tranh vạch mặt chúng.   

                                                            *

                                                      *           *

      Ở Cồn Vượn có một xóm không tới hai chục nóc nhà. Chủ yếu là dân Phú Trịch, Quảng Tân trước đây đến nhập cư. Trong một trận càn xuống Cồn Vượn, có một tên lê dương đang hiếp dâm một phụ nữ thì bị Hoàng Đức một chàng trai mười bảy tuổi chém cho một nhát rìu. Đức vạm vỡ cao lớn như một người đàn ông thực thụ. Đức mang súng băng đồng chạy lên xóm Nam. Gặp ông Hoàng Văn Tợ, Đức liền hỏi thăm đội du kích ở đâu để xin gia nhập. Ông Tợ nói xóm này nằm trong vùng kìm kẹp của địch, nhiều hương vệ lắm. Đức băng đồng lên Tây Bắc gặp tôi. Đức xin vào đội du kích thiếu niên. Hoàng Đức được chúng tôi gọi là “Đức gan cóc tía”. Có lần anh cả gan ném lựu đạn vào giữa một tốp lính “bảo vệ” đi tuần rồi chạy băng đồng lên nấp ở trên am đình Minh Lệ. Bọn địch vây quanh đình chĩa súng vào các lùm cây mà bắn. Tên chỉ huy mắng: “Bay bắn thế nó chết còn gì? Vào nhà kia lấy rựa mà phát hết mấy bụi cây này cho tao. Phải bắt sống!”. Chúng vào nhà ông Hoàng Chưa (gọi theo tên con là ông Dộ) lấy rựa. Bà Dộ nói: “Lúc nãy quan lớn bắn đạn bay vèo vèo tôi phải ra núp ngoài bờ ruộng. Tôi thấy một người ở trần tay cầm lưỡi gươm chạy về phía đồn”. Bọn địch lùng sục không được hối hả chạy theo hướng tay bà Dộ chỉ về phía đồn. Bọn địch đi rồi Đức ung dung từ trong đình bước về xóm Bắc, miệng huýt sáo như không có chuyện gì xảy ra.

      Trong làng Giáp Tam có tên Sếp Cản làm tay sai cho giặc Pháp. Sếp Cản  theo giặc đóng ở đồn Minh Lệ. Vợ của Sếp Cản hàng ngày đi chợ bán buôn bằng một chiếc nôốc lòi. Ngày 13 tháng 11 năm 1948, Đức chạy lên nhà tìm tôi. Anh nói: “Sếp Cản mới về nhà. Chỉ một mình nó thôi. Cần phải bắt ngay! Nếu không sáng mai nó theo đò chợ đi mất”. Tôi vác cuốc và mang theo con dao găm với hai quả lựu đạn chạy theo anh. Chúng tôi chạy băng băng giữa đồng. Cự li cách nhau ba trăm mét. Về Cồn Vượn thì thấy Đức đang đứng đợi. Chị lái đò cay chèo xong đang búi lại mái tóc. Hai đứa xuống đò. Đức ra sức cầm sào chống. Dăm phút sau đò cập bến. Chị lái đò quay mũi sang bên bờ Bắc đứng đợi.

      Sếp Cản ở nhà sàn, cách bến hai trăm mét. Đức tạt vào cửa trước, tôi đón cửa sau. Lũ chó sủa râm ran cả vùng làm sếp Cản cảnh giác. Cản đang bế con đi chơi nhà bố mẹ liền chạy về nhà lấy khẩu súng lục. Hắn vừa leo lên hai nấc thang thì bị Đức quật đổ. Tôi lấy dây triêng lưới bẻ quặt hai tay hắn ra sau lưng trói chặt. Tôi nhét cái khăn mặt vào mồm hắn. Đức kiểm tra trong người hắn thấy không có súng lục, liền nhảy lên sàn nhà thì thấy khẩu súng hắn treo nơi cột nhà sàn sát với giường nằm. Sợ anh em bà con hắn đến giải thoát tôi hô nghi binh: “Toàn đơn vị chuẩn bị chiến đấu”, rồi dắt Sếp Cản lên đò. Sếp Cản ngoan ngoãn phục tùng. Chúng tôi lên bờ được một lúc thì có tiếng chó sủa và tiếng ồn ào. Bọn địch báo động. Chúng bắn vu vơ vào núi Ba U, lên rừng Hói Gió và Cu Bận. Tôi bảo Cản ngồi xuống để tránh con mắt theo dõi của địch. Chị chèo đò vác chèo lên rồi biến mất. Tôi nói với Sếp Cản: “Chấp hành cho tốt, lần này anh lên chiến khu học tập chính trị rồi thả cho về. Nếu còn đi lính cho giặc nữa gặp lại sẽ giết không tha”. Tay bị trói, mồm bị bịt kín nhưng cái đầu của Sếp Cản cứ gật liên hồi. Tôi để Đức giải giáp Sếp Cản còn tôi quay lại lấy cuốc, giả làm một “lão nông tri điền” đang đi thăm ruộng về đã trơ trơ gốc rạ. Chúng tôi giải Sếp Cản đi qua xóm Bắc thì gặp anh Nguyễn Thưởng. Anh Thưởng nói “loại này chém đi chứ nuôi nó làm gì cho tốn cơm”. Mặt Cản xanh như tàu lá. Hắn run run, nước mắt rơi lã chã. Sếp Cản đi ngồi tù ở Trại Tranh - Đồng Lào (Tuyên Hóa). Mấy tháng sau anh ta được thả về. Anh ta không đi lính nữa. Nhưng sau này, năm 1954 anh ta theo chúa vào Nam.

      Ở làng Cồn Vượn có một kẻ bà con với anh Đức đi theo giặc. Sau mấy lần khuyên bảo anh Đức vào lính bảo vệ không được, hắn báo với đồn Minh Lệ để về bắt anh. Hoàng Đức bị địch phục kích, vây bắt nhiều lần nhưng lần nào anh cũng chạy thoát. Anh chạy ra sông lặn một hơi dài, bơi sang cồn Bông. Năm 1950, anh đã bị chỉ điểm khi mới về nhà. Giặc đã giết chết anh. Anh núp trong đám bèo Nhật Bản, dưới hố bom. Chúng chĩa súng xuống hố bom xăm từng đám bèo một. Không ăn thua, cả chục thằng ném chục quả lựu đạn xuống hố bom cùng một lúc. Anh Đức bị sức ép và trúng mảnh đạn trồi lên. Chúng dùng cuốc xĩa kéo xác anh lên rồi băm vằm anh ra thành nhiều mảnh. Đúng là loài man rợ.

                                                      *

                                               *           *

       Tháng 5 năm 1949, tôi cùng Hoàng Tích (anh trai của Hoàng Ngọc Khởi), Hoàng Hữu Thành (chồng của chị Yến bây giờ), Nguyễn Mân (con nghè Truông)... gồm mười lăm người được ông Nguyễn Xừ chọn cho trung đoàn 57 làm trinh sát tình báo. Mọi việc ở nhà giao lại cho Hoàng Hữu Nghỉnh chỉ huy đội du kích thiếu niên. (Sau đó Hoàng Hữu Nghỉnh cũng đã gia nhập quân đội, hy sinh tháng 5 năm 1953).

      Đội du kích thiếu niên bổ sung thêm các đội viên nữ như chị Hoàng Thị Hén, Hoàng Thị Phìa, Trương Thị Xiểng, Trần Thị Hồ, Trần thị Lan và các đội viên nam như Trần Nộng, Hoàng Văn Xuyển, Hoàng Thiển… Mỗi khi về trinh sát ở làng, chúng tôi lại phối hợp cộng tác rất chặt chẽ với nhau. Trong kháng chiến chống Pháp chỉ có phân khu Bình - Trị - Thiên là vùng địch tạm chiến. Phân khu Thanh Hóa và Nghệ Tĩnh là vùng tự do của Liên khu Bốn.

         Chiến dịch Hạ Sơn, bộ đội về đồng bằng - hai mươi ngày đánh mạnh. Đồng chí Lê Khánh Khang, trung đoàn trưởng trung đoàn 57 đã phát động phong trào thi đua mừng Đảng, mừng Xuân, mừng ngày tết cổ truyền của dân tộc. Lúc này toàn bộ lực lượng của trung đoàn đóng tại làng Cổ Cảng (Mai Hóa). Nhiệm vụ của tiểu đoàn 418 là phối hợp với tiểu đoàn 274 và 436 của trung đoàn 18 đánh giặc ở Quảng Bình. Mệnh lệnh là phải tiến công địch mọi lúc mọi nơi, tiến tới giải phóng vùng địch tạm chiếm. Bọn địch ở Ba Đồn không dám huênh hoang như trước nữa. Ở đâu cũng có người của ta, địa phương nào cũng có những trận phục kích nhỏ. Những chiến thắng của quân ta khắp mặt trận Bình - Trị - Thiên dồn dập truyền về làng quê bé nhỏ. Bọn lính bảo vệ trên đồn Minh Lệ hết sức hoang mang lo sợ.

       Ngày 31 tháng 10 năm 1949, qua chị Hoàng Thị Ruyển đội trưởng đội địch vận, đại úy, đồn trưởng đồn Minh Lệ, Tôn Thất Ân (người Huế) đã gửi giấy mời một chỉ huy của ta đến dự lễ Nô - en (ngày 25 tháng 12) tại nhà ga Minh Lệ. Các anh bàn bạc chọn người đại diện cho trung đoàn cử người gặp Tôn Thất Ân. Anh Hoàng Thúc Tuệ (con trai thứ ba của cụ Hoàng Bá Chuân) lúc đó là tham mưu trưởng tiểu đoàn 418 đang đóng tại Cổ Cảng, xã Mai Hóa (Tuyên Hóa). Anh Tuệ bảo tôi: “Em hồi trước hay diễn kịch, nói năng được, em thay mặt các anh đến đồn gặp Tôn Thất Ân xem thử anh ta muốn gì”. Đồng chí Nguyễn Huy Cận chỉ huy tiểu đoàn gọi tôi lên giao nhiệm vụ. Anh Phu đại đội trưởng đại đội 60 nói: “Cậu ta trém miệng, thông minh lại nói tiếng Pháp tốt nhưng có quá trẻ đi không. Theo tôi phải hóa trang lại một chút”. Chiều hôm sau anh Cận gọi tôi lên: “Cậu thử đóng một viên chỉ huy xem thử nào”. Anh hỏi một số câu để thăm dò ứng xử của tôi như thế nào. Mọi người hăng hái tìm bộ đồ cho tôi. Anh Lê Lợi trung đội trưởng trung đội tình báo cùng hai chiến sĩ Đỗ Lâm và Cù Văn Thiên theo tôi về nhà ở làng Minh Lệ. Ra đi cha tôi dặn dò rất cẩn thận. Phải tỉnh táo, uốn lưỡi trước khi nói ba lần. Tuyệt đối không được phép có một sơ hở nào. Tôi đóng bộ Piarama, đầu đội mũ biaribas, đi đôi giày vải giắt khẩu côn đu vận ở lưng quần đến gặp Tôn Thất Ân. Ban đầu tôi cũng bối rối lắm. Đã hai mươi tuổi nhưng vóc người tôi bé nhỏ, không biết đồn Ân sẽ nghĩ như thế nào khi thấy tôi. Tôi vào nhà anh Lĩnh, người bà con của tôi ở cách cổng đồn chừng ba trăm mét. Cháu Hoàng Khan (nay tên là Hoàng Hải), con trai anh thua tôi sáu tuổi nhưng lúc đó cũng cao lớn lắm. Tôi bảo cháu: “Đi mua cho chú một giác rượu”. Khan bảo “Nhà cháu cũng có rượu ngâm con rết, không biết uống có việc gì không?”. Tôi uống một chút rượu. Rượu làm tôi chắc chắn, hồng hào hơn. Tên lính gác nói giọng Huế hô: “Đứng lại xuất trình giấy tờ”. Tôi thò hai ngón tay kẹp tờ giấy đưa cho tên lính mà vẫn ngẩng mặt nhìn đi nơi khác xa xăm. Tên lính cho người gọi đồn trưởng Tôn Thất Ân xuống đón tôi dắt lên nhà ga. Tôn Thất Ân hơn tôi gần chục tuổi, ăn nói lịch thiệp. Ông ta lấy khẩu súng ngắn đặt lên bàn đẩy về phía tôi. Tôi cũng lấy khẩu côn đu đặt lên bàn. Ông Ân hỏi: “Anh đã được bao nhiêu tuổi quân rồi?”. Tôi giữ nghiêm sắc mặt: “Quân đội nhân dân Việt Nam có bao nhiêu tuổi thì tôi có bấy nhiêu tuổi quân”. Ông ta hỏi: “Ông vào đây chắc đã cho quân bao vây nơi này rồi”. Tôi không trả lời mà cười lớn làm ông ta thoáng có một chút bối rối. Lúc này tôi cảm thấy tự tin hơn.

        Tôi nói thao thao các chiến thắng của Việt Minh trên khắp chiến trường Đông Dương, đặc biệt là ở Quảng Bình. Thất bại của giặc Pháp ở Việt Nam là tất yếu. Nghe xong ông Ân hỏi: “Nếu tôi về với Việt Minh thì họ sẽ phong cho tôi cấp bậc gì?”. Tôi trả lời: “Nếu ông đem cả đồn đi theo cách mạng thì Việt Minh sẽ giữ nguyên chức vụ cũ cho ông. Ông tiếp tục chỉ huy đơn vị cũ. Nếu ông về một mình hay một bộ phận thì cấp trên tôi tùy theo đó mà bố trí nhiệm vụ thích hợp cho ông”.

      Khi về đơn vị tôi đã cố giấu việc uống rượu không cho anh Tuệ biết. Tôi lên gặp trung đoàn trưởng Lê Khánh Khang để báo cáo lại buổi gặp gỡ với đồn Ân. Lúc đó anh Khang trải bản đồ đồn hương vệ Hòa Ninh lên bàn. Các anh trong Ban tham mưu trung đoàn cùng anh Nguyễn Huy Cận ngồi nghe anh Lợi trung đội trưởng trinh sát báo cáo tình hình đàm thoại với đồn Ân trở về. Anh Khang với tay kéo tôi ngồi xuống ghế. Đến lượt tôi tường thuật lại buổi đối thoại với đồn Ân. Tôi đứng dậy diễn đạt bằng ngôn ngữ, động tác và thái độ chẳng khác gì một diễn viên trên sân khấu. Anh Khang bảo: “Cậu này mà ra vùng tự do Thanh - Nghệ -  Tĩnh để báo cáo việc đánh giặc cho bà con ngoài ấy nghe thì chắc là được cưng chiều lắm đây”. Lúc hứng khởi quá tôi đã buột miệng nói ra có uống rượu để lấy bình tĩnh. Anh Khang hỏi: “Cậu uống rượu à? Hết bao nhiêu”. Tôi bảo “Hết ba ngụm, nhưng mà rượu rết”. Tất cả mọi người đều phá lên cười. (Sau này anh Tuệ cứ khen tôi mãi về cách xử trí thông minh. Thực ra tôi cũng không ngờ lúc đó sao mà mình gan đến vậy).

                                                                   *

                                                             *             *

       Hàng ngày tôi vẫn ăn cơm trong trung đội trinh sát. Bữa cơm trưa hôm nay tôi được gọi lên ăn cơm ở nhà trung đoàn trưởng. Chẳng biết có chuyện gì không? Lòng dạ tôi thấp thỏm lo âu. Không biết tôi có để sơ suất gì lộ bí mật khi nói chuyện với đồn Ân không? Bữa ăn gồm có một đĩa muối sả, thức ăn chủ lực hàng ngày của người lính thời kháng chiến. Hôm nay có thêm một quả trứng vịt đã bóc vỏ với dĩa rau bí luộc và một bát nước chấm. Anh lấy chai rượu chiến lợi phẩm rót ra một chén trà uống trước rồi đẩy về phía tôi: “Uống đi! Cứ thoải mái”. Tôi uống luôn ba chén. Ăn xong, ngồi uống nước anh bảo: “Đồn Hòa Ninh trang bị ra sao? Địa hình thế nào?”. Tôi trình bày: “Đồn Hòa Ninh đóng sát nhà thờ. Phía nam con sông Cửa Hác. Con sông nhỏ này xé đôi mảnh đất Hòa Ninh, Vĩnh Lộc, Vĩnh Phước chạy đến Hạ Thôn sát nhập với rào Nậy sông Gianh. Phía nam giáp với cánh đồng làng Minh Lệ, phía đông giáp với Vĩnh Phú ôm lấy chợ Trường. Phía tây là thôn Cao Cựu Biên xen lẫn dân cư lương giáo. Tôi lấy các chén nước với ấm trà, chai rượu làm mô hình. Có một khẩu 12 li 7 đặt trước cửa nhà thờ, hai khẩu thượng liên 6,7 li đặt ở lỗ châu mai phía nam. Hai khẩu trung liên FM di động. Mỗi tên lính dân vệ được trang bị một khẩu súng trường Mát với 135 viên đạn gấp ba số đạn của ta. Mỗi tên đều có hai quả lựu đạn mỏ vịt.

      Ông hỏi tôi vấn đề thứ hai về ông Kiểm Khán nhân vật làm nội ứng khi ta đánh đồn hương vệ Hòa Ninh. Vấn đề này tôi phải cân nhắc thật cẩn thận khi trả lời. Tôi cam đoan là đã vận động được Kiểm Khán, ông bác họ của tôi khi ta đánh đồn nhưng không dám đảm bảo chắc chắn.

      Nghe xong anh bảo: “Cậu uống rượu có say thật nhưng không sưa. Nghĩa là cậu không có sơ hở, sai sót. Cố gắng công tác cho tốt. Sau này có điều kiện tôi sẽ cho cậu học lên, gửi ra đào tạo ở nước ngoài, cậu có thích không?” Tôi sung sướng trả lời : “Thích ạ!” 

       Xin nói thêm một chút về cuộc binh vận không thành. Nay chắc nhiều người dân Minh Lệ vẫn còn nhớ ông đồn trưởng Minh Lệ - Tôn Thất Ân. Ông là một người có cảm tình với cách mạng. Hồi đó sự phối hợp của ta với ông Ân để làm cuộc binh biến chưa được chắc chắn. Một tuần sau thực dân Pháp chuyển Tôn Thất Ân cùng trung đội dưới nhà ga đi nơi khác. Trước khi đi, ông đã lấy tiền cho bà con xung quanh chợ Cầu. Đồn Ân đã gửi cho chị Ruyển một lá thư tình đẫm đầy nước mắt. Thằng Tôn Thất Xứng, một tên tay sai khét tiếng gian ác được thực dân Pháp điều đến thay. Sau này tôi nghe chị Ruyển nói ông Ân bị bọn chỉ huy bắt vào giam trong Đồng Hới. Ông có gửi cho chị một lá thư.

      Kiểm Khán là ông bác họ của tôi. Ông làm hương kiểm để được ra chợ Trường hành nghề cắt tóc. Kiểm Khán ở sát nhà người cháu Nguyễn Tuên (Nguyễn Xuân, chồng của thím Vòi bây giờ). Tuên cũng có họ với tôi. Tôi giao cho Tuên theo dõi ông Kiểm Khán. Tôi đích thân đến nhà vận động bác gái, vợ ông khuyên chồng trở về với cách mạng thì được hưởng chính sách khoan hồng. Chúng tôi giao cho ông nắm tình hình bố phòng của đồn hương vệ Hòa Ninh.

     Ông Kiểm Khán đã dẫn tổ trinh sát của chúng tôi vào nghiên cứu thực địa cụ thể trong đồn nhiều đêm đều trót lọt. Nhưng có một điều là đi đến đâu chó sủa đến đấy râm ran dễ bị lộ. Phải tìm cách tiêu diệt bầy chó. Ông Hoàng Khắc Nhượng là chủ đại lí thuốc Bắc nổi tiếng của làng Minh Lệ. Ông Nhượng (gọi theo tên con là ông Phơ) rất vui khi đón tôi. Ông bảo tôi nấu một thúng khoai lát khô lên trộn với năm mươi đồng cân hùng hoàng. Muốn cho thơm thì lùng quanh ao bắt mấy con cua đồng nướng lên để chó dễ phát hiện mồi. Ông lấy ba thứ gói lại đem cho tôi. Tôi trả tiền nhưng ông không nhận. Ông nói: “Tôi giúp chú cũng là giúp tôi, giúp cách mạng”. Ông Khán đã bí mật thả mồi diệt chó trong đồn.

      Có thể nói trong những năm tháng địch đóng đồn tại vùng Nam Quảng Trạch, thôn Tây - Bắc là nòng cốt, xương sống của cuộc kháng chiến ở làng Minh Lệ. Hai xóm Tây - Bắc nằm giữa hai đồn hương vệ Hòa Ninh, chợ Mới và đồn bảo vệ Minh Lệ đóng trên động Lòi. Ngày trước bọn địch ở Hòa Ninh, Minh Lệ cũng tranh chấp với ta trong trận địa lòng dân. Chúng mở trường Đông - bốt - cô ở Hòa Ninh cho dân đến học (Bà con gọi là “trường cụ”). Chính vì thế chúng cũng tranh thủ được lòng dân. Nhiều người đi theo chúng.  Đồn hương vệ Hòa Ninh đã được trang bị súng và lựu đạn như quân chính quy. Chúng bắt giáo dân làm bia đỡ đạn. Cả đồn có một khẩu moócchiê chúng mới trang bị vào đầu năm 1950. Chúng bắn lên đến chiến khu Hói Gió - Thọ Linh. Lúc này đồn Minh Lệ bị dân quân du kích quấy phá liên tục, Trúc, Huỳnh không dám mò về chợ Mới nữa. Anh em hắn chạy ra ở hẳn trong đồn hương vệ Hòa Ninh.

      Trước hôm ta đánh đồn, ông Khán đã lấy được một khẩu côn đu của tên Huỳnh và 5 khẩu súng trường Mát nộp cho tôi. Trận đánh nổ ra đúng 12 giờ đêm. Ông Khán làm nội ứng, mở toang các cánh cửa hàng rào cho xung kích của ta tràn vào. Ông xông xáo chỉ từng hỏa điểm, từng trận địa của địch cho ta tiêu diệt. Tên Huỳnh và tên đồn trưởng cận thị nhảy lên đò ngư dân trốn sang Ba Đồn. Bộ đội ta kêu gọi hương vệ đến nhà thờ để nộp súng. Sáng hôm sau ông Khán dẫn bộ đội đến từng nhà dân vệ kiểm tra. Tên Cẩn đồn phó ngoan cố nằm trong cỗ quan tài. Khi hai chiến sĩ đến, Cẩn đội nắp lên bắn một chiến sĩ bị thương và hắn đã phải đền tội.

