Trang chính‎ > ‎Thung dung‎ > ‎

Núi Chứa Chan





Không biết khi nào mới CHÁN CHƯA
CHỨA CHAN như núi thẳm sương mờ
CHAN CHỨA niềm yêu, CHAN CHỨA sống
Tình trong như ngọc, chảy như sông

Hoàng Kim


Núi Chứa Chan trong nắng sớm  (Ảnh: TB chụp lúc 06g23 http://www.vnphoto.net).

Xem thêm:


Núi Chứa Chan: Điểm du lịch lý tưởng ở Đồng Nai

Trên tuyến đường vào Nam hay ra Bắc, khi qua huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, bất kể ai cũng có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp hùng vĩ, uy nghiêm của núi Chứa Chan, ngọn núi được ví là “nóc nhà” của miền Đông Nam Bộ. Tìm đến với không gian du lịch núi Chứa Chan là chúng ta đang trở về với nơi phong cảnh hữu tình và là điểm đến lý tưởng để sinh hoạt văn hoá truyền thống về nguồn.

Núi Chứa Chan (hay còn gọi là núi Gia Ray hoặc núi Gia Lào) là một thắng cảnh hữu tình của huyện Xuân Lộc. Với độ cao trên 800m, hình dáng hùng vĩ, thế núi cao chót vót, vách đá cheo leo và rừng rậm, với hàng ngàn loại cây và muông thú, có suối chảy quanh năm…Vẻ đẹp của núi được tạo nên bởi sự sáng tạo của thiên nhiên kết hợp với bàn tay tạo dựng khéo léo của con người. Sự hài hoà của danh lam thắng cảnh núi Chứa Chan, đặc biệt là chùa Bửu Quang – tuy không có những nét điêu khắc độc đáo, những kiến trúc tinh xảo nhưng nhìn tổng thể ngôi chùa toát lên vẻ thâm nghiêm kỳ vĩ, một di tích thiên tạo hiếm có ở vùng Đông Nam Bộ.

Núi Chứa Chan là một địa danh với nhiều chứng tích lịch sử đã đi vào ký ức của biết bao thế hệ cư dân như một biểu tượng của quê hương “Miền Đông gian lao mà anh dũng”. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, núi Chứa Chan đã từng là căn cứ của Huyện uỷ và nhiều cơ quan Chính Đảng của huyện Xuân Lộc và lực lượng vũ trang của huyện, tỉnh Biên Hoà (đơn vị Chi bộ 10) và là nơi trú quân của nhiều đơn vị bộ đội chủ lực.

Cây đa 3 gốc trên núi Chứa Chan.


Chùa Chánh Giác hay còn gọi là Mật khu Hầm Hinh là trạm quân lương, kho hậu cần, sở chỉ huy Chi bộ. Năm 1947, trên đường công tác vào Nam, đồng chí Lê Duẩn đã lưu lại căn cứ ở Mật khu Hầm Hinh và nói chuyện với cán bộ trong khu căn cứ về tình hình và nhiệm vụ cách mạng, về đường lối kháng chiến và việc phát động toàn dân đánh giặc. Trong kháng chiến chống giặc, chùa Bửu Quang là trạm giao thông liên mật, nơi đây đã góp một phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất đất nước.

Hằng năm, tại chùa Bửu Quang thường có các lễ hội truyền thống và các hoạt động văn hoá được tổ chức với những lễ chính như: Lễ Thượng nguồn (dịp Rằm tháng Giêng); Lễ Trung ngươn (dịp Rằm tháng Bảy); Lễ Hạ ngươn (dịp rằm tháng Mười)…Vào những dịp lễ, nhân dân địa phương cũng như ở các tỉnh, thành phố lân cận và miền Tây Nam Bộ…đến viếng chùa lễ Phật rất đông.

Cùng với các di tích khác, di tích lịch sử - danh thắng núi Chứa Chan đã bổ sung vào danh mục những thắng cảnh ở Đồng Nai, những địa danh lịch sử quan trọng của chiến trường Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, góp phần làm nên “Hào khí Đồng Nai”.

