Trang chính‎ > ‎Nguyễn Du‎ > ‎

Nguyễn Du : Bắc Hành Tạp Lục

Bắc hành tạp lục Bài 1

Thăng Long đệ nhất thủ

I

Tản Lĩnh Lô Giang tuế tuế đồng
Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long
Thiên niên cự thất thành quan đạo
Nhất phiến tân thành một cố cung
Tương thức mỹ nhân khan bão tử
Ðồng du hiệp thiếu tẫn thành ông
Quan tâm nhất dạ khổ vô thụy
Ðoản địch thanh thanh minh nguyệt trung

Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Núi Tản sông Lô bao nhiêu năm vẫn thế
Đầu đã bạc (1) rồi mà lại thấy Thăng Long
Những ngôi nhà đồ sộ ngày xưa nay đã thành đường cái quan.
Dãi thành mới làm mất cung điện xưa
Các mỹ nhân ngày trước giờ đã có con bồng
Các bạn hào hiệp thuở xưa giờ đã thành ông
Suốt đêm nghĩ ngơi, thao thức không ngủ
Văng vẳng nghe tiếng sáo trong ánh trăng

—————————————————-
(1) Bạch đầu : Chữ bạch đầu này dùng để nói tuổi già. Bởi Nguyễn Du rời Thăng Long lúc nhà Lê mất (1789). Lúc ấy Nguyễn Du mới 25 tuổi. Ðến khi Gia Long lên ngôi (1802) Nguyễn Du từ Hà Tĩnh ra Thăng Long làm quan. Lúc ấy Nguyễn Du 37 tuổi. Ðến khi vâng mệnh đi sứ Trung Hoa (1813), Nguyễn Du đến Thăng Long một lần nữa. Bài thơ này làm lúc ra Thăng Long để sang Trung Quốc. Lúc đó Nguyễn Du đã gần ngũ tuần. Cho lên mới nói Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long.


Dịch Thơ
Thăng Long bài I

Núi Tản sông Lô vẫn núi sông
Bạc đầu còn được thấy Thăng Long
Nghìn năm cự thất thành quan lộ
Một giải tân thành lấp cố cung
Người đẹp buổi xưa đều bế trẻ
Bạn chơi thưở nhỏ thảy thành ông
Thâu đêm chẳng ngủ lòng thêm bận
Ðịch thổi trăng trong tiếng não nùng

Bản dịch: Quách Tấn

1 Sao2 Sao3 Sao4 Sao5 Sao (1 Bình chọn, trung bình: 1 00 trong số 5)
Đăng trong mục Thơ Sư Tầm | Gửi bình luận

Bắc hành tạp lục Bài 2

Thăng Long đệ nhị thủ

II

Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành
Do thị Thăng Long cựu đế kinh
Cù hạng tứ khai mê cựu tích
Quản huyền nhất biến tạp tân thanh
Thiên niên phú quí cung tranh đoạt
Tảo tuế thân bằng bán tử sinh
Thế sự phù trầm hưu thán tức
Tự gia đầu bạch diệc tinh tinh

Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Mảnh trăng ngày trước soi xuống ngôi thành mới (thàng Thăng Long vừa được xây lại năm 1805).
Đây vẫn là Thăng Long, đế kinh của các triều vua xưa.
Đường xá dọc ngang, xóa mất dấu vết cũ.
Tiếng đàn sáo cũng đổi khác, lẫn nhiều âm thanh mới.
Nghìn năm phú quý vẫn làm mồi cho sự tranh đoạt.
Bạn bè lúc nhỏ, kẻ còn người mất.
Thôi, đừng than thở cho cảnh đời chìm nổi.
Mái tóc ta đây cũng bạc rồi.

Dịch Thơ
Thăng Long bài II

Thành mới trăng xưa bóng tỏ mờ
Thăng Long nghìn trước chốn kinh đô
Dấu xưa khuất lấp đường xe ngựa
Ðiệu mới xô bồ nhịp trúc tơ
Danh lợi mồi ngon đua cướp giựt
Bạn bằng lớp trước sống lơ thơ
Nổi chìm thế sự đừng than nữa
Mái tóc mình đây cũng bạc phơ