       Đập tan xong đồn hương vệ Hòa Ninh ông Khán trở về làng Minh Lệ làm ăn sinh sống. Ông hành nghề cắt tóc tại nhà. Tên Huỳnh vẫn làm cố làm tay sai cho giặc Pháp. Hắn đã liên lạc với bọn địch tại đồn Minh Lệ để trả thù ông. Vài tháng sau, chúng đột nhập xuống xóm Bắc, bắt ông vào giam ở Đồng Hới. Chúng tra tấn rất dã man. Sau hai năm ở tù, ông trốn được về làng thì giặc Pháp cũng đã rút khỏi đồn Minh Lệ. Sau ngày hòa bình lập lại ông trở thành một công dân gương mẫu trong việc xây dựng hợp tác hóa nông nghiệp. Nhưng một số cán bộ về làm việc ở xã, đặc biệt là cháu rể của ông làm công an xã đã ghi vào lí lịch các con ông “Cha làm tay sai cho địch”. Con cái ông không được đi đâu hết. Năm 1963, chấp hành chủ trương chính sách của Đảng, ông cùng gia đình di dân vào Cự Nẫm, lập làng mới ở huyện Bố Trạch. Những người lính ở quân đội về lại tỉnh nhà đã giải tỏa những ngờ vực, oan trái cho ông. Anh Tính được đi bảo vệ cầu Hiền Lương. Anh Luyện đi xây dựng nông trường. Anh Hóa cũng được đi học trung cấp chuyên nghiệp. Biết anh Nguyễn Khoa mới học xong cấp 3 ở trong Cự Nẫm chưa có ngành nghề gì, tôi đã viết giấy về gọi anh vào học trường Sư phạm (10+3) Quảng Bình.

       Ông Khán sống những năm cuối đời tại quê hương mới - làng Cự Nẫm. Ông luôn chấp hành tốt mọi chủ trương của Đảng và Nhà nước. Ông được bà con mến phục và được công nhận là một xã viên hai giỏi. 

                                                               *

                                                         *          *

     Đồn Hòa Ninh không còn, bọn địch trên đồn Minh Lệ như con bạch tuộc bị chặt đứt một cái vòi không dám hóng hách như trước. Chúng đã bị tiểu đoàn 418 và bộ đội địa phương phục kích chặn đánh tơi bời. Mười lăm đội viên lớn tuổi chúng tôi đi theo tiểu đoàn 418 thuộc trung đoàn 57 của ông Lê Khánh Khang chiến đấu khắp các chiến trường Quảng Bình. Tiểu đoàn đã nhổ bật các đồn hương vệ Đơn Sa, Hướng Phương, tiếp tục hành quân vào uy hiếp đồn Hoàn Lão. Cả tiểu đoàn đóng quân ở Lí Nhân (Nhân Trạch- Bố Trạch bây giờ). Tôi ở nhà anh Thông, thôn Lí Nhân Nam. Tại đây tôi vinh dự được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam.

        Bọn địch tập trung quân tại Đồng Hới để đánh ra Quảng Trạch. Nhận được tin tình báo, đơn vị chúng tôi tức tốc hành quân ra vùng Nam Quảng Trạch. Khi lực lượng chúng đổ quân về Thanh Khê thì tiểu đoàn 418 đã bố trí trận địa xong, đào công sự chờ giặc tới. Chúng tôi chặt cây làm ngụy trang người và công sự mới đào. Có những công sự giả cố tình phơi ra để làm trận địa nghi binh.    

       Ngày 27 tháng 2 năm 1950, giặc Pháp tập trung 6 chiếc ca nô hội quân tại Cồn Kéch rồi chạy lên dòng sông rào Nậy. Mỗi ca nô kéo theo hai chiếc ghe hoặc nôốc ở chở đầy lính. Chúng định đổ bộ vào làng Phú Trịch và Hòa Ninh càn quét vùng Nam Quảng Trạch để cắm lại đồn. Máy bay bà già của chúng bay vè vè sát mặt đất trinh sát trước. Ca nô kéo 12 chiếc ghe thuyền, nôốc ở lên đến lạch vào Hói Hác là thả lại. Bọn này chèo đò theo con sông đào từ Cửa Hác lên đánh chiếm lại đồn hương vệ Hòa Ninh. Số ca nô đi thẳng theo Rào Nậy kéo nhau lên làng Phú Trịch. Đây là lực lượng của lính ở đồn Ba Đồn, Thanh Khê lên phối hợp càn quét hỗ trợ cho lính đóng đồn hương vệ.

        Bọn địch không đổ bộ vào giữa trận địa nghi binh theo ý đồ của ta. “Phải kéo địch vào trận địa chúng ta đã bày sẵn”, là lệnh chỉ huy của tiểu đoàn. Hai đại đội trợ chiến và khinh binh ém quân trong các làng Phú Trịch, Vĩnh Lộc, Vĩnh Phước chờ quân địch lọt vào vòng vây là xung phong tràn ra. Ca nô địch bắt đầu nã đạn vào làng. Ban chỉ huy tiểu đoàn 418 đóng quân tại nhà ông Lê Yển ở Vĩnh Phước (bố của anh Lê Yến là cán bộ tổ chức Ty giáo dục Bình - Trị - Thiên sau này.

        Đường dây bị Moócchiê địch bắn đứt không nối lại được, tôi làm liên lạc cầm lệnh của tiểu đoàn chạy bộ từ sở chỉ huy tiểu đoàn về cho trung đội 21 (tăng cường cho đại đội 54), rút tiểu đội 13 và 18 về phía sau để bọc vòng ngoài. Phải dùng một tiểu đội bám trụ dụ quân giặc vào trận địa. Anh Trần Đình, trung đội trưởng trung đội 21 đã cử tiểu đội 15 của em trai mình là Trần Tình cảm tử nằm phục bên bờ sông, trung tâm rừng đước (khoảng giữa bến đò Phú Trịch với bến đò Cửa Hác). Cuộc chia tay thật cảm động. Người ở lại làm mục tiêu nhử địch kéo vào. Họ sẽ là người kéo giặc vào tử địa. Người rút ra hứa sẽ quay trở lại tiêu diệt đến tên giặc cuối cùng. Họ sẽ đánh mũi vu hồi. Mọi người dặn dò, bịn rịn chia tay nhau không một phút yếu hèn. Các chiến sĩ cảm tử nằm trong công sự dưới những lùm dứa dại dọc bờ sông chờ địch. Một cánh quân đổ bộ trên bãi hoang xuống. Bọn địch thấy quân ta ít tập trung quân hùng hổ lao lên bao vây trận địa của tiểu đội cảm tử. Hai bên bắn nhau dữ dội. Quân địch hí hửng đã tiêu diệt hết Việt Minh thì ngay lúc đó hai đại đội 54, 60 của ta từ trong các làng Phú Trịch, Vĩnh Lộc, đại đội 59 ở Vĩnh Phước tràn xuống chiếm lĩnh trận địa bao vây vòng ngoài đánh tập hậu sau lưng địch. Toàn bộ lực lượng trợ chiến và khinh binh của tiểu đoàn 418 chặn đầu, khóa đuôi quyết không cho chúng chạy xuống ca nô. Súng Chiêu Hòa bốn nòng, súng Mac xim trên bờ thi nhau khạc lửa. Ca nô giặc cuống cuồng quay mũi nhưng không kịp nữa rồi. Các chiến sĩ tràn lên hô xung phong. Những loạt đạn căm thù siết chặt đội hình quân giặc. Chúng tôi đang trả thù cho các đồng chí đây. Các chiến sĩ ai nấy mặt sạm đen khói súng, mắt sáng ngời rực lửa căm hờn đang giương lê xốc tới. Bộ đội ta hoàn toàn làm chủ chiến trường. Cánh quân của địch đi lên bằng thuyền chèo dọc theo con hói cũng bị thất bại thảm hại. Chúng bị các đại đội hỏa lực của ta bố trí tại Cửa Hác, cuối làng Hòa Ninh chặn đánh. Mấy người chủ đò nghe tiếng súng nổ đã nhảy xuống sông lặn vào bờ. Bọn địch trên đò trở tay không kịp. Trên vai chúng phải mang vác súng đạn, lợn gà gạo cơm cồng kềnh loay hoay với những chiếc thuyền bị bắn thủng không sao chèo được. Đò chìm, xác giặc chìm theo xuống tận đáy sông. Một chiếc thuyền của địch đổ bộ được lên bờ La Hà đặt Moócchiê bắn lên nhưng đã bị đại đội hỏa lực bắn áp chế, tiêu diệt. Sông Cửa Hác đỏ ngầu bởi máu giặc.

       Trận “Phú Trịch” nổi tiếng đã được nhà thơ Xuân Hoàng viết lại trong “Trường ca Phú Trịch”. Anh đã viết những dòng thơ đầy tâm trạng, nỗi day dứt của một người anh, người trung đội trưởng trung đội 21 ủy thác toàn bộ nhiệm vụ nghi binh cho đứa em trai và tiểu đội cảm tử :

Trong lùm gai hai hàm răng rít chặt

Anh chỉ huy trung đội cắn môi nhìn

Anh băng khoăn không biết chẳng hay nên

Để một tiểu đội làm hi sinh cho súng giặc

Anh nhìn họ những đội viên chất phác

Những người em đã dũng cảm cùng anh

Lăn lội xông pha khe thác suối ghềnh

Giờ phải chết do anh định đoạt

Nhưng lệnh là núi không thể được

Họ nhìn nhau một phút rồi chia tay

Kẻ ở lại ngàn đời tên cũ bia ghi

Đạn rền rỉ gió gào trên cụm dứa

- Cậu ở lại hăng lên! Ra được nhé!

- Đồng chí đi, tôi chiến đấu đến cùng!

- Thế đủ rồi! Súng vẫn nổ trên lưng

Họ cúi xuống lên cò thong thả bắn

Tám, chín, mười… màu xanh lên ánh đỏ

Hết sức rồi! Hồ Chủ tịch muôn năm!

Nhưng. Thắng quay thành bại

Đạp lên nhau lũ quỷ chạy như tà

Súng đạn lợn gà quay thục mạng

Xung phong! Xung phong! Bộ đội ào ra.

Cả hỏa lực trong làng tràn trở lại

Tặc tặc tặc Bru nin cười dữ dội

Tằng tằng tằng Lê vít rít theo sau

Rồi ép em (FM) đu dơ xết (12 li 7) nối đuôi nhau…

     Lực lượng ở Phú Trịch và Hòa Ninh đã hợp đồng tác chiến đánh tan tác hai cánh quân của địch. Kết thúc trận đánh, tiểu đoàn 418 của anh Nguyễn Huy Cận, kết hợp với đại đội 365, dân quân du kích vùng Nam Quảng Trạch đã tiêu diệt 120 tên Pháp, bắt sống 10 tên, bắn cháy 4 ca nô, bắn chìm hơn một chục ghe thuyền khác. Ta thu được 100 súng máy, 300 súng trường, 54 khẩu súng ngắn. Đạn đem về đổ ra hàng nống. Lúc này súng địch từ các đồn Minh Lệ, Ba Đồn, Tiên Lệ và Cao Lao Hạ vẫn bắn về dai như đỉa đói. Toàn đơn vị hành quân khẩn cấp về làng Cao Mại chỉ để lại một bộ phận thu dọn chiến trường. Ngày hôm sau cùng với đại đội 365, tiểu đoàn phải thuê lưới quét của làng Cồn Sẻ kéo xác giặc lên. Có những tên chưa kịp tháo giày, ba lô và súng đạn. Bọn chúng queo chân, queo tay, hai mắt vẫn mở trừng trừng. Mấy ngày sau có một thằng Tây nổi lên bị 12 con cua bám lấy rỉa xác. Ba bốn tháng sau người dân vùng Nam Quảng Trạch không dám ăn cá sông. Trong bụng những con cá to có những đốt xương ngón tay, ngón chân của giặc. Trận đó toàn bộ tiểu đội cảm tử đã hy sinh anh dũng. Họ đã ngã xuống cho trận đánh thắng lợi hoàn toàn. Anh Trần Văn Dương tiểu đoàn phó tiểu đoàn 418, bị một viên đạn lạc hy sinh. Đó là viên đạn cạc bin của địch.

      Bị đánh phá tơi bời quân địch ở Minh Lệ không dám đi đâu ra khỏi đồn. Cuối tháng tư đầu tháng năm âm lịch (1/6 dương lịch), năm 1950, giặc ở đồn Minh Lệ rút xuống Thanh Khê.

                                                         Chương 4

        Những năm tháng trong ngành giáo dục

        Năm 1952, tôi và anh Nguyễn Đồng quê ở Quảng Phong được đơn vị cho học tiếp để đi Liên Xô. Cầm giấy giới thiệu của anh Lê Khánh Khang trung đoàn trưởng trung đoàn 57, chúng tôi về trường Phan Bội Châu, kiểm tra lại trình độ văn hóa. Cả khóa có mười bảy người. Cô Tôn Nữ Xuân Cơ làm giám thị. (Sau này cô cùng tôi về công tác trong trường Sư phạm trung, sơ cấp Quảng Bình, cô Tôn Nữ Xuân Cơ làm hiệu phó nhà trường). Chúng tôi kiểm tra các môn Toán, Văn và Địa lí. Vì có trí nhớ tốt, hơn nữa ngày trước học ở trường Tiểu học Thọ Linh tôi cũng khá Toán nên tôi làm xong rất nhanh. Còn các môn Văn và Địa lí là sở trường của tôi. Khảo sát xong tôi được chọn vào lớp sáu. Đồng bỏ học lâu ngày phải học lại lớp ba. Tôi cầm giấy giới thiệu của trung đoàn trưởng Lê Khánh Khang đến gặp huyện đội trưởng huyện Tuyên Hóa là Đoàn Lượng. Đoàn Lượng cấp cho chúng tôi tờ giấy về kho nhận gạo, mỗi tháng nhận mười bảy cân. Kho gạo ở Bờ Lu Kịn (Ngư Hóa). Gạo không có, nhiều khi phải nhận ngô và khoai chuối. Cuối cùng lương thực chủ yếu là khoai chuối. Chúng tôi phải đi nhận gạo bằng thuyền độc mộc. Đi ngược thì chống chèo vất vả, khi về thuyền cứ băng băng lao vào các ghềnh đá sợ đến phát khiếp. Học xong ở Phan Bội Châu, chúng tôi ra trường Phan Đình Phùng ngoài Hà Tĩnh học tiếp. Tôi được bố trí làm Hiệu đoàn phó phụ trách học sinh toàn trường. Tôi đảm nhiệm huấn luyện về mặt quân sự. Tại đây tôi gặp những anh em người làng như Trương Chuyên, Nguyễn Quế, Trần Hữu Đồng, Hoàng Đăng Cạnh (tức Hoàng Đăng Cành, bố của cháu Hoàng Đăng Quang - Phó bí thư Tỉnh ủy hiện nay). Các anh ấy học dân lập hàng tháng phải đi bộ về nhà mang tiền gạo ra ăn. Họ là những người bạn học cùng thời với tôi trên đất Hà Tĩnh.

       Giặc Pháp đã rút hết ở Quảng Trạch, thị trấn Ba Đồn, làng quê được giải phóng. Quân ta đánh mạnh trên các chiến trường để chia lửa với mặt trận Điện Biên Phủ. Trai tráng phụ nữ cả huyện Quảng Trạch hăng hái tham gia dân công vận tải lương thực, súng đạn cho chiến trường. Cả làng Minh Lệ của tôi có đến 100 người tham gia dân công. Anh Hoàng Quyết con cụ Huyến ở xóm Bắc Minh Lệ bị sốt rét ác tính quật ngã trong một đêm rét mướt, anh hy sinh trên đường 12 lúc đang tải đạn và lương thực cho bộ đội. Lúc đó cháu Hoàng Minh Trung con anh mới được hai tuổi rưỡi.

       Chiến cuộc đông Xuân năm 1953- 1954 kết thúc thắng lợi. Chiến thắng Điện Biên Phủ làm chấn động địa cầu. Với 56 ngày đêm “khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt” những người nông dân mặc áo lính của một dân tộc nhỏ bé đã quật đổ một tên đế quốc khổng lồ, một tên thực dân cáo già lành nghề xâm lược.

      Hòa bình đã được lập lại trên miền Bắc. Tôi ra trung đoàn 57 nhận nhiệm vụ thì anh Lê Khánh Khang đã chuyển sang dân sự. Tôi gặp Trung đoàn phó Hoàng Đan (Năm 1965 anh Đan làm tư lệnh sư đoàn 304B đánh Khe Sanh và trong chiến dịch Hồ Chí Minh anh là Phó tư lệnh quân đoàn 2. Nay anh đã nghỉ hưu, mang quân hàm thiếu tướng). Anh Hoàng Đan bảo tôi hãy về nhà đợi cải cách ruộng đất xong đã rồi lại ra đơn vị. Ngay các cấp chỉ huy vẫn đang chờ cải cách xong. Tôi trở về nhà trong tâm trạng bồi hồi xen lẫn lo âu. Chủ tịch xã lúc đó là ông Hoàng Khắc Quê. Phó chủ tịch xã là Trương Sắc con mẹ Luyềng. Anh Hoàng Văn Chuể của tôi là Đảng ủy viên, chánh văn phòng Đảng ủy xã. (Anh Chuể tôi đã có vợ con, anh lấy chị Nguyễn Thị Phiềng con ông Khuyềng, cháu ruột ông Xừ. Hai anh chị sinh được hai con, một trai một gái). Anh cùng với Trương Sắc, Hoàng Dìa là những đảng viên cộng sản nhưng lúc đó bị kẻ xấu quy sai là đảng viên Quốc dân đảng. Các ông Nguyễn Xừ, Hoàng Khắc Quê, Hoàng Bá Chuân, Hoàng Đăng Thạ bị quy là địa chủ. Gia đình tôi và bố vợ tôi  bị quy là Phú nông. Cha tôi ruộng đất chỉ được sáu sào, lãnh đạo cả đàn cháu đi “làm rẹ” cho người ta nhưng vẫn kẻ xấu lợi dụng điều này để tố. Có bao người bị oan trái vì một số kẻ cơ hội trong làng muốn chia “quả thực”. Cha tôi đã phải bán hết nồi bung, mâm đồng để nộp tô. Gia đình tôi phải nộp gần một tấn lúa. Lúa không có, vợ tôi hàng ngày phải mua bòn từng mớ giữa chợ để nộp. Về sau chỉ cần nộp tiền chứ không cần nộp lúa nữa.  Anh Hoàng Văn Suyết của tôi đã mang số tiền cất giữ được hồi đi buôn bông trong Tuy Hòa (Phú Yên) cho cha tôi để nộp tô. 

      Tôi lại tiếp tục học lên để chuyển ngành sang giáo dục. Qua thời kì cải cách ruộng đất, gia đình tôi đã được trả lại thành phần “Trung nông lớp dưới” .

                                                                 *

                                                           *           *

       HÌ n¨m 1960, t«i vµo Ty gi¸o dôc Qu¶ng B×nh häc nhiÖm vô n¨m häc míi. ThÇy L­¬ng Duy T©m bÊy giê lµ c¸n bé thanh tra cña Ty gi¸o dôc Qu¶ng B×nh. Hai thÇy trß rñ nhau ra th¨m Bµu Trã. ChiÒu cuèi h¹ n¾ng vµng nh­ mËt ong. Giã nåm ®­a h¬i n­íc tõ biÓn NhËt LÖ lªn m¸t r­îi. Chóng t«i th¶ hån trong kÝ øc, ®i nhn nha däc ®­êng Quèc lé 1A, võa ®i võa nãi chuyÖn, ng¾m c¶nh hai bªn ®­êng. Chóng t«i ®i ®­îc mét c©y sè th× bçng mét chiÕc xe Jeep ch¹y tõ phÝa B¾c vµo. ChiÕc xe Jeep ch¹y qu¸ ®i mét ®o¹n råi dõng l¹i. Mét anh bé ®éi, ®éi mò b»ng, ch¹y lªn tr­íc mÆt. Ng­êi Êy ®øng nghiªm, gi¬ tay chµo thÇy T©m theo t¸c phong qu©n sù: “Th­a thÇy! Em lµ §ång SÜ Nguyªn. HiÖn nay em ®ang lµm Côc tr­ëng côc d©n qu©n. Em vµo kiÓm tra khu vùc VÜnh Linh thÇy ¹”. ThÇy T©m xóc ®éng l¾m, giäng thÇy nghÑn ngµo run run: “BiÕt råi! T«i nhí ra råi”. Hai thÇy trß «m nhau th¾m thiÕt. Mét lóc sau anh quay l¹i vÒ phÝa t«i, vÐo mét c¸i vµo m¸: “T­ëng hy sinh råi chí! VÉn nhí mÆt nh­ng mµ quªn tªn”. T«i mõng rì v× anh ®· nhËn ra t«i. T«i ®¸p: “Em nay ®æi tªn lµ Hoµng H÷u Thanh”. ThÇy T©m giíi thiÖu thªm: “CËu Êy b©y giê chuyÓn sang ngµnh gi¸o dôc råi, Thanh vµo §ång Híi häp hiÖu tr­ëng”. Anh gi¬ hai tay n¾m chÆt bµn tay thÇy T©m: “ThÇy vµ chó Thanh tiÕp tôc ®i d¹o nhÐ! Khi nµo ra Qu¶ng B×nh em sÏ ghÐ l¹i th¨m thÇy”. Anh Nguyªn ®i råi ®Ó l¹i trong lßng t«i mét nçi bïi ngïi khã t¶. B©y giê anh ®· lµ ®¹i t¸, Côc tr­ëng côc d©n qu©n. ChÝnh håi ®ang häc tr­êng TiÓu häc Thä Linh anh ®· cïng thÇy T©m ho¹t ®éng bÝ mËt. Anh ®· gi¸c ngé cho thÕ hÖ häc trß chóng t«i ®i theo c¸ch m¹ng.