Hoàng hôn trên núi Chứa Chan

Núi Chứa Chan đã, đang và luôn là điểm du lịch vô cùng lý tưởng, hấp dẫn đối với du khách gần xa, là nơi sinh hoạt truyền thống về nguồn rất có ý nghĩa. Du khách đến núi Chứa Chan sẽ được trở về với sự tĩnh lặng, hữu tình trong lành, mát mẻ của thiên nhiên, được viếng chùa cho lòng thanh thản, bình an, và quan trọng hơn là để hiểu, để tự hào và trân trọng thêm những giá trị truyền thống của nhân dân Miền Đông nói chung và Huyện Xuân Lộc nói riêng.

Hiện núi Chứa Chan là di tích lịch sử mới nhất đã được UBND tỉnh Đồng Nai trao Quyết định về việc xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh, đây hứa hẹn là bước ngoặt để núi Chứa Chan có nhiều điều kiện thuận lợi hơn trong việc phát triển mở rộng và ngày càng thu hút đông đảo khách tham quan du lịch xa gần tìm đến với nơi phong cảnh hữu tình này.

(Theo Báo Đồng Nai)

http://nguoihanoi.com.vn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=11206


Thác Trời và khu du lịch núi Chứa Chan




















Khu du lịch sinh thái Thác Trời cách trung tâm huyện Xuân Lộc 29 km. Nơi đây là một bức tranh hùng vĩ và hoang sơ của núi rừng, nơi con sông La Ngà đổ qua nhiều bậc đá.


Từ thành phố Biên Hòa theo quốc lộ 1 ra Hà Nội gần 80km, du khách sẽ đến với núi Chứa Chan ở thị trấn Gia Ray – huyện Xuân Lộc. Đây là ngọn núi có giá trị lớn về lịch sử cũng như thu hút rất đông đảo khách thập phương đến viếng chùa Bửu Quang trên đỉnh núi.

Sách Đại Nam Nhất Thống Chí viết : “…Núi Chứa Chan có thế núi chót vót, trông xuống khe Da Lao, chỗ giáp giới của hai huyện Long Khánh và Phước Binh có nhiều mây song gỗ lạt, lưng núi có động đá và giếng đá…”.

Núi Chứa Chan cao 837m với Chùa Bửu Quang rất nổi tiếng, vào các dịp lễ, tết số người hành hương về đây lên đến hàng ngàn, tạo bầu không khí náo nhiệt của ngày lễ hội.



Chùa Bửu Quang được xây dựng từ đầu thế kỷ XX, với chánh điện mái vòm, toạ lạc trên một hang đá có dáng Hàm Rồng. Toàn bộ quần thể kiến trúc chùa đều dựa theo những hang động thiên nhiên, tạo nên nét độc đáo giữa chốn thâm nghiêm kỳ vĩ  của núi rừng.

Bên cạnh ngôi chùa nổi tiếng linh thiêng, núi Chứa Chan còn có Suối Tiên trong vắt, nước chảy róc rách quanh năm và cây đa ba gốc thần bí ở lưng chừng núi như minh chứng thêm cho các huyền tích được truyền từ bao đời của vùng sơn cước này. Từ độ cao hơn 600 mét, phóng tầm nhìn ra xa du khách có thể chiêm ngưỡng cảnh quan thiên nhiên hữu tình rộng khắp vùng Đồng Nai, một cảm giác rất thư thái và thỏai mái.

Chùa Bửu Quang trên núi Chứa Chan


http://www.vietbalo.vn/images/huong_dan_du_lich/cdthacmai2nd1.jpg


Núi Chứa Chan ngày nay còn lưu lại nhiều dấu tích hoạt động cách mạng qua hai cuộc kháng chiến của người Đồng Nai, vì đây là căn cứ kháng chiến của Huyện Xuân Lộc và chùa Bửu Hưng từng là căn cứ hậu cần, nơi trú đóng của nhiều cán bộ chiến sĩ cách mạng trong hai cuộc chiến tranh giải phóng.

