Trang chính‎ > ‎

Trí tuệ bậc Thầy

Hồ Chí Minh trọn đời minh triết


Posted on 19.05.2015

HoChiMinh1
19 tháng 5 là ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng là ngày thành lập Việt Minh, khai sinh  đường Hồ Chí Minh trong lịch sử. Ba sự kiện đều có tầm vóc lớn trong lịch sử Việt Nam và thế giới. Bác Hồ trọn đời minh triết. Bài viết này chỉ xin đề cập ba ý: Việt Nam Hồ Chí Minh biểu tượng Việt; Bác Hồ nói đi đôi với làm mẫu mực đạo đức; Bác Hồ rất ít trích dẫn.

Việt Nam Hồ Chí Minh là biểu tượng Việt

Bác Hồ là biểu tượng của thế giới người hiền, là tinh hoa văn hóa Việt gốc và văn hóa tương lai.

Giáo sư Trần Văn Giàu trong bài viết Nhân cách lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh  đã luận về bảy phẩm chất nhân cách mà cũng là minh triết của Bác Hồ được con dân nước Việt và thế giới ngợi ca. Đó là : Ưu tiên đạo đức, Tận tụy quên mình, Kiên trì bất khuất, Khiêm tốn giản dị, Hài hòa kết hợp, Thương, quý người, nâng đỡ con người, thấu tình đạt lý, Yêu thiên nhiên, hòa hợp với thiên nhiên. Giáo sư Trần Văn Giàu kết luận: “Xin mượn ý của một nhà báo ở châu Đại Dương để tạm kết chủ đề luận về nhân cách Hồ Chủ tịch: Người ta không thể trở thành một Cụ Hồ Chí Minh, nhưng ở Cụ Hồ, mỗi người có thể học một số điều làm cho mình trở thành tốt hơn”.

Bác sĩ Vũ Đình Tụng đã kể câu chuyện Bức thư huyết lệ trong hàng vạn chuyện đời thường về Bác Hồ, xin được trích nguyên văn.

” 8 giờ đêm – một đêm tháng Chạp năm 1946 – bác sĩ Vũ Đình Tụng phải mổ một trường hợp chiến thương quá đặc biệt và rất đau lòng: một chiến sĩ “sao vuông” rất trẻ, tuy vết thương nặng, đạn xé tung cả một khúc ruột mà miệng vẫn mỉm cười, cái nụ cười quá quen thuộc và thân thương đối với bác sĩ. Anh tự vệ Thủ đô ấy, người chiến sĩ gan góc ấy lại chính là Vũ Văn Thành, con trai út của bác sĩ.


Suốt ngày hôm ấy, tôi đã phải mổ cưa gắp đạn và khâu vết thương cho hàng chục chiến sĩ nhưng đến trường hợp con tôi, thần kinh tôi căng lên một cách kinh khủng. Mấy người giúp việc khuyên tôi nên nghỉ tay, nhưng tôi vẫn cố kìm mình để giữ bình tĩnh gắp mảnh đạn cuối cùng trong thân thể người con. Xong việc, tôi loạng choạng rời khỏi bàn mổ.

Các bác sĩ và những người giúp việc đã cố gắng nhiều, nhưng vết thương do quân thù gây ra quá nặng đã cướp đi mất Thành, con trai của tôi, anh của Thành là Vũ Đình Tín, tự vệ chiến đấu cũng vừa bị mất sau ngày Tổng khởi nghĩa, tôi đau đớn đến bàng hoàng.

Một buổi chiều trời rét lắm, sau đêm Nôen cuối cùng ở bệnh viện Bạch Mai, bị bom đạn tàn phá, vào lúc tôi mổ xong một ca thương binh nhẹ thì bác sĩ Trần Duy Hưng, lúc bấy giờ giữ chức Thứ trưởng Bộ Nội vụ trân trọng trao cho tôi một bức thiếp của Hồ Chủ tịch. Tôi cảm động quá. Mới đầu tôi cứ ngỡ là một mệnh lệnh mới của Người. Nhưng thật không ngờ, đó lại là một bức thư riêng đầy tình cảm lớn lao của Bác chia đau thương với gia đình tôi. Khi đó, Bác gọi tôi là “Ngài”.

“Thưa Ngài,
Tôi được báo cáo rằng: con giai Ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc.

Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột.

Nhưng cháu và anh em thanh niên khác dũng cảm hy sinh để giữ gìn đất nước – Thế là họ đã làm rạng rỡ dân tộc, vẻ vang giống nòi. Họ chết cho Tổ quốc sống mãi, tinh thần họ luôn luôn sống với non sông Việt Nam.

Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc. Những thanh niên đó là anh hùng dân tộc. Đồng bào và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên ơn họ.

Ngài đã đem món quà quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến cho Tổ quốc. Từ đây, chắc Ngài sẽ thêm ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng và sung sướng.

Tôi thay mặt Chính phủ cảm ơn Ngài, và gửi Ngài lời chào thân ái và quyết thắng.
Tháng 1-1947
Hồ Chí Minh”

Đọc xong bức thư, tôi thấy bàng hoàng. Bác bận trăm công nghìn việc, thế mà Bác vẫn nghĩ đến tôi, một gia đình đang có cái tang đau lòng như hàng vạn gia đình khác.

Tôi thấy nỗi đau thương và sự hy sinh của gia đình mình trở thành nhỏ bé trong cái tình thương mênh mông và sự hy sinh cao cả của Bác đối với cả dân tộc. Tôi nhủ mình sẽ phải làm tốt công việc để xứng đáng với sự hy sinh của các con và khỏi phụ lòng Bác.

Sau đó, tôi theo Bác lên Việt Bắc – căn cứ thần thánh của cách mạng Việt Nam. Từ một người thầy thuốc của xã hội cũ, một giáo dân ngoan đạo, tôi đã trở thành một người thầy thuốc tốt, một Bộ trưởng Bộ Thương binh xã hội của nước Việt Nam mới.

Vũ Đình Tụng kể, Lê Thân ghi, theo báo Nghệ An, tháng 9-1994

Tổ chức UNESCO tại kỳ họp Đại hội đồng lần thứ 24 ở Paris năm 1987 đã tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh  là “Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa do các đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Người trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, nghệ thuật, và Người đã dành cả cuộc đời mình cho sự giải phóng nhân dân Việt Nam, đóng góp cho cuộc đấu tranh chung vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của các dân tộc.

19 tháng 5 là ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là ngày thành lập Việt Minh và khai sinh đường Hồ Chí Minh trong lịch sử. Hành trình đến tự do hạnh phúc của dân tộc Việt đã trãi qua giành độc lập dân tộc và đấu tranh  thống nhất Tổ quốc trong cuộc trường chinh thế kỷ . Minh triết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đã hiến dâng trọn đời mình cho sự nghiệp đấu trang giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc quy non sông vào một mối. Những việc khác Bác có Di chúc để lại cho đời sau.  Công lao và những biến đổi phần sau không thể và không nên quy hết về Người. Có một số uẩn khúc đời người cần có đủ tư liệu mới đánh giá đầy đủ.

Bác Hồ có bài thơ “Chơi chữ” rất lạ vào những ngày đầu khởi lập nước Việt Nam mới.Đó t là một kỳ thư, kinh Dịch độc đáo, một luận giải sứ mệnh và tự đánh giá của Bác:
Chơi  chữ

Hồ Chí Minh

(Bản dịch của Nam Trân):

Người thoát khỏi tù ra dựng nước,
Qua cơn hoạn nạn, rõ lòng ngay;
Người biết lo âu, ưu điểm lớn,
Nhà lao mở cửa, ắt rồng bay!

Nguyên tác:
Tù nhân xuất khứ hoặc vi quốc,
Hoạn quá đầu thì thuỷ kiến trung;
Nhân hữu ưu sầu ưu điểm đại,
Lung khai trúc sản, xuất chân long.

折字
Chiết tự
Chơi chữ
囚人出去或為國
患過頭時始見 忠
人有憂愁優點大
籠開竹閂出真龍

Chiết tự là một hình thức phân tích chữ Hán ra từng bộ phận để thành những chữ mới, có ý nghĩa khác với ý nghĩa ban đầu. Theo lối chiết tự, bài thơ này còn có nghĩa đen như sau: chữ tù (囚) bỏ chữ nhân (人), cho chữ hoặc (或) vào, thành chữ quốc (國). Chữ hoạn (患) bớt phần trên đi thành chữ trung (忠). Thêm bộ nhân (人) đứng vào chữ ưu (憂) trong “ưu sầu” thành chữ ưu (優) trong “ưu điểm”. Chữ lung (籠) bỏ bộ trúc đầu (竹) thành chữ long (龍).

Bác Hồ nói đi đôi với làm mẫu mực đạo đức

Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng chuyên nghiệp, mẫu mực về đạo đức cách mạng, là tấm gương sáng về tự học suốt đời. Người nói: “Học ở đâu? Học ở trường, học trong sách vở, học lẫn nhau và học ở dân“. Người luôn nói và làm đi đôi., học không biết mỏi, dạy không biết chán.

Bác viết: “Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo của Jêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Jêsu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có ưu điểm chung đó sao? Họ đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu hạnh phúc cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, tôi tin rằng họ nhất định sống chung với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm một người học trò nhỏ của các vị ấy..” Trích “Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng”, NXB Khoa học xã hội, H.1996, trang 152. (Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng).

Nói và làm của Hồ Chí Minh điều gì cũng minh triết và thiết thực. Từ bài “Tâm địa thực dân” viết ở Pháp năm 1919 đến “Tuyên ngôn độc lập” năm 1945. Từ “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” năm 1945 đến “Lời kêu gọi sau khi hội nghị Giơnevơ thành công” năm 1954. Từ “Lời phát biểu trong buổi đón tiếp Ủy ban Quốc tế” năm 1954 sau cuộc chiến tranh Đông Dương tàn khốc và dai dẳng 8,9 năm  đến “Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” công bố năm 1969 lúc cuộc chiến tranh Việt Nam đang ở giai đoạn dữ dội và ác liệt nhất. Việc làm nào, lời nói nào của Bác Hồ đều là nói đi đôi với làm, là khuôn vàng thước ngọc của đạo đức cách mạng “cần, liêm, chính, chí công vô tư“. Trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất Tổ Quốc, tự do và hạnh phúc của dân. Người viết: “Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nếu nước được độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”  Tư tưởng xuyên suốt của Người là “Việc gì lợi cho dân , ta phải hết sức làm. Việc gì hạicho dân ta phải hết sức tránh” “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi” “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công

Hồ Chí Minh có nhiều bài chuyên bàn về đạo đức và đạo đức cách mạng. Đó là các bài “Đạo đức công dân” (1-1955), Đạo đức cách mạng (6-1955; 12-1958), “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (2-1969). Người chủ trương phát triển văn hóa gắn liền với đời sống mới, kêu gọi thực hành đời sống mới trong mọi lĩnh vực, mọi tầng lớp và trong từng con người. Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: ” Đời sống mới không phải là cái gì cũ cũng bỏ hết không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ. Cái gì cũ mà không xấu nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý…; Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm …; Cái gì mới mà hay thì ta phải làm

Bác Hồ rất ít trích dẫn !

Ông Trường Chinh nói với ông Hà Đăng khi chiêm nghiệm về phong cách văn chương của chủ tịch Hồ Chí Minh: Bác Hồ rất ít trích dẫn. Lúc đầu tôi cũng cho là ngẫu nhiên. Về sau, hỏi trực tiếp, Bác nói: Mác, Ang ghen, Lê Nin nói rất đúng. Nhưng hoàn cảnh Mác, Ang ghen, Lê Nin hoàn toàn khác hoàn cảnh của chúng ta. Vậy nên muốn nói gì, trước hết phải hiểu cho thật rõ điều mà các vị ấy muốn nói, nói cho phù hợp với hoàn cảnh của mình, cho dân mình dễ hiểu. Do đó, Bác viết bằng sự suy nghĩ của mình. Bác rất ít trích dẫn”. (Hà Đăng 2002. Trường Chinh, người anh cả trong làng báo. Trong sách: Trường Chinh, một nhân cách lớn, một nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam. Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, trang 320). Ông Trường Chinh là một trong những người làm việc lâu nhất, thường xuyên nhất với Bác. Những chắt lọc và nhận xét trên đây chắc chắn là điều cần cho chúng ta suy ngẫm.

“Bác viết bằng sự suy nghĩ của mình. Bác rất ít trích dẫn” đó là phong cách văn chương của Hồ Chí Minh. Những người thông hiểu lịch sử, văn hóa, hiểu sâu các điển cố văn chương, chuyện hay tích cổ sẽ có thể chỉ ra vô số những điều trùng khớp của những lời hay ý đẹp từ xa xưa đã được Bác vận dụng một cách hợp lý hợp tình trong thời đại mới. Bác là người chú trọng ngôn ngữ giản dị, ngắn gọn, dễ hiểu, có tính thuyết phục cao, có nhịp điệu. Một thí dụ nhỏ như câu: “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào/ Học tập tốt, lao động tốt/ Đoàn kết tốt, kỹ luật tốt/ Giữ gìn vệ sinh thật tốt/ Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm” là câu sáu chữ có nhịp điệu như câu thơ cổ.

*

Bác Hồ nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”.  Suốt đời Bác làm hai việc chính là kiến tạo Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) thành một mặt trận rộng rãi “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công thành công, đại thành công” thực hiện “kế sách một chữ đồng” giành độc lập dân tộc và mở đường thống nhất Việt Nam.

Bác Hồ thật đúng là: “Bình sinh đầu ngẩng tới trời xanh. Khuất núi hồn THƠM quyện đất lành. Anh hùng HỒ dễ nên nghiệp ấy. Tâm hồn bình dị CHÍ anh MINH”.

Một số vĩ nhân còn lầm lẫn và khuyết điểm vào một thời điểm nào đó trong đời, riêng Bác Hồ thì chưa tìm thấy. Tôi cố gắng làm một người học trò nhỏ của Bác, học sự minh triết “dĩ công vi thượng”, tâm đức, quyền biến, năng động. Học làm người phúc hậu, thực việc, nói đi đôi với làm, chắt lọc tinh hoa lý luận và thực tiễn để vận dụng linh hoạt, sáng tạo, và thích hợp vào đời sống của mình.

Hồ Chí Minh trọn đời minh triết.

Hoàng Kim

(*) Bài viết nhân kỷ niệm 125 năm (1890 – 1969) ngày sinh của Bác Hồ. Bài Hồ Chí Minh trọn đời minh triết là sự tiếp nối của Qua đèo chợt gặp mai đầu suối. Bình sinh đầu ngẩng tới trời xanh. Về Việt Bắc đêm lạnh nhớ Bác… Trên Face Book có chuyên trang  Việt Nam Hồ Chí Minh. Trang Tình yêu cuộc sống và CNM365 có bài viết Chào ngày mới 19 tháng 5 đúc kết thông tin Wikipedia ngày này năm xưa: ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng là ngày thành lập Việt Minh, và khai sinh  đường Hồ Chí Minh.



TƯ LIỆU VỀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

(*) 19 tháng 5 năm 1890 ngày sinh chủ tich Hồ Chí Minh là  sự thật hay sinh nhật chính trị ? Mời đọc bài "Cụ Hồ Chí Minh với dân tộc Việt Nam" và bài "Hồ Chí Minh, những ngày sinh và một lá số tử vi"


Cụ Hồ Chí Minh với dân tộc Việt Nam

19 tháng 5, một trong những ngày in dấu ấn sâu đậm nhất trong tâm trí nhân dân Việt Nam vì đó là ngày sinh người con vĩ đại nhất của dân tộc: Bác Hồ. Ngày 18- 5- 1946, báo Cứu Quốc xuất bản ở Hà Nội có đăng một bài đặc biệt được bạn đọc đông đảo trong và ngoài nước hết sức chú ý. Đó là bài "Cụ Hồ Chí Minh với dân tộc Việt Nam". Bài báo có đoạn viết:

"... Ngày 19 tháng 5 này, năm mươi sáu năm trước đây (1890) đã ra đời một con người: Hồ Chí Minh.

Bằng bàn tay khéo léo và quả quyết, chính ông đã khai sinh, đã nuôi nấng nhiều đoàn thể cách mạng Việt Nam. Tinh thần hoạt động của hầu hết các chiến sỹ Việt Nam đều do bàn tay tài tình của ông hun đúc..."

Bài báo đã nói đến những cống hiến của Hồ Chủ tịch với cách mạng, đã ca ngợi Người là linh hồn, là hiện thân của cách mạng Việt Nam và nêu cao ý nghĩa to lớn của ngày 19 tháng 5.

Đó là lần đầu tiên toàn thể dân tộc Việt nam cũng như bè bạn trên thế giới được biết ngày sinh của Hồ Chủ tịch.

Đúng ngày 19-5, nhân dân cả nước vui mừng chào đón ngày sinh của Bác. Các cháu thiếu nhi, trống ếch rộn ràng trước Bắc Bộ phủ mừng thọ Bác. Bác tặng thiếu nhi một cây bách tán, lá nhỏ xanh đậm. Khi tiếp đoàn đại biểu của Nam Bộ đang chiến đấu, Bác cảm động nói:

"... Tôi xin cảm ơn các anh chi Nam Bộ đến chúc thọ tôi. Thật ra các báo chí ở đây làm to lên cái ngày sinh của tôi, chứ tuổi 56 chưa có gì đáng được chúc thọ, cũng hãy còn như thanh niên cả, mà trước các anh chị, trước cảnh êm vui ở Bắc đây, tôi thấy lấy làm xấu hổ vì trong Nam chưa được thái bình..."

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ngày 19-5-1890 ở quê ngoại là làng Hoàng Trù, sau về quê nội là làng Kim Liên, nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ Tĩnh.

Cụ thân sinh ra Người là Nguyễn Sinh Huy, tức Nguyễn Sinh Sắc (1863-1929). Đỗ phó bảng năm 1901, bị ép làm quan, nhưng vốn có tinh thần yêu nước và khẳng khái, cụ Nguyễn Sinh Sắc bị chúng cách chức. Cụ vào Nam Kỳ làm nghề bốc thuốc, sống thanh bạch cho đến lúc qua đời.

Thân mẫu của Người là cụ Hoàng thị Loan (1868-1900), là người phụ nữ trung hậu, đảm việc, chịu thương, chịu khó nuôi con.

Chị cả của Bác là bà Nguyễn Thị Thanh (1884-1954), tức Bạch Liên nữ sĩ. Trong hồ sơ của mật thám Pháp, bản lý lịch của Nguyễn Tất Thành khi xin vào xưởng Ba Son (1911), có ghi: " Nguyễn Thị Thanh tức Bạch Liên sống độc thân có liên lạc với quân phiến loạn ở Nghệ Tĩnh, lầy trộm 3 khẩu súng trong trại lính Vinh, đã bị kết án 9 năm khổ sai..."

Anh ruột của Bác là đông Nguyễn Sinh Khiêm tức Nguyễn Tất Đạt (1888-1950) cũng từng tham gia phong trào chống Pháp và bị tù đày.

Từ 1890 đến 1901 Bác sống ở quê ngoại, cách làng Kim Liên quê nội không xa. Tên khai sinh của Bác là Nguyễn Sinh Cung. Người thầy có ảnh hưởng nhất trong tuổi ấu thơ của Người là cử nhân Vương Thúc Quý. Cụ Quý là bạn thân của cụ Phó bảng Sắc và là con thủ lĩnh Chung nghĩa binh Vương Thúc Mậu thời Cần Vương. Đội nghĩa binh của Vương Thúc Quý chiến đấu quanh vùng núi Chung (Nam Đàn), khi bị Pháp vây bắt, cụ Vương Thúc Quý đã nhảy xuống ao hy sinh ngay ở làng Sen cạnh nhà Bác.

Chính ở ngôi nhà nhỏ ở làng Sen, trước khi bước vào mái trường Quốc học Huế (1905), cậu Cung đã được vị túc nho Vương Thúc Quý hết lòng giúp đỡ, tinh thông tứ thư ngũ kinh...

Nhưng điều quan trọng hơn cả là cậu Cung được thầy học cho biết đường tận các địa điểm, biến diễn của các cuộc khởi nghĩa ngay trên đất quê nhà của Trần Tấn, Đặng Như Mai, của Phan Đình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn, Vương Thúc Mậu và cả phong trào Đông du của cụ Phan Bội Châu đang diễn ra âm ỷ... Cậu Cung rất chú ý lắng nghe những cuốc đàm đạo của cha mình với các đồng chí, bè bạn như Sào Nam Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, đội Quyên (Đại Đấu)...

Cậu Cung trở thành liên lạc cho các nhà nho yêu nước. Nhưng rồi cậu Cung không quanh quẩn ở lũy tre làng, cũng không đi sang Nhật theo Phan Bội Châu như bao người cùng thế hệ. Năm 1908, sau khi tham gia phong trào chống thuế, bị đuổi học, Nguyễn Tất Thành bỏ vào Nam. Người đừng lại ít lâu ở Phan Thiết, đạy học ở trường Dục Thanh do một số nhà giáo yêu nước lập ra. Sau đó, Người và Sài Gòn rồi xuống tàu xuất dương để đi tìm đường cứu nước.

Trong 10 năm (1911-1920) Người đã đi khắp năm châu bốn biển, làm hàng chục nghề để tự vô sản hóa mình và tìm ra chân lý- con đường cách mạng vô sản, cái cẩm nang thần kỳ mà cả dân tộc Việt Nam đang mong đợi, 1920-1930 là thời gian Người truyền bá chủ nghĩa Mác-Lê-nin vào Việt Nam để tiến hành thành lập Đảng. Cũng như giai đoạn trước, để có ngày 3-2-1930 ở Cửu Long (Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam) (Trung Quốc) Người đã đi từ Pa-ri tới Mát-xcơ-va rồi từ Quảng Châu vòng trở lại châu Âu và cuối năm 1928 lại trở về Đông bắc Thái Lan...

Sau 30 năm xa tổ quốc, mùa xuân 1941 Người trở về Pác Bó (Cao Bằng) trực tiếp lãnh đạo công cuộc đấu tranh chống Nhật Pháp, phát động Tổng khởi nghĩa trong cả nước, mở ra thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám 1945.

Từ đó cho đến khi Người qua đời (3-9-1969) Người đã cùng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo thắng lợi hai cuộc kháng chiến, đánh bại hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, đưa Việt Nam vào kỷ nguyên độc lập và chủ nghĩa xã hội, thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của dân tộc.

Nếu như năm 1911, dân tộc Việt Nam có Anh Ba- người phụ bếp trên tàu, năm 1920 có Nguyễn ái Quốc- người Cộng sản, thì từ ngày 2-9-1945 nhân dân Việt Nam có Chủ tịch Hồ Chí Minh, người khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa- và ngày nay, một cách chung nhất, kính yêu nhất, chúng ta có Bác Hồ của Tổ quốc Việt Nam.

Ngày 19 tháng 5! Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong quá khứ cũng như trong tương lai, mãi mãi là một trong những ngày vui nhất của dân tộc Việt Nam, ngày hướng về một lẽ sống cao đẹp nhất của con người.



Hồ Chí Minh, những ngày sinh và một lá số tử vi

Sắp đến 19/5 lại thấy báo chí, truyền hình bắt đầu "nhớ về Bác".  Xét lại thì thấy mình chưa viết một bài nào về ông cụ bởi bất cứ bài nào viết về ông cụ dù là bất cứ ai viết và viết kiểu thì gì ở dưới cũng có rất nhiều tranh cãi thậm chí cắn xé lẫn nhau. Mình không thích viết ra để người ta tranh cãi nên vẫn chưa viết. Hôm nay thử viết một bài về cụ theo cách tiếp cận mới "ít tranh cãi" mà lại gắn với "sự kiện" xem sao, cho mọi người có cái đổi món.

 

Ngày 19/5 cách đây 74 năm một tổ chức tên không hề lạ là Việt Minh đã ra đời tại Pác Bó Cao Bằng, song cho đến nay chẳng mấy ai chú ý tới cái ngày thành lập tổ chức này, tuy vậy không phải vì thế mà ngày  19/5 bị lãng quên mà nó đã trở nên quá quen thuộc với người Việt Nam với ý nghĩa là ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh.  Liệu rằng đây có phải là một sự  trùng hợp ngẫu nhiên của lịch sử giống như ngày mất của ông trùng với ngày quốc khánh?  Khi nói về cái ngẫu nhiên thường người ta bỏ qua luôn lý do xuất hiện của nó vì đơn giản nó xảy ra một cách "không cố ý" tuy nhiên lịch sử lại chưa đầy những hành động có chủ ý của con người. Và một trong những chủ ý như thế của Hồ Chí Minh đã tạo ra một "ngày sinh nhân tạo" cho  mình.

 

Sinh nhật chính trị

Sẽ là không ngoa chút nào  khi nói ngày sinh nhật 19/5 của chủ tịch Hồ Chí Minh là là sinh nhật chính trị vì nó tạo ra hoàn toàn vì mục đích chính trị.

Bây giờ chúng ta quay về thời điểm lịch sử xung quanh tháng 5/1946. Vào ngày  6/3/1946 Hồ Chí Minh cùng Jean Sainteny đã ký kết hiệp định sơ bộ Pháp-Việt. Theo đó Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do (état libre), có chính phủ riêng, nghị viện riêng và tài chính riêng trong Liên Bang Đông Dương  và trong khối  Liên Hiệp Pháp. Việt Nam sẵn sàng tiếp đón quân đội Pháp đến thay thế quân đội Trung Hoa Dân Quốc để giải giáp quân đội Nhật . Hiệp định này được xem là một nước cờ chính trị của cả hai bên nhằm mưu đồ lợi ích riêng. Chính vì thế mà nó bị các đảng phái khác ra sức công kích dữ dội xem nó là "Hiệp ước bán nước" khiến ông Hồ phải đứng ra thề trước quốc dân đồng bào trong một cuộc mit tinh ở Nhà hát lớn: “Hồ Chí Minh không bán nước!”  Những diễn biến này đặt ông trước những tình thế nhạy cảm tiếp theo.

Sau Hiệp định Sơ bộ, quân Pháp bắt đầu vào miền Bắc và sớm gây sự. Quân Tưởng rút dần nhưng chậm. Cao ủy Pháp D’Argenlieu đề nghị gặp Hồ Chí Minh trên Vịnh Hạ Long. Cuộc gặp gỡ đi đến các thỏa thuận: Mở cuộc đàm phán trù bị ở Đà Lạt. Khi trù bị kết thúc sẽ mở đàm phán chính thức ở Paris. Phía Pháp đồng ý mời một đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam sang thăm Pháp. Cùng dịp này, Chính phủ Pháp mời Hồ Chí Minh sang thăm Pháp với danh nghĩa thượng khách của nước Pháp. Đây là cơ hội lớn để đề cao vị thế của Việt Nam, tranh thủ dư luận Pháp, tranh thủ đấu tranh về vấn đề Việt Nam trực tiếp với Chính phủ Pháp, tránh giáp mặt với thực dân Pháp ở Đông Dương.

 

Trong lúc Hồ Chí Minh  chuẩn bị chuyến đi thì Cao ủy  Pháp D'Argenlieu, mở cuộc kinh lý khu vực phía bắc vĩ tuyến 16 từ ngày 14/5/1946.  D'Argenlieu đến Vientiane ngày 17/5/1946, đến Hà Nội  chiều ngày 18/5/1946. Trên danh nghĩa, D'Argenlieu là cao uỷ, đại diện chính phủ Pháp tại Đông Dương. Việt Nam là một quốc gia trong Liên Bang Đông Dương nên theo nghi thức ngoại giao, để đón tiếp cao ủy, phía  Việt Nam phải treo quốc kỳ trong ba ngày để đón D'Argenlieu.  Dư luận trong  nước thì vẫn còn đang sôi sục vì Pháp đã chiếm lại Nam Bộ, quả này mà dân thấy treo cờ ra với lý do chào đón "toàn quyền"  thì thể nào "bọn  phản động" cũng  có cớ sẽ làm rùm beng lên công kích chính phủ Việt Minh bán nước cho mà xem :D. Đúng là một bài toán khó cho ông Hồ và các đồng chí của mình.

 

 

Quân đội Pháp thì muốn tổ chức lễ đón D'Argenlieu thật long trọng để phô trương thanh thế và khẳng định sự quay trở lại của Pháp. Họ mời  Hồ Chí Minh tới dự vào ngày 19/5/1946. Ngày 18 sau khi nhận được giấy mời ông Hồ liền cử bộ trưởng Phan Anh tới dự và sau đó yêu cầu thư ký Vũ Đình Huỳnh mời các lãnh đạo trong chính phủ và các đoàn thể tới Bắc Bộ Phủ dự lễ sinh nhật mình vào ngày hôm sau. Theo Hồi ký  "Tháng tám cờ bay" của Vũ Đình Huỳnh có đoạn:

 

“Khi tôi báo tin về ngày sinh của Bác, mọi người cằn nhằn sao nước đến chân mới nhảy. Anh Trường Chinh nói rằng tôi đã biết ngày sinh của Bác mà không nói trước. Tôi thưa lại: Bác vừa bảo thì tôi đến đây ngay”.

 

Chi tiết này  cho thấy ngày sinh nhật đùng một cái được đẻ ra này chắc đến 100% là sinh nhật giả. Vì đâu mà ông Hồ lại sinh khéo thế  đúng vào dịp có "việc phải xử lý". Hôm sau, cả Hà Nội bừng lên màu cờ, biểu ngữ chúc mừng sinh nhật Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tối 19/5, lễ mừng chính thức được tổ chức trọng thể tại Bắc Bộ Phủ. Không khí tưng bừng, quan khách tấp nập. Các đoàn thiếu nhi gõ trống ca vang trong phủ. Trong không khí rộn ràng đó, Cao ủy D’Argenlieu và Ủy viên Cộng hòa Sainteny mang hoa đến "chúc mừng sinh nhật Hồ chủ tịch".

 

Hiệu quả của  việc lựa chọn ngày sinh cho mình của Hồ Chí Minh đã giúp ông đi một nước cờ ngoại giao có ý nghĩa cả về mặt đối nội và đối ngoại.  Đối với dân chúng ông đã tìm được một lý do để treo cờ "đón giặc Pháp" là để mừng thọ “cha già dân tộc” mà họ không hề nghi ngờ gì về mục đích của nó, điều ấy cũng tạo thêm hậu thuẫn cho bản thân ông  và Việt Minh, giúp đo được sự ủng hộ của dân chúng đối với mình, cũng như kiềng mặt các đảng phái đối lập. Đối với các đồng chí là cơ hội biểu dương lực lượng, cho họ được chào mừng ngày thành lập Việt Minh.  Còn đối với Pháp ông đã đảo ngược thế cờ, đổi vị thế chủ và khách với phía Pháp, tránh không đến dự buổi lễ phía Pháp tổ chức mà lại kéo hai đại diện chính của nước Pháp đến chào mình,  nói theo kiểu vẫn thấy trong phim Tàu là "hạ thấp oai phong của địch nâng cao uy  thế của ta", tạo bước đệm tốt cho chuyến thăm của ông sang Pháp sắp tới.  Nói chung là một mũi tên trúng nhiều con chim và từ sau sự kiện đó thì ngày 19/5 được chính thức hóa trở thành ngày sinh Hồ Chí Minh.

 

Tự vẽ rồng

 

Từ những dữ kiện trên có đủ kết luận là ngày 19/5 thực tế là một ngày sinh nhật chính trị, vậy còn những dữ kiện nào khác về ngày sinh Hồ Chí Minh đã được biết tới trong các hồ sơ lưu trữ?

 

 

Căn cứ theo lá thư Nguyễn Tất Thành tại Marseille ngày 15/9/1911 gửi tổng thống Pháp để xin vào học trường thuộc địa tại Paris  lấy từ cuốn  Ho Chi Minh: A Life của William J.Duiker  thì phía dưới lá thư ký: Nguyễn Tất Thành, Sinh tại Vinh, 1892 con trai ông Nguyễn Sinh Huy (tiến sĩ văn chương) sinh viên tiếng Pháp và Trung Quốc. 

 

Theo Jacques Dalloz trong cuốn " Les Vietnamiens dans la Franc-Maçonnerie coloniale " ( Người Việt trong hội tam điểm thuộc địa ) thì trong đơn xin vào Hội Tam Điểm (Franc-Maçonnerie) vào đầu năm 1922, Hồ Chí Minh, lúc đó có tên là Nguyễn Ái Quốc, ghi trong phiếu cá nhân rằng ông sinh ngày 15/2/1895.  

 

Trong tờ khai của ông tại Đại sứ quán Liên Xô ở Berlin, vào tháng 6 năm 1923, thì ngày sinh là 15/2/1895 ( trùng với ngày khai ở trên ).  

 

Hộ chiếu Tổng lãnh sự quán Trung Hoa tại Singapore cấp ngày 28/4/1930 cho Tống Văn Sơ ghi năm sinh là 1899.

 

Còn theo sử gia  Daniel Hémery, dựa theo các nguồn của kho lưu trữ của chính phủ Pháp có một tờ khai tại sở cảnh sát Paris năm 1902, Hồ Chí Minh lại  khai là sinh ngày 15/01/1894.

 

Cũng theo ông này thì có một nguồn tin khác nữa là khai sinh của Hồ Chí Minh được những người làm chứng ở Kim Liên xác nhận đã được cơ quan mật thám xác lập năm 1931 (tức khoảng 40 năm sau) thì chỉ ra ngày sinh của Nguyễn Sinh Cung vào tháng 03 năm Thành Thái thứ 6, tức khoảng tháng 04 năm 1894.

 

Trong cuốn truyện "những mẩu chuyện về cuộc đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch" dưới bút danh Trần Dân Tiên ông Hồ đã nêu ra một triết lý:

 

"Một nhà họa sĩ vẽ giỏi không bao giờ vẽ nguyên cả một con rồng, mà vẽ con rồng khi ẩn, khi hiện giữa những đám mây".

 

 

 

Có lẽ ông đã vận dụng nguyên lý này để chỉ đạo các hành động và tư tưởng của mình nên đã chủ động tạo ra rất nhiều đám mây xung quanh bản thân mình cả trong điều kiện phải lẩn tránh sự theo dõi chú ý của kẻ thù cũng như xây dựng hình ảnh vị lãnh tụ tối cao trong dân chúng. Những cuốn truyện ông tự viết về mình với hình ảnh vị cha già, người đại diện của giai cấp cần lao với phong thái "bình dị cận nhân" dưới các bút danh khác nhau tôi thấy nó có thể xếp cùng loại với truyền thống  vẽ rồng thường thấy trong lịch sử Việt Nam đời xưa như việc Lý Công Uẩn muốn dời đô thì "phịa" ra chuyện thấy rồng bay lên ở thành Đại La, Nguyễn Trãi bôi mỡ lên lá theo chữ "Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần" để kiến ăn theo hình chữ đõ, dân chúng thấy đó là điềm trời ứng như thiền sư Vạn Hạnh cho khắc bài sấm trên cây gạo bị sét đánh nói về việc nhà Lý thay nhà Tiền Lê. Hay như Lê Lợi "dựng" lên chuyện "trả gươm cho rùa" và nay chúng ta có  "Di tích lịch sử Hồ hoàn kiếm" đều nhằm tạo ra hình ảnh của các vị "chân mệnh thiên tử" có tư cách chính danh để cầm quyền, là những công cụ lối cuốn đám đông bằng sự sùng kính thần thánh của người làm chính trị trong một đất nước lạc hậu. Vậy cho nên đến tận bây giờ xung quanh ông vẫn là những đám mây huyền ảo. Người ta biết về ông không khác gì hơn biêt về một điệp viên.  Và quả thực cũng đúng như vậy. Qua sự sai khác giữa các thông tin trong các hồ sơ mà ông tự khai cho thấy từ khi còn rất sớm ông đã có ý thức "bảo mật thông tin" của một "điệp viên" khá rõ rệt.

 

Dữ liệu từ những ký ức

 

Dữ liệu mà một điệp viên tự khai thì độ tin cậy không thể cao vì mục đích của thông tin đó tự thân nó không phải cung cấp sự thật. Vì thế muốn biết ngày sinh thực của Hồ Chí Minh thì bắt buộc là phải có thao tác khai phá dữ liệu kiểu "data mining".  Phân tích  từ chính thông tin của ông lúc "sơ hở" so sánh các nguồn tư liệu khác nhau và tìm kiếm gián tiếp qua thông tin của những người thân cận với ông. Khi đi tìm dữ liệu về năm sinh của ông manh mối đầu tiên mà tôi phát hiện ra là một chi tiết khi ông trả lời phỏng vấn tạp chí "Ngọn lửa nhỏ" vào năm 1923 của Liên Xô:  

 

“Vào trạc 13 tuổi, lần đầu tiên tôi đã được nghe về những từ ngữ tiếng Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái đối với chúng tôi lúc ấy, mọi người da trắng đều được coi là người Pháp – thể là tôi muốn làm quen với văn minh Pháp tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ngữ ấy” .

 

Theo thông tin từ cuốn "Đi tìm dấu tích thời niên thiếu của Bác Hồ ở Huế" của Nguyễn Đắc Xuân, một người đã lần gặp gỡ, phỏng vấn và ghi âm rất nhiều lời kể của những người sống ở Huế có mối liên hệ với gia đình ông Nguyễn Sinh Sắc cũng như bạn học cùng với Hồ Chí Minh ở trường Pháp Việt Đông Ba và quốc học Huế ngay sau thời điểm 1975 có xác nhận thời điểm gia đình ông Hồ chuyển đến Huế là khoảng thời điểm 1905. Trong cuốn đó cũng có phần trao đổi giữa ông Xuân và "nhân chứng"

 

 

Lời kể cụ Hồ Đắc Định (87 tuổi) - “Lúc cụ Hồ còn là câu học sinh Nguyễn Sinh Côn ở trường Đông Ba và trường Quốc Học tôi có biết nhưng ít khi gặp nhau chuyện trò. Tuy vậy, trong gia đình tôi thì không thể quên được người học sinh ấy. Bởi vì cuộc đời học vấn của cụ Hồ lúc ấy có liên quan đến ông anh tôi là thầy trợ Hồ Đắc Quỳnh. Trước đây mấy người cháu của tôi đi tập kết (Hồ Đắc Nga làm ở báo Độc Lập) gửi thư về bảo tôi viết chuyện ấy. Nhưng tôi không viết. Anh lạ gì người Huế mình có thói quen rất sợ mang tiếng “thấy sang bắt quàng làm họ”. Bây giờ thì cụ Hồ đã mất gần mươi năm rồi, đối với anh là học trò cũ, tôi không thể từ chối được.Tôi kể anh nghe rồi anh coi chọn sử dụng được cái gì thì tuỳ ý anh. 

 

-“Lúc vào học trường Pháp Việt Đông Ba trình độ Pháp văn của anh Côn còn kém lắm. Từ điển rất hiếm và học sinh cũng chưa có thói quen tra Từ điển. Gặp chữ gì khó hiểu anh Côn cũng hỏi thầy. Một hôm mới vào lớp anh Côn thấy dòng chữ kẻ phía trên tấm bảng đen trước mặt, anh đứng dậy hỏi thầy:

 

- “République Francaise,Liberté-Égalité-Fraternité, nghĩa là gì, thưa thầy?”

 

Anh tôi- cụ Hồ Đắc Quỳnh - vốn là một học sinh thông minh, mới 23 tuổi đã đỗ Thành chung, tuy vậy anh cũng chưa hiểu hết câu tiêu ngữ này. République Francaise là nước cộng hoà Pháp nhiều người đã hiểu. Còn ba chữ kia thì sao? Vì tình trạng đất nước mình lúc đó không có những từ tương đương với những từ Pháp ấy. Cuối cùng anh tôi giở Từ điển ra xem và đọc nguyên văn bằng tiếng Pháp cho anh Côn và cả lớp đều nghe. Nghe xong anh Côn vẫn chưa thỏa mãn. Hết giờ anh Côn và một số học sinh đi theo yêu cầu thầy giáo giải nghĩa thêm bằng tiếng Việt nữa. Khi anh  hiểu mấy chữ ấy rồi thì anh rất thích thú. Anh nói với bạn bè anh sẽ học tiếng Pháp cho thật giỏi để hiểu được văn minh, lịch sử nước Pháp. Ngoài giờ học ở trường anh còn xin đi học cours du soir  (Lớp chiều) với thầy Ưng Dự (lớp học chiều ấy mở ngay ở ngã tư Trần Hưng Đạo-Phan Đăng Lưu ngày nay)" .

 

Nếu kết hợp lời kể này với điều "bộc bạch" của Hồ Chí Minh trong bài phỏng vấn ở trên ( tôi dùng chữ bộc bạch vì trong câu trả lời không có tính khai báo mà nó là chia sẻ về một ký ức thời niên thiếu, độ tin cậy cao hơn ) ta có thể thấy là thời điểm ông Hồ lần đầu nghe mấy chữ "Tự do, bình đẳng, bác ái" là khi ông khoảng 13 tuổi, và đó cũng là thời điểm đó không thể sớm hơn năm 1905 được ( nếu ông sinh năm 1890 thì lúc đó ông phải ít nhất là 15 tuổi chứ không phải trạc 13 tuổi ). Lấy 1905 trừ đi 13, chấp nhận sai số cộng trừ 1 thì năm sinh của ông sẽ rơi vào khoảng 1891 hoặc 1892.

 

Những cuốn hồi ký

 

Khi nghiên cứu lịch sử ngoài các hồ sơ lưu trữ, các tư liệu được giải mật thì các cuốn hồi ký cũng là một nguồn tư liệu hết sức quan trọng. Trong số các cuốn hồi ký hot thì gần đây nhất là "Đèn cù" của Trần Đĩnh cũng có nhắc đến chi tiết về năm sinh của Hồ Chí Minh:

 

"Tháng 3, Tố Hữu triệu tập mấy người lập nhóm viết tiểu sử Hồ Chí Minh với danh nghĩa Ban nghiên cứu lịch sử đảng. Gồm Tố Hữu, Phạm Bình (Ban nghiên cứu lịch sử đảng), Nguyễn Huy Tưởng, Hoài Thanh và tôi. Hai nhà văn vào tận quê Cụ sưu tầm tài liệu. Phạm Bình cung cấp tài liệu. Tôi viết. Cố nhiên cũng sưu tầm cả tài liệu. Hai nhà văn trở ra với nhiều điều giật gân. Cụ sinh năm 1891! Cụ Khiêm, anh trai Cụ nói thế, có bằng chứng hẳn hoi trong gia đình và họ hàng. Báo cáo với Cụ thì Cụ nói của người ta thế nào thì cứ để thế không sửa gì hết. Hai nhà văn và tôi bảo nhau: Bác muốn dân dễ nhớ nên lấy tròn 1890".

 

Điểm lưu ý trong đoạn trên là Trần Đĩnh khẳng định "có bằng chứng hẳn hoi trong gia đình và họ hàng" vậy bằng chứng đó là gì? Chúng ta có thể tìm thấy một sự tương thích về mặt nội dung trong thông tin của Trần Đĩnh và thông  tin từ một người họ hàng  của Hồ Chí Minh là nhà văn Sơn Tùng.

 

Trong ký lục về buổi nói chuyện của Sơn Tùng ngày 27/4/2001 tại Trường Cán bộ Quản lý Giáo dục Đào tạo có đoạn:

 

" Thế kỷ 19, Bác Hồ sinh ra năm 1891, tôi nói đây là nói nghiên cứu từ gốc. Bây giờ nói Bác sinh năm 1890, nhưng tôi nghiên cứu tử vi của Bác thì Bác sinh năm 1891. Bác đi làm cách mạng, Bác khai 1890, nhiều người chúng ta khi đi học, đi hoạt động cũng khai bớt hoặc thêm tuổi như thế. Bác sinh năm 1891. 1895 Bác vào Huế, tuổi ta là 5 tuổi, tuổi bắt đầu có trí nhớ, tuổi mà người ta dễ nhớ nhất là tuổi này, tuổi lên 5 đến lên 10. Bác 5 tuổi đi theo cha mẹ vào Huế khi ông Nguyễn Sinh Khiêm đưa cho tôi cuốn “Tất Đạt tự ngôn” là tháng 6-1950. Sau đó ít tháng thì cụ qua đời. Trong “Tất Đạt tự ngôn” thì cụ có ghi ba bài thơ về thời niên thiếu của em trai mình, tức Bác Hồ."

 

Ông Sơn Tùng có nhắc đến cả tử vi của Hồ Chí Minh như vậy thì ngoài chi tiết về năm sinh 1891 thì ông chắc chắn còn biết cả ngày tháng thâm chí là giờ sinh ( không biết thì không thể lập được là số tử vi ). Lá số tử vi này do ai lập? Ngay trong đoạn sau của bài nói chuyện trên cũng có đề cập thêm một lần nữa về lá số tử vi của Hồ Chí Minh qua lời kể của ông cả Khiêm trực tiếp kể cho ông ( Sơn Tùng ) nghe:

 

"Lúc đến chân Đèo Ngang, đường lúc đó có đoạn sát với biển, không như đường ô tô bây giờ. Đến chân Đèo Ngang, có bãi cỏ rất bằng, mẹ bác mới đặt gánh xuống, cha bác xếp ô lại bảo: chỗ này phằng phiu, nghỉ lại đây ăn cơm nắm, để rồi leo đèo, Bác ngồi xuống thì ôm bàn chân rộp, còn chú Thành thì nhảy chơi, mới hỏi cha:

 

 -Thưa cha, cái gì ở trên kia mà đỏ, lại ngoằn ngèo như rứa? Cha bác nói:

 

 Đó là con đường mòn vắt qua đèo, tí nữa ta phải đi leo trèo lên đó, lên cái đường mòn đó.

 

 Thế rồi chú Thành mới ứng khẩu luôn một bài thơ. Sau này bác ghi lại trong cuốn sách “Tất Đại tự ngôn” này:

 

 “Núi cõng con đường mòn

Cha thì cõng theo con

Núi nằm ì một chỗ

Cha đi cúi lom khom

Đường bám lì lưng núi

Con tập chạy lon ton

Cha siêng hơn hòn núi

Con đường lười hơn con”

 

Nói về văn, thơ, tôi là anh thanh niên năm 1950 tiếp xúc với bài thơ này trong cuốn “Tất Đại tự ngôn” của người anh ruột Bác Hồ viết lúc 5 tuổi thì tôi hơi sững sờ. Ông Khiêm nói tiếp:

 

 Lúc đó, cha bác mới mở cái ví vải lấy lá số tử vi của con ra xem, bác mới biết cha đã lấy tử vi cho các con. Cha bác nói với mẹ:

 

 Với thiên tư này, thằng bé sẽ khó nuôi, có lẽ, quan Đào Tấn với ông ngoại đã nói như thế không nhầm.

 

Như  vậy là ông Nguyễn Sinh Sắc đã lập là số tử vi cho cậu con trai của mình. Điều này cũng không có gì là khó hiểu bởi Nguyễn Sinh Sắc vốn là bậc túc nho, nói đến Nho là nói đến "Tứ thư, ngũ kinh", trong mấy sách này "Dịch quán quần kinh chi thủ" đứng đầu bảng là Kinh Dịch vốn là cha đẻ của mệnh lý học. Từ cái gốc Dịch thì tỏa ra là các môn lý số khác như Tử vi, Thái Ất, Phong Thủy etc.., tầng lớp sĩ phu có danh vọng hồi xưa có lẽ ông nào cũng thông thạo Nho, Y, Lý,  Số cả. Cái tên chữ "Tất Thành" ông đặt cho con trai phải chăng là đã ước đoán được con đường của cậu con trai mình qua sơ đồ mệnh lý "Đa gian truân, hựu tất thành"?

 

Theo Thiếu Lăng Quân ( tên thật là Nguyễn Tài Tư , còn có một tên khác là Hồ Chí Trung  cũng là họ hàng gọi  Hồ Chí Minh  bằng bác, tác giả của "Ba mươi năm mong đợi Bác về tập hồi ký 400 trang viết tay chưa xuất bản" ) kể về  vế lá số Tử Vi của cậu bé Nguyễn Sinh Cung là:

 

"Cụ Nguyễn Sinh Sắc có lấy lá số Tử Vi ngay và  cụ Sắc cũng có đưa lá số này ra để giải đoán với các bạn bè như cụ Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý".

 

Sau này ông Khiêm cải táng mộ cho mẹ là bà Hoàng Thị Loan về núi Đại Huệ, người biết về Phong Thủy sẽ luận ra viễn án của ngôi mộ bà Loan là dãy núi Hồng Lĩnh như một đàn ngựa đang rong ruổi,  minh đường là dòng sông Lam vắt qua, tiền án là ngọn rú Dầu, phân tích này chứng tỏ là ông Khiêm cũng được truyền lại các kiến thức Phong Thủy từ cha mình và các bậc tiên nho khác.

 

Tư duy dịch lý phương đông

 

 

Là một người có gốc cựu học vững vàng Hồ Chí Minh có lẽ còn giỏi lý số dịch học hơn cha và anh trai mình. "Dĩ bất biến ứng vạn biến"  là câu nói khá nổi tiếng mà ông dặn dò một nhà nho khác là Huỳnh Thúc Kháng trước khi lên đường sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau đã khắc họa sâu sắc nguyên lý dịch học "Bất dịch, Biến dịch và Giản dịch". Ông cũng đã vận dụng điều này qua những phát biểu khác nhau, có nhiều cái bất biến được ông khẳng định như:

 

"Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi".

 

"Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết phải giành cho được độc lập".

 

"Không có gì quý hơn độc lập tự do". 

 

Rõ ràng là với ông những khái niệm "Tự do, Độc lập, Thống nhất" ở trong ông là những khái niệm bất di "bất dịch", trong khi đó ông lại khá sức uyển chuyển  "biến dịch" trong sách lược chính trị ngoại giao cũng như cách ứng xử. Và đời sống sinh hoạt của ông thì vô cùng "đơn giản, cơ động" rất đậm chất "giản dịch", người ta vẫn hay nói về "sự giản dị của Bác Hồ" như một thói quen sinh hoạt mà ít đề cập tới rằng nó có thể là một triết lý sống hay là một thái độ triết học nữa , trong tiếng Hán thì chữ giản dị và giản dịch là cùng một từ 簡易, trong câu văn Việt tùy theo context mà phiên âm ra là giản dị hay giản dịch . Vì đã đi khắp nơi, uống cả mực Tàu và mực Tây nên trong số đồ nghề ông sử dụng có đầy đủ các thể loại Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Hoa và ông cũng không đề cao duy nhất một loại mực nào.  Ông thường làm những điều tưởng chừng như rất nghịch lý nhưng đem lại hiệu quả khá cao:

 

Dùng chủ nghĩa cộng sản làm phần mềm để xây dựng và tập hợp lực lượng nhưng lại customize nó bằng cách viết ra một cương lĩnh mang màu sắc dân tộc chủ nghĩa khi  thành lập Đảng  cộng sản Đông Dương khiến ông bị các đồng chí của mình là Hà Huy Tập, Trần Phú phê phán gay gắt là "chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh" kéo theo việc ông bị mất ảnh hưởng trong đảng của mình thời gian sau đó. Tuy nhiên sau này nhờ vào đường lối dân tộc và bộ máy tổ chức kiểu cộng sản mà ông giành được mục tiêu của mình còn những người đã từng phê phán ông thì đều đi vào con đường thất bại và chết sớm.

 

Ông  trích dẫn Tuyên ngôn độc lập Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền dân quyền Pháp vào Tuyên ngôn độc lập Việt Nam  chứ không phải lời nói nào đó của Marx hay Lenine. Theo hồi ký "Con rồng An Nam" thì Hồ Chí Minh  nói với Bảo Đại là ông cho mấy lời đó vào để "làm đẹp lòng người Pháp và người Mỹ" , ông cũng có lần đề nghị Bảo Đại phục vị còn  ông sẽ đứng sau làm thủ tướng với lý do mà ông thổ lộ với Bảo Đại là  người Pháp, người Mỹ họ không tin ông vì "họ  thấy tôi quá đỏ" ông sẵn sàng lùi lại sau để phương Tây thấy chính phủ của ông "bớt đỏ đi" . Trước khi chết Bảo Đại còn trả lời nhà sử học trẻ Frédéric Mitterand  ( cháu của Tổng thống François Mitterand )  trong một cuộc phỏng vấn trực tiếp được phát trên truyền hình Pháp nhiều lần  trong đó có đoạn:

 

Bảo Đại: "Vâng, xin đừng quên rằng cụ Hồ xuất thân từ một gia đình quan lại. Và cụ đã đối xử với tôi như tôi còn làm vua. Cụ cấm những người xung quanh cụ gọi tôi bằng đồng chí, bằng những tên gọi của giai cấp vô sản, và luôn luôn gọi tôi là Hoàng thượng"

 

Gửi thư cho cả 2 ông trùm của 2 phe thù địch là Truman và Stalin đề nghị công nhận độc lập của Việt Nam .

 

Hợp tác với sĩ quan OSS của Mỹ và sau này là đi dây với cả Liên Xô và Trung Quốc trong bối cảnh mâu thuẫn Xô-Trung cực kỳ gay gắt, hai ông lớn đều tranh nhau vị trí thống soái lãnh đạo cách mạng thế giới cùng muốn lôi kéo "thằng em út" nhưng ông Hồ đã không để bên nào lôi được mình sang hẳn một phe.

 

Về đối nội thì ông không thể hợp những người "đồng chí cộng sản" Trotskyist khác đường lối như Tạ Thu Thâu nhưng lại sẵn sàng sử dụng cựu đảng viên Quốc dân đảng như Nguyễn Bình làm tư lệnh thống nhất các lực lượng vũ trang miền Nam. 