     N¨m 1965 t«i lµm BÝ th­ §¶ng uû cña tr­êng s­ ph¹m cÊp 1 Qu¶ng B×nh. §Õn n¨m 1970, n¨m tr­êng trong tØnh s¸t nhËp l¹i thµnh tr­êng S­ ph¹m Qu¶ng B×nh. Đó là các trường sư phạm Trung cấp, Sơ cấp, Mẫu giáo, trường Bổ túc Văn hóa, và trường Bồi dưỡng. Tôi làm Trưởng phòng tổ chức, kiêm trưởng ban tác chiến tiểu đoàn tự vệ của nhà trường.

      N¨m 1971, tr­êng thµnh lËp 1 tiÓu ®oµn phôc vô chiÕn dÞch ®­êng 9 Nam Lµo. T­ lÖnh mÆt trËn Tr­êng S¬n lµ anh §ång SÜ Nguyªn. T«i giao qu©n cho Bé chØ huy tiÒn ph­¬ng chiÕn dÞch. ThÇy gi¸o NguyÔn V¨n B¶y, gi¸o viªn d¹y Ho¸ (ng­êi Hµ TÜnh), BÝ th­ §oµn tr­êng ®· ®­îc trao träng tr¸ch lµm tiÓu ®oµn tr­ëng. ThÇy B¶y nhËn l¸ cê “QuyÕt chiÕn quyÕt th¾ng” mµ §¶ng uû trao cho. Trong tiểu đoàn có nhiều giáo sinh người vùng Nam Quảng Trạch. Có em ở lại hẳn trong quân đội. Có em sau này xuất ngũ chuyển sang ngành khác. 

       N¨m 1974 tr­êng S­ ph¹m (10+3) Qu¶ng B×nh chuyÓn tõ xãm Cµ (Hoµ Tr¹ch- Bè Tr¹ch) vµo xãm DÐt (§ång Híi). Ty gi¸o dôc gîi ý cho tr­êng s­ ph¹m vµo Së chØ huy tiÒn ph­¬ng §oµn 559 ®ãng ë HiÒn Ninh (Qu¶ng Ninh) xin m¸y b¬m n­íc cho bÕp ¨n cña tr­êng (m¸y dïng ®iÖn do Liªn X« s¶n xuÊt). T«i gäi anh TrÇn Khoa TÕ bªn bé phËn tµi vô nhµ tr­êng cïng ®¹p xe vµo. BÊt ngê t«i gÆp l¹i anh §ång SÜ Nguyªn. Anh kÝ giÊy cho tr­êng hai chiÕc. (Anh lóc Êy lµ T­ lÖnh bé ®éi Tr­êng S¬n). T«i nh¾c l¹i håi gặp nhau tại Non Nước (Ninh Bình) anh khen đội Thiếu niên du kích làng Minh Lệ thông minh, dũng cảm, hồi c­íp chÝnh quyÒn ë Ba §ån, anh nh¾c bµ con h« khÈu hiÖu: “H« ®i! H« ®i”. NhiÒu ng­êi h« theo: “H« ®i! H« ®i”. Anh c­êi, tiÕng c­êi hån hËu nh­ ngµy nµo. Anh nãi: “CËu ®­îc c¸i nhí dai”. Chóng t«i båi håi nhí l¹i nh÷ng ngµy ®Çu tham gia c¸ch m¹ng.

     VÒ tr­êng, t«i nãi víi anh Hoµng §×nh Ng÷, bªn phßng Gi¸o vô: “Anh Nguyªn cã göi lêi th¨m anh Ng÷”. Anh Ng÷ xuýt xoa: “Anh may h¬n t«i råi. Tõ n¨m 1954 ®Õn giê, t«i ch­a mét lÇn gÆp l¹i anh Êy”.

      Phải nói tôi rất có duyên được gặp lại anh Đồng Sĩ Nguyên. Vừa rồi cháu Hoàng Minh Đức - con trai tôi có liên lạc với anh để viết bài “Nghệ thuật quân sự của Tư lệnh chiến trường Trường Sơn”, có hỏi: “Bác có nhớ ai tên là Hoàng Hữu Thanh nữa không?”. Anh Nguyên nói: “Bác đi hoạt động nhiều nơi, năm tháng qua đi bề bộn công việc nên bác cũng không nhớ nữa”. Nếu lúc đó con tôi nói tôi tên là Choát chắc anh có thể nhớ.

      Ngµy 2 th¸ng 4 (29 th¸ng 2 ©m lÞch) n¨m 2011 võa qua, hai anh em trung t­íng §ång SÜ Nguyªn- thiÕu t­íng NguyÔn Anh vµ trung t­íng NguyÔn C­êng (ch¸u cña §ång SÜ Nguyªn- T­ lÖnh qu©n khu Bèn) cïng con ch¸u ë c¸c n¬i vÒ tæ chøc lÔ mõng thä cho c¶ s¸u anh chÞ em ë x· Qu¶ng Trung. Anh NguyÔn H÷u nh lµ ng­êi em trai ót cña anh Nguyªn cã ®iÖn cho con trai t«i nãi mêi hai cha con ®Õn ch¬i. Anh NguyÔn H÷u nh nãi cã c¶ ®ång chÝ L­¬ng Ngäc BÝnh, BÝ th­ TØnh uû Qu¶ng B×nh vÒ dù n÷a. Con trai t«i vµo §ång Híi chë t«i ra nh­ng mÑ cña ch¸u ®ang bÞ cÊp cøu t¹i bÖnh viÖn ViÖt Nam- Cu Ba §ång Híi nªn ®µnh lì hÑn.

      §· nhiÒu lÇn thÊy anh trªn ti vi, nhiÒu lÇn ®äc bµi viÕt cña anh trong s¸ch, trªn b¸o, trªn m¹ng Internet. Nh­ng t«i muèn mét lÇn gÆp l¹i anh mét con ng­êi b»ng x­¬ng b»ng thÞt. Mét con ng­êi ®· bao phen lµm cho giÆc Mü ph¶i kinh hoµng. Mét con ng­êi mµ c¸c t­íng lÜnh ph­¬ng T©y ®· tõng vÝ anh nh­ mét Khæng Minh t¸i thÕ víi mét trËn ®å b¸t qu¸i xuyªn rõng rËm. Con ng­êi Êy ®· gi÷ v÷ng tuyÕn ®­êng huyÕt m¹ch Hå ChÝ Minh ®Ó hµng binh ®oµn tiÕn ra mÆt trËn, gãp phÇn lµm nªn mét mïa xu©n ®¹i th¾ng n¨m 1975...

                                                                  *

                                                           *            *

       Hòa bình lập lại, xã Quảng Minh mới xây dựng được trường cấp một chứ chưa có cấp hai. Trường Phổ thông nông nghiệp được thành lập đóng ở chòm Minh Bình dành cho học sinh lớn tuổi vùng Nam đến học. Hiệu trưởng danh dự là anh Hoàng Hữu Xí, Đảng ủy viên xã Quảng Minh. Những học sinh thi đậu cấp một phổ thông, lên học cấp hai ở Quảng Sơn. Những học sinh học hết cấp hai phải sang Ba Đồn học tiếp cấp ba.

       Những năm tháng ở trường sư phạm tôi rất chú ý đến con em Quảng Minh, đặc biệt là Minh Lệ làng tôi. Ngày mồng 5 tháng 8 năm 1964, giặc Mĩ leo thang bắn phá miền Bắc. Học sinh phải chuyển sang học ban đêm. Lần đầu tiên trường sư phạm cấp một dời về làng Cây Lim.  Lúc đó xã Quảng Minh có em Trần Hữu Cung, Nguyễn Xuân Bường. Khóa sau có Trần Thị Oanh, Nguyễn Văn Hẩu là giáo sinh làng Minh Lệ. Năm 1966, trường Sư phạm cấp 1 Quảng Bình tổ chức các đoàn thực tập về huyện Quảng Trạch trong đó có một đoàn về làng tôi.

      Những năm sau, địch đánh phá nhiều nơi trong huyện. Học sinh phải chia nhỏ ra từng nhóm học ở các thôn. Học sinh xóm Nam phải sơ tán ra xóm Bắc. Lúc đó tôi tìm xem ai học hết cấp hai trong làng mà chưa có việc làm thì gọi vào trường sư phạm học.

      Cháu Trần Thị Duyên (con ông Día), cháu Thắm (con anh Toải), Cháu Hoàng Văn Thức em trai Hoàng Văn Thể, Nguyễn Thị Kim có chồng là liệt sĩ Nguyễn Văn Thể được tôi gọi vào đầu tiên. Cháu Kim mang theo con nhỏ mới được một tuổi. Vào trường sư phạm cháu mới được kết nạp Đoàn. Cách mạng rất cần đội ngũ giáo viên có trình độ văn hóa nhưng hoàn cảnh lúc đó chiến tranh phải đào tạo cấp tốc. Nhiều cháu chưa tốt nghiệp cấp hai như cháu Trương Thị Siên, Hoàng Thị Hòe, Trần Thị Thắm, Nguyễn Quốc Phòng, cháu Chường (con ông Rặt bên Minh Tiến vv... cũng được tôi gọi vào học. Tuy thế sau khi ra trường nhiều cháu tự rèn luyện tu dưỡng thêm đã trở thành những giáo viên dạy giỏi, trở thành cán bộ lãnh đạo trong ngành giáo dục. Những giáo viên Minh Lệ bao giờ cũng đi đầu trong công tác xã hội.

       Những giáo viên đào tạo sư phạm (10+3) sau này thì đào tạo bài bản, được thử thách rèn luyện hơn nhiều. Nhiều cháu trưởng thành trong công tác làm lên đến cán bộ cấp Sở, Chủ tịch công đoàn ngành như cháu Hoàng Đức Bột (con anh Bường) và rất nhiều người làm cán bộ phòng, Chủ tịch huyện như cháu Trần Văn Sĩ (cháu nội ông Trần Dé), cháu Trần Văn Thái (con anh Trần Sinh). Và nhiều học sinh trường sư phạm hệ (10+3) được bố trí làm hiệu trưởng, hiệu phó.

       Nhìn chung hệ sư phạm (10+3) Quảng Bình có chất lượng đào tạo khá tốt. Nay em Đoàn Đức Liêm giáo sinh Sinh Hóa khóa 3 (con anh Đoàn Dọc ở Quảng Tiên) đã là Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Bình. Phan Văn Luật học sinh Toán Lí khóa 3 là Phó chủ tịch thành phố Đồng Hới, em Nguyễn Văn Sơn học sinh lớp Toán Lí B khóa 4 đã là giám đốc Sở nội vụ. Các em Lê Huấn lớp trưởng Toán Lí B khóa 4 cũng kinh qua Chủ tịch huyện Quảng Ninh và lên làm Chủ tịch Hội nông dân của tỉnh. Trần Viết Cay học sinh Toán lí A khóa 4 là Chánh văn phòng Ủy ban thành phố. Đặng Xuân Lộc giáo sinh toán lí khóa 5 nay đã là Thạc sĩ Văn học, Trưởng phòng giáo dục huyện Quảng Trạch vv...

       Trong chiến tranh rất nhiều thầy giáo Minh Lệ đã xếp bút nghiên lên đường đi giải phóng quê hương. Các em xung phong ra chiến trường như Trần Hữu Trung, Trần Quang Chữ, Trần Cừ, Hoàng Văn Hẩu. Hai em Trần Quang Chữ, Trần Cừ đã ngã xuống trong cuộc đấu tranh giữ nước vĩ đại này.

       Nhân tiện đây tôi xin nói vài nét về Trần Quang Chữ, em vợ của tôi. Trần Quang Chữ là đứa con trai út. Bà nhạc tôi sinh em lúc đã bốn mươi tám tuổi. Em vào làng Cây Lim, học trường sư phạm Sơ cấp Quảng Bình. Em ở với hai cha con tôi trong căn nhà anh Đỏ Khương, một người dân công giáo. Hồi đó tôi làm Bí thư Đảng bộ trường Sư phạm. Mỗi khi phải đi công tác, em lại thay tôi chăm sóc đứa con nhỏ mới được ba tuổi rưỡi. (Cháu học xong đại học Thủy sản vào công tác tại Tỉnh ủy tỉnh Bình Thuận).

        Ra trường, Chữ về dạy ở xã Quảng Long (Quảng Trạch) được hai năm rồi xung phong đi bộ đội. Em thuộc lực lượng “ăn cơm Bắc đánh giặc Nam”. Em ở trong nhà anh Nguyễn Văn Niệm, xã Vĩnh Sơn (Vĩnh Linh). Chữ có một chiếc đồng hồ đeo tay nhưng bị sứt quai. Chữ gửi cái đồng hồ nhờ anh Niệm cất giữ. Đêm vượt sông Hiền Lương sang đánh trận Dốc Miếu, em cầm theo cái đồng hồ để biết mà xem giờ tiến công. Trận đánh đó cả đại đội chỉ còn lại ba người. Đại đội trưởng, chiến sĩ thông tin máy mười lăm oát và chiến sĩ liên lạc. Do ta trinh sát không kĩ, nên cả đại đội đã sa vào trận địa phục kích của địch. Sau giải phóng mấy ngày là tôi vào Vĩnh Sơn gặp anh Niệm ngay. Anh Niệm kể lại rằng: ngay sau trận đánh anh hỏi cậu liên lạc “Chú Chữ đâu?”. Chiến sĩ liên lạc tần ngần một lúc rồi trả lời: “Anh Chữ hy sinh rồi”. Anh Niệm giúp tôi sang bờ Nam tìm xem có ngôi mộ nào bia khắc tên Trần Quang Chữ không nhưng thất vọng. Đã mấy lần tôi cùng các cháu vào nghĩa trang Trường Sơn nhưng không tìm được ngôi mộ nào có tên là Trần Quang Chữ. Bây giờ em nằm ở nơi đâu. Ngôi mộ gió ở nghĩa trang liệt sĩ của làng chỉ mang tính tượng trưng. Nhưng dù sao ở đâu trên đất nước Việt Nam mình cũng là quê hương cả. Máu thịt của em đã tan vào đất Mẹ. Đất nước này sẽ mãi mãi ghi công em.

      Vừa rồi, tôi về làng viếng nghĩa trang liệt sĩ. Tôi bùi ngùi thắp nén hương cho em tôi rồi đi đến từng ngôi mộ nhận mặt. Có những người là đồng ngũ của tôi trong những năm đánh Pháp. Có những người đã nằm xuống ở chiến trường xa mới được con cháu đưa về. Có những người tuổi đời còn rất trẻ. Họ đã cống hiến tuổi thanh xuân cho đất nước này vĩnh viễn tự do độc lập. Có những người liệt sĩ vô danh họ đã nằm xuống trên mảnh đất Minh Lệ làng tôi. Tôi đã bắt gặp lại Hoàng Đức, người bạn vô cùng thân thiết của tôi trong đội thiếu niên du kích năm xưa. Mộ của anh nằm dãy bên phải cổng nghĩa trang liệt sĩ. Người làm bia mộ đã khắc nhầm anh hy sinh năm 1952. Nghĩa là hai năm sau khi giặc rút khỏi đồn Minh Lệ. (Đồn Minh Lệ rút lần thứ hai vào cuối tháng tư âm lịch năm 1950 tức ngày 1 tháng 6 dương lịch). Gia đình và Ban xây dựng trùng tu nghĩa trang liệt sĩ nên xác minh để chữa bia lại cho anh.

                                                                *

                                                          *          *

     

      Trở lại chuyện nói về trường Sư phạm Quảng Bình. Th¸ng 2 n¨m 1965, hai tr­êng S­ ph¹m Trung- S¬ cÊp Qu¶ng B×nh tõ §ång Híi dêi ra V¨n Hãa, (Tuyªn Hãa). C¸c tµu h¶i qu©n cña ta ph¶i ch¹y lªn LÖ S¬n ngôy trang nÐp d­íi nh÷ng lïm c©y s¸t c¸c hßn lÌn, v¸ch nói ®¸ dùng ®øng. M¸y bay cña MÜ  ph¸t hiÖn ®­îc. Chóng ®· tËp trung ®¸nh ph¸ tµu, nÐm bom bõa b·i vµo c¸c khu d©n c­ däc hai bªn bê s«ng Gianh. Tr­íc t×nh h×nh bÊt lîi nµy, th¸ng 8 n¨m 1965, tr­êng dêi vµo vïng Ngän Rµo, (Xu©n Tr¹ch, Bè Tr¹ch). Xu©n Tr¹ch lµ mét thung lòng nhá ®­îc bao quanh b»ng mét rõng c©y cæ thô. N¬i ®©y rõng nói ©m u, tiÕp gi¸p víi ng· hai Tré Rí næi tiÕng cã nhiÒu cäp d÷. C©u ca "đØa B¸nh L¸i, kh¸i Tré Rí" ®· lµm h·i hïng bao ng­êi yÕu bãng vÝa mét thêi khi ph¶i ®i qua ®ã.

     C¸c c¬ quan d©n sù trong tØnh chuyÓn vÒ Xu©n Tr¹ch víi mËt ®é ng­êi ë kh¸ cao, cã c¶ lùc l­îng thanh niªn xung phong më ®­êng giao liªn, cã §oµn 559 cïng mét ®¬n vÞ xe t¨ng léi n­íc - PT76. Mét lÇn n÷a y ban nh©n d©n tØnh Qu¶ng B×nh l¹i ph¶i quyÕt ®Þnh chuyÓn tr­êng s­ ph¹m Trung cÊp vÒ Qu¶ng T©n (Qu¶ng Tr¹ch), tr­êng s­ ph¹m S¬ cÊp vÒ ®ãng trªn ®Þa bµn x· L©m Tr¹ch. L©m Tr¹ch lµ mét thung lòng nhá dµi 15 km, bÒ ngang trung b×nh kho¶ng ®é 400 mÐt. Hµng ngµy ®Õn 7 giê s¸ng xãm lµng vÉn ch×m trong bãng c©y, bãng nói ch­a tr«ng râ mÆt ng­êi. §©y lµ ®Þa ®iÓm lÝ t­ëng cho c¸c gi¸o sinh ®i tõ trong nhµ d©n ®Õn c¸c l¸n häc.

      Trong thời kì chiến tranh, giặc Mĩ đánh phá làng tôi rất dữ dội. Năm 1966, giặc Mĩ đánh phá đều khắp các tuyến đường sông. Chúng ném bom lân tinh, bom phốt pho xuống xóm Nam Minh Lệ. Minh Lệ là trạm trung chuyển Bắc Nam, nơi cất giấu lương thực, thực phẩm tạm thời trong nhà dân. Có trận chúng rải bom napan xuống cả xóm Nam cháy hết, trong đó có một kho đường và nước mắm kem. Vũ khí ở kho Hiệp Lực phải chuyển ra đình Minh Lệ. Và cũng từ đó toàn bộ lương thực Nhà nước gửi ngoài xóm Bắc. Ngay ở gia đình tôi cũng cất 1 tấn gạo và 5 tạ lạc. Làng tôi trong những năm đó rất đói nhưng không ai tơ hào đến một hạt gạo của Nhà nước. Có khi thuyền chở gạo bị địch đánh đắm. Người dân làng tôi lấy gạo khô của nhà mình đổi cho bộ đội và xác định đó là hạt gạo gửi ra chiến trường, hạt gạo nghĩa tình dành cho đồng bào miền Nam đánh Mĩ, không những thế xóm Bắc là nơi bộ đội an dưỡng tạm thời. Có những đồng chí bị bệnh tật đã được các mẹ chiến sĩ động viên săn sóc cho đến khi lành bệnh. Bộ đội về nghỉ một ngày ở xóm Bắc rồi đêm đến vượt sông Nan vào Cự Nẫm. Các anh các chị dân quân làng tôi đêm đêm lại chở bộ đội qua sông. Các cháu thiếu niên làm giao liên đêm đến kiệt năm thôn dẫn bộ đội về nhà nghỉ lại để hôm sau lên đường. Có một đơn vị về an dưỡng ở làng tôi gần một tháng.

       Có một đêm tháng 10 năm 1967, đứng ở sân nhà anh Đỏ Khương, làng Cây Lim tôi thấy pháo sáng địch thả đầy trời. Từ vùng Troóc đến Ba Đồn, Thanh Khê bom pháo nổ ùng oàng suốt đêm. Phía làng Minh Lệ quê tôi bom nổ ầm ầm xen với tiếng súng phòng không từ Ba Đồn, Thanh Khê đánh trả đạn bay lên rực trời. Mấy hôm sau ông Vợng đi khai hoang trên Chày ghé vào trường sư phạm thông báo: “Giặc Mĩ đánh ngoài làng mình dữ lắm. Một quả bom đánh trúng căn hầm của bà con xóm Nam ra sơ tán trên đồng Giếng Vường chết mất mười một người, trong đó có mệ Dưới. Một quả bom đánh trúng hầm bốn mẹ con cu Chề và cháu Thủng. Xác của các cháu bay ra ngoài ruộng rau muống. Quần áo rách bươm hết cả”. Tôi lặng người đi. Cháu Trần Thị Chề là con đầu của chị Suề tôi. Cháu Thủng là con trai út. Ba đứa con trai của cháu Trần Thị Chề chắc mập như ba cái cối xay đá. Chồng cháu đi bộ đội, cháu một mình ở nhà nuôi con và đánh giặc. Cháu làm trung đội trưởng trung đội trung chuyển hàng từ Minh Lệ về Khương Hà và Bến Mới. Đêm đêm cháu chở hàng đi rồi về ngủ với các con giữa đồng Nương Giữa. Đêm ấy chị Suề tôi ở lại coi ngôi nhà ven bờ sông Nan nên thoát chết. Thế là chỉ còn lại một mình chị tôi chóc vóc ở ngoài làng. Hai vợ chồng cháu Trần Hữu Tuề, một đứa đang chiến đấu ở chiến trường Lào, một đứa đi thanh niên xung phong. Thế mà tôi vẫn không về được để thắp cho các cháu tôi một nén hương. Kể từ ngày đó cho đến khi hết chiến tranh phá hoại của giặc Mĩ. Chị ra sơ tán ở nhà tôi. Tội nghiệp, mất một lúc hai đứa con, ba đứa cháu. Chị chỉ sụt sịt khóc không dám khóc to. Chị thường lấy liềm, mang sọt đi cắt cỏ giúp các con tôi để được ngồi khóc một mình ngoài đồng. Cả mấy năm trời cho đến khi vợ chồng đứa con trai từ chiến trận trở về. Lúc nào khuôn mặt của chị tôi cũng đẫm đầy nước mắt. Thương chị quá mà không biết làm sao được.

