Hồ Chí Minh và Kẻ phi thường

Bác Hồ đã viết "Nên học sử ta", báo Việt Nam Độc Lập xuất bản ở chiến khu, số 117 ra ngày 1/2/1942: "Nguyễn Huệ là kẻ phi thường/ Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu" và ở một đoạn khác "Công Uẩn là kẻ phi thường /Dựng lên nhà Lý cầm quyền nước ta " . Dư luận gần đây xôn xao bàn tán về chữ và nghĩa "kẻ phi thường". Nhiều người đã bàn đến "chữ" nhưng ít thấy ai bàn về "nghĩa". Vì sao Bác lại dùng chữ "kẻ phi thường" mà không dùng chữ "bậc phi thường" là chữ thay thế hiễn nhiên, rất dễ dàng, hợp ngữ cảnh, và ai cũng nhìn thấy ???Tôi hoàn toàn không tin Bác dùng từ dễ dãi. Hồ Chí Minh là trí tuệ bậc Thầy, ngôn ngữ Bác Hồ đặc biệt trong sáng và cẩn trọng. Bác là nhà hiền triết, bậc Thầy lý học, hiểu thấu lịch sử và thấy rất rõ mối quan hệ Việt Nam Trung Quốc trước mắt cũng như lâu dài, luôn có đối sách phù hợp. Vậy dụng ý nào trong thơ Bác?





Tài liệu dẫn:

Lời cuối cho một lần cuối của vụ việc

 Phạm Xuân Nguyên

 1. Vậy là cái tấm composite ghi lời chiếu Nguyễn Huệ gửi Nguyễn Thiếp dán đè lên bài văn bia khắc lời thơ Hồ Chí Minh viết về Nguyễn Huệ đã được bóc ra. Trưa 31/7/2011 một người bạn tôi ở Vinh vừa đi lên đền thờ Quang Trung trên núi Dũng Quyết đã gọi điện báo cho tôi biết sự việc này. Tùy tiện dán vào và tùy tiện bóc đi. Thích thì dán, thích thì bóc, không cần thông báo, giải thích, coi đền thờ anh hùng dân tộc như nhà riêng của mình. Điều đó khiến có cảm giác một việc làm mập mờ và lén lút. Nhưng nếu không có một sự đánh động thì chỉ có tùy tiện dán mà không có tùy tiện bóc, để rồi biến thành sự hiển nhiên thay bia. Tùy tiện đến nỗi nghe đâu, lúc đầu tấm composite ấy định để lên một cái giá đặt bên cạnh bia cho du khách đối chiếu, so sánh (thận trọng biết bao!), nhưng vì giá chưa làm được (khó đến vậy sao!), nên cứ dán vào, che đi cho chắc đã. “Tượng thờ dù đổ vẫn thiêng / Miếu thờ bỏ vắng vẫn nguyên miếu thờ” (M. Lermontov), trong khi đền thờ và tấm bia thờ Quang Trung còn mới nguyên và vững chãi vì chỉ mới được ba năm!

 2. Nhiều người đọc không kỹ bài tôi nên đã hiểu nhầm là ông Vũ Khiêu viết bài văn bia mới thay vào tấm bia khắc lời ông Hồ. Không phải vậy. Ông Vũ Khiêu nhận lời mời của tỉnh Nghệ An viết bài phú kể sự nghiệp vua Quang Trung để thay cho bài văn kể công trạng (tấm bia bên trái từ cổng vào). Tôi chưa đề cập tấm bia đó. Bài viết của tôi chỉ tập trung vào tấm bia khắc lời Hồ Chí Minh (đặt ở bên phải từ cổng vào) đã bị thay bằng tấm composite ghi lời chiếu của Quang Trung để đặt câu hỏi: Ai thay? Vì sao phải thay? Do hiểu nhầm như vậy nên đã có những lời bình khá nặng nề đối với ông Vũ Khiêu, thiết nghĩ không cần thiết phải thế.

 3. Thật ra, những người có trách nhiệm ở thành phố Vinh và Nghệ An trong chuyện tấm bia khắc lời Hồ Chí Minh tại đền thờ Quang Trung có thể học được kinh nghiệm xử lý của chính vị “anh hùng áo vải”. Đó là hãy nhận trách nhiệm về mình và sửa sai. Trong bài viết thứ hai của mình, tôi có dẫn ra hai câu thơ Quang Trung trả lời đơn của dân làng Văn Chương xin dựng lại những tấm bia Văn Miếu bị hư hỏng do binh đao. Hai câu đó là nằm trong bản phê đơn viết bằng chữ Nôm của Quang Trung gồm ba cặp lục bát.

Trước hết vị vua trẻ nhận lỗi về mình:

    Thôi, thôi, thôi việc đã rồi

Trăm nghìn hãy cứ trách bồi vào ta

 Rồi ông hứa với nhân dân:

 Nay mai dọn lại nước nhà,

Bia nghè lại dựng trên tòa muôn gian.

Và kết thúc, ông một lần nữa nhận lấy trách nhiệm về mình, dặn dân đừng đổ vấy cho triều trước:

Cơ đồ họ Trịnh đã tan,

Việc này cũng đừng đổ oan cho thằng Trịnh Khải!

 Một thái độ đạo đức đối với dân với nước như vậy của Nguyễn Huệ-Quang Trung cũng là thái độ đạo đức của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh. Tấm gương của hai vị đáng khắc bia dựng tượng để cháu con ghi nhớ, học tập, và noi theo. Nếu những người có trách nhiệm chính trong chuyện này, và không riêng chuyện này, hiểu biết lịch sử, kính trọng tiền nhân, phục vụ nhân dân, thì đã biết ứng xử có văn hóa và đạo lý.

4. Tiếc thay, người ta đã không có phản hồi chính thức, đã coi là bài đăng trên mạng thì không “chính thống” nên không trả lời. Nhưng không phản hồi chính thức mà vẫn đưa ra những lời chống chế và ngụy biện. Và rốt cục người ta đã phải bóc ra cái đã dán vào. Hành động bóc đó chứng thực là họ không thể coi thường dư luận của mạng cá nhân, tuy ngoài miệng họ nói khác. Toàn bộ diễn biến sự việc càng khẳng định điều tôi đã nói: đó là việc làm tùy tiện và lấp liếm. Nên tôi vẫn còn lo, một thời gian sau khi thấy dư luận nguôi đi rồi thì người ta sẽ “bóc ra rồi lại dán vào như không”. Lịch sử không thể và không được dán và bóc như vậy.

         Một điều làm tôi buồn nữa là không một tờ báo nào thuộc “lề phải” đăng chuyện này lên, dù sự việc là hoàn toàn có thực, và dù tôi đã có nói với một số tổng biên tập báo giấy, báo mạng. Câu trên đây tôi đã định viết là “không một tờ báo nào thuộc “lề phải” dám đăng chuyện này”, nhưng thế thì lại càng buồn hơn. Có gì phải dám ở đây, khi lẽ thường một thông tin như vậy, một sự thật như vậy, báo chí đúng nghĩa báo chí là phải đưa ra cho người đọc biết.

         Dẫu sao, bây giờ lên núi Dũng Quyết (Vinh – Nghệ An) thăm đền thờ Quang Trung, mọi người Việt Nam vẫn còn được đọc những lời Hồ Chí Minh nói về Nguyễn Huệ khắc trên tấm bia đá dựng ở bên phải cổng vào:

Nguyễn Huệ là kẻ phi thường

 Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu

 Ông đà chí cả mưu cao

 Dân ta lại biết cùng nhau một lòng

 Cho nên Tàu dẫu làm hung

 Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà

May thay!

 Hà Nội 31.7.2011

P.X.N

Tác giả gửi cho Quê choa

Ngụy biện và chống chế

Khi mình đưa bài Đau xót nhục nhã biết bao của Phạm Xuân Nguyên lên, sau đó được Ba Sàm dẫn lại, có rất nhiều phản hồi, cả những phản hồi trên trang Ba Sàm và cả những email điện thoại cho mình và Phạm Xuân Nguyên, trong đó 2 có hai phản hồi đã được Ba Sàm đưa lên dưới bài. Hai phản hồi này rất quan trọng, bởi vì nó có vẻ là tiếng nói của người trong cuộc ở xứ Nghệ và nghe cũng có lý có tình. Mình không hề có ý phê phán ý kiến của hai phản hồi đó, bởi vì đó là những phản hồi chân tình, cởi mở. Chỉ vì sợ mấy ông bà này cả tin vào những lý lẽ mị dân, lúc nào người ta cũng có sẵn một mớ ngụy biện và chống chế để che lấp sai lầm và tội lỗi của họ, vì thế mình đã gọi điện cho Phạm Xuân Nguyên hãy viết bài nói rõ hơn. Trong khi chờ đợi bài của Phạm Xuân Nguyên, mình chỉ nói vài ba ý của mình trước đã.