 

Trong buổi phỏng vấn ngày 25/6/1946, Hồ Chí Minh đã trả lời đảng viên Xã hội Daniel Guérin về cái chết của Tạ Thu Thâu như sau: Ce fut un patriote et nous le pleurons... Mais tous ceux qui ne suivent pas la ligne tracée par moi seront brisés. Tạ Thu Thâu  là một nhà ái quốc, chúng tôi đau buồn khi hay tin ông mất... Nhưng tất cả những ai không theo con đường tôi đã vạch đều sẽ bị tiêu diệt ).

 

Trong "Tứ trụ triều đình": Giáp, Duẩn, Đồng, Chinh thì hai người có vẻ thân thiết với ông hơn là Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng đều là người của "Tân Việt cách mạng đảng" trước rồi thành đảng viên CS sau chứ không phải đi theo CS ngay từ đầu như các ông Trường Chinh và Lê Duẩn.

 

Ông có thể một phát phong ngay cho một anh giáo Võ Nguyên Giáp chưa từng qua trường lớp quân sự hàm đại tướng tổng tư lệnh trong khi sẵn sàng bỏ qua không cần dùng một anh "thừa tướng" đã từng trải qua "Hoàng Phố quân sự học hiệu" và "Vạn lý trường chinh" như  Nguyễn Sơn. Ông cũng đặt tên lại cho ông Võ-Nguyên Giáp là Văn, phải chẳng đó chính là vì ông muốn nhắc nhở vị tướng của mình một nguyên lý của Dịch là "Trong văn có võ, trong võ có văn", "trong quân sự có chính trị, trong chính trị có quân sự" và kẻ cầm quân không hiểu đạo lý này sẽ không thể thành tướng tài được.

 

 

Tất cả những việc ông làm đều cho thấy ông là người thực dụng không câu nệ hình thức, cái gì cũng có thể sử dụng được cốt sao được việc, cốt sao đạt được những mục tiêu bất biến của mình, và qua mỗi hành động đó đều có một nguyên lý nhất quán xuyên suốt mà ông cố gắng vận dụng và thực hành đó là " dung thông những cái trái khoáy, đối lập nhau, khai thác những ưu điểm của sự đối lập đó  theo khía cạnh có lợi nhất trên toàn cục thay vì độc tôn một mặt nào đó, loại bỏ cái cái còn lại". Những lời sau đây của ông có thể minh họa cho lập luận này: 

 

“Học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Jesus có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm của nó, chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Jesus, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho mọi người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên cõi đời này, nếu họ hợp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”.

 

 

Chính vì thế nên ông nói "Đạo đức cách mạng" là  "cần kiệm liêm chính, chí công vô tư" cái này là từ toàn là ngôn ngữ nho giáo từ học thuyết họ Khổng mà ra chứ không "tự mình sáng tạo" ra những thứ kiểu "làm chủ tập thể" như ông Lê Duẩn. Rồi cái khẩu hiệu "Độc lập- Tự Do- Hạnh Phúc" này chẳng phải đâu xa, vốn chính là "Dân tộc độc lập-Dân quyền tự do-Dân sinh hạnh phúc" mà ông đã "thuổng" nó từ "Chủ nghĩa Tam dân" của Tôn Trung Sơn đúng như tinh thần của đoạn văn trên.  

 

Người  ta có thể lý giải cho những hành đông này của ông bắt nguồn từ phép biện chứng của chủ nghĩa Marx vì chính Engels đã từng nói "Everthing exists in pair"  ( mọi thứ tồn tại theo cặp ở thế lưỡng trị ) tuy nhiên theo tôi có lẽ nó bắt nguồn từ lối tư duy  "Lưỡng tại song hành" đẻ ra từ học thuyết âm dương thì đúng hơn, bởi phép biện chứng của Marx không nhấn mạnh rằng các mặt đối lập có chứa đựng các yếu tố của của mặt đối lập kia như học thuyết âm dương "Trong âm có dương và trong dương có âm" dù nó có đề cập đến việc chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt đối lập.

 

 

 

Những dẫn chứng hơi dài dòng vừa rồi của tôi là để chứng minh một niềm tin là Hồ Chí Minh là người am tường dịch lý một cách sâu sắc và có vận dụng dịch học vào việc tạo ra sự nghiệp chính trị của mình. Điều này chưa từng đề cập đến trong các tài liệu nghiên cứu về ông do giới sử học trong và ngoài nước tiến hành, có lẽ bởi với hệ thống  lý luận XHCN thì dịch lý là sản phẩm  của chế độ phong kiến nên không thể đưa nó vào tài liệu nghiên cứu chính thống, còn với giới nghiên cứu phương Tây thì "học thuật của phương Đông"  không phải là thứ được đánh giá cao.

 

Nếu không thừa nhận điều này thì sẽ khá khó khăn trong việc lý giải tại sao Hồ Chí Minh có khả năng tiên đoán trước một số điều ( vốn đã được kiểm chứng bằng dữ liệu chính xác ) . Ở đây tôi xin trích ra một đoạn trong hồi ký của Nguyễn Đăng Mạnh, một cuốn hồi ký cũng từng gây xôn xao văn đàn và xã hội cả ảo lẫn thực.

 

Một bí ẩn nữa là vì sao Hồ Chí Minh đoán rất chính xác mấy thời điểm lịch sử quan trọng: năm 1945, chấm dứt Đại chiến Thế giới thứ hai và Cách mạng tháng Tám thành công; năm 1954 chiến thắng giặc Pháp (đoán từ năm 1950); năm 1975 chiến thắng giặc Mỹ (đoán năm 1960).

 

Theo Trần Quốc Vượng, vì ông có tử vi.Năm 1943, khi Hồ Chí Minh viết câu kết bài “Diễn ca lịch sử nước ta”: “Bốn nhăm sự nghiệp hoàn thành”, thì ở Hội nghị Téhéran, thủ lĩnh ba siêu cường trong phe Đồng Minh là Stalin, Churchill, Roosevelt đoán, chiến tranh chấm dứt năm1946.Không lẽ gì Hồ Chí Minh ở Việt Bắc, với một cái đài bán dẫn rất thô sơ, lại đoán thời cuộc thế giới chính xác hơn ba tay trực tiếp chỉ đạo cuộc chiến tranh chống phát-xít với những thông tin phong phú, cập nhật và những dữ kiện đầy đủ. Mà ba tay này đâu có dốt nát gì!

 

 

Trần Quốc Vượng kết luận: cụ Hồ có tử vi.Vượng cũng là tay rất sành sỏi tử vi. Anh nói, ở Thư viện Quốc gia có cuốn Tử vi phú đoán của Lê Quý Đôn đã dịch. Vượng đến mượn. Cô thủ thư nói sách không còn. Bố Trần Quốc Vượng có quen cụ Xước là giám đốc thư viện, Vượng đến hỏi, cụ Xước nói: Ông Hoàng Minh Giám đến lấy cho cụ Hồ đọc rồi. Sách đang ở chỗ cụ Hồ.

 

Anh Từ Sơn có tặng tôi tập Di bút của Hoài Thanh (bản đánh máy lúc chưa xuất bản thành sách). Trong đó có đoạn viết: “Năm 1945, khi quân Tưởng đã kéo vào dày đặc ở miền Bắc và quân Pháp đã bắt đầu đánh phá ở miền Nam, anh Tố Hữu có dịp được gặp Bác. Anh thưa với Bác:

 

‘Thưa cụ, một bên thì Tây, một bên thì Tàu, bên nào đáng sợ hơn?’

 

‘Tây cũng không đáng sợ. Tàu cũng không đáng sợ. Đáng sợ nhất là các chú.’ Ông Hồ trả lời như vậy”.

 

Ngẫm ra đây cũng là một tiên đoán thiên tài của Hồ Chí Minh. Ngày nay Pháp, Mỹ đều rút hết rồi. Đất nước nếu còn khốn khổ thì đúng là do “các chú”.

 

Chi tiết nói về khả năng tiên đoán tương lai của Hồ Chí Minh không phải chỉ một mình Nguyễn Đăng Mạnh nhắc đến mà nó được nhiều người khác từng tiếp xúc với ông nhắc lại nhiều lần trên các phương tiện thông tin chính thống, chỉ có thông tin về việc ông Hồ nghiên cứu tử vi là lần thông tin mới. Dù rằng "môn dự đoán dựa trên dịch học" chưa được xác lập là một môn khoa học thực sự  bởi cái mã nguồn  của nó vẫn chưa được public để trở thành open source mọi  người cùng nghiên cứu nhưng có một thực tế là công chúng vẫn đã và đang thừa nhận năng lực này ở một số  nhân vật lịch sử  được tôn xưng là "Thượng thông thiên văn, hạ tường địa lý, trung tri nhân sự, huyền cơ  tham tạo hóa" như Thiệu Ung ở Trung Quốc và Nguyễn Bình Khiêm ở Việt Nam.

 

 

Khác với Thiệu Ung chuyên tâm vào học thuật, chú trọng soạn thảo  các trước tác dịch học, Nguyễn Bỉnh Khiêm không để lại trước tác dịch học nào cả ( có một số tác phẩm được cho là của cụ nhưng chưa có bằng chứng xác thực, có thể người đời sau tạo ra mượn danh cụ để lấy uy ) nhưng ông lại được xem là người đã sắp xếp thế các thế lực chính trị tạo nên cục diện lịch sử Việt Nam thế kỷ 16 qua việc "chỉ dẫn" cho các tập đoàn  Lê, Mạc, Trịnh, Nguyễn. Cũng có những ví dụ khác về những "trí thức cổ trang" có bản lĩnh  "chọc trời khuấy nước, khuynh đảo thiên hạ" là "bậc thầy của đế vương" từng dùng cái năng lực "thần cơ diệu toán" của mình can dự một cách trực tiếp hoặc gián tiếp vào lịch sử lập nên các triều đại kéo dài mấy trăm năm như  Trương Lương, Gia Cát Lượng, Lưu Bá Ôn mà học thuật của mấy đồng chí này không gì khác ngoài mấy món "Âm dương dịch lý, ngũ hành vật luận".

 

Bất kể ai xuất phát từ quan điểm chính trị nào mà nói đều phải thừa nhận rằng Hồ Chí Minh cũng là một nhân vật "hùng tài đại lược" có tầm ảnh hưởng  toàn cầu. Căn cứ vào những hệ quả mà ông tạo ra đối với lịch sử ( tôi không nói về việc nó là tiêu cực hay tích cực, cái này tùy quan điểm lập trường của các phe phái  theo các xu hướng chính trị khác nhau, tôi chỉ nói về mức độ sâu và rộng của ảnh hưởng đó )  thì bản lĩnh của ông so với các nhân vật đã nêu cũng không kém chút nào, thì không có gì là phi lý nếu cho rằng bản lĩnh ấy một phần bắt nguồn từ học vấn về dịch lý cũng như năng lực thực hành nó của ông.

 

Quay trở lại với chủ đề về ngày sinh,  tôi  đồng tình với kết luận của Giáo sư Trần Quốc Vượng qua lời kể của Nguyễn Đăng Mạnh,  vì như tôi như đã dẫn chứng ở trên, tôi tin rằng  Hồ Chí Minh có  căn bản dịch lý vững vàng và theo logic đó ông cũng  không am hiểu tư vi,  tất nhiên ông là người biết rõ về ngày tháng năm sinh của mình, chỉ có điều ông không muốn người khác biết.  Song không phải là không ai biết thông tin đó. Ngoài những người trong gia đình ông Hồ thì trong giới nghiên cứu tử vi lý số Việt Nam nhiều người có biết những thông tin này. 

 

Giai thoại và thực tế

 

Có một lần tôi đọc được đâu đó trên một trong các diễn đàn lý số mà người viết ( có lẽ đã cao tuổi và đang sống ở hải ngoại ) kể được cụ Ba La,  người được xem là vua tử vi rất nổi tiếng ở Sài Gòn trước 1975 lấy tên làng Ba La-Hà Ðông  làm tên hiệu, không ai biết được tên tuổi thật của cụ, vốn là sĩ phu thế hệ Cần Vương, Duy Tân sau khi thất bại  chạy sang Tàu cụ Ba La sau lại về ngồi xem số ở chợ Hà Đông trước 1954  trực tiếp thuật  lại là:

 

"Nhà tôi có vườn rộng, các ông ấy  ông Võ -Nguyễn Giáp  và ông Nguyễn - Hồ Chí Minh  vẫn tới chơi xem số “,  ” các ông ấy xuất thân ở miền đất xấu, gặp nhiều tai ương, chẳng được lâu, đất Việt ta thời xưa từ Thanh Hóa trở ra đất rộng sông dài, dựng nghiệp lâu dài được, miền Nghệ Tĩnh đất hẹp, bốc lên rồi tắt rất nhanh, chẳng quá hai ba giáp”.

 

 

Dữ kiện  bỏ qua phán đoán của cụ Ba La thì có thể củng cố thêm khả năng Hồ Chí Minh có nghiên cứu tử vi  của chính mình để ứng dụng nó vào sự nghiệp của mình là rất cao và có lẽ ông đã khá thành công trong việc này.

 

Một lá tử vi  mẫu trong sách

 

Vậy rốt cuộc thì Hồ Chí Minh sinh ngày nào và lá số tử vi của ông ra sao?

 

Trong cuốn "Tử Vi Đẩu Số Tân Biên" của một nhân vật tên tuổi trong làng tử vi là Vân Đằng Thái Thứ Lang ở phần phụ lục có 4 lá số mẫu dành cho những người nghiên cứu học cách lập đoán trong đó có 2 lá số làm cho người ta chú ý bởi cách ám chỉ của tác giả. Dù không nói trắng ra nhưng những thông tin mà tác giả đưa ra dường như khẳng định 100% rằng đó là lá số của Bảo Đại và Hồ Chí Minh.  Thái Thứ Lang vốn là người cùng quê Nam Đàn với Hồ Chí Minh và cha của ông còn được cho là bạn của Nguyễn Sinh Sắc nên đó là lý do mà những người đọc sách này tin tưởng rằng nguồn tin của ông là chân thực. Ngoài ra còn một lý do nữa mà người ta tin vào thông tin của Thái Thứ Lang vì ông này là nhà sư, người xuất gia thì sẽ không phạm giới luật vọng ngôn, tức là ông sẽ nói những thông tin mà ông nghĩ trong đầu là đúng chứ không bịa đặt ( dù có thể điều ông ấy nghĩ chưa chắc đã đúng :D ) . 

 

 

Đây là là số của Hồ Chí Minh do tôi chụp lại từ cuốn sách xuất bản năm 1956 tại Sài Gòn này.

 

 

Theo những thông tin trên đó thì Hồ Chí Minh sinh vào giờ Mão ngày 6/6 (Âm Lịch ) năm Tân Mão ( 1891).

 

Lá số này có một số điểm khá tương hợp với  miêu tả của Thiếu Lăng Quân về băn khoăn của các ông Nguyễn Sinh Sắc, Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý khi  họ luận đoan lá số của Nguyễn Sinh Cung rằng họ đều thừa nhận đây là lá số Tử Vi của một con người không bình thường,  song các ông không lý giải được vì sao với một con người an thủ Mệnh, Tài, Quan là các chính tinh: Tử, Phủ, Vũ, Tướng, Liêm, Phá... như vậy mà Cung Điền trạch lại Vô chính diệu.

 

Thực tế sau này đã cho thấy  cho thấy Hồ Chí Minh uy quyền bao trùm thiên hạ mà trong tay lại không có tài sản gì, cung Điền Sản rất mờ nhạt thì có thể giải thích được băn khoăn ở trên.

 

Luận đoán thêm một chút là thấy cung Thiên Di có phá quân thủ tọa đắc địa có vẻ ứng với cuộc đời suốt đời làm chuyện canh cải, bôn ba khắp năm châu bốn biển đầy sóng gió của ông Hồ nhưng ông đều vượt qua được.

 

Khả năng vượt khó của ông cũng thể hiện trong sự nghiệp chính trị của mình. Nếu  xem xét toàn bộ thế tam hợp của 3 cung: Mệnh, Tài, Quan  thì cái thế tam hợp này là thế lấn lướt tình thế.

 

Thế tam hợp trong Tử vi có 4 thế: Thế bình thuận, an hòa, Thế đối nghịch ; Thế bị lấn át và Thế lấn lướt ( hoàn cảnh ). Từ lý "Quan phương thập dụ" ( mười nguyên tắc căn bản khi luận đoán bản phương của lá số tử vi ) mà xét thì lá số này có bản phương  "Do nội tự cường" ( Mạnh từ bên trong, lực từ gốc rễ mà ra ) là thế của người bản lĩnh rất cao cường  luôn chủ động lấn lướt  mọi hoàn cảnh, tức là không phụ thuộc hoàn cảnh để nó khuất phục  mà còn có khả năng áp đặt hoàn cảnh…Ở trên có mấy ví dụ về cách ông Hồ ứng biến với tình thế hay nhìn thấy trước được cục diện chiến tranh.

 

Kết

 

Đối với Tử vi mà nói thì cùng một lá số nhưng mỗi ông luận một kiểu tùy vào trình độ và cả trường phái nữa ( có rất nhiều cách xem, nhiều trường phái trong tử vi, đông phái nhất là ở Đài Loan ). Nhất là khi luận về mấy ông làm chính trị thì yếu tố tình cảm yêu ghét, sùng bái, hận thù các kiểu xen vào lại chi phối rất nhiều, và có nhiều cách luận giải khác thì lại chỉ ra những điểm không tương thích với vận mệnh của ông Hồ.  Cá nhân tôi thì tuy không khẳng định 100% nhưng đánh giá rằng thông tin về ngày sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh là 6/6 âm lịch 1891 có độ chân thực với xác suất khá cao.

 

Dù vậy nếu có được thêm các dữ kiện đầy đủ hơn để có câu trả lời chính xác hơn nữa thì càng tốt, bởi tìm kiếm sự thật là nhu cầu vốn có của con người, thông tin về một nhân vật lịch sử có tầm ảnh hưởng toàn cầu như Hồ Chính Minh không đơn giản chỉ là ngày giờ ông đến với thế giới này mà nó còn liên quan đến rất nhiều sự kiện lịch sử khác trước đây và sau này nữa.

 

Chính vì lý do đó nên hôm nay tôi  viết bài này với mong muốn cung cấp thêm một số thông tin vốn dĩ chưa được hoặc ít được nhắc tới về Hồ Chí Minh xem như một thao tác xử lý ảnh "xóa mờ, khử nhiễu" bức  chân dung của ông để những ai có cùng mối quan tâm có thể thảo luận. Đây là một case study rất đắt giá. Hy vọng các bạn yêu thích nghiên cứu lịch sử hay lý số dịch học và tử vi sẽ cung cấp thêm cho tôi một số thông tin khác mà các bạn có, chẳng hạn như lá số được cho là của Hồ Chí Minh mà 2 ông Sơn Tùng và Thiếu Lăng Quân đang giữ. Tôi đã tìm thông tin liên lạc của họ trên mạng nhưng không tìm được để hỏi trực tiếp.

 

 

P/S: Đối với các bạn chưa tìm hiểu về dịch học và tử vi, các bạn có thể bỏ qua các các đoạn dẫn giải của tôi về các nội dung này, không cần focus nhiều vào chúng bởi các bộ môn này được xếp vào loại huyền học chứ không phải khoa học, nó có cách tư duy và phương pháp luận hoàn toàn khác với phương pháp luận của khoa học hiện đại.  Dưới con mắt của khoa học còn rất nhiều điều về các môn huyền học chưa được làm sáng tỏ. Dù sao với đại đa số mọi người mà nói thì chúng ta chỉ nên tin vào những thứ mà mình đã hiểu rõ và lấy nó làm căn cứ cho nhận thức của mình. Đối với cái ta chưa hiểu hãy xem nó có giá trị tham khảo. Ở đây là giá trị tham khảo hữu ích mà nó mang lại là có một logic dẫn đến dữ kiện về ngày sinh thực sự của Hồ Chí Minh, đó có thể là mối quan tâm chung của nhiều người.


Nguồn: FB Nguyễn Thành
https://www.facebook.com/notes/th%C3%A0nh-nguy%E1%BB%85n/h%E1%BB%93-ch%C3%AD-minh-nh%E1%BB%AFng-ng%C3%A0y-sinh-v%C3%A0-m%E1%BB%99t-l%C3%A1-s%E1%BB%91-t%E1%BB%AD-vi/913128538749866?fref=nf&pnref=story


Chung quanh vấn đề nhận thức và đánh giá Hồ Chí Minh hiện nay

Lê Kỳ Sơn

Bốn mươi lăm năm đã qua kể từ ngày Hồ Chí Minh qua đời, lịch sử dân tộc và nhân loại đã trải qua bao biến thiên dữ dội, sự kiện lớn nhất là sự sụp đổ nhanh chóng, bất ngờ của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới từng tồn tại hơn 70 năm – như một cuộc động đất chính trị, có thể sánh ngang với sự sụp đổ của đế chế La Mã hồi đầu công nguyên.

Việt Nam giành được thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp thống nhất đất nước với cái giá máu xương phải trả được coi là chưa từng có trong lịch sử kháng chiến của dân tộc. Nhưng thắng lợi quá lớn đã làm cho những người chiến thắng say sưa, sinh ra chủ quan, kiêu ngạo; thiếu tinh thần khoan dung của người thắng cuộc để chủ động thực hiện hòa giải, hòa hợp dân tộc ; ta cũng đã không biết tận dụng sức mạnh của niềm vui, niềm tự hào chiến thắng, sự yêu mến, cảm phục và sẵn sàng viện trợ của bạn bè quốc tế để tranh thủ đưa cả nước chuyển sang một thời kỳ mới: chung tay hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng lại Tổ quốc, sớm đi tới phồn vinh, thịnh vượng.

        Trái lại, cũng do chủ quan, hẹp hòi, tầm nhìn thiển cận, chúng ta đã liên tiếp mắc phải những sai lầm nghiêm trọng trong chính sách đối nội và đối ngoại. Tiếng súng vừa mới im được vài năm, ta đã phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh Tây Nam và chiến tranh biên giới phía Bắc; việc đem quân vào Campuchia, rồi sa lầy ở đó hơn 10 năm; vụ ‘nạn kiều” và hàng triệu người Việt ồ ạt bỏ nước ra đi,…dẫn đến Việt Nam bị thế giới bao vây, cấm vận, làm cho nền kinh tế đất nước và đời sống của nhân dân lâm vào hoàn cảnh khó khăn chưa từng thấy. Gỡ ra được cũng đã bị chậm đi mất vài chục năm.

        Hiện nay, nền kinh tế thị trường “định hướng xã hội chủ nghĩa”, với những cơ chế bất cập do “lỗi hệ thống” gây ra, đã tạo điều kiện cho các “nhóm lợi ích” trong bộ máy công quyền lợi dụng thao túng, nền kinh tế đất nước ngày càng suy thoái, tụt hậu, thua kém cả Lào và Campuchia. Nạn tham nhũng lan tràn từ trên xuống dưới, quan to ăn to, quan nhỏ ăn nhỏ, đám thư lại thả sức hạch sách, nhũng nhiễu dân đen, không chuẩn mực đạo đức và pháp lý nào tiết chế nổi. Dân oan khiếu kiện mất đất, mất nhà,…diễn ra hàng ngày ở huyện, ở tỉnh, không ít đoàn kéo lên ăn chực, nằm chờ ở cổng phủ Chủ tịch,…Tiếng kêu than vang vọng đến cả trời xanh, nhưng không vụ việc nào được giải quyết triệt để. Trí thức lên tiếng góp ý, phê phán, đấu tranh, chính quyền đã không chiụ nghe, lại còn bị đe dọa, bắt bớ.  Chưa bao giờ phản ứng của người dân lại trở nên công khai, gay gắt, quyết liệt như hiện nay. Phải chăng đó là những nhân tố đang tạo nên những “tổ mối hổng” có thể dẫn đến “sụt toang đê cũ”?

          Điều gì đã gây ra bi kịch này, nguyên nhân sâu xa là từ đâu? Ai sẽ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử về sự trì trệ, suy thoái nghiêm trọng của đất nước và nguy cơ sụp đổ của chế độ?…Trả lời những câu hỏi đó không tránh khỏi ít nhiều có liên quan đến vấn đề đánh giá vai trò và trách nhiệm cá nhân của Hồ Chí Minh.

          Trong bối cảnh lòng dân ly tán hiện nay, sự đánh giá Hồ Chí Minh đang diễn ra theo hai chiều đối nghịch, vậy cần có nhận thức và đánh giá như thế nào để đạt tới sự chính xác, công bằng, khách quan, phù hợp với thực tế lịch sử?

          Công lao to lớn của Cụ Hồ đối với sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc là điều không ai có thể phủ nhận. Từ đưa Yêu sách 8 điểm gửi Hội nghị Versailles đến Tuyên ngôn Độc lập, rồi chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ chấn động địa cầu,…chặng đường đấu tranh nửa thế kỷ ấy gắn liền với tên tuổi huyền thoại của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, Cụ vẫn được coi là người Cha tinh thần đã khai sinh ra chế độ này, vậy Cụ có thể có những  liên đới trách nhiệm gì với thực trạng đáng buồn hiện nay không?

Những người phê phán Hồ Chí Minh thường cho rằng mọi tai họa mà dân tộc và đất nước phải gánh chịu hơn nửa thế kỷ qua, phải được xét từ gốc, từ nhân tố khởi nguyên: ấy là do Hồ Chí Minh đã du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam! Sự thật là như thế nào rất cần được làm rõ.

Đánh giá vai trò của một học thuyết hay một vĩ nhân cần đứng vững trên quan điểm lịch sử cụ thể. Lịch sử không đứng yên, mà luôn luôn vận động, biến đổi. Chủ nghĩa tư bản ở thời kỳ hoang dã, đi xâm chiếm thuộc địa, thì từ đầu đến chân nó đều thấm bùn và máu; khác với chủ nghĩa tư bản hiện đại, biết phát huy sức mạnh của văn hóa, khoa học-công nghệ, dân chủ, pháp quyền,…để dần dần lột xác, trở thành văn minh. Cũng như vậy, chủ nghĩa cộng sản đầu thế kỷ XX và Quốc Tế 3 thời Lênin cũng khác với chủ nghĩa cộng sản đã bị Stalin hóa, Mao-ít hóa sau này. Nếu Quốc Tế 3 không công khai ủng hộ các dân tộc thuộc địa – nếu cũng chỉ như Quốc Tế 2 – chắc gì Nguyễn Ái Quốc đã ngả theo chủ nghĩa cộng sản?

 Thứ hai, cũng cần phân biệt điều mà Hồ Chí Minh tự giác, chủ động lựa chọn với điều mà tình thế bắt buộc ông phải chấp nhận (khi không còn con đường nào khác), lại càng khác xa với những điều người khác nhân danh Hồ Chí Minh đã làm!

Vai trò của vĩ nhân là ở chỗ có biết nắm bắt thời cơ và tận dụng được thời cơ do thời cuộc mang lại để thành đạt mục tiêu độc lập, thống nhất hay không; còn cá nhân một lãnh tụ, dù lỗi lạc đến đâu – nhất là lãnh tụ của một nước thuộc địa  nghèo nàn, lạc hậu như nước ta – làm sao có thể vượt qua được vị thế yếu kém của mình, để tác động vào thời đại, nhằm thực hiện thắng lợi lý tưởng, hoài bão mà mình theo đuổi?

          Người viết thử mạo muội góp phần đưa ra mấy kiến giải sau đây.

  1. Ai là người đầu tiên đưa chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam?

 Chủ nghĩa cộng sản là một trào lưu tư tưởng, một khuynh hướng chính trị hình thành từ nửa cuối thế kỷ XIX; khi chủ nghĩa tư bản đã hiện nguyên hình tàn bạo, đáng nguyền rủa của nó, thì chủ nghĩa cộng sản đang là một khuynh hướng chính trị-xã hội cấp tiến, có sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với phần đông trí thức Châu Âu thời bấy giờ. Sang đầu những năm 20 của thế kỷ XX, nó bắt đầu được truyền tới Trung Quốc bởi những trí thức Tây học như Trần Độc Tú, Lý Đại Chiêu, Cù Thu Bạch,…dẫn tới việc thành lập Đảng CS Trung Quốc năm 1921.

Ở Việt Nam, vào thời điểm đó, Nguyễn Ái Quốc là người dân đầu tiên của một nước nô lệ, sau những thất bại của lớp chí sĩ cha anh, đã rời nước ra đi tìm một con đường mới cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc. Cái khó của Hồ Chí Minh là cái khó của người đi trước thời đại. Vào đầu thế kỷ XX, khi chủ nghĩa đế quốc đã trở thành một hệ thống thế giới, làm thế nào để giải phóng các dân tộc thuộc địa, vẫn còn là một vấn đề quá mới, chưa có lời giải. Chính Engels đã từng viết (đại ý): Các dân tộc thuộc địa rồi sẽ được giải phóng, khi một dân tộc này đi áp bức một dân tộc khác, dân tộc đó không có tự do. Nhưng “quá trình ấy sẽ phát triển như thế nào, điều này thật là khó nói”; “về điều này, tôi nghĩ rằng hiện nay chúng ta chỉ có thể đề ra những giả thuyết khá bâng quơ mà thôi”[1].

Vào thời điểm Nguyễn Tất Thành ra đi khảo sát thế giới, từ Á sang Âu, chưa có dân tộc bị áp bức nào đấu tranh giành được tự do, chưa có tấm gương thắng lợi nào để soi vào. Ở phương Tây, các đảng Xã hội thuộc Quốc tế II, sau chiến tranh thế giới 1914-1918, do chủ nghĩa dân tộc bản vị, về cơ bản họ vẫn ủng hộ chính sách thuộc địa của các chính phủ tư sản nước mình, họ cũng “đề ra những nghị quyết rất hay (về vấn đề thuộc địa) nhưng để sau đó đưa vào các viện bảo tàng”!

Chỉ duy nhất có Đảng CS Nga, với Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, công khai tuyên bố ủng hộ và giúp đỡ thiết thực cuộc đấu tranh của các dân tộc phương Đông bằng những việc làm cụ thể. Nguyễn Ái Quốc đã từng đặt chân tới nhiều nước phương Tây, từng chìa bàn tay hữu nghị ra với họ, nhưng không được ai nắm lấy! Chính lúc ấy, ông đã tìm thấy ở Luận cương của Lênin một chỗ dựa, một hướng đi mới, nên đã ngả theo Quốc tế 3, gia nhập hàng ngũ cộng sản, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Đó là một thực tế ai cũng đều đã biết.

Nhưng Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa cộng sản không phải với động cơ của một người đi tìm chủ thuyết, như một bộ phận trí thức cấp tiến phương Tây thời bấy giờ, chán ghét bất công của chế độ tư bản, họ đã tìm thấy ở chủ nghĩa cộng sản một viễn cảnh đầy hy vọng về một “mùa xuân mới của nhân loại”. Còn ông Nguyễn đến với Quốc Tế 3 từ một nhu cầu cấp bách của dân tộc là đi tìm một phương sách, một con đường cứu nước mới, sau khi các phong trào Đông du và Duy tân đã hoàn toàn thất bại, chứ không phải ông đến với Quốc Tế 3 từ sự giác ngộ sâu sắc về lý tưởng cộng sản. Vào thời điểm ấy, ông chưa có điều kiện nghiên cứu chủ nghĩa Mác một cách hệ thống, nên đã không được thừa nhận là một người cộng sản thuần thành, vì người ta thấy ông rất ít trích dẫn kinh điển mácxít, màchỉ chú trọng vào vấn đề dân tộc thuộc địa.

 Nói Nguyễn Ái Quốc là người cộng sản Việt Nam đầu tiên có thể đúng, nhưng là người đầu tiên truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam lại là một nhận định cần được xem xét kỹ. Hãy nhìn lại, từ bài phát biểu ở Đại hội Tours, đến các bài báo trên Le Paria, rồi tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp xuất bản tại Pháp năm 1925,… không có bài viết nào trực tiếp tuyên truyền cho chủ nghĩa cộng sản, tất cả đều đứng trên lập trường người dân thuộc địa  mất nước mà tố cáo tội ác cai trị tàn bạo, cướp bóc man rợ của chủ nghĩa thực dân; kêu gọi đồng bào thức tỉnh, đứng dậy, đoàn kết đấu tranh giành lại độc lập, tự do.

Giữa năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến Liên Xô lần đầu tiên để tham dự Hội nghị Quốc tế Nông dân, tiếp theo là Đại hội V Quốc tế Cộng sản, rồi Đại hội các tổ chức quần chúng như Thanh niên Quốc tế, Phụ nữ Quốc tế,…Nội dung các bài phát biểu của Nguyễn Ái Quốc tại các diễn đàn này nói chung đều không đề cập đến những vấn đề đang đặt ra trong phong trào cộng sản bấy giờ, mà chỉ tập trung vào một chủ đề duy nhất: “Tôi đến đây để không ngừng thức tỉnh các đồng chí về vấn đề thuộc địa”! Điều này đã gây cho Staline ấn tượng không mấy thiện cảm về Nguyễn Ái Quốc, coi ông “không phải một người cộng sản chân chính mà là một người còn mang nặng tinh thần dân tộc chủ nghĩa ít có[2]

Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu, với danh nghĩa thành viên trong phái bộ của Borodine, để xúc tiến công tác tổ chức và huấn luyện, ươm mầm những hạt giống cho cách mạng Việt Nam, sau đó lập ra Hội Việt Nam Thanh niên cách mạng (chứ chưa phải lập Đảng cộng sản). Theo Trần Dân Tiên viết trong “Hồ Chí Minh truyện” thì từ tôn chỉ, mục đích đến điều lệ của Hội đều được ông mô phỏng theo chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Dật Tiên là dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc.[3]

 Trong  nội dung các bài giảng cho các lớp huấn luyện chính trị tại đây (sau được tập hợp thành cuốn “Đường cách mệnh” ) cũng như trong các bài viết của ông trên báo Thanh Niên, chưa thấy nói gì đến mục tiêu thực hiện chủ nghĩa công sản ở Việt Nam, tất cả chỉ chú trọng nói đến nội dung của dân tộc cách mệnh(như khẳng định: dân tộc cách mệnh thì chưa phân chia giai cấp, sĩ nông công thương đều nhất trí chống lại cường quyền); cách mệnh muốn thành công phải có đảng cách mệnh, đảng phải có chủ nghĩa làm cốt, phải đoàn kết, lấy công nông làm gốc, vì họ là số đông nhất và bị áp bức nặng nề hơn cả; muốn làm tròn nhiệm vụ cách mệnh, người cách mệnh phải có đạo đức cách mệnh, phải bền gan, phải hy sinh,…

Nói chung, nội dung lý luận của những sách báo đó đều còn sơ giản, để phù hợp với trình độ của phần đông hội viên thanh niên lúc bấy giờ, nên sau này đã bị Hà Huy Tập – người thấm nhuần lý luận “giai cấp chống giai cấp” của Đại Hội VI Quốc tế Cộng sản – phê phán là “cực kỳ sơ đẳng, mang dấu ấn của thứ lý luận hợp tác giai cấp, không xác định động lực của cách mạng Đông Dương, và không hiểu đúng vai trò độc quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản,…”[4].

Năm 1927, Quảng Châu khởi nghĩa thất bại, Nguyễn Áí Quốc phải theo phái bộ Borodine trở về Moscow, sau đó cả phái bộ đều bị Staline cách chức, rồi lần lượt bị thanh trừng. Nguyễn Ái Quốc bị bỏ rơi, phải tự tìm đường về Xiêm để hoạt động. Năm 1928, Đại hội QTCS lần thứ VI khai mạc, Nguyễn Ái Quốc không được triệu tập về dự.

  1. Đảng CS Việt Nam thành lập, có phải do Nguyễn Ái Quốc chủ xướng?

          Đầu năm 1930, trước sự xuất hiện và chia rẽ của ba nhóm cộng sản ở trong nước (điều này ngoài dự kiến của Nguyễn Ái Quốc, vì theo ông, điều kiện ở Việt Nam chưa chín muồi cho việc thành lập ĐCS); song với vai trò, trách nhiệm của mình, ông vẫn  đứng ra triệu tập Hội nghị hợp nhất, lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, vì vậy ông được suy tôn là người sáng lập. Các văn kiện do ông thảo ra, như Chính cương, Sách lược vắn tắt, Điều lệ Đảng, Lời kêu gọi, dưới ký tên: Nguyễn Ái Quốc: Thay mặt QTCS và Đảng CS Việt Nam, đều thấm nhuần những quan điểm của Lênin đã nêu ra trong Luận cương. Nhưng khi gửi sang Liên Xô báo cáo, đã bị QTCS bác bỏ, bởi vì lúc này họ đã xa rời những quan điểm ấy của Lênin, chỉ nhấn mạnh một chiều lý luận “giai cấp chống giai cấp” theo tư tưởng chỉ đạo của Staline tại Đại hội VI Quốc tế Cộng sản 1928.

Sau đó, Trần Phú được cử về, triệu tập Hội nghị TƯ tháng 10-1930, phê phán Hội nghị hợp nhất “chỉ  lo đến việc phản đế mà quên mất lợi ích giai cấp đấu tranh, ấy là một sự rất nguy hiểm”, lại còn “chia địa chủ ra làm đại, trung và tiểu địa chủ”, lại nói “phải lợi dụng bọn tư bản mà chưa rõ mặt phản cách mạng” cùng một số “sai lầm” khác, rồi ra nghị quyết thủ tiêu các văn kiện của Hội nghị hợp nhất, thông qua Luận cương Chính trị 1930, đổi tên đảng thành Đảng CS Đông Dương, bầu ra BCH TƯ mới, do Trần Phú làm Tổng Bí thư. Cương lĩnh, Điều lệ mới đều quán triệt quan điểm “giai cấp chống giai cấp”. Phải chăng, chính khuynh hướng “tả” của Luận cương Trần Phú, sau  khi được phổ biến xuống tới các địa phương, đã là một trong những tác nhân góp phần thổi bùng lên phong trào Xô viết ở Nghệ-Tĩnh?

Cần nói thêm rằng, phong trào đó có thể còn bị ảnh hưởng bởi một tổ chức mácxít khuynh tả nữa là Liên Đoàn CS Nam Dương – một chi nhánh của Đảng CS Trung Quốc đã hiện hữu tại Đông Nam Á và Nam Việt Nam từ những năm 1928-1930. Ta được biết, sau Đại hội VI QTCS, Lý Lập Tam, nguyên là đại diện của ĐCS Trung Quốc bên cạnh QTCS, một nhân vật cực tả, đã được Staline chú ý, đưa vào Ban Chấp Hành QTCS, rồi trở thành người đứng đầu Đảng CS TQ. Chính nhân vật này đã đưa Đảng CS TQ đi vào con đường phiêu lưu tả khuynh trong một thời gian dài, gây nên những tổn thất to lớn cho Đảng của họ. Chính họ Lý đã chỉ đạo đẩy mạnh việc tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, xây dựng và phát triển tổ chức CS trong người Hoa ở Thái Lan, Mã Lai, Nam Việt Nam ,…( trụ sở đặt tại Singapore, nên tổ chức này còn có tên gọi là Liên Đoàn Tân Gia Ba), nhằm phát huy ảnh hưởng của ĐCS Trung Quốc tại Đông Nam Á. Khi Đảng CS Đông Dương thành lập, cử ra Ban TƯ lâm thời gồm bảy người, theo quan điểm quốc tế, họ đã mời một đại diện của tổ chức CS người Hoa ở Sài-Gòn-Chợ Lớn tham gia BCH, đó là Lưu Lập Đạo (tức “A Lầu”). Phải chăng, khẩu hiệu cực tả “trí, phú, địa, hào-đào tận gốc, chốc tận rễ” là do ảnh hưởng từ Liên đoàn này? (Đây là vần đề cần được nghiên cứu thêm).

Những sự việc nói trên đều diễn ra ngoài ý muốn của Nguyễn Ái Quốc , vì lúc này, ông vẫn đang ở nước ngoài và đã hoàn toàn bị vô hiệu hóa, chỉ còn là “cái thùng thư” chuyển tiếp giữa Quốc tế CS và Ban TƯ trong nước. Góp phần tuyên truyền cho chủ nghĩa CS ở Đông Dương còn phải kể đến báo chí công khai ở Việt Nam thời bấy giờ. Năm 1926, Phan Văn Trường, lần đầu tiên ở Việt Nam, đã cho đăng toàn văn Tuyên ngôn đảng cộng sản của Marx-Engels trên tờ La Cloche Féléecủa ông, từ số 53 đến số 60 (bằng tiếng Pháp). Báo chí của chính quyền thuộc địa, lo sợ trước nguy cơ bùng phát mạnh mẽ của phong trào cộng sản, cũng cho đăng nhiều bài xuyên tạc, nói xấu chủ nghĩa cộng sản để cảnh giới, răn đe, vô tình cũng đã làm một việc tuyên truyền không công chủ nghĩa CS. Đó là chưa nói đến hoạt động và sách báo tuyên truyền của nhóm đệ tứ của Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm,…và nhà xuất bản Hàn Thuyên trong những năm 1930 sau này. Trong khi đó, Chính cương, Sách lược vắn tắt,…do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo, gửi đi Moscow, bị coi là không quán triệt đường lối “giai cấp chống giai cấp”, nên đã bị thủ tiêu ngay từ trong trứng, chưa mấy ai được biết đến các văn kiện này (cho tới khi lần đầu tiên được đưa vào Hồ Chí Minh Toàn tập, t.1, xuất bản lần đầu năm 1980).

Để hiểu được Hồ Chí Minh, cần thiết phải nhận thức trong sự so sánh quan điểm, đường lối của ông với đường lối tả khuynh của Staline và QTCS sau khi Lênin qua đời, nhất là từ sau Đại hội VI 1928. Đặc điểm của chủ nghĩa tả khuynh dưới sự áp đặt của Staline là nhấn mạnh độc quyền lãnh đạo của giai cấp vô sản, nôn nóng thực hiện ngay cách mạng vô sản khi các điều kiện kinh tế-xã hội chưa chín muồi, đề cao chuyên chính vô sản và bạo lực cách mạng, sử dụng guồng máy chuyên chính để đàn áp, sẵn sàng bắt bớ, thủ tiêu những người có ý kiến khác biệt; mang nặng chủ nghĩa biệt phái, đề cao công nông nhưng không trọng dụng trí thức; không cho phép các ĐCS được liên minh tạm thời với các Đảng Dân chủ Xã hội, không đánh giá đúng mức sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc ở thuộc địa, không cho phép người cộng sản hợp tác tạm thời với các đảng phái yêu nước và dân chủ ở các nước họ…Nói chung là Staline đã từ bỏ những quan điểm đúng đắn của Lênin mà Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu và kiên trì bảo vệ.

Quan điểm, đường lối chính trị của Hồ Chí Minh hình thành từ nền tảng văn hóa phương Đông của ông. Sớm đi sang phương Tây, văn hóa Hồ Chí Minh còn là sự chưng cất tinh hoa văn hóa ÂuTây, đặc biệt là lý tưởng Tự do-Bình đẳng-Bác ái của cách mạng Pháp, vì vậy, tư tưởng chính trị của ông cũng không đóng khung trong một học thuyết duy nhất nào. Hồ Chí Minh từng viết: “Khổng tử, Jésus, Marx, Tôn Dật Tiên,…đều có những điểm chung giống nhau, đó là cùng mưu cầu hạnh phúc cho loài người. Tôi cố gắng là người học trò nhỏ của các vị ấy[5].  Như vậy, mọi lý thuyết, chủ nghĩa đối với ông đều có cái hay, đều cần phải nghiên cứu, tham khảo, học lấy cái đúng, cái tốt, nhưng tất cả đều chỉ là phương tiện để đạt mục đích là giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc. Đó là tóm tắt học thuyết “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh.

Nói cách khác, tư duychính trị Hồ Chí Minh luôn phấn đấu hướng theo những giá trị chung của nhân loại. Cuốn sách đầu tiên mà Nguyễn Ái Quốc  dịch sang tiếng Việt không phải “Tuyên ngôn đảng cộng sản” mà là “Tinh thần pháp luật” của Montesquieu!

Do đó, tuy đã gia nhập hàng ngũ cộng sản, nhưng trong căn cốt, ông vẫn là người yêu nước, ông dám vượt qua một số nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa cộng sản ngay cả khi đang sống  giữa trung tâm của nó ở Moscow. Sau khi phân tích những đặc điểm kinh tế-xã hội-văn hóa-lịch sử của các dân tộc Viễn Đông, ông khẳng định:“Cuộc đấu tranh giai cấp ở đó (tức Đông Dương)  không diễn ra giống như ở phương Tây”, “Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước…,người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên cái động lực vĩ đại và duy nhất của đời sống xã hội của họ”[6].

Ông không coi đấu tranh giai cấp là động lực duy nhất mà lấy đại đoàn kết dân tộc làm trọng; không nhấn mạnh chuyên chính vô sản mà đề cao nhà nước dân chủ; đề cao và tin dùng trí thức, kể cả trí thức cũ. Ông chủ trương lấy dân làm gốc, lúc nào cũng tâm niệm: Tổ quốc trên hết, dân tộc trên hết, nhân dân trên hết; lợi ích của giai cấp, của bộ phận phải phục tùng lợi ích chung của cả quốc gia, dân tộc. Học thuyết của ông có thể tóm tắt trong 9 chữ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”.

Dựa theo những cứ liệu đó, nhà sử học Pháp Pierre Brocheux – người đã dành cả cuộc đời nghiên cứu về Hồ Chí Minh – từng đưa ra ý kiến riêng: “Tôi cho rằng ông Hồ Chí Minh về bản chất thực ra là một người theo Khổng giáo. Ông luôn cố gắng kết hợp những ý tưởng của Khổng giáo – một truyền thống ý thức hệ Đông Á – với các dòng tư tưởng châu Âu, từ chủ nghĩa Mác đến chủ nghĩa Lênin…Theo tôi, trước sau ông là một người tốt, một người Khổng giáo. Những  gì  người ta nói về ông ở Việt Nam hiện nay, chỉ đúng một phần thôi. Ông đã cố gắng đưa vào thực tế tính nhân văn và tính công bằng xã hội theo kiểu Khổng giáo”[7].  Đó là một ý kiến được nhiều học giả trong, ngoài nước chú ý và chia sẻ.

 Sau những trải nghiệm đau buồn riêng của Nguyễn Ái Quốc qua hai thời kỳ sống, hoạt động, học tập ở Liên Xô, niềm tin của ông vào Liên Xô và QTCS như là chỗ dựa duy nhất cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam, không còn nguyên vẹn như xưa. Ông nhận thấy cách mạng Việt Nam có thể và cần phải có thêm nhiều chỗ dựa khác, do đó cần chủ động tìm ra những phương thức liên minh tạm thời, hợp tác rộng rãi (theo tinh thần của Lênin) nhằm tranh thủ mọi sự giúp đỡ có thể và có lợi cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập của Việt Nam.

Sau khi Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô cuối năm 1938, tình hình thế giới đã có những biến chuyển lớn: chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ, Liên Xô đã hợp tác với Anh, Mỹ , Pháp,…hình thành phe Đồng minh chống phát xít; năm 1943, QTCS tuyên bố tự giải tán, để các ĐCS được quyền chủ động  hơn, phù hợp với điều kiện của mỗi nước. Ở Trung Quốc, hai phe Quốc-Cộng lại hợp tác với nhau lần thứ hai để cùng chống Nhật. Sau khi bắt được liên lạc với tổ chức Đảng trong nước, Nguyễn Ái Quốc lập tức tranh thủ về nước chỉ đạo phong trào.

Lúc này, Ban TƯ cũ chịu ảnh hưởng của xu hướng Trần Phú, Hà HuyTập hầu hết đã bị bắt và hy sinh, Ban TƯ lâm thời được thành lập trên cơ sở Ban lãnh đạo Xứ ủy Bắc Kỳ- gồm những người vốn có quan điểm “ôn hòa” hơn (Ban Xứ ủy Bắc Kỳ thời kỳ Trịnh Đình Cửu làm bí thư, vẫn cho rằng đường lối của QTCS mà Trần Phú là đại diện, không phù hợp với thực tế Việt Nam, nên không tán thành, không tích cực thực thi, thường bị Trần Phú nhắc nhở, phê phán, đe dọa kỷ luật). Nguyễn Ái Quốc trở về trong hoàn cảnh Ban TƯ lâm thời tự lập, do Trường Chinh đứng đầu, đang cần được thừa nhận chính thức, nên đã xem Nguyễn Ái Quốc như là đại diện của Quốc tế và suy tôn như là lãnh tụ tối cao của Đảng. Có thể coi đây là cuộc gặp gỡ lịch sử, nếu không có cơ sở quần chúng cách mạng do Xứ ủy Bắc Kỳ gây dựng, không có sự suy tôn và nhất trí hợp tác  của Trường Chinh, chưa chắc Cách mạng tháng Tám 1945 đã có thể bùng nổ thuận lợi và thành công như đã diễn ra!

Dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị TƯ 8 – 1941 đặt lên hàng đầu nhiệm vụ chống đế quốc, giành độc lập dân tộc; còn nhiệm vụ chống phong kiến, đem lại ruộng đất cho dân cày sẽ thực hiện từng bước và phải phục tùng nhiệm vụ chống đế quốc. Nghị quyết Hội nghị vạch rõ: “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải được đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc; không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia, dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được[8].  Nghị quyết Hội nghị TƯ 8 – 1941 thực chất là sự trở lại với đường lối, quan điểm đã được Nguyễn Ái Quốc vạch ra trong Chính cương, Sách lược vắn tắt từ Hội nghị hợp nhất đầu năm 1930.

Sau Hội nghị, Nguyễn Ái Quốc viết thư kêu gọi: “Hỡi đồng bào! Hỡi các bậc phụ huynh! Hỡi các bậc hiền huynh chí sĩ! Hỡi các bậc phú hào yêu nước, thương nòi! Hỡi các bạn công, nông, binh, thanh niên, phụ nữ, công chức, tiểu thương! [9], nghĩa là nhằm vào mọi tầng lớp nhân dân, chứ không phải chỉ chú ý kêu gọi Hỡi công nông như Trần Phú ngày trước. Ta hiểu vì sao, sau năm 1945, Hồ Chí Minh đã thực tâm dùng Cựu hoàng Bảo Đại làm Cố vấn tối cao, đã mời các trí thức, quan lại trong chính quyền thực dân, phong kiến cũ, tham gia vào Chính phủ mới sau cách mạng; đã trả lại tự do cho Ngô Đình Diệm, cũng như sau này đã không loại trừ khả năng sẵn sàng đàm phán với ông ta để tìm ra một giải pháp cho công cuộc hòa bình, thống nhất đất nước…

Việc ông Nguyễn chủ động liên hệ với Tướng Claire Chennault-Tư lệnh không đoàn 14 của Mỹ mang tên “Cọp bay” đóng ở Côn Minh và với đơn vị OSS (Cơ quan phục vụ chiến lược Mỹ )- nhân vụ trao trả trung úy phi công Shaw cho họ – là một cơ hội để tuyên truyền, giới thiệu, nêu cao thanh thế của phong trào Việt Minh, nhằm tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của lực lượng Đồng minh – ít nhất là trên danh nghĩa – cho cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam. Việc ông lên đường đi Trùng Khánh năm 1942 để tìm gặp Tưởng Giới Thạch, cũng là nhằm tìm kiếm sự hợp tác chống kẻ thù chung của hai dân tộc Hoa-Việt là phát xit Nhật,…Tất cả những việc làm đó đều nằm trong chiến lược tranh thủ liên minh, hợp tác quốc tế rộng rãi của Hồ Chí Minh, nhất là trong điều kiện Quốc tế 3 đã tuyên bố tự giải tán.

Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập nhưng không được một quốc gia nào công nhận. Quá khứ cộng sản của Hồ Chí Minh đã làm các nước Đồng minh e ngại. Tình báo Xô viết thừa biết Hồ Chí Minh là ai, nhưng Kremlin vẫn giữ thái độ im lặng, thực tế như đã bị bỏ rơi. Lúc này, để vượt qua nguy cơ mất còn, Hồ Chí Minh đã khôn khéo thi hành một đối sách hòa hoãn cực kỳ mềm dẻo mà cũng phi thường dũng cảm, đó là:

Đối với Tầu Tưởng, ông tuyên bố Đảng CS Đông Dương tự giải tán, thực chất là rút vào hoạt động bí mật. Hai là, chấp nhận cải tổ Chính phủ, rút bớt các thành viên cộng sản ra ngoài, lui ngày Tổng tuyển cử, tạo điều kiện cho các đảng đối lập có thêm thời gian chuẩn bị tham gia; sau bầu cử, lại chấp nhận cho họ thêm 70 ghế đại biểu không qua bầu cử; trên cơ sở đó Quốc hội cử ra Chính phủ liên hiệp gồm 10 bộ, trong đó Việt Minh 2, Dân chủ 2, Việt quốc 2, Việt cách 2, không đảng phái 2 (vẻ như Việt Minh chỉ là thiểu số).

Đối với thực dân Pháp, Hồ Chí Minh biết rõ người Pháp chưa chịu từ bỏ chính sách tái thuộc địa hóa Đông Dương, họ đàm phán với Tưởng rồi ký Hiệp định Pháp-Hoa ngày 28-2-1946, bằng cách trả lại những tô giới thuộc Pháp trên đất Tàu, bán lại đường sắt Lào Cai-Vân Nam, cho phép Tưởng dùng cảng Hải Phòng để vận chuyển hàng hóa quá cảnh miễn thuế qua đường Việt Nam, …Đổi lại quân đội Pháp được phép đem quân ra miền Bắc thay thế quân Tưởng. Nhưng muốn đem quân ra Bắc êm thấm, không gặp đụng độ quân sự, Pháp buộc phải điều đình với Chính phủ  Hồ Chí Minh. Tình thế trên đây đặt ra câu hỏi: ta phải quyết đánh hay tạm hòa với Pháp?