Bản dịch: Quách Tấn

1 Sao2 Sao3 Sao4 Sao5 Sao (1 Bình chọn, trung bình: 5 00 trong số 5)
Đăng trong mục Thơ Sư Tầm | Gửi bình luận

Bắc hành tạp lục Bài 3

Ngộ gia đệ cựu ca cơ

Phồn hoa nhân vật loạn lai phi
Huyền hạc qui lai kỷ cá tri
Hồng tụ tằng văn ca uyển chuyển
Bạch đầu tương kiến khốc lưu ly
Phúc bồn dĩ hỉ nan thu thủy
Ðoạn ngẫu thương tai vị tuyệt ti
Kiến thuyết giá nhân dĩ tam tử
Khả liên do trước khứ thời y

Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Sau buổi loạn lạc, nhân vật nơi chốn phồn hoa đã khác xưa.
Con chim hạc đen bay trở lại, nào mấy ai biết? (1)
Ta từng nghe giọng ca uyển chuyển của nàng lúc xưa mặc áo hồng. (2)
Nay đầu đã bạc, mới gặp lại nhau, nghe nàng than thở nỗi lưu ly.
Chậu nước đã đổ rồi, khó lòng vét lại. (3)
Thương cho ngó sen đã đứt mà tơ vẫn còn vương.
Nghe nói nàng đã có chồng và đã có ba con.
Ái ngại thay nàng vẫn phải mặc cái áo xưa (vẫn làm ca cơ).

——————————————

Gia đệ : Em, có thể là em cùng mẹ, mà cũng có thể là em khác me. Ðây có thể chỉ người em cùng mẹ là Nguyễn Úc được tập ấm là Hoàng Tín đại phu Trung Thành Môn Vệ Úy. Năm Kỷ Dậu (1789) vua Chiêu Thống chạy sang Tàu, Nguyễn Úc chạy theo không kịp, về ngụ nơi quê vợ, làng Phù Ðổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Năm Tân Vị (1811), Gia Long nghe ông có tài khéo, xuống chiếu triệu vào kinh, bổ làm Thiêm Sự bộ Công, tước Hầu. Những miếu điện ở kinh thành đều do ông sáng chế kiểu thức.

(1) Chim hạc đen: Truyền rằng hạc vốn sắc trắng, tu nghìn năm thành sắc vàng, tu nghìn năm nữa ra sắc đen. Câu này ý nói, xa Thăng Long lâu này nay mới trở lại.

(2) Hồng tụ: Tay áo hồng, chỉ áo đào hát thường mặc.

(3) Phúc bồn : Chậu nước đổ. Tục có câu : “Phúc thủy nan thâu” nghĩa là nước đổ rồi khó hốt lên được. Ý nói là người ca cơ đã xa em mình rồi không sao tụ hợp đuợc nữa.

Dịch Thơ
Gặp lại người ca cơ cũ của em

Loạn rồi nhân vật đổi thay,
Phồn hoa chốn cũ ai hay hạc về.
Áo hường tưởng dạng cung Nghê,
Tiếng ca uyển chuyển từng nghe những ngày.
Tuổi già gặp lại nhau đây,
Bước đường lưu lạc lệ đầy thương đau.
Ðã đành nước đổ khôn thâu,
Than ôi ! Ngó đứt dễ dầu dứt tơ!
Có chồng đã mấy con thơ,
Áo hường ngày cũ bây giờ còn mang!