1.Thực ra bài của Phạm Xuân Nguyên có tên: “Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà”, mình đã cắt đoạn đầu vì nó có vẻ diễn giải văn chương trong một bài viết phản ánh một sự kiện. Việc cắt bỏ cũng đã được PXN đồng ý.  Nay xin đưa lại nguyên văn đoạn bị căt như thế này: 

“Đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc từ nước ngoài về lại Việt Nam ở Cao Bằng, lập căn cứ, tiến hành xây dựng tổ chức và lực lượng, chuẩn bị cho cách mạng giành chính quyền từ tay thực dân xâm lược. Trong nhiều việc cấp bách phải làm lúc này, ông Nguyễn không quên việc tuyên truyền vận động nhân dân, và trong việc tuyên truyền thì ông không quên nhắc lại lịch sử nước nhà với truyền thống hào hùng chống giặc ngoại xâm, gìn giữ non sông đất nước. Bài học cốt lõi ông Nguyễn rút ra cho đồng bào mình từ trong lịch sử đến hiện tại, đó là: đoàn kết nhân dân là sức mạnh vô địch. Trên báo Việt Nam Độc Lập xuất bản ở chiến khu, số 117 ra ngày 1/2/1942, ông Nguyễn có bài “Nên học sử ta”. Ông kết thúc bài viết: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”.

Ngay trong năm 1942 Việt Minh tuyên truyền Bộ đã cho xuất bản cuốn diễn ca Lịch sử nước ta của ông Nguyễn viết theo thể lục bát. Mở đầu bằng hai câu thiết tha khẩn cầu “Dân ta phải biết sử ta / Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”, ông Nguyễn đã khái quát vắn tắt sự nghiệp chống giặc phương Bắc và giặc phương Tây để cứu nước và giữ nước của các anh hùng dân tộc trải suốt hành trình lịch sử từ thời lập quốc đến đầu thế kỷ XX.

 An Dương Vương thế Hùng Vương

Quốc danh Âu Lạc cầm quyền trị dân

Nước Tàu cậy thế đông người

Kéo quân áp bức giống nòi Việt Nam

Quân Tàu nhiều kẻ tham lam

Dân ta há dễ chịu làm tôi ngươi?

.………..

Vì Lý Phật Tử ngu hèn

Để cho Tàu lại xâm quyền nước ta.

Thương dân cực khổ xót xa,

Ông Mai Hắc Đế đứng ra đánh Tàu

Vì dân đoàn kết chưa sâu

Cho nên thất bại trước sau mấy lần

Ngô Quyền quê ở Đường Lâm

Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm

……………

Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn

Mặc dầu tướng ít binh đơn không nàn…

Mười năm sự nghiệp hoàn thành

Nước ta thoát khỏi cái vành nguy nan

Vì dân hăng hái kết đoàn

Nên khôi phục chóng giang san Lạc Hồng.

 Những câu thơ sáu tám viết theo lối diễn ca dễ nhớ, dễ thuộc, dễ đi sâu vào lòng người. Đoạn thơ tập trung nhất, tiêu biểu nhất nói về sự đoàn kết nhân dân, đoàn kết giữa nhân dân và người cầm quyền, để giữ gìn và bảo vệ lãnh thổ chủ quyền quốc gia là đoạn nói về Nguyễn Huệ. Đây cũng là đoạn thơ hay nhất, theo tôi, trong bài diễn ca của ông Nguyễn. Tôi đồ rằng khi viết những dòng thơ này ông Nguyễn cũng rất tâm đắc và sảng khoái.

 Nguyễn Huệ là kẻ phi thường

Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu

Ông đà chí cả mưu cao

Dân ta lại biết cùng nhau một lòng

Cho nên Tàu dẫu làm hung

Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà

 Biểu dương thiên tài quân sự của người anh hùng dân tộc và sức mạnh đoàn kết toàn dân bằng những lời thơ ca khoát đạt như vậy, ông Nguyễn quả đã thổi vào lòng mỗi người dân Việt Nam khi đó đang trong vòng nô lệ và cả ngày nay đã độc lập tự do một niềm tự hào to lớn về dân tộc mình và một lòng yêu nước nồng nàn.”

Như vậy đã rõ ý vì sao  Xứ Nghệ chọn đoạn diễn ca đó của Bác để tạc vào văn bia.  Bây giờ xin nói rõ về hai phản hồi trong trang  Ba Sàm.

1.Về phản hồi thứ nhất: “Trong bài viết của PXN, thông tin về việc thay đổi nội dung khắc trên bia là chính xác, tuy nhiên việc suy diễn về nguyên nhân thay đổi thì không đúng. Từ khi bia được dựng lên (khi tình hình quan hệ Việt – Trung chưa nóng như bây giờ), nhiều người (cả khách tham quan lẫn bậc thức giả) đã có ý kiến về một số bất ổn:

- Có hợp lý không khi bia đá lại khắc mấy lời thơ khá nôm na trong một bài diễn ca lịch sử, mà đoạn thơ ấy không khái quát hết công trạng của vua Quang Trung (chỉ nói việc chống ngoai xâm mà không đề cập công lao thống nhất đất nước)?

- Bản khắc có “lỗi kỹ thuật”: một dòng tám tiếng để sót mất một tiếng, còn bảy (tôi không nhớ rõ dòng ấy là dòng nào). Lỗi này một thời gian ngắn sau đã được khắc phục, bằng cách trám phủ mặt đá và khắc lại. Chính vì thế, có một dạo, bia bị trùm vải (trông rất tức cười) để người ta khắc phục lỗi kỹ thuật nói trên.

- Trong đoạn thơ của Bác có từ “kẻ” (kẻ phi thường). Rất nhiều người dân thắc mắc sao lại dùng đại từ “kẻ” đề nói về một bậc đại anh hùng, bởi họ nghĩ từ kẻ chỉ được dùng để chỉ kẻ xấu: kẻ thù, kẻ gian, kẻ bán nước… Tất nhiên, thắc mắc này không hợp lý.

Cộng cả mấy lý do chính trên, người ta đã quyết định thay nội dung một tấm bia, sau khi đã có nhiều hội nghị bàn bạc.”

Có nhiều ý trong phản hồi này, quan trọng có hai ý: Một là thơ Bác nôm na quá ( ý là chê thơ dở), hai là chữ kẻ ngày này đã biến nghĩa thành nghĩa xấu, để vậy dân sẽ hiểu lầm. Xin thưa: Người ta không khắc thơ Bác lên bia mà khắc lời dạy của Bác, nói khác đi, đoạn diễn ca đó được coi là lời dạy của Bác về tấm gương yêu nước chống Tàu của vua Quang Trung, vì thế nó mới được chọn để khắc lên bia. Mượn cớ ” thơ Bác nôm na” để chối bỏ lời dạy của Bác là vô lễ. Hơn nữa lời dạy  đó của Bác lại vô cùng có ý nghĩa trong thời buổi bây giờ tại sao lại bỏ đi? Nếu chữ bị coi là nghĩa xấu, để vậy dân bị hiểu lầm, tại sao không thay bằng chữ khác tương đương, ví dụ chữ vị (Vị anh hùng) chẳng hạn. Thay chữ của bậc tiền nhân lỗi lạc quả là không hay, nhưng nếu xét thấy không thể không thay thì việc thay thế sẽ được người đời thông cảm. Bảo rằng vì chữ “có vấn đề” mới đành bỏ lời dạy thiêng liêng của  Bác, đó là ngụy biện và chống chế của mấy ông bà quen thói mị dân.

