Trang chính‎ > ‎

Nguyễn Du

ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM. Tôi đã có một ít (chín) bài viết nhỏ (Notes) về Nguyễn Du: Đọc Bill Gate nhớ Nguyễn Du; Nguyễn Du nửa đêm đọc lại;  Nguyễn Du và những câu thơ tài hoaTâm sự Nguyễn Du qua Đối tửu;  Đèo Ngang và những tuyệt phẩm thơ c; Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ; Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ, "Tư liệu chọn lọc về Nguyễn Du" và  Thêm tư liệu quý về Nguyễn Du. Trước đối tửu, thầm thương bậc anh hùng. “Ba trăm năm nữa chốc mòng. Biết ai thiên hạ khóc cùng Tố Như“. Các bài trên đăng rãi rác, nay tôi đọc lại và suy ngẫm...

Thêm tư liệu quý về Nguyễn Du

Posted on 10.11.2013

ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM. Tôi đã có một ít bài viết nhỏ (Notes) về Nguyễn Du: Đọc Bill Gate nhớ Nguyễn Du; Nguyễn Du nửa đêm đọc lại;  Nguyễn Du và những câu thơ tài hoaTâm sự Nguyễn Du qua Đối tửu;  Đèo Ngang và những tuyệt phẩm thơ c; Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ; Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ. Trước đối tửu, thầm thương bậc anh hùng. “Ba trăm năm nữa chốc mòng. Biết ai thiên hạ khóc cùng Tố Như“. Tôi đã từng trăn trở Nguyễn Du nửa đêm đọc lại; sau bài viết “Một khám phá độc đáo về Truyện Kiều” của Giáo sư Nguyễn Lân Dũng về cuốn sách “Thử tìm hiểu tâm sự Nguyễn Du qua Truyện Kiều” của GS. NGND Ngô Quốc Quýnh (Đại học Quốc gia Hà Nội). Trong cuốn sách này, tác giả đã cho rằng Nguyễn Du gửi gắm tâm sự của mình qua Truyện Kiều mà Từ Hải chính là Nguyễn Huệ, Kim Trọng là Lê Chiêu Thống và nàng Kiều là Nguyễn Du.

Gần đây, tôi đọc được một số bài viết mới khá hay: Nguyễn Du – Nguyễn Công Trứ; Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương;  Tết, đọc lại thơ Nguyễn Du;  Đọc Nguyễn Du, nhớ Nguyễn Khuyến, Khóc Tố Như , soi sáng thêm những  góc nhìn mới. Tuy vậy, một vị Thiền sư đã gợi ý cho tôi phải tìm hiểu sâu thêm những uẩn khúc chưa rõ như : Nguyễn Du là người thế nào? Nguyễn Du Bắc hành tạp lục;  Nguyễn Du với Hồ Xuân Hương; Nguyễn Du và Kinh Kim Cương; Nguyễn Du so tài Nguyễn Huệ; Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ; Nguyễn Du tri kỷ, tri âm; Tố Như sau ba trăm năm; Nguyễn Du viếng Kỳ Lân mộ; Hoành Sơn những bài thơ cổ; Hồng Lam vằng vặc sao Khuê. May thay lần này tôi được tiếp xúc với tư liệu quý của Phạm Trọng Chánh:  Đọc sách Nguyễn Du trên đường gió bụi của Hoàng Khôi  đăng trên Văn hóa Nghệ An đã soi sáng thêm nhiều điều nghi vấn.

Nhà nghiên cứu Phạm Trọng Chánh nói những lời thật cảm khái : “Trong tình hình đọc sách hiện tại trong nước và hải ngoại, mỗi người Việt Nam đọc không đến một quyển sách một năm, các nhà xuất bản tại hải ngoại chỉ sống nhờ sự hy sinh của tác giả, tự viết tự bỏ tiền in, không kể gì lời lỗ. Sách gửi đi các nơi không hy vọng gì thu tiền lại. Trong nước sách in được 1500 quyển như  Nguyễn Du trên đường gió bụi anh Hoàng Khôi là thuộc loại khá. Đáng cho chúng ta khuyến khích. Phải chăng vì thiếu sách hay, các nhà văn ngày nay không đủ sức hấp dẫn lôi kéo người đọc chăng. Nghĩ lại ngày xưa thời Tự Lực Văn Đoàn, Thơ Mới, những năm 1930-1940 mỗi năm người đậu Tú Tài chỉ vài chục người, người biết chữ quốc ngữ có là bao nhiêu trên 25 triệu dân thế mà sách  đã tạo ra những trào lưu văn học lớn mạnh. Ngày nay chúng ta có 90 triệu dân trong nước và 4 triệu người Việt hải ngoại, mà tình hình sách vở còn thua các nước nhược tiểu, nghĩ thật đáng buồn. Chúng ta không nâng cao được dân trí, mà dân trí lại thụt lùi.  Được một nhà văn như anh Hoàng Khôi, hy sinh thức đêm thức hôm để viết sách, để mua vui một vài trống canh, tôi mừng và mong có nhiều người như anh Hoàng Khôi. Đừng để các thế hệ mai sau không còn biết viết văn, biết đọc mà chỉ còn biết bấm mấy câu vớ vẫn trên điện thoại di động.

Tôi từng tâm đắc với Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ  nơi “bia tàn chữ mất vùi gai góc/ nghe tiếng nghìn năm tôi xuống xe” càng cho thấy nhân cách kẻ sĩ và sự cảm thông của ông đối với Liễu Hạ Huê sâu sắc đến dường nào. Người hiền thực ra đời nào cũng có, thời thế nhiễu loạn, chẳng qua vàng lầm trong cát đấy thôi. Nguyễn Du là con quan tướng quốc Nguyễn Nhiễm cựu thần nhà Lê và mẹ ông là người phụ nữ tài sắc, vợ lẽ nhà quan, gặp lúc thế nước động loạn, chúa Trịnh, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn đều có ý riêng. Ông lớn lên trong cảnh lận đận không nhà, có tài mà không thể cậy. Ông là một đại sĩ phu tài năng trác tuyệt nhưng chỉ làm một viên quan thường triều Nguyễn mà vua vừa dùng, vừa tìm cách kiềm chế như đối với Nguyễn Công Trứ, Phan Huy Chú. Ông vì giỏi nên được vua Nguyễn cử đi sứ Tàu mà thôi. Thơ Nguyễn Du vì vậy kín đáo và sâu sắc hiếm thấy (Ảnh: Mộ Nguyễn Du ở Hà Tĩnh). Để thấu hiểu những giá trị nhân văn đích thực, rất cần những khoảng lặng để đối diện với chính mình.  Hôm trước tôi đã có dịp cùng với những người bạn quý thảo luận về hành vi ứng xử của Liễu Hạ Huệ gần gũi với một người nữ mà ông không mang tiếng dâm tà. Nhờ việc tra cứu, đọc đi đọc lại nhiều lần bài thơ ‘Liễu Hạ Huệ mộ’ của cụ Nguyễn Du, tôi chợt sững người, nhận thức thêm được những nỗi niềm, của cụ Nguyễn lấp lánh sau những con chữ …

???????????????????????????????

Tôi đọc cuốn sách “Nguyễn Du” của nhà giáo Nguyễn Thế Quang “Của tin còn một chút này làm ghi” không dưới hai mươi lần (Trang sách Nguyễn Du với lời đề tặng của tác giả Nguyễn Thế Quang, ảnh Hoàng Kim), và sực thấm hiểu vì sao Nguyễn Du đọc Kinh Kim Cương chú giải của Lê Quý Đôn trên nghìn lần cũng như chợt hiểu vì sao Hồ Chí Minh “sao vàng năm cánh mộng hồn quanh“. Sáu cuốn sách quý góp phần giải mã Nguyễn Du và Truyện Kiều theo tôi đó là: Bắc hành tạp lục của Nguyễn Du,”Hoàng Lê Nhất Thống Chí” của Ngô Gia Văn Phái, “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim, “200 năm nghiên cứu bàn luận truyện Kiều” 1989 trang của Lê Xuân Lít, “Nguyễn Du” 416 trang của Nguyễn Thế Quang, “Thả một bè lau”, Truyện Kiều dưới cái nhìn Thiền quán, 471 trang của Nhất Hạnh.

Dẫu vậy tôi vẫn hồ nghi nhiều điều, chưa đủ tư liệu trao đổi với các giáo sư Nguyễn Lân Dũng, Ngô Quốc Quýnh nhà giáo Nguyễn Thế Quang, nhà nghiên cứu Bulukhin Nguyễn Quốc Toàn và  còn nợ  Ví Dặm Ân Tình, Quỳnh Trâm, Huy Việt … những lời bàn luận.

Hôm nay tôi thông tỏ được một phần của giấc mơ lạ trước kia nhờ phản biện sâu sắc và các dẫn liệu của nhà nghiên cứu Phạm Trọng Chánh. Ông là người bôn ba hải ngoại đã hiểu tác phẩm Nguyễn Du trên đường gió bụi của Hoàng Khôi một cách sâu sắc hiếm thấy, chân thành, đức độ và khích lệ tác giả Hoàng Khôi với một triết lý dạy và học mẫu mực. “Nghiên cứu không phải là chuyện độc quyền của riêng ai, không phải chuyện người sau đánh đổ người trước để được nổi danh hơn mà người đi sau nối tiếp người trước, làm giải quyết những nghi vấn còn tồn đọng, làm cho việc nghiên cứu ngày càng phát triển, sáng tỏ“.

Tôi mừng không ngủ được trước tư liệu quý này và xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Hoàng Kim

xem tiếp:

ĐỌC SÁCH “NGUYỄN DU TRÊN ĐƯỜNG GIÓ BỤI” CỦA HOÀNG KHÔI 

Phạm Trọng Chánh 

Nguồn Văn hóa Nghệ An thứ bảy, 09 tháng 11 2013 06:12

Có gì vui hơn, khi những thành quả nghiên cứu văn học của mình được bè bạn Hội Kiều Học trong nước hưởng ứng viết thành tiểu thuyết.  Nhận được sách anh Hoàng Khôi: Nguyễn Du trên đường gió bụi với lời đề tặng : “Thân tặng anh Phạm Trọng Chánh. Cám ơn anh vì những bài viết của anh đã gợi ý nhiều và tạo cảm hứng cho tôi hoàn thiện cuốn sách này “. Người viết vội vàng viết bài về quyển sách anh gửi tặng, giúp anh “nhặt sạn” những sơ sót trong lúc say sưa viết. Tiếc là không được đọc bản thảo lúc sách chưa ra đời để công trình anh được hoàn hảo hơn, thôi thì góp ý kiến để lần tái bản anh xem xét lại. Bài viết cũng trả lời các thắc mắc nhiều bạn khi thấy dàn bài sách anh Hoàng Khôi trùng hợp với tên tựa các bài tôi đã viết đăng trên nhiều site trong nước và hải ngoại, gửi email hỏi tôi, mong rằng bài viết này giải toả các nghi ngờ về sách anh Hoàng Khôi.

Người nghiên cứu văn học sau bao năm tìm kiếm giải quyết những thắc mắc của  các học giả đi trước :  Tại sao Nguyễn Du có những bài thơ làm ở Trường An, Hàng Châu không nằm trên đường đi sứ năm 1813 ? Tại sao trong Thanh Hiên thi tập có các địa danh : Liễu Cao Lâm, Trường An, Giang Hán, Giang Bắc, Giang Nam, Nam Đài, Long Thủy, những địa danh ấy ở đâu ? Những người đi trước không nghĩ tới chỉ dịch phớt qua hay bỏ quên !   Nhân vật Nguyễn Đại Lang trong Thanh Hiên thi tập là ai ? Nguyễn Du trong thơ tiễn biệt có nói đã cùng kết nghĩa sinh tử, cùng tồn vong, chia tay tại đâu mà hẹn gặp lại tại Trung Châu ? Trung Châu là Hà Nội hay ở Trung Quốc. Nguyễn Du từ năm 1783 làm Chánh Thủ Hiệu Quân Hùng Hậu hiệu tại Thái Nguyên. Sách sử các tài liệu rãi rác : Nguyễn Khản làm Thượng Thư Bộ Lại kiêm trấn thủ Thái Nguyên, Hưng Hóa, Hoàng Lê Nhất Thống Chí có nói đến Cai Gia, tay giặc già, thuộc hạ của Nguyễn Khản nắm binh quyền tại Thái Nguyên. Lê Quý Kỷ Sự của Nguyễn Thu có nói đến cuộc khởi nghĩa tại Tư Nông của cựu Trấn Thủ Thái Nguyên Nguyễn Đăng Tiến, tước Quản Vũ Hầu, bị tướng Tây Sơn bắt giải về cho Vũ Văn Nhậm, Nhậm trọng khí khái dụ hàng, lại tha bổng cho phép muốn đi đâu thì đi. Gom lại các tài liệu, tôi tìm được một nhân vật, vừa là thầy, là anh kết nghĩa Nguyễn Du và cũng là Từ Hải, mở cách cửa  Nguyễn Du đã vào bước đường đi giang hồ khắp Trung Quốc thời thanh niên.Những chi tiết rành rành trong Thanh Hiên thi tập có những bài tả cảnh tuyết, núi non trùng điệp, lá vàng, trưởng giả ăn mặc còn theo nhà Hán (không theo nhà Thanh để tóc bính đuôi sam, áo quần Mãn Châu), dân chúng theo lịch nhà Tần, xử dụng nhạc cụ “tù và” ? Nguyễn Du có hư cấu, ở Quỳnh Hải, Hồng Lĩnh theo sách vở mà tưởng tượng làm thơ, hay thơ chữ Hán Nguyễn Du là những trang nhật ký ?Tại sao Nguyễn Du có những câu thơ kỳ lạ : Tôi đọc kinh Kim Cương nghìn lượt ?. Muôn dậm mũ vàng chiều nắng xế? Giang Bắc, Giang Nam cái túi không? Nguyễn Du làm gì mà đọc kinh Kim Cương trong ba năm, đội mũ vàng nhà sư đi muôn dậm (khoảng 5000 km), làm gì không tiền mà đi hết các sông phía bắc đến sông phía nam Dương Tử Giang ? Nguyễn Du ở đâu mà cách Trường An ngàn dậm về phía Nam ?Theo Nguyễn Hành, cháu Nguyễn Du, có viết ông có một cuộc đời giang hồ như cuộc đời làm quan : Giang hồ long miếu hai điều đủ, Thi họa cầm thư bốn nghệ tinh.Theo gia phả từ năm 1786 đến 1796 Nguyễn Du về quê vợ tại Quỳnh Hải, Thái Bình hợp cùng Đoàn Nguyễn Tuấn khởi nghĩa chống Tây Sơn.  Nhưng điều này không đúng vì từ năm 1788 Đoàn Nguyễn Tuấn ra làm quan Tây Sơn và đi sứ trong đoàn 158 người năm 1790. Đoàn Nguyễn Tuấn có hai bài thơ viết tặng một văn nhân họ Nguyễn, gặp tại Hoàng Châu, Trung Quốc  vào mùa thu bàn luận về văn chương sôi nổi chuyện gì ?, Đoàn Nguyễn Tuấn phải lên Nhiệt Hà nơi vua Càn Long đang nghỉ mát ? Văn nhân họ Nguyễn đi xe song mã về Nam và hẹn gặp lại tại nước nhà vào mùa xuân. Trên đường đi cớ gì mà Đoàn lại viết một bài thơ Vô Đề về hồng nhan đa truân khi gặp một ca nhi hát cho sứ đoàn tại bến sông Hán?.

Mang những thắc  mắc bao nhiêu năm, năm 2009, tôi đi Trung Quốc qua những thành phố Nguyễn Du đi sứ và các địa danh trong thơ, tôi nghiên cứu, tham khảo sách vở từng con sông, từng hồ, từng thắng cảnh Nguyễn Du đã đi qua, tôi dịch lại toàn bộ thơ chữ Hán Nguyễn Du, do không nghĩ đến Nguyễn Du có một thời gian đi giang hồ tại Trung Quốc thời trẻ, những địa danh bị người đi trước không hiểu nên bỏ qua hay dịch sai và tôi hoàn thành quyển Nguyễn Du mười năm gió bụi và mối tình Hồ Xuân Hương. Khuê Văn Paris Xb 2011. Và gần đây tôi viết thành nhiều bài nhỏ để phổ biến trên các báo điện tử.

Nghiên cứu không phải là chuyện độc quyền của riêng ai, không phải chuyện người sau đánh đổ người trước để được nổi danh hơn mà  người đi sau nối tiếp người trước , làm giải quyết những nghi vấn còn tồn động, làm cho việc nghiên cứu ngày càng phát triển, sáng tỏ. Điều may mắn trong nghiên cứu về Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương tôi có dịp gặp gỡ bàn bạc với Giáo sư Hoàng Xuân Hãn và Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn.

Những thắc mắc về Nguyễn Du tôi đã từng bàn với Giáo sư Hoàng Xuân Hãn, từ những năm 1980 thuở còn thanh niên trong những lần tôi về nghỉ hè hàng tháng trời tại dã thự Cam Tuyền, tại Trouville bờ biển Normandie, Giáo sư khuyến khích, chỉ dẫn tôi những điều giáo sư nghi ngờ và chưa tìm ra câu giải đáp. Tôi mang nặng những lời hướng dẫn của giáo sư suốt mấy mươi năm, nên đọc lại, dịch lại từng câu từng chữ thơ chữ Hán, chữ Nôm Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du. Ở Paris mà nghiên cứu Văn Học Việt Nam quả thật là chuyện gàn, vì ban ngày nói tiếng Pháp, làm ăn sinh sống bằng tiếng Pháp, mà ban đêm cứ thao thức ngồi viết bằng tiếng Việt, dịch thơ tiếng Việt chữ Hán, chữ Nôm. Được tiếp xúc với kho tàng văn hóa Hán Nôm lưu trữ tại Trường Viễn Đông Bác Cổ Paris, di sản cha ông mình nhiều quá, mà người nghiên cứu lác đác như lá mùa thu, vì việc làm chẳng ai trả lương, chỉ để tiêu khiển. Ngày xưa, tôi tò mò hỏi giáo sư Hoàng Xuân Hãn : Vì sao Bác tốt nghiệp trường Bách Khoa Paris, tốt nghiệp Kỹ sư Hầm Mỏ, Thạc Sĩ Toán mà lại dành cả đời đi nghiên cứu văn chương Việt Nam ? Bác trả lời :  “Việc ấy các anh em trẻ có nhiều sẽ làm giỏi hơn bác, nhưng kho tàng văn học Việt Nam nếu không ai làm, di sản tổ tiên sẽ mất đi rất nhiều“. Rồi từ lúc, ngồi trên ghế trường Bách Khoa Paris, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã viết tự điển danh từ Khoa Học bằng tiếng Việt, đặt nền tảng cho việc giảng dạy tiếng Việt, chỉ một năm làm Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục và Mỹ Thuật, giáo sư đã đặt nền tảng cho chương trình giảng dạy bằng tiếng Việt còn tồn tại cho đến ngày nay. Trong tiếng súng chiến tranh Pháp Việt, giáo sư Dương Quảng Hàm lao vào cứu thư viện của mình và bị chết cháy. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn vẫn tiếp tục đi mua hàng gánh sách vở các đại gia bị con cháu đem bán làm giấy bổi, rồi mang nó ra xa nơi chiến tranh ngồi tiếp tục nghiên cứu, chẳng màng đến danh lợi. Bác Hãn viết sách cả đời, công sức như cả một Viện Văn Học nhưng không hề hưởng được một đồng nào do sách vở mang lại. Với địa vị, bằng cấp tại Pháp, Bác Hãn có thể trở nên giàu có, nhưng Bác biết dừng lại khi đã có đầy đủ và dành thì giờ nghiên cứu di sản tổ tiên.

Tôi vốn nặng nợ với nghiệp văn chương, thuở học trung học đã làm thơ viết báo, nhiều khi tự nhủ lòng : Trang Tích xưa khi bệnh mới rên bằng tiếng Việt, chứ tôi đi du học từ năm 19 tuổi, mà cứ rên bằng tiếng Việt suốt hơn 43 năm. Thôi thì như Tú Xương : Một chè, một rượu, một đàn bà.. mình thì chẳng rượu chè, cờ bạc chỉ mê có cô Hồ Xuân Hương và cô Kiều.

Công trình Nguyễn Du, mười năm gió bụi và mối tình Hồ Xuân Hương sau khi hoàn thành từ Paris năm 2011, tôi gửi sang Moscou tặng Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn trong những ngày cuối đời, giáo sư cho biết bị phong thấp tê liệt cả nửa người, chỉ còn một tay gõ chữ, bao ngày tháng trông đợi, thường xuyên viết Email hỏi thăm khuyến khích, không có quyển Hoàng Lê Nhất Thống Chí tại Moscou, Giáo sư nhờ môn sinh từ trong nước gửi qua, cầm quyển sách trong tay, giáo sư đánh Email hỏi gấp : Cai Gia ở trang mấy, anh nói gấp cho tôi biết,  giáo sư rất vui khi đọc được những khám phá mới của tôi về Nguyễn Du, nhất là về Cai Gia Nguyễn Đại Lang sẽ mở ra cánh cửa về cuộc đời giang hồ của Nguyễn Du và Giáo sư vui vẻ nói rằng khám phá này rằng “sẽ làm mưa làm gió”… không ngờ đây  là quyển sách cuối cùng Giáo sư đọc trước khi nhắm mắt lìa đời.

Được Giáo Sư Nguyễn Văn Hoàn, vốn đã quen biết từng sang chơi Paris hơn 30 năm, nay là Chủ Tịch Hội Kiều Học, mời tham gia Hội Kiều Học vừa mới thành lập, nay được anh Vũ Ngọc Khôi, một hội viên Kiều Học viết chuyện Mười năm gió bụi của Nguyễn Du thành tiểu thuyết còn gì vui hơn. Hy vọng có một đạo diễn tài ba, một nhà sản xuất phim, một nhà viết kịch bản phim… sẽ có cảm hứng làm phim truyện nhiều tập về Nguyễn Du – Hồ Xuân Hương chắc chắn sẽ ăn đứt các bộ phim Trung Quốc – Hàn Quốc, sẽ phục hưng văn hóa Việt đánh bạt được các ảnh hưởng văn hóa tình cảm lẫm cẩm, giúp cho giới trẻ Việt Nam biết lịch sử Việt Nam nhiều hơn là sử Trung Quốc,  Hàn Quốc. Hàn Quốc đã làm được bộ phim Xuân Hương, một truyện thơ hàng đầu của Triều Tiên, còn Việt Nam chờ đến bao giờ ?

Mơ ước nhiều, nhưng trước tiên đề nghị với anh Hoàng Khôi, xây dựng lại quyển tiếu thuyết hoàn hảo hơn,  và mắc các sự kiện trên chiếc đinh lịch sử vững chắc.

Trước tiên, để đóng những chiếc đinh sự kiện vào lịch sử, cần tóm lược các sai lầm năm tháng trong Thanh Hiên thi tập, và mười năm gió bụi. Thời gian các tài liệu cũ dựa theo gia phả cho rằng Nguyễn Du theo vua Lê Chiêu Thống không kịp về ẩn lánh quê vợ ở Quỳnh Hải, hợp cùng Đoàn Nguyễn Tuấn chống Tây Sơn 1786-1796 và từ 1796-1802 là thời kỳ dưới chân núi Hồng, Vợ chết năm 1796, Nguyễn Du cõng con Nguyễn Tứ về Hà Tĩnh, làm Hồng Sơn Liệp Hộ. Năm 1802 Nguyễn Du đón đường vua Gia Long tại Hà Tĩnh dâng sớ và được đưa ra Bắc phong làm Tri huyện Phù Dung trấn Sơn Nam.

Cách chia này không đúng vì có các mâu thuẫn : Ngược lại Đoàn Nguyễn Tuấn ra làm quan Tây Sơn. Bài thơ Quỳnh Hải Nguyên tiêu :  Nguyễn Du hạnh phúc bên vợ : Nguyên dạ không đình nguyệt mãn thiên, Trăng sáng đầu xuân tỏa ngập tràn, và mình đã trải qua chân trời góc biển đến 30 tuổi. Các tài liệu cũ không biết vợ Nguyễn Du tên gì, không biết năm sinh, làm sao biết năm mất ? Tại Hồng Lĩnh, Nguyễn Du bị tù, Trấn thủ Nguyễn Văn Thận giữ vững Hà Tĩnh cho đến năm 1802, Nguyễn Du không thể chiêu tập thủ hạ và không thể có lương thực, bò, ngựa để dâng vua Gia Long. Người đã làm quan được mời ra (cùng Nguyễn Thiếp) năm 1802 và đi theo vua Gia Long từ Phú Xuân ra Bắc là Nguyễn Nể chứ không phải Nguyễn Du. Bài thơ Chí Hiên tặng của Nguyễn Du lưu trong Lưu Hương Ký của Hồ Xuân Hương, có hai câu : Ra Bắc phen này mong nổi việc, Vào Nam ngẩm trước cũng hoài công. Chứng tỏ Nguyễn Du không tìm được ai ủng hộ mình tại Hà Tĩnh  (Tụ đầu nan đắc thường thanh mụcHọp bạn khó tìm người mắt biếc) Hà Tĩnh trải qua cuộc khởi nghĩa Nguyễn Quýnh, làng Tiên Điền bị làm cỏ, không ai còn muốn phiêu lưu chống Tây Sơn, (Tiếu đề tuẫn tục can qua tế – Khóc cười thời loạn theo trần thế. Tạp thi II). Nguyễn Du không thể ở lại dạy học vì người bạn thân là Thực  Đình dạy học cũng không sống nổi. Cái tên Thực Đình tự cười mình, nói lên số phận chỉ ăn no khi có đám tiệc ở đình làng. Nguyễn Du thất bại, bị tù tại Hà Tĩnh, mới ra trở lại Thăng Long, thì Hồ Xuân Hương đã đi lấy chồng thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm. Nguyễn Du về Quỳnh Hải cưới vợ Đoàn Nguyễn Thị Huệ, do hai ông anh Nguyễn Nể , Đoàn Nguyễn Tuấn thu xếp, năm ấy Nguyễn Du 30 tuổi. Tại Quỳnh Hải, Nguyễn Du dạy học văn võ, chiêu tập thủ hạ, hoàn tất Truyện Kiều, làm ăn khấm khá mới có bò ngựa lương thực dâng vua Gia Long. Từ Quỳnh Hải, Nguyễn Du dẫn thủ hạ đi không xa đến Phù Dung cùng trấn Sơn Nam, thì gặp vua Gia Long, vua phong ngay làm Tri huyện tại đây cho nên có danh hiệu là Phi Tử.  Nguyễn Nể cũng được vua Gia Long để lại Bắc Hà giúp  Tổng Trấn Nguyễn Văn Thành các nghi lễ cho sứ đoàn do Binh Bộ Thượng thư Lê Quang Định làm Chánh sứ xin nhà Thanh phong vương và đổi quốc hiệu là Nam Việt, nhưng không giữ chức vụ gì. Nguyễn Nể không bị Đặng Trần Thường đem ra Văn Miếu đánh đòn như Ngô Thời Nhiệm, Phan Huy Ích, Nguyễn An Lịch.. nhưng năm 1805 về Hà Tĩnh thì bị tri phủ Trần Văn Chiêu tuy bức, ông uất ức mà chết.  Nguyễn Du vợ mất năm 1804 để lại một con Nguyễn Tứ.

NIÊN BIỂU NGUYỄN DU

1766. Nguyễn Du sinh ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu, tính ra dương lịch là ngày 3-1-1766, mới đúng. (Các tài liệu cũ đều lầm lẫn khi viết Nguyễn Du sinh năm 1765).

1771  Cha là Nguyễn Nghiễm xin về hưu trí sĩ, được gia thăng chức Đại Tư Đồ. Chúa Trịnh cấp cho xe bồ, ngựa tứ và thuyền hãi mã đưa về làng. Nguyễn Du theo cha về. Nguyễn Nghiễm lại được gọi ra làm quan Tham Tụng.

1774. Nguyễn Nghiễm được sung chức Tả Tướng cùng Hoàng Ngũ Phúc đánh Chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

1776 Nguyễn Nghiễm bị nhiễm bệnh dịch cùng hàng ngàn quân sĩ, đưa về quê dưỡng bệnh và mất tại Hà Tĩnh 7 tháng 11 Ất Mùi (7-1-1976). Được truy tặng tước Huân dụ Đô hiến đại vương, Thượng đẳng phúc thần.

1778 Bà Trần thị Tần (1740-1778) mẹ Nguyễn Du qua đời ngày 20-7-1978.

1780 Trong vụ án Canh Tý. Anh cả Nguyễn Khản (1734-1786) thầy dạy Trịnh Tông bị khép tội mưu loạn cùng Trịnh Tông, được tha chết nhưng bãi chức, giam ở nhà Châu Quận công. Nguyễn Du về Tiên Điền học với chú Nguyễn Trọng.

1782. Chúa Trịnh Sâm mất, Trịnh Tông nối ngôi Chúa, cử Nguyễn Khản làm Thượng Thư bộ Lại, tước Toản Quận công.

1783 Nguyễn Du thi Hương ở trường Sơn Nam, Nam Định đậu tam trường. Nguyễn Khản thăng Thiếu Bảo, cuối năm thăng Tham Tụng kiêm trấn thủ Hưng Hóa, Thái Nguyên. Cử Nguyễn Du làm Chánh Thủ Hiệu quân Hùng Hậu Hiệu cai quản đội quân tinh nhuệ nhất Thái Nguyên. Cai Gia Nguyễn Đăng Tiến tước Quản Vũ Hầu vốn là tay giặc già, phản Thanh phục Minh Trung Quốc, gốc người Việt Đông, là tân khách (thủ hạ) dưới trướng, thầy dạy võ cho Nguyễn Du và các anh em được giao quyền Trấn thủ Thái Nguyên, nơi có nhiều người Trung Quốc sang khai mỏ bạc. Nguyễn Nể(1761-1805) đỗ tứ trường trường thi Hương Phụng Thiên, Hà Nội, Nguyễn Khản phong làm Cai quản đội quân Phấn Nhất trong phủ Chúa.