Cân nhắc tương quan lực lượng, Cụ Hồ chọn giải pháp tạm hòa. Từ cuối tháng 2-1946, hai bên xúc tiến đàm phán. Điều khoản gay cấn nhất là ta đòi  Pháp phải thừa nhận quyền độc lập và thống nhất của Việt Nam; còn Pháp chỉ muốn công nhận Việt Nam là một quốc gia tự trị. Nếu Hiệp định Pháp- Việt chưa được ký kết thì quân Tưởng chưa thể rút đi, quân Pháp chưa được phép đổ bộ vào Hải Phòng, xung đột đổ máu giữa các bên sẽ vẫn tiếp tục nổ ra. Để tháo gỡ tình hình, Hồ Chí Minh đưa ra giải pháp nhân nhượng:

– Nước Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do (état libre, thay cho từ indépendance, độc lập) có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng, ở trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp. Chính phủ Pháp phải cam đoan thừa nhận kết quả của cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề thống nhất ba kỳ.

– Nước Việt Nam thuận để 15.000 quân Pháp được vào Bắc Việt Nam thay thế quân đội Trung Hoa và sẽ phải rút hết sau thời hạn 5 năm.

Đây là một giải pháp “Câu Tiễn”, nhờ đó, Hiệp định sơ bộ 6-3 đã được ký kết. Nhưng các đảng phái đối lập lại muốn phá, vì nếu đánh nhau, Việt Minh sẽ thua, họ sẽ được lợi, nên đã ra sức vu cáo Hồ Chí Minh là “bán nước”. Nhưng đại đa số dân chúng Việt Nam lại chấp nhận một thỏa hiệp tạm thời với Pháp cốt để đuổi được gần 20 vạn quân Tầu về nước, bởi chính họ mới là kẻ thù truyền kiếp của dân ta, đã mấy ngàn năm nay, chưa bao giờ họ từ bỏ dã tâm xâm lược và đồng hóa dân tộc ta. Vì vậy, ở thời điểm này, Hồ Chí Minh đã phải nói ra một câu – mà báo chí “lề phải” ở Việt Nam chưa bao giờ dám nhắc lại:“Thà chịu ngửi phân của người Pháp trong 5 năm còn hơn là phải ngửi phân của người Tầu trong hàng nghìn năm!”[10]. (Điều này chứng tỏ Hồ Chí Minh không mơ hồ gì về kẻ thù truyền kiếp của dân tộc).

Nếu Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 được Pháp nghiêm chỉnh thực hiện thì Việt Nam đã không phải tiến hành cuộc kháng chiến 9 năm gian khổ và chủ nghĩa thực dân Pháp đã không bị chôn vùi ở Điện Biên Phủ; Việt Nam sẽ ở trong Khối Liên hiệp Pháp (Union Français) và biết đâu, chắc gì Việt Nam đã buộc phải ngả theo CS Tàu sau năm 1949, trong khi Staline vẫn ngoảnh mặt làm ngơ? Là một nhà chính trị thực tiễn, Cụ Hồ đã nhận thấy mục tiêu cộng sản là điều còn rất xa vời, nên từng nhiều lần tuyên bố: “Tôi là người cộng sản, nhưng điều quan tâm lớn nhất của tôi là nền độc lập của Việt Nam. Tôi bảo đảm với các ngài rằng sau 50 năm nữa, chủ nghĩa cộng sản vẫn sẽ chưa được thực hiện ở Việt Nam !”[11].  

Do thái độ không thức thời của giới cầm quyền Pháp lúc đó, tiêu biểu  là De Gaulle, nên cơ hội này đã bị tuột mất. Hai mươi năm sau, chính De Gaulle đã có sự nhìn nhận muộn màng về trách nhiệm của ông ta trong chính sách của Pháp ở Đông Dương thời đoạn 1945-1946. Trong thư gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 8-2-1966, ông viết: “ Giá có một sự hiểu biết nhau tốt hơn giữa người Việt Nam và người Pháp ngay sau Đại chiến thế giới 2 thì đã có thể tránh được những sự biến tai ác đang giày xéo đất nước Ngài hôm nay[12].

Đối với Mỹ và phương Tây: Sự kiện Tổng thống F. Roosevelt tuyên bố sau chiến tranh kết thúc sẽ không trao trả các thuộc địa cũ ở Đông Dương cho Pháp, mà sẽ cho các nước này được hưởng chế độ “ủy trị” của Liên Hiệp quốc; rồi người Mỹ đã đi trước thực hiện trao trả độc lập cho Philippines ngay sau chiến tranh kết thúc,… Những sự kiện đó đã có sức hấp dẫn rất lớn đối với Hồ Chí Minh, nên thông qua mấy nhân vật quen biết trong nhóm OSS, Hồ Chí Minh đã tìm mọi cách tranh thủ sự ủng hộ của Mỹ đối với nền độc lập của Việt Nam .

Trong 2 năm 1945-1946, Hồ Chí Minh đã viết 8 bức thư gửi tới Tổng thống Harry Truman và 3 thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao James Byrnes, nhằm kêu gọi Mỹ, với tư cách một quốc gia bênh vực và bảo vệ Công lý thế giới, sẽ có những bước đi mạnh mẽ trong việc ủng hộ nền độc lập của Việt Nam; đồng thời bày tỏ nguyện vọng của Việt Nam muốn được hợp tác toàn diện với Mỹ, muốn được gửi 50 thanh niên Việt Nam sang Mỹ học tập, nhằm tiếp thu thành tựu kỹ thuật hiện đại của Mỹ. Ông cũng tuyên bố sẵn sàng để cho Mỹ đặt căn cứ hải quân tại Cam Ranh,…Chính Hồ Chí Minh đã sớm chủ động cho thành lập Hội hữu nghị Việt-Mỹ, và tham dự lễ ra mắt của Hội này tại Hà Nội, cùng với sự có mặt của tướng Mỹ Gallagher, v.v..

Đầu tháng 12-1946, Hồ Chí Minh đã tiếp Abbott Low Moffatt, giám đốc Vụ Đông Nam Á Bộ Ngoại giao Mỹ, được cử sang Đông Dương tìm hiểu tình hình. Sau buổi tiếp, Moffatt đưa ra nhận xét: “Hồ Chí Minh trước hết là một người yêu nước, nhiệt tình đấu tranh cho nền độc lập của Việt Nam, ông có thể được coi như là một Titô ở châu Á”[13].

Những ứng xử trên cho thấy Hồ Chí Minh là một nhà yêu nước thức thời, ôn hòa, giỏi ứng biến, chứ đâu phải là một người cộng sản cứng nhắc, cực đoan! Nếu những nỗ lực trên của Hồ Chí Minh được phía Mỹ tiếp nhận thì Việt Nam đã là một nước cộng hòa dân chủ không bị chia cắt, đã mở cửa, sớm phát triển nền kinh tế thị trường, Mỹ đã không phải đổ của, đổ người vào cuộc chiến tranh Việt Nam, rồi sa lầy tại đây trong khoảng hơn 20 năm! Tiếc thay, lịch sử lại không hề biết đến chữ “nếu”!

Bên cạnh đó, Cụ Hồ còn cử nhiều phái đoàn thân thiện của Việt Nam  đi thăm các nước khác: Phạm Văn Đồng  dẫn đầu Đoàn đại biếu Quốc hội Việt Nam đi thăm hữu nghị nước Pháp; cử Thứ trưởng Ngoại giao Nghiêm Kế Tổ (là đại biểu của Việt Nam Quốc dân đảng trong Chính phủ Liên hiệp) dẫn đầu Đoàn ngoại giao, trong đoàn có Cố vấn tối cao Vĩnh Thụy, sang Trùng Khánh để xin tiếp kiến Tưởng Giới Thạch; cử Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch-với tư cách đại diện đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh – sang Pháp gặp M. Thorez, sang Ý gặp Đại sứ Liên Xô Koulajenkôp, đến Ấn Độ gặp J. Nehru, để thông báo về tình hình Việt Nam và đề nghị giúp đỡ vật chất, tinh thần cho cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam. Tiếc rằng các hoạt động đó đều không đạt kết quả mong muốn.

  1. Hồ Chí Minh tái hòa nhập với Moscow và phe xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh nào?

Do đánh giá sai tình hình, Pháp muốn đánh nhanh, thắng nhanh  vào lúc lực lượng vũ trang của Việt Nam vừa thành lập, số lượng nhỏ, trang bị kém, khó có thể chống lại một quân đội nhà nghề được trang bị tối tân như quân đội Pháp, giỏi lắm cũng chỉ tồn tại được trong vài ba tuần lễ! Họ ra sức khiêu khích, gây ra những vụ tàn sát đẫm máu đối với đồng bào ta ở nhiều nơi, buộc ta phải chống lại. Chiến tranh đã nổ ra. Để bảo toàn lực lượng, ta phải bỏ thành phố, rút về nông thôn, lên miền núi, xây dựng căn cứ địa, thực hiện phương châm “kháng chiến trường kỳ”.

Thu-Đông 1947, ta bẻ gãy được cuộc tiến công 2 gọng kìm của Pháp lên chiến khu Việt Bắc, địch tổn thất nặng nề, nhưng xuýt nữa, quân nhảy dù của họ bắt được cơ quan đầu não của ta! Nếu họ đủ sức mở tiếp cuộc tiến công thứ 2, liên minh được với Tưởng, thực hiện dưới đánh lên, trên đánh xuống, thì cuộc kháng chiến của quân dân ta có nguy cơ bị dập tắt hoàn toàn! Bởi lấy gì mà chống lại, khi số vũ khí, đạn dược ít ỏi ta lấy được của Nhật, mua lại của Tầu, đã được dùng hết! Ta lại đang trong thế bị bao vây tứ bề, thoát ra bằng cách nào? Tình hình đó buộc Cụ Hồ phải tìm cách cầu hòa với Chính phủ Tưởng Giới Thạch, nếu không được giúp đỡ thì cũng phải trung lập hóa vai trò của họ. Một phái đoàn được cử sang Nam Kinh, với lễ vật hậu hĩnh, để thuyết phục Tưởng tuân theo tôn chỉ “phù nhược, ức cường” của Tôn Trung Sơn, ủng hộ các dân tộc nhược tiểu đang đấu tranh chống các cường quốc thực dân, giành lại độc lập dân tộc.

Chuyến đi chưa được giải mã, chỉ biết rằng sau đó tình hình quốc tế có những chuyển biến rất nhanh chóng: Giải phóng quân Trung Quốc “thần tốc Nam hạ”, buộc quân Tưởng phải bỏ chạy ra Đài Loan; tháng 10-1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, rồi nước CHDC Đức cũng ra đời, hình thành nên hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới từ Tây sang Đông.

Thắng lợi của cách mạng Trung Quốc khiến cho Mỹ lo ngại: nếu Pháp thất bại ở Đông Dương, dưới ảnh hưởng của Trung Quốc, một số nước Đông Nam Á có khả năng ngả theo con đường cộng sản hóa, Mỹ thấy đã đến lúc phải can thiệp vào Đông Dương. Một mình ta đánh nhau với Pháp đã khó, nay lại có thêm sự can thiệp của Mỹ, ta sẽ đối phó thế nào, phải hành xử ra sao?

Nhẫn nại, kiên trì hòa hoãn mãi với phương Tây mà không thành, để thoát khỏi nguy cơ xấu nhất, Hồ Chí Minh chỉ còn một con đường duy nhất: bắt mối quan hệ với Đảng CS Trung Quốc, thông qua họ để nối lại quan hệ với Kremli, tái hòa nhập phong trào cộng sản quốc tế.

Mao hưởng ứng ngay, vì phù hợp với ý đồ của họ: cần có một “phên dậu” ở phía Nam, giúp Trung Quốc tránh phải đụng độ trực tiếp với đế quốc – điều kiện cần để họ tập trung vào xây dựng và phát triển trong hòa bình.

Song việc thuyết phục Staline đồng tình lại không đơn giản. Thứ nhất, Việt Nam là một nước nhỏ, lại ở quá xa Liên Xô, chưa có vai trò gì trong chiến lược đối ngoại của Liên Xô lúc bấy giờ. Hai là, Việt Nam vốn là thuộc địa cũ của Pháp, mà Pháp hiện đang là đối tác chiến lược Liên Xô cần tranh thủ ở Tây Âu, hai nước đã ký với nhau Hiệp định hợp tác,bất tương xâm Pháp-Xô (1944-1964) hiện vẫn đang còn giá trị; đối với Staline, Việt Nam không quan trọng bằng Pháp. Ba là, bản thân Staline vốn từ trước đã không mấy tin tưởng vào Hồ Chí Minh; nay theo báo cáo của KGB thì Hồ Chí Minh có vẻ như đang muốn ve vãn phương Tây, nhất là qua hai bức thư của Trần Ngọc Danh (em trai Trần Phú) gửi Staline, phê phán Hồ Chí Minh đang đi theo con đường của chủ nghĩa dân tộc tư sản, từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, từ bỏ chủ nghĩa quốc tế vô sản và học thuyết đấu tranh giai cấp của Mác,…Vì vậy, ban đầu Staline đã từ chối không nhận tiếp Hồ Chí Minh. Sau nhờ sự kiên trì thuyết phục của Mao và Chu, Staline đồng ý tiếp, nhưng không công khai, mà tiếp trong phòng làm việc riêng của mình, với sự có mặt hạn chế của vài nhân vật lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Chính phủ Liên Xô.

Trong cuộc tiếp, Staline đã thẳng thắn phê bình Hồ Chí Minh ba điều: vấn đề tự ý giải tán Đảng, vấn đề thành phần Chính phủ (lắm nhân sĩ, trí thức, quan lại cũ, …ý nói không phải chính quyền công nông), việc không chịu tiến hành cải cách ruộng đất. Sau đó, yêu cầu Hồ Chí Minh  phải viết một bài tự phê bình về các vấn đề trên, để đăng trên tờ báo của Cục thông tin Quốc tế Cộng sản  (Kominform) “Vì một nền hòa bình lâu dài, vì một nền dân chủ nhân dân[14] . Còn vấn đề viện trợ cho cuộc kháng chiến của Việt Nam, Staline phân công cho Trung Quốc đảm nhiệm, vì ở ngay sát Việt Nam, đồng thời nhắc nhở Việt Nam phải ra sức học tập kinh nghiệm của Trung Quốc. Rõ ràng là Liên Xô không muốn công khai dính líu đến vấn đề Việt Nam ở thời điểm nhạy cảm này.

Dù chỉ được đón tiếp lạnh nhạt, chuyến đi của Hồ Chí Minh đến Liên Xô đã giúp Việt Nam thoát ra khỏi thế cô lập, tái hòa nhập với phong trào CSQT, mở ra hậu phương lớn, nhờ đó đưa cuộc kháng chiến của ta đi đến thắng lợi ở Điện Biên Phủ. Nhưng cũng từ đây sẽ phát sinh những hệ lụy phức tạp mà Hồ Chí Minh phải gánh chịu về sau này. Sự viện trợ về quân sự và kinh tế đi liền với những áp đặt về quan điểm chính trị, về cơ chế, tổ chức,…theo mô hình của Trung Quốc. Từ đây, Hồ Chí Minh rất khó có thể giữ được hoàn toàn độc lập, tự chủ như ở giai đoạn trước.

Mặc dù có sự thúc ép rất mạnh của Trung Quốc, Hồ Chí Minh vẫn nấn ná, trì hoãn trong thực hiện các chỉ thị của Staline. Phải sang đầu năm 1951, ông mới tiến hành Đại hội toàn quốc lần thứ II, đưa Đảng CS ra công khai, nhưng đổi tên thành Đảng Lao Động Việt Nam; năm 1953 mới phát động quần chúng thực hiện giảm tô, năm 1954 mới thí điểm cải cách ruộng đất ở một vài vùng trung du; sau hòa bình 1955-56 mới triển khai rộng rãi trên toàn miền Bắc. Đặc biệt, họ đòi ta phải cải tổ quân đội, đặt ra hệ thống chính ủy, ép ta phải thay thế những tướng tá, cán bộ chỉ huy các cấp có nguồn gốc xuất thân trí thức, tiểu tư sản bằng những cán bộ gốc gác công nông! (thực ra là muốn tạo ra một đội ngũ tướng tá mới để dễ bề thao túng hơn). Vị tướng phụ trách Tổng cục cán bộ đã trình lên Hồ Chí Minh một danh sách hàng trăm người phải thay thế, trong đó có cả Đại tướng Võ Nguyên Giáp! Song Cụ Hồ đã kiên quyết phản đối: “Gạt ra một lúc từng này người, lấy ai mà chỉ huy? Phải đốt ngay danh sách đó đi!”. Nhưng rồi có điều Cụ cũng phải nhượng bộ, chấp nhận đề bạt thêm một đại tướng xuất thân công nông, phụ trách chính trị để cân bằng với Võ Nguyên Giáp! (mà theo lý thuyết của Mao thì chính trị vẫn cao hơn quân sự).

Dưới sức ép của các cố vấn Trung Quốc, hàng loạt sai lầm tả khuynh đã diễn ra sau đó, đau đớn nhất là sai lầm trong cải cách ruộng đất; là không khí đấu tố căng thẳng trong chỉnh huấn, chỉnh quân, có người đã phát điên, có người phải tự vẫn! Nhiều văn nghệ sĩ, trí thức, xuất thân gia đình lớp trên, lo sợ, đã từ bỏ kháng chiến về thành. Sau Hiệp định Giơ-ne 1954, hàng chục vạn đồng bào đã bỏ quê hương di cư vào Nam. Cụ Hồ rất đau đớn trước nhưng tổn thất đó, Người đã phải khóc, nhận lỗi trước Quốc hội và thực tâm Cụ muốn điều chỉnh lại chính sách. Nhưng phía Trung Quốc đã có phản ứng tiêu cực. Chu Ân Lai từng phát biểu thẳng với ta (đại ý): Thắng lợi trong cải cách là cơ bản, còn oan sai-dù có lên tới ngàn vụ- nếu so với cải cách ruộng đất ở Trung Quốc liệu có thấm thá gì mà phải làm ầm ỹ đến như thế! Lưu Thiếu Kỳ thì đã phát biểu trong Hội nghị TƯ Đảng Cộng sản Trung Quốc ngày 25-03-1963 rằng: “Hồ Chí Minh xưa nay vẫn là tay hữu khuynh…Sau chiến cuộc 1954, ông ta vẫn còn chần chừ, không dứt khoát chọn chế độ tư bản hay xã hội chủ nghĩa. Chính chúng ta (tức ĐCS Trung Quốc) đã phải quyết định cho ông ta”[15]!.

          Một dân tộc nhược tiểu muốn đánh thắng một đế quốc hùng mạnh, không thể không tranh thủ liên minh, liên kết quốc tế, lợi dụng sức mạnh thời đại để chiến thắng kẻ thù, theo sách lược phù hợp với từng giai đoạn cụ thể. Mặc dù đã rất khôn khéo điều chỉnh và chấp nhận thỏa hiệp nhất định với thực tế cay nghiệt của hoàn cảnh nhằm đạt được mục tiêu cao cả nhất là độc lập, thống nhất cho dân tộc, song  Hồ Chí Minh đã không thể dự kiến hết được mọi diễn biến phức tạp về sau, nên đã phải gánh chịu những điều tiếng nặng nề, nhất là về sau này, khi “người đồng chí quốc tế vô sản” đã hiện nguyên hình là “kẻ thù xâm lược bành trướng Đại Hán”!

Nhưng không thể vì những éo le đó của lịch sử, mà đi đến quy kết những nhân nhượng của Cụ Hồ khi phải ký Hiệp định sơ bộ 6-3hữu khuynh; không thể coi việc từng bước phải chấp nhận những áp đặt đường lối của Mao sau 1950, là đã rơi vào “tả” khuynh; cũng như không thể cho là đã mắc sai lầm khi phải chấp nhận ký vào bản Hiệp định Genève 1954 mà kết quả của nó không phản ánh đúng tương quan lực lượng trên chiến trường, …Đơn giản vì xưa nay một nước nhỏ, trong thế phụ thuộc vào những nước lớn, khó có thể tự quyết định được số phận của mình. Đó là những ràng buộc khắc nghiệt của hoàn cảnh mà Hồ Chí Minh và Đảng CS Việt Nam đã không thể vượt qua. Chân lý “không gì quý hơn độc lập, tự do” được Cụ đúc kết từ những trải nghiệm qua nhiều mối quan hệ, trong đó có cả quan hệ với ông bạn “vàng” từng được coi “vừa là đồng chí, vừa là anh em”. Cảm quan về nỗi “cay đắng” này từ sớm đã được Cụ viết ra thành thơ:

                              Trên đời ngàn vạn điều cay đắng,
                              Cay đắng chi bằng mất tự do.
                              Mỗi việc, mỗi lời không tự chủ,
                              Để người ta dắt tựa trâu bò.
                             (“Nhật ký trong tù”)

  1. Vai trò và trách nhiệm của Hồ Chí Minh giai đoạn sau 1954.

          Chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu được coi là một trong những sự kiện lớn nhất của thế kỷ XX, nó đã đào mồ chôn chủ nghĩa thực dân Pháp đồng thời mở đầu cho sự sụp đổ không gì cứu vãn nổi của hệ thống thuộc địa trên phạm vi toàn thế giới, làm cho tên tuổi Việt Nam –Hồ Chí Minh được cả loài người biết đến và hết lòng khâm phục. Nhân loại đã nhất trí suy tôn Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà yêu nước vĩ đại của Việt Nam , đồng thời là chiến sĩ tiên phong của phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địa”! Có lẽ, đây là sự vinh danh cao cả nhất, đúng đắn nhất, xứng đáng nhất với Hồ Chí Minh – một người đã nửa thế kỷ không ngừng đấu tranh cho độc lập của dân tộc mình và cho sự nghiệp giải phóng các dân tộc bị áp bức. Một cuộc đời như thế, tuy chưa thật trọn vẹn, nhưng có thể nói là đã hoàn toàn xứng đáng đứng vào hàng các vĩ nhân của nhân loại trong thế kỷ XX.

          Nhưng khi đất nước chuyển sang thời kỳ hòa bình, xây dựng, thực hiện thống nhất nước nhà, vai trò của Hồ Chí Minh như thế nào, Cụ có những nhược điểm, hạn chế gì không?

          Như một tấm huân chương có mặt phải, mặt trái; con người cũng có mặt ưu, mặt nhược, mà như người ta thường nói: có khi nhược điểm lại là cái bóng nối dài của ưu điểm. Vĩ nhân cũng chỉ là một con người, mà con người nào chẳng bị giới hạn bởi đời sống trần thế. Hồ Chí Minh là một nhân vật lịch sử nên cũng chịu sự ràng buộc của điều kiện lịch sử. Ông là người Việt Nam nên cũng chung đúc cả tinh hoa lẫn nhược điểm của dân tộc Việt Nam. Từ buổi đầu dựng nước, dân tộc ta đã phải liên tục đứng lên chống giặc ngoại xâm, những nhân vật được nhân dân phong “thánh”, từ Thánh Gióng, Đức thánh Trần, đến Hồ Chí Minh,…đều là những anh hùng chống ngoại xâm. Trí tuệ dân tộc dồn tất cả cho sự nghiệp giữ nước, nên thành tựu dựng nước không mấy dồi dào, lịch sử nước ta thiếu những nhân vật “kinh bang, tế thế” lỗi lạc, mở ra cho dân tộc những thời kỳ phát triển rực rỡ về kinh tế, văn hóa, tư tưởng,… Do bị ngoại thuộc sớm ngay khi vừa lập quốc, trong hàng ngàn năm Bắc thuộc, ta chưa kịp sáng tạo ra chữ viết riêng, nên cũng không có triết học riêng, tôn giáo riêng,… nói chung là đều du nhập,vay mượn từ nước ngoài, mà ta cũng không tiếp thu cái gì cho thật hoàn chỉnh, sâu sắc, hệ thống để từ đó vượt lên, sáng tạo ra cái riêng, với tư cách là sản phẩm của Việt Nam.

          Vì vậy, các nhà nghiên cứu suy tôn Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng, nhà lý luận, hay nhà văn hóa,…kèm theo những tính từ rất cao, cũng chỉ là một cách bồi dưỡng niềm tự hào cho nhân dân mình, còn Hồ Chí Minh – với bản chất khiêm nhường – ngay từ lúc còn sống, Cụ đã khước từ mọi danh hiệu người đời gán cho. Ví như Cụ từng nói:  Nhà thơ gì tôi? Trong tù, đi ngang được ba bước, đi dọc được sáu bước, không biết làm gì thì làm thơ, thế thôi! Tôi chỉ là người có chút duyên nợ với báo chí, gọi tôi là nhà cách mạng chuyên nghiệp là đúng nhất.

          Để góp phần đánh giá khách quan về Hồ Chí Minh ở thời kỳ sau hòa bình, ta hãy thử xét qua một vài phương diện cơ bản:

A.  Về xử lý mối quan hệ giữa đức trị và pháp trị:

Hồ Chí Minh vốn là một môn đệ của Nho giáo, nên rất coi trọng đức trị, lấy đức làm gốc; bản thân suốt đời nêu gương cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư,…Trong kháng chiến, Cụ chưa có điều kiện chăm lo đến xây dựng nền pháp trị. Dù đã từng lập ra Bộ Tư pháp ngay từ năm 1945, song chịu sức ép của quan điểm mao-ít, lại giải thể nó đi trong hơn 10 năm,  nên đến lúc qua đời năm 1969, Cụ Hồ cũng chỉ mới thông qua được có 16 đạo luật, còn lại, toàn là sắc lệnh.

Song không phải Cụ coi nhẹ vai trò của pháp luật, khi cần nghiêm khắc, Cụ vẫn rất nghiêm khắc để giữ vững kỷ cương, phép nước, như đã từng ký lệnh xử tử hai cán bộ cao cấp (Đại tá Trần Dụ Châu và Thứ trưởng Trương Việt Hùng), điều mà những người kế tục ông sau này chưa ai theo được tấm gương ấy – mặc dù mức độ tham nhũng và sa đọa của những kẻ phạm pháp hiện nay còn lớn gấp trăm nghìn lần hơn so với hai nhân vật được nhắc đến ở trên.

 Không hình thành được ý thức và tập quán “sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật” trong cán bộ và nhân dân, có nguyên nhân sâu xa từ trong truyền thống “phép vua thua lệ làng” của xã hội phong kiến-tiểu nông ngày xưa (có lúc còn được ta đề cao như là biểu hiện của tinh thần phản kháng). Dù sao Cụ Hồ cũng phải chia sẻ một phần trách nhiệm trong vấn đề này, vì chưa nhận thức được nhược điểm cố hữu của dân tộc, để sớm xử lý đúng đắn mối quan hệ tương hỗ giữa pháp trị với đức trị.

Người ta thường nói: pháp luật là đạo đức tối thiểu, đạo đức là pháp luật tối đa. Trong môi trường làng xã nhỏ hẹp ngày xưa, các gia đình, dòng họ sống với nhau nhiều đời, hiểu biết về nhau rất kỹ, chỉ làm một việc xấu, dù nhỏ, cũng lan đi rất nhanh, cả làng đều biết. Sống ở làng, dư luận có vai trò điều tiết đạo đức rất lớn, nên ai cũng phải giữ gìn. Nhưng đi vào xã hội đô thị hiện đại, chỉ riêng đạo đức thôi không đủ, phải tăng cường vai trò của pháp luật, phải luật hóa những chuẩn mực đạo đức tối thiểu, buộc ai cũng phải tuân theo, để từ cưỡng chế trở thành thói quen tự giác của toàn xã hội.

Đạo đức cách mạng không phải là những chuẩn mực bình thường, mà là những yêu cầu đạo đức rất cao, không thể đạt được chỉ bằng kêu gọi và nêu gương, mà phải được quán triệt vào trong cơ cấu, thể chế, tổ chức, biến nó thành pháp luật,…buộc ai cũng phải thực hiện, nếu không muốn bị pháp luật trừng trị hay đào thải. Do những chuẩn mực đạo đức không sớm được thể chế hóa thành luật, nên bản thân tấm gương đạo đức của Cụ Hồ cao đẹp, hấp dẫn đến như thế mà vẫn không đủ sức ảnh hưởng, thấm sâu vào ngay các đồng chí, học trò gần gũi chung quanh mình, thì làm sao ảnh hưởng tới được đông đảo cán bộ và nhân dân bên dưới?

Ở phương Tây, người ta đâu có rao giảng nhiều về đạo đức, kể cả Mác, nhưng họ lại rất coi trọng xây dựng thể chế, tổ chức, pháp luật, khép con người vào quy củ, dùng cưỡng chế của pháp luật, biến đạo đức thành tập quán, thành nếp sống tự nhiên của toàn xã hội. Ai làm trái đều bị công luận lên án, pháp luật xử trí, từ đó mà dẫn đến sự hình thành văn hóa tự xử: Quan chức có sai lầm thì lập tức tự nguyện xin từ chức, thậm chí có người còn đi đến tự vẫn (do xấu hổ, không chịu nổi áp lực phê phán của xã hội). Một xã hội hình thành được những thể chế và tập quán như thế sẽ “làm cho những lời kêu gọi về đạo đức trở nên thừa”.

Ở ta hiện nay, tuy văn bản pháp luật không thiếu, nhưng đang bị vô hiệu hóa, người ta xét xử không nhân danh Công Lý, mà nhân danh Nhà nước, nên xét xử như thế nào đều ở trong sự dàn xếp giữa các “nhóm quyền lực”, Thần công lý chỉ còn là một anh hề, vì vậy chưa thể nói đến bao giờ ta mới có văn hóa tự xử!Các quan chức tham nhũng, tha hóa, đồi trụy vẫn cứ nhơn nhơn, đâu biết xấu hổ là gì mà phải tự vẫn! Trong bối cảnh ấy mà cứ kêu gọi “đẩy mạnh học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” một cách hình thức và nhàm chán, một khi “trái núi chỉ đẻ ra những con chuột” tham nhũng thì dễ biến thành một trò hề, hơn nữa còn là một sự nhạo báng đối với Cụ.

B. Về đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc:

Vào những năm 60 thế kỷ trước, tâm trí Cụ Hồ có phần dành nhiều hơn cho miền Nam và sự nghiệp thống nhất đất nước, song đây vốn là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng cả nước; có lẽ do thiếu cả lý luận lẫn thực tiễn, Đại hội III (1960) của Đảng vẫn chưa thể vạch ra được một chiến lược rõ ràng và đầy đủ cho một “tổng lộ tuyến” đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam .

Xây dựng chủ nghĩa xã hội có nội dung quan trọng hàng đầu là kinh tế, đây lại là mặt yếu của nhà chính trị Hồ Chí Minh. Theo đuổi mục tiêu cứu nước, Cụ Hồ chưa có điều kiện đi sâu tìm hiểu các học thuyết kinh tế của A. Smith, D. Ricardo, kể cả Tư bản luận của Marx, chưa nói gì đến các học thuyết kinh tế hiện đại. Nho giáo xưa vốn rất ít bàn về sản xuất và kinh tế. Vì vậy, chưa thể nói đến tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh  một cách đầy đủ và hệ thống, bản thân Cụ cũng chưa từng một lần nhắc đến khái niệm kinh tế thị trường.

Hồ Chí Minh sống đến 1969, khi đó Quốc tế xã hội chủ nghĩa, sau chiến tranh, đã phục hồi và phát triển, tới Đại hội thứ 23, đã có 170 tổ chức thành viên từ 126 nước tới dự, trong đó có 29 đảng đang cầm quyền, 23 đảng tham gia liên minh cầm quyền. Chủ nghĩa xã hội dân chủ kiểu Bắc Âu ngay từ sinh thời Cụ đã có những thành tựu được cả thế giới biết đến. Hồ Chí Minh  do bị chi phối bởi tư tưởng đối đầu thời kỳ chiến tranh lạnh, chưa có điều kiện tìm hiểu, nên chưa biết đến những thành tựu này của chủ nghĩa xã hội dân chủ.

Tuy sinh thời, Hồ Chí Minh từng nói: Việt Nam chúng ta không giống với Liên Xô và Trung Quốc, ta cần thiết phải tìm ra con đường khác để đi lên chủ nghĩa xã hội. Song đây chỉ có ý nhấn mạnh là phải biết xuất phát từ đặc điểm riêng của mỗi nước, chưa phải do đã nhận thức được những nhược điểm, sai lầm, khuyết tật trong mô hình chủ nghĩa xã hội cực quyền của Staline – cái mà ngày nay chúng ta gọi là “những lỗi của hệ thống”! Vì vậy, trong các phát biểu, cả trong Di chúc, chưa thấy Cụ Hồ có cảnh báo nào phải đề phòng, để tránh không mắc vào những khuyết tật ấy. (Di chúc có nói đến “phải chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”, nhưng chưa đề cập tới hai chữ “đổi mới” với hàm nghĩa như là phải cải tổ).

Nhận thức về vai trò và sức mạnh của khoa học và công nghệ:

Nếu so sánh có thể thấy: sinh thời Marx còn chưa biết đến đèn điện, thời Engels chưa có máy bay, thời Lênin đã có điện ảnh, vô tuyến điện, nhưng chưa có vô tuyến truyền hình,… sinh thời Hồ Chí Minh đã được chứng kiến những thành tựu khoa học-công nghệ  làm thay đổi thời đại: sức mạnh năng lượng nguyên tử, máy điện toán, công nghệ thông tin, công nghệ biến đổi gien, con người đã bay vào vũ trụ,… Tuy nhiên, Hồ Chí Minh còn ít nói về vai trò và sức mạnh của khoa học-công nghệ, có nói, nhưng chưa đủ, chưa đến độ, nhất là chưa ráo riết trong  tổ chức, đào tạo, nghiên cứu, vận dụng, phát triển khoa học-công nghệ , để nhanh chóng đưa nước ta thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu.

Có thể đổ tại hoàn cảnh chiến tranh, đất nước bị chia cắt,…nhưng nếu so với Bắc Triều Tiên cùng hoàn cảnh như ta, mà từ lâu họ đã chế tạo được vũ khí hạt nhân, tên lửa đạn đạo, đã có nền công nghiệp quốc phòng hiện đại, khiến cho các cường quốc láng giềng phải vì nể. Trong khi đó, đến nay ta vẫn chưa có một nền công nghiệp cơ khí chế tạo đủ sức tự sản xuất hoàn chỉnh một chiếc ôtô, một cái máy chuyên dùng cho công nghiệp hay nông nghiệp,… thế mà cứ “hồn nhiên, vô tư” nói rằng đến năm 2020 (tức là chỉ 5 năm nữa) nước ta sẽ trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại!

Hiện nay, ta đã có hai viện hàn lâm khoa học nhưng lại không có những “viện sĩ” đúng nghĩa; có nhiều giáo sư, tiến sĩ nhưng lại không có phát minh, sáng chế được quốc tế biết đến và công nhận,…Đó không phải là lỗi của cá nhân mà thuộc lỗi của đường lối, của tầm nhìn lãnh đạo, chưa vạch ra được một chiến lược quốc gia về phát triển khoa học-công nghệ  với những định hướng mục tiêu cơ bản cần đạt trong các kế hoạch trung hạn và dài hạn.        

Con người Việt Nam vốn thông minh, năng động, khéo tay nhưng cũng mang những hạn chế của một cư dân nông nghiệp sản xuất nhỏ (giỏi bắt chước nhưng kém độc lập, sáng tạo) lại cộng thêm di chứng của Nho giáo, trọng danh hơn trọng thực, nên mới có tình trạng thừa thầy mà thiếu thợ, thừa quan chức mà thiếu chuyên gia, như Cụ Hồ nói: thừa người đi tuyên truyền mà thiếu người giỏi quản trị hành chính; sính làm thơ, sáng tác “văn chương” hơn là say mê, tìm tòi, phát minh khoa học-kỹ thuật,…(Vì vậy, đã có người phải loa lên rằng “Toàn dân yêu thơ, sơn hà nguy biến!). Trong hoàn cảnh đó, những anh “Hai Lúa” chế ra được máy bay trực thăng, tàu ngầm mini, cải tiến xe bọc thép,…đáng phong anh hùng lao động sáng tạo, lại không được Nhà nước tuyên truyền, đề cao, nên ta mới chỉ có loại anh hùng “sao văn tế”!

Khoa học-công nghệ của ta muốn phát triển, giáo dục-đào tạo phải khắc phục được những nhược điểm cố hữu nói trên của con người Việt Nam, nhất là Nhà nước phải tháo gỡ những vướng mắc trong cơ chế, chính sách đang là rào cản sự phát triển của khoa học-công nghệ hiện nay:

– một là, lựa chọn, cắt cử người lãnh đạo khoa học-công nghệ phải là những nhà khoa học tâm huyết, có thực tài, có khát vọng sáng tạo, tìm tòi cái mới và truyền được khát vọng đó cho đồng nghiệp và học trò (như thế hệ các giáo sư Trần Đại Nghĩa, Tạ Quang Bửu,… thời Cụ Hồ ngày xưa). Muốn thế, phải biết quý, biết trọng những người có bộ óc lỗi lạc, có tầm vóc khoa học, chứ không phải coi họ như những “sai nha” quen xun xoe, nịnh hót quanh mình.

– hai là, phải hình thành đồng bộ một đội ngũ các nhà khoa học đầu ngành có trí tuệ, có sức sáng tạo mạnh, có công trình nghiên cứu được thế giới biết đến, có quan hệ rộng rãi với các nhà khoa học nước ngoài, có khả năng đào tạo được các nhà khoa học trẻ, đảm bảo tính kế thừa và phát triển tiếp nối ở mỗi chuyên ngành nghiên cứu. Đáng tiếc, ở ta hiện nay đang có sự đứt gãy, hụt hẫng giữa các thế hệ, lớp sau không kế thừa được lớp trước.

– ba là, phải làm trong sạch môi trường học thuật đang bị ô nhiễm nặng: các chuẩn mực khoa học không được triệt để tôn trọng; nạn “học giả, bằng thật”, nạn mua bằng, bán điểm; nạn lũng đoạn, tham nhũng đáng xấu hổ trong  việc giành giật các chương trình, đề tài nghiên cứu, …Muốn thế, phải trả lương cho các nhà khoa học đủ sống để họ có thể theo đuổi lý tưởng sáng tạo khoa học, biết đứng cao hơn mọi cám dỗ vật chất, danh vị, tiền tài; phải tiến tới xóa bỏ “nền khoa học bao cấp”, bỏ “cơ chế xin cho” trong nghiên cứu khoa học!

Không coi trọng chỉ đạo và đầu tư tương xứng cho khoa học-công nghệ, tức là không quán triệt trong thực tế quan điểm coi cách mạng khoa học-công nghệ là then chốt, đó là lỗi của Đảng và Nhà nước, trong đó có phần nào trách nhiệm của người đặt nền móng, là Cụ Hồ.    

*

  Lịch sử dân tộc ta đã ghi lại không ít tên tuổi sáng chói của những anh hùng cứu nước, chống ngoại xâm, như hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung,…GS Hoàng Xuân Hãn, trong một thư gửi Đại tướng Võ Nguyên Giáp, có đoạn viết: tuy nước ta có nhiều cuộcchiến thắng ngoại xâm, nhưng “chỉ có hai cuộc giải phóng mà thôi: thời 1416-1427 với Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi và thời 1945-1975 với Bác Hồ cùng các Anh” [16] . Ý GS Hãn muốn nói: cần phân biệt giữa chiến thắng chống  ngoại xâm với sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước, một bên có sẵn một hệ thống nhà nước với quân đội hùng hậu được trang bị và tổ chức chặt chẽ, được nhân dân cả nước sẵn sàng góp người, góp của để bảo vệ Tổ quốc; với bên kia là cuộc đấu tranh giải phóng đất nước (đang bị ngoại bang thống trị với hệ thống cảnh sát, máy chém, nhà tù), phải khởi sự từ hai bàn tay trắng, phải bí mật nhen nhóm, thức tỉnh lòng yêu nước và căm thù của nhân dân, phải rất giỏi tổ chức quần chúng, từ nhen từng đốm lửa nhỏ  đến đốt cháy cả đồng cỏ rộng…Muốn thế, người lãnh tụ phải có đạo đức rất cao mới hấp dẫn được quần chúng đi theo mình; lại phải rất trí tuệ, rất tài năng trong phân tích tình hình, khéo liên minh, liên kết, biết thêm bạn, bớt thù, giỏi nắm bắt thời cơ, chớp thời cơ để giành lấy thắng lợi cuối cùng.

  Nếu kể từ ngày Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước, đến 1941 trở về gây dựng và làm cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, rồi lãnh đạo cuộc kháng chiến 9 năm, kết thúc vẻ vang với Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 1954, là gần trọn 45 năm! Đó là một sự nghiệp vô cùng gian nan, cực khổ nhưng cũng vô cùng vinh quang.Vào nửa đầu thế kỷ XX, ở Việt Nam không một nhân vật lịch sử nào có thể so sánh với tầm vóc của Cụ được!

  Lịch sử rất công minh trong phán xét ai là kẻ có tội, ai là người có công. Chúng ta vững tin rằng năm tháng qua đi, hận thù được xóa bỏ, dân tộc hòa hợp lại, lịch sử sẽ đánh giá đúng công lao, sự nghiệp của Hồ Chí Minh: “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà yêu nước vĩ đại, chiến sĩ tiên phong của phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địa trong thế kỷ XX”./. 

                                                                       Tháng 5-2015

Chú thích:                                                                 

[1] Thư Enghels gửi Karl Kautsky ở Viên. Xem Mác-Ănghen Tuyển tập, t. V, nxb Sự Thật, Hà Nọi, 1983, tr. 684-85

[2] Dẫn lại theo A. Schenalder, trong sách Chủ thuyết của chúng ta, ấn hành tại CHDC Đức 1981, tr. 83.

[3] Xem Trần Dân Tiên giả, Hồ Chí Minh truyện, Trương Niệm Thức dịch, Bát nguyệt xuất bản xã ấn hành 6-1949, bản Trung văn, tr. 90.

[4] Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 4, tr. 367.

[5] Xem Hồ Chí Minh truyện, sđd, tr. 90.

[6] Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ, Hồ Chí Minh Toàn tập, xb lần thứ 2, t. 1, tr. 464-466.

[7] Bài nói chuyện của ông về cuốn sách mới có tựa đề “Việt Nam Exposé and New biography of Hồ Chí Minh “, tại Toronto, Canada, ngày 29-10-2003. Dẫn lại theo bản tin BBC, Ban Việt ngữ.

[8] Văn kiện Đảng Toàn tập, t. 7 (1940-1945), Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, năm 2000, tr. 113.

[9] Hồ Chí Minh Toàn tập, t. 3, tr. 198.

[10] Dẫn lại theo P. Messmer, trong cuốn Les blans s’en vont, Albin Michel, 1998, p. 35. Nguyên văn tiếng Pháp: “Plutôt flairer la crotte des Français pendant cinq ans, que flairer celle des Chinois pendant mille ans”!.

[11] Ý này Hồ Chí Minh nói 2 lần, lần đầu với Trương Phát Khuê tại Liễu Châu 1944, lần 2  với các ký giả Pháp tại Paris 1946. TBT Nguyễn Phú Trọng nay còn có tầm nhìn xa hơn: “Chưa biết đến cuối thế kỷ này (21), chúng ta đã có chủ nghĩa xã hội đích thực hay chưa!”.

[12] Dẫn theo Ngoại giao Việt Nam 1945-2000, Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 2002, tr. 91.

[13] Dẫn lại theo Tucker, Spencer ed., The Encyclopedia of the Vietnam War, NY, Oxford University Press, 2000, p. 422.

[14] Xem bài Thư từ Việt Nam, ký tên LIN, trong Hồ Chí Minh Toàn tập, t. 7, tr. 100.

[15] Trich tham luận của Yang Kuisong “Mao Zedong and  the War in Indochina” (Mao Trạch Đông  và chiến tranh Đông Dương), đọc tại Hội tháo Khoa học tại Hong Kong ngày 11,12 tháng 1 năm 2000. Dẫn lại theo P. Brocheux, trong cuôn tiểu sử của ông về Hồ Chí Minh , Nxb Biographie Payot, Paris, 2003, p. 245.

[16] Thư của GS Hoàng Xuân Hãn gửi Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ngày 2 tháng  1 năm Bính Tý 1996.

 

Nguồn bài đăng 

http://nghiencuulichsu.com/2015/05/19/chung-quanh-van-de-nhan-thuc-va-danh-gia-ho-chi-minh-hien-nay/


Chủ tịch Hồ Chí Minh

NGUYỄN TRỌNG TẠO: Câu chuyện “giai thoại dòng họ cụ Hồ” này tôi đã nghe Giáo sư Trần Quốc Vượng nói hồi tôi làm học trò của ông, và cũng nghe nói một lần đến Mỹ ông đã kể chuyện này nên bị “đì” một thời gian. Nhà văn Sơn Tùng viết nhiều sách về cụ Hồ cũng nói chuyện này, nhưng cũng chỉ là nói chuyện hoặc viết thành bài rồi lưu truyền. Ở nước ngoài, người ta in chuyện này vào sách cũng đã lâu. Nhưng ở Việt Nam thì chuyện này chỉ lưu truyền không chính thức. Gần đây, lần đầu tiên tôi thấy một Website của Nhà nước công bố chuyện này, đó là Website của huyện Nam Đàn quê cụ Hồ: http://www.namdan.gov.vn/ . Đó là câu chuyện cụ Hồ mang họ Hồ (Quỳnh Đôi) chứ không phải họ Nguyễn Sinh (Kim Liên). Vì thế mới có chuyện ông Nguyễn Sinh Hùng (hồi còn làm Bộ trưởng Tài chính) và ông Hồ Xuân Hùng (hồi còn làm Chủ tịch Nghệ An) đã “bí mật” đưa mộ bà nội của cụ Hồ là bà Hà Thị Hy lên núi Động Tranh trên dãy Đại Huệ gần Lăng mộ mẹ cụ Hồ là bà Hoàng Thị Loan. Tôi nghe Hồ Xuân Hùng kể chuyện xây mộ bà Hà Thị Hy, và khi cùng đến thắp hương cho bà, Hồ Xuân Hùng đã nói với Nguyễn Sinh Hùng: “Tôi mới là cháu thật của Bác Hồ”…

Nay thì trong Gia phả họ Hồ, đã thấy ghi tên Chủ tịch Hồ Chí Minh.

NHỮNG GIAI THOẠI VỀ HỒ CHÍ MINH

TRẦN QUỐC VƯỢNG

“… câu chuyện tôi sắp kể dưới đây thì chưa từng ai viết. Chỉ là lời truyền miệng dân gian… phạm vi lan truyền và số người biết câu chuyện này phải nói là hạn hẹp. Vì người ta SỢ.

… Đến đây tôi sẽ khép (lại) bài kể lể đã khá dài dòng của mình bằng câu chuyện một người tuy có tên tưổi nhưng không lấy gì làm nổi tiếng lắm, hay đúng hơn cả là đã trở nên có tên tuổi nhờ gắn bó máu thịt với một người có tên tuổi (nhưng từ đầu đến cuối câu chuyện của tôi đều nói về các nhà Nho, các vị thái học sinh, tiến sĩ, bảng nhãn hay là phó bảng cả).

Đó là câu chuyện về cụ thân sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc hay Nguyễn Sinh Huy.

Phó bảng là một học vị dưới tiến sĩ, chĩ mới xuất hiện ở Việt Nam từ đời vua Minh Mạng nhà Nguyễn (1830-31).

Trong một lá đơn bằng tiếng Pháp gởi Bộ Thuộc địa Pháp, Nguyễn Tất Thành (sau là Hồ Chí Minh) đã khéo dịch tên học vị của phụ thân mình là sous docteur [1] như ngày nay ta gọi là phó tiến sĩ.

Quê hương cụ, là làng Kim Liên, tên Nôm là làng Sen huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An. Nhưng đậu phó bảng rồi cụ đã làm Thừa biện Bộ Lễ ở Huế rồi Tri huyện Bình Khê (Bình Định). Rồi bỏ quan (hay bị mất chức quan), cụ phiêu dạt về Sài Gòn, ngồi bắt mạch kê đơn ở tiệm thuốc bắc Hoa kiều, để có chút cơm rượu… Lại phiêu lãng nữa, tới miền Tây Nam bộ, và cuối cùng mất ở Cao Lãnh (Sa Đéc, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Mộ cụ phó bảng được xây lại cuối năm 1954 sau sự kiện Genève tạm thời chia đôi đất nước Việt Nam.

Người ta làm như thế vì cụ Hồ. Cũng như mộ bà Hoàng Thị Loan vợ cụ phó bảng và là thân mẫu Hồ Chí Minh mới được dời xây lại vài năm nay ở Nam Đàn, Nghệ An. Người ta làm thế cũng vì cụ Hồ. Hai ngôi mộ này, cũng như bản thân Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh giữa lòng Ba Đình, Hà Nội, đều hiện hữu ngoài ý thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông Hồ vốn được xem là người giản dị, khiêm nhường…

Cũng đã có dăm cuốn sách nói về gia thế cụ Hồ Chí Minh, nhưng câu chuyện tôi sắp kể dưới đây thì chưa từng ai viết.

Chỉ là lời truyền miệng dân gian, ở Kim Liên, Nam Đàn, ở một số người gốc Nghệ hiện sống tại Hà Nội và nhiều nơi khác trên mảnh đất Việt Nam. Nếu trong Folklore, có hiện tượng mà các nhà nghiên cứu gọi là lan truyền thì từ lâu câu chuyện này cũng đã lan truyền từ làng Kim Liên ra khắp huyện Nam Đàn rồi khắp tỉnh Nghệ Anh rồi rộng ra hơn nữa … Nhưng phạm vi lan truyền và số người biết câu chuyện này phải nói là hạn hẹp. Vì người ta SỢ.

Sợ động chạm đến cụ Hồ. Một cái sợ vô nghĩa nhưng người ta cứ gán cho nó cái ý nghĩa chính trị giả tạo. Vì như bà Trịnh Khắc Niệm viết trong cuốn truyện bằng tiếng Anh Life and Death in Shanghai, [2] đã được dịch ra tiếng Việt: Ở xã hội xã hội chủ nghĩa, cuộc đời của các lãnh tụ cộng sản được coi là “bí mật quốc gia”.

Nhưng đây không phải là chuyện cụ Hồ, tuy cũng có dính dáng đến cụ Hồ. Mà vì đây là chuyện cụ thân sinh ra cụ Hồ, cụ Nguyễn Sinh Huy, mà cũng là chuyện truyền miệng thôi, nghĩa là thuộc phạm trù giai thoại, Folklore, chứ không thuộc phạm trù lịch sử, như tôi đã nói từ đầu bài này.

Người dân Kim Liên đồn rằng Nguyễn Sinh Huy không phải là thuộc dòng máu mủ của dòng họ Nguyễn Sinh làng này. Mà là con của một người khác: ông đồ nho, cử nhân Hồ Sĩ Tạo.

Cử nhân Hồ Sĩ Tạo thuộc dòng họ Hồ nổi tiếng ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An (đây là quê gốc của Hồ Quý Ly, nhân vật lịch sử cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, đây cũng là quê gốc của anh em Tây Sơn thế kỷ XVIII, vốn họ Hồ ở xứ Nghệ, đây cũng là quê hương Hoàng Văn Hoan, người đồng chí thân cận một thời của cụ Hồ Chí Minh, được cụ Hồ giao phụ trách công tác đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thời kháng chiến chống Pháp và là Đại sứ Việt Nam đầu tiên ở Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, hiện sống lưu vong ở Trung Hoa, có viết một tài liệu về lịch sử làng Quỳnh Đôi, quê ông. Bà vợ nhà văn lớn Đặng Thai Mai, người một thời làm Bộ trưởng Giáo dục trong chính phủ của cụ Hồ 45-46 rồi làm Viện trưởng Viện trưởng Viện Văn học, là Hồ Thị Loan, cũng thuộc dòng họ Hồ này ở làng Quỳnh Đôi). Khoảng đầu những năm 60 của thế kỷ trước (thế kỷ XIX) cử nhân Hồ Sĩ Tạo có thời gian ngồi dạy học ở một nhà họ Hà, người làng Sài, cùng một xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, với làng Sen (Kim Liên). Đó là một nhà nghệ nhân dân gian, trong nhà có “phường hát ả đào”.

Nhà họ Hà có cô con gái tên là Hà Thị Hy, tài hoa, nhan sắc, đàn ngọt, hát hay, múa khéo, đặc biệt là múa đèn (đội đèn trên đầu, để đèn trên hai cánh tay, vừa hát vừa múa mà dầu trong đĩa không sánh ra ngoài) nên người làng thường gọi là cô Đèn. Người ta thường bảo: má hồng thì mệnh bạc. Như Đặng Trần Côn viết mở đầu khúc ngâm chinh phụ: “Hồng nhan đa truân” (Gái má hồng nhiều nỗi truân chuyên). Hay như Nguyễn Du than thở giùm người đẹp tài hoa trong truyện Kiều: “Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”, “Rằng hồng nhan tự thuở xưa, Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu”).

Và ở thời ấy, dưới chế độ quân chủ nho giáo, lấy tứ dân (Sĩ, Nông, Công, Thương) làm gốc, người ta vẫn xem thường nghề ca xướng và con nhà ca xướng (“xướng ca vô loài”).