2. Về phản hồi thứ 2: “Hai bài văn bia ở đền thờ Quang Trung trên núi Quyết từ khi mới khánh thành đã có nhiều ý kiến. Nhìn chung, người ta không chê nội dung mà cho là “không hay”.Nhất là bài “Công trạng vua Quang Trung” bị cho là “gạch đầu dòng”, không xứng là văn bia. Bài của Cụ Hồ thì một số vị có chức sắc thắc mắc chữ “Kẻ” (NH là kẻ phi thường”). Mấy năm gần đây người ta đã nhờ (thuê?) ông Vũ Khiêu viết bài. Ông Vũ Khiêu đã viết hai bài, dài mấy trăm câu. Qua nhiều lần góp ý, cách đây chừng ba bốn tháng gì đó UBND thành phố Vinh đã tổ chức một hội thảo bàn về hai bài của ông Vũ Khiêu. Đa số các ý kiến của các văn nghệ sỹ, các vị có kiến thức, chữ nghĩa đều không đồng tình. Nhiều người cho là văn khẩu hiệu.

Nhà văn Nguyễn Thị Phước TBT tạp chí Sông Lam còn nói là văn không ra văn, thơ không ra thơ. Nếu có gửi tạp chí SL, thì SL cũng không đăng. Tuy nhiên lãnh đạo thành phố thì “nhất trí cao” bài của bác “anh hùng lao động”, “giáo sư tuyên giáo”. Nghe nói sau đó ông Vũ Khiêu có chỉnh sửa lại, rút ngắn bớt. Tuy nhiên hồn cốt, chất lượng thì vẫn không thay đổi.

Để thăm dò dư luận hiện nay người ta đã cho làm thử hai bản bằng compuzit (composite), rồi áp vào hai tấm bia cũ.Hai bài cũ vẫn chưa bị đục bỏ. Thiết nghĩ, đây là việc hệ trọng không thể khinh xuất. Đề nghị dư luận khắp nơi cho thêm ý kiến.”

Vì không đọc được bản “Công trạng vua Quang Trung” và bài viết của Vũ Khiêu nên mình không có ý kiến. Cái này chắc chắn PXN sẽ trả lời. Thông tin “Hai bài cũ vẫn chưa bị đục bỏ” chưa được kiểm chứng, nhưng nói rằng “Để thăm dò dư luận hiện nay người ta đã cho làm thử hai bản bằng compuzit (composite), rồi áp vào hai tấm bia cũ” thì quá buồn cười. Để thăm dò dư luận tại sao không để bản cũ cạnh bản mới? Lấy bản mới áp đè lên bản cũ rồi bảo làm vậy để thăm dò, đến con nít lên ba chúng nó cũng chẳng tin. Lại vẫn ngụy biện và chống chế.

Như đã nói mình không hề phê phán hai blogger có hai phản hồi trên, chỉ vì mình sợ họ lại tin vớ tin vẩn mấy ông trùm ngụy biện, chống chế nên viết bài này thôi.

Ttrong khi chờ bài của Phạm Xuân Nguyên, mình xin đưa ý kiến của một nhà ngôn ngữ học, ts Hoàng Dũng.

“Kẻ phi thường”

Hoàng Dũng

Trong Lịch sử nước ta, cụ Hồ viết:

Nguyễn Huệ là kẻ phi thường

Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm giặc Tàu

 Đó không phải là lần duy nhất cụ Hồ dùng “kẻ phi thường”. Cũng trong tác phẩm trên, cụ còn viết:

Công Uẩn là kẻ phi thường,

Dựng lên nhà Lý cầm quyền nước ta

Như thế, “kẻ phi thường” nhất định không phải là một lỗi viết nhịu của cụ Hồ. Trong một comment trên trang anhbasam, có người cho rằng: “Trong đoạn thơ của Bác có từ “kẻ” (kẻ phi thường). Rất nhiều người dân thắc mắc sao lại dùng đại từ “kẻ” để nói về một bậc đại anh hùng, bởi họ nghĩ từ “kẻ” chỉ được dùng để chỉ kẻ xấu: kẻ thù, kẻ gian, kẻ bán nước…”. Và tuy có nói vớt: “Tất nhiên, thắc mắc này không hợp lý.”, họ vẫn không cho biết thắc mắc này “không hợp lý” ở chỗ nào. Nói trắng ra, họ muốn chê cụ Hồ viết dở!

Vậy “kẻ” có nhất thiết xấu nghĩa (pejorative) hay không?

Xưa tác phẩm Les misérables của Victor Hugo được Nguyễn Văn Vĩnh dịch là Những kẻ khốn nạn; ngày nay thì được dịch là Những người khốn khổ. Chữ “khốn nạn” nay thường dùng để bày tỏ sự khinh bỉ, nguyền rủa, chứ không phải chỉ sự khổ sở đến mức thảm hại, như trong cách hiểu ngày xưa, vì thế dễ hiểu tại sao lại được thay bằng “khốn khổ”. Cách dùng “kẻ” của Nguyễn Văn Vĩnh cho thấy thời ông “kẻ” hoàn toàn không có tính chất xấu nghĩa. Quả vậy, Nguyễn Hữu Tiến, trong bản dịch Vũ trung tuỳ bút, đăng trên Nam Phong năm 1927-1928, từng viết: “Đời nhà Hán có đặt ra khoa hiền lương phương chính, thực là một cách đặc biệt để đãi kẻ phi thường mà cầu lấy người tài.”

Như thế, phải chăng ngày nay “kẻ” đã chuyển từ sắc thái trung hoà sang sắc thái xấu nghĩa? Và như thế, đứng trên quan điểm ngày nay, phải viết “người phi thường”, chứ không thể “kẻ phi thường”?

Không hẳn! Ngày nay, “kẻ” vẫn còn có cách dùng trung hoà: có “kẻ cắp”, “kẻ cướp”, “kẻ thù”, “kẻ trộm”, … nhưng vẫn có “kẻ sĩ”, “kẻ đàn anh”, “kẻ ở người đi”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, … Và không hiếm người vẫn dùng “kẻ phi thường”: Mộng Bình Sơn trong bản dịch Hán Sở tranh hùng (nhà xuất bản Hương Hoa, 1962) viết: “Lời nói của Ðại vương theo thông thường thì cho là chí lý. Song đây là kẻ phi thường. Kẻ phi thường có thể có những hoàn cảnh phi thường.”; Tràng Thiên trong Tiểu thuyết hiện đại (nhà xuất bản Thời mới, 1963) viết: “Nhân vật tiểu thuyết thuở đầu tiên là những kẻ phi thường, hành tung gây nên kinh ngạc.”; hoà thượng Thích Thanh Từ trong Nhặt lá bồ đề (nhà xuất bản Tôn giáo, 2003) viết: “Thật một kẻ phi thường. Việc kiến đạo giải thoát đâu phải chỉ dành cho kẻ trí thức đạo gia. Một tay thợ rèn, khi quăng búa tắt lò thì liền đó bể lửa hóa thanh lương, rảnh tay dạo khúc vô sanh.”

Nói tóm, không đủ căn cứ để xác quyết “kẻ phi thường” là cách dùng sai, dù theo cách hiểu xưa hay nay. Và như thế, việc đục bỏ thơ cụ Hồ không phải vì lý do văn chương. Và tôi hoàn toàn tin rằng Anh hùng Lao động, Giáo sư Vũ Khiêu đủ đức khiêm tốn phi thường để, nếu biết văn của ông được khắc vào bia đặt vào chỗ đã đục bỏ văn cụ Hồ, tự thẹn mà yêu cầu chính quyền Nghệ An miễn cho ông cái vinh dự nhường ấy.

 H. D.



“ĐỤC BỎ” LỊCH SỬ VÀ “NGHỊ QUYẾT” CỦA LÒNG DÂN

Văn Cầm Hải

45 năm về trước, tại cuộc hội đàm ngày 23/8/1966, thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã tỏ ý quở trách lãnh đạo Việt Nam trong hoàn cảnh dựa vào Trung quốc để đánh Mỹ, lại cho báo chí xuất hiện những bài viết về sự xâm lược của các triều đại phong kiến Trung Quốc đối với Việt Nam. Hoàng Tùng, khi đó là tổng biên tập báo Nhân Dân tháp tùng thủ tướng Phạm Văn Đồng, trả lời rằng không phải báo chí tuyên truyền mà đó là các vấn đề thuộc phạm trù nghiên cứu lịch sử của các viện khoa hoc. Sự răn đe của Chu đã bộc lộ một tham vọng: Trung quốc muốn Việt Nam xóa bỏ những trang sử chống lại quân Hán xâm lược của người Việt Nam! Tham vọng diệt chủng lịch sử của Chu không thành. Những cuộc chiến xâm lược của Trung Quốc gây ra ở quần đảo Hoàng Sa năm 1974, chiến tranh biên giới phía Bắc 1979 và hải chiến Trường Sa năm 1988 càng làm cho người Việt Nam xác định danh tính kẻ thù phương Bắc, khắc ghi công ơn cha ông mình đã đổ máu trên từng tấc núi tấc sông.