1784 Nhân vụ 7 kiêu binh bị nhà chúa giết vì bữa tiệc vua Lê đãi kiêu binh có công phò Hoàng Tự Tôn Lê Duy Kỳ từ trong tù ra, kiêu binh nổi loạn đốt phá dinh thự Bích Câu. Nguyễn Khản chạy trốn lên Sơn Tây với em Nguyễn Điều (1745-1786), trấn thủ Sơn Tây, Nguyễn Nể phụ tá làm Hiệp tán Nhung vụ,họ toan hợp quân các trấn về đánh kiêu binh, nhưng kiêu binh giữ chặt chúa Trịnh Tông nên âm mưu bất thành. Kiêu binh áp lực bãi chức Nguyễn Khản và giáng chức Nguyễn Điều, hai người về Hà Tĩnh. Nguyễn Điều về huyện Thanh Chương lập nhà ở đấy, khi nghe nhà Trịnh mất, ông uất ức mà chết năm 1786.

1786 Tây Sơn ra Bắc,  Nguyễn Khản từ Hà Tỉnh  theo ghe mành ra Bắc  giúp chúa Trịnh chủ trương đóng quân theo lối vẩy sộp (theo Lê Quý Kỷ sự) , nhưng kiêu binh vu cáo ông rước giặc Tây Sơn về. Nguyễn Khản phải bỏ chạy, ông mất trong hoàn cảnh đó, thi hài được đưa về an táng tại Hà Tĩnh.

1787 Nguyễn Du, Nguyễn Quýnh cùng Cai Gia Nguyễn Đăng Tiến, quyền trấn thủ Thái Nguyên khởi nghĩa tại Tư Nông thất bại, bị bắt và cùng được Vũ Văn Nhậm tha chết. Họ đi sang Vân Nam. Nguyễn Quýnh quay trở về Hồng Lĩnh khởi nghĩa bị bắt và bị giết năm 1791 tròn 30 tuổi,  dinh thự và làng Tiên Điền bị đốt sạch.

1787. Đến Vân Nam, Nguyễn Du bị bệnh ba tháng mùa xuân. Hết bệnh, họ đi Liễu Châu và chia tay, Nguyễn Đại Lang về thăm quê nhà vùng Quế Lâm, cao sơn lưu thủy. Nguyễn Du đi giang hồ ba năm ở Trung Quốc trong áo mũ nhà sư mang danh Chí Hiên, từ Quảng Tây theo thuyền đi dọc sông và Hồ Động Đình đến Hán Khẩu, rồi theo sông Hán rồi lên Trường An viết bài Dương Quý Phi, Bùi Tấn Công mộ, Phân Kinh thạch đài, rồi lại theo kinh Đại Vận Hà đến Hàng Châu .

1790 Tại Hàng Châu Nguyễn Du cư ngụ tại chùa Hổ Pháo bên Tây Hồ, nơi Từ Hải tức Minh Sơn Hoà thượng từng tu hành, trước khi đi giang hồ thành cướp biển. Tại đây Nguyễn Du có được bản Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân. Gặp lại Nguyễn Đại Lang tại miếu Nhạc Phi cũng bên cạnh Tây Hồ, (nơi đây Nguyễn Du viết 5 bài thơ, một bài Nhạc Phi, hai bài Tần Cối và hai bài Vương Thị), sau đó hai người đi Yên Kinh (gặp vua Lê Chiêu Thống), trở về Hoàng Châu thì gặp Đoàn Nguyễn Tuấn sứ đoàn Tây Sơn tại một lữ quán, gặp bạn văn chương, Nguyễn Du bàn chuyện sôi nổi về Hồng nhan đa truân. Đoàn Nguyễn Tuấn viết hai bài thơ tặng văn nhân họ Nguyễn. Nguyễn Du về Long Châu và trở về Thăng Long.

1790-1793. Nguyễn Du về ở với anh Nguyễn Nể, đang làm quan Tây Sơn tại Bắc Thành giữ chức Hàn Lâm thị thư, sung chức Phó sứ tuế công, năm 1791 đi sứ về, đã xây dựng lại một phần dinh thự Bích Câu, tại đây Nguyễn Du nghe cô Cầm, người nhạc nữ cũ cung vua Lê đánh đàn. Nhưng Nguyễn Du thường ở gác tía, nơi câu cá anh Nguyễn Khản cạnh đền Khán Xuân. Tại đây Nguyễn Du quen biết Xuân Hương Hồ Phi Mai, mối tình ba năm.

1794. Nguyễn Nể được triệu về Phú Xuân thăng chức Đông Các Đại Học Sĩ, gia tăng Thái Sử Tả Nghị Lang, chức vụ thầy dạy vua Cảnh Thịnh. Nguyễn Nể giao phó cho hai em Nguyễn Du và Nguyễn Ức tiền bạc để về Tiên Điền xây dựng lại từ đường và làng Tiên Điền. Về Phú Xuân, quyền hành nhà Tây Sơn trong tay Thái sư Bùi Đắc Tuyên, cậu vua Cảnh Thịnh, Thái sư đày Quân sư Trần Văn Kỷ ra Hoàng Giang làm lính thú. 1795  Nguyễn Nể xin ra Quy Nhơn vừa mới lấy được từ vua Trung Ương  Nguyễn Nhạc, trấn đóng để tránh xa xung đột triều đình, cuối năm được cử làm Chánh Sứ (Hành Khánh Sứ) lễ bộ mừng lễ truyền ngôi vua Càn Long cho vua Gia Khánh.

1794-1796. Nguyễn Du về Tiên Điền, bị bệnh ba tháng cuối năm. Ở nhà cạnh  Giang Đình bến sông để tiếp nhận  mua gỗ đá, vật liệu chở bằng thuyền.  Nguyễn Ức vẽ kiểu và chỉ huy thợ xây cất. Nguyễn Du trao đổi thơ với Hồ Xuân Hương. Nguyễn Du đi săn làm Hồng Sơn liệp hộ. Nguyễn Du có vào Phú Xuân thăm anh và nhận một món tiền khác.

1796. Công việc xây dựng tạm xong. Nguyễn Du làm Nam Hải Điếu đồ, người đi câu biển Nam Hải toan theo thuyền về Nam. Lúc này chúa Nguyễn Ánh đã đánh chiếm đến thành Diên Khánh (Nha Trang). Nguyễn Du bị quận công Nguyễn Văn Thận trấn thủ Hà Tĩnh bắt giam mười tuần. Nguyễn Du trở ra Thăng Long thì hay tin Hồ Xuân Hương đã đi lấy chồng thầy Lang xóm Tây làng Nghi Tàm. Nguyễn Du viết hai bài thơ ký tên Chí Hiên oán trách nàng tệ bạc. Hồ Xuân Hương vẫn trân trọng chép trong Lưu Hương Ký. Nguyễn Du sang nhà Đoàn Nguyễn Tuấn, anh Nguyễn Nể  cũng vừa đi sứ về được thăng chức Hữu Trung Thư, chức vụ quân sư cho vua Cảnh Thịnh, trước biến loạn triều đình Nguyễn Nể xin ra xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô ở Nghệ An thay Trần Quang Diệu.

1797-1801  Nguyễn Nể cùng Đoàn Nguyễn Tuấn tác thành hôn nhân cho Nguyễn Du cùng Đoàn Nguyễn Thị Huệ và giao cho gia trang ở Quỳnh Hải. Từ đây Nguyễn Du có vợ con sống hạnh phúc chấm dứt cuộc đời gió bụi. Nguyễn Du hoàn tất Truyện Kiều, dạy văn, dạy võ chiêu tập thủ hạ tại Quỳnh Hải.

1801 Nguyễn Nể được lệnh vua Cảnh Thịnh đưa La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp vào chầu, còn ở Phú Xuân thì kinh đô thất thủ. Nguyễn Nể và La Sơn Phu Tử được vua Gia Long gọi ra. Nguyễn Nể dâng sớ được trọng dụng khen thưởng và cho theo xe vua ra Bắc chỉ dẫn nghi lễ cho sứ đoàn ngoại giao Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức đi sứ. Nguyễn Thiếp được cho về quê quán.

1802. Vua Gia Long ra Bắc truy lùng vua Tây Sơn Cảnh Thịnh. Nguyễn Du dẫn học trò, tráng đinh mang lương thực, bò, ngựa từ Quỳnh Hải đón đường đi gặp vua Gia Long, đến huyện Phù Dung thì gặp vua, vua phong ngay làm tri huyện Phù Dung. Việc này tương tự với Phi Tử đời Chiến Quốc  dâng ngựa cho vua Chu Hiếu Vương được chức Phụ Dung, nên Nguyễn Du có danh hiệu là Phi Tử, Nguyễn Hành bài Đi Săn có nhắc đến danh hiệu này.

1803. Làm Tri huyện được mấy tháng nhờ tài nói lưu loát ngôn ngữ Trung Quốc trong thời gian đi giang hồ và tài năng ứng đối thi ca. Nguyễn Du được thăng Tri phủ Thường Tín lên Lạng Sơn đặc trách tiếp sứ sang phong vương cho vua Gia Long cùng Tri phủ Thượng Hồng Trần Quý Chuyên. Tri phủ Thiên Trường Ngô Nguyên Viễn, Tri phủ Tiên Hưng Trần Lưu. Thơ tống tiễn do Nguyễn Du viết.

1804. Xong việc ngoại giao tiếp sứ, Nguyễn Du trở về Thường Tín, vợ mất để lại một con Nguyễn Tứ. Nguyễn Du cáo bệnh xin nghĩ một tháng về quê. Nguyễn Du tìm về Cổ Nguyệt Đường mong nối lại duyên xưa thì Hồ Xuân Hương đang làm lẽ Cai Tổng Cóc Nguyễn Công Hòa ở Vĩnh Yên, nàng đau ốm tâm sự như nàng Tiểu Thanh. Bên song cửa Nguyễn Du viết bài Độc Tiểu Thanh Ký gửi Hồ Xuân Hương và tự hỏi : Ba trăm năm lẽ nữa ai khóc người phẩm hạnh cao quý như nàng Tiểu Thanh. Đó là lý do bài Độc Tiểu Thanh Ký nằm cuối Thanh Hiên thi tập, và hai chữ tố như chỉ có nghĩa là người phẩm hạnh cao quý như thế (như nàng Tiểu Thanh).

1805 Nguyễn Du được thăng Đông Các học sĩ, hàm ngũ phẩm, tước Du Đức hầu vào nhậm chức ở kinh đô Phú Xuân. Chức vụ dâng sách cho vua Gia Long đọc mỗi ngày. Nguyễn Nể về quê bị Tri phủ Trần Văn Chiêu truy bức ông uất ức mà chết.

1807 Làm giám khảo trường thi Hương, Hải Dương.

1808 Mùa thu, xin về quê nghỉ.

1809 Đầu năm được bổ làm Quan Cai Bạ (Trấn thủ) doanh Quảng Bình, một trong bốn doanh đất kinh kỳ,  hàm tứ phẩm.

1812 Cuối năm Nguyễn Du xin về quê xây mộ cho anh Nguyễn Nể, được hai tháng thì có chiếu chỉ triệu vào kinh.

1813 Thăng Cần Chánh điện học sĩ và được cử làm Chánh sứ sang Trung Quốc. viết Bắc Hành tạp lục.

1815 Thăng Hữu Tham tri Bộ Lễ hàm Tam phẩm.

1816 Kết thúc vụ án Nguyễn Văn Thuyên. Trung Quân thống lĩnh toàn quân đội Nguyễn Văn Thành tự tử. Anh rễ Nguyễn Du, Tiến sĩ Vũ Trinh thầy dạy Nguyễn Thuyên bị giam hậu và đày đi Quảng Nam 12 năm. Vụ án Binh bộ Thượng Thư Đặng Trần Thường, vụ án Trần Phúc Hiển chồng Hồ Xuân Hương.

1818. Trần Phúc Hiển bị xử tử,  Hiệp trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán, thi tướng Tao Đàn Cổ Nguyệt Đường chết, có lẽ tự tử.

1819 Được cử làm Đề Điệu Trường Thi Quảng Nam, Nguyễn Du dâng biểu cố từ được vua chuẩn y.

1820. Gia Long mất, Minh Mệnh lên ngôi cử Nguyễn Du làm Chánh sứ đi báo tang và xin thụ phong; Chưa kịp đi thì bị bệnh dịch mất ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn tức ngày 16-9-1820. Ngô Thời Vị làm Chánh sứ thay thế.  Thi hài  Nguyễn Du được an táng đồng Bầu Đá, xã An Ninh, huyện Quảng Điền Thừa Thiên. Năm 1924 con là Nguyễn Ngũ cải táng đưa về làng Tiên Điền.

ĐÍNH CHÁNH NHỮNG SƠ SÓT

Đọc sách anh Hoàng Khôi, tôi xin nhặt ra những sơ sót, và bổ túc thêm những chi tiết, mong rằng anh sẽ chữa lại, mài dũa thêm viên ngọc quý để trở thành một tác phẩm hoàn hảo tuyệt tác, nếu có thì giờ viết thành kịch bản truyện phim cũng nên.

Trang 14, Trấn Sơn Nam thời Lê, đến đời Gia Long được chia làm Sơn Nam Thượng đặt trị sở tại Châu Cầu. Sơn Nam Hạ đặt trị sở tại Nam Định.  Sang năm 1831 đời Minh Mạng  chia Sơn Nam Thượng gồm hai tỉnh Hà Nội và tỉnh Hưng Yên. Sơn Nam Hạ chia làm hai  tỉnh Nam Định và Thái Bình.

Đời Gia Long, Bắc Thành có 11 trấn : gồm 5 nội trấn là Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương, Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ. 6 ngoại trấn là : Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hưng Hóa, Yên Quảng. Ngoài ra có hai đạo Thanh Bình (Ninh Bình) và Hoà Bình và phủ Hoài Đức gồm Thăng Long và vùng phụ cận. Do đó Ninh Bình và Thăng Long đời Gia Long về trước, không thuộc về Sơn Nam.

Trang 18. Bà Đặng Thị Thuyết (không phải Tuyết) sinh mẫu Nguyễn Điều, em bà chánh thất Đặng thị Dương. Bà Nguyễn Thị Xuân quê Bắc Ninh, sinh mẫu NguyễnTrứ, Nguyễn Nghi  thay vì bà Hồ Thị Ngạn ( là sinh mẫu Nguyễn Nhưng, thay vì Nguyễn Nhung).

Mẹ Nguyễn Du là Trần Thị Tần, con người thuộc hạ làm chức Câu kế lo việc kế toán, quản gia cho cụ Nguyễn Nghiễm, quê làng Hoa Thiều họ này có hai người đỗ Tiến Sĩ, bà Tần là vợ thứ ba có con đông nhất (Nguyễn Trụ, Nguyễn Nể, Nguyễn Thị Diên, Nguyễn Du, Nguyễn Ức) . Do đó tôi nghĩ mẹ Nguyễn Du là người có thế lực trong gia đình, chứ không phải là mối tình qua đường, số phận người hầu, con mọn như anh Hoàng Khôi viết ? Theo phong tục ngày xưa bà chánh thất thường do cha mẹ hỏi cưới để làm dâu phụng thờ cha mẹ, cai quản gia trang nguyên quán, bà thứ hai do bà cả cưới cho chồng, thường là em hay họ hàng của mình để “làm bạn” cho mình. Bà ba là người được chồng lựa chọn, theo chồng đi khắp các nơi trấn nhậm và được chồng yêu thương nhất, có nhiều quyền hành nhất và có con đông nhất. Cụ Nguyễn Nghiễm có tám bà vợ và 21 người con.  Thường các gia đình quan lớn ngày xưa, bà chánh thất giữ sổ sách kế toán và tiền bạc cho một gia trang khoảng 50 người, vừa các bà, con cái người hầu, người bảo vệ, tân khách, thầy dạy văn, dạy võ…. Trong trường hợp bà cả quê mùa không biết tính toán mới có người làm câu kế.

Trang 30. Nguyễn Du không thể về  Hải An, Quỳnh Hải học với cha vợ là Đoàn Nguyễn Thục năm 1782, năm Nguyễn Du 16 tuổi vì ông Đoàn Nguyễn Thục sinh năm 1718 và mất năm 1775. Thời gian 1780- 1782 Nguyễn Khản bị phải vụ án Trịnh Tông, nên bị giam lỏng, chúa nghĩ tình bạn cũ tha không giết, do đó Nguyễn Khản không thể cưới vợ cho em, người trụ cột trong gia đình như thế, thì còn vui gì mà lấy vợ. Nguyễn Du về Hồng Lĩnh học với chú là Nguyễn Trọng. Trong bài thơ Tặng Thực Đình năm 1794 có câu : La Thành nhất biệt thập niên thâm. Một biệt La Thành đã chục năm. Nguyễn Du có bạn ở thành Nghệ An trước năm 1783, sau đó Nguyễn Du ra thi Hương trường Sơn Nam, Nam Định, đỗ Tam Trường (đỗ trường  thi, phú, chiếu biểu và hỏng kỳ tứ trường thi văn sách). Năm 1783 Nguyễn Du không thể vừa trấn đóng Thái Nguyên, vừa ở quê vợ Quỳnh Hải ?

Trang 98 bài biệt Nguyễn Đại Lang  hai câu Tống quân quy cố khâu, Ngã diệc phù Giang Hán (Tiễn anh về quê cũ, Tôi sang sông Hán đây) Nguyễn Du tiễn Nguyễn Đại Lang về quê cũ vùng Quế Lâm nơi cao sơn lưu thủy, vùng Việt Đông nơi quê hương người Choáng, (Tráng) người Việt cổ thời Việt Vương Câu Tiễn và Triệu Đà, ngày nay còn 15 triệu người vẫn còn giữ tiếng nói. Và cho biết mình sẽ sang sông Hán để đi Trường An. Giáo sư Nguyễn Huệ Chi dịch thành Tiễn anh về núi cũ, tôi cũng trẩy sang sông, bỏ sót mất địa danh Giang Hán.

Hai câu : Sinh tử giao tình tại, Tồn vong thổ tiết đồng cho biết Nguyễn Du có kết nghĩa sinh tử với Nguyễn Đại Lang, cùng khởi nghĩa bị bắt và được tha.

Trang 109, 114,115 hai bài Sơn Thôn và Sơn Cư Mạn Hứng tả cảnh Vân Nam nơi non sâu lớp lớp, Trưởng giả còn ăn mặc theo nhà Hán, ở trong núi (lịch theo Tây Tạng) không theo lịch nhà Tần. Phạm Tú Châu dịch áo mũ người già và lịch năm trong túi không đúng.  Ông Quách Tấn dịch  câu Nam khứ Trường An thiên lý dư (Phía Nam ngàn dậm cách Trường An), thành Ngoảnh lại trời Nam khuất Đế thành không đúng. Vì ông không nghĩ Vân Nam cách Trường An ngàn dậm. Nếu Trường An là Thăng Long hay Phú Xuân thì Nguyễn Du không thể ở cách hơn ngàn dậm phía Nam. Bài Thu Chí câu Tuyết ám cùng thôn hiểu giác ai (Tuyết xuống làng xa não tiếng tù) ông Phạm Khắc Khoan, Lê Thước dịch Cõi sớm làng xa tuyết phủ đầy, thiếu tiếng tù nghe ai oán, não ruột và tù và là một nhạc khí thường dùng ở Vân Nam. Cảnh tuyết này không thể ở vùng Quảng Tây được.

Trang 105, 106 bài Thôn dạ Nguyễn Du viết ở Hồng Lĩnh câu Niên niên kết đắc ngư tiều lữ – Ngư tiều là bạn quanh năm đó, Nguyễn Du đang đi giang hồ không thể kết bạn với ngư tiều quanh năm, bài Giang đầu tản bộ viết ở Quảng Bình câu Bất tài đa khủng tốc quan phi – Bất tài quan vẫn sợ đơn sai, không hợp với thời đi giang hồ, chưa làm quan.

Trang 111, 112 bài Pháo Đài: Nam Bắc xa thư khánh đại đồng – Nam Bắc mừng nay cuộc đại đồng, thống nhất Nam Bắc sau Trịnh, Nguyễn phân tranh,  trong Nam Trung Tạp ngâm, Nguyễn Du làm lúc làm quan Cai Bạ (Trấn Thủ) ở doanh Quảng Bình, chép vào cảnh lúc Nguyễn Du đi giang hồ ở Trung Quốc không đúng.

Trang 116 bài , Thu dạ II Nguyễn Du trả lời họa bài Thu Vũ của Hồ Xuân Hương, Xuân Hương khóc khi nghe tin Nguyễn Du bị bệnh ba tháng cuối năm ở Hồng Lĩnh (Xem Phạm Trọng Chánh. Đi tìm Cổ Nguyệt Đường và mối tình Nguyễn Du – Hồ Xuân Hương site Vanhoanghean).

Trang 123 Nguyễn Du đọc Kinh Kim Cương nghìn lượt (Bài Phân Kinh Thạch đài), vì thời bấy giờ, Lê Quý Đôn có viết quyển Kinh Kim Cương chú giải, được trí thức Bắc Hà yêu chuộng, được nhà chùa Thăng Long khắc bản in. Lê Quý Đôn nhà bác học, là một thần tượng thời bấy giờ, khi mất được chúa Trịnh để tang bãi chầu ba ngày, việc hiếm có. Nguyễn Du tất có bên mình quyển Kinh của Lê Quý Đôn chú giải. Trên bước đường giang hồ đi Trung Quốc, Nguyễn Du đọc Kinh Kim Cương nghìn lượt, tức là ba năm, ngày đi du lịch tối về một ngôi chùa trên đường đi tụng kinh làm công quả, nhà chùa thết đãi món chay rau đậu. Đây là một chi tiết khá thú vị.

Trang 163, năm 1790, Nguyễn Du đọc Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân ở Hàng Châu, lúc đó Nguyễn Du mới 24 tuổi, chưa đến tuổi “tam thập nhi lập”.

Trang 170, Nguyễn Nể có hai lần đi sứ. Lần thứ nhất năm 1789 sứ bộ đầu tiên của Tây Sơn, Vũ Huy Tấn Chánh sứ, Nguyễn Nể làm Phó sứ. Vũ Huy Tấn đi sứ lần thứ nhất trở về, lại ở trong sứ đoàn đi sứ lần thứ hai năm 1790. Theo học giả Thái Văn Kiểm, Nguyễn Nể đi sứ đến năm 1791 mới về, (trong bài Nguyễn Du đi sứ, Việt Nam Gấm Hoa, Làng Văn Canada xb 1797 tr 101). Khi sứ thần nhà Thanh sang Thăng Long phong vương cùng năm, có cả Nguyễn Nể và Đoàn Nguyễn Tuấn tiếp rước, Đoàn giới thiệu với các sứ thần nhà Thanh: Quế Hiên Nguyễn Nể là đỉnh cao thi trận nước Nam. Lần thứ hai năm 1795 làm Chánh Sứ (Hành Khánh sứ) sang mừng lễ vua Càn Long truyền ngôi cho con là Gia Khánh. Có thể Nguyễn Nể có trong sứ bộ năm 1790 do Phan Huy Ích làm Chánh sứ, có Đoàn Nguyễn Tuấn, đoàn có 158 người, có ông vua Quang Trung giả do Phạm Công Trị đóng vai và hoàng tử Quang Thùy. Như thế Nguyễn Nể đi sứ ba lần chăng?

Nguyễn Công con Nguyễn Khản và Nguyễn Thiện con Nguyễn Điều có tham gia Sùng Chính Viện của Nguyễn Thiếp. Nguyễn Nhưng, đậu Tứ Trường đời Lê, đời Tây Sơn có ra làm Trấn Thủ Sơn Tây  thay thế Nguyễn Công Tấn thân phụ Nguyễn Công Trứ năm 1801. Nhà Nguyễn lên ông ở ẩn làm nghề thuốc.

Trang 171 Hai bài thơ Đoàn Nguyễn Tuấn tựa : Chí Hoàng Châu thích Nguyễn khế văn tự Yên Kinh hồi tẩu bút tặng chi. Đến Hoàng Châu thì vừa vặn gặp người bạn văn chương họ Nguyễn từ Yên Kinh trở về bèn phóng bút làm thơ tặng. Bài tựa chứng tỏ Nguyễn Du đã lên Yên Kinh và trở về. Sự kiện vua Lê Chiêu Thống và các quan lại đi theo muốn nhà Thanh làm áp lực để xin đất Thái Nguyên, Tuyên Quang mà không xin đất Cao Bằng như nhà Mạc, chứng tỏ đã gặp cựu trấn thủ Thái Nguyên Nguyễn Đăng Tiến.

Trang 178, Bài Lưu Biệt Nguyễn Đại Lang, đặt Nguyễn Du chia tay cùng Nguyễn Đại Lang tại Hoàng Châu không đúng vì có địa danh Liễu Cao Lâm. Liễu Châu ở vùng rừng cao nguyên, nơi sản xuất gỗ nam mộc đóng hòm rất tốt, giữ thi thể rất lâu (Trung Quốc có câu : sống ở Hàng Châu, cưới vợ Tô Châu, ăn ở Quảng Châu và chết ở Liễu Châu). Từ Vân Nam vùng núi, về đến Liễu Châu vùng cao nguyên, đến Quế Lâm là đồng bằng. Trong thơ Nguyễn Du, Tây phong thường ám chỉ quân Tây Sơn:  Vì quân Tây Sơn ra Bắc cho nên chúng ta lưu lạc nơi chốn rừng cao nguyên Liễu Châu, Tây phong qui tụ Liễu rừng cao. Ông Trương Chính trong Thơ  Chữ Hán Nguyễn Du, Nxb Văn Học 1965, vì không nghĩ đó là địa danh, nên cho rằng câu thơ không đúng cú pháp, ông chữa thành :Tây phong tiêu táp phất cao lâm, Gió Tây thổi qua ống tay áo phơ phất cành liễu. Ông Đào Duy Anh giữ nguyên nhưng dịch thành Rừng liễu ra về buổi gió Tây. Chữ ra về ngược lại với nghĩa chữ qui tụ.

Trang 181, Đoàn Nguyễn Thục mất năm 1775, 57 tuổi, năm 1790 Đoàn Nguyễn Thị Huệ 16 tuổi, mồ cô cha lúc một tuổi, có thể con thứ thiếp, được anh cả Đoàn Nguyễn Tuấn nuôi dưỡng và kết hôn cùng Nguyễn Du năm 1796,  21 tuổi.

Trang 214, cụ Đồ Diễn đã mất năm 1786, thọ 83 tuổi. Do đó năm 1790 -1793, ba năm mối tình Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, thì cụ Đồ Diễn không còn nữa. Hồ Xuân Hương nếu sinh năm 1772 lúc đó đã 18 – 21 tuổi với tài hay chữ có thể đã dạy trẻ học vỡ lòng. Văn bản Landes, Lê Quý chép thường tả Hồ Xuân Hương đi đâu cũng có 5, 7 đứa hầu gái, có lẽ là học trò. Làng Nghi Tàm sau khi cụ Đồ Diễn có Tử Minh tức Cả Tân học trò cụ Đồ Diễn dạy học, Tử Minh mất 40 tuổi năm 1811, Hồ Xuân Hương sau mười năm phong trần : Thập tải phong trần quán nhỉ linh, mười năm phong trần như ăn trộm bịt tai đi trộm chuông (lấy lẽ Cai Tổng Cóc, trở về mở hiệu sách, rồi đi buôn, vì tình bất an vùng Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ do loạn Đặng Trần Siêu, Võ Đình Lục thường chặn đường cướp bóc các thương nhân, nàng thôi đi buôn). Làng Nghi Tàm mời Xuân Hương  thay Tử Minh dạy học. Học trò các lớp thi Hương sang học với ông nghè Phạm Quý Thích. Nguyễn Thị Hinh tức Bà Huyện Thanh Quan, sinh sống cùng làng Nghi Tàm, học với Hồ Xuân Hương sau đó học với Tiến Sĩ Phạm Quý Thích cùng thời với Phương Đình Nguyễn Văn Siêu.

Trang 234 : năm 1774 cụ Nguyễn Nghiễm cầm quân dẹp loạn vùng Hội An, điều này không đúng. Đó là cuộc chiến lớn chấm dứt Trịnh Nguyễn phân tranh sau hơn 200 năm. Nhân tại Phú Xuân, Trương Phúc Loan chuyên quyền, Tây Sơn nổi dậy đánh phá chiếm từ Bình Định tới Diên Khánh. Chúa Trịnh Sâm biết như vậy bèn sai đại tướng là Hoàng Ngũ Phúc, cùng Nguyễn Nghiễm làm Tả Tướng quân đem thủy bộ 3 vạn quân cùng Hoàng Phùng Cơ, Hoàng Đình Thể, Hoàng Đình Bảo vào đất Bố Chính để đánh họ Nguyễn, giả vào đánh Trương Phúc Loan. Các quan ở Phú Xuân bèn bắt Phúc Loan đem nộp. Nhà Trịnh thừa cơ chiếm lấy Phú Xuân, sai Nguyễn Hữu Chỉnh đem sắc phong cho Nguyễn Nhạc trấn thủ đất Quảng Nam. Các chúa Nguyễn,Thái Thượng Vương và Tân Chính Vương bị Nguyễn Huệ đuổi bắt và giết chết, chỉ còn Nguyễn Ánh 17 tuổi chạy thoát. Trong trận này quân nhà Trịnh hàng ngàn người bị bệnh dịch. Cụ Nguyễn Nghiễm cũng nhiễm bệnh đưa về quê quán Tiên Điền dưỡng bệnh. Năm 1776 cụ mất tại quê nhà.