Bản dịch: Quách Tấn

1 Sao2 Sao3 Sao4 Sao5 Sao (Chưa được bình chọn)
Đăng trong mục Thơ Sư Tầm | Gửi bình luận

Bắc hành tạp lục Bài 4

Long Thành cầm giả dẫn

Long thành giai nhơn
Bất ký danh tự
Ðộc thiện huyền cầm
Cử thành chi nhơn dĩ Cầm danh
Học đắc tiên triều cung trung Cung Phụng khúc
Tự thị thiên thượng nhơn gian đệ nhất thanh
Dư tại thiếu niên tằng nhứt kiến
Giám Hồ hồ biên dạ khai yến
Thử thời tam thất chánh phương niên
Xuân phong yểm ánh đào hoa diện
Ðà nhan hám thái tối nghi nhơn
Lịch loạn ngũ thanh tùy thủ biến
Hoãn như luơng phong độ tùng lâm
Thanh như chích hạc minh tại âm
Liệt như Tiến Phúc bi đầu toái phích lịch
Ai như Trang Tích bịnh trung vi Việt ngâm
Thính giả mỹ mỹ bất tri quyện
Tận thị Trung Hòa Ðại Nội âm
Tây Sơn chư thần mãn tọa tận khuynh đảo
Triệt dạ truy hoan bất tri hiểu
Tả phao hữu trịch tranh triền đầu
Nê thổ kim tiền thù thảo thảo
Hào hoa ý khí lăng công hầu
Ngũ lăng niên thiếu bất túc đạo
Tính tương tam thập lục cung xuân
Hoán thủ Trường an vô giá bảo
Thử tịch hồi đầu nhị thập niên
Tây Sơn bại hậu dư Nam thiên
Chỉ xích Long Thành bất phục kiên (kiến)
Hà huống thành trung ca vũ diên
Tuyên phủ sứ quân vị dư trùng mãi tiếu
Tịch trung ca kỹ giai niên thiếu
Tịch mạt nhứt nhơn phát bán hoa
Nhan xú thần khô hình lược tiểu
Lang tạ tàn my bất sức trang
Thùy tri tiện thị đương niên thành trung đệ nhứt điệu
Cựu khúc tân thanh ám lệ thùy
Nhĩ trung tĩnh thính tâm trung bi
Mãnh nhiên ức khởi nhị thập niên tiền sự
Giám Hồ hồ biên tằng kiến chi
Thành quách suy di nhơn sự cải
Kỷ độ tang điền biến thương hải
Tây Sơn cơ nghiệp nhứt đán tận tiêu vong
Ca vũ không lưu nhứt nhơn tại
Thuấn tức bách niên tằng kỷ thì
Thương tâm vãng sự lệ triêm y
Nam hà quy lai đầu tận bạch
Quái để giai nhơn nhan sắc suy
Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng
Khả liên đối diện bất tương tri

Nguyễn Du

Dịch Thơ
Chuyện người gảy đàn ở Thăng Long

Thành Thăng Long nhớ từ thửa nọ
Bậc giai nhân tên họ ai hay
Ðàn cầm thánh thoát mấy dây
Khắp thành quen miệng gọi ngay Nàng Cầm
“Cung Phụng khúc” xưa ngâm trong Nội
Phổ nên chương tiếng nổi một thời
Nhớ ngày đương độ vui chơi
Giám hồ yến tiệc gặp người tài hoa
Tuổi hăm mốt nõn nà lộng lẫy
Gió xuân êm hây hẩy bông đào
Men tô duyên não nùng sao
Nỉ non năm tiếng thấp cao tuyệt vời
Theo tay ngọc lòng người ủ rũ
Tiếng bổng trầm to nhỏ miên man
Khoan như gió lướt thông ngàn
Trong như tiếng hạc lạc đàn kêu sương
Mạnh như sấm phũ phàng xé đá
Tiến Phúc bia nổ phá ầm ầm
Buồn như khúc Việt ai ngâm
Nỗi lòng Trang Tích âm thầm mà đau
Ðiệu êm ấm nghe lâu chẳng mỏi
Chính khúc này đại nội triều xưa
Tây Sơn quân tướng thẫn thờ
Ngả nghiêng đến sáng còn chưa thỏa lòng
Quăng lụa thưởng tây đông tíu tít
Vàng tựa bùn cứ việc vung tay
Công hầu hào khí đua say
Ngũ lăng niên thiếu một bày sá chi
Dạo khúc xuân diễm kỳ lả lướt
Băm sáu cung thánh thót xinh xinh
Tràng An treo ngọc liên thành
Phẩm cao vô giá, tài tình riêng ai
Thoảng hai chục năm trời từ đấy
Tây Sơn thua, ta trẩy Nam Hà
Long Thành gang tấc còn xa
Ðiệu xưa nhớ mấy cũng là đành thôi
Tuyên phủ sứ lại mời dự tiệc
Thiếu chi người mày biếc má hồng
Cuối bàn phảng phất não nùng
Một nàng đầu tóc hình dung bơ phờ
Mình gầy võ mày thưa duyên nhạt
Ai biết nàng oanh liệt xưa kia
Khúc đâu lệ chảy đầm đìa
Khiến người nghe những đê mê xót thầm
Chợt nhớ lại bao năm chuyện cũ
Từng bên ai vui thú hồ xưa
Thành tàn duyên cũng xác xơ
Ngậm ngùi mấy cuộc biển mờ dâu xanh
Rồi một sớm bại thành là thế
Cảm khúc ca trời để một người
Trăm năm một thoáng bao dài
Ngậm ngùi chuyện cũ cho đời buồn đau
Ở Nam về, mái đầu đã bạc
Người đẹp xưa cũng khác hình xưa
Giương đôi mắt ngó mà mơ
Thảm thay ai biết bây giờ là ai