Nhưng trang sử đẩm máu và oanh liệt ấy đang bị đe dọa bởi những hành động đục bỏ, xuyên tạc quá khứ trên những vùng đất đáng kính của lòng yêu nước. Tấm bia khắc ghi bài thơ của lãnh tụ Hồ Chí Minh ngợi ca chiến công chống quân Tàu rất hiển hách của vua Quang Trung bị thay thế trên núi Dũng Quyết ở Nghệ An là một sự kiện choáng váng. Tại sao ngay trên chính quê hương của Hồ Chí Minh và là một trong những cái nôi cách mạng Việt Nam, những vần thơ dù mộc mạc nhưng mang tính giáo dục lòng yêu nước, ngợi ca chính sử của ông lại bị thay thế bởi một tấm bia có nội dung khác? Ở một đất nước mà từng con chữ được soi xét một cách cẩn trọng thì thật khó có thể hiểu khi người ta biện hộ việc thay thế thơ Hồ Chí Mình chỉ vì một chữ “kẻ” trong câu thơ Nguyễn Huệ là kẻ phi thường/ mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu. Nếu như vậy, có thể cần phải xem lại toàn bộ sự nghiệp thơ ca của Hồ Chí Minh bởi có những câu thơ còn “tục và tầm thường” hơn thế, ví như: Ngồi trên hố xí đợi ngày mai! Cũng nên nhớ rằng, đoạn thơ “chống Tàu” này nằm trong tác phẩm “ Lịch sử nước ta” ấn hành vào năm 1942- thời điểm Trung Quốc đang là chốn nương tựa của lực lược Việt Minh. Hồ Chí Minh, một nhà chính trị và ngoại giao lao luyện, đã rất sòng phẳng với lịch sử.

Câu hỏi đặt ra là việc thay thế thơ Hồ Chí Minh có phải là manh nha của một hành động hạ bệ thần tượng, hay là chỉ vì hình thức và nội dung ngợi ca tiền nhân trong công cuộc chống Tàu quá rõ ràng nên đến ngay cả thơ của lãnh tụ cao quý nhất của Đảng cũng bị kiểm duyệt, cắt bỏ không thương tiếc. Dư luận nghiêng vào giả thuyết thứ hai khi liên hệ đến một tấm bia ghi danh chiến thắng của quân đội Việt Nam đánh bại quân Trung Quốc xâm lược ở cầu Khánh Khê, Lạng Sơn bị đục bỏ nham nhở. Vốn được nhào nặn cuộc chiến 1979 là do Việt Nam xâm lược nên không khéo một mai người Trung Quốc lại dùng chính tâm bia này để minh chứng mấy chữ “ Trung Quốc xâm lược” bị đục bỏ, những chữ còn lại trên tâm bia Sư đoàn 33 đã đánh bại và chặn đứng… xâm lược rất dễ bị xuyên tạc thành sư đoàn 33 đã bị đánh bại và chặn đứng… vì xâm lược.

Thật mỉa mai, trong khi ở Việt Nam những sử sách rất đáng tự hào với sinh mệnh của dân tộc như vậy bị đục bỏ thì ngược lại, ở Trung Quốc, chinh quyền lại ra sức cổ vũ, ngợi ca tinh thần các “cuộc chiến tự vệ” trong các trận hải chiến Hoàng Sa, Trường Sa và chiến tranh biên giới 1979 bằng sự ngụy tạo và khắc sâu trong lòng dân họ một cách có hệ thống. Trong lần từ Hồng Kông qua thuyết trình ở đại học Sơn Đông, tôi có ghé thăm Khúc Phụ, quê nhà của Khổng Tử. Một sinh viên đã hỏi tôi tại sao Việt Nam nhỏ thế mà lại dám đánh, dám lấn đất Trung Quốc kể cả trên đất liền lẫn ngoài biển? Nhân thấy một nông phu xách một con rắn từ phía núi Ni đi đến, tôi mĩm cười bảo, một con rắn chỉ giết con trăn bằng một cú cắn hiểm độc khi nó bị gây hấn nhưng có bao giờ bạn nghe một con rắn nhỏ lại nuốt một con trăn không? Người sinh viên ấy im lặng và sau đó hứa với tôi rằng sẽ tìm hiểu thêm cứ liệu lịch sử ngoài phạm vi những gì anh ta được dạy và học.

So sánh việc phế bỏ thơ Hồ Chí Minh và bia ghi công chống Tàu ở Lạng Sơn với câu chuyện ở Khúc Phụ, tôi cay đắng nhận ra một hệ quả: Trung Quốc, bằng chính sách tuyên truyền có hệ thống và đồng bộ, họ đã biến “lịch sử giả ngụy” thành “ lịch sử có thật” trong lòng dân họ và đau đớn thay, có cả cơ quan nhà nước của Việt Nam. Từ năm 1995, nhà xuất bản Thanh Niên của Việt Nam đã “lọt lưới” khi công khai xuất bản tập sách dạy tiếng Hoa với hình ảnh bản đồ chủ quyền Trung Quốc bao gồm cả đường lưỡi bò nuốt trọn biển Đông đồng nghĩa với việc phủ nhận chủ quyền quốc gia lãnh thổ của Việt Nam trên vùng biển Đông. Tôi hỏi một người bạn ở Việt Nam tai sao có sự cố này. Bạn tôi trả lời là chắc do vô tình và chủ quan chứ không cố ý. Hơn nữa thời điểm sách ra đời là năm 1995, lúc đó tình hình biển Đông không căng thẳng nên không ai để ý bây giờ chuyện biển Đông nóng lên mọi người mới phát hiện! Bảo vệ giang san, giữ vững vận nước mà lúc để ý lúc không như vậy thì thật là nguy hiểm đối với Việt Nam trong cuộc đối phó với chủ nghia bành trướng trường kỳ của Trung Quốc. Rất khách quan, chúng ta không vơ đủa cả nắm, lấy những hiện tượng này để quy kết bản chất chính sách của một đất nước nhưng dù bất kỳ lý do gì, việc đục bỏ chiến sử, phủ nhận cả chủ quyền quốc gia chính là hành động “tự thiến lịch sử”, chấp nhận một đời sống thiểu năng và nô lệ.

Lòng dân không bao giờ chấp nhận hành động vô ơn với lịch sử vì lịch sử là của dân nên sự trường tồn của nó luôn được chứng nhận và vượt qua mọi hệ lụy. Vào lúc hơn 10:30 sáng ngày 19/1/1974 tong trận hải chiến Hoàng Sa, thiếu tá hạm trưởng HQ-10 hải quân Việt Nam Cộng Hòa Ngụy Văn Thà và các đồng đội của anh không bao giờ nghĩ rằng sẽ có một ngày sau hơn 35 năm cuộc chiến tàn lụi, tên tuổi các anh sánh bước cùng tên tuổi 64 người lính hải quân cộng sản tử chiến trong trận hải chiến Trường Sa 1988 trên đường phố Hà Nội trong sáng Chủ nhật 24/7/2011. Thiếu tá Ngụy Văn Thà càng không thể biết được rằng, có ngày vợ anh được mời đến tham dự lễ vinh danh, tưởng niệm linh hồn các tử sỹ đã ngã xuống vì biển Đông đúng vào ngày 27/7- ngày tưởng niệm và ghi công các thương binh liệt sỹ của chính quyền cộng sản. Nghĩa cử tri ân, vượt qua những rào cản chính trị này đã làm cho hàng triệu con tim Việt Nam trong và ngoài nước xúc động. Cựu tư lệnh hải quân vùng I, phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại dâng trào với tôi, rằng ông xúc động và rất xúc động trước những hình ảnh tưởng niệm tử sỹ hai miền Nam Bắc, dù muộn nhưng sau cùng đã diễn ra ở Sài gòn và Hà Nội.

Một lần nữa, chúng ta đã thấy mọi chủ nghĩa ngoại lai đều thấp hơn lòng tự tôn dân tộc. Đây chính là nghị quyết của lòng dân Việt Nam trong vấn đề hòa giải dân tộc, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Có được nghị quyết của lòng dân, không ai có thể đục bỏ được lịch sử vì có thể đục bỏ bia đá, đục bỏ cả thần tượng, nhưng không ai có thể đục bỏ được lòng dân.