       Nh÷ng th¸ng cuèi n¨m 1967, ta liªn tôc ¸p gi¶i tï binh tõ trong Nam ra. Cuèi th¸ng 12, cã mét to¸n tï binh gåm 130 tªn, trong ®ã cã 25 tªn MÜ. Bän MÜ ph¶i thay phiªn nhau khiªng 2 tªn sÜ quan mçi khi ph¶i "hµnh qu©n" ra B¾c. LÝnh MÜ ë nhµ mÑ L¹p cïng thÇy Mai V¨n Ch­¬ng hiÖu tr­ëng tr­êng thùc hµnh (quª Qu¶ng S¬n- Qu¶ng Tr¹ch) víi 4 gi¸o sinh. MÑ L¹p cã hai c¸i nhµ ngang 3 gian, mét c¸i nhµ lín 4 gian gÇn nhµ «ng B¶ng Chñ tÞch x· vµ Ban l·nh ®¹o tr­êng s­ ph¹m. Hai sÜ quan MÜ ®­îc ¨n chÕ ®é riªng do sè tï binh nÊu n­íng, ph©n chia. Trong sè lÝnh ngôy cã mét tªn ®· tõng lµm ë V¨n phßng tæng thèng Ngôy thêi Ng« §×nh DiÖm. ThÊy gi¸o sinh n÷ ta ®Õn, h¾n vÉn n»m ngöa trªn gi­êng nhÕch mÐp c­êi ng¹o m¹n, tá ra coi th­êng. ThÊy t«i ®Õn h¾n míi ngåi dËy.

      Tại đây tôi đã gặp lại một người làng. Anh Hoàng Chề (Hoàng Tâm) em  trai của anh Hoàng Đề, chồng chị Soài tôi. Anh hơn tôi vài tuổi. Sau cách mạng Hoàng Chề cùng anh Hoàng Đề tham gia Vệ quốc đoàn. Anh Chề bị giặc Pháp bắt. Anh vào Huế lấy vợ rồi sinh con đẻ cái trong đó. Khi giặc Mĩ ồ ạt đổ quân vào miền Nam, anh Chề bị chúng bắt đi quân dịch. Tôi nói chuyện với anh trong tư thế là một người làng chứ không phải là Bí thư Đảng ủy nhà trường. Tôi nói chuyện với anh khá lâu. Mặc dù lúc đó có thể bị quy kết nhiều điều không hay. Anh cho biết trong quân đội ngụy, anh làm lính phát lương cho sĩ quan và binh lính trong sư đoàn. Anh chưa bao giờ cầm súng bắn vào nhân dân. Khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, cải tạo xong anh lại trở về Huế sống với vợ con. Các con của anh học hành rất giỏi. Cả bốn cháu đều thi đậu đại học. Có ba cháu hiện nay là bác sĩ giỏi có tiếng ở bệnh viện Trung ương Huế. 

                                                              *

                                                       *            *

      Tôi nhớ h×nh nh­ lúc đó ®¸nh h¬i ®­îc sè tï binh ®ang bÞ ta ¸p gi¶i ra B¾c theo con ®­êng giao liªn nªn m¸y bay ®Þch lång lén quÇn ®¶o suèt ngµy ®ªm. Chóng tËp trung ®¸nh chÆn c¸c ®Þa ®iÓm nghi ngê, ®¸nh vµo c¶ nhµ thê C«ng gi¸o. X· L©m Tr¹ch lµ d©n C«ng gi¸o toµn tßng, th«n nµo còng cã nhµ thê riªng. Trong ®ît nµy bµ con ®Òu sî h·i, hä vµo trong c¸c hang nói ®¸ ®Ó tró Èn. C¶ lµng chØ cã lùc l­îng d©n qu©n vµ mét sè c¸n bé chñ chèt b¸m trô. Xe chë hµng hãa, vò khÝ ®Õn binh tr¹m 20 (do ®ång chÝ NguyÔn Lù chØ huy). Lùc l­îng binh tr¹m bèc dì kh«ng kÞp, thÇy trß tr­êng s­ ph¹m S¬ cÊp Qu¶ng B×nh trë thµnh lùc l­îng t¹i chç ®Ó chuyÓn hµng vµo kho. Mäi ng­êi tÝch cùc ngôy trang xãa dÊu vÕt xe l¨n, cã mÆt kÞp thêi khi binh tr¹m cÇn ®Õn. MÆc dï ®ang gi÷a giê d¹y hay ®ang ¨n lì b÷a c¬m, nghe tiÕng sóng b¸o hiÖu lµ thÇy trß khÈn tr­¬ng ®Õn kho ®Ó chuyÓn hµng. (Lóc hµng Ýt b¾n 2 ph¸t, lóc hµng nhiÒu b¾n 3 ph¸t).

     Ngµy 10 th¸ng 12 n¨m 1967, ®ång chÝ Lù tr¹m tr­ëng lªn b¸o víi l·nh ®¹o tr­êng, lµ sÏ cã mét c¸n bé cao cÊp ®Õn b¸o c¸o t×nh h×nh chiÕn sù ë miÒn Nam cho c¸n bé 3 x· Phóc Tr¹ch, L©m Tr¹ch, Xu©n Tr¹ch vµ c¸n bé c«ng nh©n viªn toµn tr­êng cïng nghe. Lóc Êy t«i lµ BÝ th­ §¶ng ñy cña tr­êng S­ ph¹m S¬ cÊp. §ång chÝ Lù nãi víi t«i cã lÏ ph¶i m­în héi tr­êng ®Ó nãi chuyÖn. Tr­êng S­ ph¹m S¬ cÊp ®ãng ë lµng C©y Lim cã mét héi tr­êng kh¸ réng chøa ®­îc 300 ng­êi. Héi tr­êng n»m gi÷a rõng s©u cã c¸c c©y cæ thô che kÝn mÝt. §Æc biÖt xung quanh héi tr­êng cã nh÷ng bôi n©u xanh um nh­ nh÷ng c©y r¬m khæng lå cã tíi hµng tr¨m, hµng ngµn cñ. T«i giao cho ®ång chÝ Cao Gi¸p (quª ë LÖ S¬n) lóc bÊy giê lµ §¶ng ñy viªn, BÝ th­ đoµn tr­êng trang trÝ, chuÈn bÞ ®ñ chç ngåi cho mäi ng­êi ®Õn dù.

      §óng 7 giê s¸ng ngµy 12 th¸ng 12 n¨m 1967, c¸c ®¶ng viªn 3 x· cïng toµn thÓ gi¸o viªn ®Õn chËt héi tr­êng. Kh«ng cã bµn ghÕ nªn mäi ng­êi  ph¶i ngåi trªn c¸c thanh gç ®Æt ngay ng¾n hai bªn chØ chõa mét lèi nhá dµnh cho ng­êi lªn xuèng bôc nãi chuyÖn. Ba m­¬i phót sau, trªn con ®­êng nhá ven b×a rõng xuÊt hiÖn ®ång chÝ Lù cïng mÊy ®ång chÝ c«ng an vµ bé ®éi ®i víi mét phô n÷ bËn bé bµ ba ®en choµng chiÕc kh¨n r»n miÒn Nam, mang theo chiÕc ®µi Nationan tiÕn vµo héi tr­êng. Kh«ng ai b¶o ai tÊt c¶ ®øng bËt dËy vç mét trµng ph¸o tay dµi. §ång chÝ binh tr¹m tr­ëng giíi thiÖu ®©y lµ bµ NguyÔn ThÞ §Þnh, Phã Tæng t­ lÖnh qu©n gi¶i phãng miÒn Nam, bµ sÏ b¸o c¸o vÒ t×nh h×nh chiÕn sù ë trong Êy cho mäi ng­êi nghe th× mét lo¹t ph¸o tay n÷a l¹i vang lªn nh­ sÊm. Bµ kÓ nh÷ng thÊt b¹i nÆng nÒ cña MÜ ngôy trong cuéc chiÕn tranh ®Æc biÖt, cuéc chiÕn tranh côc bé còng ®ang ®i vµo thÕ ph¸ s¶n. Bµ nãi vÒ sù lín m¹nh kh«ng ngõng cña MÆt trËn d©n téc gi¶i phãng miÒn Nam, ViÖt Nam, cuéc tiÕn c«ng liªn tôc bÒn bØ vµ m¹nh mÏ víi ba mòi gi¸p c«ng lµm cho kÎ ®Þch ngµy cµng khèn ®èn. §Æc biÖt lµ cuéc ®Êu tranh chÝnh trÞ cña ®éi qu©n tãc dµi, phong trµo ph¶n chiÕn ë MÜ, c¸c cuéc biÓu t×nh chèng MÜ x©m l­îc ViÖt Nam cña lùc l­îng yªu chuéng hßa b×nh, c«ng lÝ trªn thÕ giíi. Bµ kh¼ng ®Þnh thêi k× ®en tèi ®· qua ®i, mét ngµy kh«ng xa n÷a nhÊt ®Þnh non s«ng ViÖt Nam sÏ ®­îc thèng nhÊt. Bçng bµ dõng l¹i, nh×n ®¨m ®¨m xuèng héi tr­êng vÒ phÝa «ng NguyÔn QuÕ. NguyÔn QuÕ lµ mét thñ kho cña tr­êng, «ng lµ c¸n bé miÒn Nam tËp kÕt ra B¾c theo hiÖp ®Þnh Gi¬nev¬ n¨m 1954. Bµ nãi: "Xin phÐp c¸c ®ång chÝ cho t«i ®­îc gÆp ®ång chÝ NghÜa mét l¸t". Võa nãi bµ võa b­íc vÒ phÝa «ng QuÕ: "Anh NghÜa! Sao anh l¹i cã mÆt ë ®©y?" Råi bµ quay vÒ phÝa mäi ng­êi: "Anh NghÜa lµ thñ tr­ëng cò cña t«i, anh nguyªn lµ ®¹i ®éi tr­ëng ®¹i ®éi du kÝch Ba T¬. N¨m 1947, ®¬n vÞ s¸t nhËp vµo qu©n chñ lùc. N¨m 1954, anh ®· lµ tiÓu ®oµn tr­ëng". Tíi n¬i, bµ «m chÇm lÊy «ng QuÕ, cßn «ng QuÕ xóc ®éng nghÑn ngµo kh«ng nãi lªn lêi, n­íc m¾t «ng tù nhiªn trµo ra giµn giôa. C¶ héi tr­êng lÆng im ph¨ng ph¾c, mäi ng­êi nh­ nÝn thë h­íng vÒ phÝa hai ng­êi. ¤ng QuÕ nãi giäng run run, ®øt quãng: "T«i bÞ bÖnh suyÔn ph¶i chuyÓn sang d©n sù. Ban ®Çu t«i phô tr¸ch mét ®¬n vÞ lµm kinh tÕ x©y dùng n«ng tr­êng NghÖ An. BÖnh trÇm träng t«i xin chuyÓn vÒ ®©y lµm mét nh©n viªn hµnh chÝnh th«i. T«i lµm thñ kho cña nhµ tr­êng". Bµ §Þnh th¸o chiÕc kh¨n r»n quàng vào cổ «ng QuÕ råi nghiªng m×nh lét d©y mang c¸i ®µi Nationan bªn h«ng lång vµo ®Çu cho «ng. Cßn mét ®éng t¸c n÷a khiÕn cho ai nÊy ®Òu s÷ng sê, hai tay bµ nóm lÊy nhau, bµ loay hoay lét chiÕc nhÉn vµng ®eo vµo ngãn tay «ng QuÕ. ¤ng QuÕ nãi: "§õng n÷a chÞ, chÞ cø gi÷ lÊy mµ dïng". ChÝnh bµ §Þnh còng r­ng r­ng kh«ng cÇm ®­îc n­íc m¾t. Kho¶nh kh¾c Êy c¶ héi tr­êng nh­ ch×m ®i, l¾ng xuèng. T×nh c¶m cña nh÷ng ng­êi con miÒn Nam gÆp nhau trªn ®Êt B¾c. Ai còng bïi ngïi. Chóng t«i còng xóc ®éng, båi håi kh«ng kÐm, mäi tr¸i tim nh­ cïng hßa chung nhÞp ®Ëp. Th× ra «ng QuÕ cã tªn lµ Hai NghÜa, mét bÝ danh thêi kh¸ng chiÕn chèng Ph¸p. ThÕ mµ l©u nay trong con m¾t mäi ng­êi «ng lµ mét con ng­êi giµ nua, gÇy yÕu lµm nghÒ gi÷ kho. Sau cuéc gÆp bÊt ngê, bµ §Þnh trÊn tÜnh l¹i, bµ b­íc ®Õn vÞ trÝ ban ®Çu. Bµ nãi qu©n d©n miÒn Nam ®ang g¾ng hÕt søc m×nh ®Ó tranh ®Êu cho n­íc nhµ thèng nhÊt, c¸c anh chÞ sím trë vÒ víi gia ®×nh, quª h­¬ng, lµng xãm. Bµ dõng l¹i ®Ó uèng ngôm n­íc th× c¸c anh, c¸c chÞ miÒn Nam ch¹y µo lªn v©y lÊy bµ. "Th­a chÞ t«i lµ NguyÔn Chóc ë §iÖn Bµn, Qu¶ng Nam". "T«i lµ Ng« Ch©u ë Mé §øc, Qu¶ng Ng·i". "T«i lµ NguyÔn Ngäc ë Phï C¸t, B×nh §Þnh". "Em lµ Lª Trung ThuÇn ë Hßa Vang...". C¸c chÞ TrÇn ThÞ Meng, TrÇn ThÞ Nh­ Lª, c¸c thÇy Lª Ngäc Sam, Tr­¬ng Kh¾c HiÕu, NguyÔn §øc Trinh...®Òu µo lªn giµnh nhau giíi thiÖu vÒ m×nh. NhiÒu ng­êi sôt sÞt khãc. Hä gÆp ®­îc chÞ nh­ gÆp l¹i cha mÑ, vî con, anh chÞ em m×nh sau 14 n¨m xa c¸ch.

      H¬n 10 giê tr­a, chÞ Lª ThÞ Úp lµ ®¶ng viªn cña chi bé hµnh chÝnh lµm tiÕp phÈm, dÉn hai ®ång chÝ c«ng an vµ «ng NguyÔn T­ Thoan, BÝ th­ TØnh ñy Qu¶ng B×nh ®Õn héi tr­êng. B¾t tay bµ NguyÔn ThÞ §Þnh xong, «ng Thoan dÆn dß c¸n bé, ®¶ng viªn, chiÕn sÜ cÇn nªu cao tinh thÇn c¶nh gi¸c chèng l¹i cuéc chiÕn tranh ph¸ ho¹i cña kÎ thï. Ph¶i ®µo thªm nhiÒu hÇm hµo tró Èn n÷a xung quanh líp häc, nhµ d©n, cã hµo giao th«ng vµ hè c¸ nh©n däc ®­êng ®i ®Ó tr¸nh th­¬ng vong. Mçi thÇy c« gi¸o, mçi gi¸o sinh ph¶i lµm tèt nhiÖm vô chuyªn m«n d¹y vµ häc, ®ång thêi tÝch cùc tham gia s¶n xuÊt tù tóc, phôc vô chiÕn ®Êu vµ s½n sµng chiÕn ®Êu. ¤ng khen ngîi thÇy trß tr­êng S­ ph¹m s¬ cÊp Qu¶ng B×nh ®· cïng binh tr¹m 20 kh«ng qu¶n ngµy ®ªm cho nh÷ng chuyÕn hµng ra tiÒn tuyÕn thÕ mµ vÉn gi÷ v÷ng phong trµo thi ®ua d¹y tèt häc tèt.

      Thùc tÕ nh÷ng n¨m sau, nhµ tr­êng S­ ph¹m s¬ cÊp Qu¶ng B×nh lu«n ®¶m b¶o chØ tiªu 100% gi¸o sinh tèt nghiÖp ra tr­êng. Nhµ tr­êng ®· ®i gióp d©n cÊy lóa, gÆt h¸i ë Qu¶ng Ninh, LÖ Thñy, phôc vô tèt chiÕn dÞch vËn t¶i c¸c n¨m 1968, 1969 ë Phµ Gianh, BÕn Míi, Kh­¬ng Hµ vµ ®Æc biÖt lµ tham gia chiÕn dÞch đ­êng 9 - Nam Lµo n¨m 1971. NhiÒu anh chÞ ®· hi sinh anh dòng trªn c¸c chiÕn tr­êng. Riªng «ng NguyÔn QuÕ mÆc dï bÞ bÖnh tËt nh­ng vÉn h¨ng h¸i c«ng t¸c, «ng liªn tôc ®¹t ®­îc danh hiÖu chiÕn sÜ thi ®ua hai giái. Mçi khi më ®µi cho ®ång nghiÖp, b¹n bÌ nghe «ng l¹i r­ng r­ng nhí vÒ ng­êi ®ång ®éi cò - Bµ NguyÔn ThÞ §Þnh Phã Tæng t­ lÖnh qu©n gi¶i phãng miÒn Nam.

       Trường Sư phạm Quảng Bình lúc đó tập trung cán bộ, công nhân viên đủ các địa phương từ Bắc đến Nam. Có những người từ Cà Mau, Bạc Liêu, Đồng Tháp, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hoà ra Bắc tập kết, có những người từ Hà Nội, Ninh Bình, Thái Bình, Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh học xong đại học vào đây công tác. Nhiều người đi theo trường sư phạm rồi lấy vợ ở Quảng Bình. Một số cán bộ tập kết có vợ con trong Nam họ mong ngóng ngày thống nhất Bắc - Nam. Trần Đức Dục người Hà Nội, một giáo viên trúng bom ngay trên đường về thăm vợ con. Anh là bộ đội xuất ngũ rồi đi học đại học sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội nhưng về đây dạy Nhạc. Anh sáng tác nhiều bài hát rất hay về trường sư phạm và mảnh đất, con người Quảng Bình. Vợ của anh là cô Trần Thị Bái giáo viên cấp 1 người Lệ Thuỷ dạy trong Đồng Hới.

      Sáu giờ sáng ngày 5 tháng 1 năm 1968, giặc Mĩ lại đánh vào trường. Khi tôi cùng anh Nguyễn Đình Nguyên, hiệu trưởng nhà trường đang đứng giữa sân thì em Trần Quang Chữ la lên : « Hai thầy xuống hầm ngay, máy bay địch đang bổ nhào ». Em thấy 4 chiếc máy bay F4H màu trắng loá đang lao xuống. Tôi lao đến cái kẻng gần đó giục liên hồi. Sau mấy loạt rốc két, địch ném bom sát thương. Cuối cùng chúng rải bom bi xuống khu vực trường đóng. Một giáo viên bị chết, 2 giáo sinh bị thương. Có 4 học sinh phổ thông người Ba Đồn lên đây sơ tán bị chết ngay trên đường đi học. Anh Phạm Ngọc Phú quê ở Biên Hoà, là em trai Bộ trưởng Bộ y tế Phạm Ngọc Thạch hy sinh khi đang cuốc đám đất tăng gia gần nhà. Tôi lấy chiếc chiếu của tôi cho anh nằm trong văn phòng nhà trường. (Hai đầu văn phòng có hai căn phòng nhỏ do tôi và anh Nguyễn Đình Nguyên ở). Anh Phú bị mảnh bom xuyên qua giữa ngực. Vợ của Phạm Ngọc Phú là cô Đặng Thị Lệ Hồng giáo viên cấp 2, mới sinh con được ba ngày. Cô Hồng bảo : « Thầy Thanh ơi, anh Phú nhà em có bị làm sao không ? ». Tôi nói dối là Phú chỉ bị thương và khuyên cô phải bình tĩnh ngay cả khi trường hợp xấu nhất xãy ra. Tôi cho chị em trong trường đến động viên cô từ từ chứ chưa nên cho biết vội. Tôi đến thăm hai em Lê Thị Bách Hoá và Phạm Thị Tuyết Hoa bị thương đã được chuyển đến trạm xá. Hoa đang ngất và Hoá thì rất tỉnh táo. Hoá bảo : « Em bị thương mà tỉnh thế này thì có làm sao không thầy ? Em nghe người ta nó bị thương mà tỉnh là chết ». Tôi an ủi em : « Vài ngày là em sẽ lành thôi, cố gắng để rồi đi học cùng các bạn ». Buổi chiều, sau khi hội ý lãnh đạo, tôi cho hai giáo sinh dìu Hồng đến nhìn mặt chồng lần cuối cùng. Hồng khóc như mưa. Tôi khuyên Hồng đừng khóc nữa mà cố đứng gượng dậy nuôi con khôn lớn để trả thù cho chồng. Lễ truy điệu Phạm Ngọc Phú về nơi an nghỉ cuối cùng được tổ chức tại hội trường. Tôi thay mặt Đảng uỷ nhà trường đọc điếu văn. Tôi tố cáo tội ác tày trời của đế quốc Mĩ đã gây bao đau thương tang tóc cho cả hai miền Nam - Bắc. Những người con miền Nam đi tập kết 2 năm hẹn trở về  sum họp với gia đình trong ngày Tổng tuyển cử. Nhưng giặc Mĩ và bè lũ tay sai đã ngang nhiên phá hoại hiệp nghị Giơnevơ. Chúng âm mưu chia cắt đất nước ta lâu dài, chúng giết cả những người con miền Nam ra Bắc tập kết chưa một lần được về thăm quê hương xứ sở. Đọc đến đây tôi thực sự xúc động, giọng tôi chùng xuống, nghẹn ngào. Nhiều cán bộ giáo viên miền Nam oà lên khóc nức nở. Sau này khi đã về hưu, nuôi bốn đứa con trai khôn lớn trưởng thành Hồng có viết cho tôi một lá thư nhờ thầy Thọ giáo viên Hoạ đưa đến. 