Cô Đèn, Hà Thị Hy tài hoa nhan sắc là thế mà rồi ba mươi tuổi vẫn chưa lấy được chồng. Mà trong nhà thì lại luôn có bậc văn nhân: ông cử Hồ Sĩ Tạo. “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén” là lẽ thường theo tâm lý dân gian, huống chi là giữa văn nhân – tài tử – giai nhân. “Trai tài ggái sắc” mà! Và cô Hà Thị Hy bỗng dưng “không chồng mà chửa”. Mà ông cử Tạo thì đã có vợ, có con rồi! Lệ làng ngày trước phạt vạ rất nặng nề, sỉ nhục hạng gái “chửa hoang”, hạng “gian phu dâm phụ”. Để tránh nỗi nhục cho con gái mình và cho cả ông cử Tạo đang làm “thầy đồ” được hết sức kính trọng trong nhà mình, họ Hà phải bù đầu suy tính…

Lúc bấy giờ ở làng Sen cùng xã có ông Nguyễn Sinh Nhậm, dân cày, tuổi cao mà góa vợ (bà vợ trước đã có một con trai là Nguyễn Sinh Thuyết, và người con trai này cũng đã có vợ).

Nhà họ Hà bèn cho gọi ông Nguyễn Sinh Nhậm đến điều đình, “cho không” cô Hy làm vợ kế ông này, như một người con gái xướng ca, quá lứa, lỡ thì, lấy ông già góa vợ, mong ém nhém việc cô gái đã “to bụng”.

Công việc rồi cũng xong. Cô Hy ôm bụng về nhà chồng, có cưới có cheo cẩn thận. Việc phạt vạ của làng không thể xảy ra. Nhưng cô gái tài hoa nhan sắc thì bao đêm khóc thầm vì bẽ bàng, hờn duyên tủi phận. Và ông lão nông dốt nát tuy được không cô gái đẹp nhưng cũng buồn vì đâu có đẹp đôi, lại cắn răng chịu đựng cái tiếng ăn “của thừa”, “người ăn ốc (ông cử Tạo), kẻ đổ vỏ (cụ lão nông Nhậm)”. “Miệng tiếng thế gian xì xầm”, ai mà bịt miệng nổi dân làng. Mà trước hết là lời “nói ra, nói vào”, lời chì chiết của nàng dâu vợ anh Thuyết, vốn nổi tiếng ngoa ngoắt, lắm điều. Ông Nhậm đành cho con trai và vợ anh ta ra ở riêng, và mình ở riêng với bà vợ kế.

Chỉ ít tháng sau, bà vợ kế này đã sinh nở một mụn con trai, được ông đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc, lấy họ ông mặc dù ông biết rõ hơn ai hết đó không phải là con ông, con nhà họ Nguyễn Sinh này. Nàng dâu ông càng “tiếng bấc, tiếng chì” hơn trước, vì ngoài việc bố chồng “rước của tội, của nợ”, “lấy đĩ làm vợ” thì nay còn nỗi lo”: Người con trai này – được ông nhận làm con, lớn lên sẽ được quyền chia xẻ cái gia tài vốn cũng chẳng nhiều nhặn gì của một gia đình nông phu thôn dã. Việc ấy xảy ra vào năm Quý Hợi, đời vua Tự Đức thứ 16 (1863).

Vì trọng tuổi, lại vì lo phiền, vài năm sau cụ Nhậm qua đời và cũng chỉ ít lâu sau đó, bà Hy cũng mất. Nguyễn Sinh Sắc trở thành đứa trẻ mồ côi. Lên bốn, về ở với người anh gọi là “cùng cha khác mẹ” mà thật ra là “khác cả cha lẫn mẹ”, cùng với bà chị dâu ngoa ngoắt, khó tính, lúc nào cũng chỉ muốn tống cổ cái thằng “em hờ” của chồng này đi cho “rảnh nợ”.

Không cần nói, ta cũng hiểu Nguyễn Sinh Sắc khổ tâm về tinh thần, khổ cực về vật chất như thế nào trong cái cảnh nhà Nguyễn Sinh như vậy. Ta cảm thấy vô cùng thương xót một đứa trẻ mồ côi sớm chịu cảnh ngang trái của cuộc đời. Bên ngoại thì ông bà đều đã mất, họ Hà chẳng còn ai chịu cưu mang đứa trẻ có số kiếp hẩm hiu này.

May có ông tú đồ nho Hoàng Xuân Đường, người làng Chùa (Hoàng Trù) gần đó, xót thương đứa trẻ, dù sao cũng là hòn máu rơi của một nhà nho khác, lại có vẻ sáng dạ, nên đã đón về làm con nuôi, cho ăn học. Và đến khi Nguyễn Sinh Sắc 18 tuổi, ông bà đồ họ Hoàng lại gả cho cô con gái đầu lòng, Hoàng Thị Loan, mới 13 tuổi đầu, cho làm vợ, lại làm cho căn nhà tranh ba gian ở ngay làng Chùa, để vợ chồng Nguyễn Sinh Sắc ăn ở riêng.

Ta dễ hiểu vì sao Nguyễn Sinh Sắc gắn bó với họ hàng làng quê bên vợ, làng Chùa, hơn là với làng Sơn “quê nội”, quê cha “hờ”. Con cái ông, từ người con gái đầu Nguyễn Thị Thanh, qua người con trai đầu Nguyễn Sinh Khiêm (tục gọi là ông cả Đạt) đến người con trai thứ Nguyễn Sinh Côn (hay Nguyễn Tất Thành, sau này là Nguyễn Ái Quốc rồi Hồ Chí Minh) đều được sinh ra và bước đầu lớn lên ở làng Chùa bên quê mẹ hay là quê ngoại. Khi cụ Tú Hoàng (Hoàng Xuân Đường) mất, vợ chồng con cái Nguyễn Sinh Sắc lại về ăn ở chung với bà đồ Hoàng. Các cháu đều quấn quít quanh bà ngoại.

Qua giỗ đầu cụ Tú Hoàng, Nguyễn Sinh Sắc đi thi Hương khoa Giáp Ngọ và đậu cử nhân (1894). Ông được nhận ruộng “học điền”, ruộng công của làng Chùa chia cho những người có học (nhằm khuyến khích việc học) để học thêm – chứ không phải nhận ruộng học của làng Sen. Khoa thi Hội Ất Mùi (1895), ông thi trượt.

Nhờ sự vận động gửi gấm của ông Hồ Sĩ Tạo, người cha thực của Nguyễn Sinh Sắc, với các quan lại đồng liêu quen biết ở triều đình Huế, Nguyễn Sinh Sắc được coi như ấm sinh, để được nhận vào học Quốc Tử Giám ở kinh đô. (Ai cũng biết: để được nhận vào học Quốc Tử Giám và làm giám sinh phải là con cháu của những gia đình có thế lực, gọi là “danh gia tử đệ”. Nếu không có sự can thiệp của ông Hồ Sĩ Tạo là bậc khoa bảng cao quan thì làm sao Nguyễn Sinh Sắc được nhận? Thế là dù sao Hồ Sĩ Tạo vẫn còn có một “cử chỉ đẹp” với đứa con mà mình không dám nhận). Nguyễn Sinh Sắc, đổi tên là Nguyễn Sinh Huy, đem vợ và hai con trai vào Huế và đi học Quốc Tử Giám. Khoa thi Hội Mậu Tuất (1898), ông lại trượt.

Ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tý (10-2-1901) bà Hoàng Thị Loan ốm mất ở kinh đô Huế, sau khi sinh đứa con trai út (đứa con trai này ít ngày sau cũng chết). Nguyễn Sinh Côn (Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh ngày sau) trở thành con trai út.

Nguyễn Sinh Huy đem hai con trai về làng Chùa gửi mẹ vợ nuôi nấng chăm sóc giùm rồi trở vào Kinh thi Hội. Khoa Tân Sửu (1901) này, ông đậu phó bảng và được “vinh quy bái tổ” về làng. Theo thể thức triều đình, lễ vinh quy này phải diễn ra ở quê nội, dù là quê nội danh nghĩa, tức là làng Sen – Kim Liên. Hội đồng hương lý và dân xã đã dựng nhà tranh năm gian (chứ không phải nhà ngói) trên một khoảnh đất vườn làng Sen, để đón quan phó bảng tân khoa Nguyễn Sinh Huy về làng.

Thế là buộc lòng ông phải về “quê nội”. Ông cũng đón hai con trai về ở cùng ông. Lần đầu tiên Nguyễn Sinh Côn (Hồ Chí Minh ngày sau) về ở quê nội nhưng thân ông, lòng ông vẫn hướng về quê ngoại là cái gì “đích thực” và gắn bó với tuổi thơ ông. Ông phó bảng có đến thăm cụ Hồ Sĩ Tạo.

Nhưng gia đình ông phó bảng cùng hai con trai cũng không ở lâu tại Kim Liên. Chưa đầy ba năm! Sau khi mẹ vợ mất, ông vào kinh đô nhận chức quan (1904) ở Bộ Lễ, đem theo hai con trai vô Huế học. Năm 1907, ông bị đổi đi Tri huyện Bình Khê … Rồi sau khi bỏ quan (hay mất quan), khoảng 1910, ông phiêu bạt vô Sài Gòn rồi Lục tỉnh Nam Kỳ. Không bao giờ ông về làng Sen trở lại nữa…

Ở làng Sen sau này, chỉ có bà Thanh và ông Cả Đạt (Khiêm), cả hai đều không lập gia đình riêng.

Người ta bảo lúc sau, khi cụ Hồ Sĩ Tạo đã qua đời, năm nào bà Thanh cũng qua Quỳnh Đôi góp giỗ cụ Hồ Sĩ Tạo. Thế nghĩa là cái “bí mật” về cội nguồn của cụ phó bảng Huy, trong số các con cụ, ít nhất có bà con gái đầu biết. Người ta bảo: ông Cả Đạt cũng biết, tuy không bao giờ ông sang Quỳnh Đôi nhận họ.

Còn Nguyễn Sinh Côn – Nguyễn Tất Thành – có biết không? Từ khoảng 11 đến 14 tuổi, ông ở làng Sen, có nhẽ nào không ai nói cho ông biết? Hay là trước đó nữa, khi ông ở làng Chùa quê ngoại gần gặn làng Sen! Hay là sau đó nữa chả lẽ không khi nào cụ phó bảng Huy hay bà Thanh hay ông Cả Đạt lại không kể với ông về “bí mật” của gốc tích thân phụ mình?

Không có chứng cớ gì về việc ông Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – biết hay không biết chuyện này… Sau này, khi hoạt động cách mạng, ông còn mang nhiều tên khác nữa. Nhưng đến đầu thập kỷ 40 của thế kỷ này, thì người ta thấy ông mang tên Hồ Chí Minh.

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, khi tên tuổi Hồ Chí Minh trở thành công khai thì cũng bắt đầu từ đó dân gian Việt Nam, từ trí thức đến người dân quê, lại âm thầm bàn tán: vì sao Nguyễn Ái Quốc lại đổi tên là Hồ Chí Minh? Và tên này cụ giữ mãi cho tới khi “về với Các Mác, Lê-nin” năm 1969.

Cuộc đời thực của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh – còn quá nhiều dấu hỏi chứ phải đâu riêng gì một cái tên! Và biết làm sao được khi cụ Hồ, tôi nói lại một lần nữa theo cảm thức của người Ấn Độ, đã trở thành “huyền thoại”. Huyền thoại Hồ Chí Minh được hình thành trong vô thức dân gian mà Carl Gustav Jung gọi là vô thức tập thể. Nhưng nó cũng có phần được hình thành một cách hữu thức, bởi một số cán bộ gần gụi cụ Hồ. Nghĩa là một phần cuộc đời cụ Hồ đã được huyền thoại hóa.

Ngay sau Cách mạng tháng Tám, người ta còn in cả cuốn sách (mỏng thôi) về sấm Trạng Trình có những câu vận vào cụ Hồ và sự nghiệp Cách mạng tháng Tám. Và sấm Trạng Trình vẫn được vận vào cụ Hồ còn lâu về sau nữa, ở miền Nam Việt Nam và hiện nay ở một số người Việt lưu vong, dù là với hậu ý không ưa gì cụ Hồ… Nhưng đó lại không phải là chủ đề của bài viết này.

Trở lại với cái tên Hồ Chí Minh, lời truyền miệng dân gian bảo rằng: Nguyễn Ái Quốc sau cùng đã lấy lại họ Hồ vì cụ biết ông nội đích thực của mình là cụ Hồ Sĩ Tạo, chứ không phải cụ Nguyễn Sinh Nhậm.

Và dân làng Sen cũng bảo: Thì cứ xem, lần đầu tiên về thăm quê hương, sau cách mạng, sau mấy chục năm xa quê (15-6-1957), từ thị xã Vinh, tỉnh lỵ Nghệ An, cụ Hồ đã về làng Chùa trước, rồi sau mới sang làng Sen “quê nội”! [3]

Riêng tôi nghĩ, thì cũng phải thôi. Vì như ở trên ta đã thấy, cả một thời thơ ấu của cụ Hồ là gắn bó với quê ngoại làng Chùa, nơi cụ sinh ra và bước đầu lớn lên. Chứ đâu phải làng Sen, là nơi cụ chỉ ở có vài năm, lại là khi đã bắt đầu khôn lớn?

Tôi không muốn có bất cứ kết luận “khoa học” gì về bài viết này. Vì nó không phải là một luận văn khoa học. Đây chỉ là việc ghi lại một số lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh hay là cái khổ tâm, hay là cái “mặc cảm” của một số nhà trí thức Nho gia từ đầu thế kỷ XIV (Trương Hán Siêu, Chu Văn An) đến đầu thế kỷ XX (Nguyễn Sinh Huy) đối với làng quê. [4]

Còn viết lách, thì bao giờ chẳng là chuyện: “Thư bất tận ngôn, ngôn bất tận ý”. (Viết không [bao giờ] hết lời nói, Lời nói không [bao giờ] hết ý!).

(trích: Trong cõi. Nxb Trăm Hoa, California, 1993, tr. 252-259)

 Nguồn: QTXM Theo http://www.namdan.gov.vn VÀ NHATHONGUYENTRONGTAO…


DANH NHÂN VIỆT. Hồ Chí Minh tìm bạn không gặp ;
Những người bạn Trung Quốc của Hồ Chí Minh những năm 1920 -1927; Hồ Chí Minh với người Mỹ, Sơn Tùng kể chuyện Hồ Chí Minh là những  tư liệu về chủ tịch Hồ Chí Minh..


Những người bạn Trung Quốc của  Hồ Chí Minh những năm 1920 -1927


Nguyễn Văn Tuấn

Trong thời gian hoạt động ở nước ngoài sau khi ra đi tìm đường cứu nước năm 1911, Nguyễn Ái Quốc đã có nhiều quan hệ với các nhà cách mạng quốc tế, đặc biệt là các chiến sĩ chống thực dân đến từ các thuộc địa của Pháp. Nhưng đáng chú ý là mối quan hệ mà Nguyễn Ái Quốc hết sức quan tâm, đó là các chiến sĩ cộng sản Trung Quốc. Bài này tìm hiểu mối quan hệ giữa Nguyễn Ái Quốc với những người bạn Trung Hoa trong những năm 1920 – 1927.

Sau khi trở thành đảng viên cộng sản, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục hoạt động ở Pháp, tham gia công tác của Đảng Cộng sản Pháp (Người là Trưởng tiểu ban Đông Dương của Đảng Cộng sản  Pháp), đồng thời tích cực hoạt động vì sự phát triển của cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Thời gian này, người cùng một số nhà cách mạng các nước thành lập Hội Liên hiệp thuộc địa (giữa năm 1921), xuất bản báo Le Paria (4-1922). Ngoài ra, còn tổ chức và tham gia các buổi diễn thuyết, viết báo tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân, tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin về Việt Nam, kêu gọi nhân dân các dân tộc trên thế giới đoàn kết đấu tranh…

Thời gian ở Pháp và Liên Xô (1920 – 1924)

Sau phong trào Ngũ tứ (4-5- 1919), chủ nghĩa Mác – Lênin truyền vào Trung Quốc một cách mạnh mẽ, góp phần dẫn tới sự ra đời của các tiểu tổ cộng sản ở nhiều địa phương Trung Quốc và thành lập ĐCS Trung Quốc vào ngày 23-7-1921. Theo yêu cầu của tổ chức, nhiều đảng viên cộng sản Trung Quốc được cử đến các nước châu Âu như Pháp, Đức, Nga… hoạt động. Ở Pháp, từ năm 1920, xuất hiện ngày càng đông các nhà cách mạng Trung Quốc. Đa số họ là đảng viên viên ĐCS Trung Quốc, thực hiện yêu cầu của Đảng đến Pháp học tập và hoạt động. Tại Pháp, họ thành lập tiểu tổ (chi bộ) ĐCS Trung Quốc ở Paris, tổ chức Thanh niên cộng sản đảng và nhiều tổ chức đoàn thể khác để đấu tranh.

Để mở rộng tình đoàn kết, cùng chung sức đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc tiến hành liên lạc với các nhà cách mạng châu Á. Trong đó, người chú trọng mối quan hệ với các đồng chí Trung Quốc. Tại Paris, Nguyễn Ái Quốc quen biết nhiều đồng chí cộng sản Trung Quốc, trong đó có Chu Ân Lai (1898-1976), Lý Phú Xuân (1900-1975), Thái Sướng (1900-1990), Nhiếp Vinh Trăn (1899-1992), Triệu Thế Viêm (1901-1927), Trần Diên Niên (1898-1927), Trần Kiều Niên (1902-1928), Vương Nhược Phi (1896-1946), Tiêu Tam (1896- 1983)…, họ đều là những đảng viên lớp đầu của ĐCS Trung Quốc, về sau có đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh của cách mạng, một số người giữ những chức vụ chủ chốt trong Đảng và Nhà nước Trung Quốc.

Thời gian này, ĐCS Pháp và đoàn thể của nước Pháp thường xuyên tổ chức các cuộc diễu hành, thị uy, thu hút rất đông quần chúng tham gia, kể cả các đồng chí Trung Quốc. Chính trong những lần tham gia mít tinh, diễu hành này, Nguyễn Ai Quốc đã quen biết một số đồng chí Trung Quốc. Sau này, một trong số những người đó là Tiêu Tam(1) nhớ lại: “Thời gian tôi ở Paris, ĐCS Pháp hoạt động rất sôi nổi, thường xuyên tổ chức đảng viên và quần chúng míttinh, các đồng chí Trung Quốc rất nhiệt tĩnh tham gia hoạt động này, nhất là thích đi nghe lãnh đạo ĐCS diễn thuyết. Trong một buổi mít tinh vào mùa hè 1922, tôi gặp một người phương Đông. Ông ấy biết tôi là người Trung Quốc, liền đi tới và dùng tiếng Quảng Đông nói chuyện với chúng tôi. Chúng tôi ở Pháp chủ yếu là người Hồ Nam, Tứ Xuỵên, không hiểu tiếng Quảng Đông. Ông ấy liền dùng bút viết chữ Hán đàm đạo với chúng tôi, thỉnh thoảng lại dùng mấy câu tiếng Pháp. Thế là chúng tôi biết ông ấy là người Việt Nam, tên gọi là Nguyễn Ái Quốc. Tên tuổi của Nguyễn Ái Quốc chúng tôi đã từng nghe, ông ấy từng tố cáo tội ác của thực dân Pháp tại tại Hội nghị Versailles, để lại cho chúng tôi một ấn tượng rất sâu sắc, chỉ là chưa được gặp. Bây giờ được gặp Nguyễn Ái Quốc, đương nhiên mọi người đều rất vui. Thế là chúng tôi mời ông ấy đến trụ sở của mình. Rất nhanh, chúng tôi và ông ấy đã có sự quen biết”(2). Sau đó, Nguyễn Ái Quốc từng đến trụ sở của các tổ chức đảng, đoàn của các đồng chí Trung Quốc (ở số 17 đường Godefroy, phía nam Paris) cùng thảo luận vấn đề cách mạng, đoàn kết đấu tranh. Do cùng chung lí tưởng, cùng chung mục đích đấu tranh giải phống dân tộc, nên mối quan hệ giữa Nguyễn Ái Quốc vối các đồng chí cộng sản Trung Quốc nhanh chóng trở nên thân thiết. Ngay từ trước đó, Nguyễn Ái Quốc với những hoạt động cách mạng của mình đã làm cho các đồng chí Trung Quốc chú ý. Nay có điều kiện tiếp xúc, với ý chí cách mạng kiên định, phẩm chất đạo đức cao thượng, người nhận được sự tôn trọng và ngưỡng mộ của các đồng chí Trung Quốc.
 
Những năm hoạt động ở Paris Tiêu Tam được tổ chức giao nhiệm vụ liên lạc với ĐCS Pháp, Đoàn Thanh niên xã hội chủ nghĩa Pháp để phối hợp công tác. Ông thường đến Ban thuộc địa ĐCS Pháp và thường xuyên tiếp xúc với Nguyễn Ái Quốc. Do yêu cầu công tác, quan hệ giữa hai người vì thế cũng ngày càng thân mật.

Vào khoảng mùa thu năm 1922, Nguyễn Ái Quốc thảo luận với các đồng chí cộng sản Trung Quốc về vấn đề gia nhập ĐCS Pháp. Người cho rằng, ĐCS Pháp theo chủ nghĩa cộng sản và chú trọng chủ nghĩa quốc tế, vì vậy, các nhà cách mạng cùng chung lí tưởng và cùng chung đường lối đấu tranh, không phân biệt quốc gia, dân tộc, đều có thể tham gia. Người hi vọng một số đồng chí Trung Quốc tham gia ĐCS Pháp và tỏ ý sẽ sẵn sàng giới thiệu với Đảng. Các đồng chí lãnh đạo tổ chức đảng, đoàn Trung Quốc tại Pháp nghiêm túc thảo luận vấn đề này và cho rằng nên cử một số người tham gia ĐCS Pháp để tăng cường quan hệ và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động. Vào khoảng tháng 10-1922, Nguyễn Ai Quốc giới thiệu 5 đồng chí Trung Quốc gia nhập ĐCS Pháp là Vương Nhược Phi, Triệu Thế Viêm, Trần Diên Niên, Trần Kiều Niên(3) và Tiêu Tam. Những người này trở thành đảng viên ĐCS Pháp và chuyển đến sinh hoạt thường xuyên với tổ chức Đảng.
Cũng thời gian hoạt động tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc bắt đầu thiết lập mối quan hệ đồng chí thân thiết với Chu An Lai. Năm 1920, Chu Ân Lai cùng với một số đồng chí Trung Quốc đến Pháp học tập và hoạt động. Tại đây, ông tham gia thành lập và là người phụ trách chung công tác của các tổ chức đảng, đoàn thể của Trung Quốc ở Pháp. Có một lần (năm 1922), Nguyễn Ái Quốc chủ động hẹn gặp Chu Ân Lai tại một ga tàu điện ngầm gần sông Seine ở Paris. Trong lần đầu tiên gặp mặt, “ánh mắt chân thành và hiền từ của Nguyễn Ái Quốc làm cho Chu Ân Lai cảm động”. Hai người đi bộ dọc sông Seine, “nói chuyện lí tưởng, hoài bão, cuộc sống; nói chuyện tình hình nước Pháp, Trung Quốc, Việt Nam và thế giới; thảo luận về các chủ ng¬hĩa, khuyến khích sự học tập chủ nghĩa Mác, biểu thị sự ngưỡng mộ chủ nghĩa cộng sản”(4). Sau lần đó, Chu Ân Lai thường đến nơi ở của Nguyễn Ái Quốc tại số 9 ngõ Compoint, cùng trao đổi chuyện chính trị và cuộc sống. Năm 1954, Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu tham dự Hội nghị Geneve. Trước khi đến Hội nghị, đoàn dừng lại ở Bắc Kinh. Tại đây, Chu Ân Lai (lúc đó là Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) nói với Phạm Văn Đồng về mối quan hệ của mình với Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc hoạt động ở Pháp: “Lúc tôi mới tham gia cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều. Người giới thiệu một số đồng chí chúng tôi gia nhập ĐCS Pháp. Lúc đó, tôi thường xuyên đến ngõ Compoint gặp người. Người sống rất giản dị, nhưng học thức sâu rộng, năng lực hoạt động rất mạnh mẽ. Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thông thạo nhiều ngoại ngữ. Đạo đức và sự thông minh của người có sức cảm hóa lớn đối với những thanh niên mới bước vào con đường cách mạng như chúng tôi”(5).
 
Những cuộc gặp gỡ ở Paris đã đặt cơ sở cho mối quan hệ rất gắn bó và thân thiết giữa Hồ Chí Minh và Chu Ân Lai thời gian về sau. Tháng 11-1956, Chu Ân Lai dẫn đầu đoàn đại biểu Chính phủ Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sang thăm chính thức Việt Nam. Tại buổi buổi chiêu đãi, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Chu Ân Lai là người anh em của tôi. chúng tôi từng cùng nhau đồng cam cộng khổ, cùng nhau hoạt động cách mạng. Ông ấy là người chiến hữu thân thiết của tôi hơn 30 năm nay”. Chu Ân Lai nói: “34 năm trước tôi đã quen biết Hồ Chủ tịch ở Paris. Hồ Chủ tịch là người dẫn đường cách mạng của tôi. Lúc đó, người đã là một người chiến sĩ cách mạng, còn tôi thì mới gia nhập ĐCS. Người là người anh của tôi”(6).

Tháng 6-1923, Nguyễn Ái Quốc rời Pháp đến Liên xô và lưu lại ở đây khoảng một năm rưỡi. Tại đây, người một mặt học tập để hoàn thiện lí luận cứu nước của mình, mặt khác ra sức tìm hiểu tình hình mọi mặt của chế độ Xô viết, đồng thời tích cực tham gia nhiều hoạt động chính trị tại Liên Xô. Người tham dự nhiều hội nghị quốc tế quan trọng, như Đại hội Quốc tế Nông dân, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ, Đại hội Quốc tế thanh niên, nhất là Đại hội V Quốc tế Cộng sản từ 17-6 đến 18- 7-1924 tại Mátxcơva.

Thời gian hoạt động tại Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc tiếp tục thiết lập mối quan hệ với những đồng chí cộng sản Trung Quốc. Trong đó, đáng chú ý nhất là mối quan hệ đồng chí giữa Người và Trương Thái Lôi(7). Trương Thái Lôi là một trong những người cộng sản đầu tiên của Trung Quốc. Tháng 10 -1920, ông tham gia tiểu tổ cộng sản Bắc Kinh. Đầu năm 1921, đến Mátxcơva hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Ông từng tham dự các đại hội III, IV, V của Quốc tế Cộng sản và Đại hội IV Quốc tế Thanh niên. Tại Liên Xô, Nguyễn Ái Quốc và Trương Thái Lôi đều vào học Trường Đại học Cộng sản của những người lao động Phương Đông, cùng hoạt động trong Quốc tế Cộng sản. Ngoài ra, hai người còn cùng nhau tham dự lễ tang Lênin vào ngày 23-1-1924. Với điều kiện học tập và công tác gần gũi, Nguyễn Ái Quốc và Trương Thái Lôi thường xuyên tiếp xúc, thảo luận chuyện chính trị, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập và công tác, từ đó hình thành mối quan hệ thân thiết. Hai người và một đồng chí Nhật Bản còn chụp một bức ảnh chung.
 
Thời gian này, Nguyễn Ái Quốc dành thời gian viết nhiều bài báo và sách về tình hình Trung Quốc, như Chính sách thực dân Anh, Tình hình ở Trung Quốc, Tình cảnh nông dân Trung QuốcCác nước đế quốc và Trung Quốc, Trung Quốc và Thanh niên Trung Quốc... Trương Thái Lôi và các đồng chí Trung Quốc đã giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc rất nhiều trong việc thu thập tư liệu về tình hình Trung Quốc, tình trạng nông dân và phong trào thanh niên Trung Quốc. Trong số các bài báo và sách mà Nguyễn Ai Quốc đã viết, đáng chú ỷ là cuốn sách Trung Quốc và Thanh niên Trung Quốc. Sách do Nguyễn Ái Quốc chủ biên, có sự tham gia biên soạn của một số sinh viên Trung Quốc học tại Trường Đại học Cộng sản của những người lao động Phương Đông. Sách viết bằng tiếng Pháp, được dịch sang tiếng Nga, do Nhà xuất bản Mátxcơva mới xuất bản năm 1925. Cuốn sách giời thiệu khái quát về lịch sử, địa lí, kinh tế, văn hóa, xã hội và con người Trung Quốc; tình cảnh của các tầng lớp nhân dân Trung Quốc qua các thời kì, nhấn mạnh thời kì bị chủ nghĩa đế quốc áp bức; nêu lên những đặc trưng về phong trào cách mạng Trung Quốc và nhiệm vụ của thanh niên Trung Quốc trong sự nghiệp cách mạng… Việc biên soạn cuốn sách này cũng thể hiện tinh thần quốc tế vô sản cao cả của Nguyễn Ái Quốc. Người đã để tâm nghiên cứu và giới thiệu với thế giới về tình hình, nhiệm vụ của cách mạng Trung Quốc và tố cáo tội ác của chủ nghĩa đế quốc đối vối nhân dân Trung Quốc.

Có thể nói, thời gian hoạt động ở Pháp và Liên Xô Nguyễn Ái Quốc rất coi trọng thiết lập mối quan hệ với các đồng chí cộng sản Trung Quốc. Người đã có nhiều sự giúp đỡ đối với các đồng chí Trung Quốc trong quá trình hoạt động. Mối quan hệ đó được hình thành và phát triển trên cơ sở tinh đồng chí cộng sản chân thành và tinh thần quốc tế vô sản. Nó chính là sự mở đầu cho mối quan hệ ngày càng gắn bó của Nguyễn Ái Quốc với các đảng viên ĐCS Trung Quốc trong thời gian tiếp theo.

Thời kỳ Đại Cách mạng ở Quảng Châu (11/1924 – 5/1927)


Tháng 11-1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu. Quảng Châu lúc đó là trung tâm của cách mạng Trung Quốc, phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc ở đây phát triển rất mạnh. Đồng thời được coi là “Mátxcơva của phương Đông”, thu hút rất đông các nhà cách mạng các nước châu Á đến hoạt động. Ớ Quảng Châu cũng có rất đông các nhà yêu nước Việt Nam. Họ đến đây để mưu cầu sự nghiệp đấu tranh chống Pháp, giải phóng dân tộc. Họ thành lập tổ chức, liên kết đồng chí, thực hiện các vụ ám sát… Sau khi đến Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc được bố trí vào làm phiên dịch trong Trụ sở Borodin (cố vấn chính trị của Ban chấp hành Trung ương Trung Hoa Quốc dân đảng). Ngoài ra, với tư cách là đặc phái viên của Quốc tế Cộng sản, phụ trách Cục phương Nam, ngươi có điều kiện để theo dõi hoạt động của nhóm yêu nước người Việt Nam tại đây. Trên thực tế, việc lãnh đạo phong trào đấu tranh của các nhà cách mạng Việt Nam là hoạt động quan trọng nhất của Nguyễn Ái Quốc thời gian ở Quảng Châu. Người thành lập Hội Việt Nam

Cách mạng Thanh niên, chỉ đạo mở lớp huấn luyện chính trị để đào tạo cán bộ cách mạng, xuất bản báo Thanh Niên để truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin về Việt Nam, mặt khác tích cực tham gia phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc, của các nhà cách mạng quốc tế tại Quảng Châu.
 
Tuy thời gian hoạt động ở Quảng Châu không dài (khoảng hai năm rưỡi), nhưng Nguyễn Ái Quốc đã có nhiều mối quan hệ rất gắn bó với các đảng viên ĐCS Trung Quốc. Trước và sau khi Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu, nhiều đồng chí Trung Quốc từng hoạt động ở Pháp và Liên Xô cũng về nước, đến đây hoạt động. Đó là các đồng chí Chu Ân Lai, Lý Phú Xuân, Thái Sướng, Trương Thái Lôi, Trần Diên Niên, Nhiếp Vinh Trăn… Ngoài ra, trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc còn có quan hệ công tác với các đồng chí mới là Đặng Dĩnh Siêu (1904- 1992), Bành Bái (1896-1929), Diệp Kiếm Anh (1897-1986), Lưu Thiếu Kỳ (1898-1969)…

Sau khi Nguyễn Ái Quốc rời Pháp đến Liên Xô, năm 1924 Chu An Lai chấp hành chỉ thị của Đảng về Quảng Châu hoạt động. Ông giữ chức Chủ tịch Khu ủy tỉnh Quảng Đông kiêm Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền, Chủ nhiệm Cục chính trị Trường Quân chính Hoàng Phố. Nguyễn Ai Quốc vui mừng khi biết Chu An Lai đã trở thành nhân vật rất quan trọng của ĐCS Trung Quốc ở Quảng Châu. Tại đây, hai người có nhiều dịp để gặp gỡ trao đổi công tác. Với cương vị lãnh đạo Khu ủy Quảng Đông, Chu An Lai có điều kiện giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc và Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên hoạt động. Khi Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên mở lớp huấn luyện chính trị, nhận lời mời của Nguyễn Ái Quốc, Chu Ân Lai và các đồng chí Lý Phú Xuân (ủy viên Quân ủy Khu ủy Quảng Đông), Bành Bái (phụ trách nông vận), Lưu Thiếu Kỳ (phụ trách công vận)… từng đến Trụ sở của Hội ở số 13 đường Văn Minh giảng bài hoặc báo cáo chuyên đề. Chu Ân Lai cũng nhiều lần mời Nguyễn Ái Quốc đến tham quan tình hình Trường Quân chính Hoàng Phố, đồng thời cử giáo viên của Trường đến giúp Nguyễn Ái Quốc đào tạo cán bộ. Mối quan hệ đồng chí thân thiết của Nguyễn Ái Quốc và Chu An Lai không chỉ thể hiện trong công tác, mà còn thể hiện trong cuộc sống. Tháng 8-1925, Chu Ân Lai và Đặng Dĩnh Siêu kết hôn ở Quảng Châu. Sau đó, Nguyễn Ai Quốc thường xuyên đến thăm vợ chồng Chu Ân Lai. Ngược lại, vợ chồng Chu Ân Lai cũng quan tâm giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc trong cuộc sống.

Ở Trường Quân chính Hoàng Phố lúc đó, không chỉ có Chu Ân Lai là lãnh đạo mà Diệp Kiếm Anh cũng là người có vai trò quan trọng, phụ trách công tác giảng dạy. Ngoài ra, Trần Diên Niên cũng là người quản lí của trường. Đó chính là một trong những điều kiện thuận lợi để Nguyễn Ái Quốc quyết định cử một số hội viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đến học ở Trường. Trong số này có Phùng Chí Kiên, Trương Vân Lĩnh, Lê Thiết Hùng… về sau đều trở thành những nhà lãnh đạo quân sự của Đảng ta.

Sau khi Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu, đầu năm 1925, Trương Thái Lôi cũng đến Quảng Châu, công tác trong Trụ sở Boro¬din. Từ đó, mối quan hệ đồng chí giữa hai người vốn được đặt nền móng từ trước tiếp tục phát triển, ngày càng bền chặt. Phòng làm việc của Nguyễn Ái Quốc được bố trí gần với phòng của Trương Thái Lôi. Hai người thường xuyên đến phòng làm việc của nhau cùng chuyện trò thân mật và thảo luận công việc. Đối với Trương Thái Lôi, Nguyễn Ái Quốc là một chiến hữu gần gũi, chân thành và rất thẳng thắn. Vương Nhất Trí (người cùng làm việc với Trương Thái Lôi thời gian ở Quảng Châu) sau này nhớ lại: “Hồ Chí Minh là người chân thành, Người thường nói với tôi và Thái Lôi rằng: Người đảng viên cộng sản phải chân thành với đồng chí và nhân dân. Quan hệ giữa Hồ Chí Minh với chúng tôi rất thân thiết, Người và Thái Lôi thời gian ở Liên Xô quan hệ đã tốt, nay lại công tác cùng nhau, tình thân thiết lại tăng lên nhiều lần. Hầu như ngày nào người cũng đến phòng làm việc của chúng tôi, chúng tôi cũng thường xuyên đến phòng của người”(8); “Tôi nhớ có một lần tôi và Thái Lôi tranh cãi nhau vì một việc nhỏ, Hồ Chí Minh nghe thấy và mỉm cười bước đến, dùng tiếng Nga hỏi chúng tôi “Các anh có phải là người đảng viên cộng sản không?” Tôi và Thái Lôi chợt hiểu ra Hồ Chí Minh đang phê bình mình, làm một người đảng viên cộng sản phải tôn trọng lẫn nhau, chân thành với nhau, không thể vì một việc nhỏ mà tranh cãi… Sự việc này để lại cho chúng tôi một ấn tượng rất sâu sắc”(9). Ngoài ra, Nguyễn Ái Quốc và Trương Thái Lôi còn cùng nhau tham gia hoạt động tuyên truyền, diễn thuyết tại phong trào bãi công của công nhân Trung Quốc tại Quảng Châu. Khi gửi thư cho Đoàn chủ tịch Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Trung Hoa Quốc dân đảng (ngày 6-1-1926) đề nghị được tham gia và phát biểu tại Đại hội, Nguyễn Ái Quốc (lúc đó dùng tên Lý Thụy) đề địa chỉ liên lạc là: Sứ quán Borodin, ngài Trương Xuân Mộc chuyển(10). Trương Xuân Mộc chính là bí danh của Trương Thái Lôi.

Bức thư của Nguyễn Ái Quốc đã đến Đoàn chủ tịch Đại hội. Một trong số những người tham gia Đoàn chủ tịch là Đàm Bình Sơn (đảng viên ĐCS Trung Quốc, kiêm Bộ trưởng Bộ tổ chức Trung ương Quốc dân đảng) quyết định: “Lúc thảo luận dề án dân tộc, mời ông ấy đến dự và phát biểu”(11). Sáng ngày 14-1-1924, tại phiên họp thứ 9, Nguyễn Ái Quốc (bí danh Vương Đạt Nhân) đến dự và phát biểu tại Đai hội! Người phát biểu bằng tiêng Pháp, một đổng chí mà người đã quen biết thời gian ở Pháp và có quan hệ thân thiết thời gian ở Quảng Châu là Lý Phú Xuân dịch. Có thể thấy, Nguyễn Ái Quốc với quan hệ rộng và thân thiết với các đồng chí cộng sản Trung Quốc đã tạo ra những điều kiện tốt để mở rộng các mối quan hệ với các giới chính trị Trung Quốc lúc bấy giờ, tranh thủ sự giúp đỡ của cách mạng Trung Quốc đối với cách mạng Việt Nam.
 
Dưới sự giúp đỡ của ĐCS Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc cùng với một số nhà cách mạng các nước Trung Quốc, Triều Tiên, Indonesia… thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông vào tháng 7-1925. Hội có quan hệ mật thiết vối Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Nguyễn Ái Quốc là một trong những người lãnh đạo của Hội, đồng thời trực tiếp phụ trách Phân bộ Việt Nam. Tháng 2-1926, Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông tiến hành kiện toàn cơ cấu tổ chức. Đảng viên ĐCS Trung Quốc Bao Huệ Tăng được bầu làm Chủ tịch Ban chấp hành lâm thời, Nguyễn Ái Quốc là ủy viên phụ trách tài chính và phụ trách phân bộ Việt Nam. Với cương vị công tác này, Nguyễn Ái Quốc quen biết thêm nhiều đồng chí đảng viên ĐCS Trung Quốc công tác trong Hội. Cũng nhờ đó mà hoạt động Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ngày càng thuận lợi. Nhiều hội viên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tham gia vào công tác của Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông.

Tháng 4-1927, Tưởng Giới Thạch thực hiện chính biến phản cách mạng ở Thượng Hải. Sau đó, phái phản động trong Trung Hoa Quốc dân đảng ở Quảng Châu công khai phản biến, đàn áp, bắt bớ đảng viên cộng sản và quần chúng cách mạng. Tình hình thay đổi, Nguyễn Ái Quốc buộc phải rời Quảng Châu.

Trong sách Vừa đi đường vừa kể chuyện, tác giả T. Lan có nói đến tình hình của Hồ Chí Minh những ngày cuối ở Quảng Châu. Mặc dù Quốc dân đảng khủng bố rất mạnh, nhưng Bác vẫn ráng ở lại Quảng Châu một thời gian, vì cần liên lạc với các đồng chí Trung Quốc và cần duy trì công việc của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên(12). Trên thực tế, sau chính biến của lực lượng phản động trong Trung Hoa Quốc dân đảng, các đảng viên ĐCS Trung Quốc phải lui vào hoạt động bí mật, đoàn công tác của Liên Xô cũng phải dời đến Vũ Hán (Hồ Bắc). Mặc dù vậy, Nguyễn Ái Quốc vẫn lưu lại Quảng Châu khoảng gần một tháng. Nhưng tình Quảng Châu diễn biến ngày càng xấu, dưới sự sắp xếp của ĐCS Trung Quốc, tháng 5-1927, Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đến Vũ Hán, nhập vào đoàn công tác của Liên Xô cùng đến Thượng Hải và trở lại Liên Xô. Người hoạt động ở Liên Xô một thời gian, sau đó đến Đức, Pháp, Thụy Sĩ, Italia và về Thái Lan

Nói tóm lại, trong thời gian hoạt động ở Pháp, Liên Xô, Trung Quốc (từ năm 1920 đến 1927), Nguyễn Ái Quốc đã có nhiều mối quan hệ thân thiết với các đồng chí cộng sản Trung Quốc. Mối quan hệ đó dựa trên tinh thần quốc tế vô sản của những người cùng chung lí tưởng, chung khát vọng đấu tranh. Người đã nhiệt tình giúp đỡ các đồng chí Trung Quốc trong hoạt động và cũng nhận được sự giúp đỡ của họ. Với lòng nhiệt tình, sự chân thành, thẳng thắn và những phẩm chất đạo đức cao thượng, người để lại ấn tượng sâu đậm đối với các đồng chí Trung Quốc. Việc thiết lập quan hệ vối các đồng chí Trung Quốc cũng phần nào thể hiện tư tưởng nhất quán về đoàn kết cách mạng quốc tế của Hồ Chí Minh, đặt cơ sở cho hoạt động của các nhà cách mạng Việt Nam ở Trung Quốc thời gian về sau, góp phần biến Trung Quốc thành căn cứ địa của cách mạng Việt Nam ở nước ngoài.

CHÚ THÍCH:

1. Tiêu Tam sinh nám 1896, quê ở tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Năm 1920, ông sang Pháp du học, tham gia tiểu tổ ĐCS Trung Quốc ở Pari. Năm 1924, về nước giữ chức Ủy viên tỉnh ủy Hồ Nam. Về sau ông trở thành nhà văn nổi tiếng của Trung Quốc.
2. Hoàng Tranh, Hồ Chí Minh với Trung Quốc, Nhà xuất bản Giải phóng quân, Bắc Kinh, 1987, tr.7, (bản tiếng Trung).
3. Vương Nhược Phi sinh năm 1896 ở huyện An Thuận, Quỹ Châu, Trung Quốc. Đến Pháp từ năm 1919, năm 1925 về nước, hoạt động ở Thượng Hải, Hồ Nam, Giang Tô. Năm 1931, là đặc phái viên của ĐCS Trung Quốc tại Đặc khu Tây Bắc. Từ năm 1938 là Phó tham mưu trưởng Bát lộ quân Trung Quốc, từ năm 1940 là Trưởng Ban thư kí Trung ương Đảng. Triệu Thế Viêm sinh năm 1901 ở Trùng Khánh, Tứ Xuyên. Năm 1920 đến Pháp, là lãnh đạo tiểu tổ ĐCS Trung Quốc và tổ chức Thanh niên cộng sản đảng của Trung Quốc ở Pháp. Tháng 3-1923, đến học tại Trường Đại học Cộng sản của những người lao động Phương Đông (Liên Xô). Tháng 7-1924 về nước, tham gia lãnh đạo phong trào cách mạng tại Khu ủy Phương Bắc Trung Quốc và tỉnh Triết Giang, là ủy viên Ban chấp hành Trung ương ĐCS Trung Quốc. Tháng 7-1927, bị chính quyền Trung Hoa Quốc dân đảng bắt và hi sinh; Trần Diên Niên sinh nám 1898 tại tỉnh An Huy, Trung Quốc, ông là con trai đầu của Trần Độc Tú (một trong những người sáng lập ĐCS Trung Quốc, Bí thư đầu tiên của Đảng). Cuối năm 1919 đến Pháp, 1923 đến Liên Xô học Trường Đại học Cộng sản của những ngưòi lao động Phương Đông. Tháng 9-1924, về nước hoạt động ở Thượng Hải, sau đó chuyển đến Quảng Châu giữ chức Thư kí Khu ủy ĐCS Trung Quốc tỉnh Quảng Đông, đồng thời tham gia công tác quản lí tại Trường Quân chính Hoàng Phố. Tháng 6-1927, ông được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Giang Tô. Ngày 22-6-1927, ông bị phái phản động Trung Hoa Quốc dân đảng bắt và giết hại vào đầu tháng 7-1927 lúc mới 29 tuổi; Trần Kiều Niên sinh năm 1902, là con trai thứ của Trần Độc Tú, em trai Trần Diên Niên. Đến Pháp cuối năm 1919, đầu năm 1923 đến Liên Xô tiếp tục học tập. Cuối nám 1924 về nước hoạt động ở Bắc Kinh. Năm 1926, rời Bắc Kinh đến hoạt động ở miền Nam Trung Quốc. Tại Đại hội V ĐCS Trung Quốc (1927), được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, phụ trách Bộ Tổ chức Trung ương Đảng. Tháng 6-1928, ông bị Trung Hoa Quốc dân đảng sát hại.
4. Thời Phong, La Nguyên Sinh, Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh: Tình hữu nghị cách mạng “đồng chí và anh em’  Tạp chí Văn sử xuân thu, số 6-2006, tiếng Trung.
5. Theo Lý Gia Trung, Mối quan hệ giữa Chu Ân Lai và Hồ Chí Minh, Tạp chí Bách niên triều, số 6-2003.
6. Nhân dân Nhật báo, ngày 22-11- 1956, (bản tiếng Trung).
7. Trương Thái Lôi (1898-1927), người tỉnh Giang Tô, là một trong những đảng viên đầu tiên của ĐCS Trung Quốc và cũng là một trong những người sáng lập Đoàn thanh niên cộng sản chủ nghĩa Trung Quốc, lãnh tụ lỗi lạc của phong trào thanh niên; là lãnh đạo chủ chốt của cuộc khởi nghĩa Quảng Châu do ĐCS phát động cuối năm 1927, chủ tịch Công xã Quảng Châu. Ngày 12-12-1927, hy sinh trong lúc chỉ huy chiến đấu.
8. Ban Biên tập Nxb Nhân dân, Hồi ức Trương Thái Lôi, Nxb Nhân dân, Bắc Kinh, 1984, tr. 17-18.
9. Dẫn theo: Hoàng Tranh, Sđd, tr.19.
10. Xem Hồ Chí Minh toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, H, 2000, tr.211.
11. Theo Tưởng Vĩnh Kính, Hồ Chí Minh ở Trung Quốc, Đài Bắc Truyện kí Văn học xuất bản xã, 1972, tr.49, tiếng Trung.
12. Xem T. Lan, Vừa đi đường vừa kể chuyện, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2008.


Hồ Chí Minh với người Mỹ

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Tổng thống Truman sau khi giành chính quyền từ tay Pháp (1). Tiếc thay Truman, vị tổng thống Hoa Kỳ kế nhiệm Franklin Roosevelt vừa mất đột ngột, đã chiều lòng Charles de Gaulle và bỏ lỡ cơ hội ủng hộ lời đề nghị ủng hộ hoà bình cho Việt Nam của chủ tịch Hồ Chí Minh. Các cuốn sách  OSS và HỒ CHÍ MINH  đồng minh bất ngờ trong cuộc chiến chống phát xít Nhật (2), Tại sao Việt Nam (Why Vietnam) (3),  Hồ Chí Minh - Một cuộc đời (4) và Paris-Sài Gòn-Hà Nội (5) đã cung cấp một số thông tin tư liệu mới về chủ tịch Hồ Chí Minh với người Mỹ

(1] Thư Hồ Chí Minh gửi cho Harry S. Truman (28 tháng 2, 1946).

 Trong bức thư ngày 28 tháng 2 1946, Hồ Chí Minh gửi đến Tổng thống Hoa Kỳ, Harry S. Truman, yêu cầu xin sự hỗ trợ của Mỹ trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

” Chủ tịch Hồ Chí Minh – Việt Nam dân chủ cộng hòa – Hà Nội
Xin gửi tới ngài Tổng thống Hoa Kỳ , Washington DC

Thay mặt chính phủ và nhân dân Việt Nam, tôi xin trân trọng thông báo cho ngài rằng trong quá trình các cuộc hội thoại giữa Chính phủ Việt Nam và đại diện Pháp, Pháp đòi hỏi sự ly khai của Nam Bộ và sự trở lại của quân đội Pháp tại Hà Nội, trong khi đó dân và quân đội Pháp đang hoạt động chuẩn bị cho một cuộc đảo chính ở Hà Nội và xâm lược quân sự. Vì vậy, bản thân tôi đưa ra lời yêu cầu tha thiết tôn trọng nhất tới Ngài và những người dân Mỹ để can thiệp khẩn cấp và hỗ trợ độc lập cho chúng tôi và giúp làm cho các cuộc đàm phán phù hợp với các nguyên tắc của Điều lệ Đại Tây Dương và San Francisco.
Kính
Hochiminh “

(2) OSS và HỒ CHÍ MINH  đồng minh bất ngờ trong cuộc chiến chống phát xít Nhật
 
(3) Tại sao Việt Nam, Archimedes L.A. Patti, NXB Đà Nẵng, 2000
 
(4) Paris-Sài Gòn-Hà Nội, Philippe Devillers, NXB Tổng hợp TPHCM, 2003

 
Sơn Tùng kể chuyện Hồ Chí Minh
 
Liệu có phải Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng ra lệnh thả ông Ngô Đình Diệm khi ông ta chưa là Tổng thống VNCH ? Có phải ông Phạm Hùng đã từng bí mật gặp ông Ngô Đình Nhu trong một kế hoạch hòa giải giữa hai miền ? Ai “chủ chiến”, ai “chủ hòa” bên trong chính quyền hai miền thời chiến tranh Việt Nam ? … Rất nhiều câu hỏi mà có thể phải tới thế hệ con cháu các nhà sử học Việt Nam ngày nay mới mong lục bới lại tư liệu ít ỏi và phiến diện để tìm câu trả lời.
Thế nhưng, cũng có những người không phải trong giới sử học, lại đã làm những việc mà giới sử phải đáng nể. Một trong số họ là nhà văn Sơn Tùng, tác giả cuốn “Búp Sen Xanh” viết về thời thơ ấu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Có lẽ ông cũng là một trong vài người hiếm hoi hiện còn sống nắm được nhiều tư liệu (chưa được công bố) về Hồ Chí Minh nhất.

Dưới đây là một trong nhiều tài liệu được cho là từ những bài nói chuyện của nhà văn Sơn Tùng quanh tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đáng tiếc là từ những tìm tòi của ông, cho tới cuốn truyện “Búp sen xanh” đều không được sự “ủng hộ chính thức” của các cơ quan chức năng, thậm chí còn gặp phải những phiền toái. Ngược lại, vẫn có những ủng hộ “không chính thức” từ nhiều nhà lãnh đạo Việt Nam. Như Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, khi còn là Trưởng ban Dân vận Trung ương, đã từng có nhận xét thân mật ” Đối với tôi, anh Sơn Tùng là đại sư phụ”.

Từ hoàn cảnh đó, không thể tránh khỏi tình trạng những thông tin mà nhà văn đưa ra có thể không chính xác, hoặc chưa được kiểm chứng khoa học, những nhận định có thể chủ quan, suy diễn. Song để góp phần đi tìm những tư liệu lịch sử quý giá, tránh những đồn đoán, xuyên tạc, bóp méo lịch sử mà cho tới nay, sau hơn 30 năm chiến tranh vẫn không thay đổi mấy, xin được đăng một phần trong những bài nói chuyện này với sự thận trọng nhất định.

Bài nói của Nhà văn Sơn Tùng *
Ở trường Cơ khí Chí Linh (thuộc Bộ Năng Lượng)
Tháng 11 – 1990


Trung ương chúng ta đang chuẩn bị họp 3 ngày để bàn với nhau, tìm thấy rõ hướng đi chưa? Tuy ổn định được mặt này, ổn định được mặt khác, nhưng vẫn chưa vững, nội bộ có nhiều vấn đề nhất là bung ra vấn đề tham nhũng.

Trong lịch sử nước ta đây là lần bộc lộ lớn nhất, trên bình diện rộng, cao và sâu trong toàn quốc. Trong nội các của ta có 3-4 đồng chí không dính đến, trong bộ chính trị của chúng ta, Đảng đếm trên đầu ngón tay chỉ được 3-4 đồng chí. Ở dưới có nặng nề, nhưng chỉ là con chuột nhắt. Còn tham nhũng này từ những con hổ trở lên, làm suy vong cả một nền chính trị, bởi vì trước đây người cộng sản yêu đến thế, ngày nay người cộng sản có chức phá một lúc 2-3 tỷ đồng, ông chủ nhiệm tham ô một tấn thóc là to lắm.