Trong tình hình đọc sách hiện tại trong nước và hải ngoại, mỗi người Việt Nam đọc không đến một quyển sách một năm, các nhà xuất bản tại hải ngoại chỉ sống nhờ sự hy sinh của tác giả, tự viết tự bỏ tiền in, không kể gì lời lỗ. Sách gửi đi các nơi không hy vọng gì thu tiền lại. Trong nước sách in được 1500 quyển như  Nguyễn Du trên đường gió bụi anh Hoàng Khôi là thuộc loại khá. Đáng cho chúng ta khuyến khích. Phải chăng vì thiếu sách hay, các nhà văn ngày nay không đủ sức hấp dẫn lôi kéo người đọc chăng. Nghĩ lại ngày xưa thời Tự Lực Văn Đoàn, Thơ Mới, những năm 1930-1940 mỗi năm người đậu Tú Tài chỉ vài chục người, người biết chữ quốc ngữ có là bao nhiêu trên 25 triệu dân thế mà sách  đã tạo ra những trào lưu văn học lớn mạnh. Ngày nay chúng ta có 90 triệu dân trong nước và 4 triệu người Việt hải ngoại, mà tình hình sách vở còn thua các nước nhược tiểu, nghĩ thật đáng buồn. Chúng ta không nâng cao được dân trí, mà dân trí lại thụt lùi.  Được một nhà văn như anh Hoàng Khôi, hy sinh thức đêm thức hôm để viết sách, để mua vui một vài trống canh, tôi mừng và mong có nhiều người như anh Hoàng Khôi. Đừng để các thế hệ mai sau không còn biết viết văn, biết đọc mà chỉ còn biết bấm mấy câu vớ vẫn trên điện thoại di động.

Paris 9-11-2013

Các bài viết liên quan:

Video yêu thích
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính
Hoàng Kim, Ngọc Phương Nam, Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Học mỗi ngày, Danh nhân Việt, KimTwitter, KimFacebook, KimYouTube, Food Crops News, CassavaViet, foodcrops.vn

Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ


Hoàng Kim


ĐỌC LẠI VÀ SUY NGẪM. Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ nơi “bia tàn chữ mất vùi gai góc/ nghe tiếng nghìn năm tôi xuống xe” càng cho thấy nhân cách kẻ sĩ và sự cảm thông của ông đối với Liễu Hạ Huê sâu sắc đến dường nào. Người hiền thực ra đời nào cũng có, thời thế nhiễu loạn, chẳng qua vàng lầm trong cát đấy thôi. Nguyễn Du là con quan tướng quốc Nguyễn Nghiễm cựu thần nhà Lê và mẹ ông là người phụ nữ tài sắc, vợ lẽ nhà quan, gặp lúc thế nước động loạn, chúa Trịnh, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn đều có ý riêng. Ông lớn lên trong cảnh lận đận không nhà, có tài mà không thể cậy. Ông là một đại sĩ phu tài năng trác tuyệt nhưng chỉ làm một viên quan thường triều Nguyễn mà vua vừa dùng, vừa tìm cách kiềm chế như đối với Nguyễn Công Trứ, Phan Huy Chú. Ông vì giỏi nên được vua Nguyễn cử đi sứ Tàu mà thôi. Thơ Nguyễn Du vì vậy kín đáo và sâu sắc hiếm thấy (Ảnh: Mộ Nguyễn Du ở Hà Tĩnh).

                                                                           *         
Để thấu hiểu những giá trị nhân văn đích thực, rất cần những khoảng lặng để đối diện với chính mình.  Hôm trước tôi đã có dịp cùng với những người bạn quý thảo luận về hành vi ứng xử của Liễu Hạ Huệ gần gũi với một người nữ mà ông không mang tiếng dâm tà. Nhờ việc tra cứu, đọc đi đọc lại nhiều lần bài thơ ‘Liễu Hạ Huệ mộ’ của cụ Nguyễn Du, tôi chợt sững người, nhận thức thêm được những nỗi niềm, của cụ Nguyễn lấp lánh sau những con chữ ...


柳下惠墓


吳店橋通泗水波

士師名蹟未消磨
事人直道寧三黜
作聖全功在一和
相對尼山長有魯
可憐盜跖已無家
碑殘字沒埋荒草
天古聞風一下車

Liễu Hạ Huệ mộ


Ngô Điếm kiều thông Tứ thủy ba

Sĩ Sư danh tích vị tiêu ma
Sự nhân trực đạo ninh tam truất
Tác thánh toàn công tại nhất hòa
Tương đối Ni Sơn trường hữu Lỗ
Khả liên Đạo Chích dĩ vô gia
Bi tàn tự một mai hoang thảo
Thiên cổ văn phong nhất há xa

Mộ Liễu Hạ Huệ (Dịch nghĩa)


Dưới cầu Ngô Điếm sông Tứ chảy

Tiếng tăm của bậc Sĩ sư vẫn chưa mất
Lấy đạo ngay thẳng thờ người, ba lần chịu mất chức
Nên công bậc thánh ở chữ "Hòa"
Đối mặt Ni Sơn, nước Lỗ còn mãi mãi
Thương cho Đạo Chích kẻ không nhà
Bia tàn chữ mất chôn vùi nơi cỏ hoang
Nghìn năm còn nghe tiếng, tôi xuống xe

(Dịch thơ: Đặng Thế Kiệt)


Sông Tứ dưới cầu Ngô Điếm qua

Danh thơm kẻ sĩ chửa phôi pha
Đạo ngay xử thế ba lần truất
Bậc thánh nên công một đức Hòa
Đối mặt Ni Sơn vinh nước tổ
Thương thân Đạo Chích hổ danh nhà
Bia tàn chữ mất vùi gai góc
Nghe tiếng nghìn năm tôi xuống xe

Muốn hiểu sâu được bài thơ trên, chúng ta cần đối chiếu cuộc đời và sự nghiệp của cụ Nguyễn với thân thế và hoàn cảnh của Liễu Hạ Huệ, nắm vững những địa danh và điển cố văn chương trong bài thơ. Bởi lẽ nếu không hiểu họ là ai, họ có những nét tương đồng nào thì không thể cắt nghĩa được vì sao cụ Nguyễn Du lại đồng cảm và kính trọng Liễu Hạ Huệ sâu sắc như thế “bia tàn chữ mất vùi gai góc/ nghe tiếng nghìn năm tôi xuống xe”.



NGUYỄN DU CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP


Từ điển Bách khoa mở Wikipedia đã tóm tắt về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Du như sau: “Nguyễn Du (chữ Hán: 阮攸; 1766–1820), tên tự Tố Như (素如), hiệu Thanh Hiên (清軒), biệt hiệu Hồng Sơn lạp hộ (鴻山獵戶), là một nhà thơ nổi tiếng thời Lê mạt, Nguyễn sơ ở Việt Nam. Tác phẩm lớn nhất của ông là tập Truyện Kiều dài 3.254 câu, một tập truyện thơ nôm viết theo thể lục bát với ý nghĩa thăng trầm, từ ngữ giai điệu phong phú mà hầu hết người Việt Nam đều biết tới. Ngoài ra, những tập Bắc hành tạp lục, Thanh hiên thi tập, Văn tế thập loại chúng sinh của ông cũng rất nổi tiếng. Ông được xem như là một nhà thơ lớn nhất Việt Nam từ trước đến nay, người Việt kính trọng gọi ông là "Đại thi hào dân tộc". Năm 1965, ông được UNESCO tôn vinh là danh nhân văn hóa thế giới.


Ông sinh ngày 03 tháng 01 năm 1766 tức ngày 23 tháng 11 năm Ất Dậu, quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh), nhưng sinh ra ở quê mẹ- làng Kim Thiều, xã Hương Mặc, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh [1] và trải qua thời thơ ấu ở Thăng Long. Ông thuộc dòng dõi trâm anh thế phiệt: cha là Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm làm tới tể tướng dưới triều Lê; mẹ là bà Trần Thị Tần, vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, người xứ Kinh Bắc (Nguyễn Nghiễm có 8 vợ, 21 người con). Anh khác mẹ (con bà chính) của ông là Toản Quận Công Nguyễn Khản làm tới Tham Tụng, Thái Bảo trong triều. Do là con thứ bảy nên Nguyễn Du còn được gọi là cậu Chiêu Bảy. Năm 1771, ông cùng gia đình Tể tướng Nguyễn Nghiễm chuyển về ở làng Tiên Điền. Năm 1775, lúc 10 tuổi Nguyễn Du mồ côi cha. Năm 1778, lúc mười ba tuổi mồ côi mẹ, ông phải ra Thăng Long ở với anh cả là Nguyễn Khản. Năm 1780, Nguyễn Du trở về làng Tiên Điền ở với người chú là Tiến sĩ Nguyễn Hành. Năm 1783, Nguyễn Du thi hương tại trường thi Nghệ An và đậu Tam trường. Vì lẽ gì không rõ, ông không tiếp tục thi lên nữa, mà đi nhận một chức quan võ ở Thái Nguyên, kế chân người cha nuôi của ông vừa mới từ trần. Năm 1789, Nguyễn Huệ kéo binh ra Bắc, đại thắng quân nhà Thanh. Nguyễn Du, vì tư tưởng trung quân phong kiến, không chịu ra làm quan cho nhà Tây Sơn. Từ năm 1789 đến năm 1795, ông sống ở Thái Bình- quê vợ. Năm 1796: Nguyễn Du dự định vào Gia Định cộng tác với Chúa Nguyễn, âm mưu bị bại lộ, bị nhà Tây Sơn bắt giam ba tháng. Từ 1797 đến năm 1802: Nguyễn Du ẩn dật tại Tiên Điền. Khi Nguyễn Phúc Ánh lật đổ nhà Tây Sơn Nguyễn Quang Toản, rồi mời Nguyễn Du ra làm quan; ông từ mãi mà không được nên miễn cưỡng tuân mệnh. Năm Gia Long nguyên niên (1802),ông làm tri huyện huyện Phù Dực (nay thuộc Tỉnh Thái Bình), rồi được ít lâu thăng tri phủ Thường Tín (Hà Đông). Năm 1805, ông được thăng Đông Các điện đại học sĩ, tước Du Đức Hầu. Năm 1809, ông làm cai bạ tỉnh Quảng Bình. Năm 1813, thăng Cần Chánh điện đại học sĩ, được cử làm Chánh Sứ đi Trung Quốc. Sau khi về nước, năm 1815, ông được thăng Lễ Bộ Hữu Tham Tri. Theo Đại Nam Liệt Truyện: "Nguyễn Du là người ngạo nghễ, tự phụ, song bề ngoài tỏ vẻ giữ gìn, cung kính, mỗi lần vào chầu vua thì ra dáng sợ sệt như không biết nói năng gì..." Năm 1820, Minh Mạng lên ngôi, cử ông đi sứ lần nữa, nhưng lần này chưa kịp đi thì ông đột ngột qua đời. Đại Nam Liệt Truyện viết: "Đến khi đau nặng, ông không chịu uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân. Họ thưa đã lạnh cả rồi. Ông nói "được" rồi mất; không trối lại điều gì.


"Tác phẩm tiêu biểu của ông, ngoài kiệt tác Truyện Kiều nổi tiếng “mà hầu như người Việt Nam nào cũng nhớ cũng thuộc một đôi câu”, Nguyễn Du còn để lại Văn tế thập loại chúng sinh, Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu; Thác lời trai Phường Nón (bằng chữ Nôm) Ba tập thơ chữ Hán điển hình là Thanh Hiên thi tập (viết khi làm quan dưới triều Nguyễn), Nam Trung tạp ngâm (viết khi làm quan ở Quảng Bình) Bắc hành tạp lục (viết khi đi sứ Trung Quốc). Một số bài thơ khác: Cảm Hứng Trong Tù, Đầu Sông Chơi Dạo, Đứng Trên Cầu Hoàng Mai Buổi Chiều, Đêm Đậu Thuyền Cửa Sông Tam Giang, Đêm Rằm Tháng Giêng Ở Quỳnh Côi, Lưu Biệt Anh Nguyễn, Mộ Đỗ Thiếu Lăng Ở Lôi Dương, Miếu Thờ Mã Phục Ba Ở Giáp Thành, Ngày Thu Gởi Hứng, Nói Hàn Tín Luyện Quân, Người Hát Rong Phủ Vĩnh Bình, Ngồi Một Mình Trong Thủy Các, Ngựa Bỏ Bên Thành, Ngày Xuân Chợt Hứng, Long Thành Cẩm Giả Ca, Tranh Biệt Cùng Giả Nghị, Qua Sông Hoài Nhớ Thừa Tướng Văn, Xúc Cảm Đình Ven Sông, Viếng Người Con Hát Thành La …”


LIỄU HẠ HUỆ: THÂN THẾ VÀ HOÀN CẢNH


Thi Viện của Đào Trung Kiên và Từ điển Wikipedia chép :Liễu Hạ Huệ (sinh 720 TCN, mất 621 TCN) tức Triển Cầm 展禽, tên Hoạch 獲, tự là Quý 季, người đất Liễu Hạ 柳下, nước Lỗ 魯, thời Xuân Thu 春秋, nổi tiếng là một chính nhân quân tử. Liễu Hạ Huệ làm Sĩ Sư, ba lần bị truất mà không bỏ nước. Có người hỏi, ông trả lời: "Lấy đạo ngay mà thờ người thì đi đâu mà không bị ba lần truất. Nếu lấy đạo cong thì hà tất phải bỏ nước của cha mẹ". Sau khi chết, được đặt tên thụy là Huệ 惠. Mạnh Tử khen ông là bậc thánh về Hòa (Thánh chi Hòa 聖之和).


Sách Đông Chu liệt quốc của Phùng Mộng Long , hồi thứ ba mươi chín “Triễn Hỉ vấn kế cùng Liễu Hạ Huệ” tóm tắt như sau:


“Trong lúc này, Tề Hiến Công vẫn có ý nối chí cha, nuôi mộng bá chủ chư hầu. Một hôm hỏi các quan đại phu: Tiên quân ta là Tề Hoàn Công lúc nào cũng lo đánh đông dẹp bắc, gây thế lực cho mình, chư hầu kính nể. Nay đến đời ta, chẳng lẽ cứ nằm im, trong khi các chư hầu mỗi ngày một mạnh? Ta còn nhớ năm trước vua Lỗ định giúp Vô Khuy chống cự với ta, hận ấy chưa trả. Nay Lỗ lại liên kết với Vệ và Sở, thế rất mạnh, nếu không trừ trước ắt sanh hậu họa. Vừa rồi , ta nghe nói nước Lỗ mất mùa, ta muốn thừa cơ đánh Lỗ, ý các ngươi thế nào? Quan thượng khanh Cao Lỗ nói: Nước Lỗ được nhiều nước giúp, ta đánh khó thắng nổi. Tề Hiến Công nói: Nếu ngồi nhà mà luận chưa chắc đã đúng. Cứ đem quân đến đánh thử một trận xem các nước chư hầu có ai giúp Lỗ chăng? Nói xong, cử binh kéo sang miền bắc nước Lỗ.


Quân thám thính về báo, Lỗ Hi Công nói: Nước ta đang lúc mất mùa, quân Tề lại kéo sang, vậy thì nên đánh hay hòa? Quan đại thần Tang Tôn Thần nói: Xin chúa công nhẫn nhục cho người đến giảng hòa với Tề, nếu không xong sẽ tính. Lỗ Hi Công hỏi: Hiện nay ai có thể lãnh trọng trách đó? Tang Tôn Thần nói: Tôi xin tiến cử Triển Hoạch, con quan Tư Không đời trước, làm quan Sĩ Sư, được phong ở đất Liễu Hạ. Người ấy nho nhã, thông minh lắm, chỉ vì chán ghét thói đời nên từ quan về sống cảnh an cư. Nay được người ấy đi chắc vua Tề phải kính trọng. Lỗ Hi Công nói: Tôi vẫn nghe tiếng người ấy, song hiện nay người ấy ở đâu? Tang Tôn Thần nói: Hiện nay nơi Liễu Hạ. Lỗ Hi Công liền cho người đến triệu Triển Hoạch, Triển Hoạch cáo bệnh không đến. Lỗ Hi Công hỏi Triển Hoạch cáo bệnh, bây giờ phải làm sao? Tang Tôn Thần nói: Triễn Hoạch còn có người em là Triển Hỉ dẫu quan chức nhỏ nhưng có tài ứng đối rất hay. Nay sai Triển Hỉ đến nhà Triển Hoạch hỏi xem dùng cách gì để ứng đối với vua Tề.


Lỗ Hi Công theo lời, sai Triển Hỉ đến Liễu Hạ. Triển Hỉ theo lệnh đến nơi vào yết kiến Triển Hoạch, thuật lại ý muốn của Lỗ Hi Công và sứ mệnh của mình. Triển Hoạch nói: Vua Tề sang đánh ta là ý muốn noi công nghiệp của Tề Hoàn Công ngày trước, nhưng không biết muốn làm bá chủ phải tôn phù Thiên tử nhà Chu. Nay ta đem di mệnh của Tiên vương ngày xưa mà trách vua Tề thì thiếu gì cách nói. Triển Hỉ trở về nói với Lỗ Hi Công: Tôi đã hỏi được cách ứng đối với vua Tề rồi.


Lỗ Hi Công liền phát lễ vật sai Triển Hỉ đến thương thuyết với vua Tề (…). Triển Hỉ nói với vua Tề: Chúa công tôi nghe xa giá nhà vua sang địa giới nước tôi nên sai tôi đến đây để tiến dâng lễ vật. Tề Hiến Công hỏi: Người Lỗ nghe ta đem quân sang đánh có sợ chăng? Triển Hỉ đáp: Có những bọn tiểu nhân thì sợ thật nhưng những người quân tử thì không chút gì sợ hãi. Tề Hiến Công nói: Hiện nay nước ngươi không có ai mưu trí như Thi Bá, cũng không có ai vũ dũng bằng Tào Tuệ, ngoài đồng lại bị mất mùa, cây cỏ vàng úa . Thế thì cậy vào đâu mà không sợ hãi? Triển Hỉ nói: Nước tôi không cậy tài cũng không cậy của, chỉ cậy có một điều là di mệnh của Tiên vương mà thôi. Tiên vương nhà Chu ta ngày xưa phong Thái công nơi đất Tề, phong Bá nơi nước Lỗ, khiến hai nước uống huyết ăn thề: “Con cháu sau này đời đời cùng giúp nhà Chu, không làm hại lẫn nhau”. Lời thề ấy còn chép trong sử sách hai nước. Trước kia Tề Hoàn Công lên làm bá chủ cũng vì hội chư hầu nơi đất Kha để giúp Thiên tử, nay hiền hầu bỏ đường lối ấy mà dùng vũ lực uy hiếp các nước chư hầu, trái với lời thề của Tiên vương, làm sao nên được? Tôi dám chắc hiền hầu không bao giờ làm trái đạo. Bởi vậy, nước tôi không sợ hãi. Tề. Hiến Công nghe nói nghĩ thầm, rồi bảo Triển Hỉ: Ngươi về nói lại với Lỗ hầu, ta xin cùng nước Lỗ giảng hòa. Nói xong truyền lui binh về nước


"BẮC HÀNH TẠP LỤC" VÀ "LIỄU HẠ HUỆ MỘ"


Thơ chữ Hán của Nguyễn Du có Bắc hành tạp lục, Nam trung tạp ngâm và Thanh Hiên thi tập. Thi Viện http://www.thivien.net/ đến nay đã thu thập được 226 bài trong đó “Bắc hành tạp lục” có 132 bài, Nam Trung tạp ngâm 16 bài và Thanh Hiên thi tập 78 bài. Lời thơ điêu luyện, theo cách nói của Mai Quốc Liên thì: "Thơ chữ Hán của Nguyễn Du là những áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa. Nó mới lạ và độc đáo trong một nghìn năm thơ chữ Hán của ông cha ta đã đành, mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc nữa".


“Liễu Hạ Huệ mộ” là một tuyệt phẩm của Nguyễn Du trong “Bắc hành tạp lục”. Năm Gia Long thứ mười một 1813, Nguyễn Du được thăng chức Cần Chánh điện đại học sĩ và được cử làm Chánh Sứ đi Trung Quốc từ khoảng giữa năm 1813 đến gần cuối năm 1814. Trên hành trình muôn dặm của một sứ thần, Nguyễn Du đã đến nước Lỗ (tỉnh Sơn Đông ngày nay) nơi có ngọn núi Thái Sơn hùng vĩ, đất thiêng khởi phát của nhà Chu và tộc Hán, nơi quê hương và an nghỉ của Khổng Tử (Trọng Ni) với lời cảm khái của Tư Mã Thiên “ Kinh Thi nói: Núi cao ta trông , đường rộng ta đi, Tuy đích chưa đến nhưng lòng hướng về̀. Tôi đọc sách của họ Khổng, tưởng tượng như thấy người. Đến khi đến Lỗ, xem nhà thờ Trọng Ni, nào xe cộ, nào áo, nào đồ tế lễ, học trò tập về nghi lễ ở nhà Khổng tử theo đúng từng mùa, tôi bồi hồi nán lại, bỏ đi không dứt. Trong thiên hạ các vua chúa và người tài giỏi rất nhiều, khi sống thì vinh hiển, nhưng lúc chết là hết. Khổng Tử là một người áo vải thế mà truyền hơn mười đời, các học giả đều tôn làm thầy, từ thiên tử đến vương hầu ở Trung Quốc hễ nói đến lục nghệ đều lấy Khổng Tử làm tiêu chuẩn. Có thể gọi là bậc chí Thánh vậy!”.


Nguyễn Du tìm đến viếng mộ Liễu Hạ Huệ, người Sĩ Sư ba lần bị biếm chức. Liễu Hạ Huệ có người em trai là kẻ trộm (Đạo Chích) với bia miệng người đời “chó nhà Đạo Chích sủa vua Nghiêu”. Ông cũng có người em trai là Triển Hỷ “chỉ làm một chức quan nhỏ”. Việc Vua Lỗ triệu kiến ông đi làm sứ thần, ông đã cáo ốm không đến nhưng kế sách châu ngọc của ông qua sự vấn kế của Triển Hỷ thì đã tránh cho dân chúng được cái thảm họa chiến tranh. Nguyễn Du đến thăm mộ Liễu Hạ Huệ nơi “bia tàn chữ mất vùi gai góc/ nghe tiếng nghìn năm tôi xuống xe” càng cho thấy nhân cách kẻ sĩ và sự cảm thông của ông đối với Liễu Hạ Huê sâu sắc đến dường nào.


Những người hiền xưa nay thực ra đời nào cũng có, thời thế nhiễu loạn, chẳng qua vàng lầm trong cát đấy thôi. Nguyễn Du là con quan tướng quốc Nguyễn Nhiễm cựu thần nhà Lê và mẹ ông là người phụ nữ tài sắc, vợ lẽ nhà quan, gặp lúc thế nước động loạn, chúa Trịnh, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn đều có ý riêng. Ông lớn lên trong cảnh lận đận không nhà, có tài mà không thể cậy. Ông là một đại sĩ phu tài năng trác tuyệt nhưng chỉ làm một viên quan thường triều Nguyễn mà vua vừa dùng vừa tìm cách kiềm chế như đối với Nguyễn Công Trứ, Phan Huy Chú. Ông vì giỏi nên được vua Nguyễn cử đi sứ Tàu mà thôi. Thơ Nguyễn Du vì vậy kín đáo và sâu sắc hiếm thấy.


Bài thơ thật cô đọng, tài tình và tuyệt hay! Cầu Ngô Điểm, sông Tứ, núi Ni, ba lần truất, thánh chi hòa "Đối mặt Ni Sơn, nước Lỗ còn mãi, thương cho Đạo Chích kẻ không nhà" Mỗi câu thơ là những cụm từ chìa khóa với tình ý mênh mang. Viếng mộ Liễu Hạ Huệ, viết Truyện Kiều là Nguyễn Du đã gửi gắm tâm sự và sự trăn trở của người sỉ phu trí thức thời loạn như thân phận nàng Kiều và Liễu Hạ Huệ vậy.


                                                                                  *

Hôm nay, nhân việc các con ở xa về, gia đình tôi đi dâng hương ở Văn miếu Trấn Biên để biết  ơn gương sáng của những người có công với nước. Buổi khuya, tôi đọc đi đọc lại nhiều lần những ghi chép của Thùy Dương về bình luận của Nguyễn Khắc Phê với tiểu thuyết Nguyễn Du của Nguyễn Thế Quang. Tôi chép lại bài đã đăng cùng các cảm nhận của bạn hữu và bổ sung thêm những tư liệu mới.


Hoàng Kim



BÌNH LUẬN 


Nguyễn Lâm Cúc


NLC đọc lần thứ hai bài viết này, mở mang thêm hiểu biết dù chưa thấu đáo. Xin cảm ơn anh Hoàng Kim. Chúc anh khỏe va hạnh phúc nhiều Hoang…


Hoàng Kim 


Cám ơn Lâm Cúc, Đây là một trong những bài văn mình tâm đắc. Mình cho rằng Nguyễn Du không chỉ là danh nhân văn hóa thế giới, nhà thơ lớn mà còn là một nhân cách lớn với tư duy thiên tài của một Tể tướng đầu triều nước thịnh, chúa sáng, tôi hiền, chẳng qua ông không gặp thời đấy thôi. Viết Truyện Kiều, viếng Khuất Nguyên, viếng Đỗ Phủ, viếng Liễu Hạ Huệ ... là những đồng cảm sâu sắc của ông về thân phận và cảnh ngộ...


Hà Linh 


Chào anh Hoàng Kim. HL đã đọc nhiều lần lời chia buồn và động viên của HK và các anh chị em trên trang HL và hoibloghanoi, các tin nhắn qua điện thoại mà HL vẫn còn lưu. Xin cám ơn tận đáy lòng tất cả mọi người, đã dành cho HL tình cảm thật sâu sắc và chân tình. HL đã xin phép anh Tạo đưa lời cám ơn lên trang chung của Hội blogger Hà Nội.  Xin chúc HK và các anh chị em luôn vui khoẻ, hạnh phúc và mọi điều tốt lành nhất.  HL sẽ cố gắng thu xếp công việc gia đình và cơ quan, để sớm trở lại vui vẻ cùng mọi người.


bulukhin 


Tôi vẫn bảo lưu ý kiến là có nhân vật Liễu Hạ Huệ, bằng chứng là sách Đông Chu để hẳn cả hồi thứ 39 nói về ông với tiêu đề: Triển Hỉ hỏi kế Liễu Hạ Huệ. Ngụy Thù đốt nhà Hỉ Phụ Cơ . Bằng chứng hùng hồn hơn cả đó là Nguyễn Du đã đến viếng mộ ông và có thơ “Liễu Hạ Huệ mộ”. Những nhân vật quân tử Tàu của đất Hoa hạ thiếu gì mà người ta phải bỏ công hư cấu ra nhân vật Liễu Hạ Huệ ? Và có hư cấu thì hà tất phải làm lăng mộ mà sau này Nguyễn Du đến viếng. Trong comment mới nhất ở trang Catu, ông Đông A có vẻ nghe thủng những gì Buluk và Hoàng Kim nói.


Về thơ chữ Hán Nguyễn Du thì nói thật, Buluk tôi chưa đủ hiểu biết mà bàn cho sâu. Chỉ biết đại để là lâu nay khi nói đến Nguyễn Du người ta chỉ nhắc đến Truyện Kiều, chứ ít ai nói đến thơ chữ Hán của ông. Trong quyển Nguyễn Du – về tác giả và tác phẩm của Trịnh Bá Đĩnh biên soạn thì phần viết về Truyện Kiều chiếm 815 trang trong khi phần viết về thơ chữ Hán chỉ có 128 trang. Nếu làm một cuộc thống kê tương tự thì sự cảm thụ của các cây bút uy tín như Hoài Thanh, Xuân Diệu, Nguyễn Lộc …tỷ lệ cũng tương tự. Có sự chênh lệch này bởi Truyện Kiều dễ làm nao lòng trước những gì đau xót gợi thái độ cảm thương, nó coi trọng cái đẹp cảm tính hơn lý tính. Thực ra, Truyện Kiều chỉ là diễn âm, “lỡ tay” mà thành kiệt tác, còn thơ chữ Hán mới đich thị là sáng tác và phải xem nó là phát ngôn viên chính thức của Nguyễn Du. Nói cách khác, nếu ở Truyện Kiều người ta mới thấy tấm lòng và tài năng thì tới thơ chữ Hán người ta mới thấy được cả tầm vóc và bản lĩnh của Nguyễn Du.


Bắc hành thi tập được ông làm chủ yếu vào đợt đi sứ 1813-1814. Đây là lúc ông sống ở xứ người, có dịp rủ bỏ hết nhiễu nhương trong cuộc sống thường nhật của một “hàng thần lơ láo” để nhìn về đất nước. Ông sống với con người và cảnh vật xứ người một cách hết lòng, không chỉ suy nghỉ về hiện tại mà còn thường xuyên trở lại với quá khứ, không chỉ thương xót hoàn cảnh khốn khó của những người dân thường như ông già hát rong ở Thái Bình, hoặc bốn mẹ con một người hành khất, mà còn đặt mình vào tình thế của nhân vật kì vĩ hội tụ những vấn đề lớn của đời sống, như Khuất Nguyên, Kinh Kha, Tô Tần , Nhạc phi, Tần Cối, Liễu Hạ Hạ Huệ…Ông dùng những nhân vật lịch sử Trung Hoa để liên hệ tới hoàn cảnh của mình, trương tự như việc ông dùng cốt truyện mượn từ Thanh Tâm tài nhân để nói xã hội Việt Nam. Những câu thơ hay nhất ở đây dường như đã chạm tới những vấn đề của nhân loại. Học giả Phan Ngọc có nói “Văn Hóa Việt Nam có phần nhẹ chất nhân loại mà nặng chất dân tộc”. Rõ ràng Truyện Kiều và đặc biệt thơ chữ Hán của Nguyễn Du đã góp phần bổ sung cho sự thiếu sót đó.