                                                            *

                                                       *        *

      Bây giờ xin nói về đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Tư Thoan với trường Sư phạm Quảng Bình. ChiÕn tranh ngµy cµng tµn khèc, Qu¶ng B×nh trë thµnh tuyÕn löa. N¨m 1967, Th­êng vô TØnh uû quyÕt ®Þnh chuyÓn c¶ hai tr­êng s­ ph¹m cÊp mét, vµ cÊp hai ra huyÖn §«ng TriÒu, tØnh Qu¶ng Ninh ®Ó s¬ t¸n. ¤ng NguyÔn §×nh Nguyªn hiÖu tr­ëng nhµ tr­êng cÊp mét ®i häp vÒ th«ng b¸o quyÕt ®Þnh chuyÓn tr­êng (do «ng NguyÔn Thanh Phong, Tr­ëng ty c«ng an lµm chñ nhiÖm phßng kh«ng cña tØnh kÝ). KÕ ho¹ch là mçi c¸n bé, gi¸o sinh ®­îc cÊp 3 ®ßn b¸nh tÐt, ¨n 3 b÷a trong ngµy 25 th¸ng 12 ®Ó v­ît qua ng· ba §ång Léc v× kh«ng thÓ dõng ch©n ®Ó nÊu n­íng (tranh thñ ngµy lÔ N«-en m¸y bay ®Þch ngõng b¾n). §éi tiÒn tr¹m ph¶i ®i tr­íc ®Ó liªn hÖ víi c¸c ®Þa ph­¬ng t×m chç ngñ cho toµn tr­êng ®Õn sau. Mçi tr­êng ph¶i cã mét ®¹i ®éi tù vÖ ®i sau cïng mang theo 40 chiÕc quan tµi cïng v¶i liÖm ®Ò phßng t×nh huèng xÊu nhÊt cã thÓ x¶y ra. TØnh cung cÊp toµn bé l­¬ng thùc b»ng g¹o, (kh«ng cã s¾n, b¾p vµ khoai chuèi) cho gi¸o sinh mang theo ¨n däc ®­êng. Tr­êng cßn ®­îc cÊp thªm 5 yÕn m× chÝnh vµ b«ng b¨ng, thuèc men ®Ó s¬ cøu kÞp thêi khi cã ng­êi bÞ th­¬ng. LÖnh ph¸t ra, nhiÒu c¸n bé c«ng nh©n viªn hít h¶i b¸n tèng, b¸n th¸o bÇu bÝ, lîn gµ s¶n xuÊt ®­îc ®Ó chuyÓn tr­êng. §a sè gi¸o sinh kh«ng kÞp vÒ b¸o tin víi gia ®×nh, c¸c em khãc nh­ m­a. Kh«ng khÝ nhµ tr­êng kh«ng kh¸c g× cã mét ®¸m tang. Tr­íc t×nh h×nh ®ã, víi c­¬ng vÞ mét BÝ th­ §¶ng uû nhµ tr­êng, t«i ®· cho häp Ban chÊp hµnh §¶ng uû bÊt th­êng. T«i ph©n tÝch: “Lµng C©y Lim n»m ë khu vùc rõng nói, xa träng ®iÓm b¾n ph¸ cña m¸y bay ®Þch, ®©u ph¶i lµ n¬i tö ®Þa. H¬n n÷a gi¸o sinh häc vÒ còng ph¶i d¹y häc trong hoµn c¶nh cã bom r¬i ®¹n næ. Ph¶i ®Ó cho gi¸o sinh t«i luyÖn trong m«i tr­êng chiÕn tranh ®Ó sau khi ra tr­êng c¸c em biÕt h­íng dÉn häc sinh tró Èn, h¹n chÕ th­¬ng vong khi m¸y bay ®Þch ®¸nh ph¸. Häc sinh Qu¶ng B×nh chÞu ®­îc, nh©n d©n Qu¶ng B×nh chÞu ®­îc th× tr­êng s­ ph¹m chÞu ®­îc”. LÝ lÏ cña t«i ®­îc toµn thÓ anh em trong th­êng vô nhÊt trÝ. T«i thay mÆt §¶ng uû ®Õn xãm Vâ ThuËn, x· T©y Tr¹ch (Bè Tr¹ch) n¬i Th­êng vô TØnh uû ®ãng ®Ó ®Ò ®¹t nguyÖn väng. C¶ ba «ng §Æng Gia TÊt, NguyÔn Bång, NguyÔn Thanh Phong lµ Th­êng vô TØnh uû ®Òu nãi kh«ng cã quyÒn phñ quyÕt. Hä nãi ph¶i vµo §¹i Phong (LÖ Thuû) ®Ó gÆp «ng NguyÔn T­ Thoan- BÝ th­ TØnh uû. Khi vµo ®Õn n¬i th× «ng Thoan ®· ra Qu¶ng Tr¹ch. §¸nh liÒu ®øng gi÷a ®­êng t«i gi¬ tay xin ®i nhê mét chiÕc xe t¶i ch¹y ra gi÷a ban ngµy tung bôi ®á mÞt mï. Anh l¸i xe ng­êi Hµ TÜnh, ®¸nh xe ra Kh­¬ng Hµ chë g¹o vµo S¬n Thuû. Nghe kÓ, anh ®éng lßng th­¬ng chë t«i ra gÇn ®Õn bÕn phµ Gianh míi quay trë l¹i. Håi ®ã giÆc MÜ tËp trung b¾n ph¸ bÕn phµ nªn c¶ dßng s«ng lÆng ng¾t. §îi m·i míi thÊy mét chiÕc thuyÒn con lÎ loi tõ trªn MÜ Tr¹ch chÌo vÒ cöa Gianh. Mõng qu¸ t«i léi µo ra s«ng gi¬ tay vÉy. Ng­êi l¸i ®ß lµ mét phô huynh cã con ®ang häc s­ ph¹m. Anh b¶o t«i lªn ®ß nhanh råi khom l­ng chÌo cÊt m¸i b¨ng b¨ng sang bê B¾c. §Õn HuyÖn uû Qu¶ng Tr¹ch th× gÆp TrÇn Quang Näng- Tr­ëng phßng tæ chøc Ty C«ng an Qu¶ng B×nh ra huyÖn nhµ c«ng t¸c. Trn Quang Nng bây giờ đã là cháu rể của tôi. Anh lấy Trần Thị Dựng đứa cháu của dì ruột tôi. TrÇn Quang Näng xuýt xoa: “¤ng Êy võa ®i Minh Ho¸ c¸ch ®©y mét tiÕng ®ång hå. S¸ng mèt, chó lªn bÕn ®ß Thä H¹ mµ chê”. Hai ngµy sau, t«i gÆp «ng NguyÔn T­ Thoan ®i cïng hai chiÕn sÜ c«ng an. ¤ng nhËn ra t«i ngay. Lªn ®Õn dèc eo ngùa ngåi ¨n c¬m n¾m t«i míi ®Ò xuÊt ý kiÕn. ¤ng bãp tr¸n suy nghÜ mét håi l©u. “T¹i sao Ban c¸n sù §¶ng, §oµn, Ngµnh kh«ng nh×n thÊy vÊn ®Ò nµy hÌ. Anh ®­a quyÕt ®Þnh ®©y”. Nãi xong «ng kª chiÕc x¾c cèt lªn ®Çu gèi viÕt:

     §Ó cã thùc tiÔn trong chiÕn tranh, gi¸o viªn ®­îc hoµn chØnh n¬i ®µo t¹o, Th­êng vô TØnh uû quyÕt ®Þnh hai tr­êng s­ ph¹m kh«ng ra s¬ t¸n §«ng TriÒu n÷a.

                                 Ngµy 15 -12-1967, BÝ th­ TØnh uû  NguyÔn T­ Thoan.

      Trao tê quyÕt ®Þnh cho t«i xong, «ng b¶o: “C¸c quyÕt ®Þnh cßn l¹i anh viÕt tiÕp ®i ®Ó t«i kÝ nèt”. Mõng qu¸ hai tay t«i run lªn kh«ng viÕt ®­îc ph¶i nhê mét ®ång chÝ c«ng an viÕt hé. Chia tay t¹i Thïng Thïng, «ng lªn Khe Ngang cßn t«i võa ®i võa ch¹y vÒ tr­êng. ThÊy t«i vÒ anh chÞ em c¸n bé, gi¸o viªn ®Õn chËt s©n, cã cËu gi¸o viªn trÎ «m lÊy t«i v¸c lªn vai mõng th¾ng lîi. Nh÷ng n¨m sau nhiÒu gi¸o sinh ra tr­êng t¹i C©y Lim v÷ng vµng tay phÊn, tay sóng d­íi lµn bom ®¹n cña kÎ thï, cã ng­êi trë thµnh dòng sÜ diÖt MÜ, cã ng­êi lµ c¸n bé qu¶n lÝ trong ngµnh, tham gia qu¶n lÝ Nhµ n­íc. NhiÒu ng­êi ®­îc c«ng nhËn lµ chiÕn sÜ thi ®ua, nhµ gi¸o ­u tó.

     Ngµy 31 th¸ng 3 n¨m 1968, Tæng thèng MÜ Gi«n- x¬n chÝnh thøc tuyªn bè ngõng nÐm bom miÒn B¾c tõ vÜ tuyÕn 20 trë ra, ®ång thêi cö ng­êi ®µm ph¸n víi ViÖt Nam t¹i Pari. M·i ®Õn n¨m 1969 miÒn B¾c míi t¹m im tiÕng sóng. Lóc nµy chñ tr­¬ng cña ta lµ tËp trung søc ng­êi, søc cña chi viÖn cho tiÒn tuyÕn, giµnh thÕ chñ ®éng trªn c¸c chiÕn tr­êng, “nãi chuyÖn” víi chÝnh phñ Mü trªn bµn ®µm ph¸n. TØnh uû Qu¶ng B×nh quyÕt ®Þnh c¸n bé, gi¸o viªn, häc sinh ph¶i “võa häc võa lµm” nh»m tù tóc ®­îc mét phÇn l­¬ng thùc vµ c¸c nhu yÕu phÈm kh¸c. Ngµy 15 th¸ng 7 n¨m 1970, TØnh uû triÖu tËp c¸c c¬ quan D©n chÝnh §¶ng t¹i héi tr­êng §øc Ninh (§ång Híi) ®Ó bµn kÕ ho¹ch chuyÓn tr­êng. ¤ng cho s¸t nhËp ba tr­êng s­ ph¹m cÊp mét, cÊp hai, mÉu gi¸o víi hai tr­êng Båi d­ìng, Bæ tóc cña tØnh l¹i lµm mét, vµo Hång Thuû (LÖ Thuû) ®Ó trång cãi. KÕ ho¹ch ®Ò ra lµ ph¶i ®¹t 80 tÊn cãi kh« trong mét n¨m. T«i nãi: “§é n«ng s©u cña ph¸ H¹c H¶i ta ch­a t­êng, h¬n n÷a nhiÖm vô chÝnh cña c¸c tr­êng lµ häc tËp, ®µo t¹o gi¸o viªn chø ®©u ph¶i s¶n xuÊt cãi l¸c”. ¤ng vÉn b×nh tÜnh ®Ó cho t«i tr×nh bµy hÕt ý kiÕn cña m×nh råi ph©n tÝch: “ChiÕn tranh ¸c liÖt. Hµng ho¸ kh«ng cã cho d©n dïng. Xµ phßng, n­íc m¾m x× dÇu ta chÕ biÕn t¹i chç ®­îc, t¹i sao chiÕc chiÕu ph¶i ch¹y ra tËn Trung ­¬ng mµ xin”. Héi nghÞ nhÊt trÝ tËp trung vÒ ®ãng ë Hång Thuû vµ Gia Ninh ®Ó trång cãi. NhËp tr­êng xong, t«i cö Lª Lîi mét gi¸o viªn VËt lÝ chÌo ®ß ®­a «ng NguyÔn T­ Thoan cïng Ban gi¸m hiÖu tr­êng ra ph¸ H¹c H¶i ®Ó kh¶o s¸t. Mùc n­íc ph¸ H¹c H¶i s©u qu¸ nªn kh«ng thÓ trång cãi ®­îc. Chóng t«i chän vïng n­íc c¹n nhÊt trång lóa “n­íc hai”. ¤ng NguyÔn T­ Thoan nãi: “Bän ®Þch rªu rao lÊp s«ng BÕn H¶i. ¢m m­u cña chóng lµ ng¨n chÆn c¸c tuyÕn ®­êng Tr­êng S¬n. Ta ®ãng qu©n ë ®©y lµm lùc l­îng dù bÞ cho chiÕn tr­êng khi cÇn ®Õn”. Thùc tÕ ®Çu n¨m 1971 ®· chøng minh ®iÒu ®ã. Trong chiÕn dÞch đ­êng 9 - Nam Lµo nhµ tr­êng s­ ph¹m Qu¶ng B×nh ®· thµnh lËp mét tiÓu ®oµn lªn ®­êng phôc vô chiÕn dÞch gÇn ba th¸ng. Cã nh÷ng gi¸o sinh ®· gia nhËp qu©n ®éi, tham gia gi¶i phãng miÒn Nam.

     Cũng những năm đó ông Nguyễn Tư Thoan là người đề xuất xây dựng công trình thủy lợi Rào Nan. Ông đi dọc sông đo chỗ cạn nhất để đắp đập. Vợ con tôi cùng bà con Minh Lệ và những người dân Quảng Trạch tập trung xây dựng công trình mặc cho bom rơi đạn nổ. Có nước Rào Nan, những ngày về hè tôi vẫn cùng bà con đi tát nước và làm cỏ lúa. Đêm đêm nước chảy trong làng nhà nào cũng tát nước vào vườn nghe tiếng ập òa. Nước Rào Nan đã cứu đói cho cả vùng Nam Quảng Trạch. 

     N¨m 1978, NguyÔn ThÞ Th¸i Hoµ con g¸i cña «ng NguyÔn T­ Thoan ®Õn nép giÊy tê vµo häc Ban To¸n LÝ tr­êng S­ ph¹m (10+3) Qu¶ng B×nh. Hoµ nãi: “Th­a thÇy, ba em nãi lóc nµo r¶nh rçi mêi thÇy ®Õn nhµ em ch¬i”. T«i b¨n kho¨n tõ ngµy chuyÓn tr­êng vÒ Cén (§ång S¬n) t«i ch­a cã dÞp ®Õn th¨m «ng. Tr­a thø b¶y t«i ®¹p xe ®Õn cöa hµng b¸ch ho¸ thÞ x·. ChÞ mËu dÞch viªn sèt s¾ng cè t×m cho t«i mét gãi trµ Ba §×nh nh­ng kh«ng cã. ¤ng Hå B¸ C¸t, Tr­ëng phßng T­ t­ëng chÝnh trÞ cña tr­êng kiÕm ®©u ®­îc mét gãi trµ Ngäc S¬n. Tèi ®ã hai chóng t«i ®Õn nhµ «ng NguyÔn T­ Thoan. ¤ng ë ng«i nhµ g hai gian ®¬n s¬ nÐp m×nh khiªm tèn phÝa sau l­ng r¹p chiÕu bãng §ång S¬n. ¤ng ®Ých th©n ra tËn cæng ®ãn, «m lÊy tõng ng­êi. “T­ëng c¸c cËu quªn mÊt m×nh råi”- «ng nãi nh­ hên dçi. ¤ng mở gãi trµ §¹i §ång cña mét ng­êi b¹n cho sau ngµy «ng nghØ c«ng t¸c ra pha. ¤ng nãi: “M×nh cã c¸i nµy ch¾c cËu Hoµng H÷u Thanh thÝch l¾m ®©y”. Nãi råi «ng l«i chai r­îu Ngò gia b× trong tñ ra mêi chóng t«i. T«i nh¾c l¹i nh÷ng kØ niÖm ngµy x­a gÆp «ng bµn viÖc chuyÓn tr­êng: “Håi ®ã tr­êng vµo Hång Thuû ch¾c anh biÕt tr­íc kÕ ho¹ch ta s¾p më chiÕn dÞch ®­êng 9 - Nam Lµo ng¨n chÆn cuéc hµnh qu©n Lam S¬n 719 cña ®Þch”. ¤ng c­êi: “§©u cã! Nh­ng håi Êy cÊp trªn ch¼ng phæ biÕn t×nh h×nh chiÕn sù bän ®Þch cã thÓ ®æ bé Qu¶ng B×nh lµ g×? M×nh vµo ®ã võa lµm kinh tÕ nh­ng còng kh¼ng ®Þnh víi ®Þch lµ qu©n d©n Qu¶ng B×nh kh«ng sî chóng”. ¤ng Hå B¸ C¸t tiÕp lêi: “Nghe nãi håi n¨m s¸u m­¬i anh ®i häc bæ tóc v¨n ho¸ do c¸c gi¸o viªn tr­êng s­ ph¹m d¹y nh­ng kh«ng ai d¸m kiÓm tra bµi cò. Anh NguyÔn C¶nh Lôc gi¸o viªn d¹y V¨n ®Æt bót chÊm xuèng tªn anh råi l¹i nhÊc lªn gäi sang ng­êi kh¸c. Anh gi¬ tay lªn nãi- Th­a thÇy t«i còng lµ mét häc viªn, t«i còng xin ®­îc kiÓm tra ®Ó biÕt khiÕm khuyÕt cña m×nh ¹. Anh Lôc kiÓm tra xong råi c¸c gi¸o viªn kh¸c míi d¸m kiÓm tra theo”. ¤ng c­êi, tiÕng c­êi gißn tan, s¶ng kho¸i: “C¸i ®ã th× ®óng. Ngµy x­a «ng cha ta xÕp theo c¸c bËc Qu©n - S­ -Phô c¬ mµ. T«i còng lµ mét häc trß. Ai mµ kh«ng tù biÕt m×nh lµ háng”. Chóng t«i ngåi ch¬i víi «ng ®Õn qu¸ nöa ®ªm. ThËt lµ mét con ng­êi ®¸ng kÝnh. ¤ng lu«n tù biÕt m×nh lµ mét ng­êi l·nh ®¹o nh­ng còng lµ mét c«ng d©n, «ng ®èi xö víi chóng t«i b»ng h÷u nh­ nh÷ng ng­êi tri kØ.

      

                                                           *

                                                      *         *

      Giặc Mĩ đã ngừng ném bom lần thứ nhất ở miền Bắc. Trường sư phạm dời về Hướng Phương- Quảng Phương (Quảng Trạch). Ngày mồng 3 tháng 9 năm 1969, Tỉnh ủy Quảng Bình thông báo Bác Hồ đã mất. Toàn trường sư phạm Quảng Bình làm lễ truy điệu. Anh Hoàng Hữu Chủng chủ trì buổi lễ. Anh Trương Sắc lúc bấy giờ là Ủy viên huyện ủy đọc lời điếu văn của đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn. Từ nay vị cha già dân tộc không còn nữa. Đau thương này thật là vô hạn, tổn thất này thật là lớn lao. Tôi thay mặt Đảng ủy trường Sư phạm Quảng Bình lên đọc quyết tâm thư. Biến đau thương thành hành động cách mạng, quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Cùng với những người cầm súng ở ngoài mặt trận, người cầm búa, cầm cày xây dựng quê hương. Chúng tôi những người thầy vẫn vững vàng trong đội ngũ chiến đấu trên mặt trận Văn hóa. Quyết tâm đưa ngành giáo dục Quảng Bình thành một tỉnh điển hình về dạy tốt và học tốt, xứng đáng với quê hương Quảng Bình “Hai giỏi”. Cả một rừng cánh tay giơ cao xin thề.

       Sau này, mỗi lần gặp nhau anh Hoàng Hữu Chủng lại nhắc về cái ngày làm lễ truy điệu Bác Hồ năm 1969, cả ba anh em thôn Tây - Bắc Minh Lệ làng mình đều lên phát biểu. Thế mới biết những người du kích Minh Lệ năm xưa nay vẫn xiết chặt tay nhau trong thời đại mới, cùng có một ước mơ dựng xây quê hương, đất nước mạnh giàu.

      Nhà trường tiếp tục mở hệ đào tạo (10+3). Đây là hệ sư phạm đầu tiên tuyển chọn học sinh tốt nghiệp cấp ba đào tạo sư phạm để dạy học sinh cấp hai của tỉnh cũng như trên toàn miền Bắc. Ngày mồng 4 tết Nguyên đán năm 1972, tôi cùng các anh Phạm Quang Quy (Trưởng ty), Đinh Xuân Tiếp (Trưởng phòng đào tạo), Lê Yến (cán bộ tổ chức) của Ty giáo dục Quảng Bình ra Hà Nội họp theo tinh thần thay sách. Địa điểm Cục Đào tạo và Bồi dưỡng ở số nhà 194 Trần Quang Khải. Tôi thay mặt trường Sư phạm (10+3) Quảng Bình báo cáo tình hình chỉ đạo và lãnh đạo của trường sư phạm trong chiến tranh. Cục Đào tạo và Bồi dưỡng yêu cầu trình bày bốn điểm:

       1)Công tác tư tưởng chính trị của giáo viên và học sinh.

       2)Báo cáo công tác bảo đảm an toàn tính mạng cho thầy và trò.

       3)Việc thực hiện chương trình chuyên môn của Bộ quy định.

       4)Tình hình thầy và trò tham gia sản xuất, chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

      Tôi trình bày từ việc học sinh tự chặt lấy gỗ để dựng lấy nhà trường và kí túc xá, đến việc tham gia sản xuất giúp dân cấy lúa gặt mùa nhưng chất lượng học tập vẫn đạt khá cao. Đặc biệt nhà trường đã thành lập một tiểu đoàn hỏa tuyến trực tiếp tham gia phục vụ chiến dịch đường 9 - Nam Lào rất tốt. Tôi báo cáo lại toàn bộ việc làm của thầy và trò như thực tế đã xảy ra ở Quảng Bình. Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên đến dự cuộc họp khá bất ngờ. Ông hỏi tôi về tiểu đoàn hỏa tuyến phục vụ chiến dịch đường 9 - Nam Lào có ai hy sinh không? Tôi thưa với Bộ trưởng không ai hy sinh cả. Chỉ bị thương một số người thôi. Ông bảo: “Đồng chí phát biểu hay lắm. Bây giờ tôi đề nghị đồng chí viết bản báo cáo kinh nghiệm và thành tích hoạt động của thầy và trò của ngành sư phạm Quảng Bình, hai tuần nữa Bộ sẽ tổ chức cho các tỉnh toàn miền Bắc đến dự. Đã nhiều lần tôi định vào trong ấy một chuyến nhưng lần nào đến Hà Tĩnh đồng chí lái xe cũng nói đường xóc, khó đi”.