bản dịch: Học Canh

1 Sao2 Sao3 Sao4 Sao5 Sao (Chưa được bình chọn)
Đăng trong mục Thơ Sư Tầm | Gửi bình luận

Bắc hành tạp lục Bài 5

Quỷ Môn quan

Liên phong cao sáp nhập thanh vân
Nam bắc quan đầu tựu thử phân
Như thử hữu danh sinh tử địa
Khả liên vô số khứ lai nhân
Tắc đồ tùng mãng tàng xà hổ
Bố dã yên lam tụ quỉ thần
Chung cổ hàn phong xuy bạch cốt
Kỳ công hà thủ Hán Tướng quân

Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Núi liên tiếp, cao vút tận mây xanh.
Nam bắc chia ranh giới ở chỗ này
Là nơi nổi tiếng nguy hiểm đến tính mạng.
Thương thay, bao nhiêu ngươì vẫn phải đi về qua đây.
Bụi gai lấp đường, mãng xà, hổ tha hồ ẩn nấp.
Khí độc đầy đồng, quỷ thần mặc sức tụ họp.
Từ thuở xa xưa, gió lạnh đã thổi bao đống xương trắng.
Chiến công của tướng nhà Hán (1) có gì đáng khen!

————————————–
Quỉ Môn quan : Ở phía Nam xã Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn. Ðịa thế hiểm trở. Có núi hình như đầu quỉ. Do đó mà mệnh danh là Quỉ Môn quan. Cổ thi có câu :

Quỉ Môn quan ! Quỉ Môn quan !
Thập nhân khứ, nhất nhân hoàn

Người Việt đi sứ Trung Quốc có câu :

Rạng ngày đến Quỉ Môn quan
Tiếng xưa “thập khứ nhất hoàn’ là đây

(1) Hán Tướng quân : Chỉ Mã Viện. Mã Viện đem quân đánh hai bà Trưng, tuy đắc thắng nhưng quân lính chết dọc đường không biết bao nhiêu. Như thế có gì là chiến công đắng khen ngợi. Cũng có ý nói : Kỳ công của tướng quân nhà Hán không có chi hơn là “đống xương trong gió lạnh bên đường. “


Dịch Thơ
Ải Quỷ Môn

Núi trập trùng giăng đỉnh vút mây,
Ải chia Nam Bắc chính là đây.
Tử sanh tiếng đã vang đồng chợ,
Qua lại người không ngớt tháng ngày.
Thấp thoáng quỉ đầu nương bóng khói,
Rập rình cọp rắn núp rừng cây.
Bên đường gió lạnh luồng xương trắng,
Hán tướng công gì kể bấy nay?

Bản dịch: Quách Tấn

1 Sao2 Sao3 Sao4 Sao5 Sao (Chưa được bình chọn)
Đăng trong mục Thơ Sư Tầm | Gửi bình luận

Bắc hành tạp lục Bài 6

Lạng thành đạo trung

Quần phong dũng lãng thạch minh đào
Giao hữu u cung, quyên hữu sào
Tuyền thủy hợp lưu giang thủy khoát
Tử sơn bất cập mẫu sơn cao
Ðoàn thành vân thạch tịch tương hậu
Hồng lĩnh thân bằng nhật tiệm dao
Quái đắc nhu tình khinh cát đoạn
Khuông trung huề hữu bút như đao

Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Núi non trập trùng, gió thổi vào đá, nghe như sóng vỗ.
Ở đây, thuồng luồng có hang kín, đỗ quyên cũng có tổ.
Nước suối ở đây hợp lại thành sông rộng.
Núi con không cao bằng núi mẹ.
Mây đá Đoàn thành chiều hôm nay như có ý đợi ta.
Thân bằng cố hữu ở núi Hồng Lĩnh càng ngày càng xa cách.
Quái lạ, nỗi nhớ nhung lại dễ cắt đứt.
Khi tráp có ngọn bút thay đao (để khuây khỏa).

——————————————
Lạng thành: Lạng sơn.