Hoàng Kim


Tôi rất tán đồng với những ý kiến này của bác Bu: "Nếu ở Truyện Kiều người ta mới thấy tấm lòng và tài năng của Nguyễn Du thì tới thơ chữ Hán người ta mới thấy được cả tầm vóc và bản lĩnh của ông. Bắc hành tạp lục được ông viết chủ yếu vào đợt đi sứ 1813-1814. Đây là lúc ông sống ở xứ người, có dịp rủ bỏ hết nhiễu nhương trong cuộc sống thường nhật của một “hàng thần lơ láo” để nhìn về đất nước. Ông sống với con người và cảnh vật xứ người một cách hết lòng, không chỉ suy nghỉ về hiện tại mà còn thường xuyên trở lại với quá khứ, không chỉ thương xót hoàn cảnh khốn khó của những người dân thường như ông già hát rong ở Thái Bình, hoặc bốn mẹ con một người hành khất, mà còn đặt mình vào tình thế của nhân vật kì vĩ hội tụ những vấn đề lớn của đời sống, như Khuất Nguyên, Kinh Kha, Tô Tần, Nhạc Phi, Liễu Hạ Huệ… Ông dùng những nhân vật lịch sử Trung Hoa để liên hệ tới hoàn cảnh của mình, trương tự như việc ông dùng cốt truyện mượn từ Thanh Tâm tài nhân để nói xã hội Việt Nam. Những câu thơ hay nhất ở đây dường như đã chạm tới những vấn đề của nhân loại. Học giả Phan Ngọc có nói “Văn Hóa Việt Nam có phần nhẹ chất nhân loại mà nặng chất dân tộc”. Rõ ràng Truyện Kiều và đặc biệt thơ chữ Hán của Nguyễn Du đã góp phần bổ sung cho sự thiếu sót đó." Trong việc tìm hiểu di sản văn hóa của ông cha thì "Bắc hành tạp lục" của Nguyễn Du là viên ngọc quý. Vượt lên thời gian, những áng thơ đó thể hiện trình độ uyên bác, hiểu biết ngôn ngữ văn hóa Trung Hoa điêu luyện và nhân cách kẻ sĩ cao quý của ông xứng tầm với Đỗ Phủ, Khuất Nguyên, Tô Đông Pha ... Tôi thực tâm đắc với ý kiến của học giả Mai Quốc Liên "Thơ chữ Hán của Nguyễn Du là những áng văn chương nghệ thuật trác tuyệt, ẩn chứa một tiềm năng vô tận về ý nghĩa. Nó mới lạ và độc đáo trong một nghìn năm thơ chữ Hán của ông cha ta đã đành, mà cũng độc đáo so với thơ chữ Hán của Trung Quốc nữa". Chạm đến phần thơ chữ Hán của danh nhân văn hóa Nguyễn Du là chúng ta đang chạm đến phần cốt lõi, tinh túy của thơ Người trong di sản văn hóa quý giá của dân tộc. Nhiều học giả Việt Nam thời gian qua tuy đã thu thập, tìm hiểu nhưng vì điều kiện chiến tranh, ngôn ngữ văn hóa, hạn chế thư tịch điển cố văn chương ... nên chưa tìm hiểu hết.


Minh


Sức sống mãnh liệt nhất của văn học dân gian là truyền khẩu. Đó là điều dễ hiểu giải thích vì sao "Truyện Kiều" lại được đánh giá cao như vậy. Nguyễn Du quả thật có rất nhiều tâm trạng khi "miễn cưỡng" làm quan triều Nguyễn. Những bài thơ chữ Hán của ông luôn chứa đựng những nỗi niềm sâu thẳm. Có gì như luyến tiếc về một thời. 昇龍其一, 昇龍其二 (Thăng Long kỳ 1, kỳ 2), 新秋偶興 (Tân thu ngẫu hứng), 秋日寄興 (Thu nhật ký hứng)... Mấy bài cháu đọc đều toát lên cảm giác ấy


Tư liệu và trao đổi (mời đọc và viết ở đây)
http://doclaivasuyngam.ning.com/profiles/blogs/nguyen-du-vieng-mo-lieu-ha-hue

Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ


DẠY VÀ HỌC
. Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ là hai danh nhân cùng thời  Nguyễn Du (1765-1820) là nhà thơ lỗi lạc, nhà ngoại giao xuất chúng. Ông cũng là một võ quan có chí lớn, nhà lãnh đạo đặc biệt tài năng đã từng đương đầu với Nguyễn Huệ, đối thoại với Gia Long, hiểu rõ  Nguyễn Văn Thành, thân thiết với Nguyễn Nễ, Vũ Trinh, Ngô Nhân Tĩnh, Lê Quang Định, Trịnh Hoài Đức. Ông hiểu sâu Lý số, thông tỏ Phong Thủy, rất vững Thiền học, thành thạo biến Dịch, đã đọc trên nghìn lần bộ kinh Kim Cương, với tâm sự gửi gắm Truyện Kiều và câu thơ kỳ bí: "Ba trăm năm nữa chốc mòng/ Biết ai thiên hạ khóc cùng Tố Như" . Nguyễn Công Trứ (1778-1858) kém Nguyễn Du 13 tuổi và cùng đồng hương Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Ông là một vị tướng văn võ song toàn, phong lưu đa tình, gian thần đời loạn năng thần đời trị  Nguyễn Công Trứ có công với triều Nguyễn trong cai trị, dẹp loạn . Ông  cùng chủ kiến với Gia Long,  Minh Mệnh ra tay trước (tiên phát chế nhân) để chặn bước những người xuất chúng và các thế lực tiềm tàng ngấp nghé ngai vàng.  Nguyễn Công Trứ luận về Thúy Kiều nhưng thực chất là luận về Nguyễn Du: "Bán mình trong bấy nhiêu năm , Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai ." Nguyễn Công Trứ thân mật hay chống đối Nguyễn Du đó là điều hậu thế cần lý giải cho đúng? Chợt nhớ câu của Từ Thứ nói với Bàng Thống: "Hoàng Cái làm khổ nhục kế, Hám Trạch đưa thư trá hàng, còn ngươi thì dụng kế liên hoàn. Ngươi che được mắt Tào Tháo nhưng đừng hòng che được mắt ta...". Sâu sắc thay Nguyễn Du với Truyện Kiều và các ứng xử tuyệt vời thông tuệ của ông để tránh những thăng giáng tám lần như Nguyễn Công Trứ và kết cục thảm khốc của Nguyễn Văn Thành, Ngô Nhân Tĩnh, Lê Văn Duyệt ! Chép lại bài viết của Yến Nhi "Về sự đánh giá Nguyễn Du của Nguyễn Công Trứ qua nhân vật Thúy Kiều” và bài viết của Phạm Xuân Nguyên “Nguyễn Du về lại Thăng Long “  để thêm tư liệu và những góc nhìn khác. (Hoàng Kim)
 
VỀ SỰ ĐÁNH GIÁ NGUYỄN DU CỦA NGUYỄN CÔNG TRỨ QUA NHÂN VẬT THÚY KIỀU

Yến Nhi

Dưới góc nhìn văn hóa , Nguyễn Du (1765-1820) là nhà thơ lớn của dân tộc, tuy nhiên qua cuộc đời và sự nghiệp , dưới góc nhìn lịch sử, ta còn thấy nhiều nét nổi bật nữa ở con người Nguyễn, một thiên tài có nhiều tâm trạng, một con người “ba mươi tuổi đầu đã bạc”, hơn nửa thế kỷ trong cõi đời rất hiếm khi vui, đến lúc về nơi chín suối vẫn mang một tâm sự cô hoài! Là một nhà thơ lỗi lạc, ông còn là một võ quan nhiều mưu đồ đại nghiệp, một vị văn quan rất biết cách “chăn dân”, cũng là một nhà ngoại giao xuất chúng. Nhận xét tổng thể về Nguyễn Du ,thấy rõ những tài năng đa dạng
  và công lao của ông , các cụ đời sau  đã  thể hiện rất sâu sắc qua các bài văn truy điệu, văn bia trong các dịp tưởng  niệm .

... Khi trưởng thành Ất bảng chen tên, tài thư  kiếm vang lừng hai vế
Những muốn hùng binh mấy vạn rắp phen Trương Tử phục Hàn gia .
... Khi thủ hiến Tiên châu, khi Thần kinh lĩnh doãn, đức thanh cần thấm thía đến muôn dân…
Lúc Bắc hành chánh sứ, lúc Nam khuyết á khanh tài thao lược vang lừng trong hai nước…(1)

Một nhân cách,một sự nghiệp như vậy, nhưng tại sao một người cùng thời cũng tài năng sự nghiệp không kém lại là đồng hương , hạ một lời phê từng làm băn khoăn bao thế hệ. Nguyễn Công Trứ nhận xét Kiều thực ra là nhận xét Nguyễn Du Bán mình trong bấy nhiêu năm ,Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai (2) ( Vịnh Thuý Kiều ).

Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858) kém Nguyễn Du 13 tuổi (1765-1820), mất sau Nguyễn Du 40 năm, quê làng Uy Viễn, nay là xã Xuân Giang đồng hương huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông làm quan dưới các triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, đến chức phủ doãn Thừa Thiên thì nghỉ hưu.. Trong 28 năm quan trường, thăng tiến và giáng chức đến 8 lần. Ông nhiều lần cầm quân đi đánh giặc (dẹp một số cuộc khởi nghĩa của nông dân) lập nhiều công lớn với triều đình. Đặc biệt vào những năm cuối thập niên 1820, ông có sáng kiến chiêu mộ dân nghèo, đắp đê lấn biển, lập ấp, khai sinh các huyện Kim Sơn, Tiền Hải (thuộc hai tỉnh Thái Bình,Ninh Bình ngày nay), kiếm công ăn việc làm cho nhiều người xoá bỏ nạn trộm cướp, lập nhà học, hội buôn (xã thương) ở nông thôn nâng cao dân trí, thông thương hàng hóa. Những hoạt động của ông trong lĩnh vực khẩn hoang được nhân dân các vùng ghi nhớ, lập đền thờ ngay khi ông đang còn sống. Là một nhà quản trị giàu năng lực, một vị tướng tài, ông còn là một nhà thơ, một nghệ sĩ lớn. Ông để lại nhiều sáng tác thơ Nôm theo thể thơ đường luật và ca trù. Nội dung thơ phong phú, đa dạng, từ than cảnh nghèo, vạch trần nhân tình thế thái, đề cao chí nam nhi, đến ca ngợi thú cầm kì thi tửu. Trên phương diện tư tưởng và tâm lý Nguyễn Công Trứ là một khối mâu thuẫn lớn! Sinh thời ông vượt qua những lề thói bảo thủ, giả dối, tỏ một thái độ “phóng dật” bất cần trong lối sống, thách thức công nhiên dư luận, nhưng ông không vượt khỏi cái quỹ đạo tư tưởng Nho giáo mà đôi khi còn tỏ ra chịu chi phối nặng nề (đạo vua - tôi,nam trọng - nữ khi). Nguyễn Công Trứ có một nhân sinh quan tuy có nhiều khía cạnh  tích cực đổi mới vượt ra khỏi những chuẩn tắc thời bấy giờ nhưng căn bản vẫn nằm trong phép xuất xử Nho gia. Hiểu được tính hai mặt này trong tính cách của Nguyễn Công Trứ là một điều cần thiết để đánh giá con người cũng như ngôn thuật của ông. Cho mãi đến nay có hai điều người ta vẫn băn khoăn khi giải thích về tư tưởng và tình cảm của Nguyễn Công Trứ:

1.Tuy giúp ích cho nông dân trong công cuộc khai khẩn điền địa ở Thái Bình nhưng ông cũng lại tiến hành nhiều cuộc đàn áp khốc liệt nông dân khởi nghĩa .

2. Sống hành lạc phóng lãng rất gần gũi với giới ca nhi,nhưng đánh giá rất khe khắt với Thuý Kiều, một siêu kỳ nữ - nhân vật mang nhiều tâm sự Nguyễn Du.

Vấn đề thứ nhất, mối quan hệ với nông dân, nhiều nhà nghiên cứu đã phân tích . Chúng tôi , sau đây, thử  lý giải vấn đề thứ hai : quan hệ với nhân vật Thuý Kiều.

Bán mình trong bấy nhiêu năm , Dễ đem chữ hiếu mà lầm được ai .

Nguyễn Công Trứ  đánh giá Thuý Kiều  có lẽ là khe khắt nhất trong số các nhà nho thời bấy giờ.Ông cho Kiều bán mình đi làm “vợ” khắp người ta là tính cách “tà dâm” không đánh lừa được người đời dù biện bạch bằng các lý do này khác.Việc “đoạn trường” là “đáng kiếp”!  Tại sao lại có những nhận xét , đánh giá đó khi Nguyễn Công Trứ từng là một khách chơi phóng lãng, một quan gia thăng giáng thất thường? Con người từng bất chấp tất cả mà lại không thể vượt qua được thành kiến hẹp hòi với một ca nhi hay có gì ẩn khuất đằng sau?

Sự khác biệt về đối tượng và tình cảm thẩm mỹ

Phải chăng trong cách nhìn của Nguyễn Công Trứ: Kiều chỉ là kỹ nữ,dẫu tài năng nhan sắc bao nhiêu cũng chỉ là một khách chơi , là cái hồng nhan mà sinh thời ông rất coi thường, ông luôn là kẻ đứng trên là cha thằng xích tử. Đời ông trai kép lúc trẻ, lúc tham gia trận mạc, lúc về già, khi chùa chiền, khi vãn cảnh đều có dăm ba nàng áo đỏ, áo xanh theo hầu, bảy mươi tuổi còn đèo bòng thiếp trẻ, luôn luôn mải mê với cái cảnh “hoa lê áp hải đường”...Tất cả chỉ là thú chơi, “chơi hoa cho biết mùi hoa, cầm cân cho biết cân già hay non” thế thôi. Hoàng Phủ Ngọc Tường trong một bài viết cho rằng NCT ngoài “một bản lĩnh hành động” còn là “một tay chơi cuồng phóng”, gọi ông là “ tay chơi” là có cái lý của nó vì chính Nguyễn cũng tự nhận “sống để mà chơi”(3). Tân nhân, mỹ nữ, ca nương, khách hồng quần... đều là đối tượng của cái thú “phong nguyệt tình hoài”, trong cái thú này thì “trăng hoa” là mục tiêu,xướng ca là phương tiện, không có chỗ cho những Hiếu, Trung cao đạo. NCT hiểu sai và đánh giá thấp Kiều cũng nằm trong cái quỹ đạo suy nghĩ đó. Trong toàn bộ thi tập ca trù-hát nói của ông để lại , người phụ nữ không bao giờ xuất hiện như một đối tượng trữ tình mà cùng với ngón đàn điệu hát  chỉ xuất hiện như những “khách chơi”, biết múa hát đong đưa nhưng không có tâm trạng, như những hình nhân trong bộ sưu tập... Các nữ nhân trong thơ NCT đa phần là ca nhi nhưng ngón cầm ca của họ khác xa với Kiều hoặc các cô Hồ, cô Cầm ở đất Thăng long và cái cách thưởng thức của Tố Như và Uy Viễn cũng với những tâm trạng khác nhau. Với Nguyễn Du các nữ nhân mà ông  thường nhắc đến  như cô bạn hái sen, cô lái đò thời trẻ, cô Cầm người đẹp Long Thành, cô ca nữ ở nhà em trai, cô Hồ  bạn văn chương, hoặc như cô Tiểu Thanh, cô Thuý Kiều...trước hết đó là những con người cốt cách tao nhã, gần gũi, chịu nhiều oan khuất (phong vận kỳ oan), ông gửi gắm nơi họ  những tình cảm tri âm, tri kỷ xem họ là những khách đồng điệu. Nguyễn Du thương cảm và đánh giá cao Kiều cũng như nhiều khách má hồng khác, họ không là “khách chơi” như Nguyễn Công Trứ quan niệm, mà là những kẻ “liên tài, liên tình”, những kẻ “tài thì đáng trọng, tình thì nên thương” .  Nói đến các đào nương ,“ một hạng người thường bị rẻ rúng đương thời,  Ông không hạ mình xuống để thương vay mà thật sự tìm thấy mình trong họ”. Khóc cho những con người ấy là “khóc cho cuộc đời phong trần lận đận của chính mình và khóc cho cả những tài hoa Thăng Long bị vùi dập(4). Những con người đó không chỉ là những kẻ “phong vận kỳ oan”mà còn  là những “biểu tượng tài hoa của Thăng Long” , môi trường văn hoá đã ảnh hưởng  sâu sắc trong tâm hồn Nguyễn Du ngay từ thời niên thiếu  .Ta biết trong thiên tài của Nguyễn Du, ông đã thừa hưởng được cái tính dịu dàng và hào hoa của xứ Kinh Bắc nhờ ảnh hưởng đằng mẹ, đã hưởng được hào khí của đất Hồng Lam, hùng tâm của người xứ Nghệ, cùng là lòng tiết nghĩa, khiếu văn chương, do gia phong truyền lại trải bao nhiêu đời nhờ ảnh hưởng đằng nội. Thân sinh, quan đại tư đồ Nguyễn Nghiểm mất năm  Nguyễn Du mười tuổi,  mười ba tuổi mồ côi mẹ, suốt thời niên thiếu ở với anh tại Thăng Long.  Anh cả Nguyễn Du là Nguyễn Khản, một đại quan rất được chuá Trịnh Sâm sủng ái cũng là một người say mê và am tường nghệ thuật, văn chương.Nguyễn Du có một người em là Nguyễn Ức kém ông hai tuổi, thời Lê là một quan to, thời Nguyễn được phong tước hầu. Khi chưa loạn lạc, trong dinh quan Nguyễn Ức ở Thăng Long, thường có những ca kỹ, “ những người mặc áo hồng hát ca uyển chuyển” phục vụ mua vui cho các quan, có người tài sắc trở thành nàng hầu . Dấu vết đài các hoa lệ , không khí nghệ thuật cao nhã của kinh đô cùng với những tao nhân mặc khách, văn nhân, kỳ nữ thường lui tới để lại nhiều ấn tượng trong ký ức Nguyễn  không phải chỉ  là đề tài cho những thi phẩm sau này mà nó trở thành  một “nhân tố văn hoá Thăng Long” trong phong cách sống cũng như phong cách nghệ thuật của ông mà nhiều nhà nghiên cứu đã từng  nhắc đến .

Nói kỹ những điều này chúng tôi muốn lưu ý rằng trong đời sống cũng như trong  nghệ thuật của Nguyễn Du, nhân tố “văn hoá Thăng Long” trầm tích trong nhiều tác phẩm đặc biệt là ở mối quan hệ với các nhân vật nữ tạo nên cái nét riêng mà Thuý Kiều “ tài hoa mà phận bạc, đài các mà truân chuyên” là một điểm nhấn quan trọng  bộc lộ rõ quan điểm và tình cảm  thẩm mỹ của Nguyễn Du khác xa Nguyễn Công Trứ .Nếu bỏ qua điều này thì những lý giải khác  sẽ trở nên hời hợt.Cũng chính bởi vậy mà sự phê phán của NCT đối với Kiều có phần vừa khe khắt lại vừa hời hợt, phê phán mà không thấu hiểu.

Sự khác biệt về quan điểm lập thân. Nguyễn Du và nỗi buồn thời đại.

Như trên ta đã nói , nhận xét Kiều nhưng chính thực là nhằm vào Nguyễn Du,  không hiểu Kiều , NCT cũng không hiểu tâm trạng Nguyễn Du , nếu không nói là xa lạ . Lời nhận xét thật nặng nề ,ông cho việc làm quan dưới triều Nguyễn của Nguyễn Du là tầm thường, xu phụ thời cuộc, nỗi buồn của Nguyễn Du là giả dối !

So với Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ  có nhiều cái khác về xuất thân cũng như hành trạng. Nguyễn Du con người hai triều đại , gia đình đại quí tộc của triều đại cũ, chịu nhiều áp lực của thời cuộc,  triều Lê suy vi , nông dân Tây Sơn khởi nghĩa không hợp tác , triều Nguyễn khôi phục cơ đồ, bất đắc dĩ ra làm quan “thờ” chúa mới.Nguyễn Công Trứ  là sản phẩm của triều đại mới không có cái băn khoăn “trung thần bất sự nhị quân” như Nguyễn Du. Gia tộc Nguyễn Du là đại quí tộc, Nguyễn Công Trứ hàn nho vào đời bằng tài năng là chính ,thời trẻ trải nghiệm cuộc sống bình dân, về căn bản gắn với triều Nguyễn một cách lý tưởng , ông thuộc thế hệ hãnh tiến  hăng hái xốc tới không có cái mặc cảm đại quý tộc trước “một phen thay đổi sơn hà” của Nguyễn Du. Nguyễn Công Trứ về quê thì cười cợt “ thuyền quyên ứ hự, anh hùng biết chăng”,không có cái bâng khuâng khi nhớ  đến khúc sông ngày xưa “thuyền cha ta cờ xí rợp trời” như Nguyễn Du. Ghé Thăng Long , Nguyễn Công Trứ ngoài công vụ, tìm cái thú giang hồ  “phong nguyệt kho vô tận” , còn Nguyễn Du thì day dứt , bẽ bàng “ thành mới trăng xưa bóng lững lờ”. Nguyễn Công Trứ thấy khinh cái cảnh quan lại tham những đục khoét nhưng tôn sùng vua, nhận bổng lộc vua ban một cách ngưỡng vọng , ông không trải cái cảnh  anh em, bạn hữu bị lâm nạn, bị bức tử , bởi gian thần để nhận lộc vua ban mà thầm đau xót và lo lắng như Nguyễn Du. Việc ra làm quan của Nguyễn Du dưới triều Nguyễn là tình cảnh bất đắc dĩ, là bất khả kháng để bảo vệ mình và gia tộc chứ không phải vì mộng công hầu hoặc mưu tài lợi như thói thường. Hai nhân sinh quan , hai triết lý nghiệm sinh khác nhau nên không đồng cảm.

Nguyễn Du luôn mang một nỗi buồn lớn , cảm thấy bế tắc khó làm thay đổi cuộc đời  .Nguyễn Công Trứ thấy mình cải tạo được cuộc sống dân nghèo, còn Nguyễn Du đi khắp gầm trời kể cả sang Trung Hoa - nơi lý tưởng trong cách nhìn nho gia thời bấy giờ, cũng thấy đầy rẩy bất công, tàn bạo.

56 năm trong cuộc đời của Nguyễn , vui có, buồn có nhưng tổng thể là một cuộc đời thành đạt, làm quan đến bực á khanh, vua trọng vọng, triều thần vị nể, người đời yêu mến . Dẫu vậy ,việc sống buồn bã, tâm sự u uất luôn “rụt rè sợ hãi, chỉ vâng vâng dạ dạ cho qua chuyện thôi” là một điều có thật trong cuộc đời Nguyễn Du.Đối chiếu  hành trạng của Nguyễn, cần có cái nhìn toàn diện để hiểu và giải thích rõ cái tâm sự u hoài tại sao đeo đẳng ông mãi thế, dẫu có khi làm đến bậc Á khanh,được hoàng đế Gia Long trọng dụng. Khi mắc bệnh nặng ông nhất định không chịu uống thuốc, chỉ chờ chết cho xong.(5) Ông đã đem theo xuống mồ cái tâm sự u uất , khó hiểu ,  người đời chỉ ức đoán qua câu thơ Bất tri tam bách dư niên hậu /Thiên hà hà nhân khấp Tố Như ? Đây là cái điều mà xưa nay ai cũng quan tâm nhưng lý giải thì mỗi người một cách. Có người  cho là  Nguyễn Du  buồn vì tuy là quan nhưng  là người cựu triều nên không ít kẻ ghen ghét, kẻ thì nghĩ rằng Nguyễn  ở tân triều mà lòng khôn quên chúa cũ ,như là đã ngược lại dòng tộc , chẳng là dòng họ này bao đời  được người đời nể trọng vì truyền thống  trung nghĩa. Đi xa hơn, Nguyễn Công Trứ lại xem nỗi buồn của Nguyễn Du là giả dối ,muốn che lấp sự đàm tiếu của thiên hạ về việc “phản bội” lại Nhà Lê đã từng mưa ân tưới phúc cho gia đình.

Theo chúng tôi nghĩ , nỗi buồn  của Nguyễn Du không dừng lại ở cái nguyên nhân bé nhỏ là vì đồng sự ghen ghét hay mặc cảm về cái sự  “tôi trung không thờ hai chúa”như có người nhận xét , mà ở cái nỗi niềm lớn lao hơn. Đó là tấm lòng  yêu thương con người ,là phẩm cách của  một tâm hồn  cao thượng , cảm thấy những nghịch lý, những nghịch cảnh tồn tại ở mọi thời , mọi nơi, như là một định mệnh không tài nào thay đổi được .Ở quê hương  cũng như ở xứ người đều đầy rẫy những bất công,đau khổ. Tấm lòng nhân mênh mông pha mùi thiền, mùi đạo ở ông luôn cảm thấy bất lực, đó mới chính là cái điều sâu kín tạo nên nỗi u hoài khôn nguôi trong đời sống và là hồn cốt trong các sáng tác của Nguyễn.Nỗi u hoài, nỗi đau đáu của Nguyễn chúng ta từng gặp trên con đường thi ca một thuở trong nỗi sầu không thể nào vơi của tâm sự Lý Bạch : Cầm dao chặt nước nước cứ trôi, cất chén tiêu sầu, sầu không vơi (Trừu đao đoạn thuỷ thuỷ cánh lưu/Cử bôi tiêu sầu sầu cánh sầu- Tiễn biệt quan Hiệu thư Thúc Vân), cũng như cái cô đơn vô tiền khoáng hậu của Trần Tử Ngang: Trước không thấy người đi, Sau không thấy kẻ đến, Nghĩ trời đất phiêu du, Chỉ mình ta lệ chảy  (Tiền bất kiến cố nhân/ Hậu bất kiến lai giả/ Niệm thiên địa chi du du/ Độc sảng nhiên nhi lệ hạ - Đăng U châu đài ca ).   Dãi dầu mười mấy năm quan trường ,Nguyễn Du trước hoàn cảnh thường có một “tâm trạng kép” vừa mừng  vừa sợ , sợ cho mình và cả họ tộc  bị bức hại , mừng vì tai qua nạn khỏi, phủ định  nhưng vẫn phải làm tròn chức phận không thể thoái thác. Nguyễn chủ động trong tư duy nhưng có lúc thụ động trong hành động. Tâm trạng thể hiện trong câu thơ tự thán “hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên” . Phải chăng vì trạng thái nước đôi đó mà sau này Nguyễn Công Trứ đã “phê” Nguyễn thông qua lời nhận xét khắt khe về Thuý Kiềù, nhân vật mà Nguyễn Du có nhiều ký thác .

*
Chúng ta với nhãn quan hiện đại thấy rõ sự khác biệt ở hai ông ,suy cho cùng vẫn không ra ngoài cái ngưỡng triết lý dân gian “ở bầu thì tròn ở ống thì dài”. Nguyễn Công Trứ tuy có tài kinh bang tế thế nhưng là một vị quan gia đánh giá Kiều cực đoan cũng như ông vua Tự Đức xét đoán Từ Hải .Cụ Thượng Trứ sẽ chẳng bao giờ thông cảm với tâm trạng Nguyễn Du qua Thúy Kiều cũng như hoàng đế Tự Đức chẳng thể nào hiểu được ước mơ của Nguyễn Du qua Từ Hải ! Chỉ có nhà thơ Tố Như người của những nỗi đau thân phận mới xem Kiều là tri âm , Từ Hải là giấc mộng . Và chính nỗi cộng cảm nhân sinh lớn lao đó đã khiến  Nguyễn Du hơn thế kỷ sau trở thành một điểm sáng trong bầu trời  văn hoá nhân loại mặc dầu đương thời không khoả lấp được nỗi nghi ngờ ở một số người , trong đó NCT là một./.

Tháng 4 – 2008/7-2010

(1)  Đào Tử Minh -Văn truy điệu Nguyễn Du  - Hội Tri Tân, ngày 10/8 Giáp thân 1944
(2) Có bản chép : Đố  đem chữ Hiếu mà lầm được ai?(3 )Hoàng Phủ Ngọc Tường- Tay chơi - http://chutluulai.net/forums/showthread.php?p=32161
(4)  Nguyễn Huệ Chi - Biểu tượng đa nghĩa của Thăng Long trong thơ Nguyễn Du- Bài tham gia Hội thảo Gia tộc Nguyễn Du & Thăng long – 2010.Bà Trần Thị Tần , thân mẫu Nguyễn Du xuất thân cũng là một ca nương.
(5)  Theo Đại Nam liệt truyện: "đến khi đau nặng, ông không chịu uống thuốc, bảo người nhà sờ tay chân. Họ thưa đã lạnh cả rồi. Ông nói "được" rồi mất; không trối lại điều gì".


NGUYỄN DU VỀ LẠI THĂNG LONG  

Phạm Xuân Nguyên

Nỗi hoài niệm, ưu tư của Nguyễn Du trước Thăng Long lên đến đỉnh điểm khi gặp lại người con gái gảy đàn ở Long thành. Ông làm một bài thơ dài kể chuyện và giãi bày. Hơn thế, ông còn đề lời “tiểu dẫn” để nói cho rõ ngọn ngành. Cả Thăng Long trong mắt Nguyễn bấy giờ dồn lại ở “người gảy đàn không rõ họ tên là gì” ấy.

Nguyễn Du sinh tại phường Bích Câu năm 1765. Ông có cha và anh là quan đại thần dưới triều vua Lê chúa Trịnh, nhất là người anh Nguyễn Khản rất được chúa Trịnh Sâm tin dùng, thường vào ra phủ chúa hàng ngày, có lần còn viết giấy cho người nhà cầm sang xin chúa lạng chè về uống. Thuở thiếu thời và thanh niên, cậu chiêu Bảy (tên gọi ở nhà của Nguyễn Du) đã có những ngày tháng vui vẻ, thanh nhàn ở Thăng Long, dự những cuộc vui nghiêng ngả ở nhà anh, mắt thấy tai nghe mọi cảnh phố phường kinh đô. Thế rồi nhà Tây Sơn nổi lên, vua tàn chúa lụi, Thăng Long thành bãi chiến trường, Nguyễn từ đó xa đất đế đô, bươn chải mười năm gió bụi, tấm thân còn sống là may. Lịch sử thăng trầm dâu bể, hưng đó mà vong đó, nhà Nguyễn diệt Tây Sơn lập triều mới, thống nhất giang sơn, chuyển đô về Phú Xuân. Thăng Long từ 1802 thành cố đô, và từ 1831 đổi thành Hà Nội. Nhưng khi Nguyễn Du trở lại chốn kinh đô xưa trên đường đi sứ sang Trung Quốc (1813), vùng đất này vẫn đang là Thăng Long. Mười năm xa cách không phải là dài, nhưng những biến thiên đảo lộn trong khoảng thời gian ấy đối với Nguyễn thật ghê gớm. Trong mấy đêm nghỉ lại Thăng Long trên hành trình của sứ đoàn, ông Chánh sứ Nguyễn Du đã trằn trọc, thao thức trước cảnh vật biến thiên và đời người thay đổi. Nguyễn đã có bốn bài thơ chữ Hán làm nhân dịp này, hai bài về cảnh, hai bài về người.