Chúng ta chuẩn bị kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Bác Hồ cũng nằm trong bi kịch này. Bác Hồ rất khổ, khổ từ tấm bé, mẹ chết năm lên 10 tuổi, năm cuối cùng thế kỉ thứ 19, ngày đầu tiên của thế kỉ thứ 20. Đây là thế kỉ khẳng định Hồ Chí Minh là danh nhân văn hoá của thế giới và trong lúc phe XHCN bị đổ vỡ, ta mất uy tín lớn trên thế giới. Vì vậy xét Bác Hồ rất khó khi đưa ra hội đồng UNESCO của liên hợp quốc. Phần quốc tế đánh giá Bác, xét danh nhân như thế nào? Ở ta xuyên tạc Bác như thế nào? Đây là hai phần chính nhất. Để từ đó biểu hiện nay chúng ta đổi mới đi theo con đường Bác Hồ là nói thật hay là mượn? Mượn Bác Hồ để đục khoét nhân dân. Đây là cuộc đấu tranh gay gắt, vào Đại hội tới đây vấn đề này cần đặt ra. Hội nghị trung ương 10 cũng bàn về vấn đề này.
Đây là con số kết luận: Đội ngũ cán bộ từ cao cấp đến sơ cấp có phẩm chất tốt chỉ 5% (đúng nhân cách, không dính đến đồng tiền, bát gạo của nhân dân ) còn làm sai là chuyện khác, như thế là gay quá.

Từ 20-10 đến ngày 30-11- 1989, Đại hội đồng UNESSCO họp phiên khoá 24, để xét các danh nhân, kỉ niệm vào những năm chẵn, trong 3 năm 1988, 1989, 1990, xét những danh nhân vào tuổi 100 để tổ chức kỉ niệm, mức độ khác nhau. Danh nhân nào là danh nhân văn hoá, hay những nhà hoạt động kiệt xuất, nhà thơ vĩ đại…được toàn thế giới kỉ niệm. Bác Hồ ra đời vào năm 1890 tròn 100 năm, cụ Nêru, Ấn Độ ( năm 1989), Mekarencô, nhà sư phạm vĩ đại (Liên Xô) và Pastecnéc là nhà thơ được giải Nôben, nhưng bị khai trừ ra khỏi Đảng Hội nhà văn Liên Xô năm 1958, vì ông có cuốn tiểu thuyết vạch trần bất công trong xã hội Xô Viết dưới thời Sta–Lin, khi trao giải Noben thì ông từ chối. Hội nhà văn Liên Xô khai trừ vì tội đưa bản thảo chưa in trong nước ra nước ngoài tặng một người bạn. Khi khai trừ, hội nhà văn bỏ phiếu, một phiếu chống, ông không đáng phải khai trừ, đây là cả một vấn đề oan khốc. Tôi tin rằng hai thập kỉ nữa phải khôi phục cho ông. Đến bây giờ đã trả lại.

Khi xét năm 1989, được cụ Nêru xong (đoạn này nghe không rõ) Đại biểu của 3 quốc gia đề nghị kỳ họp Đại hội đồng UNESCO năm nay chỉ xét danh nhân có năm chẵn là năm 1989 để kỉ niệm còn danh nhân sinh vào năm 1890 hoãn lại để bàn lại tiêu chuẩn vĩ nhân. Vì lâu nay chúng ta xét vĩ nhân còn một số điều hở, chưa chặt chẽ. Cho nên chỉ xét đến năm 1989, số còn lại hoãn 10 năm sau, năm đầu tiên của thế kỉ 21 hãy xét. Như vậy Bác Hồ rơi vào năm 1990, mà đời người chỉ có một lần kỉ niệm 100 năm. Nếu vừa rồi quốc tế không xét Bác Hồ thì trong nước không thiếu gì kẻ phá Bác Hồ, xuyên tạc Bác Hồ. Nhưng các Đại biểu phản ứng mạnh mẽ, cho rằng thiếu tiêu chuẩn thì bổ sung, vì năm 1990, Bác Hồ là ngọn cờ đầu giải phóng dân tộc, không xét là không công bằng, cuối cùng biểu quyết, vì đây không phải khóa chấp hành nên không lấy theo đa số, nguyên tắc bầu là lấy 100% số phiếu, có 159 quốc gia, phe XHCN có 8 thành viên. Năm đó ta đang gay go, đi ra nước ngoài nhiều, con em nhà lành cũng có, nhưng ở các thành phố có tiền, họ bỏ tiền ra mua mấy ông tuyển chọn, có cả người có án, sang đó đi buôn, do đó xét đến Bác Hồ không thể không nhìn điều đó. Đồng thời nhìn cả Đông Âu đang đổ ầm ầm, cái đó hết sức khó khăn cho Bác.

Khi phiên họp xét Bác Hồ bà Thái Lan làm chủ tọa phiên họp, lúc đó ta và Thái Lan chưa có quan hệ như bây giờ. Đồng chí Nguyễn Di Niên rất lo. Nhưng bà ta có tham luận nói về Bác rất hay. Trong cuộc họp có đơn của người Việt nam di tản tên là Dũng ở Hà Nội gửi UNESCO đề nghị không được xét Bác Hồ là danh nhân thế giới, đơn có 79 chứ ký, tiêu biểu cho tuổi 79 khi Bác qua đời. Trong đơn có ghi : “chúng tôi là người tị nạn Việt Nam thấy cá nhân ông không xứng đáng. Vì chính quyền kế tục sự nghiệp của ông là cực kỳ thối nát, làm cho dân chúng tôi ở không yên phải ra đi. Đề nghị Đại hội đồng xét lại. Nếu xét thì xét ông Nguyễn Ái Quốc, đừng xét ông Hồ Chí Minh”. Đáng thương cho Bác Hồ là chỗ đó, đến ngày giỗ mình, thế giới đang chọn mình thì con cháu mình lại đi kiện. Có 79 chữ ký không có gì là đại học, không có ai là nhà khoa học, không có ai đại diện tiêu biểu gì. Nếu có nhà khoa học thì có vấn đề. Người ta photocopi gửi về cho viện bảo tàng Hồ Chí Minh và uỷ ban UNESCO của Việt Nam.

Xét ông Nêru thuận lợi hơn Bác Hồ, vì Ấn Độ là một nước lớn, trung lập, ổn định về kinh tế, xét ông Nêru ở mức cao “nhà quán quân của phong trào giải phóng dân tộc”. Nhưng không phải là người tiêu biểu số 1 của phong trào giải phóng dân tộc. Xét ông Nêru trong vòng 45 phút là xong. Bác Hồ phải xét trong 7 tiếng. Vì xét ở mức cao hơn, và là danh nhân văn hoá, tiêu biểu cho nền văn hoá nhân dân, không phảỉ văn hoá nghệ thuật. Người không tha hoá về vật chất, không mang tiếng về đời tư, tiêu biểu cho thế kỉ 21. Thế giới đang đứng trước một thảm hoạ tha hoá về văn minh vật chất, con người đang bị đẩy dần vào việc đòi hỏi sống tiện nghi tối đa, xa dần cuộc sống thiên nhiên, xa dần cuộc sống giữa người với người, không cần sống có đạo lý.

Thập kỉ 90, liên hiệp quốc đề ra các nước trên thế giới phải xoá được nạn mù chữ. Liên hợp quốc thấy được Hồ Chí Minh đã đặt ra xoá nạn mù chữ đầu tiên vào năm 1945, trong lúc đó Liên hợp quốc và Liên Xô chưa có chủ trương. Đây là một nguyên thủ của nước nhỏ, có tầm nhìn dự báo chiến lược, đã thấy được, còn dân đói, dân dốt thì nguy cơ mất nước còn bị đe doạ. Hồ Chí Minh là người đầu tiên đề ra tết trồng cây cách đây 30 năm để bảo vệ môi trường, cân bằng sinh thái. Liên hợp quốc thấy được Hồ Chí Minh là nhà văn hoá ở chỗ đó.

Vấn đề nữa là thế giới ngày nay là thế giới đối thoại. Đây không phải là sự sáng tạo của các nguyên thủ quốc gia ngày hôm nay, đối thoại chính là Hồ Chí Minh có từ năm 1945. Khi giành được chính quyền Hồ Chí Minh cố tránh cuộc chiến tranh Pháp – Việt, mà phải thoả thuận với Tưởng. Tuần lễ vàng năm 1945 của ta thu được 3 tạ 75 kg, riêng đúc một người vàng nặng 54 kg và gả một cô gái còn trinh tiết cho tướng Di Ô Văng (1 trong 3 tướng lúc đó) chưa kể đút lót cho các tướng khác. Để nó rút quân Tưởng, vì Tưởng có 20 vạn quân trên đất Bắc. Nhưng tìm con gái ai bây giờ? Lúc đó có một cô gái của một chiến sĩ cách mạng người Thái Bình xung phong. Trước khi làm lễ đính hôn, nó cử bác sĩ đến khám có còn trinh tiết hay không? Những năm tháng đó, Bác Hồ của chúng ta phải chịu một khổ nhục kế, để tránh hiểm hoạ cho nhân dân.

Khi Tưởng rút, Bác sang Pháp 4 Tháng để đối thoại từ 30-5 đến 20-10-1945 thì về đến Hải Phòng, Liên hợp quốc cho Bác là người đề ra đầu tiên đối thoại và tiến hành đối thoại.

Liên hợp quốc còn xét Bác Hồ về mặt đạo đức, 24 năm Bác Hồ làm nguyên thủ quốc gia không tha hoá. Tất cả tổng thống, thủ tướng TBCN, kể cả XHCN, sau một nhiệm kỳ, ngành toà án lại truy tố vụ này, vụ kia. Hồ Chí Minh là nhân cách của người cầm quyền kiểu mới. Khi người nằm xuống ngoài nhà sàn, không có một gì khác cho riêng mình. Hồ Chí Minh là người cộng sản, học thuyết Mác là phương tiện, còn mục đích là dân phải được no ấm nhà nước phải được độc lập. Dân tộc ta phảỉ được bình đẳng với các dân tộc khác. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (3-2-1930) là cương lĩnh cộng sản nhân đạo. Hồ Chí Minh là người hội tụ cả đông- tây về thuật học, nho học…

Khi chưa có chính quyền, người sống với dân, yêu dân, mến dân. Khi có chính quyền, người quay lại phục vụ nhân dân. Đề cương kỷ niệm Hồ Chí Minh của các quốc gia là 84 trang, còn ở ta chuẩn bị 25 trang, ta là nước đề nghị muộn nhất kỷ niệm Bác. Tôi có hỏi uỷ ban UNESCO của Việt nam, các đ/c trả lời ta đề nghị muộn, vì ta ngại sợ không được. Tôi thấy ngại vì đánh giá Bác không đúng, nhất là khi thấy các nước Đông Âu đổ vỡ và CNXH, CNCS sẽ bị phá sản. Bác Hồ là người thứ 21 là danh nhân văn hoá thế giới, riêng Bác Hồ còn có cái thứ hai là anh hùng giải phóng dân tộc. Họ ghi là “Bác Hồ là danh nhân văn hoá kiệt xuất thế giới và là anh hùng dân tộc”, còn ta thì ghi ” Bác Hồ là anh hùng giải phóng dân tộc và là nhà văn hoá lớn”.

Pari là thủ đô của nước bại trận đối với ta, nhưng họ công bằng với mình. Tôi nghiên cứu vấn đề này thấy uy tín của Bác Hồ đối với thế giới rất lớn trước khi nước Pháp kỉ niệm 200 năm ngày thành lập, Pháp lập 1 bảo tàng Môngtơroi để kỉ niệm và lưu giữ những gì có liên quan đến cách mạng Pháp, trong bảo tàng dành một khu kỷ niệm về Bác.

Một nhà điện ảnh Liên Xô là Raxinôp, khi gặp tôi nói: “Được giao nhiệm vụ hợp tác với Việt nam làm bộ phim kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Bác, kịch bản của Trần Kim Thành đã gửi sang, qua kịch bản này, chỉ Hồ Chí Minh chính trị, chưa phải Hồ Chí Minh danh nhân văn hoá của thời đại. Hiện nay (1989) những gương mặt tiêu biểu đang sụp đổ, còn gương mặt Hồ Chí Minh diện mạo thật sự, tiêu biểu chính cho thời đại, mà dựng cuốn phim chính trị chay, thì không thể giải thích cho thế giới nào là một danh nhân văn hoá, 45 nước đã đăng kí mua phim, nếu làm theo kịch bản của Việt nam thì vẫn là phim thời sự, tài liệu, không ra diện mạo Việt nam. Khi gặp các đồng chí được gần Bác Hồ như đồng chí Vũ Kỳ để tìm hiểu thì vẫn thấy Bác chỉ là nhà chính trị. Do đó không thể làm được phim, làm phim cho ra phim, không được thì thôi”.

Về hội thảo khoa học quốc tế về Bác tại Ba Đình, bao gồm các đại biểu đại diện cho tổ chức, hoặc cá nhân. Mỹ có 3 đoàn. Mỗi đại biểu khám phá Bác Hồ một khía cạnh riêng. Công bằng mà nói, họ hiểu Bác hơn các nhà khoa học Việt Nam, không phải ta thấp hơn họ về trình độ, hoặc không yêu mến Bác Hồ bằng họ. Vì điều kiện làm việc của chúng ta, các nước họ tài trợ một khoản tiền để đi ra nước ngoài sưu tập những tư liệu về Bác. Còn ta thì thông qua báo chí, và tìm tư liệu trong nước hoặc có dịp đi công tác nước ngoài thì kết hợp sưu tầm. Chỉ có anh Hồng Hà (Văn phòng Trung ương) trước đây anh có điều kiện hơn, khi đi dự hội nghị Pari về Việt Nam, anh ở Pari mấy năm, lúc đó anh được giao thêm nhiệm vụ khai thác tư liệu về Bác, anh Hồng Hà là người duy nhất được đi nghiên cứu Bác Hồ bằng tư liệu gốc trên đất Pháp. Còn các nhà khoa học của ta đi ít lắm.

Ba đại biểu Mỹ vào dự hội thảo nêu mấy vấn đề. Một người Mỹ tên là Mide Holen nói: ” Hồ Chí Minh là ai? Tôi là nhà khoa học Mỹ, tuy là Hạ nghị sĩ, nhưng không đại diện cho ai, mà đại diện cho tiếng nói của lương tâm. Xin trả lời: Hồ Chí Minh là sản phẩm của những nghịch lý. Xin dẫn chứng một nhân chứng, nguyên thiếu tá tình báo Pát-ti ở Côn Minh, Bác Hồ gặp năm 1944, sau đó Bác đón về ở Tân Trào, khi cướp chính quyền, Bác tiếp ông ta ở 48 Hàng Ngang, Hà Nội (1945). Từ đó giữa Bác và ông ta có mối liên lạc, và tìm ra con đường tranh thủ sự đồng tình của Mỹ lúc đó. Bác quý ông ta, ông ta cũng quý Bác. Bây giờ ông ta là đại tá, bạn cố tri của Bác. Đây, là nhân chứng lịch sử của mối quan hệ giữa Bác (đại diện cho Việt Nam) và Pát-ti (đại diện cho Mỹ) để nói lên sự nghịch lí.

Bà ta còn nói cách đây 45 năm, tại đây cả thế giới thuộc địa nằm trong đêm dài nô lệ, chưa có nước nào dành được độc lập. Việt nam là nước đương đầu với một nước có nhiều thuộc địa. Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập có trích hai bản tuyên ngôn của Mỹ (1776) và Pháp (1789). Cuộc cánh mạng Việt nam kế tục từ cuộc cách mạng năm 1776, năm 1789, cho đến cuộc cách mạng tháng 10-1917 và đến cách mạng tháng 8-1945. Nhưng xu thế thực dân lúc đó chưa thể chấp nhận đựơc tư tưởng Hồ Chí Minh. Cho nên nghịch lý là Hồ Chí Minh nêu ra không một quốc gia nào ủng hộ. Nhưng bây giờ một nước tuyên bố độc lập, có hàng chục nước ủng hộ ngay.

Khi Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập 2-9-1945, lúc này không có các nước thế giới thứ ba, chỉ có Liên Xô, một số nước XHCN Đông Âu và phe TBCN, cả hai không công nhận chính quyền Hồ Chí Minh thì ông là nghịch lý của lịch sử.

Chính Pát-ti về nói với tổng thống Truman là Hồ Chí Minh là một người cộng sản và là một nhà yêu nước vĩ đại, có uy tín tuyệt đối, là một vĩ nhân. Đề nghị nước Mỹ nên công nhận. Ông Truman nói rằng là cộng sản thì không bao giờ hợp tác với nhau được. Truman có tư tưởng đi với Phương Tây để chống lại phong trào độc lập, không công nhận Hồ Chí Minh nên Hồ Chí Minh trở thành nghịch lý. Còn Liên Xô nói Hồ Chí Minh là cộng sản nhưng là dân tộc, cả quốc tế cộng sản nghi ngờ Hồ Chí Minh là con người mượn CNCS để xây dựng độc lập dân tộc của mình. Cho nên chưa tin tưởng Hồ Chí Minh là người bạn thật trung thành. Cho nên Liên Xô không công nhận, các nước Đông Âu cũng không công nhận, cho nên Hồ Chí Minh là người nghịch lý.

Ngày nay, chúng ta nói bi kịch Hồ Chí Minh, là con người nêu lên được tư tưởng đúng mà lịch sử lúc đó không công nhận cho nên Hồ Chí Minh phải chiến đấu thêm 5 năm nữa, đến năm 1950 các nước XHCN mới công nhận về mặt ngoại giao.

Bà ta còn nêu có một nước công nhận Việt nam sớm nhất (1945) nhưng lại là xét lại, đó là Nam Tư. Nhưng Hồ Chí Minh không dám tuyên bố, vì tuyên bố lúc đó thì cả Đông Âu đi theo khuynh hướng này thì không thể thừa nhận Việt nam. Đến năm 1949 cách mạng Trung Quốc thành công, năm 1950 ta mở chiến dịch biên giới, lúc bấy giờ các nước Đông Âu và Trung Quốc thừa nhận. Đi tiếp 5 năm nữa, có thắng lợi chiến dịch Điện Biên Phủ, thì Angiêri đứng dậy đi tiếp con đường cầm súng của Việt nam, bấy giờ Hồ Chí Minh không còn là nghịch lý nữa, mà là dòng thế giới [thứ] ba. Việt nam khai sinh ra dòng thác thứ ba.

Bà ta còn nói, Hồ Chí Minh là người có những tư tưởng đúng, của những thời điểm lịch sử sai. Thể hiện ở tư tưởng độc lập dân tộc, trong bối cảnh năm 1945 lịch sử chưa thừa nhận. Độc lập dân tộc chỉ là khát vọng. Ấn Độ chưa có, Trung Quốc chưa có độc lập. Thời điểm sai ở chỗ tư tưởng Hồ Chí Minh đặt ra sớm như bình dân học vụ. Bây giờ UNESCO đặt ra sự tài trợ, khuyến khích tổ chức dạy học. Tư tưởng đúng, nhưng các nước chưa ủng hộ. Thời điểm lịch sử sai, bây giờ thì đúng. Việc trồng cây Hồ Chí Minh đặt ra cách đây 30 năm, nhưng ngày nay UNESCO mới đặt ra chương trình bảo vệ cân bằng sinh thái.

Năm 1930, Hồ Chí Minh thành lập đảng cộng sản Viện Nam là tư tưởng đúng, nhưng thời điểm sai là quốc tế cộng sản không công nhận, bắt đổi tên là đảng cộng sản Đông Dương. Hồ Chí Minh Minh gửi thư cho quốc tế cộng sản và giải thích lại việc liên lạc giữa 3 nước trên bán đảo Đông Dương chung một kẻ thù là Pháp. Nhưng sự phát triển của 3 nước không đồng đều, Việt nam là nước đông dân, có lực lượng công nhân, có đảng trực tiếp chiến đấu chống Pháp, đó là điều kiện lịch sử của Việt nam. Nước Lào, Miên chưa có điều kiện để thành lập Đảng của mình, việc lấy tên Đảng cộng sản Đông Dương là lấy nước lớn đặt lên hai nước nhỏ là không đúng. Vì vậy chỉ đặt là đảng cộng sản Vịêt nam, đảng cộng sản Việt nam hoạt dộng trong phạm vi quốc gia của Việt nam. Khi nào các nước Đông Đông Dương phát triển thành đảng, thì đảng cộng sản Việt nam đoàn kết với các đảng trên bán đảo Đông Dương cùng nhau chiến đấu chống kẻ thù chung. Tư tưởng Hồ Chí Minh lúc đó là đúng, nhưng sai ở chỗ lúc bấy giờ người ta muốn áp đặt nứớc lớn lên nước nhỏ. Vì vậy Hồ Chí Minh đưa ra cương lĩnh của Đảng ngày 3-2-1930, thì hội nghị trung ương tháng 10 tại Hương Cảng ra quyết định phủ định cương lĩnh của Nguyễn Ái Quốc (tức Hồ Chí Minh ngày nay) đặt lại tên là Đảng cộng sản Đông Dương. Thời điểm sai, nhưng tư tưởng đúng là tư tưởng dân tộc, tôn trọng quyền các dân tộc.

Đến hôm nay ở các nước, dân tộc này chống dân tộc kia cũng là vấn đề dân tộc.Vấn đề này người nước ngoài nhìn sâu, các nhà khoa học Việt nam thấy rằng lâu nay mình nghiên cứu Bác Hồ vẫn là nhìn ở phần ngọn, còn cái gốc chưa đi sâu.

Một người Mỹ khác là Ytenson lên nói: “xin phép cho tôi được mặc chiếc áo dài của người mẹ Việt nam. Người mẹ đã sinh ra những anh hùng của nhiều thời đại, chống ngoại xâm để bảo vệ tổ quốc mình, và ngày nay chỉ có một bà mẹ đẻ ra thiên tài Hồ Chí Minh, mặc tà áo này, hôm nay tôi mặc tà áo này, không phải mượn cái sang của Việt nam cho mình, mà đây là ngưỡng mộ một sắc phục dân tộc, chưa có một sắc phục phụ nữ nào trên thế giới lại đẹp, có văn hoá về bề dày truyền thống, mà thanh lịch như áo dài Việt nam này”.

Bà ta còn nói đi từ Mỹ sang Thái Lan, rồi vào thành phố Hồ Chí Minh thấy ngỡ ngàng, thấy nữ sinh trong trường đi ra, mặc tà áo dài, nghiêng cái nón đẹp, tôi ngẩn ngơ người ra. Trong khi đó lại thấy nhiều chị em mặc những bộ đồ mà người phụ nữ Mỹ ném đi từ thập kỉ 60, sang thập kỷ 70 không dám mặc, xấu hổ. Nhưng bộ đồ đó lại thấy hiện ra ở Thành Phố Hồ Chí Minh. Bà ta tự an ủi mình rằng: vì đây là thành phố mới được giải phóng 15 năm, trải qua mấy chục năm chiến tranh, ăn mặc như thế nào cũng dễ hiểu. Khi ra Hà Nội , hiểu rõ được bề dày của nền văn minh sông Hồng, nhưng lại thấy đại lộn xộn. Tà áo dài thấy ít hơn ở thành phố Hồ Chí Minh, họ mặc những bộ đồ giống như ở Băng – Cốc, Philippin.

Khi nói về chủ tịch Hồ Chí Minh, bà ta chỉ nói một điểm: Hồ Chí Minh là người mà tôi giành nhiều thời gian nhất trong đời nghiên cứu lịch sử của tôi để tìm hiểu, tôi là tuổi con cháu của Bác Hồ. Cho phép tôi được ca ngợi lời ca muộn mằn của một người hậu thế. Không phải tôi ca ngợi Hồ Chí Minh về Việt Nam chiến thắng đế quốc bên ngoài. Tôi ca ngợi Hồ Chí Minh trong tình hình mà Việt nam mất uy tín quốc tế. Trên thế giới người ta nói Việt nam là vương quốc chuột nhắt, tức là đi ăn cắp vặt không có nước nào nhiều như vậy.

Bà tự bỏ 10.000 đô la đi từ Mỹ sang Pháp để tìm một văn bản gốc về chủ tịch Hồ Chí Minh, bà sang cả Liên Xô nghiên cứu, bà còn đến New York, đến đảo lửa vùng đông bắc của Mỹ, mà Hồ Chí Minh đi tàu xuyên đại dương đến đó.

Bà ta còn kể lại câu chuyện là phải tìm cho ra lai lịch văn hoá của Hồ Chí Minh, mà ngày nay người ta thừa nhận là danh nhân văn hoá. Bà nói: Lâu nay Việt nam mới cung cấp cho chúng tôi lai lịch chính trị Hồ Chí Minh. Bà ta xin lỗi khi nói một điều là: Không hiểu tại sao Việt nam tuyên truyền Bác Hồ sinh ra trong một gia đình nghèo, đã nghèo làm sao học được. Đây cũng là nghịch lý như bà Mile Hơlen đã nói. Ngoài ra còn tuyên truyền Bác là phu khuân vác nhà Rồng, bồi bàn dưới tầu, bồi bếp ở khách sạn Luôn Đôn, là anh nhiếp ảnh…toàn chê Bác, không thấy trí tuệ của Bác ở chỗ nào. Cho nên, khi nói danh nhân văn hoá người ta ngỡ ngàng. Bà nói: Cái này chúng ta có lỗi trong việc tuyên truyền méo mó về vĩ nhân, mà do đầu óc thành phần chủ nghĩa mà hạ thấp tầm vóc của vĩ nhân. Chừng nào hạ thấp vĩ nhân về mặt trí tuệ, thì chừng đó chính sách còn rất coi nhẹ và khinh miệt về chất xám. Một quốc gia coi thường chất xám thì sụp đổ. Cho nên tiếng nói của bà hôm đó là tiếng chuông cảnh tỉnh.

Như vậy người ta nhìn Bác Hồ về nhiều chiều, tìm trí tuệ con người làm nên sự nghiệp hàng đầu ở thế kỉ 20 này. Ta lâu nay bị cái cụ thể, bị cái thực dụng đẩy vào cái cụ thể, người ta quên mất đi. Hai là sợ nói đến tri thức của Bác thì ảnh hưởng, cho là thành phần lớp trên. Cái đó là sự phiến diện trong nghiên cứu vĩ nhân. Nhưng qua nghiên cứu, bà ta thấy rằng việc Bác chọn việc bồi bàn trên tàu là để có được điều kiện đi được nhiều nước, chọn khách sạn là nơi có điều kiện tiếp xúc với nhiều chính khánh. Lâu nay, chúng ta lại coi đó là Bác làm nghề kiếm sống. Không thấy Bác Hồ mượn nơi đó là nơi hội tụ của chính khách thế giới hoặc để làm phương tiện đi xa.

Qua nghiên cứu, bà còn phát hiện thấy: Nguyễn Ái Quốc chơi rất thân với các nhà đại văn hào danh tiếng trên thế giới như hề Sáclô, mà lâu nay Việt nam của các bạn coi nhẹ mặt này.

Bà ta kết luận: “tôi xin ca lời ca về người, bởi lẽ tôi đi lại những nơi có dấu chân của người, gặp lại những người đã biết Người, thấy Hồ Chí Minh lúc trẻ là một người rất đẹp trai, cho nên tôi bây giờ là một người con gái vẫn cứ mơ màng. Nếu tôi cùng thời với người, người không chấp nhận thì tôi cũng theo đuổi bằng được. Vì vậy hôm nay tôi ngưỡng mộ Người bằng cả đầu óc khoa học. Đồng thời với cả tấm lòng của một người hậu thế. Khi tôi đã yêu người và tôn vinh người ở một góc độ khoa học, thì tôi thấy quê hương tôi có tượng thần tự do nước Mỹ. Tôi là nhà sử học, đều lập ra những trang ghi của những nhà chính khánh mỗi khi đến tham quan, chiêm ngưỡng thần tượng Tự do, rồi nghi vào cuốn sổ ca ngợi thần Tự do. Nguyễn Ái Quốc cũng đến New York, đến thần tượng Tự do, cũng ghi vào sổ lưu niệm. Nguyễn Tất Thành cũng khác các nhà chính khách. Bà nói ” trong cuốn sổ đó, chính khách nào cũng chiêm ngưỡng ngôi sao toả sáng trên vương miện thần Tự do, cho đó là ánh sáng tự do, ca ngợi hết lời, duy nhất Nguyễn Ái Quốc đến tượng thần Tự do và nhìn xuống chân thần Tự do, Người ghi: “Ánh sáng trên đầu thần Tự do toả sáng trên bầu trời xanh, còn dưới chân tượng thần Tự do này thì người da đen bị chà đạp, số phận người phụ nữ đang bị chà đạp. Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng, bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc, bao giờ người phụ nữ bình đẳng với người nam giới”. Duy nhất có Nguyễn Ái Quốc nhìn xuống chân tượng thần Tự do, nhìn số phận con người, không chiêm ngưỡng hào quang trên tượng thần Tự do. Chính vì thế tôi tìm ra con người này xem nói và làm có tương tế không? Hồ Chí Minh quả thật nói và làm đi đôi. Tôi đã đến nhà của Người. Lục tất cả của riêng Người, Người không có của riêng. Rất làm lạ, chính khách nào lên cầm quyền đều ra sắc lệnh bảo vệ quyền bình đẳng cho phụ nữ, nhưng khi sắc lệnh ký xong thì ban đêm đi nhà thổ. Thậm chí Tổng thống có 3-4 nhân tình. Thành ra người ta nói một đằng làm một nẻo. Duy nhất có Hồ Chí Minh đứng trước thần Tự do ghi điều đó khi mình còn lầm than. Khi mình làm chủ tịch nước và khi Người qua đời trên giường Người vẫn vắng hơi ấm đàn bà”.

Bà ta xúc động quá nói: Con người khi lên làm chủ tịch nước 24 năm và đến phút qua đời trên giường không có hơi ấm bạn bè, và con người này khi nói lấy dân làm gốc, vì dân, đọc từ buổi ban đầu văn bản người để lại, cho đến khi giành được chính quyền năm 1945, Người sống quan liêu thế nào? Sống tham ô thế nào? Những bộ mặt cuả ông quan chưa gì vừa lấy được chính quyền hôm nay đã xe ông đi trước, xe bà đi sau. Như vậy, hai cái chống quan liêu, tham nhũng từ thủa ấy, chống sự tha hoá sau giải phóng là những ông quan cách mạng.

Tháng 3 năm 1946, trong văn bản của người có viết “Người cộng sản biểu hiện trong sự gương mẫu ăn ở, làm việc. Không phải viết hai chữ cộng sản lên trán mà người yêu đâu”, Người viết như vậy để sống ngay thẳng như người mong muốn, không phải người mượn từ hoa mỹ để người sống sa hoa.

Bà lại nói: “Tôi nói như vậy, nhưng tôi lại thấy thế này, đi lục tư liệu của Người, hóa ra Người có nhiều người yêu lắm. Bà Larod theo đuổi Nguyễn Ái Quốc trong những đêm đi họp chi bộ về, hai người đi trên bờ sông Xen và bà phải viết vào tập nhật ký của bà để lại, khi bà qua đời, con còn giữ tập nhật ký của mẹ yêu Nguyễn Ái Quốc thế nào ? Đi bên bờ sông Xen đã gạ gẫm mà Nguyễn Ái Quốc không nản lòng. Như vậy người ta đi tìm kỹ lưỡng như thế, để tìm nhân cách thời đại. Nên người ta nói thêm nhân cách Hồ Chí Minh là nhân cách của thời đại, không phải tự nhiên họ tô vẽ.

Đối với thế giới họ công bằng, họ tìm đến nơi đến chốn. Bà ấy nói và chính khi tôi đến khách sạn Bostơn ở đông bắc nước Mỹ, nơi mà Nguyễn Tất Thành ở đó, làm thợ nặn bánh mỳ gần 1 năm trời và sau này, chính mấy nhà đại văn hào Châu Âu qua Mỹ đều nghỉ ở khách sạn này, khách sạn này người ta ghi lại tất cả những chính khách đến ở. Trong đó có một người con gái tên là Tôlét quốc tịch Mỹ nhưng là người Pháp. Cô này là ca sĩ, tự nhiên yêu Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Tất Thành rất thích hát và xem kịch, nhất là kịch cổ điển. Bà này mô tả và muốn lôi kéo Nguyễn Tất Thành đi vào nghệ thuật. Bác Hồ của chúng ta yêu nghệ thuật và có tâm hồn nghệ thuật . Nhưng Nguyễn Tất Thành đi không phải đi hoạt động chính khách, mà người đi tìm hướng để cứu nước. Bà Tôlét lúc đó rủ đi và đảm bảo hoàn toàn, bà muốn lấy Nguyễn Tất Thành. Sau này bà Tôlét trở thành đại văn hào, Nguyễn Tất Thành nói nếu tôi có văn bằng thì tôi đã thi năm 1904, ở trong nước. Nếu tôi muốn có gia đình thì tôi lấy vợ, vì tôi có một người con gái ở quê nhà, yêu, mà đành phải bỏ lại trên bến cảng để ra đi.

Vừa rồi tạp chí lịch sử quân sự của Viện quân sự, Trung Tướng Hoàng Phương làm Viện trưởng, viết hồi ký về mấy ông Mỹ sang giúp ta, quân đồng Minh ở Cao Bằng, có viết : “Tôi sống bên cạnh chủ tịch Hồ Chí Minh trong những ngày đầu tiên khởi nghĩa. Chúng tôi có nói tại sao chủ tịch không lấy vợ? Không lập gia đình? Thì chủ tịch nói khi còn trẻ thì phải đi hoạt động. Khi giành được độc lập thì đã già không dám tính đến chuyện đó. Trước khi đi tôi có yêu một người con gái, người con gái rất yêu tôi. Nhưng mà tôi không thể dừng lại ở chuyện yêu đương nữa và sau này đi nhiều năm mất liên lạc, tôi không biết người con gái đó ở đâu nữa tức là Út Huệ”. Nói như thế để thấy vấn đề Bác Hồ ở lẫn trong cuộc sống của xã hội, tìm ra ở con người đó có những nét giống như mọi người, cũng muốn đầm ấm trong gia đình , muốn khát vọng trong tình yêu, khát vọng con cái, chứ không phải không có khát vọng. nhưng lâu nay ta cứ chê, ta cho đó là cái nhỏ bé của con người. Nhưng chính cái đó lớn.

Các đồng chí biết khi tác phẩm “Búp Sen Xanh” của tôi ra đời, đưa bà Huệ ra thì đánh ngay trên báo nhân dân và 5 tờ trong toàn quốc: Sông Hương, Tạp chí lịch sử, Tạp chí triết học, Báo Sài Gòn phê phán, cho tôi là thoá mạ Bác Hồ. Tại sao đưa Bác Hồ vào lĩnh vực tình yêu: Hoá ra bây giờ chúng ta có tội cả, vì có vợ, có con.

Vừa qua bà Ytensơn khui ra một bà khác yêu Bác, một bà ở Boston, một bà ở Nga và một bà ở Quảng Châu phải đành bỏ lại. Một người đẹp như vậy đi đâu lại không có người yêu. Nhưng phải đành bỏ lại. Nói như vậy để nói lên Bác Hồ của chúng ta đấu tranh gian khổ vô cùng, thắng được cái này là gian khổ lắm, không đơn giản đâu.

Bà ở Quảng Châu coi như gia đình anh em mình. Xin nói cho các anh, các chị biết : Ngày 19-9 vừa rồi chủ tịch [?] Phạm Văn Đồng có mời tôi lên, biết là bà người Mỹ này cũng tìm ra một bà ở Quảng Châu yêu Nguyễn Ái Quốc như thế nào. Mà đến khi cụ Đồng cũng đã gặp cuộc sống giữa Nguyễn Ái Quốc với cô này. Khi anh Đồng sang học trường Thanh niên cách mạng đồng chí hội tại số nhà 13 đường Văn Minh, Quảng Châu. Cụ Đồng có đưa cho tôi một tập bản thảo mới viết tay xong “Hồ Chí Minh quá khứ, hiện tại, tương lai” đây là một công trình lớn, đọc xong giống như thể loại “Hồ Chí Minh một con người, một dân tộc, một thời đại”.Trong cuốn này có chương “về đời sống riêng” của Bác Hồ. Cụ công bố: năm 1927, cụ sang học bên Quảng Châu thấy Bác Hồ lúc đó là Nguyễn Ái Quốc có một gia đình riêng, có một người vợ sống êm ấm. Nhưng có lẽ sau này do hoạt động Bác đi nhiều nơi và sự xa cách đó, gia đình đó đã tan nát hay là không liên hệ được. Tôi viết thơ cho cụ nói đáng lẽ Bác nhờ tôi đọc bản thảo thì tôi góp ý kiến ngay. Nhưng có những vấn đề tôi cần gặp để nói riêng với Bác.

Ngày 19-9 bác mời tôi lên, lần này tôi đưa cả nhà tôi lên để có nhân chứng lịch sử. Tôi đề nghị lần này gặp bác xin được chụp ảnh, cụ đồng ý. Khi lên gặp, tôi nói thật với cụ, nói như thế để được gần bác, nhưng không phải tất cả cái gần nào cũng hiểu biết, việc đó lại khác, hiểu việc đó lại khác. Biết là biết sự việc, nhưng đằng sau sự việc đó là cái gì. Được nói chuyện với cụ gần hai tiếng đồng hồ. Tôi nói bác tháng 3 sang năm tròn 85 tuổi, tuổi tây, nếu tính tuổi ta thì năm nay là 84, cháu năm nay mới 63, bước sang 64. Tôi nói: Cháu nói thật với Bác, đọc bản thảo của Bác, có những vấn đề hôm nay phải nói thật với tấm lòng của người nghiên cứu Bác Hồ. Bác là người học trò trung thành và xuất sắc. Bây giờ nhiều người mạo một ai là học trò xuất sắc của Bác Hồ, người ta làm bao nhiêu chuyện đổ vỡ thế này mà cứ nói là học trò xuất sắc của Bác Hồ, không phải. Bác là người học trò xuất sắc thật. Vì vậy cháu không giấu, có hai vấn đề cháu nắm chưa chắc trong tác phẩm này. Một là lai lịch văn hoá Bác Hồ chưa rõ, mới có lai lịch chính trị. Hai là đời riêng của Bác Hồ mà Bác miêu tả, nếu Bác công bố vấn đề này ra thì gây một xúc động trong dân. Xúc động đó là tại sao lại có chuyện này, chuyện Bác Hồ có vợ ở Trung Quốc mà lâu nay lại nói Bác Hồ không có gì. Cái thật ở đâu? Cái không thật ở đâu? Bác Hồ có gia đình là tuyệt vời, nếu có. Ai cũng muốn cái đó.

Như vậy bà Ytensơn cũng đi tìm thấy Bác Hồ trên đất Pháp cũng có bà, người con gái, cho đến Boston đông bắc nước Mỹ cũng có người con gái yêu. Đến Liên Xô, cũng có bà Liên Xô, đúng bà đó yêu, bà không lấy chồng, khi bà chết toàn bộ gia tài của bà vẫn được chính phủ Liên Xô dưới thời Bregiơnep cất giữ tất cả, bí mật trong đó không ai biết. Năm 1955, tôi đến nhà có gặp bà Liên Xô này, bà đó cũng hé ra vậy thôi. Bà nói là hai người yêu nhau nhưng lấy không dám lấy. Nguyễn Ái Quốc tuyên bố lấy vợ thì phải để lại địa chỉ, phải có con, phải có trách nhiệm làm chồng, và làm cha. Vậy phải neo lại đó, không hoạt động cho sự nghiệp độc lập dân tộc, hai là đã có địa chỉ thì thường lui tới, thế nào đi nữa thì mật thám cũng sẽ phát hiện ra. Cho nên không lấy. Bà đó cũng không lấy ở vậy khi về già. Toàn bộ nhà khi qua đời, thì an ninh quốc gia giữ gìn.

Đến bà Lý Phương Liên ở Quảng Châu là vợ cả của Bác Hồ, lúc này bà này là phiên dịch tiếng Quảng Đông cho Bôrơđin còn Bác Hồ là cục trưởng Phương Nam, thường trực Đông Phương bộ Đảng cộng sản quốc tế đi trong phái bộ của Bôrơđin nhưng đứng danh nghĩa là phiên dịch cho Bôrơđin chính Lý Phương Liên là người phiên dịch cho Bôrơđin, Bác Hồ giấu vai trò lãnh tụ của Phương Nam quốc tế cộng sản. Lúc đó Bác Hồ biết 28 thứ tiếng, sành sỏi nhất là 12 thứ tiếng.
Bác về Quảng Châu và đón người trong nước sang học. Đồng thời lúc đó đang chuẩn bị thành lập Đảng, tiếp xúc với các giới cách mạng trong nước đang hoạt động, trong đó có Nguyễn Thượng Hiền. Cháu cụ Nguyễn Thượng Hiền hoạt động trong cách mạng, tức tay sai cho Pháp. Mà sau này nó đã phát hiện được. Chính tay này nó báo cho Pháp bắt cụ Phan Bội Châu ở Quảng Châu Trung Quốc: Do đó Nguyễn Ái Quốc về đó đóng vai phiên dịch, nhưng bên trong là lãnh đạo, cho nên cô Lý Phương Liên thư ký của Đông Phương bộ. Cục Phương Nam đóng là vợ của Nguyễn Ái Quốc vợ Lý Thuỵ. Các đồng chí trong nước sang học, trong đó cụ Phạm Văn Đồng. Lúc đó bí mật, không ai dám hỏi. Nhiều anh em sang thấy Nguyễn Ái Quốc ăn ở, đồng chí Lý Thuỵ có gia đình như vậy, và che mắt ở phố Văn Minh, cả hai vợ chồng. Cho nên cụ Đồng cũng tưởng là hai vợ chồng thật. Hôm đó, tôi đưa Bác cả tư liệu, đây là cụ Vương Thúc Oánh, con cụ Vương Thúc Quý (thày học của Bác Hồ), Vương Thúc Oánh lấy con gái Phan Bội Châu là Phan Thị E (Vương Thúc Oánh là một trong người thành lập Việt nam Thanh niên Đồng chí Hội) là Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong, Vương Thúc Oánh…

Vương Thúc Oánh kể lại với cụ Nguyễn Sinh Khiêm tại làng Sen, cụ Oánh ký, cụ Khiêm ký vào đây là chuyện khi ở bên đó nhiều người tưởng rằng Bác Hồ, Nguyễn Ái Quốc có vợ. Ông Khiêm nói: Hôm nay anh nói về cậu Thành của tôi cũng mang tiếng có vợ, thì tôi đây đã tưởng mang tiếng có vợ. Năm tôi ra tù bị quản thúc ở Kim Long (Huế) một gia đình có con dâu, vừa đẻ cháu trai thì chồng chết, cô này ốm nặng, thầy lang chịu không chữa được , bỏ hết. Gia đình có treo giải ai chữa được người con dâu đó thì sẽ hiến cả gia đình, hiến cả cô gái này. Dù người thày lang đó có bao nhiêu vợ, mặc kệ. Tôi đã đến chữa khỏi, và ở nhà ông đó ăn, uống rượu bốn tháng cho nó đã. Thế là người ta tưởng tôi lấy bà đó, thực ra tôi có lấy đâu. Sau này, người ta tưởng tôi cũng có vợ ở đó thực ra tôi có vợ, có con rồi.

Nói như vậy để thấy rằng người nước ngoài nghiên cứu rất kỹ về Bác Hồ của chúng ta như bà Ytensơn đi tất cả những nơi, để tìm hiểu cho ra vấn đề. Còn ta đến nay mới nêu được Bác, vì đi tìm hiểu tận cội nguồn thì rất tốn kém. Cán bộ nghiên cứu khoa học của chúng ta không có điều kiện đi. Tôi có may mắn, có điều kiện hơn, mặt khác tôi không có động cơ mưu lợi gì cả, cho nên người ta tiếp tục đưa tư liệu đến cho tôi.
Vừa rồi cháu của vua Hàm Nghi là ông Tôn Thất Hào, đưa cho tôi tư liệu, có liên quan đến gia đình Bác Hồ, ông Hải Âu đã từng bị Tây giam bên An-giê-ri, ở với vua Hàm Nghi và chôn cất vua Hàm Nghi năm 1903.

Hiện nay nhà cụ Hải Âu ở số 2 Nam Ngư. Cụ đọc tác phẩm “Bông Sen Vàng” của tôi, cụ thấy chi tiết vua Hàm Nghi mang cái áo đẫm máu, khi Tôn Thất Thiệp là người bảo vệ vua đã bị một cái lao vào ngực, khi thằng Ngọc nó vào bắt vua, ông ta vào chém tên Ngọc. Con trai Tôn Thât Thuyết năm đó 16 tuổi đã rút được mũi lao ra thì máu của Tôn Thất Thiệp phun vào áo của vua Hàm Nghi trong đêm 1-11-1888 tại Miền Tây Quảng Bình. Ông ấy đã ôm vua Hàm Nghi, quỳ xuống nói được một câu: Thần nhận tội đã không bảo vệ được Hoàng Thượng. Bấy giờ vua Hàm Nghi mới cúi xuống bế anh đó lên đặt vào giường của mình và lấy áo bào đắp lên, ông mang luôn áo mặc ở trong là áo sồi, đẫm máu Tôn Thất Thiệp.

Ông Hải Âu chôn vua Hàm Nghi năm 1903. Trước khi vua chết trao cho ông cái áo thấm máu, khi đi đày ông mang theo, không thể bỏ cái áo mà người bảo vệ mình, vì mình mà hy sinh. Ông Hải Âu ở số 2 Nam Ngư đã giữ cái áo và thanh gươm và một số kỷ vật nữa của vua Hàm Nghi trao cho, trước khi ông chết, ông này đang giữ ở thành phố Angiêri (Angiêri).

Năm 1946, phái đoàn của Bác Hồ sang, ông Hải Âu được Bác Hồ xin cho về nước, ông có tham gia chiến đấu và tham gia chiến dịch Điên Biên Phủ, ông là hội viên hội sân khấu Việt Nam, năm nay cụ 77 tuổi ta 78 tuổi tây, ông có bà vợ bên đó, nhưng ông nói tránh là có người bạn chí thân. Sau này, mới bết có vợ, có con. Tất cả những kỷ vật đó vẫn để vợ con giữ. Ở bên này cụ có vợ, có con, vừa rồi, cụ hỏi tôi tại sao anh biết chi tiết vua Hàm Nghi thấm máu của Tôn Thất Thiệp trên cái áo? Tôi là hậu thế, nhưng mà cụ Nguyễn Sinh Khiêm ở … ( đoạn này nghe không rõ) … 1895 với cha, hai anh em Bác Hồ được biết tất cả chuyện này kể lại với tôi. Cho nên tôi mới viết vào “Bông Sen Vàng”. Ông ta nói nhờ tôi viết thư đề nghị với cụ Đồng cho sang lại Angiêri, ở bên đó còn giữ cả kịch “Con rồng tre” của Bác Hồ mà vua Hàm Nghi rất thích cuốn này.

Hồi đó Bác viết “Con rồng tre” là đả kẻ địch, cho nên Hàm Nghi đọc tác phẩm này rất tâm đắc là Khải Định không đủ đại diện cho đất Việt nam này, vừa rồi tôi có thông báo cho cụ Đồng, cụ Đồng gặp cụ Hải Âu, để bố trí cho cụ đi thăm Angiêri tìm lại những kỉ vật.

Đi tìm tư liệu Bác Hồ còn rất nhiều năm tháng, phải có nhiều cách, nhiều người ở nhiều địa hạt thời mới tìm ra được. Trong hội thảo, bà Ytensơn đi tìm công phu hơn cả. Bà đến tận nơi, bà có tiền, bà bỏ ra hàng vạn đô la để đi. Bà mới 37 tuổi, bà rất công phu, tìm rất kỹ lưỡng. Bà còn nói vần đề thứ hai là cái bi kịch. Còn bà Milehơnlan mới nói mặt Bác Hồ là nghịch lý và sự ngộ nhận hay là tư tưởng đúng của những thời điểm sai, nói trên những cái mang tính tưởng tượng. Còn bà Yetensơn nói Hồ Chí Minh là bi kịch , cái đó trùng với cụ Đào Phan (em nhà văn hoá Đào Duy Anh) cũng nghiên cứu bi kịch anh hùng ca là Hồ Chí Minh. Nói như vậy để thấy Bác Hồ của chúng ta mang bi kịch thời đại. Ta nói bi kịch ở đây không phải là buồn nhỏ nhặt, nói bi kịch CNXH 70 năm nó là bi kịch thời đại. Mà cái đó này trong quá trình xây dựng CNXH nhất định phải có sai lầm.

Qua nghiên cứu thấy CNXH không thể thất bại, chủ nghĩa cộng sản là mơ ước nhất định phải đi tới. Ngày hôm này nó đổ. Ai chịu trách nhiệm? Lịch sử phải phán xét? Nhưng phải thấy không cải tổ, không đổi mới cũng chết. Nhưng phải thấy đổi mới, cải tổ đánh vào quá khứ, xoá cha ông đi thì không thể được. Tôi thấy tổng kết lịch sử thì lại đánh vào quá khứ. Mà trong quá khứ, có cái đúng, cái sai. Ai lại biến Stalin cũng như Hitler. Thảm hoạ năm 1945, nếu không có Liên Xô thì làm sao cứu được nhân loại.

Như vậy người ta biến Stalin như Hitler. Người Liên Xô viết như thế thì chết. Nó ảnh hưởng sang ta cũng thế. Người ta đào quá khứ, chửi cả Quang Trung, người anh húng đánh 20 vạn quân Thanh. Đụng đến biểu tượng đó là đánh vào niềm tin của cả dân tộc, là không được. Hay là để đến Nguyễn Du là còn lai của một nền nho học, không được. Một con người vĩ đại đến đâu cũng có mặt khuyết trong quá trình chiến đấu.

Phải nhìn ông cha công bằng. Xét cha ông mà lấy cái hôm nay làm chuẩn thì không hiểu được cha ông. Vậy bi kịch Hồ Chí Minh là ở chỗ nào? Cũng do tầm nhận thức của những người gần gũi Bác Hồ, học trò Bác Hồ khoảng cách xa quá. Nói bi kịch là nói trên nghĩa đó tức là Bác Hồ vĩ đại, lớn, lớn đến mức vượt ra ngoài tầm tổng Bí thư đầu tiên, cho đến tổng bí thư ngày hôm nay là khoảng cách xa quá. Mà nước ta có vị trí đứng đầu Đông Nam Á. Nước nhỏ, đứng đối mặt với Tây Á, có vị trí chiến lược. Vì vậy, giờ đây người ta mới ngộ nhận tại nước ta, ông cha mình có Bác Hồ đánh lâu dài quá, nên thua chị kém em, thua các con rồng Châu Á.

Khi bà Ytensơn đến nói có con rồng vàng Nam Triều Tiên, có con rồng xanh của Việt Nam, có con rồng Băng Cốc là nhờ có Việt Nam. Vì năm 1953, quân Mỹ sang đánh Việt Nam, Mỹ không thể chở hàng chiến tranh từ Mỹ sang được, phải đặt hàng ở các nước này. Vì vậy các nước xung quanh đều làm hàng chiến tranh tâm lý, mà phát triển trong mấy năm qua, không phải bỗng dưng họ trở thành con rồng vàng, rồng xanh.

Các nước đều tham gia chiến tranh Việt Nam, những dàn pháo Tân Tây Lan, hai sư đoàn của Nam Triều Tiên chốt ở nam trung bộ đánh ra đến Bình Định, đánh vào đến Biên Hoà. Đất nước chúng ta chịu đau, với thế lực đế quốc chưa chịu nhả thuộc địa thì ta lại phải đương đầu. Bác Hồ chúng ta đi hàng đầu trong giải phóng dân tộc, con cháu phải đứng trụ trên mảnh đất để chiến đấu giữ độc lập. Đến bây giờ các nước phát triển.

Sau chiến tranh, những người kế tục sự nghiệp của Bác sai lầm về đường lối kinh tế, dẫn dắt đất nước chúng ta đi vào ngõ cụt. Đại hội VI đã nhìn ra ngõ cụt đó, nhưng trong đó cũng có những đồng chí cho rằng 15 năm tới, chậm nhất 20 năm phải vượt qua các nước tiên tiến. Trong 5 năm tới tuyệt đại dân có ti vi, tủ lạnh. Có ảo tưởng đó là do chấn thương thần kinh. Sau khi đại thắng mừng quá, mất phương hướng, lúc đó nhìn Bác Hồ cũ kỹ mất rồi, mất lòng tin từ các đồng chí có trách nhiệm.

Thanh niên thấy sự đổ vỡ, thấy ông cha mình 30 năm đi dép cao su, thì bây giờ mình đi tìm cái khác, mình trách thanh niên không nên. Hồi đó có đồng chí trung ương nói Bác Hồ cũ rồi, Bác bị Nho giáo khép kín lại. Bác là anh hùng giải phóng dân tộc tuyệt vời, nhưng Bác không phải là nhà tư tưởng, Bác chỉ có tác phong đạo đức, nhưng người ra không thấy rằng điều lệ hợp tác xã Bác có viết một câu mà người ta không để ý, bỏ đi đó là “việc xây dựng hợp tác xã hết sức tự nguyện, không ép người ta”. Nhưng lâu nay người ta ép dân, Bác Hồ nói tại Nam Định: “Làm kinh tế thì phải khoán, khoán là ích chung và lợi riêng đó mới là kích thích sản xuất”. Ông Kim Ngọc, Bí thư tỉnh uỷ Vĩnh Phú nghe được về thực hiện ở Vĩnh Phú thì bị đánh chết ngay. Sau này mới tháo gỡ ra. Nói đến bi kịch của Bác Hồ không phải chỉ có lịch sử, mà bi kịch ngay trên đường lối.

Bài ca do Bác chọn, để hô hào đi đánh giặc. Bây giờ xây dựng CNXH bỏ bài Quốc ca đó, bỏ mười mấy triệu đồng, đi thi chọn bài quốc ca. Nhưng không chọn được bài nào. Bỏ quốc ca là phạm quy, bỏ một niềm tin mặt khác bỏ đại tướng tổng tư lệnh Bác Hồ chọn. Do đó thanh niên nghĩ ngay như ông Võ Nguyên Giáp cũng vứt xó và giao làm Trưởng ban sinh đẻ có kế hoạch thì như mình ăn thua gì?