      Tôi nhận nhiệm vụ xong về nhà Hoàng Văn Soảnh (tên mới là Hoàng Nam Hải) để viết. Hoàng Nam Hải là con dì út của tôi. Trong kháng chiến chống Pháp, Hoàng Nam Hải là một cán bộ tiểu đoàn trưởng của trung đoàn 95 do đồng chí Lê Tri làm trung đoàn trưởng. (Sau này đồng chí Lê Tri là trung tướng, trực tiếp chỉ huy bộ đội phòng quân không quân tiêu diệt máy bay B52 trên bầu trời Hà Nội). Hoàng Nam Hải chuyển sang dân sự phụ trách khối Thể dục - Thể thao của Bộ được ba năm thì chuyển sang Viện nghiên cứu Khoa học - Giáo dục do Giáo sư Sử học Ngô Thị Chính làm Viện trưởng. Vợ của Hoàng Nam Hải tên là Lài con bà Huể làm ở vụ Lễ tân của Bộ Ngoại giao. Hai vợ chồng ở nhà số 18, ngõ Tức Mạc cạnh ga Hàng Cỏ. Lài đã mua cho tôi một bộ Complê của một nhân viên đại sứ quán Lào để tôi ra mắt trước hội nghị.

       Sau bốn ngày tôi viết xong bản báo cáo. Tôi đến gặp Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên. Bộ trưởng tươi cười bảo: “Bây giờ công văn đang trên đường đi. Đồng chí cứ nghỉ ngơi xem lại bài viết cho thật kĩ. Cái gì cần bổ sung thì viết vào. Cần phải phổ biến kinh nghiệm để các tỉnh bạn biết dù khó khăn đến đâu Quảng Bình vẫn thi đua dạy tốt và học tốt”.

      Đúng 7 giờ sáng, tôi đến hội trường số nhà 194 Trần Quang Khải để dự hội nghị. Cuộc nói chuyện có cả phóng viên báo “Người giáo viên nhân dân” đến dự. Mọi người thứ tự vào hội trường ngồi ngay ngắn. Sau mấy lời giới thiệu ngắn gọn của đồng chí Lê Anh Nho, tôi bước lên bục nói chuyện. Ban đầu thấy người ta đến chụp ảnh tôi cũng run run. Tôi dành một buổi để báo cáo về truyền thống của quân dân Quảng Bình “Hai giỏi”. Tôi nói về người Quảng Bình không tiếc máu tiếc xương để đưa hàng hóa, đạn dược tới bà con miền Nam ruột thịt. Với khẩu hiệu “Xe chưa qua nhà không tiếc” quân dân Quảng Bình đang dồn hết sức chi viện cho chiến trường miền Nam. Tôi nói về kinh nghiệm làm nhà hầm nửa chìm nửa nổi. Học sinh Quảng Bình đội mũ rơm đến lớp biết phân biệt được quả bom rơi xuống nơi nào để tránh. Ví dụ bom đang rơi xuống vị trí mình đứng thì có dạng hình tròn, còn xa hơn là thấy thân bom dài. Tôi trình bày bằng giọng miền Trung. Ai cũng ghi chép vào một cuốn sổ. Một lúc sau thấy hàng ghế phía sau có nhiều người nhốn nháo đứng dậy, tôi thoáng băn khoăn. Sau tôi mới biết những người ngồi ghế hàng sau cố chen lên sát hàng đầu để nghe cho rõ. Tôi lấy lại bình tĩnh: “Có lẽ tôi nói giọng Quảng Bình các đồng chí nghe không rõ. Xin phép cho tôi được nói giọng miền Bắc”. Rất nhiều ý kiến của cán bộ giáo dục các tỉnh đã hỏi tôi về cách phòng tránh máy bay, phòng thực hành bố trí dưới nhà hầm thì giáo sinh thí nghiệm như thế nào, giáo sinh về thực tập ở các trường phổ thông trong hoàn cảnh có máy bay thì sinh hoạt ra sao? Chưa có giáo trình hệ (10+3) thì giáo viên tự soạn bài như thế nào?

       Tôi đã lấy dẫn chứng những giáo viên chỉ mới tốt nghiệp đại học sư phạm hệ (9+2) như tổ trưởng tổ Vật lí Nguyễn Xuân Độ, dạy sư phạm hệ (10+3) được chúng tôi gọi là “Cơm chấm cơm” mà vẫn chỉ đạo thầy và trò  khắc phục khó khăn dạy tốt học tốt. Tổ Vật lí vẫn đạt danh hiệu “Tổ đội lao động xã hội chủ nghĩa”. Họ cải tiến giáo trình hệ (7+3) trước đây và những gì họ học được hồi đang còn ngồi trên ghế giảng đường đại học để soạn bài. Ngay hiệu trưởng trường Sư phạm (10+3) Nguyễn Đình Nguyên chỉ mới tốt nghiệp đại học sư phạm hệ (9+2) vẫn chỉ đạo toàn trường hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học.

        Sau bốn ngày thảo luận, đồng chí Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên lên tổng kết hội nghị. Khi nói đến kì thi tốt nghiệp sư phạm năm học 1971-1972 sắp tới, Bộ trưởng nói: “Chính trị là gì? Chính trị là đánh Mĩ. Các đồng chí ở trường sư phạm Quảng Bình đã đánh Mĩ rất tốt. Thầy và trò Quảng Bình đã trực tiếp chiến đấu, lao động sản xuất và học tập dưới làn mưa bom bão đạn của kẻ thù. Như thế học sinh trường sư phạm Quảng Bình đã học rất tốt bộ môn chính trị. Tôi đề nghị năm nay cho học sinh trường sư phạm Quảng Bình được miễn thi môn chính trị”.

        Cuối ngày thứ tư, đồng chí Lê Anh Nho đưa cho tôi một phong bì dày gồm 480 đồng. Tôi ngạc nhiên tưởng anh đưa nhầm. Tôi nghĩ theo chế độ hiện hành thì mỗi giờ giáo viên cấp hai được trả 8 hào, mỗi giáo viên cấp ba được trả một đồng 2 hào, làm sao mà họ trả một lúc số tiền lớn hơn cả 6 tháng lương của tôi. Chị Trường Giang nói: “Anh chưa lên lớp cho cấp trên bao giờ nên anh bỡ ngỡ đó thôi. Có những người ngồi dưới nghe anh nói, họ là giáo sư, tiến sĩ cả đó”.

      Các anh họp xong đã về Quảng Bình, riêng tôi ở lại Hà Nội gần một tháng để quay rô ni ô lấy giáo trình chương trình hệ (10+3) về cho nhà trường. Trong những ngày ở Hà Nội, Hoàng Nam Hải chở tôi đi thăm các gia đình Minh Lệ sống ở thủ đô. Chúng tôi đến thăm nhà bác Hoàng Bá Chuân bằng cửa sau. Vì bác ở với anh Hoàng Thúc Cảnh ở trong Phủ Thủ tướng nên đằng trước có người gác. Bác Chuân khoe: “Bác mới làm một bài thơ, thằng bọ cu tỏ mắt đọc thử. Bác làm bài này được thủ tướng Phạm Văn Đồng khen hay đó”.

      Hoàng Nam  Hải chở tôi đi thăm Hoàng Minh Tiến (Hoàng Nghìa). Tiến bây giờ đã là một Tiến sĩ giỏi. Tôi đến thăm chị Hiệc và cháu Trần Thị Dặn (cháu nội người dì đầu của tôi). Hải đưa tôi đến chơi nhà ông Trần Bội. Ông Trần Bội là Chủ tịch đầu tiên của tỉnh Quảng Bình trong những ngày đầu cách mạng. Ông Bội ở nhà số 48 - Hàng Bồ. Hải còn chở tôi thăm một số bạn cũ vùng Nam Quảng Trạch. Bất ngờ tôi được biết Trương Cầu, người Hòa Ninh, hậu duệ Trương Hy Trọng ở làng tôi là con rể Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên. Tôi kể cho anh Cầu nghe về cuộc sống và chiến đấu của bà con  mình trong Quảng Bình. Cầu cảm động lắm. Trong những ngày ở ngoài Hà Nội tôi đã đi thăm được tất cả bốn mươi hai gia đình đồng hương.

      Một hôm, cháu Hòa, con Hoàng Nam Hải chở tôi đi thăm thú một vài nơi ở Hà Nội, vừa đến nhà thì thím Lài (vợ Hải) ở Vụ Lễ tân về bảo: “Anh Thanh ơi, sắp xếp mà về gấp. Bọn Mĩ sắp đánh Quảng Bình rồi”. Lài cho biết ngày 17 tháng 2 năm 1972, tổng thống Mĩ Richard Nixon lên đường đi thăm Trung Quốc. Ngày 6 tháng 4 năm 1972 tổng thống Mĩ Richard Nixon hạ lệnh ném bom trở lại miền Bắc Việt Nam. Hôm sau cháu Hòa tức tốc đi mua vé tàu cho tôi vào Vinh. Từ Vinh lại đi tiếp bằng ô tô. Vào đến Voi (Hà Tĩnh) thì nhà cửa ven đường đã bị ngổn ngang đổ nát. Giặc Mĩ đã ném bom trở lại miền Bắc. Một chiếc xe trúng bom còn âm ỉ cháy.

                                                                *

                                                          *           *

       Hết chiến tranh, trường sư phạm (10+3) Quảng Bình dời từ xóm Cà (Hoàn Trạch- Bố Trạch) vào Cộn (Đồng Hới). Năm 1976 nhập tỉnh, tôi cùng anh Nguyễn Đình Nguyên, hiệu trưởng nhà trường, Nguyễn Tư Phồn trưởng phòng Giáo vụ vào Huế họp. Trông thấy tôi, anh Nguyễn Đình Ngộ, Phó ty giáo dục Bình - Trị - Thiên chạy lại ôm lấy tôi mừng rỡ lắm. Cử chỉ đó làm anh Nguyên và anh Phồn vô cùng ngạc nhiên. Nguyên do là năm 1952, tôi đang học ở trường Phan Đình Phùng ngoài Hà Tĩnh, anh Nguyễn Đình Ngộ ở Thừa Thiên Huế ra xin học. Hai đứa chúng tôi cùng ở chung một nhà. Năm đó Nguyễn Đình Ngộ mới mười bảy tuổi. Cậu là con liệt sĩ hy sinh ở chiến khu, đã đỗ tú tài toàn phần của Pháp. Nguyễn Đình Ngộ có một cục vàng. Cậu đem vàng ra khoe với tôi. Tôi bảo: “Em nên cất vàng đi. Hay cất không được thì đưa đây anh giữ hộ cho”. Cậu nói: “Em cất cũng được mà”. Ngộ ở với tôi mười ngày rồi đi. Ngộ muốn học để có các kiến thức các môn xã hội của trường Phan Đình Phùng dạy nhưng thầy hiệu trưởng bảo: “Ở đây chỉ dạy đến tú tài bán phần. Em đã tốt nghiệp tú tài toàn phần, chỉ cần đọc thêm sách báo là đủ”.

       Nguyễn Đình Ngộ tiếp tục học lên, bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ Hóa học. Ngày chia tỉnh, anh đảm nhiệm chức Phó chủ tịch tỉnh Thừa Thiên Huế. Nay về hưu anh làm hiệu trưởng trường Đại học dân lập Phú Xuân. Trong nền kinh tế thị trường, nhiều vị chức sắc muốn hợp thức hóa trình độ. Các vị chạy chức chạy quyền nên xảy ra tình trạng bằng thật bằng giả lẫn lộn. Anh đã phát biểu: “Xem trường như một doanh nghiệp là không nên. Và điều này khiến nhiều người sẽ nghĩ rằng đào tạo con người là kinh doanh. Tôi không muốn biến trường thành nơi buôn bán chữ”.

        Tháng 8 năm 1977, tôi cùng Nguyễn Văn Luận (người Nghĩa Ninh) một cán bộ tổ chức trường sư phạm (10+3) Quảng Bình vào dự hội nghị tổng kết công tác tuyển sinh tại Huế. Hội nghị có đồng chí Bảy Khiêm Trưởng ty công an Bình - Trị - Thiên, đồng chí Lê Tư Sơn Phó chủ tịch tỉnh, Đặng Soạn Phó ty Lao động làm chủ tọa đoàn. Bà Ngô Thị Chính là người đầu tiên đại diện cho Ty giáo dục phát biểu. Bà Chính nói: “Chiến tranh đi qua lâu rồi. Không lí gì con em liệt sĩ chỉ thi được hai điểm rưỡi thì được ưu tiên vào học mà con một đại tá ngụy thi hai mươi chín điểm thì bị loại”. Cả hội trường xôn xao, ai nấy đều lúng túng với quan điểm bà Chính đưa ra. Được đà một cán bộ của Viện Đại học Huế khai thác tiếp: “Chúng ta làm khoa học chứ không phải làm chính trị. Nếu vì chính trị mà đào tạo nên một lớp người yếu kém để làm thầy thì hỏng mất cả xã hội”. Ngày hôm sau lại có một cán bộ phòng giáo dục Huế lên phát biểu. Lần này anh ta nói còn cay độc hơn. Anh ta lấy trường Sư phạm (10+3) Quảng Bình ra làm ví dụ. Anh ta chê đội ngũ cán bộ giáo viên trường sư phạm Quảng Bình trình độ đào tạo đã thấp lại hay máy móc, thiển cận. Cấm cả giáo sinh đang học không được yêu đương. Tôi phát hiện ra anh ta là một giáo viên dạy Địa lí có tên là Nguyễn Văn Huệ, người Thanh Hóa. Hồi trường Sư phạm Quảng Bình đóng ở xóm Cà, Huệ đã từng ăn trộm chó để làm thịt nên Hội đồng kỉ luật bắt làm bản kiểm điểm và cảnh cáo. Năm 1973, giải phóng xong Quảng Trị, Nguyễn Văn Huệ có tên trong danh sách chi viện cho Ty giáo dục Quảng Trị. Không hiểu sao Huệ lại được có mặt trong hội nghị công tác tuyển sinh này.

       Đến lượt trường Sư phạm Quảng Bình có ý kiến, đồng chí Bảy Khiêm mời tôi lên phát biểu. Tôi nói chiến tranh mới đi qua được hai năm. Kẻ thù của chúng ta vẫn còn đó. Nó tiềm ẩn trong ý thức của mỗi con người. Bọn phản cách mạng có thể ngóc đầu dậy bất cứ lúc nào. Nếu chúng ta thủ tiêu đấu tranh giai cấp thì không chừng sẽ mất nước lúc nào không hay. Chủ nghĩa đế quốc từng rêu rao: “Muốn phá tan chủ nghĩa cộng sản thì hãy đánh vào thế hệ thứ tư”. Nếu không có những liệt sĩ hy sinh xương máu vì nền độc lập của dân tộc thì thử hỏi đất nước có ngày hôm nay hay không. Chúng ta có thể được ngồi mà cãi nhau như thế này không. Những học sinh con em liệt sĩ họ sống thiếu thốn khổ cực trăm bề nên không có điều kiện học hành. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, ở Liên Xô đã có tư tưởng xét lại chống chủ nghĩa xã hội. Bây giờ ở ta đã có những người dám quên đi quá khứ. Có ai đó đã nói nếu anh bắn vào quá khứ bằng một viên đạn súng lục thì tương lai anh sẽ lãnh đủ một quả đại bác. Cậu gì ở Viện Đại học Huế phát biểu như thế là sai quan điểm, mơ hồ về chính trị, quá ấu trỉ trong đấu tranh giai cấp. Hỡi ai đã quên đi về cuộc đấu tranh giai cấp thì phải tự nhìn lại bản thân mình. Tôi nói nhiều lắm. Tôi nêu ra các luận cứ rồi lại lấy dẫn chứng để chứng minh cho lập luận của mình. Tôi đi đi, đi lại nhiều lần trên khán đài, tôi dùng hai tay để diễn giải như một nhà hùng biện. Tiêu chuẩn mỗi người chỉ được phép nói bốn mươi lăm phút nhưng tôi đã nói đến gần hai tiếng đồng hồ. Đồng chí Bảy Khiêm cứ giữ lấy chuông đồng hồ chờ tôi nói hết mới thả tay cho chuông reo. Tôi nói xong các đại biểu vỗ tay rầm trời. Trên khán đài bước xuống, nhiều cánh tay chìa ra chúc mừng tôi. Trong bữa cơm kết thúc hội nghị nhiều người đến chạm li với tôi và đến ngồi cùng mâm với tôi để nói chuyện. Anh Bảy Khiêm hỏi: “Anh Thanh học triết ở trường nào hè”. Tôi chỉ lặng lẽ mỉm cười. 

       Năm 1978, trường sư phạm (10+3) Quảng Bình tổ chức kì thi tốt nghiệp. Bà Ngô Thị Chính làm Chủ tịch Hội đồng thi. Bà ở lại Quảng Bình đến gần một tháng. Ngày nào tôi cũng đến làm việc với bà. Tôi nhắc lại lần tôi ra họp ngoài Bộ Giáo dục, Hoàng Nam Hải đã chở tôi đến Viện nghiên cứu giáo dục. Tôi đã gặp bà một lần. Rồi tôi nhắc lại cuộc khẩu chiến tại Hội nghị tổng kết công tác tuyển sinh tại Huế, bà Ngô Thị Chính chỉ cười. Tôi xếp tên sáu vị phó ty và trưởng ty giáo dục Bình - Trị - Thiên lại thành vần: Tu Từ - Chính Quy - Kì Ngộ và nói: “Bộ Giáo dục sắp xếp cán bộ ty giáo dục Bình Trị Thiên cũng chọn theo vần hè”. Bà Chính nói: “Anh Thanh cũng hài hước lắm”

       Trường Cao đẳng sư phạm Quảng Bình chuyển vào nhập với trường cao đẳng sư phạm Huế thành trường Cao đẳng sư phạm Bình Trị Thiên. Anh Phan Xuân Thụ lúc đó là trưởng phòng Tổ chức của Ty giáo dục Bình - Trị - Thiên. Anh Thụ điều tôi vào làm trưởng phòng Tổ chức trường Cao đẳng sư phạm Bình - Trị - Thiên. Lúc này chiến tranh biên giới rất căng thẳng. Tôi lại có hai đứa con trai đang tại ngũ, cháu thứ ba (Hoàng Minh Thuần) đang học trường Đại học Hải sản Nha Trang, hai đứa sau ở nhà với mẹ đang còn học phổ thông cơ sở. Tình hình kinh tế những năm tám mươi, đất nước đang bị bao vây cấm vận. Cán bộ công nhân viên lương thực mỗi tháng được 13 cân nhưng chỉ được bán sắn lát và mì hạt. Có khi không có sắn và mì hạt để bán họ thay bằng phân đạm và săm lốp xe đạp. Tôi xin Ty giáo dục ở lại Quảng Bình tăng gia sản xuất để nuôi con. Ty điều tôi về trường sư phạm Bồi dưỡng do anh Thái Hoàng làm hiệu trưởng. Chức năng nhà trường lúc này là mở các khóa bồi dưỡng cho cán bộ quản lí khu vực Quảng Bình. Tôi làm một cái nhà nho nhỏ trên sườn đồi để ở. Ngày ấy xung quanh nhà cửa còn thưa thớt lắm. Cây cỏ sim móc mọc đầy. Đất đai nhiều, tha hồ mà khai hoang trồng khoai, trồng sắn.

       Năm 1989, sau khi tôi về hưu được một năm cũng là lúc Bình - Trị - Thiên chia tỉnh. Anh Nguyễn Chất (người Quảng Thuận) về làm giám đốc Ty giáo dục Quảng Bình, anh Nguyễn Văn Hồng và Nguyễn Thế Phong về làm phó ty. Anh Hồng lên thăm nhà tôi và bảo: “Anh Thanh một đời làm trưởng phòng tổ chức cán bộ mà ở cái trại dột nát thế này à?” Anh mời tôi xuống phụ trách công tác tổ chức cán bộ cho Ty. Tôi bảo đã về hưu rồi tôi xin nghỉ ngơi để nuôi con cái trưởng thành. 

      Vĩ thanh

      Chúng tôi sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan. Suốt tám mươi năm bị thực dân Pháp đô hộ, thế hệ cha anh đã bị áp bức một cổ hai tròng. Từ ngày có ánh sáng của Đảng, của cách mạng, thế hệ chúng tôi không cam chịu phận làm tôi tớ cho giặc, không cam phận làm một người dân nô lệ. Chúng tôi đi theo Đảng và Bác Hồ giành lại gấm vóc non sông. Tuổi trẻ của chúng tôi gắn liền với binh đao trận mạc. Chúng tôi vui sướng đón chào cách mạng mùa thu rồi chín năm trường kì kháng chiến. Từ những thiếu niên du kích chúng tôi đã trưởng thành, lớn lên cùng đất nước. Đất nước có chiến tranh. Chúng tôi lại theo bước cha anh xung phong đi giết giặc. Hòa bình lập lại, mỗi người một việc cùng xây dựng quê hương. Có những người thông minh, học giỏi như anh Hoàng Thúc Tấn (con cụ Bộ Trình) làm đến chức Thứ trưởng, Phó chủ nhiệm Văn phòng chính phủ rồi làm Phó đại diện thường trực của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Hội đồng Tương trợ Kinh tế (Khối SEV). Các anh em anh đều là những người nổi tiếng của làng. Các anh như Trương Huế, Hoàng Hữu Ban, người thì dạy trường đại học Bách khoa, người làm đến Vụ trưởng. Có những người nổi tiếng như liệt sĩ Nguyễn Hoàng Lưu con cụ Cửu Ngô. Anh đã làm được thước ngắm pháo binh, được giới quân sự thế giới đánh giá cao. Chính nhờ cống hiến xuất sắc của anh Nguyễn Hoàng Lưu cho quân đội, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã mời cụ Cửu Ngô ra sống tại Hà Nội cùng các con, cháu cụ. Bạn học cùng lớp với tôi ngày xưa ở trường Tiểu học Thọ Linh đa số tham gia cách mạng và phần lớn họ đã chết. Cũng có những người bám trụ quê hương cầm cày cầm cuốc nay về già lại mang đủ mọi thứ bệnh tật mà qua đời. Có những người cuộc sống còn khổ cực lắm. Dù không làm được ông nọ bà kia, dù không được người đời để ý đến. Nhưng có một điều mà chúng tôi rất tự hào là dù cuộc sống bị đọa đày, nghèo khổ đến mấy, trong chúng tôi không có ai chịu sống hèn, không ai chịu quỳ gối đi làm tay sai cho giặc.