Dịch Thơ
Trên đường đi Lạng thành

Núi trập trùng, sóng kêu trên đá
Tổ nương chim, hang đã có rồng
Suối gom dòng nhỏ thành sông
Núi con đọ núi Mẹ không cao bằng
Chiều Lạng Sơn, mây giăng đá ngóng
Hồng Lĩnh thân sao chóng cách xa
Lạ chưa, dứt nhẹ tình nhà
Ðoạn sầu ngọn bút theo ta bạn đường …

Bản dịch: Quách Tấn

1 Sao2 Sao3 Sao4 Sao5 Sao (Chưa được bình chọn)
Đăng trong mục Thơ Sư Tầm | Gửi bình luận

Bắc hành tạp lục Bài 7

Lưu biệt cựu khế Hoàng

Táp niên cố hữu trùng phùng nhật
Vạn lý tiền đồ nhất xúc sơ
Ðạo lộ nhật lai tình vị cánh
Vân sơn biệt hậu ý hà như
Trướng nhiên phân thủ trùng quan ngoại
Lão hỷ toàn thân bách chiến dư
Tha nhật Nam qui tương hội phỏng
Lục Ðầu giang thượng hữu tiều ngư

Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Ngày gặp lại người bạn cũ của ba mươi năm trước.
Cũng là ngày tôi bắt đầu cuộc hành trình vạn dặm.
Chưa kể hết những nỗi dọc đường những ngày gần đây.
Sau khi chia tay nhau ở chốn núi mây, ý bạn ra sao ?
Hai ta chia tay nhau ngoài cửa quan, lòng buồn khôn xiết.
Anh trải qua trăm trận đánh, thân thể vẹn toàn,nhưng nay đã già rồi.
Sau này trở về nước, gặp lại anh, hỏi thăm nhau.
Chắc bây giờ trên sông Lục Đầu, anh đã là một bác tiều phu, hay người đánh cá, cũng chưa biết chừng!

————————————
Cựu khế Hoàng: Người bạn cũ họ Hoàng, không rõ tên. Theo bài thơ thì ông này chắc quê ở tỉnh Hải Hưng, bấy giờ làm quan ở Lạng Sơn và chắc có lẽ là ông quan võ.


Dịch Thơ
Từ biệt bạn cũ họ Hoàng

Ba mươi năm cũ gặp đây,
Lên đường vạn dặm cũng ngày tôi đi.
Tình thâm ơi, biết nói gì,
Núi mây ly biệt ý thì ra sao ?
Muôn trùng quan ải tay chào,
Mừng người bách chiến không sao tuổi già.
Về Nam mai mốt lân la,
Lục Ðầu bến nước hỏi tra ngư tiều.

Bản dịch: Quách Tấn

1 Sao2 Sao3 Sao4 Sao5 Sao (Chưa được bình chọn)
Đăng trong mục Thơ Sư Tầm | Gửi bình luận

Bắc hành tạp lục Bài 8

Trấn Nam Quan

Lý Trần cựu sự diểu nan tâm
Tam bách niên lai trực đáo câm (kim)
Lưỡng quốc bình phân cô lũy diện
Nhất quan hùng trấn vạn sơn tâm
Địa thiên mỗi vị truyền văn ngộ
Thiên cận tài tri giáng trạch thâm
Đế khuyết hồi đầu bích vân biểu
Quân thiều nhĩ bạn hữu dư âm

Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Việc cũ đời Lý, Trần xa xôi khó biết.
Chỉ biết cửa ải này có đến ngày nay đã ba trăm năm.
Bức thành lẻ loi phân chia hai nước,.
Cửa ải hùng vĩ đứng trấn giữa muôn nghìn núi non.
Cách xa nhau, thường có những lời đồn đãi không đích xác, dễ hiểu lầm.
Gần trời mới biết ơn mưa móc thấm sâu dường nào.
Quay đầu trông về cửa khuyết ở ngoài tần mây biếc.
Bên tai còn nghe văng vẳng tiếng nhạc quân thiều.


Dịch Thơ
Trấn Nam Quan

Việc Lý Trần xa xưa khó xét,
Ba trăm năm trước đến ngày nay.
Ngăn chia hai nước, thành còn đó,
Hùng tráng muôn non, cửa vẫn đây.
Đất xa hay nghe đồn chuyện nhảm,
Trời gần mới biết đội ơn dầy.
Trông về cửa khuyết ngoài mây biếc,
Văng vẳng quân thiều tiếng nhạc bay.