Bài Thăng Long thứ nhất.

Tản lĩnh Lô giang tuế tuế đồng
Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long
Thiên niên cự thất thành quan đạo
Nhất phiến tân thành một cố cung
Tương thức mỹ nhân khan bão tử
Ðồng du hiệp thiếu tẫn thành ông
Quan tâm nhất dạ khổ vô thụy
Ðoản địch thanh thanh minh nguyệt trung

Nguyễn trải lưu lạc mười năm “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”, tâm trạng đã nặng nề. Về lại chốn cũ, gặp lại người xưa, lòng càng buồn. Núi Tản sông Lô (tên gọi khúc sông Hồng chảy qua Thăng Long hồi ấy) thì muôn đời vẫn thế, năm lại năm chẳng di dịch đi đâu. Nhưng dạo một vòng thành xưa, cảnh đã khác. Những ngôi nhà to có nghìn năm tuổi đã bị dỡ đi để làm đường lớn. Khu hoàng thành nhà Lê đã bị phá bỏ, thay vào đó là một tòa thành mới. (Việc này tiến hành vào năm Gia Long thứ tư, 1805). Ðường sá, nhà cửa làm mới, còn người thì già đi. Những cô gái đẹp xinh từng quen biết hồi trước giờ đã tay bồng tay mang. Những gã bạn cùng nhau chơi ngông một thuở nay đã nên ông cả.(Câu thơ dịch thoát sang lục bát Gái xinh giờ đã con bồng, Bạn quen giờ đã thành ông cả rồi nghe đậm ngậm ngùi). Nguyễn cũng đã đầu bạc, may còn được thấy Thăng Long. Thật ra năm đó Nguyễn chưa đến năm mươi, nhưng cái tuổi xấp xỉ ngũ tuần xưa đã tính là già, vả mái tóc bạc Nguyễn có từ sớm, hậu quả của những suy tư dằn vặt ngay từ hồi trẻ. Người như ông với những ấn tượng bời bời như thế trong ngày trở lại đế đô ngủ sao được. Nghe tiếng sáo thoảng đâu đây dưới ánh trăng sáng lòng càng dấy lên bao nỗi vấn vương u hoài. Nguyễn phải tự an ủi mình.


Bài Thăng Long thứ hai

Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành
Do thị Thăng Long cựu đế kinh
Cù hạng tứ khai mê cựu tích
Quản huyền nhất biến tạp tân thanh
Thiên niên phú quý cung tranh đoạt
Tảo tuế thân bằng bán tử sinh
Thế sự thăng trầm hưu thán tức
Tự gia đầu bạch diệc tinh tinh

Thôi hãy tự nhủ lòng Thăng Long đây vẫn là chốn đế đô xưa, bởi còn đây vầng trăng ngày xưa, dẫu thành đã là thành mới. Ðường phố, ngõ phố mở mang bốn phía làm lạc dấu vết cũ. Tiếng đàn sáo nghe ra đã xen nhiều âm thanh mới. Giàu sang nghìn đời rồi ra chỉ là cái mồi cho sự tranh cướp. Bà con, bạn bè hồi trẻ giờ đã kẻ mất người còn. Hãy hình dung Nguyễn suốt đêm không ngủ, một mình chong mắt nhìn ánh trăng, chỉ còn trăng là bạn cũ không phôi pha, tâm tư cứ giăng mắc chuyện trước chuyện nay. Và ông như buông tiếng thở dài sờ tay lên tóc mình: việc đời chìm nổi thôi đừng than thở nữa, đầu ta cũng đã bạc phơ phơ rồi. Ðêm ấy Thăng Long như cũng chùng lòng một mái đầu bạc dãi ánh trăng thâu.

Nguyễn Du có một người em cùng mẹ là Nguyễn Ức kém ông hai tuổi, thời Lê là một quan to, thời Nguyễn được phong tước hầu. Khi chưa loạn lạc, trong dinh quan Nguyễn Ức, cũng như các dinh quan khác, thường có những nàng hầu kiêm ca kỹ phục vụ mua vui cho các quan, họ ở địa vị như những người vợ lẽ. Xảy lúc binh đao, nhà quan tan đàn xẻ nghé, các nàng hầu cũng thất tán. Lần về lại Thăng Long này, Nguyễn gặp lại một nàng hầu cũ như vậy của em mình.

Bài Ngộ gia đệ cựu ca cơ

Phồn hoa nhân vật loạn lai phi
Huyền hạc quy lai kỷ cá tri
Hồng tụ tằng văn ca uyển chuyển
Bạch đầu tương kiến khốc lưu ly
Phúc bồn dĩ hĩ nan thu thủy
Ðoạn ngẫu thương tai vị tuyệt ti
Kiến thuyết giá nhân dĩ tam tử
Khả liên do trước khứ thời y

Nguyễn đang đường đường một vai Chánh sứ, vậy mà ví mình như một ẩn sĩ chốn rừng xanh ra. Hình ảnh chim hạc đen (huyền hạc) là nói cái ý ấy. Giữa chốn quen thuộc mà như người lạ, mấy ai người biết mình đã về lại nơi này. Mấy ngày dừng chân Thăng Long là khoảng thời gian Nguyễn sống phân thân giữa quá khứ và hiện tại. Mỗi câu thơ đều song trùng thời gian. Nàng mặc áo hồng hồi trước hát ca uyển chuyển, giờ gặp lại ta đầu bạc, khóc nỗi lưu ly. Cái mất thì đã mất, như chậu nước đổ rồi không thu lại được nữa. Nhưng cái tình thì còn lưu luyến, như ngó sen gãy đường tơ vẫn dính. Mà sao nàng, nghe nói đã lấy người khác được ba con, vẫn còn mặc chiếc áo ngày ra đi. Nhìn chiếc áo, Nguyễn ái ngại, xót thương. Thăng Long, số phận một kinh thành, có trả lời được Nguyễn trước một màu áo không đổi của một nàng ca kỹ?

Nỗi hoài niệm, ưu tư của Nguyễn Du trước Thăng Long lên đến đỉnh điểm khi gặp lại người con gái gảy đàn ở Long thành. Ông làm một bài thơ dài kể chuyện và giãi bày. Hơn thế, ông còn đề lời “tiểu dẫn” để nói cho rõ ngọn ngành. Cả Thăng Long trong mắt Nguyễn bấy giờ dồn lại ở “người gảy đàn không rõ họ tên là gì” ấy. “Thuở nhỏ nàng theo học đàn Nguyễn trong bộ nữ nhạc cung vua Lê. Tây Sơn dấy binh, đội nhạc cũ chết chóc, tản mát. Nàng lưu lạc nơi đầu chợ, ôm đàn hát rong. Những bài nàng đàn đều là những khúc gảy hầu nhà vua, người ngoài không ai được nghe, cho nên nàng được khen là “tuyệt kỹ” của một thời. Tôi, hồi trẻ đến kinh đô thăm anh tôi, đêm trọ ở quán bên hồ Giám. Cạnh đấy các quan Tây Sơn tụ hội bọn con hát; con hát nổi tiếng không dưới vài chục người. Nàng riêng thạo đàn Nguyễn, hát cũng hay, lại khéo pha trò. Người xem đều mê mẩn, nhiều lần thưởng cho nàng những chén rượu lớn, nàng tức thì uống cạn, tiền lụa thưởng nhiều vô số kể, chất đầy mặt đất”. Chàng Nguyễn ngày trước đã thành ông Nguyễn, một ông quan, còn cô gái đàn hay, hát giỏi khi xưa đã thành ra sao, sau mười năm biến thiên đảo lộn? Hãy nghe Nguyễn kể tiếp: “Mùa xuân năm nay, tôi phụng mệnh sang sứ phương Bắc, trên đường qua Thăng Long, các quan có đặt tiệc tiễn tôi ở dinh Tuyên phủ nên cho gọi hết nữ nhạc trong thành, con hát trẻ đến mấy chục người, tôi đều không biết mặt biết tên. Họ thay nhau ca múa. Rồi nghe vút lên một khúc đàn Cầm trong trẻo, nghe khác hẳn các khúc nhạc đương thời. Tôi lấy làm lạ nhìn người đàn, thì thấy người gầy võ, thần sắc khô khan, mặt đen, xấu như quỷ, quần áo toàn bằng vải thô, bạc phếch, vá nhiều mảnh trắng, ngồi lặng lẽ ở cuối chiếu, không nói không cười, hình dáng khó coi quá. Tôi không biết là ai, duy nghe tiếng đàn thì dường như đã từng quen biết nên động lòng trắc ẩn. Tiệc tan, hỏi đến người chơi đàn thì ra chính người gảy đàn ngày xưa ấy. Than ôi, người ấy sao đến nỗi này! Tôi bồi hồi ngẩng lên cúi xuống, khôn xiết cảm thương cho sự đổi thay xưa và nay. Ðời người trăm năm, vinh nhục buồn vui khó có thể nào lường được”. Bài thơ Long thành cầm giả ca của Nguyễn Du là khúc bi tráng cho Thăng Long. Mảnh đất kinh đô đẫm huyền thoại, dày sử tích, nhiều dấu ấn các triều vua, giờ có thêm bóng dáng một người con gái đàn ca trải hai triều đại phủ lên các thành quách, dinh thự.

Khúc xưa giọng mới lệ thầm rơi
Ta lắng nghe lòng đau xót
Chợt nhớ lại việc hai mươi năm trước
Từng gặp nàng trong tiệc bên hồ Giám
Thành quách đổi dời, việc người đã khác
Biết bao nơi ruộng dâu đã biến thành biển xanh
Cơ nghiệp Tây Sơn tiêu tan hết cả rồi
Chỉ còn sót lại một người ca múa
Trăm năm như chớp mắt có là bao
Ðau lòng việc cũ lệ thấm áo
Tôi từ Nam Hà trở về đầu bạc trắng hết
Chẳng trách nhan sắc người đẹp tàn phai
Ðôi mắt mở trừng trừng luống tưởng chuyện ngày xưa
Thương thay giáp mặt nhau mà chẳng nhận ra nhau

Năm 1813 khi Nguyễn Du trên đường đi sứ ghé qua Thăng Long, đế đô cũ vừa qua tuổi tròn 800 năm. Nhà Nguyễn đang sắp đặt dấu ấn mình lên vùng đất nay đã thành cựu đế đô. Nguyễn Du nhìn cái mới buồn nhớ cái cũ. Những vần thơ ông để lại chứng tích cho ta một Thăng Long thuở ấy với những xáo động tâm trạng ông. Thêm gần hai trăm năm nữa qua, Thăng Long sắp 1000 năm tuổi, người nay cũng đang tìm lại dấu xưa, đọc lại thơ ông, thấy như Nguyễn đang về “song nhãn trừng trừng không tưởng tượng”.

Phạm Xuân Nguyên
Nhà phê bình Văn học
[Bản tin ĐHQG Hà Nội sô 215]

Xem thêm:
www.foodcrops.vn
http://foodcrops.vn/en/van-hoa-giao-duc/day-va-hoc/433-nguyn-du-va-nguyn-cong-tr.html 



Tâm sự Nguyễn Du qua Đối tửu


Hoàng Kim



HỌC MỖI NGÀY. Đối tửu là tuyệt phẩm thơ của cụ Nguyễn Du do Hoa Huyền giới thiệu bản chữ Hán, dịch nghĩa, dịch thơ, thư pháp và những bài họa vần. Tâm sự Nguyễn Du qua Đối tửu là tâm sự của bậc anh hùng, Người đã đám đương đầu với Nguyễn Huệ, hiễu rất rõ Gia Long, Minh Mệnh là những vị vua tài trí và gian hùng, biết trọng dụng nhân tài nhưng kiềm chế và đa nghi. Nguyễn Du đã từng là chánh sứ đứng đầu về ngoại giao với triều Thanh. Người cũng là hàn lâm đại học sĩ đứng đầu về giáo dục, là quan cai bạ đầu tỉnh trọng yếu sát cạnh cố đô. Nguyễn Du hiếu thấu kinh Kim Cương, sâu sắc Kinh Dịch, Phong Thủy và Nhân tướng học, uyên thâm mọi mặt về lịch sử, địa lý, văn hóa, xã hội và ngôn ngữ, nhưng cẩn trọng và khiêm nhường hiếm thấy. Người không chỉ là đại văn hào với Truyện Kiều và những bài thơ văn tiếng Việt mà còn viết tuyệt phẩm Bắc Hành tạp lục với các bài thơ văn chữ Hán sánh với bất cứ tác phẩm ưu tú nào của thời thịnh Đường, đỉnh cao chói lọi của thơ văn Trung Hoa. Người đã mắng Minh Thành tổ, tế Khuất Nguyên, họa thơ Lý Bạch, Thôi Hiệu, dừng chân thăm đền Mạnh Tử, xuống xe nhớ những hiền tài... Tìm hiểu vẻ Người, tôi có viết: Nguyễn Du và những câu thơ tài hoa; Đèo Ngang và những tuyệt phẩm thơ cỗ Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ; Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ. Trước đối tửu, thầm thương bậc anh hùng. "Ba trăm năm nữa chốc mòng. Biết ai thiên hạ khóc cùng Tố Như". Như "Cảm hoài" của Đặng Dung, "Thợ bán than" của Trần Khánh Dư," "Một mai, một cuốc, một cần câu" của Nguyễn Bỉnh Khiêm, "Đập đá ở Côn Lôn" của Phan Chu Trinh,"Đối tửu" của Nguyễn Du là thơ hay danh sĩ còn mãi với thời gian .


Đối tửu (Nguyễn Du - 阮攸, Việt Nam)

對酒

趺坐閒窗醉眼開,
落花無數下蒼苔。
生前不盡樽中酒,
死後誰澆墓上杯。
春色霑遷黄鳥去,
年光暗逐白頭來。
百期但得終朝醉,
世事浮雲眞可哀。


Đối tửu


Phu toạ nhàn song tuý nhãn khai,
Lạc hoa vô số há thương đài.
Sinh tiền bất tận tôn trung tửu,
Tử hậu thuỳ kiêu mộ thượng bôi ?
Xuân sắc niệm thiên hoàng điểu khứ,
Niên quang ám trục bạch đầu lai.
Bách kỳ đãn đắc chung triêu tuý,
Thế sự phù vân chân khả ai.


Dịch nghĩa


Ngồi xếp bằng tròn trước cửa sổ, rượu vào hơi say mắt lim dim,
Vô số cánh hoa rơi trên thảm rêu xanh.
Lúc sống không uống cạn chén rượu,
Chết rồi, ai rưới trên mồ cho ?
Sắc xuân thay đổi dần, chim hoàng oanh bay đi,
Năm tháng ngầm thôi thúc đầu bạc.
Cuộc đời trăm năm, chỉ mong say suốt ngày.
Thế sự như đám mây nổi, thật đáng buồn.

Trước ly rượu
Bản dịch của: Lão Nông (Hoahuyen)

Bên cửa xếp bằng ngất ngưởng say
Cánh hoa rơi phủ thảm rêu đầy
Sống chưa vơi nửa lưng ly rượu
Chết hỏi rằng ai tưới mộ đây ?
Xuân đã xa dần oanh bỏ tổ
Tháng năm bàng bạc tóc màu mây
Trăm năm chỉ ước say mềm mãi
Thế sự bèo mây... ngẫm đắng cay

Mời các bạn tham gia dịch hoặc họa cùng Cụ Nguyễn Du




Bài họa 1:
MONG ƯỚC TRI ÂM (684)

Hoahuyen

Kẻ tung người hứng mãi chưa say
Góc quán rêu phong... mốc phủ đầy
Đối tửu, rượu buồn ly lẳng đó
Ngó hoa, bông héo cuống quăng đây
Già xuân khật khưỡng run chân giữa
Luống tuổi lềnh bềnh trắng tóc mây
Mong ước tri âm... tri kỷ mãi
Chia bùi, sẻ ngọt nếm chua cay

Bài họa 2
VẪN SAY VỚI MEN CAY

Bác sĩ Tản (Học trò trường thuốc)

Bác ơi, chẳng phải ít người say
Bởi tại vần thơ chửa ráp đầy
Ráng chỉnh chu thêm nên dấu xó
Khi hoàn tất đủ ắt khoe đây
Trẻ thời khép nép e ra gió
Già tất khoan thai lướt vén mây
Tri kỷ xá chi đâu tuổi tác
Nâng ly ngâm phú thả men cay

Bài họa 3
ĐẮNG CAY

Bác sĩ Tản (Học trò trường thuốc)

Rượu nồng chưa uống đã ngời say
Trộm mắt nhìn nhau lệ thấm đầy
Dạ trách lòng than oan trái quá
Môi cười miệng đắng trớ trêu đây
Duyên tình xa thoảng trôi hương gió
Ân nghĩa vơi dần khuất bóng mây
Đau thấu ruột gan thân phận lẻ
Ghen tuông nào chẳng trút hờn cay

Bài họa 4
CHƯA SAY

Hồ Văn Thiện

Chai đà dốc cạn vẫn chưa say
Đầu ngõ hoa xoan đã rắc đầy
Cuộc thế bao người chìm đến đáy
Nhân tình mấy kẻ đón đưa đây
Sống chưa từng biết niềm hoan lạc
Chết hỏi chi màng cảnh móc mây
Có chút lương tâm còn bán rẻ
Ham gì mướp đắng với gừng cay


Bài họa 5
GỪNG GIÀ ĐỤNG CÀNG CAY

Hà Đình Chung

Men tình nếm thử đã no say
Tứ khoái trời cho khợp rõ đầy
Của lạ cõi trần chơi nếm thử
Vật ngon thiên hạ chén mùi đây
Bóng chiều đội tú chân khua gió
Tuổi hạc ngáy đèo mũi thổi mây
Phong độ " ngũ chi" còn dũng mãnh
Gừng già muối mặn đụng càng cay

Bài họa 6
KHÓC NGƯỜI XƯA

Lương Thế Phiệt

Ly sầu tưới mộ khóc người say
Nghe lá hoang rơi lớp lớp đầy
Một chén men nồng vừa rót xuống
Ngàn câu thơ cũ đã về đây
Cung đàn xót phận rơi hàng lệ
Nhịp phách ru hồn níu bóng mây
Thế thái nhân tình xưa đã vậy
Mà nay hậu thế ngẫm còn cay.

Bài họa 7
ÂN TÌNH (685)

Chửa biết mặt nhau vẫn cứ say
Ân tình sau trước đã đong đầy
Hoa vừa mới gọi: anh đâu nhỉ ?
Phiệt đáp ngay luôn: có lão đây
Lãng mạn tâm hồn mê "sướng" họa
Lâng lâng thể xác khoái "vần" mây
Khả năng thi phú ai bằng bác ?
Rõ hạt tiêu già nhấm quá cay

xem thêm
Cảm hoài của Đặng Dung
Thơ hay danh sĩ sống mãi với thời gian

NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC, CÂY LƯƠNG THỰC

Nguyễn Du và những câu thơ tài hoa


DẠY VÀ HỌC. Thơ hay là thơ giản dị, xúc động và ám ảnh. Tuổi thơ đọc Kiều, tôi thích nhất hai câu: "Cỏ non xanh rợn chân trời./Cành lê trắng điểm một vài bông hoa". Lớn lên, lời thơ ám ảnh là mối tình của Thuý Kiều và Từ Hải "Trai anh hùng, gái thuyền quyên. Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng". Sau này khi qua trãi nghiệm, tôi tâm đắc nhất  với hai câu kết: "Thiện căn ở tại lòng ta. Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài". Thơ Nguyễn Du lung linh, huyền ảo (1), đã có biết bao lời bình suốt từ xưa đến nay. Gần đây, thêm những lời bình rất hay của Nguyễn Thế Quang (Nguyễn Du, Tiểu thuyết lịch sử, Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn, Công ty TNHH Sách Phương Nam phát hành năm 2010, 416 trang) để càng thông tỏ hơn sự hiền tài của nhà văn hoá lớn. Bài viết dưới đây của nhà giáo Nguyễn Đình Chú " Nhà văn Đặng Thai Mai chọn câu Kiều hay nhất" càng làm sáng thêm Nguyễn Du và những câu thơ tài hoa.

Hoàng Kim


xem tiếp....


NHÀ VĂN ĐẶNG THAI MAI
 CHỌN CÂU “KIỀU” HAY NHẤT

Nguyễn Đình Chú


Hè 1958, vì là trợ lý của giáo sư Đặng Thai Mai tại Khoa Văn chung của hai trường Đại học Sư phạm Hà Nội và Đại học Tổng hợp Hà Nội, tôi được giao nhiệm vụ tháp tùng “ông cụ” đi nghỉ mát ở Sầm Sơn (Thanh Hóa). Trong thời gian sống cạnh Thầy, qua những chuyện đàm đạo tôi học được nhiều điều bổ ích, quý báu. Hôm đó, trong không khí thầy trò thân mật như cha con, tôi hỏi thầy:
-         Dạ! theo thầy, trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, câu thơ nào hay nhất? Ông cụ nhếch mép cười – vẫn cái cười hóm nhẹ, đôn hậu, thâm thúy rất Đặng Thai Mai – trả lời ngay:
-         Câu ấy, chứ còn câu nào.
-         Dạ câu nào ạ?
-         Câu Nguyễn Du tả cơ thể Thúy Kiều:
                                                              Rõ ràng trong ngọc trắng ngà,
Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên

Tôi hỏi: Dạ! đây là thầy nói với em giữa bãi biển Sầm Sơn lộng gió ban chiều, chứ về giảng đường đại học, thầy có nói như vậy không ạ, với mọi người sinh viên? Thầy tôi đã nghiêm mặt lại, nói với một giọng cương quyết có pha chút gay gắt: sao lại không? Tôi hơi sợ và không dám thả giọng bông lơn gì thêm. Câu chuyện đó xảy ra cách đây 34 năm. Và sau đó, trong quan hệ thầy trò đã bao phen gần gũi, cho đến ngày thầy qua đời, tôi cũng không bao giờ trở lại trò chuyện với thầy về hai câu thơ Kiều hay nhất này nữa. Nhưng trong lòng thì vẫn vương vấn, vẫn nhiều lần suy nghĩ về cách chọn của người thầy, nhà văn, vị học giả- mà trí thức Việt Nam, dù theo chính kiến nào cũng kính nể này.
Hẳn là từ lâu, đến với Truyện Kiều, người Việt Nam vẫn có thú chơi, thi nhau chọn và giải thích câu Kiều nào hay nhất (chứ không phải hay duy nhất). Và dĩ nhiên là đã có nhiều cách chọn. Không ít người đã chọn 2 câu:
Dưới câu nước chảy trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.
Hai câu thơ này hay là ở giá trị tâm lý đi đôi với giá trị tạo cảnh và tạo hình là để tạo tình. Nguyễn Du viết hai câu thơ này là nhằm gói lại cái chuyện Kim Kiều vừa gặp nhau buổi đầu đã chớm nở một mối tình trong sáng tuyệt trần. Có điều, đây đang là “tình trong”, chưa phải “tình ngoài”: “Tình trong như đã mặt ngoài còn e” đó mà nói ra là Kim Kiều đã yêu nhau thì quả là tồ, chẳng tế nhị gì. Nguyễn Du thiên tài – mà ở ông, trước hết là có một khả năng vào bậc thánh trong việc nhận thức và phản ánh tâm lý con người trong sáng tạo nghệ thuật, sẽ không bao giờ, dù là một lần, sa vào sự thô thiển đó. Ông đã gói chuyện lại bằng hai câu thơ tả cảnh mà riêng hình thức tả cảnh này đã là một sự thích ứng không thể nào hơn với trạng thái “tình trong” kia. Nguyễn Du đã lấy cái kín, để nói cái kín, nhưng đâu phải kín bưng, kín mít để không ai hiểu ra chuyện gì trong đó nữa? Với Nguyễn Du, trong trường hợp này, kín mà vẫn hở. Thế mới thành chuyện. Trong hai câu thơ tả cảnh này, cái độ “trong veo” của giòng “nước chảy” dưới cầu kia là gì? Những cành liễu bên cầu có lá dài, mềm như tơ rủ xuống, bóng liễu ban chiều ngả dài hòa quyện với giòng nước “trong veo” xuôi chảy, chập chờn “thướt tha” và không đứt kia là gì? Từ đâu ra ? Nếu không phải là từ cái “tình trong như đã mặt ngoài còn e” trong sáng tuyệt trần đó.
Nói hai câu Kiều này là hay nhất, rất đúng. Nhưng không ít người còn chọn hai câu  này:
Đau đớn thay phận đàn bà,
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
Hai câu thơ thật là đơn giản. Tưởng như ai cũng làm được.Ấy nhưng hoàn toàn không. Phụ nữ, đàn bà Việt Nam khổ, tự đời nảo đời nào, nhưng văn chương Việt Nam trước Nguyễn Du đã nói gi được nỗi “đau đớn” đó? – Có. Văn học dân gian đã nói nhiều, nhưng thiếu độ khái quát. Riêng văn học viết, văn học bác học thì đến trước thời  Nguyễn Du một ít và cùng thời Nguyễn Du mới cất tiếng được, nhưng cũng chưa ai nói đến độ là quy luật là “lời chung” , là cái “phận” đàn bà “đau đớn thay” này. Mà Nguyễn Du đâu chỉ nói về cái “bạc mệnh” của cái phận đàn bà Việt Nam cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Mộng Liên Đường chẳng đã nhận xét rất đúng: Nguyễn Du có con mắt trông thấu sáu cõi, có tấm lòng nghĩ tới muôn đời” đó sao. Trên trái đất này, ở đâu và lúc nào, với quá khứ đã đành, còn với hiện tại và tương lai, chả lẽ tiếng kêu xé lòng của Nguyễn Du trong hai câu thơ này đã thôi không cần thiết? Nói hai câu Kiều này là hay nhất, cũng rất đúng.
Nhưng hãy trở lại với hai câu Kiều mà học giả Đặng Thai Mai đã chọn. Phải nói ngay, đây là một hình tượng khỏa thân không có trong Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm tài nhân – Trung Quốc và là độc nhất vô nhị trong lịch sử văn chương Trung đại Việt Nam. Đến hôm nay, dù văn chương Việt Nam đã bắt đầu không né tránh cái thứ của “cấm” ấy nữa nhưng tôi vẫn có thể tin chắc mà nói rằng: chưa một ái xứng đáng là học trò của Nguyễn Du trong chuyện này. Con người trong đó bao gồm hai giống đực và cái, là một thực thể tự nhiên trước khi là một thực thể xã hội và vẫn là thực thể tự nhiên trong khi đã trở thành thực thể xã hội. Trong muôn vàn thực thể tự nhiên, con người là thực thể đẹp nhất, vô song. Đó là chân lý tuyệt đối. Nhưng nhân loại không phải ở đâu lúc nào cũng dễ phát hiện được chân lý đó, kể cả hôm nay. Không tính đến tín ngưỡng thờ Linga, thờ sinh thực khí có mặt từ thời cổ tại một số nước, thì có thể nói là phương Tây đặc biệt là thời đại Phục hưng, đã đi trước nhân loại trong việc phát hiện, nhận thức chân lý này. Chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng ở phương Tây, từ chỗ thoát ra khỏi tư tưởng thần quyền của thời trung cổ cho rằng chúa sáng tạo ra muôn loài (trong đó có loài người) đã đi đến ý tưởng cao đẹp: Con người trước hết là con người tự nhiên, con người chưa cần mặc quần áo-là trung tâm của vũ trụ. Một hệ thống quan điểm triết học mang tính nhân văn cao đẹp đã được hình thành, phát triển từ ý tưởng cốt lõi đó. Một thời đại văn minh huy hoàng thông qua vai trò sáng tạo của nhiều thiên tài “khổng lồ”của thời đại Phục hưng trên các lĩnh vực văn hóa, khoa học, nghệ thuật…là sản phẩm thực tiễn của nền triết học nhân văn vĩ đại đó. Nói riêng , trong nghệ thuật (đặc biệt là điêu khắc, hội họa), nghệ thuật khỏa thân phát triển và đã để lại nhiều thành tựu kiệt xuất có giá trị vĩnh hằng đối với nhân loại, cũng là nhờ có sự phát hiện chân lý trên về con người tự nhiên. Cũng cần nói thêm, ở đây không chỉ có sự cao cả, sự thăng hoa, mà còn có sự đê hèn, thú vật. Tất nhiên, đã là đê hèn, thú vật thì chẳng còn gì là nghệ thuật mặc dù vẫn có từ nghệ thuật kiêu dâm, đáng phỉ nhổ.
Ở Việt Nam ta, trong suốt thời trung đại, với hoàn cảnh chế độ phong kiến, nông nghiệp lạc hậu, với sự chi phối nặng nề của đạo Nho, kể cả đạo Phật, con người tự nhiên (cũng như con người cá thể: L’ individu), theo quan niệm nhân văn cao đẹp như trên, có thể nói là chưa được phát hiện. Ít ra, trong phạm vi văn học là như vậy. Dù đã có một truyện cổ tích Chử Đồng Tử trong đó có cuộc gặp gỡ kỳ thú của hai con người tự nhiên, một đực một cái, Chử Đồng Tử và Tiên Dung mà thực ra chưa được hình tượng hóa. Dù đã có một bài thơ “Thiếu nữ ngủ ngày” của bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương, thật là táo bạo nhưng vẫn dừng lại ở mức độ hớ hênh, vô ý, vừa đủ khêu gợi sự thèm thuồng của các bậc “quân tử” đạo đức giả mà thôi. Tất cả, có lẽ chỉ có thế. Cho nên mới nói Nguyễn Du là người tạo ra bức tranh khỏa thân phụ nữ độc nhất vô nhị trong lịch sử văn học thời trung đại ở Việt Nam. Nhưng điều quan trọng đáng nói hơn là Nguyễn Du đã vẽ lên hình tượng khỏa thân đó với tất cả sự trong sáng tuyệt vời mà quan niệm nhân văn cao cả, đòi hỏi. Nhìn vào thủ pháp văn chương của Nguyễn Du sẽ thấy rõ điều đó.  Nếu với hai câu “Dưới cầu nước chảy trong veo; Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha”, Nguyễn Du đã dùng thủ pháp kín nhưng hở , thì ở hai câu thơ vẽ tranh khỏa thân nàng Kiều này ông làm ngược lại, hở nhưng kín. Ông nói “Rõ ràng trong ngọc trắng ngà; Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên”, nghĩa là cơ thể nàng đẹp tuyệt trần, đẹp đến mê người như thế nhưng nào nó là cái gì cụ thể đố ai biết. Nguyễn Du nói “rõ ràng” mà chẳng rõ ràng gì. Hai chữ “rõ ràng” của Nguyễn Du cứ như là một sự đánh lừa người đọc, nhưng là sự đánh lừa hóm hỉnh, dễ thương, mà xét cho cùng chính là chuyện ông tự giữ cho mình mà cũng là giữ cho người đọc, ở sự trong sáng của tâm hồn. Khi đến với bức tượng khỏa thân này, người đọc cứ tha hồ mà tưởng tượng, tự hình dung, tự chiêm ngưỡng. Thế là đủ. Không nên khác nữa. Và đến đây thì có thể nói thêm thế này được chăng? Tung ra một bức tượng khỏa thân của Thúy Kiều như trên vừa nói, quả là Nguyễn Du như ném một trái bom nguyên tử vào thành trì ý thức hệ phong kiến vốn là kiên cố trong lịch sử Việt Nam thời trung đại (mà đâu chỉ Việt Nam). Nếu đúng vậy thì cách chọn hai câu Kiều của sư phụ tôi: nhà văn-học giả Đặng Thai Mai, không chỉ là đúng mà còn là cao siêu. Xin được nhắc lại: đây là chuyện đã xảy ra vào mùa hè 1958, cách đây 34 năm mà mọi người biết, bấy giờ trên sách báo Mác xít, trong các giảng đường đại học tại Hà Nội, cũng như ngoài xã hội, người ta quan niệm như thế nào về cái thứ “của cấm” này. Tôi chỉ tiếc là hôm nay sư phụ (thầy cũng như cha) của tôi đã không còn nữa ở thế giới này để lại chỉ bảo, chấm bài viết này cho tôi như thuở nào, vẫn chấm bài, vẫn chỉ bảo lúc tôi là học trò, là trợ lý của thầy. Tôi xin bù lại sự mất mát đó bằng cách nhờ bạn đọc xét, thẩm định cho vây./.