Vì Võ Nguyên Giáp là một trong hai học trò giỏi. Thời đó ai học giỏi thì được học bổng của Pháp. Đến Đại hội V, có đồng chí đưa ra ý kiến xem lại Võ Nguyên Giáp có ăn học bổng của Tây như vậy có làm gì cho Tây không? Thằng chánh mật thám phải phục khả năng của ông Giáp nên viết thư hỏi thăm ông Đặng Thai Mai. Đây muốn nói bi kịch Bác Hồ, muốn nói bi kịch thời đại sau chiến thắng. Người là lãnh tụ soi sáng đó bị tầm nhìn thấp làm đảo đi. Sau chiến thắng người dân chờ đợi làm lễ tế vong giải oan cho người đã chết. Ta không làm lễ hạ cờ mặt trận hai màu để đưa vào Bảo tàng. Chiến thắng xong rồi xẹp, tất cả cái gì thiêng liêng nhất, trở thành tầm thường nhất thì nguy rồi. Một người tổng tư lệnh, đồng thời tư lệnh các mặt trận biên giới, mặt trận Hà Nam Ninh, đến tư lệnh mặt trận Điện Biên Phủ.

Năm 1954, kỉ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, một số nước Châu Phi cử đoàn sang, thế giới chuẩn bị tổ chức chiến thắng Điện Biên Phủ. Trong nước tổ chức kỉ niệm, lúc đó có một kẻ nêu mưu đặt ra cho Hội đồng bộ trưởng, giao chức trưởng ban sinh đẻ có kế hoạch cho ông Giáp, ông Tổng tư lệnh ngày xưa, nay làm Trưởng ban sinh đẻ có kế hoạch giữa lúc kỉ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ thì chết rồi. Anh Giáp không nhận là vô nguyên tắc vô tổ chức, là con người này cũng thích địa vị. Nếu nhận thì cũng rất gay. Người nào mà tức khí thì tức ngực mà chết. Việc sinh đẻ có kế hoạch là việc nhân đạo, nhưng đây không phải là việc dính đến mình, nhưng giao cho anh, giữa lúc kỉ niệm chiến thắng lớn, mà sỉ nhục, mà ức, mà có tthể bị tâm thần, ông Giáp đứng trước cái đó phải nhận. Hàng tháng phải đến báo cáo với Bộ trưởng Bộ y tế tỉnh này sinh đẻ thế nào? Tỉnh kia sinh đẻ thế nào?

Hà nội có câu: Lập nghiệp cây đa Tân Trào, nay sụt nghiệp ở cây đa nhà Bò (nơi sinh đẻ ở quận Hai Bà Trưng) thanh niên Hà Nội lúc đó bàng hoàng. Từ báo ảnh kỉ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ phỏng vấn Đại tướng, đăng ảnh Võ Nguyên Giáp ở đầu góc trang nhất. Hồi đó bộ chính trị bắt duyệt, cái gì dính đến Võ Nguyên Giáp phải đưa ra Bộ chính trị. Đưa sang anh Thọ góp ý, anh …(nghe không rõ) góp ý thế này, đến anh …(nghe không rõ) gạt bỏ ảnh. Hôm tôi nói chuyện với các giáo sư của Bộ giáo dục, học sinh mất lòng tin. Không phải tin từ đây. Tại sao bà Vương Thị Oai mua công trái nhiều nhất Hà Nội được đưa ảnh lên trang một báo nhân dân, tại sao Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh địch giỏi nhất thì lại xoá ảnh: Vậy ai có tiền mua nhiều công trái hơn những bà mẹ có 3 con hy sinh ngoài mặt trận. Lịch sử công bằng ở chỗ nào? Sao lại đổ cho thanh niên. Như vậy bi kịch ở chỗ nào? Nhà khai phá là Hồ Chí Minh lập ra cái gì ban đầu thì hôm nay ta bắt đầu xoá.

Đừng bỏ xong từng ấy (?) bỏ Việt Nam dân chủ cộng hoà, bỏ Đảng lao động thành Đảng cộng sản, bỏ quốc ca, bỏ Tổng tư lệnh xong, chuẩn bị bỏ Thủ đô Hà Nội . Mà thủ đô Hà Nội có cả bề dầy sông Hồng, Bắc bộ này. Hôm nào các anh lên, tôi chìa văn bản chính thức cho xem. Vu cáo là: Nước Việt Nam ta rồi đây sẽ tiến lên CNXH “là trung tâm của Đông Nam Á, thì thủ đô Hà Nội hẹp, do đó phải đưa thủ đô nước Việt Nam vào Tây Nguyên. Sau Đại hội V chuẩn bị đưa vào Đắc Lắc làm trung tâm của Châu Á và cả Đông Dương.

Chúng ta phải nhìn lại, bây giờ đã thấy được rồi. Đảng ta bắt đầu khôi phục lại con đường Bác Hồ. Phải nhìn lại, để thấy chúng ta đi qua một giai đoạn khủng hoảng, mà xem xét lại nhiều vấn đề lịch sử. Khi đã xét lại vấn đề lịch sử thì nó đổ vỡ lòng tin. Cho nên mới sinh ra nhà văn này, nhà văn kia định đánh vào cha ông sau 6 tháng kỉ niệm Quang Trung mới làm xong cái tượng Quang Trung, nứt nẻ rồi. Nước ta nhiều đá hoa cương, nhiều đồng nhưng tượng Quang Trung được làm bằng xi măng.

Tháng 2 năm 1984, hội đồng khoa học hàn lâm Hoàng gia Anh chọn được 90 vị tướng để xét danh nhân thế giới. Hội đồng các nhà khoa học này đã mời các nhà khoa học thế giới đến, xét 90 vị tướng này, để lấy 10 vị tướng. Việt Nam được hai người, (một người chết, một người sống). Người chết là Trần Quốc Tuấn Hưng Đạo Vương. Người sống là ông Giáp. Xét danh nhân thế giới ở tầm vóc kháng chiến có ý nghĩa quốc tế. Ông Trần Hưng Đạo đánh 3 lần thắng quân Nguyên, vì quân Nguyên là nguy cơ đối với thế giới. Họ bỏ phiếu 100%. Ông Võ Nguyên Giáp đánh Nhật phát xít, thắng Pháp, thắng Mỹ, Võ Nguyên Giáp cũng 100% số phiếu.

Trong 10 danh tướng từ cổ đại đến hiện đại, các ông chết hết, duy nhất và danh dự cho Việt Nam, một tướng còn sống. Nhưng ta không dám đưa tin. Giới trí thức ra nước ngoài đọc báo thấy được, ta bịt thế nào đựơc. Đưa tin là khích lệ tinh thần dân tộc của mình, người ta thấy hả dạ là tiễn con em mình ra trận làm lính của ông tướng này đã đánh thắng quân xâm lược. Đây là niềm an ủi, xúc phạm đến ông đó là xúc phạm đến vong linh con tôi và xúc phạm đến cả tôi. Vì tôi giao con cho ông tướng đó. Ông tướng đó hôm nay được giao việc cầm quần cho đàn bà là tôi không chịu. Xúc phạm đến cái đó không phải là xúc phạm cá nhân. Người ta dẫn con ra trận 3 lần. Bản thân người ra đi dưới cờ của vị tướng này, sao hôm nay vị tướng đó bị xoá thì nó mất lòng tin vào hiện tại, không phải mất lòng tin đối với người đó.

Chúng ta phải nhìn thấy hết cặn bã trong thời gian qua, để đi đến Đại hội VI. Củng cố lòng tin từ Đại hội VI. Nếu không có Đại hội VI mở ra thì chúng ta đổ. Cho nên phải củng cố lại, đi trở lại con đường mà Bác Hồ đã chọn. Nhưng đã thật hay chưa? Việc anh Giáp vừa rồi, giáo sư Nguyễn Huệ Chi gặp tôi nói ” Làm sao đưa tin về anh Giáp ngày hôm nay chậm thế này” tôi nói là tôi là nhà văn khác, còn anh là giáo sư, không làm rõ thì anh phải chịu trách nhiệm.

Anh Huệ Chi viết một bài nghiên cứu văn học đời nhà Trần, đăng trên tạp chí văn học. Trong đó bàn đến Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo. Trần Hưng Đạo vừa được viện hàn lâm Hoàng Gia Anh bầu là một trong những danh tướng thế giới. Viện Hoàng Gia Anh còn bầu một đồng chí nữa là danh tướng. Sau đó anh Nông Quốc Chấn viết lên báo quân đội một bài thơ ca ngợi anh bộ đội cụ Hồ. Anh bộ đội cụ Hồ đó có một danh tướng trong 10 danh tướng của thế giới. Dưới chú thích danh tướng đó là Võ Nguyên Giáp. Ông nhà thơ dân tộc nói ra như vậy, còn tôi đi nói và chỉ được nói trong nội bộ cơ quan thôi, nếu vì cá nhân mình thì tôi nói cách khác để được lòng người này người kia. Mình nói về lịch sử thì phải nói cho đúng lịch sử. Nhưng nó chạm đến người này, người kia.

Chúng ta theo dõi, đây là công dân, ta lĩnh hội (?). Đây là sự tồn tại của cả dân tộc, cũng là sự tồn tại của ta và con em ta. Phải theo dõi từ nay đến Đại hội VII có thật sự Đảng ta đi theo con đường Bác Hồ hay không? Vì đến nay, cả nhân loại thừa nhận Bác Hồ. Đến bây giờ Bác Hồ có thể có khuyết điểm, có thiếu sót, trong khi làm việc, trong quá trình người thành nhân, thành nghiệp. Trong quá trình này không thể không có thiếu sót khuyết điểm. Nhưng thiếu sót khuyết điểm là cả cuộc đời người chiến đấu cho đại nghĩa. Không phải vì cá nhân, vì hạnh phúc của riêng mình. Chúng ta phải nhìn vĩ nhân bằng thái độ và tình cảm. Từ đó nhìn Đảng ta có thật sự đi theo con đường của Bác hay không? Thể hiện có thực sự trị bọn tham nhũng hôm nay không?

Đánh tham nhũng không chỉ đánh Thân Chung Hiếu. Đây mới là con nhép con, chưa phải đánh đến át chủ bài, karô…vì theo những nguy hiểm vô cùng lấy 10 phá 100. Còn việc con ốm đau, người vi phạm đến đồng tiền thì cũng thông cảm. Có người có hàng trăm, hàng nghìn cây vàng mà lấy của nhà nước, lấy của tập thể hàng tỷ thì phải trị. Có người sắp chết, không đi chữa bệnh ở các nước XHCN mà đi sang Phương Tây. Không phải sang đó tìm danh y đâu. Là sang đó để chuyển khoản quyền sở hữu tiền ngoại quốc của mình cho con, để về nhắm mắt mới yên. Đảng ta có những người thế này trong giới lãnh đạo. Mà dân có mắt, nhìn thấy tất cả.

Lịch sử bây giờ cũng xuyên tạc, mỗi người lớn lên cũng thêm thắt tất cả lịch sử của mình. Là xuyên tạc lịch sử một người, người này qua người kia, thì nó ảnh hưởng đến cấu trúc, đến sự hình thành lịch sử một dân tộc trong từng giai đoạn. Rồi đây do đấu tranh phải sửa.

Đồng chí Lê Duẩn lúc sinh thời là thanh niên yêu nước vĩ đại. Người ta đáng kính, khi ở trong Nam chiến đấu cũng đáng kính. Nhưng sau khi giải phóng miền Nam, đám thầy dùi tự nhiên lại mạ ngọc, mạ vàng lên lịch sử không đúng. Đưa ra chuyện sở dĩ có chiến thắng miền Nam là nhờ có nghị quyết 15. Có nghị quyết 15 là do anh Ba Duẩn từ trong Nam ra, triệu tập hội nghị Trung ương chỉ ra đường lối kháng chiến miền Nam lúc đó. Tại sao Bác Hồ còn sống lại nói như thế được? Chúng tôi là những người nghiên cứu không chấp nhận. Nhưng chính thống viết lên thì làm thế nào.

Báo Nhân Dân đăng, tạp chí lịch sử đăng, các đồng chí tìm số 4 tháng 4-1990, tạp chí lịch sử Đảng đăng rõ tác giả nghị quyết 15 là Võ Nguyên Giáp, trong đó diễn giải rõ ràng: Khi đánh thắng Pháp ở Điện Biên Phủ thì bên ngoài phải chuẩn bị hội nghị Giơnevơ. Khi đưa đồng chí Phạm Văn Đồng đi thì thì Bác Hồ triệu tập Trung ương nhận định tình hình. Tình hình như vậy có thể có hiệp định hai miền (một miền được giải phóng, một miền có chiến tranh), hai miền còn khác nhau, cuộc đấu tranh còn gay go. Đây là văn bản về ngoại giao mà đấu tranh về pháp lý. Chúng ta vẫn phải xây dựng thực lực. Giải phóng miền Nam, không thể chờ đợi văn bản này, sau đó Đảng cộng sản Trung Quốc mời Đảng ta sang. Bác Hồ đi với đồng chí Võ Nguyên Giáp và đồng chí Trần Văn Quang (phó tổng tham mưu trưởng, cục trưởng cục tác chiến) sang gặp Chu Ân Lai. Chu Ân Lai muốn ép Đảng ta: Miền Nam là việc của miền Nam, chổi cán ngắn không tốt, không làm được. Miền Bắc cứ làm ở miền Bắc, đừng có chi viện cho miền Nam. Khi nào có điều kiện thì làm miền Nam, đừng có xây dựng lực lượng. Bác Hồ không tán thành, trên đường về với Bác, anh Giáp suy nghĩ phải chuẩn bị lực lượng đối phó với tình hình miền Nam không đơn giản.

Khi về đến nhà, báo cáo tình hình với Trung ương, Trung ương lúc đó ít, chất lượng. Trung ương ta bây giờ đông lắm, nhiều ông lèm nhèm lắm. Không phải tiêu biểu trí tuệ, có ông tiêu biểu, có ông không tiêu biểu. Phải nói sòng phẳng như vậy. Bác họp Trung ương lại nhận định, lúc đó đồng chí Lê Duẩn mới ở trong Nam ra. Trong tạp chí ghi rõ: Thường vụ Trung ương tức Bộ chính trị, giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp đi xuống Đồ Sơn khởi thảo ra nghị quyết 15. Đồng chí Võ Nguyên Giáp được lấy hai người để chuẩn bị văn bản đó là Hoàng Tùng và Trần Quang Huy. Các anh xuống Đồ Sơn 15 ngày viết và trở về trao cho Bác. Bác đọc xong và triệu tập Bộ chính trị, anh Trường Chinh, anh Lê Duẩn góp một số ý kiến. Sau đó đưa ra Trung ương thành nghị quyết 15. Vậy tác giả của nghị quyết 15 là Võ Nguyên Giáp. Nhưng lâu nay hiểu nghị quyết 15 của anh Ba. Không có cái này anh Ba vẫn là anh Ba, thêm cái đó không phải là lịch sử. Tự nhiên làm cho con cháu hôm nay, nghi ngờ chuyện khác. Nguy hiểm ở chỗ không trung thực một điểm, làm cho người ta nghi ngờ nhiều chuyện khác.

Sau khi công bố di chúc của Bác lên báo, văn bản của Bác chỉ có chữ chứng kiến, dưới ký Lê Duẩn. Nhưng không đề ngày tháng. Viết lần thứ nhất, ý kiến anh Vũ Kỳ không có nói Bác viết đến đoạn đó có Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đến ký vào văn bản của Bác. Đã gọi là tuyệt đối bí mật, sao lại đưa cho người khác ngay lúc Bác còn sống là thế nào? Để chứng kiến như vậy hoá ra Bác Hồ bị ông Lê Duẩn khống chế bên cạnh, viết đến đâu ông chứng kiến đến đó, thì còn gì là di chúc.
Đưa lên báo đã thế rồi, đến tái bản lần thứ hai, ông đó đưa vào, lần thứ nhất không có, lần thứ hai đưa vào chữ “Bác Hồ vừa viết thêm một chữ này thì đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn sang và đã ký chứng kiến vào văn bản đó”. Khi in ra, tôi viết thư cho anh Vũ Kỳ nói rằng các anh còn sống, để người ta áp đặt chữ nghĩa lên văn bản thiêng liêng của Bác Hồ, văn bản cuối cùng. Bây giờ các anh không làm rõ vấn đề này thì sau này các anh nhắm mắt, hậu thế sẽ không tha thứ các anh. Thế thì vừa rồi lại in, ông…(nghe không rõ) và viết lên lá thư là “điều anh kiên quyết đấu tranh, thì hôm nay chúng tôi đấu tranh đã thắng”. Tái bản thứ 3 đã bỏ dùng “chứng kiến” đó.

Văn bản Di chúc của Bác Hồ như vậy mà người ta còn áp đặt. Trong tay tôi có hai quyển, có ghi cả người viết hồi ký là đồng chí đại tá Ngô Thế Kỷ, viết cho anh Vũ Kỳ, đấu tranh từng bước để trả lại giá trị thật những con đường của Bác Hồ, chứ không thì người ta mượn Bác Hồ, nói Bác Hồ, nhưng bên trong làm việc khác.
Bác Hồ thật sự của dân, ai cũng nói dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra. Nghe vấn đề này thấy không có nước nào dân chủ bằng nước ta. Không có người nào việc gì dân cũng biết làm, dân bàn, dân kiểm tra. Kiểm tra thế nào được. Bây giờ tôi chỉ mong làm cho đúng pháp luật, không phải cái gì dân cũng phải biết. Có vấn đề tuyệt mật dân mà biết, thì kẻ thù cũng biết thì làm sao được. Vấn đề là anh thay mặt cho dân, làm đúng nguyện vọng của dân. Không phải làm việc gì cũng phải đưa cho dân biết bàn. Việc đại sự quốc gia, đưa ra dân bàn thì bên kia họ biết thì gay. Làm quân sự, bí mật về quân sự, làm kinh tế bí mật về kinh tế. Dân biết ở đây phải hiểu theo nghĩa pháp luật. Làm cái gì để đảm bảo quyền tự do, dân chủ cho người dân. Pháp luật trị người dân, mở cửa cho anh khác có quyền, có chức tha hồ muốn làm gì thì làm.

Chúng ta đang đi vào cuộc đấu tranh, để đi vào cương lĩnh mới. Cương lĩnh Đại hội VII, lấy con đường Bác Hồ làm chuẩn. Anh em tôi thường nói với nhau là cuộc đấu tranh này phải xét lại từ gốc. Tôi viết tiểu thuyết, viết dưới dạng loại hình nghệ thuật cho người đọc, đảm bảo tính sự kiện, tính chân thực của lịch sử, được hư cấu, làm cho phong phú về nhân vật, về vấn đề. Mặt khác giới nghiên cứu có đồng chí đang nghiên cứu vấn đề mà Bác Hồ chúng ta bị xuyên tạc từ năm 1930.
Khoảng 1 tháng nữa, tôi gửi văn bản đã in xuống cho các anh, các chị đọc. Để các anh, các chị thấy xuyên tạc Bác Hồ từ tháng 10 -1930. Bác Hồ viết luận cương đầu tiên và điều lệ Đảng hoàn toàn phù hợp với tình hình thế giới ngày nay. Chính vì vậy, thế giới nhìn Bác Hồ từ gốc. Thấy Bác Hồ đi từ gốc đến ngọn nhất quán. Con người hoàn toàn vì dân, vì nước mình. Đấu tranh tôn trọng nước mình, thì cũng tôn trọng nước họ. Con người không có riêng tư, huống hồ có tàn bạo trong cai trị như các nhà chính khách khác khi cầm quyền. Năm cải cách ruộng đất là ngoài ý muốn của Bác.

Luận cương đầu tiên, Bác đề ra “Đoàn kết các giai tầng xã hội Việt Nam, chống đế quốc làm cách mạng dân tộc và đi lên cách mạng tư sản dân quyền rồi làm cách mạng thế giới tức XHCN”. Nhưng đến luận cương của đồng chí Trần Phú thì bỏ cái đó. Lúc đó chỉ thị của đệ tam quốc tế cho rằng : Quan điểm của Nguyễn Ái Quốc là mơ hồ, là cải lương. Ban chấp hành Trung ương ta làm văn bản báo cáo đệ tam quốc tế rằng chính Nguyễn Ái Quốc gây ra sự mơ hồ, là cải lương cho các chiến sĩ Đông Dương. Vì đoàn kết với cả địa chủ. Hồi đó luận cương của Bác là đại địa chủ, trung địa chủ, tiểu địa chủ, nhưng địa chủ nào cũng có tinh thần yêu nước mức độ khác nhau. Vì vậy chúng ta tranh thủ các tiểu địa chủ, trung địa chủ và lôi kéo cả những địa chủ và tư sản yêu nước để chống đế quốc”.

Ban chấp hành Trung ương kết tội Nguyễn Ái Quốc là mơ hồ, cải lương. Như vậy Bác Hồ định quan điểm hồi đó không nhận được cái lớn, mà Bác Hồ nhìn cả chiều dài gọi là tầm tư tưởng chiến lược. Suốt cả thời gian như vậy, sau đó Bác Hồ bị giam lỏng ở Matxcơva. Cho nên bác làm luận án tiến sĩ “vấn đề ruộng đất ở Châu Á” ở Viện các vấn đề dân tộc. Bấy giờ mới đưa ra bảo vệ, phong giáo sư cho Bác, nhưng Bác không nhận. Chúng ta nhìn ra điều Bác Hồ là người duy nhất, đầu tiên của dân tộc thuộc địa, đi vào đấu tranh để giải phóng dân tộc, sáng chói trang đệ tam quốc tế, nhưng không bao giờ Bác được bầu vào đệ tam quốc tế. Đại hội V quốc tế cộng sản (1924) cho Bác dự, Đại hội VI (1928) không cho Bác dự, cho rằng có quan điểm dân tộc, không có quan điểm quốc tế. Đến Đại hội VII (1935) cho Bác dự với tư cách là tư vấn, tức là nghe, không được biểu quyết. Trong khi đó đồng chí Lê Hồng Phong vào Uỷ viên chấp hành quốc tế cộng sản.
Đến bây giờ thấy Bác hoàn toàn đúng. Ngày càng thấy luận điểm Hồ Chí Minh, từ buổi đầu cho đến hôm nay là đúng. Đảng ta hôm nay khẳng định con đường của Bác là mừng. Còn khẳng định như thế nào, thì chờ quá trình từ nay đến Đại hội VII, và sau Đại hội VII xây dựng đất nước chúng ta như thế nào.

Tôi nói đây với tư cách nghiên cứu để các anh, các chị nhìn lại cả chiều dài lịch sử của Bác, của Đảng ta, phát triển trong một tình hình thế giới từ khi có CNXH đến bây giờ. Hiện nay CNXH đang đứng trước thử thách của thời đại là chuyển giai đoạn từ thế kỷ 20 sang thế kỷ 21, có khủng hoảng này, đổ vỡ gì thì đổ vỡ, nhưng CNXH vẫn tồn tại. Một nhà chiêm tinh học tiên đoán thế kỷ 21 người Liên Xô sẽ thắng, người Nga sẽ thắng.

Từ nghiên cứu của tôi, hôm nay tôi nói với anh em, để chúng ta vững tin và đấu tranh với những cái gì không phải, để bảo vệ cái đúng và xây dựng miếng đất của mình đang sống, chúc các anh chị mạnh khoẻ.–

DANH NHÂN VIỆT dẫn theo  Blog Ba Sàm


Bí Mật Về Sấm Trạng Trình
Chu Nguyễn

Nói tới Kinh Dịch , bàn về Phong Thủy , mà chỉ nói chuyện bên Tàu là một thiếu sót . Vì nước ta là một nước văn hiến bậc nhất Á Ðông , các nhà Nho của ta rất nhiều vị thấm nhuần Dịch Lý , chẳng lẻ không có ai đại diện cho nghành dự tri phúc họa hay sao ? . Hiển nhiên là có và nhiều bậc lỗi lạc như Thiền Sư Vạn Hạnh đời Lý , Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nhà Mạc và nhân vật Tả Ao mà dân gian truyền tụng . Nhưng có điều đáng tiếc là tài liệu về những Thánh Sư nầy không được ghi chép đầy đủ và nếu có một số còn lưu lại hậu thế thì qua hàng mấy chục năm binh lửa cũng khó bảo tồn .

Nguyễn Bỉnh Khiêm được đời truyền tụng là đại Nho , tinh thông số Thái ất và Dịch Lý , để lại cho đời nhiều dự ngôn được gọi là Sấm Trạng Trình . Nhưng tài liệu về Trạng Trình cũng bị nhiều giang hồ thuật sĩ thêm bớt , xuyên tạc , giải thích theo ý mình vì mục đích khác nhau .

Học giả Chu Thiên cho rằng : " Phần đông dân chúng nước ta đều biết đến Trạng Nguyễn Bĩnh Khiêm vì nhờ những việc Trạng đã tiên tri , cứ lần lượt xảy ra đúng như vậy cách hàng mấy trăm năm sau . Cho nên ngày nay hai tiếng " Sấm Trạng " đã thành hai tiếng quen thuộc ở cửa miệng mọi người " .

1/- Một hôm Trạng cùng học trò là Trương Cử bói dịch , được quẻ Càn động hào Sơ cửu , liền bút đoán rằng :

Bói gieo được quẻ Càn Nguyên
Ðộng hào Sơ cửu , rồng còn náu hơi
Sau ta đây nữa tám đời
Nổi cơn binh lửa , khắp nơi chiến trường
Ngưu giang hợp với Bảo giang
Ðại nhân chính vị , bốn phương một nhà .

Người sau cho quẻ ấy đúng vào việc Tây Sơn khởi binh , khắp trong Nam , ngoài Bắc , chỗ nào cũng có binh lửa , sau đến vua Gia Long ra nhất thống thiên hạ , ứng vào câu " Ðại nhân chính vị , bốn phương một nhà " .

2/- Trạng có người học trò họ Bùi , người làng Trung Hàng huyện An Dương ( Kiến An ) rất thông hiểu việc quan lại , Trạng thường bảo :

- Anh ngày sau tất nhiên phát đạt !

Không ngờ Bùi Sinh lận đận mãi , ngoài 50 tuổi mà chưa làm nên công nghiệp gì , có ý không vui , thường nói vụng với bạn môn sinh rằng :

- Thầy ta vốn thông đạt tiên tri , nhưng cũng còn chỗ nhầm , nghiệm như việc của tôi đây !

Trạng nghe biết , cười thầm mà không nói năng gì cả . Một hôm cho gọi Bùi Sinh đến dặn rằng :

- Vận đạt của anh đã tới , anh cứ mượn lấy 10 chiếc thuyền , chực sẳn ngoài cửa bể Vạn Ninh , trên Ðầm Hồng , đến ngày giờ ấy , gặp vật gì trôi , cứ vớt lấy mà mang về . Tiền trình phát đạt của anh ở đó !

Bùi Sinh vâng lời , nhưng trong bụng vẫn không tin . Ðúng y hẹn , quả nhiên thấy có vật trôi ở giữa dòng , Bùi Sinh đem thuyền đón vớt , thì ra đó là 1 bà lão tóc bạc phơ đang bám vào 1 cây gỗ . Bùi Sinh vớt lên cứu sõng được , đem về phụng dưỡng như mẹ già vậy .

Được mấy hôm , quan Tổng Ðốc Quản Ðông sai sứ đem thư sang nói với triều đình Mạc : Bên ấy có Thái phu nhân đi chơi bễ bị đắm thuyền , xem tinh vượng giạt về phương Nam , xin Nam triều vì tình lân bang ra lệnh tìm giúp . Vua Mạc yết bảng cho dân duyén hải đều biết và trọng thưởng cho người nào tìm được .

Bùi Sinh xem bảng , lập tức đưa bà lão vào triều , sứ Tàu cả mừng , đưa rất nhiều vàng bạc , gấm vóc tạ ơn , lại xin nhà vua phong quan tước cho Bùi Sinh .

Bùi Sinh làm đến Thượng Thư Thao quận công , phú quý vinh hoa , đúng như lời Trạng nói .
3/- Trạng tính đến đời thứ 7 thì con cháu sa sút , khi sắp lâm chung viết 1 bức thư để vào ống tre đậy nắp kín , gắn trám đường , cấm con cháu không được mở ra xem , sai biên vào gia phả , dặn con cháu đến đời thứ 7 , giờ ấy , ngày ấy , năm ấy sẽ đem trình quan Huyện sở tại , con cháu vâng lời . Ðến cháu 7 đời là Thời Dương , nhằm đúng năm , tháng , ngày , giờ đem ống di thư lên trình quan . Quan Huyện đang nằm trong tư thất , nghe nói có di thư của Trạng Trình , vội vàng ra tiếp . Vừa ra khỏi chỗ thì cái xà nhà rơi vào chính giữa chỗ nằm ! Quan Huyện lấy làm vui quá . Khi tiếp thư mở ra đọc , chỉ thấy có mấy chữ rằng :

- Ta cứu ngươi cái ách xà rơi ,B
Ngươi nên cứu cháu 7 đời của ta .

Quan Huyện cảm phục vô cùng , từ đấy chu cấp cho người cháu thứ 7 đời của Trạng rất tử tế .

4/- Trong năm Minh Mạng thứ 14 ( 1833 ) . Ở Hải Dương có giặc tự xưng là con cháu Trạng Trình . Nhân bấy giờ có câu sấm truyền rằng :

- " Gia Long nhị đại , Vĩnh Lại vi vương . "

NGHĨA LÀ : Ðời thứ 2 Gia Long , người ở Vĩnh Lại làm vua . Vĩnh Lại tức là huyện của Trạng Trình . Triều đình chiếu cho quan Tổng Ðốc Hải Dương là Nguyễn Công Trứ đem quân về làng Trung Am khám xét và hủy đền thờ Trạng ở nền cũ Bạch Vân . Ông Trứ phụng mệnh đem quân đến phá đền , thấy có bia dựng ở cửa đền khắc mấy chữ rằng :

- Phá đền thờ của ta ấy , không được dự vào Hàng tư văn .

Ông Trứ cũng coi thường , cứ sai quân vào phá , khi phá đến nóc đền chính , lại thấy có mấy chữ khắc rằng :

- " Minh Mạng thập tứ , thằng Trứ phá đền , phá đền thì lại làm đền , nào ai có cướp nước , trang quyền gì ai ! " .

Ông Trứ có ý sợ , truyền quân thôi không phá nữa , rồi về kinh tâu vua Minh Mạng xin làm lại đền . Sau bắt được tên giặc , tra ra không phải là giòng dõi Trạng .

5/- Mộ Trạng táng ở làng Trung Am , bên mộ có bia đá khắc mấy chữ rằng :

- " Bố con thằng Khả , đánh ngã bia tao , phạt cổ tiền Tam Quán . "

Dân làng bấy giờ đều không hiểu ý . Sau lâu ngày cát lồi lấp bia không còn thấy chữ . Ðến đời Thiệu Trị ( 1841 - 1947 ) , có 2 bố con người đánh chuột tê Khà , đào đất bắt chuột , đánh đổ bia , dân làng đến xem thấy chữ khắc rành rành , đều kính phục , bèn bắt phạt bố con tên Khả 3 quan tiền và bắt phải dựng bia lại y như cũ . Nhưng nó chỉ có 1 Quan Tám tiền , xin nài mãi . Và sau dân làng thấy chữ " Tam Quán " là Quan Tám nói lái lại , phải bằng lòng nhận vậy .

6/- trạng có làm ngôi mộ bình dương , đào 2 huyệt , huyệt bên tả chôn tiểu có cốt , huyệt bên hữu đế không
6/- Trạng có làm ngôi mộ bình dương , đào 2 huyệt , huyệt bên tả chôn tiểu có cốt , huyệt bên hữu để không , cũng không đắp nấm . Trong năm Thiệu trị thứ 4 ( 1844 ) , có thầy địa lý chính tông bên Tàu sang làm đất , xem đến ngôi đất ấy muốn để . Có người nói : đã có ngôi mộ Trạng Trình để ở bên tả . Thầy địa lý cả cười bảo mọi người rằng :

- Nghe nói Trạng Trình thánh địa lý , mà điểm huyệt còn nhằm lắm ......

Rồi trỏ vào huyệt bên hữu , thầy nói tiếp:

- Huyệt này không để , lại để huyệt kia , thực là không có mắt !

Bèn bảo nhà chủ khai huyệt bên hữu , đào được mấy thước thấy có tiểu , thầy địa lý xem xét một lúc , nhận là tiểu không , sai cứ đào . Ðến lúc đào được tiểu , mở ra xem , thì quả nhiên không có cốt , chỉ thấy một viên gạch , có khắc mấy chữ rằng :

- " Thử địa , tam bách niên tiền mạch hành vu tả , tam bách niên hậu mạch hành vu hữu , hà vị thánh nhân vô mục ? " .

NGHĨA LÀ : Ðất nầy ba trăm năm trước , mạch di bên tả , ba trăm năm sau , mạch đi bên hữu . Sao lại bảo thánh nhân không có mắt ? .

Thầy địa lý cả sợ nói :

- Thế thời thật là Thánh ! .

Trích : Tuyết Giang Phu Tử của Chu Thiên

Theo : Thời Báo Houston , số : 154 , ngày : Thứ Sáu , 23/10/2009 .

Chuyện chưa kể về sự “trở lại” của sấm Trạng Trình

GiadinhNet - Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha được Bộ VH–TT (nay là Bộ VH–TT–DL) cử làm phim về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nhân kỷ niệm 500 năm ngày mất của ông. PV Báo GĐ&XH Cuối tuần đã có cuộc trao đổi với ông một số vấn đề xung quanh nhân vật lịch sử Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

“Sống lại” sau 500 năm
 
Dù là nhà tiên tri số một nhưng trong suốt 500 năm qua, tên tuổi của Nguyễn Bỉnh Khiêm dường như ít được nhắc đến. Trong sấm truyền Trạng có biết trước được “hậu vận” của mình như vậy không?
 
- Có chứ. Đó chính là lời sấm: “Bao giờ Tiên Lãng xẻ đôi/ Sông Hàn nối lại thì tôi lại về”. Dịch nôm ra nghĩa là bao giờ vùng đất Tiên Lãng bị xẻ làm đôi ra và con sông Hàn được nối lại thì tên tuổi của Nguyễn Bỉnh Khiêm sẽ vang dội trở lại. Đúng như lời sấm, cách đây mấy năm Tiên Lãng bị xẻ đôi ra vì có công trình đào con sông để làm kênh thuỷ lợi.
 
Thời điểm ấy cũng vào đúng 500 năm sau thời đại của ông. Cùng lúc ấy thì có cây cầu được xây dựng nối sông Hàn từ quê Vĩnh Bảo của cụ sang Thái Bình. Cũng từ năm ấy trở đi, tên tuổi, danh tiếng, tài năng kiệt xuất của cụ được sống lại, chứ suốt 500 năm trước đó có ai nhắc đến tên tuổi của cụ đâu, cũng không có ai làm lễ kỷ niệm cả.
 
Cụ thể thì tên tuổi của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm trở lại như thế nào theo lời sấm?
 
- Dường như đây cũng là một cái “duyên” trời định cho tôi. Đó là một câu chuyện hết sức tình cờ. Tôi không bao giờ nghĩ rằng lại có chuyện này xảy ra trong cuộc đời. Đó là vào đầu năm 1991, tôi ngồi với mấy người bạn và nói rằng: “Năm nay kỷ niệm 500 năm ngày sinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm, tôi không hiểu tại sao chúng ta không làm phim về ông”.
 
Câu đó lọt vào tai một người bạn và chỉ hai tháng sau việc đó thành hiện thực. Bộ Văn hoá quyết định làm một bộ phim về Nguyễn Bỉnh Khiêm và lại chọn đúng tôi để thực hiện bộ phim đó.
 
Trong quá trình làm phim, tôi có nhiều thời gian để nghiên cứu kỹ hơn về ông, dù trước đó nhiều năm tôi cũng đã tự tìm hiểu về ông vì vốn dĩ tôi rất kính trọng ông. Quê hương của ông cũng chính là quê hương của tôi, làng Trung Am.
 
Bất ngờ hơn nữa, trong gia phả thì họ Nguyễn Thuỵ của tôi là một cành nhánh của họ Nguyễn Bỉnh. Sau khi phim hoàn thành, Nhà nước quyết định sẽ tổ chức kỷ niệm 500 năm ngày sinh cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm một cách long trọng. Tên tuổi của cụ chính thức được vinh danh trở lại từ ngày đó.
 

Bức tượng chân dung Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

 
Buổi lễ kỷ niệm 500 năm ngày sinh của nhà tiên tri số một Việt Nam có xảy ra điều gì đặc biệt không, thưa ông?
 
- Buổi lễ đó đã đặc biệt ngay từ khâu đầu tiên là chọn ngày, chọn tháng. Lúc đó, cấp trên yêu cầu là phải tổ chức vào một tuần nào đó trong tháng 11. Rất khó chọn ngày vì tháng đó không phải ngày sinh, cũng không phải ngày mất của cụ.
 
Cuộc họp giữa Bộ Văn hoá với các nhà văn hoá, các nhà cố vấn mãi vẫn không quyết được ngày tổ chức lễ. Tôi đề nghị nên tổ chức vào ngày 10/10 (âm lịch), là ngày Tết cơm mới, ngày mà dân tộc ta có truyền thống hướng về tổ tiên. Thế là cuộc họp nhất trí và thống nhất tổ chức ở Văn Miếu.
 
Ngay sau đó, một đợt đại tu bổ Văn Miếu được thực hiện để tổ chức lễ kỷ niệm một cách long trọng. Chọn được ngày rồi, đến việc chọn giờ mới là quan trọng. Tôi chọn giờ Tỵ (từ 9h trở đi), lúc ấy tôi chỉ xem bằng cái tâm thôi vì thực ra tôi cũng không giỏi về lĩnh vực đó.
 
Ngày diễn ra lễ kỷ niệm, trời lại mưa, từ 7h sáng trở đi mưa rất to nhưng đến khoảng 8h30 thì trời tạnh, không khí, khung cảnh ở Văn Miếu sạch sẽ, thoáng đãng. Sau đó trời nắng lên rất đẹp. Điều cảm động nhất là khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào thắp hương thì bát hương hoá ngay (bùng cháy lớn), lửa của bát hương hoá đó rơi vào 4 chén rượu thờ, bốc cháy luôn. Tay máy ngày hôm đó đã ghi lại được hình ảnh này.
 
Thành tựu lớn nhất
 

Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha.


Nguyễn Bỉnh Khiêm đã để lại cho hậu thế những áng văn chương như tập thơ Bạch Vân, Trình Quốc công, Bạch Vân thi tập… Ông đánh giá Nguyễn Bỉnh Khiêm thế nào dưới góc độ là nhà thơ?
 
- Dù sống trước chúng ta hơn 500 năm nhưng ngay từ thời ấy, thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã rất hiện đại. Ví dụ như câu: “Vếu váo câu thơ cũ rích/ Khề khà chén rượu hăng xì”. Ai thời ấy có thể làm được câu thơ như thế. Và ngay cả bây giờ cũng có ai làm được câu thơ như thế đâu.
 
Là người nổi tiếng nhiều mặt, thành tựu lớn nhất về thơ mà Trạng Trình để lại cho hậu thế là gì, thưa ông?
 
- Cái lớn nhất về thơ mà Nguyễn Bỉnh Khiêm để lại cho hậu thế là đã nghĩ ra thơ lục ngôn. Đó là một nhịp thơ khác, riêng của ta. Còn thơ nhất ngôn, nhị ngôn, tam ngôn, tứ ngôn, ngũ ngôn, thất ngôn đều có ở Trung Quốc cả. Nhưng riêng thơ lục ngôn thì chỉ duy nhất Việt Nam có. Nghĩ ra thơ lục bát đã là giỏi nhưng thực chất nó vẫn có ở Trung Quốc, còn lục ngôn thì là thể thơ độc đáo của riêng Việt Nam.
 
Xin cảm ơn ông!
             
  Lã Xưa (thực hiện)
 

Tiên đoán vận nước trước hàng trăm năm

Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha bình chú một số câu sấm nổi tiếng của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

1. Câu sấm của Nguyễn Bỉnh Khiêm về thời đại ngày nay đã bắt đầu ứng nghiệm sau đúng 500 năm. Đó là câu:
 “Hồng Lam ngũ bách nghinh thiên hạ
Hưng tổ diên trường ức vạn xuân”.
 
Có nghĩa là đất nước Hồng Lam này sau ta 500 năm sẽ đến những mùa xuân hưng thịnh vĩnh viễn. Thực tế cho thấy, câu sấm này đã ứng nghiệm từ năm 1991, tức là đúng sau 500 năm, đất nước ta đã thực sự khai mở.
 
Dù trước đó, chúng ta đã có cuộc đổi mới tư duy từ năm 1986 nhưng mãi đến năm 1991 mới thực sự chuyển biến mạnh.
 
2. Lời sấm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm về sự kiện chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là:
 
 “Cửu cửu càn khôn dĩ định
Thanh minh thời tiết hoa tàn
Trực đáo dương đầu mã vĩ
Hồ binh bát vạn nhập Tràng An”.
 
Dịch nôm nghĩa là đất nước ta phải qua 81 năm mới thoát khỏi ách nô lệ (tính đến Cách mạng tháng Tám là 72 năm cộng với 9 năm nữa mới chiến thắng Điện Biên Phủ), mới được yên, thể hiện bằng câu Thanh minh thời tiết hoa tàn.
 
Đó chính là trận Điện Biên Phủ lẫy lừng đúng vào tiết thanh minh năm 1954. “Thời tiết hoa tàn” tức là ở thời điểm thanh minh đó sẽ có một sự tàn lụi, thì chính là sự tàn lụi của ách cai trị của thực dân Pháp. “Trực đáo dương đầu mã vĩ” tức là cuối năm Ngọ, đầu năm Mùi thì mới có sự thành công (Sau chiến thắng Điện Biên Phủ vào tháng 3/1954, đến 10/10/1954 mới giải phóng Thủ đô; ngày 15/1/1955 Chính phủ mới về tiếp quản ở Hà Nội). “Hồ binh bát vạn nhập Tràng An” nghĩa là có lính tám sư đoàn của một ông tên là Hồ vào Tràng An.
 
3. Ông sống dưới thời nhà Mạc, năm 45 tuổi ông mới đi thi và đậu Trạng nguyên. Vua Mạc Đăng Doanh cất ông lên làm Tả thị lang Đông các học sĩ. Nhưng sau khi dâng sớ hạch tội 18 lộng thần không được vua nghe, ông đã cáo quan về ở ẩn.
 
Thời ấy, đất nước đang trong giai đoạn hỗn loạn, có tới ba triều đại cùng tồn tại là nhà Mạc, nhà Nguyễn, nhà Trịnh. Lúc nhà Mạc sắp mất liền sai người đến hỏi ông. Ông đã đưa ra lời sấm cho nhà Mạc rằng:
 
“Cao Bằng tàng tại, tam đại tồn cô”.
 
Nghĩa là nếu chạy lên Cao Bằng thì sẽ tồn tại được 3 đời. Quả nhiên, nhà Mạc lên Cao Bằng thì tồn tại được thêm 3 đời. Rất nhiều đoàn quân lên chiếm đánh nhưng đều thất bại.
 
Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đưa ra lời tiên tri cho nhà Nguyễn, nhờ đó nhà Nguyễn mới tiến vào Nam mở rộng bờ cõi. Đó là khi nhà Nguyễn đến hỏi về việc phân tranh giữa nhà Nguyễn với nhà Trịnh thì được phán câu:
 
“Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân”.
 
Nguyễn Hoàng nghe thấy thế liền cầm quân mở rộng đất nước vào phương Nam và tạo ra đất nước Việt Nam hình thái cực như ngày nay.
 
Đến đời Lê, thời điểm vua Lê Trung Tông (Hậu lê) mất không có người nối dõi, Trịnh Kiểm định soán ngôi nhà Lê nhưng chưa dám quyết nên đã sai người tới hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm.
 
Ông có nói:
 
 “Giữ chùa thờ phật thì ăn oản”
 
Ý nói giữ là bề tôi của các vua Lê thì lợi hơn. Trịnh Kiểm nghe theo liền sai người đi tìm tôn thất nhà Lê thuộc chi Lê Trừ (anh Lê Lợi) đưa lên ngôi, tức là vua Lê Anh Tông. Họ Trịnh mượn tiếng nhà Lê nhưng thực chất nắm quyền điều hành chính sự, hai bên cùng tồn tại tới hơn 200 năm. Vì thế mà có câu: Lê tồn, Trịnh tại.
nn 
Lã Xưa
Gia đình và Xã hội Cuối tuần Xuân Canh Dần

GIẢI MÃ LỜI SẤM TRẠNG TRÌNH CHO NĂM 2011


Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm tiên tri về năm 2011

(Dân trí) - LTS: Nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thuỵ Kha đã dành khá nhiều tâm huyết của cuộc đời mình để nghiên cứu về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm - Nhà tiên tri số một trong lịch sử dân tộc Việt Nam.

Năm 1991, ông đã làm bộ phim tài liệu "Nguyễn Bỉnh Khiêm - Cây đại thụ rợp bóng 500 năm". Giải thưởng Hội hữu nghị Việt Nhật 1992. Bài viết dưới đây ghi lại những câu sấm truyền nổi tiếng của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cho năm 2011.

***

Trong lịch sử Việt Nam, nhà tiên tri đầu tiên được mọi người biết đến là Thiền sư Vạn Hạnh (938-1025) với những câu sấm về việc xuất hiện nhà Lý. Hơn 500 năm sau, xuất hiện Trạng Trình - nhà tiên tri thứ hai. Ở Pháp, cùng thời với Trạng Trình có nhà tiên tri Nostradams (1503-1566) sinh trưởng ở thành phố Saint Re'my thuộc xứ Provence. Toàn bộ sấm ngữ của ông này đã được xuất bản tại Lyon năm 1555 dưới tên gọi Les centurtes (Những thế kỷ). Năm 1966 kỷ niệm 400 năm ngày mất của ông, tác phẩm này được in lại tại Nhà Xuất Bản Pierre Delpont.


Trạng Trình sinh trước (1491) và mất sau (1586). Năm 1986, kỷ niệm 400 năm ngày mất của Trạng Trình, người ta hay nhắc tới câu sấm tiên đoán về sự trở về của ông: "Bao giờ Tiên Lãng xẻ đôi - Sông Hàn nối lại thì tôi lại về". Từ đấy, Trạng Trình trở về với thời đại chúng ta thực sự.


Năm 1991, kỷ niệm 500 năm ngày sinh ông, đã có một lễ kỷ niệm trọng thể của Nhà nước diễn ra tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội. Năm nay, kỷ niệm 520 năm ngày sinh ông (1491-2011), chưa biết chúng ta sẽ làm gì, nhưng vào dịp cuối năm cũ (2010), cụ đã "gặp" nhà ngoại cảm tên Phương người Giồng Trôm, Bến Tre và chỉ cho ông tìm ra mộ thật của mình với ước muốn để cháu con và hôm nay biết đúng chỗ và thờ cúng. Theo chỉ dẫn của cụ, nhà ngoại cảm đã tìm được mộ cụ ở làng Triền Am, Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng.


Từ nhiều đời nay, những câu sấm tiên tri của Trạng Trình đã giúp cho bao chính khách biết việc mà xuất xử đúng đắn. Nhờ tài kiệt xuất này, ông thật xứng đáng với câu đối đã ghi ở đền thờ tại Bạch Vân Am: "Kế tuyệt, phù suy Chư Cát Lượng - Tri lai, tàng vãng Thiệu Nghiên Phu" (Nối được cái đã đứt, đỡ được cái đã suy như Chư Cát Lượng - Tìm hiểu việc đã qua, dự đoán việc mai sau như Thiệu Nghiên Phu).


Sinh thời, Trạng Trình cùng bạn thần đồng Bùi Ngu Dân (thường gọi là Bùi Công) thường rủ nhau bàn định bấm đoán về vận nước. Hay tin Mạc Đăng Dung muốn thoán ngôi vua Lê, cặp tri kỷ cùng nhau đoán định. Bùi Công viết vào lòng tay bốn câu ngũ ngôn: "Mộc đinh niên đinh khẩu - Bát đạo nhập mộc văn - Băng tâm đại đức vũ - Thiên hạ bán rã bình" (Phương Đông Mạc lên ngôi - Định đoạt nên danh tiếng - Thì tám hướng sẽ loạn - Những người luôn trung thành - đứng lên cầm vũ khí - Chỉ nửa được thái bình). Còn Trạng Trình thì viết vào lòng tay thất ngôn tứ tuyệt: "Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh - Can qua xứ khổ đao binh - Mã đề dương cước anh hùng tận - Thân dậu niên lai kiến thái bình" (Cuối năm rồng, đầu năm rắn xảy ra chiến tranh - Nạn binh đao ở khắp mọi nơi - Cuối năm ngựa, đầu năm dê anh hùng mất hết - Qua năm khỉ, năm gà sẽ thái bình).

Trong lịch sử quả thật, Mạc Đăng Dung đã thực hiện lập Lê Cung Hoàng lên ngôi, sau đó sai giết Lê Chiêu Tông vào năm sau năm Ất Dậu (1525) và đoạt ngôi vào năm Đinh Hợi (1527) lập ra triều Mạc. Bốn câu này khi vào tuổi già, Trạng Trình ghép vào trong bài sấm ký dài của mình thì lại được dùng để nhận định vào thời đại của chúng ta từ năm Canh Thìn (1940) đến năm Ất Dậu (1945). Có người còn nghĩ rằng Bác Hồ từ câu sấm này, so đọ với tình hình Chiến tranh thế giới lần thứ Hai đã tới hồi sắp kết thúc mà quyết tâm cùng dân tộc làm nên Cách Mạng Tháng Tám 1945. Ngay từ khi còn ở Cao Bằng đầu năm Ất Dậu, Bác đã viết: "Ất Dậu ắt thành công".


Vào những năm Việt Nam hết sức rối ren giữa các thế lực nhà Lê với nhà Mạc, giữa Trịnh Kiểm và Nguyễn Hoàng, chỉ với 6 câu thơ tiên tri, Trạng Trình đã thu xếp được các thế lực vào đúng nơi trên đất nước khiến cho dân đỡ lầm than khổ sở trong nạn binh đao. Khi Nguyễn Hoàng xin ý kiến, ông đã tặng cho Nguyễn Hoàng hai câu thơ: "Hoành Sơn nhất đái-Vạn đại dung thân" (có bản đề là: "Khả dĩ dung thân"). Ý rằng hãy tìm đường vào phía Nam dựa vào dãy Trường Sơn mà tồn tại). Nguyễn Hoàng nghe theo xin Trịnh Kiểm vào trấn giữ từ Đèo Ngang trở vào. Khi người nhà Trịnh Kiểm hỏi ông về vị trí của mình, có nên thoán ngôi vua Lê không, ông trả lời: "Chịu khó mà thắp nhang- thờ Phật thì ăn oản" (Có nghĩa rằng phải thờ nhà Lê thì có lộc). Trước khi ông mất, nhà Mạc xin ý kiến tồn tại thế nào, ông đã đọc hai câu thơ: "Cao Bằng tàng tại- tam đại tồn cô" (nghĩa rằng rút về đất Cao Bằng thì sẽ sống thêm được ba đời nữa). Nhà Mạc đã theo kế ấy và đã tồn tại được thêm ba đời nữa thật. Có lẽ, do Cao Bằng cũng từng là kinh đô của vua Mạc, nên khi về nước lãnh đạo dân tộc làm Cách Mạng Tháng Tám, Bác Hồ đã chọn Cao Bằng làm căn cứ địa cách mạng.

Sau khi ông mất, những lời sấm vẫn được chứng nghiệm ở đời sau. Có giai thoại nói rằng: vào thời Tự Đức, bỗng nhiên quan quân kéo về đập phá nhà thờ Quan Trạng. Hỏi ra mới hay vì Tự Đức quá tức giận bởi câu sấm: "Gia Long tam đại-Vĩnh Lại vi vương". Lời sấm truyền này nói rằng tự Đức không phải dòng giống Gia Long mà là con của Quận Quế- Người Vĩnh Lạc (Vĩnh Bảo hôm nay).

Lại có giai thoại kể rõ, Quan Thượng Tứ - Tổng Đốc Hải Dương có lần về thăm quê Trạng Trình. Khi đi dọc sông Tuyết Giang, thấy có ngôi mộ lớn đang có nguy cơ sụp lở, Thượng Tứ xem xét cẩn thận, thấy Trạng Trình là thầy rất "cao tay" sao lại đặt mộ bố ở chỗ thế này. Sau khi bàn bạc với con cháu Trạng Trình, Thượng Tứ quyết để lại ngôi mộ vào chỗ khác, ngầm sửa lại lỗi xưa của Trạng Trình. Khi đào đến gần hộp quách, thấy có tảng đá lớn, lật lên xem thì thấy tấm bia khắc hai dòng chữ: "Bát thập niên tiền khi chung vũ tả - Bát thập niên hậu khí nhập ư trung" (Tám mươi năm trước khí tốt bên trái - Tám mươi năm sau khí tốt rời vào trong).


Những giai thoại như trên nhiều và rì rầm ở khắp nơi. Nào là giai thoại cha con thằng Khả đánh đổ bia. Nào là giai thoại thằng Trứ (Nguyễn Công Trứ) phá đền... đều là những câu sấm lẻ Trạng Trình thốt nhiên nói ra. Khi về già, Trạng Trình mới làm hẳn một bài sấm ký dài lưu truyền lại với mục đích như câu cảm đề đã ghi: "Bí truyền cho con cháu- Dành hậu thế xem chơi". Bài sấm ký nói về những biến thiên trong lịch sử Việt Nam từ thời Hồng Bàng cho đến hôm nay.