Hiện nay, UBND huyện Xuân Lộc còn đang tiến hành đầu tư vườn cây ăn trái cạnh Thác Trời với diện tích 50 ha, xây dựng điểm đi thuyền trên sông và một số trò chơi mạo hiểm cùng các dịch vụ khác để phục vụ du khách, hứa hẹn sẽ là một điểm đến rất hấp dẫn với khách du lịch trẻ tuổi.

Vietbalo - Tổng hợp
Ảnh: Internet
http://www.vietbalo.vn/Du-lich-Mien-Nam/Dong-Nai/

Chùa Gia Lào - Núi Chứa Chan

Thứ bảy, 04/04/2009 02:15 am



Nằm án ngữ một bên trên đường Quốc lộ 1 thuộc địa phận huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, núi Chứa Chan nhìn xa giống hình bát úp, trên đỉnh thường xuất hiện mây mù lãng đãng, rất thơ mộng. Núi Chứa Chan có độ cao 837m so với mặt đất và 1.800 so với mặt biển, là một nhánh cuối của dãy Trường Sơn vươn ra biển Đông. Dãy núi tọa lạc sừng sững trên diện tích khoảng 55 hecta tại xã Xuân Trường và cũng là điểm tựa lưng của thị trấn Gia Ray, trung tâm chính huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai


Đến núi Chứa Chan vào ngày đầu xuân (ngày 11 tháng Giêng Âm lịch), nhóm chúng tôi gặp một số trục trặc nhỏ do vấn đề liên lạc (trên núi) khá kém, nhưng đối với tôi vẫn là một chuyến đi thú vị. Sau đây là vài dòng tôi ghi nhận được qua chuyến tham quan này.

Theo một số tài liệu tìm được trước đó, núi Chứa Chan còn nhiều nét hoang sơ chưa có bàn tay con người xâm phạm nhiều. Nhận xét này ít nhiều đúng với núi Chứa Chan (phần núi mà rừng còn phủ xanh) nhưng ko đúng với đoạn núi dẫn lên chùa Gia Lào.

Chùa Gia Lào (hay còn gọi là chùa Bửu Quang) - vốn dĩ là một ngôi chùa linh thiêng ko chỉ đối với người dân bản địa mà còn đối với người phương xa. Họ thường hành hương để đến chùa này để cầu mong những điều tốt đẹp nhất sẽ đến. Chính vì thế, đoạn đường 3,2 km dẫn từ chân núi lên chùa Gia Lào (nằm ở độ cao khoảng 600m) mang nặng màu sắc kinh doanh và mê tín, át hẳn không khí trang nghiêm thường có ở những ngôi chùa linh thiêng và không khí tĩnh lặng của miền núi hoang sơ này.

Đủ mọi loại hình kinh doanh cho du khách đến hành hương. Này thì quán ăn (toàn bán đồ mặn, pà kon nào ăn chay thì chịu khó chuẩn bị trước nha), võng để ngả lưng khi thấm mệt, karaoke... những thứ mà ở chợ người ta thường bán thì trên đoạn đường lên chùa này có đủ cả. Đường đi khá hẹp và nhiều bậc thang nhưng ko khiến chúng tôi mệt bằng việc phải chen chúc giữa dòng người tấp nập đến ngạt thở.

Trên đường lên chùa, có một tạo vật tuyệt vời của tạo hóa ban tặng, đó là cây đa 3 gốc. Đó là 1 cây đa cao khoảng 50m, thân cây được hình thành từ 3 gốc chụm lại - đó là điểm đặc biệt của cây đa này. Thân cây cao và tỏa bóng rộng khiến ai cũng phải trầm trồ ngạc nhiên và thích thú nhưng (hixhix) đã bị người dân "thần thánh hóa" - nói đây là "sơn thần" (hoặc "thần đa") nhập vào cây này và bày ra đủ trò cúng kiếng ở đây. Để thuận tiện cho việc cúng kiếng, người ta đã tiến hành xây gạch bao quanh gốc cây đa. Nhang đèn, bánh trái các loại vung vãi khắp nơi khiến cho khu vực này mất vệ sinh nghiêm trọng.