 VCH

Tác giả gửi cho Quê choa

P/s Mình vừa đọc bài” Đà Lạt: Xây “Vạn Lý Trường Thành” trong khu du lịch?” trên VNN. Ngao ngán, thật quá xấu  hổ. Văn hóa Việt là thế này a? Mù văn hóa hay vong bản?  Đau.

“Vạn Lý Trường Thành Đà Lạt” được xây dựng khá dài, khoảng 300m, uốn lượn, vắt vẻo từ ngọn đồi bên này, sang đến ngọn đồi bên kia của toàn khu. Ở hai đầu “trường thành” cũng được xây dựng cổng thành hẳn hoi, có hình vuông, mỗi bề khoảng 3m, cao hơn tường thành. Bên trên cổng thành còn có hai tượng lính kiểu cổ xưa của Trung Quốc đứng canh thành với giáo mác trong tay.

Bất ngờ hơn, bởi nơi một cái cổng cạnh đó nữa, người ta khắc dòng chữ nổi tiếng khắp thế giới: “Bất đáo Trường Thành phi hảo hán”. Đây đích thị là ý muốn “dựng” Vạn Lý Trường Thành giữa cao nguyên Đà Lạt chứ không phải là nhầm lẫn nữa.


Thay bia là chuyện to, không thể lấp liếm được

Phạm Xuân Nguyên

1. Việc thay tấm bia khắc lời Hồ Chí Minh viết bằng văn vần về Nguyễn Huệ đặt ở đền thờ Quang Trung (Vinh – Nghệ An) là cả chuyện to. Thứ nhất, lời đã được chọn, bia đã được khắc và dựng ngay khi đền được khánh thành. Thứ hai, lời đây là của Hồ Chí Minh, lãnh tụ tối cao của Đảng Cộng Sản Việt Nam, người anh hùng dân tộc của nước Việt Nam thế kỷ XX, mà tư tưởng và đạo đức của ông đang được Đảng phát động trong đảng ngoài dân học tập và làm theo. Thứ ba, đền thờ mới được khánh thành ngày 7/5/2008, như vậy tấm bia khắc mới được ba năm. Theo thông tin tôi được biết, việc thay bia (chưa phải đục bỏ chữ trên bia mà là dùng một lớp composite dán đè lên rồi viết chữ mới vào) mới được thực hiện vào ngày 20/5/2011. Ngày 31/5/2011 tại thành phố Vinh có hội thảo “Hoàng đế Quang Trung với Phượng Hoàng – Trung Đô” do UBND TP Vinh, Viện khảo cổ học, Hội Sử học Việt Nam, Liên hiệp Khoa học Công nghệ – Tin học Ứng dụng (UIA) và Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người phối hợp tổ chức. Một chủ đề chính của hội thảo là tìm kiếm nơi mai táng hài cốt của hoàng đế Quang Trung. Nhiều nhà nghiên cứu khoa học, nhà ngoại cảm trong cả nước đã về dự hội thảo. Họ chắc chắn đã lên thăm đền thờ Quang Trung trên núi Dũng Quyết, trong số họ chắc chắn nhiều người trước đó đã từng lên đền thờ, đã biết có tấm bia khắc đoạn thơ của Hồ Chí Minh viết về Nguyễn Huệ đặt ở bên phải từ cửa vào. Nếu đúng là lớp composite phủ lên bia đã có từ ngày 20/5 thì sao họ không phát hiện ra chuyện này và lên tiếng? Mà nếu chính quyền thành phố Vinh và tỉnh Nghệ An muốn có một văn bản khác để thay thế văn bản của Hồ Chí Minh thì sao không tranh thủ cuộc hội thảo có nhiều bậc thức giả tụ hội về để hỏi ý kiến, đề xuất? Một tấm bia khắc lời lãnh tụ mới dựng ba năm đã vội vàng lấp liếm, thay thế bằng hành động dán đè lên khi chưa có quyết định, khi còn đang gọi là “thăm dò dư luận”, lại chỉ mới làm cách đây hai tháng, động thái đó có nghĩa là gì? Câu hỏi xin dành cho những người chịu trách nhiệm trước ngôi đền, trước Nguyễn Huệ, trước Hồ Chí Minh, trước nhân dân?

 2. Trong những ý kiến phản hồi bài viết trước của tôi, có một số người cho biết lý do duy nhất được đưa ra ở Nghệ An để thay bia là có ai đó cho đoạn thơ của Hồ Chí Minh viết về Nguyễn Huệ nôm na, lại có chữ “kẻ” nghe không hay, không kính. Đây là một lý do vin vào hình thức bên ngoài mà thực ra là không hiểu biết gì về quan điểm nhân dân của Hồ Chí Minh.

Suốt đời ông Hồ viết và nói cốt cho dân dễ nghe, dễ hiểu, dễ làm. Nhất là khi ông mới về nước sau ba mươi năm ở nước ngoài. Tám mươi phần trăm dân chúng là nông dân, phần đông là thất học, mù chữ, muốn tuyên truyền tư tưởng cách mạng cho họ thì phải có cách nói làm sao cho họ dễ nhớ, dễ thuộc. Đặc biệt khi nơi đầu tiên tuyên truyền cho dân lại ở vùng núi. Cho nên ông Hồ đã trình bày những điều cao xa, sâu sắc bằng những ngôn từ giản dị, bằng lối nói khẩu ngữ để nhân dân thấy gần gũi, dễ hiểu. Toàn bộ bản diễn ca Lịch sử nước ta dài 208 câu lục bát ông Hồ viết năm 1941-1942 tại Cao Bằng chính là theo tinh thần ấy. Ông kể lần lượt các triều đại với công tích chính là chống giặc ngoại xâm bằng cách nêu tên người anh hùng dân tộc qua mỗi thời kỳ rồi đúc rút thành bài học. Bài học đó luôn luôn là sức mạnh đoàn kết toàn dân. Đoạn thơ ca ngợi Nguyễn Huệ là tập trung nhất, khái quát nhất cho truyền thống quý báu xuyên suốt lịch sử dân tộc đó. Câu chữ đơn giản mà chính xác, lời thơ mộc mạc mà sâu sắc, làm bật được tư tưởng lớn: Giặc Tàu dẫu hung hăng nhưng non sông nước nhà ta vẫn được dân ta giữ gìn trọn vẹn bởi dân ta biết cùng nhau một lòng và có người lãnh đạo chí cả tài cao. Một dân tộc đồng tâm nhất trí từ trên xuống dưới, từ người cầm quyền đến dân chúng, thì không một kẻ thù nào dù xảo quyệt, mạnh bạo đến đâu, có thể khuất phục. Đánh giá Nguyễn Huệ, đánh giá sức mạnh của Nguyễn Huệ và nhân dân như vậy thật là cao cả, tuyệt vời. Nhưng ở đây ông Hồ không chỉ nói về riêng về một cá nhân, một triều đại, ông khái quát bài học chung, ông rút ra tư tưởng lớn cho cả một trường kỳ lịch sử chống giặc phương Bắc của dân tộc Việt Nam. Chọn đoạn thơ này khắc vào bia đặt ở đền thờ Quang Trung, theo tôi, mới thật là đích đáng.