      

                                                                 *

                                                           *          *

        Rời quân đội tôi đi theo sự nghiệp trồng người. Đất nước lại có chiến tranh. Mĩ - Diệm bội ước hiệp nghị Giơnevơ, âm mưu chia cắt đất nước ta lâu dài. Sông Bến Hải như một nhát cắt đau thương giữa thân mình đất Mẹ Việt Nam. Dải đất miền Trung lại trở thành bãi chiến trường giữa hai trận tuyến. Giặc Mĩ leo thang đánh phá miền Bắc, Quảng Bình trở thành tuyến lửa. Làng tôi trở thành làng mặt trận, thành tọa độ lửa, trọng điểm đánh phá của máy bay địch. Xóm Bắc, xóm Nam lửa cháy ngút trời, hình như tuần nào cũng có người chết. Thế mà người dân Minh Lệ làng tôi vẫn đảm bảo: “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Thanh niên Minh Lệ lớn lên nối tiếp nhau lên đường ra mặt trận.

      Trong công cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, tôi theo trường sư phạm Quảng Bình đi hết miền đất này đến miền đất khác. Từ Bố Trạch, Tuyên Hóa, Quảng Trạch rồi vào Quảng Ninh, Lệ Thủy, Đồng Hới. Nay ngẫm lại cuộc đời đã hơn tám mươi xuân. Cuộc đời con người sống là cho chết cũng là cho. Trong cuốn tiểu thuyết “Thép đã tôi thế đấy” của nhà văn Nga Nhicalai Axtơ rốp xki, nhân vật Pa - ven Ca-rơ-sa-ghin đã nói: “Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng phải sống hoài sống phí. Cho khỏi hổ thẹn về dĩ vãng ti tiện và hèn đốn của mình. Để khi nhắm mắt xuôi tay đôi môi ta có thể nở một nụ cười mãn nguyện”.

       Tôi đã sống như cha ông mình đã sống, không cúi luồn nịnh bợ, cũng không xỏ xiên tàn ác với người khác. Nối tiếp truyền thống của gia đình, năm đứa con tôi đứa nào cũng ngoan, đứa nào cũng biết thương người. Đứa con đầu của tôi (Hoàng Minh Đức) nuôi hai cháu mồ côi. Đứa con trai của Đức là cháu Hoàng Thanh Hà, hồi đang đi học Hà đã bao lần cứu người bị nạn. Tôi dạy cho các con tôi cái tâm, cái đức để làm người. Tôi nghiệm ra một điều - mình giúp người này thì có người khác giúp lại mình. Giúp người không phải để chờ người trả ơn. Người không trả thì có ông trời trả. Mình sống sao cho cái phúc cái đức để lại cho con cái, cháu chắt mình sau này. Cả năm đứa con tôi sống bằng năng lực lao động của chúng. Ba đứa con ở quê nhà theo nghề dạy học của cha. Hai đứa con trai dạy ở huyện nhà. Đứa con gái thứ tư (Hoàng Thị Lệ) dạy ở trường Chuyên Quảng Bình trong Đồng Hới. Cháu năm nào cũng có học sinh giỏi đạt giải Quốc gia, năm nào cũng có bằng khen của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Bình. Hai đứa con (thứ ba và thứ năm) vào Nam sống trong thành phố Phan Thiết tỉnh Bình Thuận. Vợ của hai cháu đều làm bác sĩ ở bệnh viện thành phố.

       Suốt cuộc đời tôi đi công tác xa nhà. Vợ chồng gặp nhau như ông ngâu bà ngâu. Nhưng mỗi khi về làng tôi lại cùng bà con, xã viên trong đội cày bừa, đập đất, cào vồng khoai, làm cỏ lúa. Tôi về làng hái củi, chặt giang, “ăn” lá nón. Thời làm ăn hợp tác, mỗi ngày công chỉ được vài ba lạng thóc nên trường sư phạm chuyển đến nơi nào tôi cũng tranh thủ cuốc đất tăng gia. Tôi nuôi con lợn con gà trồng khoai trồng sắn chở về nuôi vợ con, phải “Tự cứu mình trước khi trời cứu”.

        Có thể nói suốt cuộc đời tôi lao động cho đến lúc già không bao giờ ngơi nghỉ. Về hưu, tôi trồng vườn và chăn nuôi trong thành phố Đồng Hới. Vợ tôi đi nuôi cháu cho các con công tác. Sau hơn năm chục năm xa cách, hai vợ chồng chúng tôi chung sống với nhau không được bao lâu thì lại thay nhau vào bệnh viện. Cuộc đời con người ai rồi cũng có lúc trở về với cỏ. Mỗi con người đều có một số phận, bươn tẩu làm chi cho cực thân. Trời cho ai thì người ấy nhận. Cuối cùng rồi ai cũng nằm sâu dưới ba thước đất. Thân cát bụi lại trở về với cát bụi.

       Trước lúc kết thúc cuốn hồi kí này tôi cũng cần phải viết thêm về những con người thế hệ trước tôi, những người nhập ngũ tham gia chiến tranh, một thời đạn bom, một thời máu lửa. Có những người lính già đáng được ghi trong sử sách của làng như các anh Trần Duệ, Trần Hà, Hoàng Xanh, Hoàng Điếu, Hoàng Đăng Duể, Hoàng Tó, Hoàng Phỉa, Hoàng Cam, Hoàng Hữu Đồng, Hoàng Han, Hoàng Hữu Thiền, Trần Quang Nọng, Hoàng Đăng San, Hoàng Chưa (nay mang tên con thường gọi là ông Dộ). …vv. Các anh ra đi chiến đấu từ thuở mái tóc còn xanh, nay về già phơ phơ đầu bạc. Có những người đã nằm lại nơi cánh rừng xa nay thịt xương đã tan vào đất Mẹ.

       Trong cuộc chiến tranh chống Mĩ cứu nước, các anh Nguyễn Hoàng Lưu, Hoàng Phỉa, Trần Đình Dẻng, Trần Chuể, Trần Ruệ, Trần Quang Chữ, Trần Cừ và bao người khác đã ngã xuống ở chiến trường miền Nam và hai nước bạn Lào, Cămpuchia. Đặc biệt liệt sĩ Trần Đình Dẻng ngã xuống khi đất nước đã im tiếng súng trên hai miền Nam Bắc. Anh là sĩ quan tình báo của Cục 2, anh hi sinh năm 1987 khi đang làm nghĩa vụ quốc tế cao cả ở Cămpuchia.

       Trong hai cuộc chiến tranh, nghĩa trang làng ta đã có 186 liệt sĩ nhưng bia mộ ghi sai sót khá nhiều. Anh Hoàng Văn Dạo hy sinh trong trận ca nô địch đỗ bộ lên chợ Mới tháng 4 năm 1947, nhưng bia mộ ghi “hy sinh tháng 12 năm 1947” là sai. Lúc ấy địch chưa đóng đồn Minh Lệ. Em Trần Quang Chữ thì bia mộ khắc là Trần Quốc Chữ. Liệt sĩ Trương Suấc bị thương năm 1949, vết thương tái phát, hy sinh năm 1957 thì ghi là hy sinh năm 1952. Cháu Trương Minh Luật con trai anh tuổi Ngọ (sinh đầu năm 1955)…

                                                                    *

                                                               *        *

 

       Tôi cũng muốn viết thêm vài nét về dòng họ các anh Hoàng Hữu Xứng, Hoàng Hữu Đản, Hoàng Hữu Sam, những người con họ Hoàng gốc Mạc. Trong làng tôi bà con vẫn nhắc nhiều về dòng họ này. Các anh là những nhà giáo lão thành. Sau cách mạng, anh Hoàng Hữu Xứng làm phó chủ tịch huyện Quảng Trạch, sau nhiều năm dạy học trong tỉnh anh đã ra dạy ngoại ngữ tại trường đại học sư phạm Hà Nội. Con cháu anh đều là những người thông minh, học giỏi và thành đạt. Anh Hoàng Hữu Sam dạy các trường cấp 2, cấp 3 và trường Cao đẳng sư phạm Huế. Đặc biệt anh Hoàng Hữu Đản là nhà Văn, nhà dịch thuật nổi tiếng thế giới. Anh biết nhiều ngoại ngữ, và là một dịch giả uy tín trong mảng văn chương cổ điển Pháp, Hy Lạp, La Mã. Anh dịch các tác phẩm kinh điển của Hy Lạp ra tiếng Việt. Phiên bản MobileAnh dịch Iliad - Odysée, tác phẩm của Aristophane, Virgil và nhiều tác phẩm sân khấu hài kịch nổi tiếng của La Mã. Anh còn dịch văn học Việt sang Pháp như tập thơ song ngữ “Ánh trăng” - tuyển thơ Việt Nam của nhiều tác giả, “Quà muộn” - tập truyện ngắn của nhà văn Nguyên Hương, “Thi Vân Yên Tử” của Hoàng Quang Thuận, thơ của Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử…Anh còn dịch “Nỗi buồn chiến tranh” của nhà văn Bảo Ninh sang tiếng Anh. Anh là một nhà thơ, nhà viết kịch nổi tiếng. Tác phẩm “Bí mật vườn Lệ Chi” đã được sân khấu Idécaf dựng và đạt giải thưởng của Hội sân khấu năm 2000. Ngoài ra anh còn làm thơ, viết chuyên luận về sân khấu và có nhiều bài bút kí xuất sắc.21

      Các em, các cháu Hoàng Nghìa (Hoàng Minh Tiến), Hoàng Quý Thân, Nguyễn Thừa, Trần Nghi, Trần Bình, Trần Ngọc Vương, Trương Minh Dục là những Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ cả nước đều biết đến. Cháu Hoàng Minh Tuy một hiệu phó trường Chuyên của tỉnh Quảng Bình người đã được chính phủ phong tặng huân chương lao động.

       Bên cạnh hai nhà họ Hoàng gốc Mạc nổi tiếng, con cháu học hành thành đạt nhất nhì làng, còn có những gia đình cuộc sống khó khăn, bần hàn nhưng vẫn nuôi con cái trưởng thành. Thế hệ sau, con cháu chúng ta cũng có những người làm rạng danh cho làng như các con của anh Hoàng Chưa (thường gọi theo tên con đầu- ông Dộ) là Hoàng Trung Trực, Hoàng Kim, những con người thông minh nổi tiếng, kiên cường trong đánh giặc và có bản lĩnh trong nghiên cứu khoa học. Hoàng Trung Trực và Hoàng Kim là hai người lính đã từng lăn lộn trên các chiến trường miền Nam và nước bạn Căm pu chia. Hòa bình, Hoàng Trung Trực tiếp tục ở lại xây dựng quân đội, Hoàng Kim trở lại giảng đường học tiếp rồi dạy trường Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh. Kim là một chuyên gia nông học, một tiến sĩ Khoa học nông nghiệp có tiếng tại Việt Nam. Cháu có nhiều đầu sách tiếng Việt và hai đầu sách chuyên khảo tiếng Anh, là tác giả của 78 bài báo khoa học, trong đó có 41 bài tiếng Anh. Hoàng Kim là tác giả và đồng tác giả của nhiều công trình nghiên cứu khoa học về giống cây trồng tốt. Kim đã tạo ra được giống sắn KM140, đạt giải nhất Hội thi sáng tạo kỉ thuật toàn quốc VÌOTEC lần thứ 10 năm 2010.

 

      Nhà anh Trần Quých (thường gọi theo tên người con đầu là anh Tềnh). Hai anh chị không có điều kiện học hành nhưng các con anh, trừ cháu Tềnh là người mất sớm thì năm đứa con còn lại đều tốt nghiệp đại học. Bài thi đại học của cháu Trần Ngọc Vương vào Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn được tuyển chọn vào cuốn tuyển tập những bài văn hay do Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp ấn hành. Năm 1976, Vương được giữ lại giảng dạy tại trường và nay là phó giáo sư - Tiến sĩ, là Nhà giáo ưu tú giảng dạy và nghiên cứu khoa Văn học của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Trần Ngọc Vương có 5 năm làm luận án Tiến sĩ tại Liên Xô, có nhiều công trình nghiên cứu văn học nổi tiếng trong nước và thế giới. Đặc biệt luận văn tốt nghiệp “Sự thống nhất giữa các mâu thuẫn trong tư tưởng và trong sáng tác của Tản Đà” đã được in trong tuyển tập Văn học Việt Nam. Trần Ngọc Vương có 60 bài báo về khoa học, (có mười bài viết bằng tiếng nước ngoài), có 3 chục giáo trình, chuyên khảo, sách tham khảo được các nhà xuất bản hàng đầu của Việt Nam đăng tải. Cháu đã được nhiều trường đại học có danh tiếng trên thế giới mời đến dạy. Đặc biệt Trần Ngọc Vương là  trưởng đoàn của Việt Nam đến Đại học Harvard (Hoa Kì) dự hội thảo về vua Trần Nhân Tông.

 

   Nhà ông Trần Chất  (gọi theo tên con là ông Ngật - anh trai của anh Trần Hữu Phất) có hai người con và một người cháu thành đạt. Hai con ông là Trần Nghi- Giáo sư, Tiến sĩ và Trần Bình- Phó giáo sư, Tiến sĩ. Cháu Hoàng Đăng Quang, cháu ngoại của ông Ngật nay là Phó bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình rất có công lớn với làng. Cháu đã có một số dự án về xây dựng và kiến thiết nông thôn. (Tiếc rằng một số dự án bị người xấu trong làng lợi dụng nên không được thực thi). Đặc biệt Trần Nghi là Nhà giáo ưu tú, Giáo sư - Tiến sĩ Khoa học, chiến sĩ thi đua toàn quốc. Nghi sinh vào năm giặc Pháp đổ bộ đánh chiếm Quảng Bình. Nghi vào học Đại học Tổng hợp, khoa Địa lí Địa chất năm 1966. Tốt nghiệp đại học năm 1970, Nghi được giữ lại trường và đến năm 1977 sang tu nghiệp ở Rumani 4 năm về ngành địa chất. Năm 1982, Nghi bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ tại trường Đại học Tổng hợp Bucarét. Về nước giảng dạy, làm chủ nhiệm khoa và phó hiệu trưởng trường Đại học khoa học tự nhiên - Đại học quốc gia Hà Nội.

      Nhà anh Trần Khổng, một đội viên du kích thiếu niên, một người bạn thân thiết của tôi ngày xưa có hai đứa con thì nay một cháu là Tiến sĩ Vật Lí ở trường Đại học Quảng Bình.

      Nhà của cháu Mịu (chồng là Hoàng Hữu Thợ mất sớm), cháu đã tần tảo nuôi con ăn học, nay có bốn đứa tốt nghiệp đại học, trong đó cháu Dũng tu nghiệp ở nước ngoài là Tiến sĩ trẻ nhất làng (31 tuổi).

      Nhà anh Suê (anh Hường) có 11 đứa con lại toàn là gái nhưng có một tiến sĩ triết học và một cử nhân. Nhà cháu Hoàng Văn Quý (Quý Bâm) cả 7 đứa con đều tốt nghiệp đại học…. 

      Thế hệ thứ tư ở làng Minh Lệ có các cháu như Hoàng Minh Anh (con của Hoàng Minh Tuy), Hoàng Tuấn Nhã (con của Hoàng Ngời), Hoàng Đạo (con Hoàng Biểu), Hoàng Thị Thùy Trinh (con của Hoàng Hanh), Trương Thị Minh (con Trương Minh Nga), cháu Hải con Hoàng Thị Huế (cháu anh Hoàng Hữu Xí) đều là những học sinh giỏi quốc gia.

       Con cháu của cụ Trần Dao (người ta thường gọi theo tên con cả là “cụ Đồ Dán”) - bố của vợ tôi có đến ba đứa cháu ngoại đạt giải học sinh giỏi Quốc gia như Hoàng Thanh Hà (con Hoàng Minh Đức), Lê Hoàng Đạo (con Hoàng Thị Lệ), Trần Vĩnh Hùng (con Trần Đình Ngôn) …vv.

       Các cháu đều là những người làm vẻ vang thêm cho truyền thống của làng. Ngoài ra còn có những con cháu của làng ta xa quê có nhiều thành tích mà tôi chưa có dịp viết đến.

                                                              *

                                                      *              *

       Cả làng tôi sẽ không quên trung đội nữ dân quân như chị Hoàng Thị Hén (Hoàng Thị Hiên), chị Hoàng Thị Miện đã cùng bộ đội phòng không bắn rơi hai máy bay giặc Mĩ. Chúng ta không quên liệt sĩ Đoàn Chon (ở Cổ Pháp - Minh Tiến) đã ngã xuống trên đất quê hương sau khi đánh được 150 quả bom từ trường. Ông Trần Duệ bị địch bắt (năm 1951), sau khi được trao trả (năm 1955) ông lại tiếp tục sang làm chuyên gia giúp nước bạn Lào. Năm 1968 ông đã liều mình lặn xuống đáy sông vào ca nô bị máy bay Mĩ đánh chìm trên dòng sông Son ở giếng Mội Mối để vớt xác đồng đội…

       Chúng ta cũng không quên viết về những cụ, mẹ già, những người phụ nữ dù không ghi được hết tên tuổi nhưng họ là những người lặng lẽ âm thầm nuôi chồng con đi đánh giặc. Họ chính là hậu phương vững chắc, những người đã cùng chúng ta làm nên chiến thắng của toàn dân tộc hôm nay.  

      Sẽ là thiếu sót lớn nếu không nói về vùng cồn bãi Giáp Tam, Nội Hà ở bên kia sông. Cách mạng Tháng Tám thành công, vùng cồn bãi này có tên là Hà Châu. Đây là vùng công giáo toàn tòng, có rất nhiều kẻ phản động. Nhưng chi bộ Đảng Nội Hà đã được thành lập từ năm 1938, sớm hơn làng Minh Lệ. Đồng chí Nguyễn Ngọc Trản, nguyên Bí thư Huyện ủy Quảng Trạch trực tiếp làm bí thư chi bộ. Đồng chí Cả Huệ ở Trung thôn (Quảng Trung), đồng chí Hoàng Dần làng Văn Phú (Quảng Văn), Trần Sớ ở Quảng Thuận về hoạt động bí mật và xây dựng phong trào ở đây. Họ đến làm thợ mộc, thợ nề để che mắt địch. Gia đình bà Phạm Thị Nhàn là cơ sở cách mạng đầu tiên. Chồng bà là ông Nguyễn Ngạn (thường gọi là ông Tuần Ngạn) trưởng tộc họ Nguyễn ở Nội Hà. Hai ông bà có ba người con và hai người cháu là liệt sĩ. Hai anh Nguyễn Huệ và Nguyễn Thiêm bị bọn phản động trong làng bắt bỏ vào sọt trắn xuống khúc sông Cồn Dâu tháng 4 năm 1947.

      Ngày 7 tháng 2 năm 1950, ông  Nguyễn Thảo (Chủ tịch ủy ban hành chính xã Hà Châu) đang chủ trì cuộc họp của cán bộ cốt cán thì bị bọn phản động trong làng chỉ điểm cho bọn địch ở đồn Minh Lệ tập kích. Chúng trói hai tay ông ra sau lưng dẫn đi quanh làng để uy hiếp tinh thần bà con. Cuối cùng chúng dắt ông vào bắn ở rú Hóc Chọ. Anh Nguyễn Quế, đã hy sinh trong trận đánh quân Pháp càn quét lên chiến khu Trung Thuần. Bà Phạm Thị Nhàn đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Các con cháu bà sau này đều có nhiều công lao trong hai kháng chiến của dân tộc. Vợ của Nguyễn Thảo là Phùng Thị Nhiệm, cán bộ tiền khởi. Năm nay bà đã 103 tuổi vẫn rất minh mẫn.

      Đi qua hai cuộc chiến tranh, tôi thấy rất tự hào vì mình  đã được đóng góp một phần sức lực nhỏ bé cho hai cuộc chiến tranh giữ nước và dựng xây đất nước. Dù ở xa quê, không có công trạng gì to tát với làng, tôi vẫn luôn đau đáu nhớ về một làng quê – Minh Lệ. Một làng quê trung dũng kiên cường, một thời đau thương, một thời lửa đạn.

      Tôi xin viết cuốn sách này tôn vinh và tri ân những người đã chết cho quê hương đất nước. Làng quê Minh Lệ chúng ta xin ngàn lần biết ơn các anh, các chị. Ngàn lần biết ơn những liệt sĩ đã hy sinh vì Tổ Quốc. Và cũng xin trân trọng tặng những người sống cùng thời với tôi và các con, các cháu sau này biết thêm thế hệ chúng tôi đã sống, chiến đấu như thế nào.

      Cuốn sách này xuất bản lần đầu chắc có rất nhiều thiếu sót. Có một số thông tin người cung cấp có chỗ còn chống chèo nhau. Gần mười năm qua tôi đã tìm gặp nhân chứng và để kiểm định lại trí nhớ của mình. Những sự kiện, năm tháng có thể bị nhầm lẫn. Và những vấn đề nhạy cảm tôi đã cố né tránh nhưng không sao tránh khỏi, có thể động chạm đến một số người đang sống tại quê hương và những người ở xa xứ. Mong bạn đọc thông cảm. Tôi xin viết lên những gì mà tôi biết. Nếu ai biết được thêm thông tin gì cần bổ sung, chỉnh sửa, xin gửi về địa chỉ của tôi cho tái bản lần sau.

                                                           Đồng Hới, ngày 18 tháng 1 năm 2013.

                                                                                               H- H- T

Địa chỉ liên lạc: Hoàng Hữi Thanh - Số nhà 12, đường Đặng Dung, tiểu khu 10, phường Đồng Sơn, thành phố Đồng Hới. Số điện thoại (052) 3771629.