http://xomnhiepanh.com/uploads/gallery/2008/06/4778_1212952726.jpg
Ảnh: xomnhiepanh.com


Theo một người dân lâu năm ở đây, cây 3 gốc 1 ngọn thực ra là một cây đa sống ký sinh lâu năm trên thân cây đại thụ, hút hết dưỡng chất của cây này mà thành. Nhiều năm qua, lợi dụng sự mê tín thái quá của khách hành hương mà người cò cúng, khấn thuê phịa đủ thứ chuyện quỷ ma hòng lừa mị, bán buôn chặt chém; đêm đêm họ vẽ chuyện cầu số, gọi hồn ỏm tỏi!

Nhưng núi Chứa Chan thì quả là một nơi xứng đáng để nhóm thanh niên trai tráng chúng tôi thử thách chính mình. Từ chùa Gia Lào có những con đường mòn nhỏ để dẫn lên đỉnh núi. Ku Hùng và bạn Thư đã làm 1 chuyến "tiền trạm" lên đỉnh trước rùi đến bọn chúng tôi lũ lượt kéo nhau theo (cái này là do ku Hùng oánh lẻ với bạn Thư nà, ko thèm rủ anh em đi cùng gì hết, cứ lẳng lặng leo núi 2-mình, ghê nha!).

Đoạn đường mòn chúng tôi qua khá hẹp và dốc (xem hình trên), nhưng ko khó lém để chinh phục đỉnh núi vì đã có nhiều người đi qua đoạn đường mòn này rùi. Pà kon nào muốn thử thì làm 1 chuyến đến núi Chứa Chan nhé!

Một ngôi chùa và một ngọn núi linh thiêng nhưng đáng tiếc là thiếu sự quan tâm của chính quyền sở tại (nhìn cái bảng đón chào du khách cũ mèm thế này...) lại thêm sự thiếu ý thức của con người (rác trên chùa và trên núi nhiều vô kể - do các du khách ăn uống tự nhiên rùi xả rác bừa bãi) khiến núi Chứa Chan mất đi hình ảnh đẹp vốn có. Mong rằng cơ quan chức năng cần có biện pháp quan tâm nhiều hơn đến "Đệ nhị thiên sơn" (núi Chứa Chan cao 837 m, cao thứ 2 của cả Nam Bộ này - chỉ thua có No.1 - núi Bà Đen - Tây Ninh thui) để du khách ngoài một chuyến hành hương còn có dịp thưởng thức không khí trong lành và vẻ đẹp hoang sơ của miền núi tuyệt vời này.




Cuối đời nhà Nguyển, chính sự nhiễu nhương, dân tình khổ sở, lại thêm giặc Pháp xâm chiếm nhiều nơi trên lãnh thổ mà triều đình cứ nhắm mắt làm ngơ. Nạn tham quan, ô lại, bè phái hoành hành từ trên xuống dưới. Lê Ngự sử nhiều lần dâng biểu chương khuyên vua nên dẹp bỏ đám loạn thần, tặc tử sửa sang chính sự song không được phê chuẩn, lại còn bi đám sâu mọt dèm pha đủ điều. Quan Ngự sử đành xin cáo lão hồi hưu mang gia đình và gia nhân đầy tớ đến tại chân núi Chứa Chan, tỉnh Bà Rịa sinh cơ lập nghiệp.

Lê tướng công tuy đã ngoài ngũ tuần nhưng vẫn còn tráng kiện. Lê công thành hôn với bà Phạm thị Lan là con của một vị Tú tài, người cùng thôn, từ khi vinh quy bái tổ nhưng đến nay vẫn không có con. Lê phu nhân bèn cưới cho chồng một người thứ thất, sau 5 năm chung sống bà này cũng chẳng sinh con. Khi về núi Chứa Chan, bà lai dung nạp thêm một người thiếp nữa để mong có người nối dõi tông đường. Nhưng 3 năm sau giòng họ Lê vẫn còn vô tự.