Còn nói đoạn thơ của Hồ Chí Minh là “nôm na” thì chính sự nôm na đó lại phù hợp nhất với tinh thần, phong thái của “người anh hùng áo vải”. Nguyễn Huệ là người chân thật, mộc mạc trong lời ăn tiếng nói của mình, theo như các sử liệu để lại cho biết. Con người phi thường với thiên tài quân sự lỗi lạc khác lạ đó viết hịch đánh quân Thanh pha trộn cả lời Nôm và lời Hán “đánh cho để dài tóc / đánh cho để đen răng / đánh cho nó chích luân bất phản / đánh cho nó phiến giáp bất hoàn / đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”. Chính Nguyễn Huệ khi lên ngôi hoàng đế đã có những quyết sách trong văn hóa và giáo dục để đưa chữ Nôm trước nay còn bị xem thường (“nôm na là cha mách qué”) lên địa vị chữ viết chính thức của nước nhà, khi lần đầu tiên trong lịch sử nhà nước phong kiến Việt Nam dưới thời ông chữ Nôm được đưa vào thi cử. Khi dân làng Văn Chương (Hà Nội) làm đơn đề nghị cho dựng lại những tấm bia Văn Miếu bị đổ do các trận binh đao, Nguyễn Huệ-Quang Trung đã phê vào đơn bằng hai câu nôm tuyệt vời: “Nay mai dựng lại nước nhà / Bia nghè lại dựng trên tòa nhân gian”. Tôi nhắc lại mấy sự kiện mà ai đọc sử cũng biết để thấy rằng đoạn thơ của người anh hùng dân tộc thế kỷ XX là có sự tương thông tinh thần xuyên lịch sử với người anh hùng dân tộc thế kỷ XVIII được nói đến. Vì vậy, khắc ghi những câu ca có vẻ như “nôm na” của Hồ Chí Minh tại đền thờ Quang Trung lại có thêm ý nghĩa nhắc nhở cháu con về một phương diện văn hóa đầy ý thức dân tộc của vị hoàng đế phi thường này.

Trong 208 câu của bản diễn ca lịch sử, ông Hồ ba lần dùng chữ “kẻ”. Đầu tiên là với ông vua sáng lập nhà Lý: “Công Uẩn là kẻ phi thường”. Y như câu cho Nguyễn Huệ. Ông Hồ chỉ dùng chữ “phi thường” cho hai nhân vật lịch sử này vì quả là họ phi thường thật: Lý Công Uẩn là người có nhãn quan chính trị lớn nên đã dời đô từ rừng núi về đồng bằng, mở đầu thời đại phát triển độc lập của quốc gia Đại Việt; Nguyễn Huệ là người có thiên tài quân sự đột biến trong lịch sử Việt Nam, đánh nhanh thắng nhanh, thần tốc, táo bạo. Nói vậy để thấy ông Hồ dùng chữ “kẻ” ở đây không hề là khinh xuất. Trước khi nói về Nguyễn Huệ, từ “kẻ” lại được ông Hồ dùng để chỉ cả ba anh em nhà Tây Sơn: “Nguyễn Nam, Trịnh Bắc đánh nhau / Thấy dân cực khổ mà đau đớn lòng / Dân gian có kẻ anh hùng / Anh em Nguyễn Nhạc nổi vùng Tây Sơn”. Chữ “kẻ”, như thế, dưới ngòi bút của Hồ Chí Minh không hề là xách mé, tầm thường, mang nghĩa coi nhẹ nhân vật. Ngược lại, nó chỉ người đáng trọng, đáng kính. Như trong tên gọi “ kẻ sĩ”. Như trong tục ngữ ai cũng biết: “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Hay trong câu đối truyền miệng: “Bác là kẻ cả trong làng / Tôi là người sang ở nước”. Lại cũng ở bản diễn ca có câu “Mấy năm ra sức Cần Vương / Bọn ông Tán Thuật nổi đường Hưng Yên” khi ông Hồ viết về cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy chống Pháp. Nếu vin vào bốn chữ “bọn ông Tán Thuật” để nói ông Hồ là “thất lễ” với tiền nhân thì quả đọc chữ không vỡ chữ.

 3. Một phản hồi có dẫn ra công văn nói về việc tổ chức thi tuyển và thực hiện văn bia đền thờ Vua Quang Trung. Công văn này do UBND thành phố Vinh và Hội đồng thi tuyển và thực hiện văn bia đền thờ Vua Quang Trung đưa ra, được chủ tịch UBND thành phố là Nguyễn Hoài An ký. Theo như thời gian nhận bài thi được nêu trong công văn là từ 11/7/2008 đến 10/8/2008 và theo câu viết trong phần “Mục đích” cuộc thi rằng “Trên cơ sở nội dung đã được lựa chọn, phê duyệt, tiến hành xây dựng lại công trình văn bia xứng tầm với quy mô của công trình.” (mấy chữ in nghiêng của tôi – PXN) thì biết được là cuộc thi này nhằm để thay bia – thay hai tấm bia đã được dựng lên từ đầu ở đền thờ. Xin nhắc lại là đền thờ Quang Trung ở Vinh mới được khánh thành ngày 7/5/2008. Như vậy, vừa khánh thành đền thờ xong thì đã thay bia. Tại sao lại thế? Có phải đoạn thơ của Hồ Chí Minh được chọn và được khắc từ đầu là sai lầm? là không “xứng tầm với quy mô của công trình”? Mà thời gian nhận bài thi chỉ trong vòng một tháng, lại là thi văn bia – một thể loại cổ văn ngày nay ít người am hiểu và viết được, thì mong thu được cái gì? Rốt lại thì cái công văn này, theo người phản hồi cho biết, không phải là chính thức, mà chỉ là “bản dự thảo công văn, được gửi tới qua mail cho một số người được hỏi ý kiến trước.Nếu như đây là có thật, thì nội một việc đó thôi đã cho thấy sự không nghiêm túc của những người lập bia, dựng bia, bỏ bia, và thay bia!

 4. Tôi đang viết bài này thì nhận được mấy cú điện bảo vào trang blog Phạm Viết Đào đọc đi. Tôi vào thấy bài “Nghệ An không đục xóa thơ của cụ Hồ Chí Minh trên văn bia tại đền thờ Quang Trung”. Ông Đào viết: “Ông Trần Ngọc Lữ  (trưởng ban quản lý di tích) đã đưa tôi ra tấm bia để giải trình về chuyện này. Theo ông Lữ thì nhiều du khách đến thăm đền có đặt dấu hỏi: Tại sao lại gọi Hoàng đế Quang Trung là “kẻ; đây là bài thơ Cụ Hồ viết trước 1945, từ “kẻ“ không mang ý nghĩa miệt thị vì Hà Nội còn được gọi là “kẻ chợ“… Vì chiều lòng du khách nên Ban quản lý du khách làm thêm một phiên bản mới chồng lên để xem phản ứng của du khách… Vì thế nên đã dẫn tới sự hiểu nhầm: Nghệ An xóa thơ cụ Hồ Chí Minh viết về Quang Trung tại Đền thờ Quang Trung vừa được xây dựng trên núi Dũng Quyết…” Hình như ông bí thư tỉnh ủy Nghệ An cũng vừa tuyên bố như ông trưởng ban quản lý di tích này, nếu đọc trên một blog khác. Lạ thật. Lấy bản mới dán chồng lên bản cũ, che lấp bản cũ, không cho ai đọc được bản cũ, như vậy không gọi là xóa thì gọi là gì? Đâu phải đục bỏ bia thì mới coi là xóa bỏ. (Ở Hà Nội, tấm bia tưởng niệm Alexandre de Rhohdes ở đền Bà Kiệu trước đây cũng bị cất bỏ lâu nay trong kho, không được đem ra dựng ở đâu, thì như thế cũng coi như là xóa bỏ những lời ghi trên bia về công lao của vị giáo sĩ này đối với chữ quốc ngữ nước ta). Nói “chiều lòng du khách” thì là chiều lòng ai, khi những khách thắc mắc là đã có đọc tấm bia khắc lời ông Hồ, còn những khách đến sau thì sao, khi họ đã bị bịt mắt trước những lời ông Hồ nói về Nguyễn Huệ bởi lớp dán chồng lên đó? Rồi những khách thăm cũ, như tôi chẳng hạn, bây giờ trở lại đền thờ, muốn coi lại tấm bia có khắc đoạn thơ ông Hồ viết về Nguyễn Huệ mà mình đã biết (cũng là một dạng “thắc mắc” đấy, khi thấy bia bị dán đè lên) thì ban quản lý có “chiều lòng du khách” là tôi để lột bỏ lớp dán mới đi cho tôi được xem tấm bia cũ hay không? Nhưng điều nghiêm trọng ở đây là: Ở chốn đền thờ trang nghiêm, trên một tấm bia uy nghi, khắc ghi lời lãnh tụ, tại một khu di tích lịch sử cấp quốc gia, ai đã dám quyết định cho phép làm cái việc tày đình là dán đè, phủ lấp bài văn bia đang hiện có, mà chỉ với lý do “chiều lòng du khách”? Luật Di sản văn hóa có cho phép vậy không? Rồi nếu sau một thời gian thấy văn bản mới không hợp, không được du khách đồng tình, thì người ta lại thản nhiên bóc lớp dán ra, để lại phơi ra bản văn bia cũ, tức là đoạn thơ của Hồ Chí Minh, hay sao? Thật tùy tiện và cẩu thả hết chỗ nói. Dán một tờ thông cáo này đè lên một tờ thông cáo khác trên bản tin còn phải thận trọng, cân nhắc, huống chi đây là cả một tấm bia đá lớn, một tấm bia đá khắc ghi những lời đánh giá lịch sử của một vĩ nhân về một vĩ nhân. Như vậy, hành động dán đè lên bia còn tệ hại và nguy hiểm hơn đục bỏ bia. Tôi coi đó là hành động bịt miệng Hồ Chí Minh! Mà lý do vì sao thì tôi đã nói ở bài trước.