 

Một vài cảm nhận khi đọc “Thời lửa đạn” của tác giả Hoàng Hữu Thanh

       Đại tá nhà văn Hoàng Thúc Cẩn

       Được đọc tác phẩm “Thời lửa đạn” của đồng chí Hoàng Hữu Thanh viết về làng Minh Lệ, về đội thanh - thiếu niên du kích trước và sau Cách mạng Tháng Tám, tôi rất cảm kích. Tác giả Hoàng Hữu Thanh vốn là người bạn trong đội thanh - thiếu niên du kích năm xưa, một đồng đội của tôi ở đại đoàn 304, một cựu chiến binh và là một nhà giáo đã về hưu. Tác phẩm “Thời lửa đạn” đã đề cập đến một phần của gia đình tôi, rất đúng sự thật. Tác giả Hoàng Hữu Thanh là một người có trí nhớ tuyệt vời. Ngoài tám mươi tuổi mà đồng chí vẫn nhớ như in những kí ức, kỉ niệm từ hơn năm mươi năm trước. Những kỉ niệm này như hương thơm của tâm hồn, không gì sống động hơn, nhất là kỉ niệm ban đầu của cuộc chiến đấu một mất một còn với quân thù.

       Trước Cách mạng Tháng Tám, đội thanh - thiếu niên du kích của ta có trên tám mươi người. Các bạn như Quế, Tấn, Lưu (Cù), Đồng, San, Chuể (Hoàng Thanh Hải), Choát (Hoàng Hữu Thanh), Quang Nọng, Hà, Cam, Kiện, Đạnh, Ban, Đàn… do tôi phụ trách. Năm 2003, gặp lại nhau trong ngày hội làng, các bạn đã đùa vui: “Chào Tổng Tư lệnh”. Đội thanh - thiếu niên đã tổ chức những đêm diễn kịch: “Hội nghị Diên Hồng”, “Cờ lau ra trận”, “Thù nhà nợ nước” để khích lệ lòng yêu nước của nhân dân ta. Đội còn thường xuyên tập trận, tập trinh sát, tập phục kích, cứu thương. Khi quân Pháp đóng đồn Minh Lệ, chúng càn quét đã bắt được bốn anh em chúng tôi: Cẩn, Trình, Nghiền, Đản. Chúng tôi bàn nhau vứt hết tài liệu tuyên truyền chống Pháp và đặt bí danh cho từng người. Tôi đã quan sát kĩ việc bố trí hỏa lực của Pháp trên đồi và dưới khu vực ga. Trong đầu tôi đã hình thành được sơ đồ đồn địch. Sau một ngày bị bắt, tôi đã thoát được, vẽ lại sơ đồ cụ thể này trực tiếp báo cáo cho đồng chí Đồng Sĩ Nguyên (lúc ấy là Bí thư Huyện ủy). Gần 1 tháng sau, đồng chí Đồng Sĩ Nguyên đã chỉ đạo bộ đội địa phương và du kích xã đánh đồn diệt được nhiều tên Pháp và ngụy.

       Thừa hưởng kinh nghiệm tập đánh trận giả của đội thanh - thiếu niên, ba năm sau tôi được lệnh Đại tướng Võ Nguyên Giáp và tư lệnh Đại đoàn 304 (sau này là Thượng tướng) Hoàng Minh Thảo giao trực tiếp nhiệm vụ chỉ huy đội đặc công, bí mật luồn sâu vào sào huyệt địch ở Phát Diệm để đánh đòn phủ đầu chủ động phá tan âm mưu của địch. Khi đại tướng De Lattre De Tassigny lúc ấy là toàn quyền, tổng chỉ huy quân đội Pháp cùng linh mục Lê Hữu Từ và 5000 quân với mục đích phá chiến dịch Quang Trung (chiến dịch Hà Nam Ninh) đánh vào Thanh Hóa. Trận đánh đã làm thất bại hoàn toàn mưu đồ của chúng. Theo báo cáo của Huyện ủy Kim Sơn có 5 xe vận tải lớn, chở đầy xác Âu Phi, ngụy quân. Đội đặc công của ta an toàn tuyệt đối, từ khi nhận lệnh đến khi hoàn thành nhiệm vụ rút quân về địa điểm tập kết chỉ mất 40 giờ mà thôi. Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp khen: “Chiến thắng sao mà nhanh vậy, đồng chí đã lập công lớn, chiến công lớn”. Tôi rất tự hào và vinh dự được 2 vị tướng khen ngợi khi mới ở tuổi 20.

       Năm 2003, gặp lại nhau trong ngày hội làng. Chúng tôi đề nghị đồng chí Hoàng Hữu Thanh - người đội trưởng kế tiếp sau khi tôi nhập ngũ ghi lại hồi kí về đội thanh - thiếu niên du kích làng Minh Lệ. Đọc bản thảo của của đồng chí Thanh tôi càng xúc động và nghĩ rằng chúng ta, những người may mắn còn sống không được quên lãng, không được đánh mất những gì của quá khứ, vì quá khứ hào hùng sẽ nuôi tinh thần cho các thế hệ mai sau. Như nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

       Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy

        Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên”

        Chắc đồng chí Thanh cũng đồng ý với tôi như thế.

   Hoàng Thúc Cẩn

   Số nhà 32, ngõ 10, phố Hồ Đắc Di

   Quận Đống Đa- Hà Nội. Điện thoại (04)38519083

Nhà thơ - nhà báo Phan Văn Khuyến

       Tôi biết anh Hoàng Hữu Thanh từ hồi đang còn công tác trong ngành giáo dục. Chiến tranh chống Mĩ, tôi chuyển sang làm báo, làm văn nghệ cho đến khi nghỉ hưu. Thời gian làm việc với nhau không được nhiều nhưng tôi biết anh, mến anh nhờ thái độ cởi mở, gặp đâu cũng vồn vã chân tình như ruột thịt. Có thể nói anh là người bạn tuy không gần nhưng rất thân mật, sống ngay thẳng rất hợp ý nhau.

       Bẵng đi một thời gian, đến khi về hưu mới biết anh và gia đình đã vào sống ở phường Đồng Sơn, thành phố Đồng Hới. Vì lí do công việc nên đã hơn chục năm nay chưa gặp lại, chỉ qua điện thoại hỏi thăm sức khỏe của nhau. Tuy đau ốm nhưng khi hồi phục lại tôi có viết lách ít nhiều cho khuây khỏa. Năm ngoái, trong lúc biên tập tập sách về Bí thư Tỉnh ủy Quảng Bình Nguyễn Tư Thoan, tôi có đọc một bài báo của anh viết về Nguyễn Tư Thoan và rất mừng là anh có trí nhớ rất tốt, nhiều con người và sự việc như mới diễn ra hôm qua. Mong anh sử dụng tốt tư liệu thực tế đã có của mình. Có kho tư liệu và thời gian như anh mà “gặm” dần thì quý lắm. Nhưng đừng vội vàng quá, hết đi thì phí. Tôi nghĩ con em sau này muốn viết hồi kí như anh cũng không được.

      Nhờ năng khiếu bẩm sinh và được học tập, rèn luyện trong ngành sư phạm nhiều năm nên lời văn của anh trong sáng, giản dị, diễn đạt chính xác các sự kiện cần nói, bố cục súc tích gọn gàng. Tuy là ghi chép theo lối hồi kí nhưng nhờ thực tế nên trong tập hồi kí này có nhiều trang viết rất hay, có những đoạn khá xúc động, như những năm tháng học ở trường tiểu học Thọ Linh, được đồng chí Đồng Sĩ Nguyên giác ngộ cách mạng. Ngày anh cùng thầy Lương Duy Tâm, hiệu trưởng trường Tiểu học Thọ Linh năm xưa gặp lại đồng chí Đồng Sĩ Nguyên trên đường Quốc lộ 1A, bên dòng Nhật Lệ khi đồng chí vào công tác ở Vĩnh Linh. Hay các đoạn viết về cuộc gặp gỡ bất ngờ của bà Nguyễn Thị Định với đồng chí Quế người thủ kho của trường sư phạm. Đoạn này tôi đã được đọc một lần trong bài viết của anh đăng trên tạp chí Nhật Lệ nhưng khi đọc lại vẫn thấy xúc động nghẹn ngào như mới đọc lần đầu. Hình như vì là người trong cuộc nên nửa tập cuối anh kể chuyện sinh động và hấp dẫn hơn. Bức tranh trận đánh Phú Trịch đã được anh khắc họa, dựng lại khá sinh động. Cảnh chia tay giữa hai người anh em ruột, làm người đọc ứa nước mắt. Người anh để người em ở lại “làm mồi cho súng giặc” còn anh dẫn quân vượt ra ngoài quay lại trả thù cho em và đồng đội. Dù đã hơn sáu chục năm, anh vẫn nhớ đồng đội, nhớ bạn bè rất rành rọt không hề lẫn lộn. Ở tuổi bảy, tám mươi mà viết được như anh là hiếm lắm.

     Tôi đã nghe nhiều thế hệ giáo viên trong tỉnh Bình - Trị - Thiên (cũ) truyền tụng nhau về trí nhớ tuyệt vời của anh. Anh nắm rất rõ lí lịch của nhiều người khi họ vào học trong trường sư phạm. Đọc lại lịch sử lực lượng vũ trang huyện Quảng Trạch viết về trận đánh ở Phú Trịch mới thấy anh có số liệu khá chính xác. Bởi trận Phú Trịch anh là người trong cuộc. Trong trận địch càn Lâm Xuân tháng 4 dương lịch năm 1947, anh không trực tiếp tham gia mà chỉ nghe kể lại, nên cần phải dựa vào chính sử. Theo tôi, anh không nên quá chú ý đến số liệu mà nên chú ý về diễn biến của sự việc. Dù trí nhớ tốt đến bao nhiêu cũng không nên chủ quan. Tuổi tác, sức khỏe và thời gian có khi nó không phục tùng ý muốn của con người.

        Đề nghị anh chọn những con người điển hình và sự việc điển hình, viết kĩ hơn về họ. Và để cho nhiều người đọc hơn cần tìm hiểu thêm các điển hình được tôn vinh, không phân biệt thân quen, dòng họ.

       Tập sách “Thời lửa đạn” là những dòng hồi kí tâm huyết của một người con Minh Lệ, biết nhiều, nhớ nhiều và có nhiều duyên nợ mong được đền đáp nơi sinh thành. Về ý nghĩa đó thì người đọc rất hoan nghênh và cám ơn tác giả đã dày công dựng lại một bức tranh hào hùng của cha anh về thời oanh liệt chưa xa.

Tháng 3 năm 2013

Phan Văn Khuyến

 

 Phó giáo sư , Tiến sĩ Nhà giáo ưu tú Trần Ngọc Vương

        Kính gửi chú Hoàng Hữu Thanh

       Trước hết, cháu cảm ơn chú đã cho cháu đọc bản thảo cuốn Hồi ký. Có nhiều thông tin trong cuốn sách nếu không được đọc chú thì cháu không biết, ngay cả về những người ruột thịt của mình.

       Có thể có một số nhận xét, một số ý kiến góp thêm cho tập sách. Hiện thời cháu đang phải gấp rút hoàn thành một số việc cần kíp nên chưa trao đổi được thật kỹ với chú.

       Mấy đề nghị trước mắt của cháu là:

      - Trình bày rõ hơn nữa lịch sử hình thành, cơ cấu, phương thức tổ chức và hoạt động của đội du kích thanh - thiếu niên Minh Lệ.

      - Viết kỹ về những chiến công, những thành tích nổi bật của đội, của một số cá nhân tiêu biểu.

      - Lòng dũng cảm, đức hy sinh, lòng trung thành với mục tiêu giải phóng quê hương của các chiến sĩ trong đơn vị.

    - Sự gắn bó của đơn vị với chính quyền, với các tổ chức cấp trên, với dân. Những chuyện này cháu tin là có thật, không phải là sáo ngữ.

    - Giới thiệu phạm vi không - thời gian của cuốn hồi ký "Thời lửa đạn" trong tập này chủ yếu là thời "Bình - Trị - Thiên khói lửa", tức thời chống Pháp.

      - Việc biểu dương những thành tựu của "những người con Minh Lệ" có lẽ nên gọn hơn, vì có nhiều người tuy ở đây không nhắc tới nhưng thực ra cũng thành đạt lắm, chẳng hạn Hoàng Hữu Phê con trai thứ của cậu Hoàng Hữu Xứng...

      Cháu cho rằng cần nghĩ đến việc lập hồ sơ đề nghị phong một danh hiệu xứng đáng cho tập thể Đội. "Nhân chứng, vật chứng" hiện nay vẫn còn kha khá, có sức nặng, mà tiêu biểu là tướng Đồng Sĩ Nguyên. Chú thử trao đổi với chú Hoàng Hữu Ban và các chú khác, xem nên thế không? Cháu nghĩ Tỉnh sẽ ủng hộ việc này.

       Mấy ý thô thiển, hy vọng góp thêm với các bậc trưởng thượng chút gì đó.

Kính thư.

Cháu của chú,

Trần Ngọc Vương

 

Hoàng Thị Ruyễn - đội viên đội địch vận làng Minh Lệ

       Đọc bản thảo cuốn hồi kí “Thời lửa đạn” của anh Hoàng Hữu Thanh, tôi nghẹn ngào xúc động. Những sự việc diễn ra như còn mới hôm qua.

       Ngày ấy chúng tôi được học lớp địch vận ở Quảng Sơn. Tôi được bố trí làm tổ trưởng tổ phát thanh địch vận. Cả tổ có 5 người. Hai chị Hồng Phiên và Nữ Nhi quê ở Quảng Sơn. Chị Miều và chị Trợ người Tây - Bắc Minh Lệ nhưng có người yêu là anh Luật và anh Hiếu ở trên đó. Chị Trợ, con ông Bát Dưỡng có anh Hoàng Đăng Hiền đi bộ đội với chồng tôi. Chúng tôi lấy mo cau cuộn tròn lại làm loa chĩa về phía đồn địch để phát thanh.

       Anh Hoàng Hữu Thanh phụ trách đội du kích thanh - thiếu niên Minh Lệ.  Đội du kích thiếu niên đã tổ chức bảo vệ cho chúng tôi phát thanh địch vận. Anh Thanh và anh Tú đã viết bài tuyên truyền cho chúng tôi đọc. Đã hơn sáu chục năm rồi mà tôi vẫn còn nhớ như in. Những bài thơ tuyên truyền đại loại như:

       Hỡi anh bảo vệ quân ơi

       Đêm nay rét mướt ngoài trời gió reo

       Mưa đông lớp lớp rơi đều

       Tiếng buồn rơi xuống sân kêu não nùng

       Mưa rơi dòng lại nối dòng

       Khóc người lạc lối lầm đường như anh

Hay:

       Anh đi làm bảo vệ quân

       Là anh giúp loài thực dân hại nòi…

       Hồi còn trẻ, thấy tôi có chút nhan sắc, các anh đã bố trí cho tôi viết thư tỏ tình với đồn trưởng Tôn Thất Ân để địch vận. Gặp tôi, thấy mái tóc dài với làn da trắng mịn màng, Tôn Thất Ân xiêu lòng ngay. Tôi thuyết phục anh, nếu anh muốn lấy tôi làm vợ thì phải quay về với cách mạng. Trong ngày lễ Nô - en, đồn Ân đã mời chúng tôi vào ăn uống với binh lính trong đồn. Quân số và vũ khí của đồn Minh Lệ, Tôn Thất Ân đều thổ lộ nói với tôi hết. Qua tôi, anh Hoàng Hữu Thanh đã báo cáo tình hình địch lên ban chỉ huy trung đoàn 57. Cấp trên giao cho tôi phải thuyết phục được đồn Ân kéo cả đồn theo ta. Có ý kiến của anh Huệ trên chiến khu đề nghị tổ chức luôn đám cưới rồi cho quân đánh úp nhưng tôi không đồng ý. Tôi e ngại anh Hà chồng tôi sẽ không hiểu, ảnh hưởng đến hạnh phúc của chúng tôi. Hơn nữa phương án này chỉ giết được một số quân địch chứ chưa chắc đã lấy được cả đồn địch. Sau này tìm hiểu, biết tôi là gái đã có chồng đi ăn hỏi, đồn Ân có ý trách móc. (Anh Trần Hà, chồng tôi đi Nam tiến và đánh giặc cho đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng mới về hưu).

       Hồi đó, anh Hoàng Hữu Thanh đã thay mặt trung đoàn 57 đến gặp đồn Ân. Đồn Ân có ý định làm binh biến kéo cả đồn đi theo ta. Tiếc rằng sau đó bọn chỉ huy đã phát hiện được và đổi đồn Ân đi nơi khác. Trước khi đi, Tôn Thất Ân có gửi cho tôi một lá thư li biệt đẫm đầy nước mắt. Anh lấy một va li đầy tiền phân phát cho bà con trên chợ Cầu. Anh đi rồi, bọn tay sai của địch trong làng đã báo với tên đồn trưởng mới Tôn Thất Xứng bắt mấy chị em chúng tôi. Tôi bị chúng giam cầm đánh đập trong Đồng Hới 2 năm, 7 tháng.

      Nay tôi đã đến tuổi 83. Quỹ thời gian của chúng tôi không còn được mấy nữa. Thế hệ chúng tôi mà chết đi thì con cháu chúng ta trong làng Minh Lệ sẽ không ai biết trong những năm kháng chiến chống Pháp cha anh họ đã đánh giặc như thế nào. Tôi đã có ý định viết hồi kí về những ngày đi đặt bom, gài mìn cùng đội du kích thanh - thiếu niên làng Minh Lệ. Những ngày ở tù bị giam trong xà lim, ngày hòa bình lập lại xây dựng tổ đổi công, hợp tác xã. Nhưng trình độ văn hóa có hạn với lại không có năng khiếu bẩm sinh nên xóa đi viết lại nhiều lần vẫn thấy không ổn.

       Nay được đọc những dòng hồi kí của anh Thanh, mừng ơi là mừng. Thế là có người đã ghi lại những ngày hoạt động của lớp thanh, thiếu niên làng Minh Lệ chúng ta trong những ngày giặc Pháp đóng đồn. Đọc những dòng hồi kí của anh Thanh viết về người đồng đội cũ Hoàng Luyếnh hy sinh, tôi không cầm được nước mắt. Trong những ngày giặc Pháp đóng đồn, chúng đã gây đau thương tang tóc cho không biết bao nhiêu gia đình. Cứ mỗi lần bước đến nhà ga Minh Lệ những cảm xúc trong lòng tôi lại trào lên xúc động bồi hồi. Cái tháp nước (Satônô) vẫn còn đó, hai hòn lòi Minh Lệ vẫn còn đây, những minh chứng sống động vẫn hiển hiện đứng thách thức với thời gian. Chính ở cái tháp nước này bọn địch đã treo ngược anh Trương Vành lên để đổ nước ớt với vôi vào mũi. Chúng đánh chết anh, vứt xác lên hàng rào rồi vu cho anh bỏ trốn. Cái động Lòi ngày nay cây cối đã xanh um, một thời là đồn địch.

       Nay đa số các đội viên thiếu niên du kích đã chết nhưng số tham gia hoạt động còn sống không phải là ít. Tôi rất tán đồng với ý kiến của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Ngọc Vương, phải lập hồ sơ đề nghị Tỉnh phong tặng một danh hiệu xứng đáng cho Đội. Chúng ta phải làm được một cái gì đó cho đội thiếu niên du kích của làng năm xưa.


Minh Lệ, tháng 3 - 2013

Hoàng Thị Ruyễn


Một số ảnh trong tác phẩm (cần bổ sung)


Đình làng Minh Lệ ( Ảnh Hoàng Minh Đức)

 

Sắc phong của vua Quang Trung cho Trương Hy Trọng là Trung Lang Thượng tướng quân. (Ảnh Hoàng Minh Đức).

 

Sáu con trai cụ Hoàng Bá Chuân cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp và phu nhân mùa xuân 2000. (Ảnh do đại tá nhà văn Hoàng Thúc Cẩn cung cấp)

 

Nghĩa trang liệt sĩ xã Quảng Minh được xây dựng lại năm 2012. (Ảnh Hoàng Minh Đức).

 

Hoàng Văn Chuể (Hoàng Thanh Hải) người bị bọn Trúc, Huỳnh đánh chết đi sống lại dưới gốc đa chợ Mới năm 1947. (Ảnh Hoàng Minh Đức)

 

Tháp nước giặc Pháp treo anh Trương Vành tra tấn cho đến chết.( Ảnh Hoàng Minh Đức)

 

Bà Hoàng Thị Ruyển đội trưởng đội địch vận, người trực tiếp vận động đồn trưởng Nguyễn Thất Ân làm binh biến. (Ảnh Hoàng Minh Đức).

 

Cùng người bạn đời bên giường bệnh. (Ảnh Hoàng Minh Đức).

 

Bên vườn cây sau ba mươi năm cải tạo đồi hoang. (Ảnh Hoàng Minh Đức)

 

Nhà giáo, nhà văn, dịch giả Hoàng Hữu Đản . (Ảnh nguồn Bách khoa toàn thư).

 

Tiến sĩ Nông học Hoàng Kim, tác giả nhiều giống cây trồng quý ở Việt Nam. (Ảnh nguồn Bách khoa toàn thư).

 

Phó Giáo sư - Tiến sĩ Nhà giáo ưu tú Trần Ngọc Vương. (Ảnh nguồn Trường Đại học Xã hội và Nhân văn).

 

Giáo sư - Tiến sĩ Nhà giáo ưu tú Trần Nghi. (Ảnh nguồn Bách khoa toàn thư).   

 

Con trai Hoàng Minh Đức nhận giải thưởng cuộc thi Truyện ngắn và Kí 2 năm 2011- 2012 của Tạp chí Nhật Lệ. (Ảnh bìa 4 - Tạp chí Nhật Lệ tháng 12 năm 2012)

 



 


In 500 cuốn 13 x 19 cm tại Công ty in Hồng Thành

Số đăng kí  KHXB: 223-2013 /CXB/09 - 06 /Thu H.

Quyết định xuất bản số:17/QĐ- XBTH, cấp ngày .11-3-2013

In xong và nộp lưu chiểu tháng 6 năm 2013


 

HOÀNG HỮU THANH

Bí danh: Nam Sơn

* Sinh ngày: 18 - 9 -1929.

* Quê quán: Làng Minh Lệ, xã Quảng Minh, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

* Trú quán: Nhà số 12, đường Đặng Dung, tiểu khu 10, phường Đồng Sơn, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình

* Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng Ba

* Huân chương chống Mĩ cứu nước hạng Nhất

* Hai huân chương chiến công hạng Ba

* Huy chương vì sự nghiệp giáo dục Việt Nam.

Comments