Cuối thu 1992 
Nguồn: viet-studies 1-3- 2011


Đèo Ngang và những tuyệt phẩm thơ cổ

Hoàng Kim
(Sưu tầm, tuyển chọn, biên soạn)

“Trèo đèo hai mái chân vân / Lòng về Hà Tĩnh dạ ân Quảng Bình”. Đèo Ngang là con đèo lịch sử đã đi vào ca dao, huyền thoại. Nhiều danh nhân- thi sĩ như Lê Thánh Tông, Nguyễn Thiếp, Vũ Tông Phan, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Bà huyện Thanh Quan ... đã lưu dấu tại đèo Ngang những tuyệt phẩm thơ. Đặc biệt, bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà huyện Thanh Quan rất nổi tiếng.

CỬA ROÒN

Lê Thánh Tông

Tây Hoành Sơn thấy rõ Di Luân 1)
Cát trải mênh mông tiếp biển gần
Sóng nước đá nhô xây trạm dịch
Gió sông sóng dựng lập đồn quan
Muối Tề sân phố mời thương khách
Rượu Lỗ quầy bàn tiếp thị dân
Muốn nhắn Ma Cô 2) nhờ hỏi giúp
Bụi trần Nam Hải có xua tan.

Trần Châu Báu Di Luân cẩn dịch

DI LUÂN HẢI TẤN

Hoành Sơn tây vọng thị Di Luân
Diễu diễu bình sa tiếp hải tần
Yên thủy sa đầu phân dịch thứ
Phong đào giang thượng kiến quan tân
Tề diêm trường phố yêu thương khách
Lỗ tửu bồi bàn túy thị nhân
Dục phỏng Ma Cô bằng ký ngữ
Nam minh kim dĩ tức dương trần

Lê Thánh Tông trên đường chinh phục Chiêm Thành năm 1469
1) Di Luân : Cửa Roòn ngày nay; 2) Ma Cô: Đền Liễu Hạnh công chúa phía nam Đèo Ngang tại xã Quảng đông. Di tích kiến trúc, nghệ thuật tôn giáo được xếp hạng.
Nguồn: Wikimapia

ĐÃ TRÓT LÊN ĐÈO PHẢI XUỐNG ĐÈO

Nguyễn Thiếp

Đã trót lên đèo, phải xuống đèo
Tay không mình tưởng đã cheo leo
Thương thay thiên hạ người gồng gánh
Tháng lọn ngày thâu chỉ những trèo!

Vào khoảng đầu năm 1803, lúc Nguyễn Thiếp 80 tuổi, vua Gia Long đã triệu ông vào Phú Xuân để hỏi việc nước. Trên đường về, khi qua đỉnh đèo Ngang, ông đã cảm khái đọc bài thơ Nôm trên.
Nguồn: DANHNHANVIET
http://hoangkimvietnam.blogspot.com/

QUA LUỸ NINH CÔNG NHỚ CHUYỆN XƯA

Vũ Tông Phan

Đất này ví thử phân Nam, Bắc
Hà cớ năm dài động kiếm dao?
Trời tạo Hoành Sơn còn chẳng hiểm,
Người xây chiến lũy tổn công lao.
Thắng, thua rốt cuộc phơi hoang mộ,
Thù hận dư âm rợn sóng đào.
Thiên hạ nay đà quy một mối
Non sông muôn thuở vẫn thanh cao.

QÚA NINH CÔNG LŨY HOÀI CỔ

Nhược tương thử địa phân Nam Bắc,
Hà sự kinh niên động giáp bào?
Thiên tạo Hoành Sơn do vị hiểm,
Nhân vi cô lũy diệc đồ lao.
Doanh thâu để sự không di chủng,
Sát phạt dư thanh đái nộ đào.
Vũ trụ như kim quy nhất thống,
Mạc nhiên sơn thủy tự thanh cao.

Người dịch: Vũ Thế Khôi
Nguồn: Đào Trung Kiên (Thi Viện)
http://annonymous.online.fr/Thivien/

LÊN ĐÈO NGANG NGẮM BIỂN

Ngô Thì Nhậm

Bày đặt khen thay thợ hóa công,
Khéo đem hang cọp áp cung rồng.
Bóng cờ Trần đế (1) dường bay đó,
Cõi đất Hoàn vương (2) thảy biến không.
Chim đậu lùm xanh, xanh đã lão,
Ngạc đùa sóng bạc, bạc nên ông.
Việc đời bọt nổi, xưa nay thế,
Phân họp giành trong giấc hạc nồng (3)

Bản dịch của Nguyễn Sĩ Lâm

ĐĂNG HOÀNH SƠN VỌNG HẢI

Tạo hóa đương sơ khổ dụng công,
Khước tương hổ huyệt xấn giao cung.
Hoàn vương phong vực qui ô hữu,
Trần đế tinh kì quải thái không.
Tình thụ thê cầm thương dục lão,
Nộ đào hí ngạc bạch thành ông.
Vô cùng kim cổ phù âu sự.
Phân hợp du du hạc mộng trung.

Chú thích:
(1) Trần đế:Các vua đời Trần.
(2) Hoàn vương: Chiêm Thành.
(3) Giấc hạc: Giấc mộng hạc. Câu thơ ý nói cuộc tranh giành đất đai giữa Đằng Ngoài và Đằng Trong chẳng qua chỉ là giấc mộng trần thế sẽ tiêu tan.

QUA ĐÈO NGANG

Nguyễn Du

Họa Hải Ông Đoàn Nguyễn Tuấn 1)

Tiến về Nam qua đèo Ngang
Hành trình đầy đủ gươm đàn mang theo
Thuốc thần nào đã tới đâu
Mảnh da beo vẫn mối đầu lụy thân
Ánh mầu nước, chén rượu xanh
Dõi theo vó ngựa một vành trăng quê
Gặp gia huynh hỏi xin thưa 2)
Đường cùng tôi gặp, tóc giờ điểm sương

HOẠ HẢI ÔNG ĐOÀN NGUYỄN TUẤN

Hoành Sơn sơn ngoại lĩnh nam trình
Cần kiếm tương thuỳ thướng ngọc kinh
Thỏ tuỷ vị hoàn tân đại dược
Báo bì nhưng luỵ cựu phù danh
Thương minh thuỷ dẫn bôi trung lục
Cố quốc thiềm tuỳ mã hậu minh
Thử khứ gia huynh như kiến vấn
Cùng đồ bạch phát chí tinh tinh

Nguyễn Tâm Hàn phỏng dịch

Trich Hai Ông Tập. Họa vần bài thơ "năm Giáp Dần (1794), vâng mệnh vào kinh Phú Xuân, lúc lên đường lưu biệt các bạn ở Bắc Thành" của Hải Ông Đoàn Nguyễn Tuấn
Đoàn Nguyễn Tuấn là con Đoàn Nguyễn Thục, đỗ Hương Cống đời Lê, có chiêu mộ người làng giúp Trịnh Bồng đánh Chỉnh, sau ra giúp Tây Sơn, làm đến chức Tả Thị Lang Bộ Lại, tước Hải Phái Bá. Có đi sứ Trung Quốc năm 1790 và có tập thơ nhan đề Hải Ông tập. Ông là anh vợ Nguyễn Du, hơn Nguyễn Du khoảng 15 tuổi.

Nguồn: http://tranluc.net


LÊN NÚI HOÀNH SƠN

Cao Bá Quát

Muôn dặm đường đi núi lẫn đồi,
Bên non cỏ nội tiễn đưa người.
Ai tài kéo nước nghìn năm lại ?
Trăm trận còn tên một lũy thôi.
Ải bắc mây tan mưa dứt hạt,
Thôn nam nắng hửng sớm quang trời.
Xuống đèo mới biết lên đèo khổ,
Trần lụy, sao đành để cuốn lôi ?

ĐĂNG HOÀNH SƠN

Sơn ngại thanh sơn vạn lý Trình,
Sơn biên dã thảo tống nhân hành.
Anh hùng mạc vãn thiên niên quốc,
Chinh chiến không tồn nhất lũy danh.
Bắc lĩnh đoạn vân thu túc vũ,
Nam trang sơ hiểu đái tân tình,
Há sơn phản giác đăng sơn khổ,
Tự thán du du ủy tục tình!

Người dịch: Nguyễn Quý Liêm
Nguồn: Lương Sơn Thi Đàn
http://www.luongsonbac.com/

ẢI HOÀNH SƠN

Cao Bá Quát

Non cao nêu đất nước,
Liền một dẫy ra khơi.
Thành cũ trăm năm vững,
Ải xa nghìn dặm dài.
Chim về rừng lác đác,
Mây bám núi chơi vơi.
Chàng Tô nấn ná mãi,
Tấm áo rách tơi rồi.

HOÀNH SƠN QUAN

Địa biểu lập sàn nhan,
Liêu phong đáo hải gian.
Bách niên khan cổ lũy,
Thiên lý nhập trùng quan.
Túc điểu sơ đầu thụ,
Qui vân bán ủng sơn.
Trì trì Tô Quí tử,
Cửu tệ vị tri hoàn.

Bản dịch của Hóa Dân
Nguồn: Lương Sơn Thi Đàn
http://www.luongsonbac.com/


QUA ĐÈO NGANG

Bà huyện Thanh Quan

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông rợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại trời, non, nước
Một mảnh tình riêng ta với ta.


BỘ ĐÁO HOÀNH QUAN

Bộ đáo Hoành Quan nhật dĩ tà,
Yên ba gian thạch, thạch gian hoa.
Tiều quy nham hạ, ta ta tiểu,
Thị tập giang biên, cá cá đa.
Đỗ vũ tâm thương, thanh quốc quốc,
Giá cô hồn đoạn, tứ gia gia.
Đình đình trữ vọng: thiên, sơn, hải,
Nhất phiến cô hoài, ta ngã ta.

Bản dịch chữ Hán của Nguyễn Văn Thích

QUÁ HOÀNH SƠN

Quá Hoành Sơn đỉnh tịch dương tà
Thảo mộc tê nham diệp sấn hoa
Kỳ khu lộc tế tiều tung yểu
Thác lạc giang biên điếm ảnh xa
Ưu quốc thương hoài hô quốc quốc
Ái gia quyện khẩu khiếu gia gia
Tiểu đình hồi vọng thiên sơn thuỷ
Nhất phiến ly tình phân ngoại gia

Bản dịch chữ Hán của Lý Văn Hùng
Nguồn: Đào Trung Kiên (Thi Viện)
http://annonymous.online.fr/Thivien/

Tư liệu chọn lọc về Nguyễn Du

NGỌC PHƯƠNG NAM. Tôi đã có một ít bài viết về Nguyễn Du (Tâm sự Nguyễn Du qua Đối tửu, Nguyễn Du và những câu thơ tài hoa; Đèo Ngang và những tuyệt phẩm thơ c; Nguyễn Du viếng mộ Liễu Hạ Huệ; Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ.) . Gần đây, tôi đọc được một số bài viết mới khá hay (Tôi đi tìm Nguyễn Du; Một kiến giải mới về Truyện Kiều; Nguyễn Du – Nguyễn Công Trứ; Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương; Tết, đọc lại thơ Nguyễn Du;  Đọc Nguyễn Du, nhớ Nguyễn Khuyến, Khóc Tố Như) , soi sáng thêm những  góc nhìn mới. Nay tôi xin chép lại trong cùng chuyên mục để thuận tiện tra cứu và giúp bạn đọc dễ theo dõi.

TÔI ĐI TÌM NGUYỄN DU

Nguyễn Thế Quang    

Là một người xứ Nghệ mê văn chương được làm công việc giảng dạy Văn học ở trường Phổ thông, tôi say sưa giảng cho các em Truyện Kiều và một số bài thơ chữ Hán của thi hào Nguyễn Du. Càng dạy, càng đọc, càng tìm hiểu về Cụ tôi càng kính phục cốt cách và tài năng của Tiên sinh và càng muốn viết một cuốn sách về Người. Vì thế năm 2003 nghỉ hưu tôi bắt tay vào thực hiện ý định viết Tiểu thuyết NGUYỄN DU. Tôi hăm hở sang Nghi Xuân, ra Thăng Long, về Thái Bình, vào Huế... tìm hiểu những vùng mà Nguyễn đã từng sống, vùi đầu vào nghiên cứu lịch sử đương thời, đọc đi đọc lại Thơ chữ Hán của Nguyễn…mong tìm được cốt cách chủ yếu nhà thơ lớn đã viết nên Truyện Kiều bất hủ. Chân dung Nguyễn dần dần hiện rõ…Thế nhưng càng đi, càng tìm hiểu tôi càng cảm thấy mình chưa hiểu Nguyễn được bao nhiêu! Một câu hỏi thường xuyên được đặt ra trong tôi: đâu là cốt cách chủ yếu của con người Nguyễn Du? Vì thế tôi tiếp tục đi… Giữa năm 2004  tôi đến Quảng Bình – mảnh đất mà Nguyễn làm Cai bạ - đứng đầu quan lại của tỉnh này từ năm 1809-1813, để tìm hiểu Văn hóa nơi đây và mong được biết rõ hơn chân dung của Người.
Giữa trưa hè nắng lửa tôi đứng ở của sông Nhật Lệ ngắm “Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia”, tần ngần trước “Quảng Bình quan” nhớ tâm sự người xưa "Kim cổ nhàn sầu lai túy hậu /Thuần lô hương tứ tại thu tiên” (Sau khi say càng buồn nỗi sầu kim cổ, muốn về quê với rau thuần,cá vược -Dạ tọa - NAM TRUNG TẠP NGÂM), nghĩ đến bao bể dâu dâu bể, quay nhìn bốn phía non nước mênh mang biết tìm người xưa ở đâu?! “Phải tìm bằng được người nào am hiểu sâu sắc Văn hóa nơi đây”, với suy nghĩ đó tôi nghĩ đến cụ Nguyễn Tú - nhà nghiên cứu Văn Hóa lớn của Quảng Bình, người đã có hơn chục công trình về văn hóa nơi đây, đã đoạt đến sáu giải thưởng trong đó có một giải Bông sen trắng của Hội VHNT Bình Trị Thiên, ba giải A giải thưởng Lưu Trọng Lư của tỉnh Quảng Bình, một giải A và một giải B của Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam. Tôi đến nhà cụ Nguyễn Tú khi trời đã sang chiều. Nhìn thấy cụ già nhỏ nhắn, râu tóc bạc trắng mà đôi mắt sáng tinh anh dưới vầng trán rộng toát lên vẻ đẹp trí tuệ mà nhân từ, tôi biết mình đã tìm được bậc quý nhân. Biết tôi là Nhà giáo Xứ Nghệ vào đây để tìm hiểu Văn hóa Quảng Binh, Cụ rất vui. Cụ say sưa nói với tôi về Đất nước và Con người quê hương mình… Khi biết tôi có ý định viết Tiểu thuyết về Nguyễn Du mắt cụ sáng lên. Cụ nói về Nguyễn Huệ, về Gia Long, về Thơ chữ Hán của Nguyễn Du viết về Quảng Bình…Cụ muốn tôi viết lên những điều mà sách nghiên cứu Lịch sử chưa nói được. Dù đã học nhiều, đọc nhiều mà tôi vẫn đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác về sự hiểu biết sâu sắc, những lý giải mới mẻ, táo bạo của Cụ. 

Chợt Cụ hỏi tôi:
-Ngàn Hống có còn nhiều cây nữa không?
-Thưa Cụ. Ngàn Hống cây vẫn nhiều ,thông càng ngày càng lớn?
-Thế con cháu Nguyễn Du có nhiều người làm quan không?

Tôi chợt nhớ câu ca:”Bao giờ Ngàn Hống hết cây/Sông Rum hết nước họ này hết quan.”Giờ đây Ngàn Hống cây vẫn xanh um, nước sông Lam (đoạn qua quê Nguyễn Du xưa gọi là sông Rum) nước vẫn dào dạt mà con cháu Nguyễn Du bám trụ nơi này hay tha phương nhiều nơi vẫn không có ai làm quan. Đó là điều mà tôi cũng như rất nhiều người băn khoăn, thường hỏi nhau mà chưa có câu trả lời. Tôi đem điều đó nói với Cụ.Với vẻ trầm tư cụ trầm ngâm nói với tôi:


-Đây là điều bí ẩn không dễ giải đáp. Năm mươi tám năm về trước Cụ Nghè Mai (dòng dõi họ Nguyễn Tiên Điền, gọi Nguyễn Du là bậc tổ bá, đậu Tiến Sĩ khoa Giáp Thân -1904) đã nói với tôi. Tôi chưa nói với ai. Giờ đây tôi đã ở tuổi tám mươi tư, gặp anh là nhà giáo Xứ Nghệ, có Tâm quý với cụ Nguyễn Du (tôi vừa chuyển cho Khu Lưu niệm Nguyễn Du ở Nghi Xuân bản Kiều nôm cố nhất (1866) của gia đình tôi), tôi sẽ kể để anh biết.

Tôi lắng nghe từng lời Cụ nói:
Năm 1947,là Chính trị viên của Tỉnh đội Quảng Bình,tôi bị thương phải ra vùng tự do để điều trị. Tôi ở xã Xuân Thành huyện Nghi Xuân hai năm,thường lên Tiên Điền chơi. Tôi tìm đến cụ Nghè Mai. Có chút ít Hán học, mê văn chương, ham học hỏi, quan hệ giữa hai người ngày càng gắn bó. Khi đã quý tin nhau, tôi hỏi Cụ ;
-Sau khi thi đậu Tiến sĩ ,sao Cụ không ra làm quan?
Cụ Nghè Mai nhìn tôi một lát rồi nói:
-Thời thế càng ngày càng khác, tôi không thích làm quan, Cụ Tố Như cũng như các tổ bá, tổ thúc của tôi cũng không muốn cho con cháu làm quan.
Rồi cụ Nghè kể cho tôi hay: Tổ tiên của chúng tôi quê gốc ở Thanh Oai trấn Sơn Nam thượng, sau thời Lê-Mạc trốn vào Tiên Điền. Ông tổ của chúng tôi là ngài Nam Dương hầu Nguyễn Quận làm thuốc giỏi cứu giúp được nhiều người, con cháu các đời sau nhiều người cũng làm thầy thuốc. Đến đời thứ 5 Lĩnh Nam tiên sinh Nguyễn Quỳnh gặp được Ngô phu tử người Giang Tây tự Cảnh Phượng (Cháu ngài Ngô Cảnh Loan - bậc quốc sư về Địa lý) tìm được phần đất có vị thế tốt: Phía trước có nguồn mạch nước triền miên tự Ngàn Hống chảy về hội tụ cùng Thanh Long giang (tên cũ của sông Lam) trong thế rồng chầu ,hổ phục.  Sau khi an táng hài cốt của tổ phụ, ngài sai đặt hai trụ lớn có hai vòng sắt to”để sau các Quận công về cột voi”. Quả nhiên sau đó con cháu đỗ đạt, nhiều người làm quan lớn, có hai Quận công là cụ Nguyễn Nghiễm (thân phụ thi hào Nguyễn Du) Tể tướng đương triều được phong tước Xuân Quận công và con là Nguyễn Khản - Thượng thư bộ Lễ được phong tước Toản Quận công, rồi lớp lớp con cháu nhiều người đậu đạt ra làm quan. Câu ca “Bao giờ Ngàn Hống hết cây...”ra đời từ đó. Lê triều đổ, Triều Nguyễn Tây Sơn tan, triều Nguyễn Gia Miêu lên, con cháu họ Nguyễn Tiên Điền đều có nhiều người ra làm quan. Cụ Nguyễn Du đi thi hương mới vào tam trường mà vẫn được làm tri huyện rồi tri phủ... miễn cưỡng làm quan vừa làm vừa gật mà vẫn lên đến Hữu Tham tri bộ Lễ hàm Chánh tam phẩm. Thế nhưng trải qua gần hai mươi năm ở chốn quan trường, Cụ hiểu được nhiều điều. Cuối đời, Cụ xin nghỉ sáu tháng nói là về quê để tu sửa phần mộ tổ tiên. Thế nhưng Cụ lại cho đào một con mương trước phần mộ tổ họ Nguyễn, cắt ngang dòng mạch từ ngàn Hống về, không cho tụ lại mà chảy tuột ra sông Lam. Có thầy địa lý - hậu duệ của cụ Tả Ao giỏi phong thủy thấy thế liền hỏi :
-Bẩm đại quan . Sao Ngài lại cho đào con mương này ?
-Để con cháu khỏi mắc trọng bệnh.
-Dạ thưa: bệnh gì ạ?
Cụ Nguyễn Du điềm tĩnh nói:
- Bệnh Gù lưng!
Thầy địa lý lặng người đi,mãi sau mới nói:
- Bẩm đại quan. Ngài là bậc túc nho, làm quan đến bậc Á khanh, nhiều năm ở chốn cung đình, trải qua Nam- Bắc quốc, ngài quyết như vậy là có nguyên cớ sâu xa tự ngàn xưa mà nghĩ đến cả mai sau, kẻ quê mùa này xin bái phục.
Quả thật sau đó con cháu họ Nguyễn chúng tôi nhiều người thi đậu không ra làm quan. Tôi cũng không ra làm quan!” 

Cụ Nguyễn Tú dừng lại. Gió Nam Lào ào ào qua rặng tre. Chúng tôi lặng im hướng về người xưa. Tôi bổng nhớ đến câu thơ của Nguyễn Du khi làm quan ở Huế “Vô bệnh cố câu câu” (Thu chí)- không bệnh mà cứ cúi lom khom . Đó cũng chính là mối sầu kim cổ của Nguyễn. Thì ra con người Tố Như là vậy, suốt đời đau nỗi đau phải làm một viên quan nô lệ của của chế độ quân chủ phong kiến độc quyền, suốt đời khao khát và muốn làm người Tự do không phải chỉ cho mình mà còn cho con cháu mai sau...Tôi đã hiểu được cái lớn lao trong tâm hồn và tư tưởng của Nguyễn Du. Tôi nói với cụ Nguyễn Tú điều đó. Cụ gật đầu và chậm rãi nói tiếp:

 - Điều cụ Nghè Mai nói với tôi là có thật. Việc cụ Nguyễn Du làm tôi tin là có thật. Con cháu cụ hiện nay không có ai làm quan như anh cho biết là có thật. Nhưng có phải vì cụ Nguyễn làm vậy mà nên vậy không thì ta chưa khẳng định được. Thế nhưng từ việc làm đó ta hiểu được nhiều về cốt cách của bậc tiền bối.
Tôi dè dặt thưa với cụ Nguyễn Tú:
- Quyền lực triều Nguyễn thời vua Gia Long ghê gớm làm vậy, gia cảnh của tiên sinh nghèo khó làm vậy, giữ nhiều chức vụ ở nhiều nơi như thế vần giữ mình trong sạch, vẫn biết chịu đựng để tồn tại, để viết nên kiệt tác Truyện Kiều và cả những vần thơ chữ Hán đau đớn mà dữ dội lay động lòng người muôn đời, nhân cách ấy, tài năng ấy đời đời phải ngưỡng mộ. Hồi nãy Cụ có hỏi con: câu thơ nào trong Truyện Kiều nói lên dược cốt cách của Nguyễn Du, con xin chọn câu: “Mai cốt cách ,tuyết tinh thần”.
Cụ Nguyễn Tú cất tiếng cười vang, nét mặt trở nên rạng rỡ, đôi mắt tinh anh nhìn tôi gật gù, vẻ bằng lòng.  
Chào Cụ ra về , tôi sung sướng biết mình đã tìm được chân dung trọn vẹn của Nguyễn Du trên đất Quảng Bình. 

Trở về Xứ Nghệ tôi say sưa viết những dòng đầu tiên của cuốn tiểu thuyết lịch sử NGUYỄN DU. Chi tiết trên được tôi xây dựng nên một chương trọn vẹn và hấp dẫn: chương 1 phần V của Tiểu thuyết NGUYỄN DU (NXB Hội Nhà Văn và Công ty Sách Phương Nam xuất bản năm 2010, tái bản năm 2013). Tôi mãi mãi biết ơn cụ Nguyễn Du đã có cốt cách cao đẹp cho tôi sáng tạo, mãi biết ơn cụ Nguyễn Tú đã tin cậy cho tôi biết điều đó.
Vinh tháng 10/2013

MỘT KIẾN GIẢI ĐỘC ĐÁO VỀ TRUYỆN KIỀU

GS. Nguyễn Lân Dũng
Nguồn blog Nguyễn Lân Dũng

Từ trước đến nay đã có biết bao nhiêu tác giả viết đủ mọi điều về Truyện Kiều. Có không ít tác giả đã được mệnh danh là những nhà Kiều học. Vậy mà có một nhà Vật lý học lão thành đã kiên trì nghiên cứu Truyện Kiều theo một hướng khác hẳn. Đó là tìm hiểu sự gửi gắm tâm sự về thời cuộc của Đại thi hào Nguyễn Du thông qua các trang viết. Tôi muốn nói về cuốn " Thử tìm hiểu tâm sự Nguyễn Du qua truyện Kiều" của GS.NGND Ngô Quốc Quýnh (Đại học Quốc gia Hà Nội). Tác giả đã tặng tôi cuốn in lần thứ hai, có sửa chữa và bổ sung , do NXB Giáo dục phát hành vào quý II năm 2010.

Tác giả cho rằng: mỗi người đọc Truyện Kiều, tùy theo khả năng của mình, đều có thể và phải góp phần làm sáng tỏ bí mật về tâm sự Nguyễn Du, và càng hiểu rõ tâm sự của tác giả ta nhận thức càng sâu sắc hơn cái hay, cái đẹp của Truyện Kiều.

Là một chuyên gia lão thành về Vật lý học ông phát hiện thấy Nguyễn Du có một cách thần kỳ để mong hậu thế có người hiểu được mình. Ông đã cất giấu một cách kín đáo bầu tâm sự phức tạp của mình tại những đoạn nhất định trong số 3254 câu của Truyện Kiều. Vấn đề là cất giấu ở đâu, đó là chuyện cần tìm cách giải mã. Tác giả tìm thấy chỗ cất giấu ấy ở ngay những câu thơ mà Nguyễn Du cố tình chọn câu chữ, điển tích, tình tiết không thích hợp với nhân vật hoặc không phù hợp với diễn biến logic của truyện. Không thể coi một thiên tài như Nguyễn Du mà lại để lọt lưới một cách vô tình những chỗ được coi là trái cựa như vậy. Và tác giả đã bỏ nhiều năm tháng đi tìm những chỗ mà Nguyễn Du muốn ký thác tâm sự để mong hậu thế có người hiểu được mình.
Vậy thử xem tác giả đã giải mã những dấu vết nào mà Nguyễn Du cố tình lưu lại để hậu thế tìm ra ẩn ý của mình. Tác giả đã tìm thấy Nguyễn Du đã rất công phu để tạo ra hai Thúy Kiều, hai Kim Trọng, hai Từ Hải. Trong đó một là thực- suy nghĩ và hành động theo logic của truyện, và hai là hư- nhằm thể hiện ba nhân vật có thực trong lịch sử nước ta. Đó là Nguyễn Du, vua Lê Chiêu Thống (sau này lại là vua Gia Long) và vua Quang Trung.