 5. Yếu tố Tàu trong chuyện này là không thể loại bỏ. Nhất là trong thời điểm hiện tại. Nếu không vì mấy chữ gọi nước láng giềng là Tàu, lại thêm những lời ca ngợi chiến công đánh Tàu của dân ta dưới tài thao lược của Nguyễn Huệ thì tôi dám chắc đoạn thơ của Hồ Chí Minh đã không bị xét nét đến nỗi đành chịu che phủ, dán đè. Nghĩ cũng là ghê. Những ý chê đoạn thơ không nói được công lao thống nhất đất nước của Nguyễn Huệ, hay chỉ nói giặc Tàu mà không nói giặc Xiêm, rõ ra là của người không chịu tìm hiểu lịch sử nước nhà. Xiêm chưa bao giờ là kẻ thù thường trực, nguy hiểm của nước ta. Tàu mới là mối nguy cơ chính. Công lao thống nhất đất nước, định vị một Việt Nam lãnh thổ và chủ quyền như ngày nay, là công của Nguyễn Ánh trên cái “mặt bằng” đã được Nguyễn Huệ dọn dẹp. Đó là sự thật lịch sử. Yếu tố Tàu trong chuyện này cho thấy sự nhạy cảm chính trị của những người có trách nhiệm ở Nghệ An là vừa có vừa không. Không là đối với nhân dân trong nước, họ dư biết rằng việc che lấp lời Hồ Chí Minh tại đền thờ Quang Trung một cách hấp tấp, tùy tiện vào thời điểm như hiện nay là động đến cả ý thức dân tộc và lòng yêu nước của dân ta, vậy mà họ vẫn làm ngang nhiên, đặt toàn dân trước việc đã rồi. Có là đối với ai đó bên ngoài, họ sợ những phản ứng của cái nơi được gọi thẳng tên trong bài văn bia. Mọi người có quyền suy luận và nghĩ như vậy trước thực tế những gì đã xảy ra quanh tấm bia mang lời Hồ Chí Minh nói về Nguyễn Huệ tại đền thờ Quang Trung trên núi Dũng Quyết (Vinh – Nghệ An).

            Tóm lại, thay bia là chuyện to, không thể lấp liếm được. Chỉ nêu câu hỏi chót: Nghệ An không xóa thơ Hồ Chí Minh trên bia, vậy khi nào Nghệ An bóc tấm dán đi để thơ Hồ Chí Minh lại hiện ra trên bia trước mắt mọi người? Hay rồi đây dựng tấm bia mới, còn tấm bia có lời ông Hồ sẽ bị đưa vào kho để chìm trong bóng tối mãi mãi, hoặc tệ hơn sẽ bị đục bỏ một cách âm thầm, và như thế là hoàn tất một quá trình dựng bia và phá bia mang ngôn từ và tư tưởng Hồ Chí Minh?

 Hà Nội 26.7.2011

PXN

Cú điện thoại lúc 12 giờ trưa

Dân Choa

Dân choa là người bạn quen thân của mình, anh vừa cho lên blog FB của anh bài ” Bác anh hùng…  chúng cháu cũng anh khùng” về cú điện thoại anh trao đổi với một quan xứ Nghệ xung quanh bài viết ” Đau xót nhục nhã biết bao”của Phạm Xuân Nguyên. Xét thấy đây không phải là cú điện thoại sáng tác, mình cũng đã cẩn thận kiểm chứng rồi, nên mới biết cú điện thoại này xảy ra lúc 12h trưa nay, mình mới đưa bài này lên. Mình thay cái đầu đề của bác ấy, cho nó nóng hôi hổi vừa thổi vừa đọc, hi hi.

Choa nghe tin nóng khi đọc bài của Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Quang Lập, thấy kinh hãi quá, đọc lại cho kĩ. Bốc máy alo cho một ông có trách nhiệm…

DC:- A lô, Choa đây. Ông đã biết chuyện gì đang xảy ra ở truyền thông với quê hương ông Cụ không?

Quan:- He! He! Tui cũng đang ngồi trước máy đây. Sáng đến giờ bọn báo chí gọi điếc cả tai rồi.

DC:- Ông đọc kĩ lại bài của ông Phạm Xuân Nguyên với bài của ông Nguyễn Quang Lập cho tui, rồi nói cho tui nghe mồ. Chết thật, cả nước đang nháo nhác về chuyện quê hương ông Cụ cho đục văn bia văn tự của ông Cụ, lại vào cái thời điểm nhạy cảm ni.

Quan:- Nói thật với ông là tui cũng không biết. Trước khi trả lời cho công luận thì tui phải cho kiểm tra thật kĩ đã. Có đúng là đục bia hay không? Rồi tìm cách đối thoại. Ông nhớ cho điều này. Bài viết của ông Nguyên là bài mang tính cá nhân, ý kiến của một Blog cá nhân, không phải là bài đăng báo. Cho nên xin nhấn mạnh, chúng tôi không nhất thiết phải có trách nhiệm phản hồi.

DC:- Nhưng dù sao thì cả nước và ngay ở nước ngoài cũng biết. Các ông không nên im lặng như vậy. Tốt nhất là cần phải lên tiếng, tìm cách phản hồi với trách nhiệm cao, còn im lặng thì nhân dân sẽ nghĩ gì về quê hương ông Cụ.

Quan:- Lại nói thật với ông là chuyện đền thờ Vua Quang Trung là thuộc cấp thành phố, không thuộc quyền quản lý của tôi. Nhưng tôi sẽ gọi ông Sinh chủ tịch để hỏi thêm, sau đó mới trả lời cho ông được.

DC:- Nhưng ông có thể lý giải sơ bộ là sao phải thay lời bia của ông Cụ, có nhất thiết không?

Quan:- Ông hỏi khó tôi quá. Có một lần tôi cũng có nghe chuyện thay bia, nhiều anh em cho rằng lời của ông Cụ mộc quá, hơn nữa ông Cụ gọi Ngài là “kẻ”, có ý tầm thường…vậy thôi.

DC: -Ông Cụ thì cũng là Vua chứ sao. Vua đời sau nói về các bậc tiền nhân thế nào mà chả được. Có lần ông Cụ đi chơi đền Kiếp Bạc, ông Cụ đã cảm hứng với Ngài Hưng Đạo Vương mộc mạc chứ sao

“…Bác anh hùng, tôi cũng anh hùng…”

Hay là vì cái chữ ” tàu” mà các ông sợ đụng chạm đến 16 chữ vàng?

Quan:- Đề nghị ông không nên nâng quan điểm. Nâng quan điểm như thế thì chết chúng tôi. Nhưng được rồi, tôi hứa với ông là sẽ xử lý ngay. Đầu tiên là các báo chính thống không đăng bài của ông Nguyên, kể cả tờ Vanhoanghean.com. Đầu tuần sẽ họp Ban tuyên giáo gấp. Rồi sẽ cho đăng một bài ngắn, có liên quan đến dựng bia. Nhưng tôi nhắc lại, không nhất thiết phải là phản hồi lại bài của ông Nguyên.

DC:- Thôi tùy các ông xử lý, liệu cơm mà gắp mắm, trời đang nổi dông đó.

Quan: Có chi mô! Việc ni địa phương xử lý được. Nhưng mình rút kinh nghiệm là phải cảnh giác với mấy thằng văn nghệ, u ơ rứa mà làm phiền toái lắm.

Khi mô ông về Cửa Lò nghỉ mát nhớ báo trước nhá. Tui có mấy chỗ hay lắm, mộc mạc lắm.

Giờ để tôi gọi sang thành phố đây.

Chào nha!

Tít…tít…tít.