Cho là Trời xanh đã đoản tuyệt giòng họ của mình, từ đó Lê tướng công chỉ còn vui thú với nhưng vần thơ, điệu nhạc. Sẵn vùng núi Chứa Chan có nhiều hoa thơm cỏ lạ, nhất là những giống phong lan mầu sắc tuyệt vời và hương thơm kỳ diệu. Khắp một dẻo từ Bình Châu, Phước Bửu, Long Thành, Đồng Nai, Xuân Lộc đâu đâu cũng có vết chân Lê ngự sử. Hễ nghe ở đâu có giống phong lan bất kỳ mầu hoa và hương sắc ra sao cũng vội vàng tìm đến và kèo nài mua cho bằng được. Trong vườn lan đủ mọi giống từ: Tiểu kiều, Đại kiều, Tố tâm, Hoàng thảo, Thanh mạc, Tiểu mạc, Thanh ngọc, Cẩm tố, Thanh trường, Hoàng vũ, Mạc biên, Hoàng phi hạc cho đến Yên tử, Trần Mộng thẩy đều không thiếu. Các bạn đồng liêu cũ, bạn trong hội thơ Đường đua nhau gửi lan về tặng. Tuớng công say mê đến nỗi bỏ ăn, bỏ ngủ suốt ngay tha thẩn trong vườn và lập ra Lan Viên Thi Các để vui thú cùng với bạn bè. Tính tình phóng khoáng Lê Ngự sử được mọi người yêu mến cho nên khách yêu thơ và yêu lan từ bốn phương, tám huớng đổ về thăm viếng.

Một hôm giữa lúc tiếp đãi tân khách, có người ở phương xa gõ cửa xin vào cầu kiến. Khách mới quá ngũ tuần nhưng râu tóc bạc phơ, phong cách có vẻ khác thường. Áo quần tuy đượm vẻ phong sương lam lũ nhưng thần thái rất oai nghiêm. Khách nói là người họ Trương tên Tấn từ cố đô Thăng Long ngàn năm văn vật, nghe tiếng Lê Ngự sử là người yêu thơ chuộng lan, tính tình lại thêm phóng khoáng nên muốn đến làm quen. Chuyện trò một hồi, thấy tính tình thích hợp xem hoa, vịnh nguyệt, ngâm thơ, bàn bạc về thế sự rất tuơng đắc cho nên Lê Ngự sử vô cùng thích thú quyết lòng cầm giữ.

Hỏi ra, trước kia khách cũng là một chức quan nhỏ, tính nết thanh liêm và chính trực, cho nên bị kẻ gian tà âm mưu, gia họa lại thêm quan trên đòi phải đút lót quá nhiều. Uất ức vì nạn triều đình tham nhũng nên ngông cuồng mạo phạm quan trên, cho nên bị cách chức trở về đời sống dân dã. Tính hay du ngoạn nên họ Trương nay đây mai đó, lang bạt kỳ hồ, thỉnh thoảng lại dừng chân đóng vai thầy đồ dậy lũ học trò nhỏ kiếm sống qua ngày. Rời Thăng Long, họ Truơng xuôi dần về phiá Nam qua Thanh Nghệ Tĩnh, kinh thành Huế, Đà Nẵng, Nha trang mỗi nơi lâu thì một năm, nhanh thì vài tháng lại cất bước lên đường. Hâm mộ Lê Ngự sử là người tài đức nên mới lân la cầu kiến. Hỏi về gia cảnh họ Truơng cho biết đã lập gia đình nhưng chưa có người nối dõi thì bị cách chức. Người vợ thấy vậy bỏ ra đi lấy chồng khác, Trương Tấn chẳng thèm cầm giữ lại thêm cái tính dọc ngang nào biết đất trời cho nên cất bước lãng du.

Hai nguờì chuyện trò tương đắc. Lòng thuận lòng, ý lại càng thích hợp, hai nguời kết nghĩa thành huynh đệ. Trương Tấn ít tuổi nhận là em, sau khi làm lễ giao bái khấn vái trời đất xin Lê công cho được lạy chào mấy bà chị nuôi. Nhìn kỹ từng người một, thấy người thứ thiếp, Trương Tấn rất đỗi ngạc nhiên tự hỏi tại sao Ngô thị có tuớng mạo vựợng phu ích tử làm sao lại không có con. Nhưng lúc đó chỉ cúi đầu lặng lẽ làm thinh.