Phần từ đầu đến khi Trạng Trình quy tiên thì không nhiều, chủ yếu là từ sau khi ông qua đời cho đến hôm nay. Bài sấm rất dài nhưng có đoạn gần cuối có vẻ ứng với hai năm tùng bách mộc này (2010 và 2011): "Phân phân tùng bách khởi- Nhiễu nhiễu xuất đông chinh - Bảo Giang thiên tử xuất - Bất chiến tự nhiên thành". Mọi ý sâu xa xin để người đời giải đáp, tức là vào Tết Tân Mão 2011, thiên hạ sẽ thái bình.

Nguyễn Thụy Kha

Xem đầy đủ bài viết tại http://nguyenxuandien.blogspot.com/2011/02/giai-ma-loi-sam-trang-trinh-cho-nam_03.html

Sấm Trạng Trình và những điều linh nghiệm
Báo Đất Việt  Cập nhật lúc :4:29 PM, 05/11/2009
Giai thoại về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cùng những lời sấm tiên tri của ông vẫn còn được truyền tụng trong dân gian với những ứng nghiệm bất ngờ vừa dân gian vừa huyền bí.

>> Tri ân Đại học sĩ Trương Quốc Dụng
>> Nguyễn Siêu - ngọn bút và đạo học

Cuộc sống là một bí mật với quá khứ, hiện tại và tương lai vừa vận động theo quy luật vừa có những ngoại lệ khó đoán định nên chỉ thời gian mới có câu trả lời xác quyết nhất cho những chiêm tinh dự đoán của con người. Nhưng thời gian cũng là một bí mật. Thế nên có những kẻ hậu sinh vẫn đang truy tìm cuốn Thái ất thần kinh đã thất truyền mà Nguyễn Bỉnh Khiêm thường vận dụng trong các tiên đoán của mình về thời cuộc để những mong biết trước được vận mệnh, nhân tình thế thái nhằm ứng xử sao cho ích lợi cả đôi đường, vừa mưu cầu cái lợi ích chính đáng lẫn cái mưu đồ đen tối trong biến thiên cuộc đời mình tùy theo trí lự và tâm tính họ...

Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.
“Thế sự ngàn năm sau trước rộng dài/Có tiếng sấm truyền vang đi trên đất”. Cuốn sách Thái ất thần kinh đó chắc hẳn chứa đựng rất nhiều "bí kíp tuyệt luân" trong lĩnh vực tiên tri, chiêm tinh của con người và những ứng dụng trong đời sống cá nhân, cộng đồng. Nhưng cuốn sách đó dù hay ho đến thế nào đi chăng nữa cũng chỉ như một phép thuật mà thôi. Việc sử dụng phép thuật đó như thế nào mới là điều quan trọng. Khi rơi vào tay kẻ ác, nó sẽ trở thành ma thuật và làm hại nhiều người. Khi gặp được chân nhân, nó sẽ lan tỏa sức mạnh kỳ diệu của mình, giúp cho cuộc sống của chúng dân nhiều phúc lợi an lành hơn.

Trong tay Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm cuốn Thái ất thần kinh đã đắc dụng. Tương truyền, thầy của Nguyễn Bỉnh Khiêm là Lương Đắc Bằng, một người tinh thông lý số đã đem sách này ra dạy cho học trò, nhưng có những điều trong sách ấy Lương Đắc Bằng cũng chưa hiểu hết được và chỉ có Nguyễn Bỉnh Khiêm về sau mới tinh thông, do nắm được bí truyền của sách Thái ất thần kinh.

Sinh trưởng trong một gia đình danh giá, có học vấn ở làng Trung Am (xã Cổ Am, Vĩnh Bảo, Hải Phòng) nên Nguyễn Bỉnh Khiêm sớm được thừa hưởng tinh hoa truyền thống gia tộc. Ông ngoại Nguyễn Bỉnh Khiêm, vị khoa bảng Nhữ Văn Lan được coi là vị tổ của họ Nhữ ở làng An Tử Hạ, Tiên Lãng, đỗ tiến sĩ năm 1463, đời Lê, làm quan đến chức Thượng thư Bộ Hộ. Cha mẹ Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đều là những người có văn tài học hạnh.

Tương truyền, thân mẫu của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bà Nhữ Thị Thục, một bậc nữ lưu tài hoa chốn kinh thành giỏi giang văn chương và tinh thông lý số đã hơn một lần gieo cầu đoán sẽ đẻ ra vua. Thế nên ngay từ khi Nguyễn Bỉnh Khiêm cất tiếng khóc chào đời, năm 1491, lại thấy con mình có tướng mạo khác thường, bà đã dốc sức nuôi dạy con trai để trở thành một tài năng kiệt xuất giúp nước cứu đời. Niềm thôi thúc mạnh mẽ ấy đã khiến bà sớm tìm được người thầy có đạo cao đức cả là cụ bảng nhãn Lương Đắc Bằng về dạy cho Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Với trí tuệ thông minh mẫn tiệp từ nhỏ nay lại gặp được thầy giỏi nên Nguyễn Bỉnh Khiêm chẳng khác gì rồng gặp được mây. Và rồi thầy cũng hết chữ để dạy trò, khi chính ông đã vượt xa thầy qua cuốn Thái ất huyền hoặc kia.

Lớn lên trong một giai đoạn lịch sử rối ren mà vua tôi nhà Lê và các tập đoàn phong kiến bấy giờ gây ra, mãi đến năm 44 tuổi, năm 1535, ông mới đi thi và đỗ đầu ba kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình và đỗ Trạng Nguyên. Cái tài học vấn uyên thâm của ông, sự thông tuệ của ông đã đắc dụng sau này khi ông sử dụng vào chính sự trên gốc rễ nhân dân. Sở học của ông đã phát huy tối đa sau này khi ông áp dụng vào những sự kiện chính trường đầy biến động của đất nước.

Với minh tuệ của mình, với trình độ thâm nguyên lý học của mình, ông được triều đình nhà Mạc và các sĩ phu đương thời phong là Trình tuyền hầu và dân gian gọi ông là Trạng Trình. Người đời sau, La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp coi ông là người có tài "huyền cơ tham tạo hóa".

Sinh ra với tướng mạo khác thường nhưng không có khí chất thiên tử nên ông không thể làm vua. Nếu lên ngôi chắc hẳn Đại Việt sẽ có một đấng minh quân và nhân dân không phải loạn lạc. Không làm vua thì ông làm một Khổng Minh quân sư cho cả ba thế lực chính trị đương thời tạo ra thế chân vạc kìm toả lẫn nhau mà không rơi vào hỗn chiến tam quốc, một cách ích lợi nhất cho muôn thảo dân, tránh được những cuộc chiến đầu rơi máu chảy, nồi da nấu thịt, huynh đệ tương tàn. Không là vua nhưng ông có thể thiết kế chính trường. Những tính toán của ông, những đường đi nước bước của ông trên bàn cờ cuộc thế đã được tiên liệu trước.

Xuất thân từ gia đình danh gia vọng tộc nhưng ông có cái nhìn vượt lên trên tầng lớp thượng lưu để hướng về thảo dân bách tính với những nhân ái lớn lao là cuộc sống an lạc, thái bình, thịnh vượng cho mọi người. Điều đó phải là một minh tuệ mới có được. Điều đó phải là một hiền tâm mới làm được. Và chỉ với một câu thơ "Việt Nam khởi tổ xây nền" (câu đầu tiên trong Sấm Trạng Trình mà ông để lại cho hậu thế), Nguyễn Bỉnh Khiêm được coi là người đầu tiên sử dụng tên gọi Việt Nam như là quốc hiệu song ông cũng là người sử dụng nhiều nhất và có ý thức nhất danh xưng thiêng liêng này.

Gạt đi tất thảy những huyền du của giai thoại như khi lên một tuổi ông nói mặt trời mọc đằng đông, bỏ qua giai thoại về việc cứu nguy cho hậu duệ thoát nạn sập nhà 500 năm sau khi ông mất… chỉ còn lại cái cốt của giai thoại thì cho thấy ông là người luôn ôm nỗi đau thế sự. Bằng minh tuệ của mình, ông phải luôn trăn trở cái thế, về sự giằng xé giữa các thế lực, về cái thiệt thòi cái phúc lợi của chúng dân là gì khi những mưu đồ được toan lên giữa bàn cờ thế cuộc. Thế nên mới có được nước cờ đắc địa "Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân" cho Nguyễn Hoàng, "Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản" cho chúa Trịnh khi đến hỏi kế sách, và "Cao Bằng tuy thiến, khả diên số thế" với nhà Mạc. Thế nên tiếng nói ông mới trở thành tiếng sấm được truyền tụng tới mai sau…

Dẫu là người có thể tiên đoán được biến cố 500 năm sau trước nhờ học phương pháp tính theo Thái ất nhưng ông vẫn phải sống ở thời đại ông, thân thể ông vẫn bó buộc trong cuộc tao ly thế kỷ 15 của Đại Việt. Có thể những lời sấm của ông vẫn còn được tiếp tục giải mã thế nhưng hệ tư tưởng triết học của ông vẫn nằm trong vòng tròn của chủ nghĩa duy tâm chứ không phải là hình xoắn trôn ốc của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Dù vậy thì ông vẫn đạt đến một đỉnh tùng trượng sơn của trí tuệ.

Nơi nào ông ngồi nghiền ngẫm thế cuộc, thiên cơ, quốc vận, có phải bên hàng tùng bách dưới chân núi Cổ Am? Nơi nào là nơi ông ngồi viết sấm ký, nơi nào là nơi ông ngồi viết những vần thơ, có phải bên dòng Tuyết giang vời vợi? Nơi nào ông mở trường lớp dạy học những mong đào tạo cho đời những tài năng kinh bang tế thế khi lui về ở ẩn? Một Bạch vân phu tử hay một Tuyết giang phu tử đang thư nhàn bên suối, bên thông như tiên ông ngồi đánh cờ, câu cá. Ông vẫn đang mải chơi cờ đó ư? Hay ông vẫn đang say nghĩ tiếp những vần xoay con tạo, những quy luật biến thiên của thời cuộc tàn suy thăng giáng và những ngoại lệ của các quy luật đó. Không, ông đang trải lòng mình với những vần thơ. Những câu thơ chắt chiu từ tâm đức ông. "Trạng Trình tỉnh giấc cười ba tiếng/ Quẻ lòng nhân giao mãi chưa thành". Người ta đồ rằng, sau lúc thiếp mệt, ông chợt tỉnh giấc rồi cười vang lên ba tiếng đắc nhân tâm khi bỗng nghĩ ra điều gì đó có lợi cho chúng dân hay nghĩ ra một câu thơ thần, một câu thơ thiền bừng nở giữa đóa sen.

Theo Công An Nhân Dân
Ứng nghiệm sấm Trạng Trình tại làng gốm Bát Tràng

Tương truyền rằng những lời sấm truyền đó là của cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm – người có biệt tài nói vanh vách chuyện của 500 năm về trước và tiên đoán chính xác việc của 500 năm về sau.

Câu Sấm thứ nhất:
 
“Bát Tràng thành Hải, Phủ Khoái thành rừng”
 
Thời Vua Lê chúa Trịnh trở về trước, kinh tế phát triển, Phủ Khoái (vùng Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên ngày nay) là một bến thương thuyền tấp nập. Nhưng rồi khi nhà Nguyễn thống nhất Việt Nam, trung tâm kinh tế, chính trị và văn hóa chuyển vào Đàng Trong bến thương thuyền này dần đi vào quên lãng, mất đi vai trò bến thương thuyền và bị bỏ hoang khiến cỏ dại, lau lách mọc rậm rạp, um tùm (cho tới ngày nay cũng vậy, bến thương thuyền xưa chỉ là một vùng lau sậy). Còn về phía làng Bát Tràng, trước năm 1958 đất đai rộng hơn bây giờ rất nhiều. Năm 1958 kênh đào Bắc Hưng Hải – công trình Đại thủy nông lớn nhất thời bấy giờ tưới tiêu cho 3 tỉnh Bắc Bộ: Bắc Ninh – Hưng Yên – Hải Dương được khơi ngòi, sau nhiều lần thăm dò địa chất của các vùng lân cận không thành công làng Bát Tràng phải nhường mất hơn một nửa diện tích của làng. Ngày nay, phần lớn diện tích làng Bát Tràng xưa nằm trên con sông Bắc Hưng Hải. Như vậy Bát Tràng đã thành “Hải” (Bắc Hưng Hải)
 
Câu Sấm thứ hai:
 
“Bao giờ ngựa đá sang sông,
Bát Tràng thành Hải thì ông mới về”
 
Tương truyền rằng, làng Bát Tràng xưa có một bức tượng ngựa đá đặt bên bờ sông, khi đất lở tượng ngựa đá bị lở và nhấn chìm dưới dòng sông Hồng. Sau này người ta phát hiện bức tượng con ngựa bằng đá đó bên phía bờ đối diện dưới Bát Tràng khoảng 5 km. Ứng với câu Sấm Trạng này, vào tháng 02 năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có chuyến về thăm và nói chuyện với bà con dân làng Bát Tràng. Người căn dặn: “Làng Bát Tràng mới phải làm sao trở thành một làng kiểu mẫu của nước Việt Nam mới, nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa…” Như vậy, năm 1959 tức là sau khi “Ngựa đá sang sông” và “Bát Tràng thành Hải” (1958) thì “Ông” (tức Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã về thăm làng gốm cổ truyền Bát Tràng.
 
Câu Sấm thứ ba:
 
“Lư hương tắt khói, Bát Tràng tản cư”
 
Những năm đế quốc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, công việc sản xuất Gốm của làng Bát Tràng bị đình đốn, các lò gốm ngừng nhả khói, nhà nhà tản cư về nơi an toàn./.
 
>> Gốm Bát tràng - Phần 1 -:- Cuộc Sống Việt

SAM TRANG TRINH PDF. In Email
Viết bởi LuuVanVinh   http://vietvanluuvanvinh.net/index.php?option=com_content&view=article&id=79:sam-trang-trinh&catid=6:sk&Itemid=8
Thứ tư, 22 Tháng 4 2009 04:30

 

LÔ HƯƠNG KÝ Thơ hay Sấm viết trên gốm lư hương ?

 Trạng Trình đã cho làm một lư hương bằng gốm mầu gan gà pha mận chín đặt vào bàn thờ ngoại tổ họ NHỮ ở làng An Tử Hạ, Tiên Lãng, Hải Phòng. Lư hương đã bị vỡ thời 1950, một mảnh vỡ có chữ được bảo quản tới năm 1960 cũng đã mất, nhưng bài Lô Hương Kí‎ thì may thay được ghi chép trong gia phả họ Nhữ như sau :

Trí hiếu dĩ phụng tiên
Vị viên nguyên phúc viên
Lại tam tam thế hựu
Lịch số sổ bách niên
Thế bát phùng khuyết biệt
Chu ngũ phục nguyên tuyền
Hữu xương hồ nhân thập
Hữu xí hồ song thiên
Long xà an sở ngộ
Đỉnh xuất tử tôn hiền
Nội ngoại phả nhị chi
Thuỷ chung như nhất phiên

Thời lộ huyền vi chỉ
Xuất bất hoại kỳ yên
Cung lô hương vu tổ
Kiến long vị tại thiên

DỊCH TẠM (1)

Chí hiếu thờ tổ tiên
Phúc chưa tròn sẽ đầy
Ba ba đời nữa(2)
Trải qua mấy trăm năm
Đời thứ tám khuyết biệt
Khoảng 500 năm lại nguyên tuyền
Thịnh vượng thập phương đến
Trọng vọng kính song thân
Thìn Tỵ gặp bình an
Con cháu hiền thảo như chim đĩnh
Nội ngoại hai bên
Thuỷ chung như một

Cơ trời huyền vi chưa thể lộ
Một vài câu không thể dừng
Lư hương dâng tiên tổ
Thấy rồng hiện trên trời.

NGUỒN GỐC bài Lư Hương Kí

Bà mẹ Trạng Trình là Nhữ thị Thục, hiệu Lan Hoa, con gái tiến sĩ Nhữ văn Lan, Thượng thư Bộ Hộ đời Lê Thánh Tông (1460-97), bà tinh thông kinh sử lí số, đoán trước nhà Lê sẽ suy vong 40 năm sau Lê Thánh Tông. Sau bà lấy ông Văn Định, sinh ra Nguyễn Văn Đạt tức Nguyễn Bỉnh Khiêm. Vì không hài lòng với chồng trong việc dậy dỗ con (bà muốn dậy con thành vua), nên bà bỏ về làng cha mẹ An Tử Hạ sống, làng này chỉ cách Trung Am bên kia sông Hàn. Có thể vì người con trai của cụ Nhữ, anh bà Nhữ thị Thục, di lên Cảm Giàng Hải Dương ( theo lời khuyên của thầy địa lí Tầu), nên bà Thục về trông nom gia trang họ Nhữ chăng ? Chỉ biết khi bà mất, nhà Mạc phong là Từ Thục phu nhân, thì Trạng Trình cho người con thứ 7 là Nguyễn Ngọc Liễn ( con út ) sang An Tử Hạ trông coi mồ mả từ đường cố ngoại Nhữ văn Lan và bà ngoại Nhữ thị Thục. Trạng Trình dâng lư hương và viết bài kí dâng nhà thờ họ ngoại này.

Bài Lư Hương Kí, một dấu ấn về khoa lí số Trạng Trình

Ông ngoại đỗ tiến sĩ đời Lê 1463, làm quan to Thượng Thư Bộ Hộ triều Lê, cha ông là Văn Định cũng được phong Thái bảo Nghiêm quận công, còn chính Trạng Trình lại ra thi và làm quan cho nhà Mạc, là triều đại đoạt ngôi triều Lê. Cho nên với tài lí số Trạng Trình đã từng nói, theo truyền thuyết : sinh Nguyễn tử Giang..nghĩa là sinh thời mang họ Nguyễn, sau khi chết sẽ là họ Giang, là vì con cháu sẽ phải cải tên đổi họ để tránh sự trả thù của phe Lê/Trịnh thắng thế năm 1592 (Trạng Trình mất 7 năm trước, 1585). Quả vậy, người con trưởng của Trạng Trình là Hàn Lâm tên Hầu đã đổi thành họ Giang, Hàn Giang cư sĩ , vào vùng Trường yên Hoa Lư (Ninh Bình) ẩn dật. Tới nay, dòng họ Giang của Trạng Trình đã lập nghiệp được 17 đời ( khoảng 25 năm 1 đời), con cháu lên tới 3000 người. Trong 7 người con của Trạng Trình, chỉ có con cả là văn, 6 người khác đều theo võ nghiệp phò Mạc. Một vị họ Giang nổi danh khác là Thám hoa Giang Văn Minh, làng Đường Lâm, Sơn Tây, rất có thể là dòng họ Nguyễn Bỉnh Khiêm (hàng cháu?) vì ông sinh vào năm 1573, đỗ đầu, Thám hoa vào năm 1628 khi 56 tuổi, đi sứ Tầu năm1638, ông là người đã trả lời câu đối xấc láo của Tầu :
Đồng trụ chí kim đài dĩ lục
Cột đồng tới nay rêu xanh phủ

bằng câu đáp đầy khí phách :

Đằng giang tự cổ huyết do hồng
Đằng giang từ xưa nước còn máu hồng

Lấy chiến thắng Bạch Đằng đối lại Cột đồng Mã Viện, sứ giả Việt theo truyền thuyết bị Tầu giết và cho mang xác về  nước.

Nhưng điều đáng chú í khi đọc những dòng Lư Hương Kí là :
1-Tuy là vật dâng cúng bàn thờ, nhưng Trạng đã lưu lại những lời tiên tri cho dòng họ cả trăm năm sau, đời thứ 8 khuyết biệt (200 năm), 500 năm nữa lại trở lại như trước, đúng khả năng tiên tri, ngũ bách niên tiền, ngũ bách niên hậu, hay gần với câu Sấm : Tổ truyền nhị thập ngũ, Cơ đồ ngũ bách niên về một vị thánh xuất Bạch Sỉ, phục hưng Lạc Việt. Nếu lấy khoảng đầu tk 16, là năm nhà Mạc lên (Chấn cung nhật xuất) 1527 thì khoảng 500 năm, hay chu kỳ 60 năm x 8 = 480 năm, thì dòng họ nội ngoại sẽ phục nguyên tuyền, 1527+480= 2007, khoảng đầu tk 21 vậy.
2-Bốn câu cuối bài gói kín một tiên đoán về tương lai xa của nước nhà, khi Cung lư hương lên bàn thờ tiên tổ,thì Trạng thấy Rồng bay trên trời, kiến long vị tại thiên, nghĩa là điềm thái bình, thánh nhân xuất lộ. Vận nhà vận nước đi đôi với nhau, khoảng năm trăm năm sau, nhà phục nguyên vào lúc nước phục nguyên.
3-So với bài sấm ngày Thu Nhâm Dần 1542 đọc cho học trò Trương Thời Cử :

Bốc đắc Càn thuần quái
Sơ cửu thoái tiềm long
Ngã bất thế chi hậu
Binh qua khởi trùng trùng
Ngưu tinh tụ Bảo giang
Đại nhân cư chính cung

Thì thấy thoái tiềm long đối với kiến long tại thiên trong Lư Hương Kí,
Ngã bát thế chi hậu, binh qua trùng trùng, tương ứng với câu Thế bát phùng khuyết biệt,
Ngưu tinh và cư chính cung hợp với kiến long vị tại thiên, là vị trí của bậc đại nhân xuất hiện trên bản đồ thiên thư ngũ phục nguyên tuyền. Câu sấm : Xem í Trời có lòng khải Thánh, lại càng thấy rõ tiên tri Trạng Trình đi từ lẽ biến dịch :
Bác vãng tĩnh quan tri tất Phục
Nhất Dương dĩ nghiệm Địa Lôi trung
Quẻ Bác qua, lặng yên xem Phục đến
Một Dương nghiệm đến giữa Địa Lôi
Mạt pháp mãi cũng có hồi thịnh pháp, Âm thịnh mãi cũng tới lúc Dương phục..đấy là luật vũ trụ, là thiên hạ tâm.
Sấm Trạng Trình nhấn mạnh và xoay quanh Bảo giang, Bảo sơn, sao Ngưu, Khảm phương ( Nói cho hay khảm cung rồng dậy..), khảm cung là phương Tây, phương Tây đối với Bạch Vân Am, nơi Trạng ngồi ngắm sao ( Hồng phúc xưa đã định Tây phương…Thác cư một góc kim tinh phương Đoài..) một bài thơ trong Bạch Vân Am thi tập xác định toạ độ :
Hồng nhật đông thăng tri đại hải
Bạch Vân Tây vọng thị thần châu
( trích bài Ngụ Ý)
nghĩa là từ Bạch Vân Am vọng trông về hướng Tây là kinh đô (Thăng Long), cũng là hướng của Tản Viên và Bảo giang.


CHÚ THÍCH

1-Không có bản chữ Nho nên chúng tôi tạm dịch theo bản Hán Việt, so với bản tạm dịch trong sách của xã Lí học, huyện Vĩnh Bảo, Hải phòng 2005, thì cũng có vài chữ không đồng nhất, như khuyết biệt trong bản Hán Việt lại thành khuyết liệt trong bản dịch. Ở dây chúng tôi để nguyên từ khuyết biệt.
2-Tam tam nếu hiểu là 33 thì rất dài 33 x 25 =825 năm, có lẽ hiểu là 3 lần 3 là 9 thì hợp với câu thế bát (tám đời) hơn, hoặc câu Ngã bát thế chi hậu cũng là 8 đời. Còn hiểu Lại tam tam thế hựu là 33 đời thì phải chăng họ Nhữ kéo dài 33 đời nữa ?

THÊM MỘT TƯ LIỆU LIÊN QUAN SẤM TRẠNG TRÌNH

Bách Niên Đại Sự Hỗn Như Mộng    

Trăm Năm Đại Sự Rối Như Mộng  

(Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng “Trung Quốc Bách Niên Dự Ngôn Thi” của Đại Sư Bộ Hư)

 

           

Trong nhiều Pháp hội, các buổi phỏng vấn, hoặc các cuộc hội đàm, Hòa Thượng Tuyên Hóa đã từng phân tích bài “Trung Quốc Bách Niên Dự Ngôn Thi” một cách rất tường tận. Đó là do nguyên nhân nào?

Lịch sử ví như tấm gương sáng của các bậc tiền nhân lưu lại cho hậu thế, ước mong con cháu đời sau có thể “xem tích xưa mà hiểu chuyện nay” hầu khỏi phạm cùng sai lầm, và có thể sửa đổi sai sót cũ, bồi đắp cho mai sau. Có lẽ Hoà Thượng cũng cùng một ý này vậy!

 


            

Quý vị Thiện Tri Thức!


Đa số quý vị hiện diện ở đây là người Trung Hoa, vì thế chúng ta nên tìm hiểu về các biến cố trọng đại cùng các nhân vật liên hệ trong khoảng một trăm năm gần đây của nước Trung Hoa. Thiển nghĩ, tuy chúng ta là người Phật tử, chúng ta chẳng thể không quan tâm đến chuyện gia đình của riêng mình, và cũng chẳng thể không quan tâm đến sức khỏe bản thân. Do đó, tại Los Angeles cũng như ở các nơi khác, tôi đã từng giảng qua, và bây giờ về lại Đài Loan, tôi cũng muốn miêu tả và giải thích sơ lược về những biến cố xảy ra ở Trung Hoa trong vòng một trăm năm trở lại đây.

Chúng ta, những người học Phật, chẳng thể không có tổ quốc, chẳng thể không có gia đình, và cũng chẳng thể không có “tự thân”. Thân thể là “vốn liếng” mà chúng ta “đầu tư” cho việc học Phật của mình. Còn gia đình thì sao? Gia đình là ngọn nguồn của sanh mạng chúng ta. Còn tổ quốc? Chúng ta, bất luận là người xuất gia hay tại gia, đều được sự bảo hộ của chính phủ. Do đó, chúng ta phải yêu tổ quốc, tận trung với tổ quốc, tận hiếu với gia đình, và thành tín với tất cả mọi người; bởi:


Tín là ngọn nguồn của Đạo, là mẹ của công đức. 

Và nuôi dưỡng tất cả mọi căn lành. 

(Tín vi Đạo nguyên công đức mẫu, 

Trưởng dưỡng nhất thiết chư thiện căn.) 

Có câu:

Người không có thành tín thì không lập thân được.

(Nhân vô tín bất lập.) 

Cho nên, chúng ta phải giữ chữ tín. Ở nhà, nếu chúng ta không hết lòng hiếu thảo tức là lỗi đạo, là trái ngược với luân thường; do đó, chúng ta cần phải làm tròn chữ hiếu. Có câu:

Nam nữ chung sống là đạo lý thường tình của con người, 

Đạo của người quân tử bắt đầu ở quan hệ vợ chồng. 

(Nam nữ cư thất, nhân chi đại luân. 

Quân tử chi đạo, triệu đoan hô phu phụ.) 

Lại có câu:

Người quân tử lo việc gốc. Gốc lập rồi thì Đạo nảy sanh, 

Hiếu đễ là nền tảng của con người! 

(Quân tử vụ bổn, bổn lập nhi Đạo sanh. 

Hiếu đễ dã giả, kỳ vi nhân chi bổn dư!) 

Nhằm bảo hộ chúng ta, quốc gia và chính phủ cần phải có một nguồn nhân lực tương đối để lo việc phòng thủ, bảo vệ đất nước. Lập thân ở đời, chúng ta cần phải giữ chữ tín trong việc xử thế; không được thiếu sự thành tín.

Đức Khổng Phu Tử từng nói:

Người không có tín nghĩa thì chẳng biết có được việc gì chăng? 

(Nhân nhi vô tín bất tri kỳ khả dã?) 

Những người không chú trọng tín nghĩa thì chẳng biết có làm nên việc gì hay không? Cho nên, chữ “tín” rất quan trọng đối với chúng ta. Vậy, chúng ta đối với tổ quốc thì phải trung thành, đối với gia đình thì phải hiếu đạo, đối với bản thân thì phải chú ý sức khỏe của mình. Như thế thì chúng ta mới khỏi trở thành gánh nặng cho quốc gia.

Tôi đã nhiều lần giảng về các biến cố trọng đại xảy ra tại Trung Hoa trong một trăm năm gần đây cùng những nhân vật liên hệ. Tuy nhiên, các nhân vật như thế thì rất nhiều, nên nay chúng ta chỉ chọn ra một vài hình ảnh để thảo luận thôi.

Bài thơ này là do ai nói? Đây có thể gọi là bài sấm tiên tri và được lưu truyền vào năm thứ 30 triều vua Quang Tự nhà Thanh. Đương thời, lão cư sĩ Cao Tĩnh Hàm, chủ nhân Thanh Hư Lâu tại Bích Vân Tự trên ngọn Tây Sơn ở ngoại thành Bắc Kinh, vì quan tâm đến quốc gia đại sự nên đã cung thỉnh được Đại Sư Bộ Hư đời nhà Tùy giáng luận. Dưới đời nhà Tùy, vào thời của Đại Sư Bộ Hư, bởi đất nước gặp cảnh rối ren, giặc giã nổi lên khắp nơi, nên mọi người đều muốn tìm một nơi yên ổn để ẩn náu. Sinh thời, Hòa Thượng Bộ Hư vốn là một vị Đại Tướng Quân và đã giết rất nhiều người. Về sau, nhận thấy hành động như thế là không đúng, Ngài lui về ẩn dật và đến núi Thiên Thai tu hành. Ngài có sáng tác bài thơ như sau:

Tích nhân Tùy loạn thái Bồ Đề,

Ngộ nhập Thiên Thai Thạch Cổ tây. 

Triêu ẩm lưu hà thả chỉ khát; 

Dạ phạn ngọc lộ lược sung cơ.

Diện bích cửu niên thùy Đại Đạo, 

Chỉ đàn thập đại hoán tân nghi. 

Dục ngã tịch đồ, đồ ngộ ngã, 

Thiên cơ nan tiết, tiết Thiền cơ. 

Tích nhân Tùy loạn thái Bồ Đề (xưa kia, bởi nhà Tùy rối loạn nên ta đi tìm Bồ Đề, cầu đạo giác ngộ). Đương thời, Đại Sư Bộ Hư là một tướng lãnh của nhà Tùy, nhưng vì nhận thấy không thể cứu vãn nhà Tùy được nữa nên Ngài phát tâm đi tu. Tuy nhiên, vì không có một mục đích rõ rệt nào cả nên Ngài cứ rày đây mai đó, vân du khắp chốn. Do đó, Ngài nói là “tích nhân Tùy loạn thái Bồ Đề”, tức là khi xưa bởi nhà Tùy loạn lạc nên Ngài quyết định đi theo con đường “Bồ Đề Đại Đạo”, tìm nơi tu hành.

Và chính trong thời kỳ đi tìm nơi tu hành này, Ngài đã Ngộ nhập Thiên Thai Thạch Cổ tây (tình cờ vào được phía tây Thạch Cổ, trên núi Thiên Thai). Một cách hết sức tình cờ, Ngài lạc bước tới phía tây của một nơi có tên là Thạch Cổ (trống đá), trên ngọn Thiên Thai, và khám phá ra nơi ấy có một sơn động nên Ngài đã lưu lại đó để tu hành.

Triêu ẩm lưu hà thả chỉ khát (sáng uống sương mai tạm qua cơn khát). Ngài ở trên núi tu hành, sống đời khổ hạnh. Sáng sớm thức dậy, Ngài chỉ nhấp chút ráng mây—thứ khí mù màu đỏ thường thấy lúc mặt trời sắp mọc. Đó là thứ ráng trời sáng chói, kết tinh của hàng vạn tia sáng rực rỡ trên trời cùng hàng ngàn luồng khí may mắn trong không; và cũng có thể gọi là tinh hoa của mặt trời và mặt trăng. Vì Đại Sư bận tu hành, có chịu đói đôi chút cũng cam lòng, nên Ngài chỉ cần uống chút đỉnh cho đỡ khát mà thôi.

Dạ phạn ngọc lộ lược sung cơ (tối ăn sương ngọc qua loa trừ bữa). Buổi tối, Ngài chỉ nhấp chút sương để dịu cơn đói. Tuy rằng chẳng no dạ, nhưng vẫn có thể duy trì sanh mạng.

Diện bích cửu niên thùy Đại Đạo (đối mặt với vách đá suốt chín năm, Ngài đã đến gần Đại Đạo). Ngài nói rằng suốt chín năm trời ròng rã, Ngài ở trên núi ngồi xoay mặt vào vách đá để hàm dưỡng “Đạo thai” và việc tu hành đã đạt đến chỗ “rõ tâm thấy tánh” (minh tâm kiến tánh). “Đến gần Đại Đạo” tức là sắp sửa thành tựu, chứng đắc Đại Đạo.

Chỉ đàn thập đại hoán tân nghi (thoáng chốc mà mười triều đại đổi nghi lễ mới). Ở đây, “chỉ đàn” tức là “đàn chỉ”, nghĩa là trong khảy ngón tay. (Hai câu này đối nhau: Vì vế trên là “diện bích cửu niên thùy Đại Đạo”, cho nên ở vế dưới, Ngài muốn để chữ “chỉ” là ngón tay nằm đầu câu để đối với chữ “diện” là mặt). Như vậy, trong quãng thời gian ngắn ngủi bằng khảy ngón tay, thoáng chốc mà đất nước trải qua đến mười lần thay ngôi đổi chủ, mười lần thay đổi người lãnh tụ quốc gia. Mười triều đại này có lẽ là bao gồm năm triều đại Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, và “Ngũ Đại Tàn Đường” (năm triều đại ngay sau nhà Đường). “Hoán tân nghi” tức là đổi nghi lễ, thể thức mới. Mỗi triều đại đều có nghi lễ phép tắc khác nhau, cho nên mỗi lần bắt đầu một triều đại mới thì đều có sự thay đổi về lễ nghi, quy củ.

Dục ngã tịch đồ, đồ ngộ ngã (các ngươi muốn ta mở đường, nhưng đường dẫn ta đi lạc). Tất cả các ngươi đều muốn ta mở đường chỉ lối, nói cho các ngươi biết trước về thế cuộc và những việc sẽ xảy ra trong tương lai. Thế nhưng, bởi chính ta cũng không hiểu rõ được nên ta mới đi tu. “Đồ ngộ ngã”—ta cũng không chắc là mình biết được.

Thiên cơ nan tiết, tiết Thiền cơ (bởi không thể tiết lộ thiên cơ nên ta tiết lộ Thiền cơ vậy). Các ngươi hỏi ta về thiên cơ, nhưng ta không thể tiết lộ được vì tiết lộ cơ trời là mang tội. Cho nên, ta sẽ tiết lộ Thiền cơ, nói vài lời tiên tri vậy. Ở đây, “Thiền cơ” tức là “dự ngôn”—lời báo trước những việc chưa tới hoặc sẽ xảy ra. Ta có thể nói sơ lược đôi chút.

Những lời tiên tri này nói về các nhân vật có ảnh hưởng đến tình hình đất nước Trung Hoa, và đều đã được chứng thực là linh ứng. Tuy nhiên, khi Ngài giáng dụ thì người đương thời không biết nói về ai vì ý tứ rất hàm súc, chữ dùng lại bí ẩn; cho nên, chúng ta phải tự phỏng đoán lấy.

                                                                                        

I)  Bài thơ đầu tiên nói về ai? Bài này nói về Hoàng-đế Tuyên-Thống, vị vua cuối cùng của nhà Thanh.

Thơ như sau:

Vân ám ám, vụ sầu sầu,

Long quy nê thổ tố mị hầu, 

Tam tuế hài đồng tam tải phúc, 

Nguyệt hạ vô chủ thủy không lưu, 

Vạn khoảnh yên ba nhất đán thu.   

Vân ám ám, vụ sầu sầu” (mây u ám, sương mịt mùng). Ở đó mây đen giăng kín, âm u vô cùng và có một màn sương mù bao phủ trông rất ảm đạm, thảm sầu. Mây đen và sương mù ám chỉ sự thiếu chân lý; bấy giờ là lúc “người âm” nắm chính quyền. Người âm, được tiêu biểu bởi sự đen tối, là chỉ Tây Thái-hậu Từ-Hy. Khi Tây Thái-hậu ngồi sau rèm nghe việc triều chính, thì mặt trời và mặt trăng đều không tỏa sáng nữa. Thế gian dường như vắng ánh thái dương vậy; cho nên mây cũng u ám, sương cũng ảm đạm. Vì sao?

Bởi vì Long quy nê thổ tố mị hầu” (rồng trở về với đất, đất sét nặn thành con khỉ mặt đỏ). Lúc bấy giờ, vua Quang-Tự đã băng hà, tức là rồng đã chui xuống đất. Rồng về với đất thì đương nhiên cũng trở thành đất sét. Rồng sống mà thành đất sét tức là không  còn rồng nữa—cũng có nghĩa là không còn hoàng đế nữa. Thiên tử không còn nữa vì rồng đã biến thành đất. Dùng đất nặn hình khỉ chơi với khỉ. Con khỉ này ám chỉ ai? Đó là Hoàng-đế Tuyên-Thống, vị vua cuối cùng của nhà Thanh.

Tam tuế hài đồng tam tải phúc”  (đứa bé ba tuổi chỉ được ba năm phước báo). Lúc này, một “ông vua bù nhìn” được lập làm vua –một chú bé ba tuổi được đưa lên kế vị ngôi vua, làm hoàng đế. Đứa bé lên ba mà lên ngôi làm vua há chẳng như đóng kịch, làm trò hề sao?

Ngày lễ đăng quang của vua Tuyên-Thống, có Nhiếp-Chính Vương bồng ẵm nhà vua. Nhưng ấu vương chẳng biết thời thế, ngồi trên ngai vàng mà khóc lóc. Có lẽ vị vua mới lên ba này cảm thấy làm hoàng đế chẳng có gì là thích thú, lại cũng chẳng có đồ chơi để chơi nữa. Thời ấy cũng chưa có đồ chơi súng ống để chơi bắn “pằng pằng pằng.” Vì thế, cậu bé vua chỉ biết khóc.

Thấy vua khóc, Nhiếp-Chính Vương buột miệng dỗ dành: “Xin Bệ-hạ đừng khóc nữa. Chỉ một chốc là xong thôi mà.” Đây cũng có thể gọi là một câu “sấm ngữ,” một lời tiên tri (nói gở); tương tự như "điềm" vậy. Qúy vị thử nghĩ xem, “một chốc là xong,” có nghĩa là trong một thời gian rất ngắn là xong xuôi, finish! Đây là điềm Tuyên-Thống chẳng ở ngôi vua được lâu—chỉ có “một chốc” mà thôi; và cũng có thể là điềm báo trước triều đại nhà Thanh sắp sửa sụp đổ. Đó là nói gở, là điềm không may.

Ở Trung-Hoa, người tỉnh Quảng-Đông khi nghe ai nói lời xui xẻo thì họ liền nói: “Đại kiết lợi thị, đại kiết lợi thị!” Họ còn mê tín như thế đấy. Vậy, trong trường hợp này thì thế nào? Thì cũng “đại kiết lợi thị” thôi!

Như vậy, tam tuế hài đồng tam tải phúc,” đứa bé này có được ba năm phước báo—chỉ làm vua được ba năm mà thôi. Ba năm này tức là “một chốc.” Hết ba năm là không còn nữa, tức là “một chốc là xong” vậy.

Như thế, xong rồi thì sao? Câu thơ kế tiếp nói rất rõ ràng: Nguyệt hạ vô chủ thủy không lưu" (dưới trăng chẳng có chủ, nước cạn khô). “Nguyệt hạ vô chủ” tức là dưới chữ “nguyệt’() không có chữ “chủ” (). Thế nhưng, chẳng có chữ nào mà trên là chữ “nguyệt”, dưới là chữ “chủ” cả. Vậy trên chữ “nguyệt” thì sao? Trên chữ “nguyệt” là chữ “chủ” thì có. Trên chữ “nguyệt” ()mà có chữ “chủ”() và bên cạnh có ba chấm (bộ thủy (氵), tức là chữ “thanh” (), chỉ triều đại nhà Thanh.

Đại-sư Bộ-Hư nói “nguyệt hạ vô chủ,” nhưng muốn quý vị hiểu là trên chữ “nguyệt” không có chữ “chủ”. Ngài không thể nói rõ ra là “nguyệt thượng vô chủ” vì như thế thì quá lộ liễu, mọi người sẽ biết đó là chữ "thanh” ngay.

“Thủy không lưu” tức là không còn nước nữa, nước đã chảy hết, đã khô cạn rồi. Nước cạn khô ám chỉ sự suy vong của nhà Thanh. Ba chấm thủy khô rồi, dưới trăng cũng không còn chủ nữa vì chủ đã chạy lên trên trăng rồi. Vậy, đây là chữ “thanh” ám chỉ Thanh-triều.

Mặc dù đương thời là năm thứ 30 của triều vua Quang-Tự (cuối đời nhà Thanh), nhưng không có ai hiểu được sự tương quan này. Cho tới ngày nay, e rằng cũng chẳng có ai hiểu nổi. Vậy, “nguyệt hạ vô chủ thủy không lưu”  tức là dưới trăng không có chủ, trên trăng cũng không có chủ, và cũng chẳng có nước nữa---thế thì Thanh-triều dời đi đâu? Qúy vị hãy tham cứu, suy gẫm về ý nghĩa của chữ này. Đây là ám chỉ sự cáo chung, sụp đổ của nhà Thanh — chữ “thanh” đã biến mất.

Nhà Thanh diệt vong, cho nên câu thơ kế tiếp cho biết nhà Thanh mất bởi tay ai. “Vạn khoảnh yên ba nhất đán thu" (cả vùng khói sóng mênh mông bị xâm chiếm nội trong một ngày), “Vạn khoảnh yên ba” tức là “vạn lý giang sơn”—non sông muôn dặm. Câu này ngụ ý rằng sẽ có ngày cả giang sơn gấm vóc của Trung Hoa sẽ bị mất vào tay kẻ khác—đất nước lại thêm một phen thay ngôi đổi chủ.

“Nhất đán” có nghĩa là “một ngày.” Tuy nhiên, nếu ghép hai chữ “nhất (一) và đán (旦)” lại thì thành chữ “tuyên ()” của Tuyên-Thống, song phía trên thiếu mất bộ “miên(宀).” Chữ “tuyên” nếu bỏ đi bộ “miên” thì còn lại chữ “ hoàn(  ), chữ “hoàn” này có thể tách ra thành hai chữ “nhất đán (一旦).”上邊沒有「穴」字蓋兒,底下是一個「旦」字﹔這「宣」字把它分開來,就是「一旦」

Về sau, Nhật-Bản lập ra nước Mãn-Châu và đưa Tuyên-Thống lên làm ông vua bù nhìn ở đó, đặt quốc hiệu là Khang-Đức. Nước Mãn-Châu này khác với Đại Thanh và Trung-Hoa Dân Quốc. Trên đây là sơ lược về Hoàng-đế Tuyên-Thống.      

II)  Bài thơ thứ nhì là nói về ai? Đó là nói về Tôn Quốc Phụ, cha đẻ của nền Cộng Hòa (nước Trung Hoa); thơ như sau:  

Quân tác tổ, chất bân bân,

Vạn lý trường hồng phá lãng chinh,

Hoàng Hạc Lâu trung xuy ngọc tiêu,

Bát phương tề tấu khải ca ngâm,

Tinh kỳ ngũ sắc hoán tân tân.

 

Quân tác tổ, chất bân bân (ông, người có tư chất hòa nhã, được làm ông tổ). “Quân” nghĩa là ông hoặc anh. “Quân tác tổ” có nghĩa là ông là người được làm ông tổ, là tổ tiên. Là ông tổ thì tất nhiên phải có con cháu gọi mình bằng “ông”; như vậy ở đây ắt có một chữ “tôn” (孫 nghĩa là “cháu”) được hiểu ngầm. [“Tôn” (孫) cũng là họ của Tôn Quốc Phụ].  

“Chất bân bân” vốn không phải là một câu văn đủ nghĩa, mà chỉ là nửa câu lấy từ Luận Ngữ, trọn cả câu là:

Văn chất bân bân, nhiên hậu quân tử.  

(Người có dáng bề ngoài [văn] và bề trong [chất] tương xứng nhau thì mới là người quân tử.)

Trong câu thơ trên, quân tác tổ, chất bân bân, không có chữ “văn,” nó chỉ được hiểu ngầm trong nửa câu sau mà thôi. Cho nên, người tinh ý thì sẽ đoán ra ngay câu này có tiềm ẩn chữ “tôn” và chữ “văn”—ngầm chỉ Tôn Văn [tức Tôn Dật Tiên, cha đẻ của nền Cộng Hòa nước Trung Hoa].  

Vạn lý trường hồng phá lãng chinh (mống cầu vồng dài muôn dặm đã phá bỏ những chuyến đi xa trên sóng). Câu này ám chỉ việc Tôn Quốc Phụ bôn ba khắp nơi để hô hào, vận động cho cuộc cách mạng. Từ Honolulu ông đáp thuyền về Trung Hoa, rồi lại từ Trung Hoa lặn lội trở sang Honolulu , đương đầu với bao sóng gió hiểm nguy để đề xướng công cuộc cách mạng--ông chẳng khác nào một đạo cầu vồng dài bắc ngang qua đại dương.  

“Mống cầu vồng dài muôn dặm” (vạn lý trường hồng) lẽ ra phải nằm trên trời, nhưng vì đạo cầu vồng này “dẹp bỏ cuộc hành trình trên sóng nước” (phá lãng chinh), do đó chúng ta biết được rằng đây là ám chỉ việc ngồi thuyền vượt biển, “cưỡi mây lướt sóng.”  

Hoàng Hạc Lâu trung xuy ngọc tiêu (trong lầu Hoàng Hạc thổi tiêu ngọc). Lầu Hoàng Hạc vốn tọa lạc tại thành phố Vũ Xương, ở tỉnh Hồ Bắc. Chính từ trên lầu Hoàng Hạc này, tiếng tù-và đã trỗi lên để làm hiệu lệnh cho Lý Nguyên Hồng tham gia cách mạng, trợ giúp Tôn Quốc Phụ trong công cuộc “phá lãng chinh”—lật đổ nhà Mãn Thanh, thành lập Dân Quốc. Vì thế, “Hoàng Hạc lâu trung xuy ngọc tiêu,” có nghĩa là tiếng tù-và hiệu lệnh cho cuộc cách mạng đã vang lên từ lầu Hoàng Hạc.  

Bát phương tề tấu khải ca ngâm (tám phương cùng hát bài ca mừng thắng lợi). Khi cuộc Khởi Nghĩa Vũ Xương bùng nổ (ngày 10 tháng 10 năm 1911-cuộc Cách Mạng Tân Hợi), dân chúng khắp nơi đều đồng lòng hưởng ứng, nô nức đáp lời kêu gọi tham gia cuộc cách mạng, khí thế như “gió cuốn mây dồn.” Nơi nơi, mọi người đều hân hoan hát vang khúc ca mừng chiến thắng.  

Tinh kỳ ngũ sắc hoán tân tân (lá cờ năm màu mới tinh bay phất phới). Lúc ban sơ, khi nền Cộng Hòa mới được thành lập, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc dùng lá cờ ngũ sắc làm quốc kỳ; về sau mới đổi sang cờ “thanh thiên bạch nhật,” tức là lá cờ có hình mặt trời màu trắng nổi bật trên nền trời xanh thẳm như hiện nay.

Vậy, trên đây là bài thơ thứ nhì, nói về cuộc Khởi Nghĩa Vũ Xương do Tôn Quốc Phụ khởi xướng.  

Có câu:  

“Hữu đạo thị chân phú quý,

vô đức nãi thanh bần.”

(Người có đạo hạnh là thật sự giàu sang, 

kẻ không có đức hạnh là hạng nghèo cùng.)  

Cho nên, hai chữ “đạo đức” không phải là sáo ngữ - ngôn từ trên sách vở của các nhà nho cổ hủ, mà chính là danh ngôn chí lý chứa đựng nhiều chân lý xác đáng. Luận về các triều đại lấy được cả thiên hạ, cũng như những nhân vật đã từng nắm quyền cai trị quốc gia của nước Trung Hoa, chúng ta có thể thấy rõ một điều: “Người có đức thì ở giữ quyền, kẻ không có đức thì chịu mất mát.”  

Trong số những nhân vật từng giữ các vai trò thiết yếu trong một trăm năm gần đây của lịch sử nước Trung Hoa mà chúng ta đã đề cập đến ở phần trước, có nhiều người chỉ xuất hiện trong chốc lát ngắn ngủi, giống như hoa quỳnh “thoáng nở thoáng tàn” vậy. Vì sao? Chính là vì họ không có đức hạnh! Người không có đức hạnh thì có thể chiếm được cả thiên hạ, song lại chẳng thể nào nắm giữ được thiên hạ. Trong khi đó, người có đức hạnh có thể là không lấy được thiên hạ, song lại có khả năng thâu phục được nhân tâm của cả thiên hạ. Do đó, đạo đức rất quan trọng, rất thiết yếu. Cổ nhân đã từng nói:  

“Đức giả, bổn dã; tài giả, mạt dã;

ngoại bổn nội mạt, tranh dân thí đoạt.”  

(Đạo đức là gốc, tiền tài là ngọn; 

nếu con người bỏ gốc theo ngọn thì những gì họ có được đều sẽ bị kẻ khác tước đoạt.)  

Nếu quý vị quên cái gốc, chỉ biết lo kiếm tiền, thì vì thiếu đức hạnh, bao nhiêu tiền bạc quý vị có được sẽ bị người khác cướp đoạt hết. Tuy nhiên, nếu quý vị có đức hạnh, thì quý vị sẽ được mọi người dốc lòng quy phục, ngưỡng mộ; và đó là điều mà quý vị sẽ mãi mãi trọn hưởng.  

Điển hình là trường hợp của vua Tuyên Thống nhà Thanh, vì vua không có đức hạnh cũng chẳng có đạo hạnh, cho nên triều đại nhà Thanh đã bị diệt vong. Tôn Quốc Phụ, người khởi xướng phong trào cách mạng ở Trung Hoa, thì “có trí mà chẳng có phước”—không đủ đức hạnh; cho nên sau khi cách mạng thành công liền bị Viên Thế Khải cướp hết mọi quyền hành.  

III)  Bây giờ là đến bài thơ thứ ba, bài này nói về Đại Tổng Thống Viên Thế Khải—Viên Hoàng Đế. Lời thơ như sau:  

Cát sĩ hoài nhu,

Tam thập niên biến,

Khởi phàm nhân tai?

Đàm hoa nhất hiện,

Nam bắc đông tây,

Long tranh hổ chiến,

Thất bát số định,

Sơn xuyên thô điện.

Cát sĩ hoài nhu  (người tốt mà có lòng ôn nhu, hòa nhã). Trong chữ “cát sĩ” (吉 )  thì “sĩ” () là tiếng trợ từ ngữ khí. “Nhu” (柔)có nghĩa là mềm mỏng, dịu dàng. Giảng theo nghĩa của từng chữ thì phải chăng ở đây muốn nói về một vị quan rất thanh liêm (cát sĩ) đi bình định, ủy lạo những kẻ phản nghịch? Không phải! Trong chữ “hoài ” (懷) nửa dưới có chữ tương tự như chữ “y” (衣) chỉ thiếu một nét chấm và một nét ngang; nếu đem ghép chữ này vào dưới chữ “cát” thì được chữ “viên” (袁). Cho nên, “cát sĩ hoài nhu” chính là ám chỉ chữ “viên” (袁) vậy.  

Tam thập niên biến (ba mươi năm thì biến đổi). Căn cứ theo từ ngữ để giải thích thì đa số mọi người đều cho rằng câu này ngụ ý là sẽ có một sự biến chuyển sau ba mươi năm. Thật ra thì không phải như vậy; thế thì như thế nào? Đó là dưới chữ “tam thập” nếu thêm vào một nét ngang thì sẽ biến thành chữ “thế” (世) 

Câu thơ kế tiếp là Khởi phàm nhân tai? (há phải người phàm ư?) Nếu chiếu theo mạch văn thì câu này có nghĩa rằng đó không phải là một người tầm thường; song le, ở đây chẳng phải như thế. Chữ “khởi” () mà có thêm chữ “phàm” (凡) đứng bên cạnh thì là chữ “khải” (凱).Tổng hợp cả ba câu “cát sĩ hoài nhu, tam thập niên biến, khởi phàm nhân tai” lại, thì thành ba chữ “viên thế khải” (袁世凱).  

Vì thế, hễ chưa đến thời điểm, chưa đến đúng lúc, thì không ai biết gì về sự hiện diện của Viên Thế Khải cả. Song, đến đúng thời điểm rồi, mọi người vẫn chưa biết rằng những câu thơ này là ám chỉ họ Viên [袁世凱 Viên Thế Khải]. Vì không thể biết chắc được nên mới gọi là “dự ngôn” (lời đoán trước). Đối với dự ngôn, người ta cần phải suy đi ngẫm lại mới nghiệm ra được ý tứ hàm chứa bên trong. Vậy, trên đây là dự ngôn về ba chữ “Viên Thế Khải.”  

Đàm hoa nhất hiện (hoa quỳnh thoáng nở). Câu này nghĩa là gì? “Đàm hoa nhất hiện” ám chỉ một khoảng thời gian rất ngắn ngủi, như hoa quỳnh chỉ nở rộ trong chốc lát mà thôi. Đây là nói về việc Viên Thế Khải do kém đức hạnh nên chỉ làm hoàng đế được vỏn vẹn có tám mươi ba (83) ngày. Tám mươi ba ngày làm hoàng đế của ông ta có thể ví như hoa quỳnh thoáng nở thoáng tàn về đêm vậy.  