Ta hãy lần theo các dấu vết mà tác giả đã khám phá thấy: Câu 2843-44: Tuy rằng vui chữ vu quy/ Vui này đã cất sầu kia được nào. Nguyễn Du đã cố tình dùng sai hai chữ vu quy (người lấy vợ thì phải vui về việc mình cưới vợ, chứ sao lại vui việc bố mẹ cho con gái về nhà chồng?). Lại có việc dùng nhầm chữ hoa để chỉ Kim Trọng: Câu 442: Vì hoa nên phải lánh đường tìm hoa; câu 700: Lỗi thề thôi đã phụ phàng với hoa; câu 160: Gặp tuần đố lá, thỏa lòng tìm hoa; câu 1068: Hoa sao hoa khéo đọa đầy bấy hoa. Lại còn chuyện có ai chờ đợi gặp các đấng mày râu ở chốn Thiên Thai như câu 392: Rẽ mây, trông tỏ lối vào Thiên Thai. Rõ ràng Nguyễn Du thầm cho ta hay Kim Trọng là một người tầm thường, tài trí hèn mọn như đàn bà. Đó là Kim Trọng hư mà Nguyễn Du muốn ám chỉ tâm đen của Lê Chiêu Thống (điều mà sau Cách mạng Tháng 8 chúng ta mới thấy rõ). Còn Thúy Kiều hư được thể hiện ở các dấu vết nào, và là ai? Hãy xem câu 100: Vạch da cây vịnh bốn câu, ba vần.Theo diễn biến logic của truyện thì chi tiết này hoàn toàn không cần thiết, hơn nữa đưa các con số khô khan vào câu thơ khiến trở nên khô khan, cứng nhắc. Hơn nữa bốn câu ba vần là thể thơ lục bát của người Việt chứ không phải thể thơ tứ tuyệt của người Trung Hoa. Ai cũng biết người làm lục bát tài hoa chính là Nguyễn Du. Ta thấy Thúy Kiều thực là người yêu và sau là vợ của Kim Trọng thực, còn Thúy Kiều hư tức là Nguyễn Du phải là bề tôi của Kim Trọng hư. Nói theo thâm ý thì là Nguyễn Du trót gắn bó với vua Lê Chiêu Thống nhưng lại khinh ông vua ấy tầm thường như đàn bà (!). Cái tầm thường của Kim Trọng hư còn được Nguyễn Du đánh dấu ở nhiều câu khác. Câu 150: Văn chương nết đất, thông minh tính trời?Phong tư tài mạo tót vời. Văn chương nền đất có nghĩa là văn chương hay dở là nhờ mồ mả, có đi thi cũng đến đổ tại mồ mả mà thôi ! Tài mạo tót vời thì tót vời là tính từ, tức là không phải là một lời khen thực bụng, mà chỉ là một lời khen khéo thôi. Nguyễn Du không đưa ra bất kỳ chi tiết nào để chứng minh sự thông minh và tài mạo của chàng Kim đủ chứng tỏ đang nói đến một Kim Trọng hư. Lại một lần nữa Nguyễn Du thầm nhắc: Lê Chiêu Thống dung mạo tầm thường, tài trí và văn chương không có gì đặc sắc. Kim Trọng hư còn bị Thúy Kiều hư nói đốp vào mặt: Chẳng sân ngọc bội cũng phường Kim môn. Kỳ lạ thay hạng được nhà vua trọng dụng mà lại bị Kiều gọi là phường ! Rõ ràng dưới mắt Nguyễn Du thì Lê Chiêu Thống dung mạo tầm thường, tài trí kém cỏi, được làm vua chỉ vì là con vua. Nhưng Nguyễn Du lại trót gắn bó với ông vua đó và vẫn muốn giữ lòng trung với ông ta. Thực là hai mặt của mâu thuẫn trong tâm sự của Nguyễn Du.

Thúy Kiều thực có 3 đời chồng: Kim Trọng, Thúc Sinh và Từ Hải. Nguyễn Du cũng bị chi phối bởi ba ông vua: Lê Chiêu Thống, Quang Trung và Gia Long. Vậy Quang Trung được đại diện bởi người chồng nào của Thúy Kiều? Trong 6 câu mô tả Kim Trọng chỉ được phác họa bằng những nét mơ hồ thì trong 6 câu mô tả Từ Hải lại khắc họa cụ thể tướng mạo của một người anh hùng. Xem tướng cho Kim Trọng ta thấy Kiều chỉ cho là phường Kim Môn, trong khi với Từ Hải thì lại thấy Tấn Dương được thấy mây rồng có phen (câu 2160). Lại thấy với Kim Trọng thì Lửa hương chốc để lạnh lùng bấy lâu (câu 382) còn vơi Từ Hải lại là Nửa năm hương lửa đang nồng (câu 2213). Lúc từ biệt Kiều ta thấy Kim Trọng dặn dò một cách ích kỷ: Gìn vàng , giữ ngọc cho hay/ Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời (câu 545-46). Còn với Từ Hải thì lại là lòng tin tưởng và không bịn rịn: Đành rằng chờ đó ít lâu/ chầy chăng là một năm sau. vội gì (câu 2227-28). Vào năm Gia Tĩnh Triều Minh (giữa thế kỷ 16) Trung Quốc không thể dưới 100 triệu người, vậy mà Từ Hải chỉ mơ ước có 10 vạn tinh binh (câu 2221: Bao giờ mười vạn tinh binh) làm sao là người có chí lớn muốn bình thiên hạ để làm được Thiên tử? Vậy không phải là chuyện bên Tầu mà là ứng với Từ Hải hư hay vua Quang Trung, vì trong trận Đống Đa- Ngọc Hồi Quang Trung đã chỉ huy mười vạn quân ta để đánh được 26 vạn quân nhà Thanh! Qua Từ Hải hư nhiều dẫn chứng khác nữa cho thấy Nguyễn Du kính phục vua Quang Trung, một anh hùng tài đức, biết trọng dụng nhân tài (câu 2202: Anh hùng đoán giữa trần ai mới già !;câu 2277: Anh hùng mới biết anh hùng; câu 2549: Rằng Từ là đấng anh hùng; câu 2455: Biết Từ là đấng anh hùng...). Ông vua đó xứng để Nguyễn Du tôn phù nhưng cụ lại không ưa. Qua nhiều dấu vết khác ta hình dung thấy khi Quang Trung ra Bắc lần đầu, chấm dứt họ Trịnh là lúc Nguyễn Du coi ông là thù, nhưng Cụ đã thay đổi quan điểm khi Lê Chiêu Thống đón quân Thanh về, lộ rõ bản chất bán nước, và Quang Trung đã bộc lộ đầy đủ thiên tài khi phá tan một cách thần tốc 26 vạn quân Thanh. Qua những đoạn trích lời sư Tam Hợp dành cho Thúy Kiều hư ta suy đoán được tâm sự của Nguyễn Du. Dấu vết được ghi ở câu 2661-62: Lại mang lấy một chữ tình/ Khư khư mình buộc lấy mình vào trong. Vì một chữ tình mà phải chịu kiếp đoạn trường- áp dụng cho Kiều là không đúng ! Lời buộc tội thiếu nhất quán của sư Tam Hợp tác giả cho là dấu vết để lần ra tâm sự của Nguyễn Du. Cụ mượn sư Tam Hợp để nói lên một nội dung phi logic đối với Thúy Kiều thực để nhắc tìm cái logic của nội dung đó ở Thúy Kiều hư. Cái sắc sảo , khôn ngoan của Kiều chính là lý trí, óc phán đoán, năng lực phân biệt vua nào tài đức, vua nào ươn hèn của Nguyễn Du cũng như sự kính trọng hay khinh miệt của Nguyễn Du đối với những ông vua mà cCụ tự nguyện hay miễn cưỡng tôn phù. Lý trí và tình cảm của Cụ thôi thúc Cụ đi theo hai con đường trái ngược nhau. Bầu tâm sự ấy chỉ một mình Cụ biết mà thôi. Một dấu vết khác là thái độ thờ ơ , lạng nhạt phi logic của Kiều đối với Kim sau 10 năm lưu lạc. Đó là thái độ của Thúy Kiều, tức là Nguyễn Du, đối với Kim Trọng hư, tức là vua Gia Long. Trong gần 20 năm làm quan dưới triều Gia Long thì Nguyễn Du đã có ba lần cáo quan xin về (nhưng chỉ ít lâu sau lại bị vua gọi ra). Lại xét một dấu vết khác trong câu 3030: Đứng trông chàng cũng trở sầu làm tươi. Người ta thường nói đổi sầu thành tươi hay đổi buồn thành vui. Không phải không chủ ý khi Nguyễn Du lại viết là làm tươi với ý nghĩa là trở sầu gắng gượng làm ra vẻ tươi để che giấu sự ngượng ngùng vì thái độ lạnh nhạt của Kiều và vì sự coi thường của gia đình Vương viên ngoại. Thái độ gắng gượng ấy chính là của Kim Trọng hư để đáp lại thái độ lạnh nhạt của Thúy Kiều hư ! Đó chính là chuyện Nguyễn Du không coi trọng tài đức của vua Gia Long. Chuyện này còn được thìm thấy qua vài dấu vết khác. Kiều tỏ ra khinh chàng Kim trong suốt hai chục câu sau câu 3148 với các cách ăn nói như dạy chồng (Lại như những thói người ta...Người yêu ta xấu với người...Thì đà em đó lọ cầu chị đây...). Rồi tiếp đến 24 câu đối thoại trong đêm động phòng có thể thấy không còn là lời của Thúy Kiều thực nữa mà chỉ là lời của Thúy Kiều hư ! Đó chính là lời thanh minh của Nguyễn Du khi cụ phải ra làm quan với Gia Long. Không phải vì ham vinh hoa , phú quý, mà chỉ vì nể lòng người cũ và vì mang một chữ tình với triều đình. Sáng tác thêm đoạn Tái hồi Kim Trọng Nguyễn Du chỉ muốn thanh minh là tuy ra làm quan với vua Gia Long nhưng Cụ vẫn giữ thái độ Từ Thứ quy Tào , không hết lòng phục vụ nhà vua. Tác giả cho rằng sinh thời chắc Nguyễn Du đã buồn vì chẳng ai thắc mắc về những chữ oai oăm như , đến cả chi tiết Kiều đi tìm hoa, dẫn đến quy kết Truyện Kiều là dâm thư (!). Vì vậy cụ đã phẫn chí mà thốt lên “Bất tri tam bách dư niên hậu - Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như” (Ba trăm năm nữa trong thiên hạ. Chẳng biết ai người khóc Tố Như!)

Là người ngoại đạo văn chương tôi không dám phán xét gì về khám phá của GS.NGND Ngô Quốc Quýnh qua cuốn sách dày tới 211 trang này. Dù sao cũng là một khám phá chưa từng thấy, vì vậy xin kính trình độc giả Kiến thức ngày nay để mong đông đảo bạn đọc tìm hiểu cuốn sách và cho biết kiến giải của mình.



Nguyễn Du – Nguyễn Công Trứ

Nguyễn Du
Tóc bạc cám thương người phận mỏng
Lưng gầy trĩu nặng nỗi bể dâu
Ngực yếu, trái tim thì quá nặng
Nhờ thơ san sẻ bớt niềm đau.

Nguyễn Công Trứ
Khi mũ cánh chuồn, lúc mo cau
Sang hèn, cao thấp khác gì nhau
Đánh giặc, khẩn hoang ngàn dặm đất
Không quên thơ phú với…cô đầu!

Vương Trọng
Nguồn: Blog Vương Trọng

Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương

Nguyễn Hưng Quốc 


Đọc thơ chữ Hán của Nguyễn Du, tôi nghĩ đến Nguyễn Khuyến. Và cũng nghĩ đến một người khác nữa: Hồ Xuân Hương.

Nguyễn Du được xem là ông hoàng của thơ Việt Nam, còn Hồ Xuân Hương lại được tôn vinh là “bà Chúa thơ Nôm”. Giữa “ông hoàng” và “bà chúa” dường như có một điểm chung: mối tình kéo dài ba năm.

Trước khi nói về mối tình của họ, xin nói một chút về Hồ Xuân Hương. Cho đến nay, hầu như giới phê bình và nghiên cứu đều đồng ý với nhau một điểm: Đó là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất và cũng là nhà thơ độc đáo nhất của Việt Nam. Về điểm thứ nhất, tôi rất tâm đắc với bảng xếp hạng của Xuân Diệu: Nguyễn Trãi, Đoàn Thị Điểm (nếu bà thực sự là tác giả của bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành), Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương và Tú Xương là năm nhà thơ lớn nhất trong văn học cổ điển Việt Nam. Về điểm thứ hai, cũng đã có nhiều người nhấn mạnh: với những bài thơ Nôm còn lại hiện nay, Hồ Xuân Hương là một hiện tượng vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Việt Nam. Hồ Xuân Hương có thể không bằng Nguyễn Du ở sự bát ngát trong tâm tình, sự lộng lẫy và đa dạng của bút pháp, đặc biệt, Hồ Xuân Hương không có một tác phẩm nào đồ sộ, nguy nga có thể sánh được với Truyện Kiều của Nguyễn Du. Nhưng mặt khác, Hồ Xuân Hương lại độc đáo hơn Nguyễn Du. Độc đáo hơn vì cá tính mạnh mẽ hơn, phong cách sắc sảo hơn, ngôn ngữ dữ dội hơn. Nguyễn Du là người đi đến tận cùng nỗi đoạn trường chung của nhân loại. Hồ Xuân Hương là người đi đến tận cùng màu sắc riêng tây trong một con người. Nguyễn Du là đóa hoa đẹp nhất trong các loài hoa. Hồ Xuân Hương là đóa hoa lạ nhất trong các loài hoa. Chung quanh Nguyễn Du, châu tuần nhiều nhà thơ khác, gần gũi ở nhiều khía cạnh, tuy mức độ tài hoa có thể ít hơn. Chung quanh Hồ Xuân Hương hầu như không có ai cả. Nguyễn Du cao ngất mà không lẻ loi. Hồ Xuân Hương, ngược lại, là một hiện hữu dị thường, một mình chiếm riêng một góc trời.

Nhưng nhà thơ được xem là độc đáo nhất của Việt Nam ấy lại là một hiện tượng vô cùng phức tạp. Phức tạp, trước hết, là về tư liệu. Trước, người ta không biết gì về bà. Đến độ nhiều người nêu lên giả thuyết: bà không có thật. Tên của bà chỉ là một cái tên giả của một hay một số nhà thơ nam tinh nghịch nào đó. Sau, người ta tìm ra khá nhiều tài liệu về bà. Nhưng những tài liệu ấy lại mâu thuẫn với nhau đến độ nếu tin vào chúng, chúng ta sẽ có không phải một mà là hai hay ba nhà thơ mang tên Hồ Xuân Hương khác nhau. Hoàn toàn khác nhau.

Trong các khám phá liên quan đến Hồ Xuân Hương, quan trọng nhất là việc phát hiện tập thơ Lưu Hương Ký vào năm 1963. Tập thơ gồm 52 bài: 24 bài chữ Hán và 28 bài chữ Nôm. Đặc biệt, trong tập thơ có một bài tựa viết năm 1814 của một người có biệt hiệu là Tốn Phong, người Nghệ An. Trong bài tựa, Tốn Phong tự nhận mình là bạn của Hồ Xuân Hương, tự Cổ Nguyệt Đường, con cháu họ Hồ ở Quỳnh Lưu, Nghệ An. Chính Hồ Xuân Hương đã nhờ ông viết lời tựa ấy: “Đây là tất cả thơ văn trong đời tôi từ trước đến nay, nhờ anh làm cho bài tựa.”

Xuất hiện vào năm 1814, đó là văn bản cổ nhất và cũng đáng tin nhất liên quan đến thơ Hồ Xuân Hương. Trước khi tập Lưu Hương Ký được phát hiện, toàn bộ những bài thơ Nôm được truyền tụng lâu nay đều chỉ được lưu hành trong dân gian trong cả một thế kỷ. Chúng chỉ được sưu tập và in thành sách vào năm 1913 (nhà xuất bản Xuân Lan).

Tuy nhiên, ở đây lại xuất hiện một số vấn đề: một, không có bài thơ nào trong tập Lưu Hương Ký năm 1814 và Thơ Hồ Xuân Hương năm 1913 trùng nhau cả; hai, phong cách và giá trị của hai tập thơ cũng khác hẳn nhau: thơ trong cuốn sách in năm 1913 vốn chứa đựng các bài thơ được truyền tụng rộng rãi lâu nay sắc sảo và độc đáo bao nhiêu, thơ trong Lưu Hương Ký lại hiền lành và bình thường bấy nhiêu.

Trước hai hiện tượng trên, chúng ta có thể có ba giả thuyết chính:

1. Có hai Hồ Xuân Hương khác nhau. Tạm gọi là HXH1, tác giả của các bài thơ được truyền tụng rộng rãi lâu nay, và HXH2, tác giả của tập Lưu Hương Ký do Tốn Phong viết lời tựa. Một số nhà nghiên cứu không quyết liệt đến mức xem HXH1 và HXH2 là hai người khác nhau, nhưng, khi phê bình, họ tạm loại trừ HXH2 ra khỏi phạm vi phân tích và đánh giá. Họ chỉ tập trung vào HXH1 với những bài thơ họ cho là thực sự xuất sắc.

2. Có một Hồ Xuân Hương thật và một Hồ Xuân Hương giả. HXH2 là Hồ Xuân Hương thật, có văn bản đàng hoàng và khả tín; còn HXH1, tức tác giả của những bài thơ nổi tiếng trong quần chúng lâu nay, từ “Khóc Tổng Cóc” và ”Khóc ông phủ Vĩnh Tường” đến “Làm lẽ”, “Không chồng mà chửa”, “Bánh trôi nước”, “Quả mít”, v.v… là Hồ Xuân Hương giả. Giả ở đây được hiểu theo nghĩa là: Đó chỉ là biệt hiệu được dựng lên để che giấu tông tích của một người thật, có thể là một hay một nhóm nhà nho nghịch ngợm nào đó. Họ làm thơ để cợt nhã, nhưng, dưới áp lực nặng nề của dư luận thời phong kiến, phải ngụy trang dưới một cái tên bịa là Hồ Xuân Hương. Nhưng Hồ Xuân Hương này lại không dính líu gì đến Hồ Xuân Hương, tác giả của Lưu Hương Ký và là bạn của Tốn Phong.

3. Cả HXH1 và HXH2 chỉ là một. Tuy nhiên, thuộc nhóm này, có hai khuynh hướng khác nhau:

3.1.Chỉ có những bài thơ trong Lưu Hương Ký là thực sự của Hồ Xuân Hương. Còn những bài thơ tương truyền của HXH1, trải qua trên dưới một thế kỷ truyền miệng, đã ít nhiều bị/được dân gian hóa. Giống như ca dao. Điều này giải thích tại sao chúng không còn giống hẳn với phong cách của những bài thơ trong Lưu Hương Ký. (Đó là chưa kể nhiều bài thơ bị gán đại cho Hồ Xuân Hương.)

3.2.Xem tất cả những bài thơ được truyền tụng lâu nay và những bài thơ trong Lưu Hương Ký là của một tác giả. Không chút thắc mắc nào cả. Khuynh hướng này có chút ngây thơ. Nhưng đó là cách dễ dàng nhất. Bởi vậy, có vẻ càng ngày càng có nhiều người chấp nhận.Trong phạm vi một bài viết ngắn để đăng trên blog, tôi không có tham vọng đi sâu vào các vấn đề nêu trên. Vả lại, thành thực mà nói, bản thân tôi cũng còn hết sức phân vân. Tôi biết, trên thế giới, không ít người từng thử nghiệm nhiều phong cách khác nhau. Tuy nhiên, điều ấy chưa từng xảy ra ở Việt Nam, nhất là ở thời Trung Đại, lúc ngay cả ý niệm về cái gọi là phong cách cũng chưa hề xuất hiện. Tất cả những cái gọi là phong cách của các tác giả cổ điển Việt Nam đều có tính chất tự phát. Đã là tự phát thì cũng không thể có vấn đề ngụy trang.

Bởi vậy, ở đây, khi nói đến mối tình giữa Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương, chúng ta tạm giới hạn vào HXH2, tác giả của Lưu Hương Ký (và một số bài thơ vịnh Hạ Long do Hoàng Xuân Hãn sưu tầm được).

Đó là một mối tình có thật chứ không phải là giai thoại. Bằng chứng là một bài thơ có nhan đề “Cảm cựu kiêm trình Cần Chánh học sĩ Nguyễn Hầu”, trong tập Lưu Hương Ký. Bài thơ như sau:

Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung,
Cậy ai tới đấy gửi cho cùng.

Chữ tình chốc đã ba năm vẹn,
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không.

Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,
Phấn son càng tủi phận long đong.

Biết còn mảy chút sương siu mấy
Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong.

Nhan đề bài thơ nghĩa là “Nhớ người cũ – viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn hầu”. Xin lưu ý là, trong nguyên tác, ngay dưới nhan đề là một tiểu chú: “Hầu, Nghi Xuân, Tiên Điền nhân” (Hầu, người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân). Cả hai đều cho thấy cái người được gọi là “Nguyễn hầu” ấy không thể là ai khác ngoài Nguyễn Du. Thứ nhất, trùng họ: họ Nguyễn. Thứ hai, trùng quê quán: Nguyễn Du quê quán ở Tiên Điền, Nghi Xuân. Và thứ ba, trùng chức vụ: tháng 2 năm 1813, lúc đang làm Cai Bạ Quảng Bình, Nguyễn Du được thăng chức Cần chánh điện học sĩ, trước khi được cử làm chánh sứ đi Trung Quốc tuế cống.

Dựa vào nhan đề liên quan đến chức vụ của Nguyễn Du, người ta có thể biết bài thơ được sáng tác vào năm 1813, một năm trước khi Hồ Xuân Hương nhờ Tốn Phong viết lời tựa. Nhưng như vậy, mối tình kéo dài “ba năm vẹn” giữa hai người xảy ra vào lúc nào? Hoàng Xuân Hãn đoán nó phải xảy ra vào khoảng 1792-1795, lúc Nguyễn Du còn khá trẻ, khoảng dưới 30 tuổi. Lý do là, sau đó, nhất là kể từ năm 1802, lúc đã ra làm quan, rất ít khi Nguyễn Du có mặt lâu ở Hà Nội. Hết làm tri huyện Phù Dung lại làm tri phủ Thường Tín, rồi vào Huế, và làm Cai Bạ ở Quảng Bình. Nếu ông đi ra Bắc thì cũng chỉ ở lại một thời gian ngắn. Dù sao, đây cũng chỉ là giả thuyết. Cái gọi là mối tình “ba năm” ấy không nhất thiết là gần gũi trọn vẹn ba năm. Ở xa, nhưng thỉnh thoảng gặp nhau, cũng là tình yêu chứ?

Bài thơ trên là một trong những bài thơ hay nhất trong tập Lưu Hương Ký. Hay và cảm động. Nó cho thấy, dù có chút chua chát, Hồ Xuân Hương vẫn còn yêu Nguyễn Du. Và vẫn còn băn khoăn không biết Nguyễn Du có còn nhớ thương mình? Đó là ý nghĩa của chữ “sương siu” ở câu thứ 7, theo Hoàng Xuân Hãn, có nghĩa là bịn rịn.

Không hiểu sao, khi đọc bài thơ trên, tôi cứ ao ước HXH1 và HXH2 là một người. Chỉ là một người.

Cứ tưởng tượng “bà Chúa thơ Nôm” và “ông hoàng” của thơ ca Việt Nam là tình nhân của nhau?

Thì thú vị biết chừng nào.

***

Chú thích:

Tài liệu về Hồ Xuân Hương khá nhiều. Ở đây, tôi sử dụng ba cuốn chính:
Thơ Hồ Xuân Hương
của Nguyễn Lộc, nxb Văn Học, Hà Nội, 1982.
Thiên tình sử Hồ Xuân Hương
của Hoàng Xuân Hãn, nxb Văn Học, Hà Nội, 1995.
Hồ Xuân Hương, tiểu sử văn bản: Tiến trình huyền thoại dân gian hóa
của Đào Thái Tôn, nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 1999.

Nguồn: VOA Tiếng Việt (theo blog TS. Nguyễn Hưng Quốc)

Tết, đọc lại thơ Nguyễn Du

Nguyễn Hưng Quốc

Tết, buồn, tôi đọc lại một số tập thơ cổ, trong đó có thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Càng buồn.

Thơ chữ Hán của Nguyễn Du (1766-1820) còn lại khá nhiều, khoảng 249 bài, tập hợp trong ba tập: Thanh Hiên tiền hậu tập (sáng tác từ năm 1786 đến 1804), Nam trung tạp ngâm (từ 1805 đến 1812) và Bắc hành tạp lục (sáng tác nhân chuyến đi sứ sang Trung Quốc – 1813). Có thể xem đây là những tập nhật ký của Nguyễn Du từ lúc 21 tuổi đến năm 49 tuổi, 5 năm trước khi qua đời. Đó là nơi Nguyễn Du kể lể về cuộc đời mình và bộc bạch tâm sự của mình một cách trực tiếp, chứ không phải qua trung gian của một câu chuyện dịch từ tiếng Tàu như Truyện Kiều. Điểm nổi bật nhất, toát lên từ cả ba tập thơ, có lẽ là một tâm trạng: buồn rầu.

Buồn nhất là vì nghèo.

Xin lưu ý là Nguyễn Du sinh ra trong một gia đình quý tộc, có thể gọi là đại quý tộc. Cha Nguyễn Du, ông Nguyễn Nghiễm (1708-1776), đỗ Tiến sĩ, có thời gian làm tham tụng, tức tể tướng, dưới quyền Chúa Trịnh. Anh cả, cùng cha khác mẹ của ông, Nguyễn Khản (1734-1786), cũng đỗ Tiến sĩ và cũng có thời gian làm tể tướng. Ca dao thời ấy có câu: “Bao giờ Ngàn Hống hết cây / Sông Rum hết nước, họ này hết quan.”

Có điều, khi Nguyễn Du lớn lên, tất cả những điều đó chỉ còn là những vang bóng một thời. Khi Nguyễn Du được 10 tuổi, cha mất; 20 tuổi, anh cả mất. Gia sản còn lại cho Nguyễn Du chắc chắn không nhiều, nếu không muốn nói là không có gì cả. Nguyễn Nghiễm có đến 8 vợ và 21 người con; mẹ của Nguyễn Du lại là vợ lẽ, lúc Nguyễn Nghiễm đã 48 tuổi (còn bà thì khoảng 16). Sau khi ông chết, phần lớn các bà vợ đều về nhà riêng. Mẹ của Nguyễn Du chỉ là con của một vị quan nhỏ, làm chức câu kế. Hơn nữa, bà cũng mất sớm, 3 năm sau chồng, lúc Nguyễn Du mới 13 tuổi. Sau đó, Nguyễn Du sống với Nguyễn Khản, lớn hơn ông 31 tuổi. Nguyễn Khản giàu có, tài hoa và cũng cực kỳ hào hoa. Nhưng quan lộ của Khản cũng rất lận đận, có lúc lên tột đỉnh vinh quang nhưng cũng có lúc bị giam cầm hoặc trốn tránh đây đó. Vả lại, ông cũng mất khi Nguyễn Du còn khá trẻ, lúc mới 20 tuổi, chỉ có một mảnh bằng nho nhỏ: tam trường (tức chưa phải Cử nhân) và phải chấp nhận làm một quan võ cấp thấp thay thế cho ông bố nuôi, người họ Hà.

Đến năm 1786, lúc Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc Hà và đánh tan chúa Trịnh thì toàn bộ những vinh hoa của dòng họ Nguyễn đều tan thành mây khói. Ngay cả dinh cơ của họ Nguyễn ở Nghi Xuân bị cũng phá sạch. Nguyễn Du dẫn vợ con về quê bà vợ cả ở Thái Bình sống qua ngày. Đó cũng là thời gian ông sáng tác tập Thanh Hiên tiền hậu tập.

Ba hình ảnh xuất hiện nhiều nhất trong tập thơ này là: bệnh, đói và đầu bạc. Nên nhớ lúc này Nguyễn Du chỉ mới trên dưới 30 tuổi. Mà tóc đã bạc trắng (Trong tổng số 65 bài của tập thơ, có 17 bài nhắc đến hình ảnh bạch phát hay bạch đầu): “Bạch đầu đa hận tuế thời thiên” (Đầu bạc thường bực vì ngày tháng trôi mau); hay “Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên” (Tráng sĩ đầu bạc bùi ngùi ngẩng lên trời) hay “Bạch phát hùng tâm không đốt ta” (Tóc bạc rồi, dù có hùng tâm, cũng chỉ biết ngồi suông than thở).

Không biết ông bệnh gì, nhưng lúc nào cũng than bệnh: “Nhất nhất xuân hàn cựu bệnh đa” (Một nhà xuân lạnh, bệnh cũ lại nhiều); “Tam xuân tích bệnh bần vô dược” (Ba tháng xuân ốm liên miên, nghèo không có thuốc); “Cùng niên ngọa bệnh Tuế giang tân” (Suốt năm đau ốm nằm ở bến Tuế giang); “Đa bệnh đa sầu khí bất thư” (Lắm bệnh, hay buồn, tâm thần không được thư thái); “Thập niên túc tật vô nhân vấn” (Bệnh cũ mười năm, không ai thăm hỏi); “Giang hồ bệnh đáo kinh thời cửu” (Bệnh đến trong bước giang hồ đã lâu ngày).