Đau xót nhục nhã biết bao

Phạm Xuân Nguyên

Nguyễn Bắc Sơn &Phạm Xuân Nguyên bên tấm bia khăc thơ Bác

Cách đây vài tháng mình đã có bài “Ai đục bỏ lòng yêu nước” kể chuyện Tấm bia kỷ niệm chiến thắng tại đầu cầu Khánh Khê (Lạng Sơn)  đã bị đục bỏ mấy chữ “Trung Quốc xâm lược“. Chuyện này do Mr. Do kể lại và đã gây sốc rất nhiêu người. Cứ tưởng đây là chuyện hi hữu, có một không hai. Không ngờ tại đền thơ vua Quang Trung trên núi Dũng Quyết ở thành phố Vinh (Nghệ An), tấm bia khắc thơ Hồ Chủ tịch đã bị đục bỏ chỉ vì lời yêu nước chống Tàu của Bác. Tệ hại hơn, tấm bia khắc công trạng của vua Quang Trung cũng bị đục bỏ, vì đó là công trạng chống Tàu. Thật kinh khủng khiếp.

Kể từ 30/6 blog mình không đăng bài người ngoài. Bài viết của Phạm Xuân Nguyên là một ngoại lệ, một ngoại lệ vô cùng cần thiết.

Nguyễn Huệ là kẻ phi thường

Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu

Ông đà chí cả mưu cao

Dân ta lại biết cùng nhau một lòng

Cho nên Tàu dẫu làm hung

Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà

Cả đoạn thơ viết về Nguyễn Huệ trên đây của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã được khắc vào tấm bia đá đặt ở đền thờ “người anh hùng áo vải” trên núi Dũng Quyết ở thành phố Vinh (Nghệ An). Đền này được khánh thành năm 2008. Đi vào cổng đền, qua bình phong tứ trụ, là hai nhà bia nhìn vào nhau. Nhà bia bên trái khắc “Công trạng vua Quang Trung”. Nhà bia bên phải khắc “Chủ tịch Hồ Chí Minh viết về Quang Trung”, chính là đoạn thơ này. Đứng trên đỉnh núi lộng gió, đưa mắt nhìn toàn cảnh một vùng sơn thủy hữu tình địa linh nhân kiệt xứ Nghệ, đọc tấm bia khắc những lời người anh hùng dân tộc thế kỷ XX ca ngợi người anh hùng dân tộc thế kỷ XVIII tôi thấy lòng mình cảm khái vô cùng. Hồ Chí Minh không chỉ ca ngợi Nguyễn Huệ. Ông ca ngợi khối đoàn kết toàn dân, khi “vua hiền tôi sáng” biết ở giữa nhân dân, dựa vào sức dân, nhân mạnh lên sức của dân, để giữ nước và xây nước. Ông vua nào, nhà cầm quyền nào, thể chế nào có được, và giữ được, và phát huy được sức mạnh đó, thì sẽ bền vững và xứng đáng với dân tộc, giống nòi. “Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà” – đó là một chân lý truyền đời.

Những người làm văn hóa ở Nghệ An đã có công khi chọn được đoạn thơ của Hồ Chí Minh viết về Nguyễn Huệ và thuyết phục được các cấp lãnh đạo, quản lý chấp nhận khắc ghi nó lên tấm bia ở đền thờ. Tôi nói “thuyết phục” vì trong một lần về thăm đền tôi nghe phong thanh chừng như là đang có ý kiến cho rằng mấy câu thơ ấy “nhạy cảm”, dẫu là của cụ Hồ nhưng trong hoàn cảnh “tế nhị” hiện nay của quan hệ Việt-Trung thì khắc nó lên bia, bày nó ra giữa thanh thiên bạch nhật là không lợi. Ôi, chỉ mới nghe phong thanh thế thôi tôi đã bực mình, tức giận. Sao lại có thể hèn nhát đến vậy! Tôi nghĩ, đó chỉ là một vài ý kiến của ai đó, sẽ không được chấp nhận. Tôi tin, tấm bia khắc những câu thơ viết về Nguyễn Huệ của Hồ Chí Minh sẽ đứng mãi ở đền thờ Quang Trung, trên núi Dũng Quyết, giữa đất trời Nghệ An, đất trời Việt Nam, để tỏa sáng một chân lý của người Việt Nam, nước Việt Nam.

Hỡi ôi, lời phong thanh đã thành sự thực, niềm tin của tôi đã bị dập tắt phũ phàng. Khi viết bài này tôi đã gọi điện về Vinh nhờ một tiến sĩ văn học lên tận đỉnh núi Dũng Quyết, vào tận đền thờ Quang Trung, xem tận mắt tấm bia khắc lời Hồ Chí Minh viết về Quang Trung có còn nguyên đó không. Điện báo ra là đã thay, đã thay rồi chú ơi! Cháu gửi ảnh ra ngay cho chú đây.


Tấm bia bên trái khắc “Công trạng vua Quang Trung” đã bị đục bỏ, thay bằng bài “Tưởng niệm Hoàng đế Quang Trung” của Vũ Khiêu.


Thơ yêu nước của Hồ Chí Minh đã bị đục bỏ, thay bằng đoạn trích chiếu của Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ gửi La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp chọn đất đóng đô.

Và nhìn những tấm ảnh chụp mới tức thì, tôi không tin vào mắt mình nữa. Tấm bia bên trái khắc “Công trạng vua Quang Trung” đã thay bằng bài “Tưởng niệm Hoàng đế Quang Trung” của Vũ Khiêu. Còn ở tấm bia bên phải, những lời của Hồ Chí Minh đã bị đục bỏ, thay bằng đoạn trích chiếu của Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ gửi La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp chọn đất đóng đô. Tôi đã điện hỏi kỹ người chụp đây có phải là thay bia mới vào bia cũ, hay là chỉ đục bỏ văn bia, thay bài mới. Anh cho biết đã hỏi người trông coi đền thờ thì họ nói là chỉ đục bỏ chữ, thay văn bia, chứ không thay bia.

Vậy là đã rõ.

Lý do việc đục bỏ văn bia lời Hồ Chí Minh là sợ Tàu! (Hãy gọi là Tàu như trong đoạn thơ của ông Nguyễn). Đau xót, nhục nhã biết bao! Chẳng lẽ trên khắp nước Nam cái gì nói đến lịch sử oai hùng của Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc từ xưa đến nay đều là phải né tránh, cấm đoán?

Nhưng chính quyền tỉnh Nghệ An phải có trách nhiệm trả lời cho đồng bào cả nước biết rõ ràng, công khai, vì sao có sự đục bỏ văn bia ghi lời Hồ Chí Minh viết về Quang Trung tại đền thờ Quang Trung trên núi Dũng Quyết? Ai đưa ra chủ trương này? Một việc hệ trọng, thiêng liêng như vậy đã được quyết định ở cấp nào, theo nghị quyết nào của tỉnh ủy, ủy ban nhân dân tỉnh, hay của Bộ VH-TT-DL, hay của một cấp cao hơn nữa?

Bởi vì tôi được biết, để chọn được đoạn thơ của Hồ Chí Minh và quyết định khắc vào bia dựng ở đền thờ Quang Trung là phải có cả một quá trình từ người chuyên môn đến nhà chính trị lựa chọn, cân nhắc và quyết định. Khắc bia rồi đục bia, xưa hay nay, đều là chuyện nghiêm trọng.

Nếu hôm nay người ta không dám ca ngợi anh hùng dân tộc của mình trên đất nước mình, thì ngày mai người ta sẽ thóa mạ ai?

Nếu hôm nay người ta đục bỏ lời của Hồ Chí Minh, thì ngày mai người ta giữ lại cái gì?

Đục bỏ những lời Hồ Chí Minh viết về Nguyễn Huệ tại đền thờ Quang Trung vì lý do sợ ảnh hưởng đến quan hệ ngoại giao nước láng giềng là xúc phạm cả Nguyễn Huệ, cả Hồ Chí Minh, cả toàn thể nhân dân Việt Nam. Hơn lúc nào hết, trong những ngày này, những lời ca ngợi sức mạnh đoàn kết toàn dân để giữ vững chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ dân tộc trong những lời thơ Hồ Chí Minh viết về Nguyễn Huệ đang rất cần được vang lên mạnh mẽ và thống thiết!

 Dân ta lại biết cùng nhau một lòng

Cho nên Tàu dẫu làm hung

Dân ta vẫn giữ non sông nước nhà

Hà Nội 23.7.2011

P.X.N





Comments