Nam bắc đông tây, Long tranh hổ chiến (khắp các phía đông, tây, nam và bắc đều có rồng tranh cọp đấu). Vào thời của Viên Thế Khải, tức là thời đại Hồng Hiến, thì ở Nam Kinh có Phong Quốc Chương, Bắc Kinh có Đoạn Kỳ Thụy, Tây Kinh và Đông Kinh cũng có những nhân vật khác. Đây là thời kỳ “quân phiệt cát cứ”—những người này đều có tham vọng làm bá chủ, tranh nhau chia cắt lãnh thổ nước Trung Hoa, mỗi kẻ chiếm cứ một phương. Họ đóng đô ở khắp các phương đông, tây, nam, bắc; rồi tranh giành, xâu xé lẫn nhau như rồng và cọp. Có câu:  

“Bát tiên quá hải, các hiển thần thông.”

(Tám vị tiên vượt biển, mỗi vị hiển lộ thần thông của riêng mình.)

Thế thì, tình trạng “quân phiệt cát cứ” này kéo dài trong bao lâu?

Thất bát số định (số bảy số tám đã được ấn định). “Thất bát” ở đây không có nghĩa là bảy năm hoặc tám năm, cũng chẳng phải là bảy nhân với tám thành năm mươi sáu; không phải như thế! Đây là bảy năm rồi cộng thêm tám năm nữa, vị chi là mười lăm năm. Do đó, câu này không phải nói về Dân Quốc năm thứ bảy hoặc năm thứ tám, mà là bảy cộng với tám thành mười lăm—ám chỉ Dân Quốc năm thứ mười lăm (1926), tức là lúc cuộc Bắc Phạt thành công. “Thất bát số định”—số mạng đã sớm định sẵn như thế rồi.  

Sơn xuyên thô điện (núi sông được tạm ổn định). Lúc bấy giờ, đất nước Trung Hoa mới bắt đầu được thanh bình, yên ổn đôi chút.  

IV)  Bài thơ thứ tư là đến lượt nói về Tổng Thống Tưởng Giới Thạch của chúng ta. Bài thơ ấy như thế nào? Đó là:  

Can qua khởi, trục lộc mang,

Thảo mãng anh hùng tương xuất sơn,

Đa thiểu chẩm qua hào kiệt sĩ,

Phong vân tụ hội đáo Giang Nam,

Kim Lăng nhật nguyệt hựu trùng quang.

Can qua khởi, trục lộc mang, Thảo mãng anh hùng tương xuất sơn (huơ khiên múa giáo, bận rộn đuổi nai; bậc anh hùng trong bụi rậm sắp rời núi). “Can” là cái khiên, “qua” là cái giáo; “can qua” là ám chỉ chiến tranh. Người người đều trang bị vũ khí—kẻ cầm dao, người cầm súng sẵn sàng chém giết lẫn nhau; đó gọi là “can qua khởi,” chiến tranh bùng nổ. Đây là nói về thời kỳ “quân phiệt cát cứ,” trong nước xảy ra giặc giã, loạn lạc.  

“Trục lộc mang” tức là ai nấy đều xông xáo, hăm hở đuổi bắt con nai—tranh nhau nắm quyền thống trị Trung Nguyên. Mọi người đều hăm hở muốn xưng vương xưng bá, nắm giữ những vai trò chủ chốt trên lãnh thổ Trung Hoa — như làm Tổng Thống, Chủ Tịch, hoặc Ủy Viên Trưởng. Nói chung, tất cả đều có tham vọng muốn được làm chủ “con nai” Trung Nguyên này.  

Chúng ta hãy chú ý câu “Thảo mãng anh hùng tương xuất sơn" ám chỉ Tổng Thống Tưởng Giới Thạch. Trong chữ “tưởng” (蔣 - họ của Tổng Thống Tưởng Giới Thạch), ở trên có bộ “thảo” [vì thế chữ “thảo mãng” được dùng trong câu này], và dưới là chữ “tương” (將 sắp sửa) [cũng nằm trong câu này]. Như vậy, câu này ngụ ý rằng Tổng Thống Tưởng Giới Thạch, vị anh hùng đang ẩn nấp trong bụi cỏ, sắp sửa rời khỏi núi — sắp xuất hiện để bình định thiên hạ.  

Cho nên, những câu kế mới nói là: "Đa thiểu chẩm qua hào kiệt sĩ, Phong vân tụ hội đáo Giang Nam , Kim Lăng nhật nguyệt hựu trùng quang" (Bao nhiêu hào kiệt đã sẵn sàng, Giang Nam gió mây cùng tụ hội, Kim Lăng trời trăng lại sáng ngời).” Đây là ám chỉ sự thành công của Tổng Thống Tưởng Giới Thạch trong cuộc Bắc Phạt. Đương thời, khắp lãnh thổ nước Trung Hoa, các nhóm quân phiệt tranh nhau chiếm cứ đất đai, mỗi kẻ tự xưng làm bá chủ một phương; và kế đến, Tổng Thống Tưởng Giới Thạch đã xuất hiện và bình định tất cả. Do đó, câu trên nói là “thảo mãng anh hùng tương xuất sơn.” [anh hùng áo cỏ sắp xuống núi]  

"Đa thiểu chẩm qua hào kiệt sĩ " (có rất nhiều bậc hào kiệt đã sẵn sàng chờ đợi). Lúc bấy giờ có biết bao vị anh hùng hào kiệt chống đối nhau vì tranh giành quyền lực, muốn làm chủ “con nai” Trung Nguyên.

"Phong vân tụ hội đáo Giang Nam"  (tụ họp ở Giang Nam như gió thổi dồn mây lại). Khi ấy, mọi người lũ lượt kéo nhau đến Nam Kinh — các anh hùng hào kiệt đương thời của nước Trung Hoa đều tựu về tụ tập ở Giang Nam, tức là Nam Kinh.  

"Kim Lăng nhật nguyệt hựu trùng quang" (ở Kim Lăng, mặt trời và mặt trăng lại chiếu sáng). Kim Lăng là một tên khác của Nam Kinh. Lúc này, ở Kim Lăng như được ánh mặt trời và mặt trăng soi sáng trở lại, không còn đen tối u ám nữa. Vầng thái dương lại ló dạng, Nam Kinh lại được thấy ánh mặt trời. Điều này có nghĩa là vào năm Quang Tự thứ ba mươi của nhà Thanh [tức là khi dự ngôn này được nói ra], đã sớm có sự chủ định là Tổng Thống Tưởng Giới Thạch sẽ xuất hiện để trị lý thiên hạ.  

Tuy nhiên, có lẽ nghiệp sát của người dân Trung Hoa quá nặng nề, cho nên họ không được hưởng niềm hạnh phúc của cảnh mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an. Vì thế, khi các cuộc nổi loạn trong nước sắp được dẹp yên, thì quốc gia lại gặp nạn ngoại xâm. Kẻ ngoại xâm đó là ai? Đó chính là Nhật Bản!  

Trong suốt mấy ngàn năm, Nhật Bản luôn dòm ngó, lăm le thôn tính nước Trung Hoa. Quý vị biết có một thứ thuốc mà người Nhật đem bán có tên là gì không? Đó là thuốc Khinh Khoái Hoàn (輕 快 丸 qing kuai wan: viên thuốc nhẹ và nhanh). Trong từ ngữ “khinh khoái hoàn,” chữ “hoàn” vốn là “hoàn tán cao đơn,” và có nghĩa là thuốc viên. Khi bị mắc bệnh, người ta thường đi mua thuốc Khinh Khoái Hoàn về uống. Thế nhưng, cái tên thuốc này là ám chỉ triều đại nhà Thanh sắp “xong” rồi, sắp “hết” rồi. Theo tiếng Trung Hoa, chữ “hoàn” trong tên thuốc này đồng âm với chữ “hoàn” (完) có nghĩa là xong rồi, hết rồi; còn chữ “khinh” (輕) thì đồng âm với chữ “thanh” (清). Vì thế, “khinh khoái hoàn” (viên thuốc nhẹ và nhanh) có thể được hiểu là “Thanh khoái hoàn” (快 完 nhà Thanh sắp hết rồi), bởi đều đọc là “qing kuai wan” cả.  

Quý vị xem, Nhật Bản đã có dã tâm thôn tính nước Trung Hoa từ lâu. Họ uống thuốc Khinh Khoái Hoàn để trị bệnh, song với thâm ý: “Nếu chúng ta lật đổ được nhà Thanh, chiếm được nước Trung Hoa, thì tất cả chúng ta đều không bị bệnh. Không bị bệnh gì ư? Không bị bệnh đói! Chúng ta sẽ không bị đói khát nữa!” Đó là câu chuyện về “qing kuai wan.”  

Lại nữa, các loại bánh như bánh nướng, bánh hấp, bánh quấn thừng, thì người Nhật không gọi đó là những món điểm tâm hay thức ăn lót dạ; thế thì gọi là gì? Họ gọi đó là “Trung Quốc.” Phàm là thức ăn, các món điểm tâm, bánh hấp, họ đều gọi chung là “Trung Quốc” cả. Họ cầm bánh lên ăn, và họ nhai nuốt “nước Trung Quốc” vào bụng!!! Đây là một cách “nhồi sọ,” gieo vào đầu óc mọi người tư tưởng “ta sẽ thôn tính nước Trung Hoa trong một ngày rất gần” vậy!

V) Bài dự ngôn nói tiếp:  

Doanh châu hổ, độ hải lang,

Mãn thiên hồng nhật cánh hôn hoàng,

Mãng mãng thần châu thương phá toái,

Thương sanh đáo xứ khốc da nương,

Xuân lôi sạ hưởng kiến thanh dương.

 

Doanh châu hổ (cọp ở cồn đảo). Đây là ý nói người Nhật ở tại đất nước Nhật Bản thì ví như hùm như cọp vậy. Mặc dù Nhật Bản là một nước nhỏ song Hội Quốc Liên cũng có phần nể sợ. Tại sao? Vì người Nhật có lòng can đảm, rất dũng mãnh, không sợ chết.  

Có một lần, trước Thế Chiến Thứ Hai, Hội Quốc Liên cho tổ chức một cuộc thao diễn quân sự trên biển. Lúc bấy giờ người ta gọi đó là Hội Quốc Liên, chứ chưa gọi là Liên Hiệp Quốc. Lần ấy xảy ra vào ngày tháng nào thì tôi không rõ, bởi tôi không phải là nhà khảo cổ hoặc là người chuyên nghiên cứu lịch sử. Tuy nhiên, chỉ biết rằng lúc đó quân đội của các quốc gia đều lên tàu để diễn tập. Quân đội của quốc gia nào—Anh, Pháp, Đức, Mỹ cùng nhiều nước khác—thì diễn tập trên tàu của quốc gia đó. Lúc diễn tập, khi vị giáo quan hô to: “Đằng trước, bước!” thì tất cả binh lính trên tàu liền rầm rập tiến bước về phía trước. Quân đội của các quốc gia khác một khi bước đến mé tàu của mình rồi thì ai nấy đều đứng dậm chân tại chỗ—hai chân đều đặn dậm lên dậm xuống ở một vị trí, không tiến thêm nữa. Thế nhưng, quân đội của Nhật Bản thì thế nào? Khi đến mé tàu, họ vẫn tiếp tục tiến tới trước, bước thẳng vào lòng biển cả, không hề nao núng sợ hãi! Kể từ đó, quân đội của Hội Quốc Liên không dám coi thường quân đội của Nhật Bản nữa; mọi người đều nghĩ: “Ồ! Thật là có tinh thần thượng võ, không sợ chết!” Do đó, người Nhật khiến cho quân đội của Hội Quốc Liên phải một phen khiếp vía! Và, chính vì thế mà họ được ví với loài cọp—họ dũng mãnh như cọp vậy. 

Độ hải lang (loài lang sói vượt biển). “Độ hải” là vượt qua biển cả—từ nước Nhật Bản, người Nhật đã vượt đại dương để đến nước Trung Hoa. Ngay tại đất nước của họ thì họ là loài cọp—người ta sợ họ như sợ cọp vậy. Thế sau khi họ vượt đại dương thì sao? Thì họ biến thành một bầy chó sói! Chó sói thì còn độc ác hơn cả cọp beo nữa. Ban đêm, chúng đi lang thang khắp nơi, gặp trẻ con thì xé xác ăn thịt, gặp heo con thì vồ lấy tha đi—chúng toàn là cướp đoạt đồ vật của người khác [về làm bữa ăn cho riêng mình] để sinh tồn.

Người Nhật sau khi vượt đại dương thì chẳng khác nào loài lang sói. Lúc xâm lược nước Trung Hoa, họ còn đáng sợ hơn cả loài cọp nữa — họ đã biến thành một bầy chó sói! Họ dùng những thủ đoạn cực kỳ xấu xa để đối xử với người dân Trung Hoa, và giết hại không biết bao nhiêu là đồng bào Trung Hoa của chúng ta nữa. 

Cho nên, lúc bấy giờ "Mãn thiên hồng nhật cánh hôn hoàng" (trên bầu trời, mặt trời màu đỏ càng mờ nhạt). Có mặt trời đấy, song rất mờ nhạt u ám, không được sáng sủa. Trên không trung, vầng thái dương vốn đỏ rực, nhưng lúc bấy giờ vạn vật lại nhuộm một màu vàng héo hắt, ảm đạm. Vì sao ư? Vì mặt trời và mặt trăng không còn chiếu sáng nữa! “Hôn hoàng” tức là cảnh sắc mờ nhạt, tranh tối tranh sáng, vì hai vầng nhật nguyệt không tỏa ánh sáng nữa.  

Do đó, lúc này nước Trung Hoa, mãng mãng thần châu thương phá toái (vùng đất thiêng liêng rộng mênh mông bị tàn phá, chia cắt). Đất nước Trung Hoa còn được mệnh danh là “thần châu” (đất thiêng), bởi từ ngàn xưa đã có rất nhiều người ở Trung Hoa tu hành và thành thần tiên. “Thần châu” có nghĩa là nơi tụ hội của thần và tiên, song bấy giờ, nơi này lại bị tàn phá, chia cắt. Lúc này người Nhật đi lùng sục, gieo rắc tai ương trên khắp đất nước Trung Hoa. Họ đốt phá, giết hại, cướp bóc, hãm hiếp ... , làm tất cả mọi việc đồi bại để tàn phá, xâu xé đất nước này.  

Thương sanh đáo xứ khốc da nương (khắp nơi dân chúng đều than khóc cha mẹ). Khi ấy, dân chúng đều phải tản cư để tránh thảm họa chiến tranh, rất nhiều em bé phải chịu cảnh bơ vơ, không nơi nương tựa, lang thang phiêu bạt khắp nơi tìm cha gọi mẹ. Tình cảnh loạn lạc, bỏ nhà bỏ quê đi lánh nạn chiến tranh của thời ly loạn này thật thương tâm đến nỗi chẳng dám nhìn. Đó là cảnh tượng “thương sanh đáo xứ khốc da nương.”  

Xuân lôi sạ hưởng kiến thanh dương (sấm mùa xuân vừa nổ vang thì thấy được bầu trời quang đãng). “Xuân lôi” ám chỉ bom nguyên tử. Khi bom nguyên tử phát nổ, tức là lúc tiếng sấm xuân rền vang, thì bầu trời sẽ trở nên trong sáng, mọi người lại thấy được vầng thái dương rực rỡ.

VI)  Kế đến là bài thơ thứ sáu, nói về biến cố Tây An. “Tây An sự biến” được đề cập đến như sau:  

Tế liễu doanh trung,

Quần hùng hào ẩm,

Nguyệt yểm trung thu,

Ham túy vị tỉnh,

Song sư bác cầu,

Nhất đọa kỳ tỉnh,

Hồng phấn giai nhân,

Diện diệp anh cảnh.

 

Ba nhân vật giữ vai trò chủ yếu trong biến cố này là Tổng Thống Tưởng Giới Thạch, Trương Học Lương, và bà phu nhân họ Tưởng — Tống Mỹ Linh [vợ của Tưởng Giới Thạch].  

Tế liễu doanh trung (trong doanh trại). “Tế liễu doanh” là ám chỉ Tây An, nơi xảy ra sự biến. Thế thì, trong doanh trại của quân đội, Quần hùng hào ẩm (các anh hùng hào hứng uống rượu). Bấy giờ, có Trương Học Lương, Tưởng Giới Thạch, Dương Hổ Thành cùng rất nhiều người khác nữa. “Quần hùng” nghĩa là rất nhiều vị anh hùng, những người có tướng mạo, phong cách của bậc anh hùng. Và, họ quây quần, cùng nhau uống rượu, chén thù chén tạc. Đó là vào ngày nào? Lúc đó là gần dịp Tết Trung Thu, cho nên nói: Nguyệt yểm trung thu (trăng sắp vào giữa thu)—có lẽ lúc ấy mặt trăng còn đang bị mây che khuất, vẫn còn một chút nữa.  

Ham túy vị tỉnh (say sưa chưa tỉnh). Lúc này, mọi người đều đã uống quá nhiều, đều say mèm và ngủ mê mệt. Thế nhưng, trước khi mọi người tỉnh dậy thì có Song sư bác cầu (hai con sư tử giành nhau trái cầu). Trong khi xảy ra biến cố Tây An, có một vị liên trưởng tên là Tôn Danh Cửu hay Tôn Danh Thập gì đó (tôi không rõ lắm), đã bắt Tổng Thống Tưởng Giới Thạch. Bấy giờ, có hai con sư tử cùng tranh nhau một trái cầu; trái cầu này là gì? Đó chính là mảnh đất Trung Hoa. Cả hai con sư tử đều chiến đấu để đoạt trái cầu này cho bằng được.  

Song le, Nhất đọa kỳ tỉnh (một rớt xuống giếng)—có một con sư tử vì thiếu cẩn thận nên bị rớt xuống giếng. Con sư tử bị rớt xuống giếng có thể là Tổng Thống Tưởng Giới Thạch, mà cũng có thể là Tướng quân Trương Học Lương. Dù thế nào đi nữa, nói tóm lại là cả Tổng Thống Tưởng Giới Thạch lẫn Trương Học Lương đều có lúc bị “rớt xuống giếng.”  

Có thể nói rằng kẻ bị rớt xuống giếng lúc này là Tổng Thống Tưởng Giới Thạch. Bấy giờ có hồng phấn giai nhân, diện diệp anh cảnh (người đẹp phấn hồng, má lúm đồng tiền, mặt như hoa anh đào). "Hồng phấn giai nhân" chính là nữ sĩ Tống Mỹ Linh, phu nhân của Tổng Thống Tưởng Giới Thạch. Tưởng phu nhân và Tống Tử Văn, cùng với nhiều người khác nữa, đều đến Tây An để giảng hòa với Trương Học Lương.

Trương Học Lương cũng không phải thật sự muốn bắt Tổng Thống Tưởng Giới Thạch, mà chỉ muốn dùng cách này để can gián họ Tưởng. Vì thế, khi Tưởng phu nhân đến đó và vừa ngỏ lời, thì Trương Học Lương, vốn là người trọng nghĩa khí, liền nói: “Được, tôi sẽ hộ tống Tưởng Chủ tịch trở về!” Thế là ông ta đích thân đi theo bảo vệ Tổng Thống Tưởng Giới Thạch về tận Nam Kinh.  

Về tới Nam Kinh, ngờ đâu con sư tử này leo ra khỏi giếng rồi, thì con sư tử kia lại bị rớt xuống hầm và bị giam lỏng hơn năm mươi năm. Khi con sư tử thứ nhất bị rớt xuống giếng thì có “hồng phấn giai nhân” đến và, Diện diệp anh cảnh bằng nụ cười cùng nước mắt, đã làm biến đổi lịch sử nước Trung Hoa.  

Vậy, vào năm Quang Tự thứ 30 (1904), biến cố Tây An đã sớm được dự đoán là sẽ xảy ra.

VII) Bài thơ kế tiếp nói về sự đầu hàng của Nhật Bản:  

Xuân lôi sạ, thụ bạch kỳ,

Thiên vạn hoạt quỷ khốc đề đề,

Thạch Đầu thành trung phi phù đáo,

Hựu kiến trùng chỉnh Hán cung nghi,

Đông sơn hựu hữu hỏa quang chiếu.

 

Xuân lôi sạ, thụ bạch kỳ (sấm xuân nổ, cờ trắng giương lên). Ngay sau khi quả bom nguyên tử được thả xuống, Nhật Bản không biết phải xoay sở thế nào, đành phải giương cờ trắng, chịu đầu hàng vô điều kiện.  

Thiên vạn hoạt quỷ khốc đề đề (ngàn vạn con quỷ sống khóc hu hu). Bấy giờ, người Nhật giống như một bầy quỷ sống. Đội quân cảm tử của Nhật Bản vốn không sợ chết, giờ đây đều kêu gào than khóc, lớp thì tự sát, lớp thì chán nản, không muốn sống nữa; cho nên nói “thiên vạn hoạt quỷ khốc đề đề.”  

Người Nhật vốn đều có tinh thần thượng võ, hùng dũng hiên ngang, phô trương võ lực ở khắp nơi. Họ làm thành một đội quân hung hãn như hổ lang, đến đâu cũng gieo rắc sự kinh hoàng, khiếp đảm; thế mà nay phải chịu đầu hàng vô điều kiện, khiến ai nấy đều không cầm được nước mắt. “Thiên vạn hoạt quỷ” — họ bấy giờ chẳng khác nào một bầy quỷ sống. Vẻ oai phong không còn, nét vũ dũng cũng biến mất; cho nên cả ngàn vạn con quỷ sống đều khóc sướt mướt. Đương thời, khi họ đã đầu hàng, người Trung Hoa liền bắt nạt, lấn lướt họ như để báo thù, bởi họ đã sang xâm lược lãnh thổ và sát hại vô số đồng bào Trung Hoa.  

Trước đây tôi đã từng nói với mọi người rằng: “Chúng ta chớ nên xem thường người Nhật. Chớ nên đánh giá thấp người Nhật. Hai mươi năm nữa Nhật Bản sẽ là một cường quốc trong cộng đồng quốc tế!” Tại sao tôi nói như thế? Bởi vì tuy chiến bại, nhân dân Nhật Bản vẫn đoàn kết, yêu nước, và luôn luôn tìm cách làm cho đất nước được cường thịnh trở lại. Thế nên, hai mươi năm sau khi đầu hàng, Nhật Bản đã dùng chiến thuật kinh tế để áp đảo toàn thế giới, và lại trở thành một quốc gia giàu mạnh.  

Thạch Đầu thành trung phi phù đáo (có tin nhanh đưa đến thành Thạch Đầu). Thành Thạch Đầu tức là Nam Kinh, và cũng chính là Kim Lăng. Có mệnh lệnh từ Nam Kinh truyền xuống; mệnh lệnh gì? Đó là phải làm lễ mừng thắng lợi của cuộc kháng chiến tám năm. Mọi người đều được lệnh phải ăn mừng thắng lợi thành công.  

Hựu kiến trùng chỉnh Hán cung nghi (lại thấy nghi lễ của cung điện nhà Hán lần nữa). Bấy giờ, vì ăn mừng thắng lợi, mọi người đều mặc lễ phục tươm tất. Nước Trung Hoa với “ba trăm nghi lễ, ba ngàn oai nghi” nay đã được xuất hiện trở lại!  

Thế nhưng, mọi người cần phải biết là: Đông sơn hựu hữu hỏa quang chiếu (ở rặng núi phía đông có ánh lửa lập lòe). Về phía đông của rặng núi lại có ánh lửa lóe sáng. Ánh lửa này là gì? “Đông sơn” là ám chỉ Mao Trạch Đông, kẻ thành lập Bát Lộ Quân ở vùng Đông Bắc. Còn Lâm Bưu, con chó sói, dẫn theo một bầy lang sói, thì ví như ánh lửa lập lòe vậy. “Hỏa quang” cũng ám chỉ màu đỏ của Đảng Cộng Sản. Ánh lửa ở phía đông ngọn núi lại cháy bùng lên sáng rực.

VIII)  Bài thơ kế tiếp nói về sự xuất hiện của Đảng Cộng Sản Trung Hoa:  

Nhật nguyệt thực, ngũ tinh hy,

Nhị thất giao gia quải thái y,

Dã nhân cử túc bách kim hổ,

Biến địa hồng hoa biến địa cơ,

Phú quý bần tiện vô cao đệ.

Quý vị xem, đấy không phải là khẩu hiệu của Đảng Cộng Sản thì là cái gì? Nhật nguyệt thực, ngũ tinh hy (mặt trời và mặt trăng bị che khuất, năm ngôi sao thì hiếm có). “Nhật nguyệt thực” ý nói là sắp tới những ngày đen tối. Tuy rằng có mặt trời nhưng lại bị che khuất, mặt trăng cũng bị che khuất. Mặt trời và mặt trăng đều không còn chiếu sáng nữa.  

“Ngũ tinh hy” tức là các ngôi sao cũng thưa thớt, ít ỏi. “Ngũ tinh” có nghĩa là năm ngôi sao, ám chỉ lá cờ của Đảng Cộng Sản — cờ năm sao. “Nhật nguyệt thực”  là hiện tượng mặt trời và mặt trăng bị che khuất, ngụ ý là lá cờ “thanh thiên bạch nhật” không còn nữa. “Ngũ tinh hy” tức là năm ngôi sao rất hiếm hoi — cờ “năm sao” cũng không được nhiều lắm, ý nói là họ còn hoạt động bí mật, chứ chưa được công khai rộng rãi.  

Thế nhưng, nhị thất giao gia quải thái y (hai bảy thêm vào, khoác y phục nhiều màu sắc). Chữ “nhị” (二) mà có ghép thêm chữ “thất” (七) thì thành chữ “mao” (), rõ ràng là muốn nói đến Mao Trạch Đông. Trong câu thơ này có tiềm ẩn hai chữ “mao trạch". “Mao” mà “quải thái y.” “Thái y” tức là y phục có màu sắc rực rỡ. “Trạch” là “nhuận trạch” (thấm nhuần), cũng hàm ý tươi tắn, có đôi chút rực rỡ. Đó gọi là “quải thái y.”  

Dã nhân cử túc bách kim hổ (người quê mùa giơ chân bức bách con cọp vàng). “Dã nhân” nghĩa là gì? “Dã nhân” tức là người không có văn hóa — công nhân, nông dân, quân nhân — quân đội của Bát Lộ Quân. “Cử túc bách kim hổ” có nghĩa là giơ chân đá ngã con cọp vàng, ám chỉ việc những người này đi lùng sục khắp nơi để ruồng bắt, thanh toán các đại địa chủ, đem các địa chủ ra tòa để xét xử, đấu tố. “Kim hổ” (con cọp vàng) là ám chỉ các đại địa chủ. Đảng Cộng Sản gọi các đại địa chủ là “kim lão hổ” vì họ có rất nhiều tiền. Bởi họ bóc lột nhân dân cho nên họ được mệnh danh là “cọp,” con cọp vàng. “Bách” tức là áp bức, chèn ép. Những người quê mùa (dã nhân) giơ chân đàn áp “con cọp vàng” — mặc dù họ quê mùa, song những “con cọp vàng” đều phải kiêng dè nể sợ bởi vì họ ngang ngạnh, bất chấp lý lẽ.  

Biến địa hồng hoa biến địa cơ  (khắp mặt đất là hoa màu đỏ, khắp nơi toàn là những người đói khát). Lúc này, toàn nước Trung Hoa đều tràn ngập một màu đỏ—màu đỏ Cộng Sản—giống như hoa màu đỏ đang nở rộ trên khắp đất nước vậy.  

“Biến địa cơ” có nghĩa là khắp nơi đều đói khát. Chữ “cơ” (飢) này có nghĩa là đói khát, chứ không phải là chữ “kê” (雞 con gà), mặc dù trong tiếng Trung Hoa hai chữ này phát âm giống nhau (đều đọc là "ji" cả). Nếu hiểu đó là chữ “kê,” thì “biến địa kê” có nghĩa là khắp nơi đều nhung nhúc những gà vịt, và chúng ta không phải nuôi, không phải cho chúng ăn; mà lúc nào cần thì chỉ việc bắt vô giết, làm thịt — không phải như vậy! Đây là chữ “cơ,” có nghĩa là đói khát. Bấy giờ, khắp mặt đất đều là hoa màu đỏ, thế nhưng, khắp đất nước dân chúng lại đều bị đói khát.  

Phú quý bần tiện vô cao đệ (giàu sang nghèo hèn, không cao thấp). Bấy giờ, khẩu hiệu của Đảng Cộng Sản là “Không có giàu, không có nghèo. Người người đều có cơm ăn, ai nấy đều có việc làm.” Tuy nói là “vô cao đệ,” tức là trong xã hội không còn giai cấp cao thấp nữa, song lúc họ vừa thành công thì lại bày ra đủ loại đặc quyền đặc lợi. Vì thế, giữa người giàu và kẻ nghèo, cũng như giữa người sang và kẻ hèn, lại càng cách biệt nhau hơn cả trước kia nữa. Vậy, đoạn này là nói về Mao Trạch Đông.  

Tôi còn nhớ trước khi tôi rời Đông Bắc thì nơi đây đã có người của Đảng Cộng Sản đang bí mật hoạt động. Bấy giờ tôi là một thầy tu, đã xuất gia rồi. Một người trong bọn họ tuyên truyền với tôi về những điểm ưu việt của Đảng Cộng Sản—mọi người đều bình đẳng như thế nào, rồi tài sản được phân chia đồng đều ra làm sao... Ông ta nói thao thao về quyền bình đẳng và tài sản chung (cộng sản), và về viễn ảnh mọi người đều có cơm ăn, ai nấy đều có áo mặc, tất cả đều có việc làm. Bất luận thế nào thì mọi người cũng đều như nhau cả—không có người giàu cũng chẳng có kẻ nghèo, mà chỉ có bình đẳng, hoàn toàn bình đẳng, một sự bình đẳng tuyệt đối!  

Lúc đó, tôi chẳng nghĩ ngợi, liền lý luận lại rằng: “Cộng sản các ông chỉ có thể cộng chung cái tài sản hữu hình; còn tài sản vô hình thì các ông cộng chung không được. Các ông chẳng có cách nào cộng chung được thứ tài sản không hình tướng.”  

Ông ta nói gì ư?  

Tôi nói tiếp: “Lấy thí dụ, nhà cửa, đất đai, của cải—đây là những thứ mà ông có thể cộng vào, và cũng có thể chia ra. Thế nhưng, tài sản vốn có trong bản thân của mỗi người thì ông chia không được mà cộng cũng chẳng được nốt. Vì sao ư? Như con mắt chẳng hạn, nếu ông thật sự cộng sản thì ông phải chia bớt một con mắt của mình cho người mù mới phải. Tôi thử hỏi những người trong Đảng Cộng Sản các ông, chẳng hay có ai sẵn lòng cho bớt người mù kia một con mắt chăng?”  

Ông ta lặng thinh, không nói gì cả. Tôi lại nói tiếp: “Chẳng có ai bằng lòng chia bớt một con mắt của mình cho người khác cả. Mà dầu có đi chăng nữa, thì cũng chỉ có một hoặc hai người được chia cho mà thôi—không thể nào chia đều cho tất cả mọi người được. Lại nữa, cho dù ông có cho người mù nọ một con mắt đi nữa, thì sau khi được đem cấy vào trũng mắt của anh ta, cũng chưa chắc là anh ta có thể nhìn thấy được. Vì vậy, người mù nọ vẫn không thể hưởng tài sản này được.  

“Tai của ông nghe được, thế thì ông có sẵn lòng cho người điếc kia bớt một cái tai để hắn cũng có ‘tài sản’ tai không? Có thể như thế được chăng?”  

Tôi nói tiếp: “Như người câm không nói được, vậy ông có vui lòng cho anh ta bớt nửa cái lưỡi của ông không? Nếu ông chia cho anh ta một nửa cái lưỡi của ông thì chính bản thân ông cũng chẳng thể nói được nốt—thế là cả hai đều bị câm cả! Nếu ông cộng chung con mắt thì cả ông lẫn người mù nọ đều bị mù, ông cộng chung lỗ tai thì cả ông cùng người nhận đều bị điếc. Thậm chí, tay, chân, và năm giác quan của cơ thể đều như thế cả—ông có thể cộng chung với người khác được chăng?”  

Nghe tôi nói như thế, ông ta không còn gì để nói nữa, bèn lẳng lặng bỏ đi. Hôm sau, ông ta đến rất sớm và nói với tôi: “Những điều Thầy nói hôm qua cũng khá hữu lý đấy! Người như Thầy cũng rất hiếm, Thầy nên ra làm việc để phục vụ quốc gia. Thầy nên đi theo cách mạng. Hãy tiếp tay với chúng tôi, chúng ta cùng nhau thành lập Đảng Cộng Sản.”  

Ông ta muốn lôi kéo tôi tham gia Đảng Cộng Sản, nhưng tôi tự nghĩ: “Mình chẳng có tài sản gì để cộng với người ta, mà mình cũng không muốn cộng tài sản của người khác vô mình làm chi. Hơn nữa, cả đời tôi, tôi không hề muốn bất cứ thứ gì. Tôi không muốn cộng tài sản của người khác, người ta cũng chẳng muốn cộng tài sản của tôi. Mà tôi cũng chẳng có tài sản gì để cộng được cả!”  

Tôi bèn nói với ông ta: “Để tôi suy nghĩ xem! Phục vụ quốc gia cũng là điều tốt, hãy để tôi nghĩ lại xem!”

Thế là ông ta ra về. Sang hôm sau thì tôi cũng ra đi; và kể từ đó, tôi từng bước từng bước đi đến Hoa Kỳ; song từ Hương Cảng đến Hoa Kỳ thì tôi đi bằng máy bay.

Phần kế tiếp là nói về Đài Loan. Nói gì về Đài Loan?  

Nhị thất tung hoành,

Nhất ngưu song vĩ,

Vô phục nhân hình,

Nhật hành hằng quỹ,

Hải thượng kim ngao,

Huyền phục luật lữ,

Thiết điểu lăng không,

Đông nam tận hủy.

 

Nhị thất tung hoành (hai bảy dọc ngang.) [Chữ “nhị”(二) ghép với chữ “thất” (七) thì thành chữ “mao” (毛) ám chỉ Mao Trạch Đông.] Câu này mô tả sự kiêu căng, ngang ngược của Mao Trạch Đông lúc mới bắt đầu nắm được chủ quyền tối cao ở Trung Hoa lục địa. Tại quảng trường Thiên An Môn, họ Mao hô hào quần chúng: “Nhân dân Trung Hoa hãy đứng dậy!” Ông ta lấy làm đắc ý, tự cho rằng trước đây chưa có ai được như mình và sau này cũng chẳng có ai bằng được mình; bởi ông ta ngạo mạn như thế cho nên nói “nhị thất tung hoành.”  

Nhất ngưu song vĩ (một con trâu có hai đuôi). Quý vị đã có bao giờ trông thấy con trâu hai đuôi chưa? Quý vị thấy có kỳ lạ hay không chứ? Đó ắt hẳn là một con quái vật!? Song, ở đây không phải nói tới con trâu hai đuôi; mà ngụ ý là dưới chữ “ngưu” (牛 con trâu) có thêm hai nét phẩy (八), và đó là chữ “chu” (朱).

“Nhị thất” thì ám chỉ Mao Trạch Đông, còn “nhất ngưu song vĩ” là ám chỉ Chu Đức. Đương thời, hai nhân vật này thường được nhắc tới với danh xưng “Chu Mao, Chu Mao.”  

Vô phục nhân hình (không còn hình dạng con người). Hình dạng của họ trông không còn giống của con người nữa.  

Nhật hành hằng quỹ (mặt trời đi theo một quỹ đạo không đổi). Lúc ấy, mặt trời và mặt trăng vẫn luân chuyển như thường lệ; và tình hình sinh hoạt hằng ngày của người dân cũng cứ thế mà trôi qua, không có thay đổi gì mấy.  

Hải thượng kim ngao (con rùa vàng trên biển). Đây là nói về Đài Loan. Địa thế của hòn đảo này trông giống như một con rùa vàng khổng lồ nằm giữa biển khơi vậy. Phật giáo ở nơi đây rất hưng thịnh—giống như Bồ Tát Quán Âm đặt chân trên lưng con rùa vàng này—và có rất nhiều người xuất gia rời lục địa Trung Hoa để sang Đài Loan. Vì thế, hòn đảo này được ví như “con rùa vàng trên biển.”  

Huyền phục luật lữ (y phục màu đen và âm nhạc). “Huyền phục” tức là lễ phục màu đen. “Luật lữ” có nghĩa là hòa nhạc, ca hát. Câu này ngụ ý rằng mọi người reo mừng hòa bình, và ai nấy đều được trải qua những tháng ngày an lành, sung túc.  

Thế rồi, thiết điểu lăng không, đông nam tận hủy (con chim sắt bay lượn trên trời cao, đông nam bị hủy sạch). “Thiết điểu” (chim sắt) tức là máy bay. “Thiết điểu lăng không” có nghĩa là máy bay vần vũ trên không trung. Còn nhớ vào năm bốn mươi mấy hoặc năm mươi mấy gì đó, Đảng Cộng Sản Trung Hoa đã dùng máy bay để dọ thám tình hình quân sự của Đài Loan. Bấy giờ, Đài Loan đã có hỏa tiễn [rattlesnake missiles] nên đã bắn rơi được các máy bay dọ thám. Và kể từ đó, phía Cộng Sản không dám trở lại để đột kích nữa.  

 “Đông nam tận hủy có nghĩa là phía đông nam bị thiêu hủy toàn bộ. Câu này ám chỉ sự cắt đứt quan hệ giữa Đại Lục với Đài Loan—họ không còn giao thông, liên lạc với nhau nữa. Và trong suốt mấy thập niên, dân chúng của đôi bên vẫn sinh hoạt như thế, và Đài Loan được hưởng cảnh thái bình, phồn thịnh.

Hồng hạ uý, bạch vân chưng,

Lạc hoa lưu thủy lưỡng vô tình,

Tứ hải thủy trung giai xích sắc,

Bạch cốt như khưu mãn cương lăng,

Tương tướng ngọc thổ tiệm đông thăng.


Những câu này có lẽ đề cập đến tình hình hiện tại. 

Hồng hạ uý, bạch vân chưng (ráng mây đỏ thành xanh, mây trắng bốc hơi).
Cộng sản vốn được tượng trưng bằng màu đỏ nhưng rồi sẽ đổi sang màu xanh lam, tức là Chủ Nghĩa Cộng Sản sẽ được đổi thành Chủ Nghĩa Tư Bản. Và, đó chính là tình hình hiện tại của Cộng Sản. Cửa ngõ đuợc rộng mở. Chẳng phải bây giờ Trung Quốc cũng tự xưng là "kinh tế đại quốc (nước lớn mạnh về mặt kinh tế)" sao? Như vậy, màu đỏ biến thành xanh lơ và không còn đỏ nữa. Màu xanh lơ tiêu biểu việc con người chỉ lo nhậu nhẹt vui chơi, phung phí tiền bạc. Tương tự như ở Trung Quốc đại lục hiện nay, dân chúng ra sức ăn uống, hưởng thụ (bất kể đến ngày mai). Cộng Sản vốn là màu đỏ nhưng nay biến thành màu xanh lơ - phải thay đổi thì mới cải cách được.

"Bạch vân" tức là "thanh thiên bạch nhật kỳ" - lá cờ có hình mặt trời màu trắng nổi bật giữa nền trời màu xanh- cờ của Quốc Dân Đảng. Câu nầy ngụ ý rằng Quốc Dân Đảng ví như một áng mây trắng được chưng cất và bốc hơi hết vậy. Mây đã thành hơi nước và tan biến vào hư không - chẳng còn mây nữa!

Cho nên, Lạc hoa lưu thủy lưỡng vô tình (hoa rơi, nước chảy - cả hai đều vô tình). "Lạc hoa" ám chỉ Đảng Cộng Sản, còn "lưu thủy" là chỉ Quốc Dân Đảng. Hai đảng phái nầy xưa nay chẳng có thiện cảm với nhau. Đôi bên đều không thành thật và đều tìm cách lường gạt lẫn nhau. "Lưỡng vô tình" - cả hai bên đều không có cảm tình với nhau, không bên nào nể nang bên nào cả. Do đó thế lực của họ đều kiệt quệ, hầu như không còn nữa.

Bởi cả hai đảng phái đều không chịu nhượng bộ, chẳng ai chịu nhường ai cả, cho nên Tứ hải thủy trung giai xích sắc (nước trong bốn biển đều thành màu đỏ). Nước trong bốn biển đều biến thành màu đỏ - đây là cảnh "sông nhuộm máu đào".

Bạch cốt như khưu mãn cương lăng (xương trắng chồng chất như gò khắp cả núi đồi). Xương người chết nhiều và chồng cao như gò núi. Khắp vùng núi non sơn dã, đâu đâu cũng toàn là hài cốt.

Tương tướng ngọc thố tiệm đông thăng (con thỏ ngọc sẽ từ từ nhô lên ở phương đông). Khi đất nước loạn lạc đến cực điểm, mọi người đều mơ ước cảnh thái bình thịnh trị. Cho nên vào lúc này, mọi việc dần dần khôi phục tốt đẹp hơn. "Thỏ ngọc" tức là mặt trăng. Trăng sẽ từ từ nhô lên ở phương đông và dần dần phát ra ánh sáng trở lại. Do đó, mọi người sẽ thấy lại được vầng trăng sáng tỏ.


Quan cái định, công tội phân,

Mang mang hải vũ kiến thừa bình,

Bách niên đại sự hỗn như mộng,

Nam triều kim phân thái bình xuân,

Vạn lý sơn hà xứ xứ thanh.

Lúc nầy vầng thái dương sẽ lại xuất hiện ở Trung Hoa - đất nước thái bình, dân chúng an cư lạc nghiệp, trời đất mưa thuận gió hòa.

Quan cái định, công tội phân (nắp quan tài đóng lại, công tội được phán xét phân minh). Phải đến khi người ta chết rồi, nắp quan tài của họ đã đậy lại rồi, mới có thể luận định về họ được. Bấy giờ, ai có công, ai có tội đều được phán đoán phân minh và được ghi chép rõ ràng trong sử sách.

Mang mang hải vũ kiến thừa bình (đất nước mênh mông chứng kiến cảnh thái bình). Bấy giờ là lúc thái bình. Có câu:

Vật cực tắc phản, bỉ cực thái lai.

(Hễ tới tột cùng thì sẽ trái ngược lại; xấu tới cực điểm thi tốt đến.)

Khi sự rối loạn lên đến cực điểm là đến lúc hòa bình được lập lại; lúc hòa bình đến cực điểm thì cũng là khi hỗn loạn xảy ra. Từ xưa đến nay, quốc vận của nước Trung Hoa đều là “hết hưng tới suy, hết yên tới loạn" nên nói:

Ngũ bách niên tất hữu vương giả hưng, kỳ gian tất hữu danh sĩ giả.

(năm trăm năm tất có vua chúa hưng khởi, trong thời gian đó ắt có bậc danh sĩ xuất hiện.)

Mang mang hải vũ là chỉ lãnh thổ Trung Hoa. Lúc bấy giờ có thể thấy được dải giang sơn mênh mông như chẳng có ranh giới nầy sắp được thái bình.

Bách niên đại sự hỗn như mộng (việc lớn trong một trăm năm rối ren mờ mịt như giấc mộng). Tính từ cuối đời nhà Thanh cho đến nay là ngót một trăm năm, những biến cố trọng đại xảy ra trong thời gian này giống như trong chiêm bao vậy.

Nam triều kim phân thái bình xuân (màu xanh thái bình rộn rã và phấn vàng tràn ngập vào thời Nam triều). Trong tương lai, kinh đô sẽ được đặt tại Nam kinh. "Nam triều" ám chỉ Nam Kinh (kinh đô ở phương nam). Bấy giờ, đất nước như sống trở lại thời ca vũ thái bình, khắp nơi tưng bừng tiếng nhạc reo vui. Không khí hoan lạc lại trở về với Nam kinh. Kinh thành này sẽ tràn ngập với niềm vui mừng cảnh thanh bình, dân chúng an hưởng cuộc sống sung túc, đất nước giàu mạnh, yên ổn, người người đều ấm no hạnh phúc.

"Thái bình xuân" tức là thời kỳ hết sức tốt đẹp huy hoàng. "Kim phân" là chỉ những người con gái sống trên thuyền chuyên hát xướng và uống rượu với khách ở Nam Kinh. Những cảnh sống giàu sang, xa hoa lộng lẫy lại tái diễn. Đó là điều chắc chắn.

Vạn lý sơn hà xứ xứ thanh (non sông muôn dặm chốn chốn xanh tươi). Khắp nơi, đâu đâu cũng chú trọng đến trang phục màu xanh. Trong tương lai, lực lượng quân đội thay thế vai trò của Đảng Cộng sản đều chú trọng màu xanh. Màu xanh là tiêu biểu cho sự tang tóc, do đó ngụ ý là "thăm dân, trị tội" - tức là nhận thấy đối phương quá sức bạo ngược nên muốn thay mặt muôn dân mà sửa trị. "Xứ xứ thanh" tức là áo quần của mọi người và đồng phục của quân đội đều là màu xanh.

Khắp cả vạn dặm sơn hà đều có quân đội chiếm đóng, cho nên nói rằng "Vạn lý sơn hà xứ xứ thanh". Lực lượng quân đội đề cập ở đây là đội quân mới và sẽ xuất hiện trong tương lai, chứ không phải của Đảng Cộng Sản hay Quốc Dân Đảng. Mặc dù vậy, nó vẫn là thoát thai từ hai đảng này. Định luật "hết trị tới loạn, hết hưng đến suy" chính là quốc vận của quốc gia vậy.

Đường Cao tổ, khởi nghĩa sư,

Trừ Tùy loạn, sáng quốc cơ.

(Đường Cao Tổ dấy binh khởi nghĩa,

Dẹp nhà Tùy, sáng lập quốc cơ.)

Đây là thời quật khởi, tương tự như buổi đầu của Trung Hoa Dân Quốc, lúc Lý Nguyên Hồng dấy binh khởi nghĩa và được toàn dân nhiệt liệt hưởng ứng vậy.

Đoạn thơ kế tiếp như sau:

Thế vũ tam phân, hữu thánh nhân xuất.

Huyền sắc kỳ quan, long chương kỳ phục. 

Nhật nguyệt phục minh, xử trị vạn vật.

Tứ hải âu ca, ấm thọ kỳ phúc.

Thế vũ tam phân (thế giới sẽ được chia làm ba). Đây không phải chỉ đơn thuần đề cập đến nước Trung-Hoa; mà ngụ ý rằng thế giới sẽ do ba nước lớn lãnh đạo. Ba đại quốc ấy là gồm những nước nào thì chưa thể khẳng định được. Có thể là nước Mỹ, Trung-Hoa và Nhật-Bản; hoặc nước Liên-Sô, Nhật-Bản và Trung-Hoa. Nói chung, Trung-Hoa sẽ là một trong ba nước làm bá chủ hoàn cầu. Ba đại quốc này sẽ như ba chân vạc, chia nhau trị vì và quản lý thiên hạ.

Hữu thánh nhân xuất (có bậc thánh nhân xuất hiện). Trong tương lai sẽ có bậc thánh nhân xuất hiện ở nước Trung-Hoa. 

Huyền sắc kỳ quan (mũ màu đen). Vị thánh nhân ấy sẽ đội mũ màu đen.

Long chương kỳ phục (huy hiệu con rồng rực rỡ trên y phuc). “Chương” tức là “chương minh biểu trứ”--sáng rỡ, dễ thấy. “Long chương” nghĩa là phù hiệu hình con rồng gắn rõ ràng, lấp lánh trên áo. Phần lớn những người trong quân đội đều có đeo phù hiệu trên vai--như cấp bậc Thượng-tướng thì trên vai áo có đính quân hàm hình năm ngôi sao. Trong trường hợp này, huy hiệu gắn trên vai của bậc thánh nhân nọ sẽ có hình con rồng. 

Nhật nguyệt phục minh (mặt trời và mặt trăng lại sáng tỏ). Trời đất sẽ bình thường trở lại--vầng thái dương sẽ xuất hiện. Lúc này, trời đất bắt đầu sáng sủa trở lại.

Xử trị vạn vật (coi sóc vạn vật). Lúc này, vị thánh nhân kia sẽ cai quản thế giới, ngày ngày giải quyết những việc quan trọng, vì nhân loại trên thế giới mà mưu cầu hạnh phúc.

Vì vị thánh nhân này lo nghĩ và mưu cầu hạnh phúc cho muôn dân, cho nên, tứ hải âu ca (bốn biển âu ca), nơi nơi đều tưng bừng múa hát trong cảnh thái bình, người người đều được an cư lạc nghiệp, ai nấy đều sinh sống vui vẻ, không còn lo âu phiền não nữa.

Ấm thọ kỳ phúc (được che chở bởi phước đức ấy). Toàn thể nhân loại trên thế giới đều được hưởng sự che chở do phúc ấm của vị thánh nhân này mang lại. Có câu:

Nhất nhân hữu khánh, triệu dân lại chi.

(Một người có đức, triệu dân được nhờ--cậy nương.) 

Nếu người ấy thông minh thì hào quang từ phúc ấm của người ấy sẽ tỏa khắp tất cả bá tánh trên toàn thế giới.

Cho nên, nước Trung-Hoa sẽ lãnh đạo thế giới ở thế kỷ thứ hai mươi mốt. Thế nhưng, nếu người dân Trung-Hoa đều hướng thiện thì mới mong lãnh đạo được thế giới; còn nếu không hướng thiện thì Trung-Hoa khó có thể tồn tại được bởi các nước ngoài đều lăm le dòm ngó, rình chờ lúc Trung-Hoa suy yếu, hoặc trong nước có sự phân tán, chia rẽ. Có câu: 

Cáp bạng tương tranh, ngư ông đắc lợi. 

(Nghêu sò đánh nhau, ngư ông được lợi.) 

Nếu người Trung-Hoa đàng hoàng, lương thiện, thì trong tương lai họ sẽ lãnh đạo thế giới; bằng không, nếu họ không hướng thiện, không đi theo con đường sáng sủa, quang minh chánh đại, e rằng họ sẽ bị người khác lãnh đạo, điều khiển! 

Trên đây là lời thơ của Đại Sư Bộ-Hư. Tiếp đến, Ngài nói thêm bốn câu thơ như sau: 

Mang mang thiên số bổn nan tri,

Duy tại thương sanh cảm thái hư,

Lão tăng bất cảm đa nhiễu thiệt,

Tiết lộ thiên cơ khủng bị tru.


Mang mang thiên số bổn nan tri (số trời mù mịt vốn khó biết). Ở đây lại đề cập đến thiên số (số phận do trời định sẵn) một đạo lý bao la, không giới hạn. Thứ đạo lý vô cùng vô tận này vốn không dễ gì mà biết được.

Duy tại thương sanh cảm thái hư (chỉ có chúng sanh làm thái hư cảm động). Bất luận quý vị có biết hay không và bất kể đạo lý thiên số rộng lớn bao nhiêu, nếu quý vị đều có thể “sửa ác, theo thiện,” thì có thể làm cho trời đất cảm động, khiến cho nơi nơi đều thái bình an lạc, khí lành trùm khắp đất trời.

Lão tăng bất cảm đa nhiễu thiệt (Sư già này không dám lắm lời). Vị Đại Sư Bộ-Hư này nói rằng: “Lão tăng chẳng dám nói quá nhiều!”. 

Tiết lộ thiên cơ khủng bị tru (ta sợ bị phạt vì dám tiết lộ thiên cơ). Nếu ta tiết lộ toàn bộ thiên cơ, ta sợ mình sẽ bị trời trừng phạt khiển trách, cho sét đánh chết.

Trên đây là sơ lược về các nhân vật thời sự của Trung-Hoa trong ngót một trăm năm cận đại. Tôi hy vọng chúng ta đều sẽ không lãng quên tổ quốc, không thờ ơ với gia đình, và cũng không lơ là đối với sức khỏe của mình. Chúng ta chẳng những chăm sóc sức khỏe bản thân, mà còn phải yêu tổ quốc, yêu gia đình. Đây là hy vọng của tôi đối với tất cả Thiện-tri-thức ở Đài-loan. Vì sao tôi lại nói những điều này với quí vị? Đó là để làm cho mọi người thức tỉnh và ý thức được rằng: tất cả đều là số trời, đều đã được quyết định. Con người chẳng qua chỉ như một cái máy -- phải chịu sự chi phối, điều khiển của trời đất. Vì thế mà họ trở nên điên đảo, làm những việc tán tận lương tâm, chỉ biết tranh giành quyền lợi. Thật ra, quý vị tranh giành thì cũng vậy mà không tranh giành thì cũng vậy thôi. Mọi người nên học lấy gương của Đại Sư Bộ-Hư -- đừng tranh quyền đoạt lợi nữa, mà hãy gấp rút lo tu hành!  

 

Ghi chú: Nhà Tùy (581-618), Nhà Thanh (1644-1911), Đường (618-907), Ngũ Đại Tàn Đường (Hậu Lương 907-923, Hậu Đường 923-936, Hậu Tấn 936-946, Hậu Hán 947-950, Hậu Chu 951-960), Tống (Bắc Tống 960-1127, Nam Tống 1127-1279), Nguyên (1271-1368), Minh (1368-1644), Thanh (1644-1911).

http://www.dharmasite.net/TramNamTheSu.htm