Bản dịch: Nguyễn Thạch Giang

1 Sao2 Sao3 Sao4 Sao5 Sao (Chưa được bình chọn)
Đăng trong mục Thơ Sư Tầm | Gửi bình luận

Bắc hành tạp lục Bài 9

Nam Quan đạo trung

Ngọc thư phủng há ngũ vân đoan
Vạn lý đan xa độ Hán quan
Nhất lộ giai lai duy bạch phát
Nhị tuần sở kiến đãn thanh san
Quân ân tự hải hào vô báo
Xuân vũ như cao cốt tự hàn
Vượng đạo đãng bình hưu vấn tấn
Minh Giang bắc thướng thị Trường An

Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Chiếu của nhà vua từ tầng mây năm sắc ban xuống (1)
Trên đường muôn dặm, chiếc xe lẻ loi vượt Hán quan. (2)
Suốt dọc đường cùng ta chỉ có mái tóc bạc
Cả hai mươi ngày chỉ thấy một màu núi xanh
Ơn vua như biển chưa mảy may báo đáp
Mưa xuân như mỡ lạnh buốt xương
Ðường cái quan rộng rãi bằng phẳng, thôi hỏi thăm chi nữa
Theo dòng Minh Giang (3) lên hướng bắc, ấy là Trường An (4)
—————————————
(1)Ngọc thư : Sắc chiếu nhà vua. Ngũ vân đoan: mây năm sắc. Ý nói lệnh đi sứ.
(2) Hán quan : Cửa ải trên đường sang Trung quốc. Tức trấn Nam Quan
(3) Minh Giang : Tên con sông phát nguyên từ núi Phân Mao, tỉnh Quảng Ðông. Sông chia làm hai ngả bắc nam. Ngả nam chia ranh giới Việt Nam và Trung Hoa.
(4) Trường An: tức Yên Kinh (Bắc Kinh). Trường An chỉ là tiếng nói kinh đô nói chung.

Dịch Thơ
Trên đường Nam Quan

Tầng mây năm sắc chiếu vua ban
Muôn dặm xe đơn vượt Hán quan
Một mạch đường dài trơ tóc bạc
Hai mươi ngày mỏi rặt non xanh
Mưa xuân như mỡ, xương thêm buốt
Ơn nước bằng trời, nợ nặng mang
Rộng phẳng đường vua thôi thắc mắc
Minh Giang lên bắc ấy Trường An

Bản dịch: Quách Tấn

1 Sao2 Sao3 Sao4 Sao5 Sao (Chưa được bình chọn)
Đăng trong mục Thơ Sư Tầm | Gửi bình luận

Bắc hành tạp lục Bài 10

Mạc phủ tức sự

Triệt dạ la thanh bất tạm đình
Cô đăng tương đối đáo thiên minh
Kinh tuần khứ quốc tâm như tử
Nhất lộ phùng nhân diện tẫn sinh
Sơn lộc tích nê thâm một mã
Khê tuyền phục quái lão thành tinh
Khách tình chí thử dĩ vô hạn
Hựu thị Yên sơn vạn lý hành

Nguyễn Du

Dịch Nghĩa
Suốt đêm, tiếng thanh la không ngớt.
Ta ngồi bên ngọn đèn cô đơn cho đến sáng.
Xa nước mấy tuần, lòng như chết.
Dọc đường gặp toàn người lạ.
Ở chân núi bùn ngập đến bụng ngựa.
Quái vật ẩn nấp hai bên bờ suối lâu ngày đã thành tinh.
Đến đây, tình cảm người viễn khách đã vô hạn rồi.
Huống chi cuộc hành trình đến Yên sơn (kinh đô) còn vạn dặm.

Dịch Thơ
Trạm nghỉ chân tức sự

Suốt đêm tiếng lệnh giục không ngơi,
Đối ngọn đèn hiu đến sáng trời.
Xa nước mấy tuần lòng tựa chết,
Dọc đường toàn gặp khách quê người.
Bùn khe đọng lại lút mình ngựa,
Ma quái thành tinh khắp mọi nơi.
Tình cảnh khách xa đây khó tả,
Yên kinh muôn dặm bước đường dài.

Bản dịch: Nguyễn Thạch Giang

Cần bổ sung nguyên văn chữ Hán
Còn tiếp

Comments