Đã bệnh lại còn nghèo. Phải ở nhờ nhà người khác: “Tiêu tiêu bạch phát ký nhân gia” (Đầu bạc bơ phờ ở nhờ nhà người). Hết nhờ người này sang nhờ người khác: “Lữ thực giang tân hựu hải tân” (Hết ăn nhờ ở miền sông lại đến miền biển). Lúc nào trong túi cũng rỗng không: “Giang nam giang bắc nhất nang không” (Một chiếc túi rỗng không, đi hết phía nam sông lại sang phía bắc sông). Thiếu mặc: “Tảo hàn dĩ giác vô y khổ” (Mới rét mà đã thấy khổ vì không áo). Có khi đói: “Táo đầu chung nhật vô yên hỏa” (Suốt ngày bếp không đỏ lửa). Ngay cả khi Nguyễn Du đã ra làm quan dưới triều Gia Long rồi, có năm vợ con vẫn đói: “Thập khẩu hài nhi thái sắc đồng” (Nhà mười miệng trẻ đói xanh như rau); “Thập khẩu đề cơ Hoành Lĩnh bắc” (Nhà mười miệng ăn đang kêu đói ở phía bắc Hoành sơn). Mười đứa trẻ ở đây chính là con của Nguyễn Du. (Gia phả ghi Nguyễn Du có 3 vợ: bà vợ đầu sinh một con trai tên Nguyễn Tứ; bà vợ thứ hai cũng sinh một con trai tên Nguyễn Ngũ; bà vợ thứ ba sinh mười con trai và sáu con gái; tổng cộng, như vậy, ông có 18 người con. Tuy nhiên, căn cứ vào tên người con đầu, Nguyễn Tứ, chúng ta có thể đoán là ông có ba người con khác, anh hay chị của Nguyễn Tứ, có lẽ đã chết lúc còn nhỏ hoặc ngay trong bào thai.) Đói đến độ có lúc phải xin ăn: “Cơ hàn bất giác thụ nhân liên” (Đâu ngờ phải đói rét để cho người thương).

Nhưng buồn nhất có lẽ là cảm giác bất lực và bế tắc, trong đó có chuyện bất lực và bế tắc về văn chương.

Một điều chắc chắn là ngay từ trẻ, Nguyễn Du đã mê văn chương và biết mình có tài về văn chương, như có lần, nhân dịp ghé thăm ngôi nhà cũ của Liễu Tông Nguyên (nhà thơ đời Đường, 773-819), trong chuyến đi sứ sang Trung Hoa, ông đã tự nhận: “Tráng niên ngã diệc vi tài giả” (Thời trẻ, ta cũng là kẻ có tài năng). Cả đời, ông mê đọc sách. Thuở hàn vi, suốt 10 năm sống nhờ nhà người khác, hầu như lúc nào cũng đối diện với nguy cơ đói ăn và thiếu mặc, vậy mà nhà ông lúc nào cũng đầy sách: “Tứ bích đồ thư bất yếm đa” (Sách vở đầy bốn vách, bao nhiêu cũng không vừa); “Cơ thử duyên sàng khiết ngã thư” (Chuột đói leo giường gặm sách vở của ta). Bệnh, ông nằm với sách: “Chẩm bạn thúc thư phù bệnh cốt” (Cạnh gối có chồng sách đỡ tấm thân bệnh tật). Sau này, năm 1813, ông được vua Gia Long cử làm chánh sứ sang Trung Hoa. Con đường đi sứ từ Huế đến Yên Kinh dài dằng dặc, băng qua những Quảng Tây, Hồ Nam, Giang Nam, Hồ Bắc, An Huy, Hoài Nam, Sơn Đông; trên đường về, lại băng qua Hà Bắc, Sơn Tây, Hà Nam, trước khi nhập lại con đường cũ, qua Hán Dương, Nhạc Dương, Hành Dương, Quế Lâm, v.v… Suốt cuộc hành trình dài đằng đẵng ấy, lúc thì đi bộ, lúc thì đi ngựa, lúc thì đi thuyền, phần lớn thời gian Nguyễn Du dành cho việc đọc sách: “Khách lộ trần ai bán độc thư” (Thì giờ trên đường gió bụi, một nửa là đọc sách).

Mê sách và mê văn chương như thế, nhưng hầu như lúc nào Nguyễn Du cũng ngậm ngùi khi nói đến văn chương. Ông không tin văn chương là đầu mối của bất hạnh (“Vị hữu văn chương sinh nghiệp chướng” – Chưa từng có chuyện văn chương sinh ra nghiệp chướng). Nhưng ông cũng thừa biết văn chương không giúp được gì trong việc giải quyết các bế tắc trong cuộc sống thường nhật, nhất là lúc đất nước nhiễu nhương, hết chiến tranh giữa Tây Sơn và chúa Trịnh thì đến chiến tranh giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh. Lúc ở ẩn và chịu nghèo đói ở quê vợ, ông nhận ra một sự thật bẽ bàng: “Thư kiếm vô thành sinh kế xúc” (Nghề văn nghề võ đều không thành, sinh kế quẫn bách), “Nhất sinh từ phú tri vô ích / Mãn giá cầm thư đồ tự ngu” (Một đời chuyên về từ phú biết là vô ích / Sách đàn đầy giá, chỉ mình làm ngu mình). Có lúc, nhìn tóc bạc trắng và ngửa mặt lên trời, ông tự hỏi: “Văn tự hà tằng vi ngã dụng” (Văn tự nào đã dùng được việc gì cho ta). Sau, khi ra làm quan với Gia Long, ông được thăng cấp rất nhanh: thoạt đầu (1802) làm tri huyện; mấy tháng sau, đã được thăng lên làm tri phủ; ba năm sau, được thăng Đông Các Đại Học Sĩ; mấy năm sau, làm Cai Bạ, rồi được cử làm Chánh sứ sang Trung Hoa; về, được thăng Hữu Tham tri Bộ Lễ, hàm Tam phẩm. Có thể nói quan lộ của Nguyễn Du rất hanh thông. Nhưng ông vẫn buồn. Thấy cảm hứng văn chương càng ngày càng leo lắt. Trên đường đi sứ, ông than thở: “Lão khứ văn chương diệc tị nhân” (Già rồi, văn chương cũng xa lánh người); rồi lại than thở: “Văn chương tàn tức nhược như tơ” (Hơi tàn, văn chương mảnh như sợi tơ).

Buồn, ông quay sang đọc kinh Phật: “Ngã độc Kim cương thiên biến linh / Kỳ trung áo chỉ đa bất minh” (Ta đọc kinh Kim cương hàng nghìn lượt, những ý nghĩa gọi là sâu xa trong đó phần nhiều không rõ ràng).

Không biết việc đọc kinh Phật có làm ông nguôi ngoai hay không. Nhưng đọc thơ chữ Hán của ông, từ lúc trẻ đến lúc già, hết tập này đến tập khác, lúc nào cũng thấy một tâm trạng hiu hắt.

Bởi vậy, ông mới phân trần:

Tri giao quái ngã sầu đa mộng
Thiên hạ hà nhân bất mộng trung?
(Bạn thường trách bảo hay sầu mộng,
Thiên hạ ai người thực tỉnh không?)

(Phạm Khắc Khoan và Lê Thước dịch)

Đọc Nguyễn Du, nhớ Nguyễn Khuyến

Nguyễn Hưng Quốc

Đọc thơ chữ Hán của Nguyễn Du, thấy tâm trạng buồn rầu và cảm giác bế tắc của ông khi nghĩ về chuyện văn chương, tự dưng tôi nhớ đến Nguyễn Khuyến.

Nguyễn Khuyến (1835-1909) ra đời sau khi Nguyễn Du đã mất được 15 năm. Cả hai đều trải qua những thời loạn lạc: với Nguyễn Du, loạn lạc xảy ra lúc còn trẻ; với Nguyễn Khuyến, lúc đã về già. Mức độ của cái gọi là loạn lạc ấy cũng khác: thời Nguyễn Du, đất nước thay chủ, từ Lê-Trịnh sang Nguyễn Tây Sơn và cuối cùng, Nguyễn Gia Miêu (quê gốc của các chúa và sau đó, của các vua Nguyễn, thuộc Tống Sơn, Thanh Hóa); thời Nguyễn Khuyến, không phải là chuyện thay đổi triều đại, mà là chuyện đánh mất chủ quyền: cả nước lọt vào tay thực dân Pháp. Cuối cùng, phạm vi của khái niệm loạn lạc cũng khác: thời Nguyễn Du, chỉ là loạn lạc về chính trị và xã hội; thời Nguyễn Khuyến, loạn lạc một cách toàn diện: không những chỉ trong lãnh vực chính trị hay xã hội mà còn cả trong lãnh vực văn hóa với sự thất thế của chữ Hán và sự lên ngôi của chữ quốc ngữ, từ đó, sự thay đổi trong hệ thống học đường và khoa cử, sự đảo lộn trong bảng giá trị đạo đức cũng như thẩm mỹ.

Cả hai, lúc còn trẻ, chắc chắn có rất nhiều tham vọng. Nguyễn Du thì sinh ra trong gia đình thế gia vọng tộc, lại nổi tiếng tài hoa về văn chương. Nguyễn Khuyến xuất thân trong một gia đình khiêm tốn hơn: cha chỉ đỗ tú tài, làm nghề dạy học và khá nghèo. Nhưng về khoa cử, ông lại hơn hẳn Nguyễn Du: Trong khi Nguyễn Du chỉ đỗ tam trường (tú tài), Nguyễn Khuyến lại thi đỗ cả ba kỳ thi Hương (1864), thi Hội (1871) và thi Đình (1871); hơn nữa, ở cả ba cuộc thi, ông đều đỗ đầu; nổi tiếng cả nước với danh hiệu “Tam nguyên Yên Đổ”. Đó là điều Nguyễn Khuyến rất tự hào. Trong bài “Di chúc”, có đoạn ông viết:

… Đức thầy đã mỏng mòng mong
Tuổi thầy lại sống hơn ông cụ thầy.
Học chẳng có rằng hay chi cả;
Cưỡi đầu người kể đã ba phen….

Mà tự hào kể cũng phải. Nên nhớ trong cả lịch sử khoa cử bằng chữ Hán tại Việt Nam, kể từ khoa thi đầu tiên vào năm 1075 đến khoa thi cuối cùng vào năm 1918, tức hơn 800 năm, chỉ có cả thảy năm người đoạt được danh hiệu “tam nguyên” như thế: Đào Sư Tích (đời Trần), Lê Quý Đôn (1726-1784), Trần Bích San (1838-1877), Nguyễn Khuyến và Vũ Phạm Hàm (1864-1910).

Nhờ đỗ đạt cao, con đường làm quan của Nguyễn Khuyến khá thuận lợi, ít nhất là ở giai đoạn đầu. Hai năm sau khi đỗ khoa thi Hội và thi Đình, ông được bổ làm Đốc học ở Thanh Hóa; năm sau, làm Án sát Nghệ An, rồi mấy năm sau, được thăng làm Bố Chánh tỉnh Quảng Ngãi. Tuy nhiên, sau đó, hoạn lộ của ông bắt đầu bị trắc trở. Năm 1879, vì chuyện gì đó, ông bị đàn hặc và bị điều về Huế, làm Toản tu Quốc tử giám, không còn quyền lực gì cả. Năm năm sau, ông cáo quan, lúc mới 50 tuổi ta. Tổng cộng ông làm quan chỉ được 11 năm.

Có cảm tưởng phần lớn những bài thơ còn lại đến bây giờ của Nguyễn Khuyến đều được sáng tác sau khi ông về hưu. Khung cảnh là khung cảnh làng quê. Một số nhân vật xuất hiện trong thơ ông cũng là những người dân dã. Tâm trạng là tâm trạng của một người đứng ngoài công danh. Tuy nhiên, chính ở đây, chúng ta thấy có sự khác biệt sâu sắc giữa Nguyễn Du và Nguyễn Khuyến. Nguyễn Du hầu như lúc nào cũng phấp phỏng lo sợ, lúc nào cũng cô đơn và cô độc, lúc nào cũng thu mình lại, kín kẽ, giữ gìn, thậm chí có lúc phải đóng kịch: “Dị hương dưỡng chuyết sơ phòng tục / Loạn thế toàn sinh cửu úy nhân” (Ở đất khách, giả vụng về để phòng thói tục; gặp đời loạn vì muốn giữ thân nên luôn sợ người ta). Nguyễn Khuyến thì khác. Ông sống chan hòa với mọi người. Ông xem những người dân quê chung quanh như là bạn bè: “Chú Đáo làng bên lên với tớ / Ông Từ xóm chợ lại cùng ta.” Điểm chung giữa Nguyễn Du và Nguyễn Khuyến là tâm trạng của họ khi nói đến chuyện văn chương: Nhìn đâu cả hai cũng đều thấy bế tắc.

Nguyễn Khuyến xem thời mình sống là một thời “mạt học”: “Mạt học văn chương nhập hạ tằng” (Văn chương trong buổi học vấn suy tàn, đã rơi xuống bậc dưới). Rơi xuống bậc dưới là bậc gì? Nó chỉ trên bậc ăn mày một chút: “Hạnh nhân nho đẳng vi tiên cái” (Cũng may nhà nho còn được xếp trên hạng ăn mày). Thì cũng chẳng có gì lạ. Ngày xưa, ngay một nhà thơ lớn như Đào Tiềm cũng từng có lúc làm thơ xin ăn cơ mà: “Cổ nhân khất thực dĩ thành thi” Người xưa từng đã có thơ “xin ăn”). Biết thế, nhưng Nguyễn Khuyến không thể không trằn trọc tự hỏi: “Sách vở ích gì cho buổi ấy?” và có lúc ứa nước mắt: “Bút nghiễn trầm tư ưng hữu lệ” (Ngẫm nghĩ đến bút nghiên đáng tràn nước mắt).

Bây giờ chúng ta quen nhìn Nguyễn Khuyến như một trong những nhà thơ cổ điển lớn nhất của Việt Nam. Nhưng thuở sinh thời, không chắc Nguyễn Khuyến đã có được mấy tri kỷ. Không đăng trên báo và cũng không in thành sách, thơ ông chủ yếu được truyền tụng trong bạn bè và một số người quen. Nhiều lần, ông nói là ông không cần có nhiều người đọc: “Tạp cú bất tu nhân cộng hưởng” (Câu thơ vặt không cần mọi người thưởng thức) hoặc “Phóng ngâm hà tất vạn nhân truyền” (Thơ ngâm tràn, cần gì phải vạn người truyền tụng). Nhưng có nhắc đến là có ảm ảnh. Mà ám ảnh ấy chắc chắn là buồn.

Một điểm đáng chú ý là khi nhắc đến thơ, ít khi Nguyễn Khuyến nhắc đến đơn vị bài. Mà chỉ dừng lại ở đơn vị câu.

Lúc hứng uống thêm dăm chén rượu
Khi buồn ngâm láo một câu thơ.

(Đại lão)

Rượu ngon nhắp giọng đưa vài chén
Bút mới xô tay thử một hàng.

(Khai bút)

Câu thơ nghĩ, đắn đo không viết
Viết đưa ai, ai biết mà đưa?

(Khóc Dương Khuê)

Ngoài những câu quen thuộc ở trên, Nguyễn Khuyến còn có câu thơ này tôi rất thích và cứ đọc đi đọc lại hoài trong đêm giao thừa vừa qua:

Trầm ngâm tọa đối hàn đăng chước
Nhất cú liên niên, hứng vị cùng.

(Ngồi lặng lẽ dưới bóng đèn, rót rượu uống
Ngâm một câu thơ kéo dài hai năm liền, hứng vẫn chưa cạn).

Ngâm thơ, ở ngay thời điểm giao thừa, từ phút trước sang phút sau đã là hai năm. Hình ảnh thật đẹp.

Một điểm nữa cũng cần lưu ý: Trước hình ảnh “ông đồ” trong thơ của Vũ Đình Liên, Nguyễn Khuyến đã từng là người viết thuê câu đối để sống trong những ngày tết. Chắc chắn là ông viết rất nhiều. Bây giờ chỉ còn lại vài chục câu. Câu nào cũng hay. Với chúng, Nguyễn Khuyến được giới phê bình và nghiên cứu xem là người viết câu đối nhiều, mẫn tiệp, và thú vị nhất trong lịch sử văn học cổ điển Việt Nam, một lịch sử, ở đó, hầu như bất cứ người đi học nào cũng phải viết câu đối.

Trong bài thơ “Đối trướng phát khách” (Bán hàng đối trướng), Nguyễn Khuyến kể về việc bán câu đối của mình như sau:

Sinh thục văn tự cách
Tân xuân hựu phát khách.
Nhất nguyên chí thập nguyên
Đa thiểu giá bình địch
Hữu khách lai mãi chi
Chỉ dĩ can lang bách
Ngã văn tuy bất giai
Khởi bất xứng tam mạch
Khách mãi giá hà liêm
Bất xứng ngã bất dịch
Trì lang khách thả quy
Bất thụ ngã bất thích
Khách khứ độc tư ta
Văn tự hà nhất ách.

(Một lối văn tự dở sống dở chín
Cứ đến năm mới lại đem ra bán.
Từ một đồng đến mười đồng,
Nhiều ít giá phải chăng.
Có một người khách đến mua,
Chỉ đưa có một trăm miếng cau khô.
Văn ta tuy chẳng hay
Há không đáng ba tiền?
Khách sao mua rẻ thế?
Không đáng giá thì ta không bán.
Thôi khách hãy mang cau về.
Không đắt hàng ta cũng không ngại!
Khách đi rồi ta than thở một mình:
“Văn tự mà cũng gặp khó khan đến thế!”)

Đọc bài thơ trên, không thể không nhớ đến Tản Đà (1888-1939). Là một nhà thơ nổi tiếng và tài hoa nhất của Việt Nam trong suốt mấy thập niên đầu của thế kỷ 20, kể từ sau cái chết của Tú Xương (1907) và Nguyễn Khuyến (1909) đến lúc phong trào Thơ Mới ra đời (1932), có lúc, do túng quẫn, Tản Đà phải sống bằng nghề bói toán. Lời quảng cáo đăng báo cũng là một bài thơ:

Còn như đặt quẻ
Nhiều năm (5 đồng) ít có ba (3 đồng)
Nhiều ít tuỳ ở khách
Hậu bạc kể chi mà.

Từ Nguyễn Khuyến đến Tản Đà, ngoài những thay đổi về văn hóa, bao gồm cả văn tự, khoa cử, ý thức hệ và cách sống, còn có hai thay đổi lớn khác ít được nhắc đến: xu hướng chuyên nghiệp hóa và thương mại hóa văn chương.

Khi nào có hứng sẽ bàn tiếp chuyện ấy.

Nguồn: VOA Tiếng Việt (theo blog TS. Nguyễn Hưng Quốc)


Khóc Tố Như.

Huy Việt

Các bạn trẻ giờ không thích truyện Kiều, rằng: “Truyện Kiều hay ở chỗ nào, Nguyễn Du giỏi ở chỗ nào, chẳng qua là tả một con đĩ tàu lại dựa vào cốt truyện có sẵn. Vậy mà mọi người hết lời ca ngợi lại còn tôn vinh danh nhân văn hóa thế giới nữa chứ. Danh nhân văn hóa của các nước có nhiều tác phẩm để đời về văn hóa nước họ và giới thiệu văn hóa nước họ ra thế giới”. Kể ra điều đó không phải không có lý, ngay như Nguyễn Công Trứ cũng đã viết:

“Từ Mã Giám Sinh cho đến chàng Từ Hải.
Cánh hoa tàn đem bán lại chốn thanh lâu.
Bấy giờ Kiều còn hiếu vào đâu.
Mà bướm chán ong chường cho đến thế.
Bạc mệnh chẳng lầm người tiết nghĩa.
Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm.
Bán mình trong bấy nhiêu năm.
Đố đem chữ hiếu mà lầm được ai”
.
(Vịnh Thúy Kiều).

Vậy thì nên đọc Truyện Kiều sao đây?

Nguyễn Du có nhiều tác phẩm thơ văn khác nhau. Thế nhưng nói đến Nguyễn Du danh nhân phải là Nguyễn Du của Truyện Kiều. Bởi Truyện Kiều là một tác phẩm gắn liền với dân tộc Việt Nam, như thịt với xương. Ít có tác phẩm nào mà theo thời gian vẫn được yêu chuộng như Truyện Kiều. Truyện Kiều là tác phẩm “kinh điển”, khẳng định sức mạnh ngôn ngữ và văn hóa dân tộc. Truyện Kiều đã là một bài ca tình yêu và là một cuốn sách Đời, hoà trong đời sống của toàn dân tộc. Ngoài nội dung phong phú và sâu sắc, Truyện Kiều còn là một tác phẩm chứa đựng tinh hoa của ngôn ngữ dân tộc. Ở đó Nguyễn Du đã “mượn” ngôn ngữ bình dân “làm nền” cho ngôn ngữ bác học, lột tả “thượng tầng kiến trúc” xã hội. Học giả Phạm Quỳnh đã nói như chân lý: “Truyện Kiều còn thì tiếng ta còn, mà tiếng ta còn thì nước ta còn”. Tức là vận mệnh đất nước gắn liền với Truyện Kiều, là bảo vật, là linh hồn của cả dân tộc. Thậm chí trong dân gian còn dùng Truyện Kiều làm sách bói thì chứng tỏ như nó đã ăn sâu thành tập quán trong nhận thức của xã hội.
Kiều, một người con gái đẹp người “làn thu thủy nét xuân sơn”, đẹp nết “thông minh vốn sẵn tính trời, pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm”; xuất thân trong gia đình “thường thường bậc trung” có Vương Quan “nối giòng nho gia”. Kiều “hứa hôn” với Kim Trọng, một chàng trai “vốn nhà trâm anh”,“văn chương nết đất thông minh tính trời. Thiên tư tài mạo tót vời, vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”.
Do sự “búa xua” của thời cuộc, Kiều phải “bán mình chuộc cha”.
Trong lầu xanh Kiều đã gặp Thúc Sinh “cũng nòi thư hương” và “trước còn trăng gió sau ra đá vàng”. Vợ Thúc “Vốn dòng họ Hoạn danh gia, con quan lại bộ, tên là Hoạn Thư”, “Ở ăn thì nết cũng hay, nói điều ràng buộc thì tay chẳng vừa” và cái gì đến cũng phải đến, Kiều bị hành hạ bởi “thói đánh ghen”, để rồi kinh hãi thốt lên “Đàn bà thế ấy thấy âu một người, Ấy mới gan, ấy mới tài, Nghĩ càng thêm nỗi sởn gai rụng rời”.
Thoát Hoạn Thư Kiều lại rơi vào chốn lầu xanh lần nữa, ở đây nàng đã gặp “khách biên đình” Từ Hải, văn võ toàn tài “Một tay xây dựng cơ đồ, bấy lâu bể Sở sông Ngô tung hoành”“đống xương vô định đã cao bằng đầu”. Từ Hải đã nghe lời Kiều để “bó thân về với triều đình”, để rồi “chết đứng trời trồng”. Hết nạn binh đao, “hại một người, cứu muôn người”.
Cuối cùng, sau mười lăm năm lưu lạc, Kiều và Kim Trọng tái hợp.

Nếu Kiều không đơn giản chỉ là Kiều thôi, mà là “con đỏ”nước Việt thì sao nhỉ? Rồi Kim Trọng, Thúc Sinh, Từ Hải không phải là các nhân vật ấy nữa mà là các thế lực cầm quyền, các thế lực “xưng hùng, xưng bá” trong “thời nội chiến” kéo dài 32 năm thời bấy giờ thì mọi chuyện sẽ khác.
Lúc đầu cụ Nguyễn mô tả xuất xứ của Kiều “Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung…Vương quan là chữ nối dòng nho gia”,
Cái “cơ đồ” của “con đỏ” nước Việt cũng không tồi đấy chứ, nói như Nguyễn Trãi “vốn xưng nền văn hiến đã lâu”. Kiều “hứa hôn” với Kim Trọng cũng chỉ là “con đỏ” đi với nhà cầm quyền, như nhà Lê và nhà Nguyễn.
Các thế lực “vu oan giá họa” (sai nha) có thể là “nội tình” chúa Trịnh đàng ngoài và Trương Phúc Loan đàng trong. Nếu không thì làm sao “cấu thành” nội chiến. Cần phải nói rằng Trịnh – Nguyễn phân tranh nhưng Nguyễn chính danh, còn Trịnh thì không. Bởi khi Nhà Mạc soán ngôi Nhà Lê thì Nguyễn Kim đã phục hồi Nhà Lê, chỉ khi Nguyễn Kim mất thì con rể Trịnh Kiểm đã sát hại con cả của Nguyễn Kim, “đẩy” Nguyễn Hoàng ra rồi “rảnh tay” xây dựng ngôi chúa. Việc Nguyễn Hoàng xây cơ ngơi của chúa Nguyễn có thể chấp nhận được ít ra là dưới con mắt các nhà nho bấy giờ.
Kiều đi với Thúc Sinh “cũng nòi thư hương” thấp thoáng bóng dáng “Cống Chỉnh” (Nguyễn Hữu Chỉnh), cuộc “hôn phối” này cũng lãng mạn đấy chứ. Cũng như Thúc Sinh, “Cống Chỉnh” cũng là “người tử tế”, chỉ nỗi ghen tuông của Hoạn Thư đã đày đọa Kiều, giết chết tình yêu của Kiều, cũng như Công Chỉnh bị giết vì tài ba đến mức “phát ghen’ sợ mất ngôi nen vu cho “âm mưu làm phản”.
Kiều đi với Từ Hải, là “con đỏ” đi với Quang Trung. Nguyễn Du nói về Từ Hải ở hai khía cạnh khác nhau: tài thì đứng đầu nhưng danh thì không chính, nếu như không muốn nói là giặc cỏ, là giang hồ. Điều này không sai và trùng với ý bác Hồ khi “Nguyễn Huệ là kẻ phi thường”. Phi thường nhưng lại là kẻ. “Kẻ” ở đây là đại từ vô nhân xưng, có thể hiểu là không chính danh. Cuối cùng “con đỏ” vẫn trở về với triều Nguyễn.
Chắc Nguyễn Công Trứ không đồng tình cách ứng xử của Nguyễn Du là trung thần nhà Lê nhưng sau đó lại là đại thần nhà Nguyễn. Ông không chịu được thứ tình cảm mâu thuẫn vừa yêu mến Từ Hải lại vừa nể sợ quan Tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến của Nguyễn Du và nhiều người đương thời. Đặc biệt ông không thể tán thành lối sống của phần lớn nho sĩ cùng thời với ông lăn lóc trong chốn hành lạc mà lại luôn luôn lên mặt đạo đức dạy đời, luôn tỏ ra mình là đấng mô phạm, là quan phụ mẫu bách tính.
Tuy nhiên cụ thượng phê là phê thế thôi chứ cụ sinh sau Nguyễn Du 13 năm, mà thưở trai tráng cụ lại lo “ăn chơi nhảy múa” (theo một nghĩa nào đó –con hát mà). Mãi đến năm 42 tuổi cụ mới đỗ giải nguyên và ra làm quan đúng năm Nguyễn Du qua đời, 18 năm sau nội chiến. Thử hỏi “con đỏ” có con đường nào khác trong thế sự đó, họ phải chấp nhận không nhà cầm quyền này thì nhà cầm quyền khác. Vả lại trong lịch sử vẫn luôn tồn tại cuộc “hôn phối” giữa “con đỏ” với các nhà cầm quyền, nếu không thì cũng là “tỳ thiếp”, “con sen” của họ. Nguyễn Du nói về “con đĩ Kiều” nhưng lại không hề “chê bai” hay “mạt sát” mà ngược lại chia sẻ và đầy thông cảm “rằng tài nên trọng mà tình nên thương” . Kiều bán mình để chuộc cha hay kẻ sĩ hy sinh cuộc sống để giữ lấy đạo nhà. Kiều làm đĩ là “bất khả kháng, chính vậy mà cụ Nguyễn phải thốt lên “chữ trinh kia cũng có ba bảy đường”. Đau lắm chứ, không đau sao được khi mà một “kiều nhi” đẹp người, đẹp nết, tài hoa, ngây thơ, trong trắng bị rơi vào hố “bùn nhơ”. Nhiều lần muốn quyên sinh cũng nào có được. Chẳng khác nào kẻ sĩ phải đánh đu với thời cuộc, đánh đĩ với quyền lực. Cái đau của kẻ bất lực trước nàng Kiều đáng thương. Nhưng nhờ hy sinh cuộc sống để giữ đạo nhà, cho nên kẻ sỹ vẫn giữ dược nhân phẩm, lại được qua “cuộc bể dâu” nên vẫn còn đó “quả mai ba bảy đương vừa”. Nhức nhối thế sự lắm Nguyễn Du mới thốt lên: “Không biết ba trăm năm lẻ nữa/ Người đời ai khóc Tố Như chăng”.
Vậy cớ sao cụ lại tả “con đĩ tàu”? Tả ai có quan trọng gì đâu, thông điệp gửi đến người đọc mới là quyết định, mà điều này thì cụ đã làm được. Nếu không vậy liệu cụ có “tồn tại” được không giữa triều đình còn đầy nghi kỵ với một ông vua “độc tài” và “cay nghiệt” Gia Long và như vậy làm sao có Truyện Kiều. Cụ ra làm quan với Nhà Nguyễn để thể hiện cái tâm, đem chút cái năng lực của “quả mai ba bảy” để giúp dân, phụng sự đất nước, để rồi “tự chết” mà không chịu uống thuốc.
Thử hỏi rằng hà cớ gì một tác phẩm có tính nghệ thuật cao vời vời như thế, lột tả “thượng tầng kiến trúc” (tư tưởng) của một giai đoạn lịch sử của xã hội “nham nhở, chông gai” với tất cả tính “nhân văn” cao nhất có thể được mà tác giả của nó lại không xứng tầm danh nhân thế giới kia chứ?

Khóc Tố Như đồng nghĩa với hiểu Tố Như, có hiểu nỗi đau cụ phải chịu đựng thì mới khóc cụ, khóc cụ tức là cùng khóc với cụ, chia sẻ với cụ. Xin được khóc Tố Như.

Nguồn: Blog Huy Việt – Tiếng vọng thời gian

Trở về trang chính

Xem tiếp tư liệu ở trang con (dưới đây)