Từ đó Trương Tấn trú ngụ tại Viên Lan Thi Các, ban ngày săn sóc những khóm hoa lan, khuya đến uống ruợu, làm thơ. Thơ họ Trương lời hay ý đẹp và có biệt tài làm cho bất cứ giống lan nào dù khó trồng đến đâu vào tay Trương, lan nào cũng đâm chồi nẩy lộc.

Mùa Xuân năm Canh Dậu, lan trong vườn lan từ Thanh ngoc, Dã Hạc, Giáng Huơng, Mặc Lan, Kim điệp cho đến Trần Mộng và Nhất điểm hồng đua nhau phô trương hương sắc. Lê Ngự sử lấy làm đắc ý, bèn sai gia nhân tổ chức một tiệc rượu linh đình mời bạn bè đến thưởng lan. Trong đám tân khách có Bùi Án Sát, Nguyễn Đô Thống, Hà Chưởng Môn, Phạm Hiếu Liêm và nhiều người ở xa đến dự. Rượu qua một tuần, Nguyễn Đô Thống đứng dậy nói:
Chúng ta hãy nâng ly mừng trang chủ sang năm nay "lão bạng sinh châu" và trong tiệc rượu năm nay hoa lan sẽ là đề tài cho chúng ta và mỗi người phải làm một bài thơ. Tôi xin xung phong trước mong quý vị đừng chê cười lời quê thô thiển.

Trong nháy mắt Đô thống đã làm xong bài thơ thất ngôn bát cú. Thơ rằng:

Khỉ đi gà đến đón chúa Xuân,
Năm nay mừng thọ đã tới gần
Tóc vẫn xanh đen, da vẫn mịn
Sao chốn khuê môn thấy ngại ngần
Tìm thú thanh tao qua tiếng nhạc
Mượn vần thơ đẹp để khai xuân
Vườn lan sắc thắm hương thơm ngát
Đưa cả hồn ta thoát bụi trần.
*
* Thơ Hoàng Vân

Mọi người đều vỗ tay tán thưởng bài thơ quá hợp người hợp cảnh và thì thầm bàn tán về câu thứ tư. Bùi Án sát ghé vào tai Lê tướng công nói rằng:
Này hiền đệ! nếu hiền đệ vẫn còn ngại ngùng chuyện đó thi làm sao sinh quý tử được. Năm nay phải cố gắng lên nhé!

Hà Chưởng môn cao hứng tiếp theo:
Trăm năm thiên hạ cõi người ta
Tài sắc trời cho gọi là quà
Kiếp hoa, một kiếp, bao nhiêu nhĩ?
Đời người, hai khắc, một sát na!
Lúc trẻ, yêu đời, thương cuộc sống
Về già, thưởng nguyệt, thích bông hoa
Ta ngồi chăm bón hoa lan lại
Để thấy đời vui lúc tuổi già

Để thấy đời vui lúc tuổi già
Thú vui tao nhã, ông lẫn bà
Cắt tiả, bón phân, phải hiểu biết
Vun trồng, tưới nước, mới ra hoa
Đồng hội, đồng thuyền, chung ý nguyện
Khác hoa, khác giống, khó hài hoà
Vương giả chi lan, loài thảo mộc
Nghìn năm hạnh phúc cõi người ta
*
* Thơ Hà Thanh Quang

Lê ngự sử cũng ứng khẩu làm một bài thơ bày tỏ tâm sự của mình qua cây lan mà dân gian gọi là lan Đuôi cáo:

Hiu hiu gió thổi bên đồi quạnh
Đong đưa như chuỗi ngọc lung linh
Có người bảo trông giống đuôi cáo trắng
Nên đặt tên lan Bạch Vĩ Hồ...

Chiều nay, nhìn giò lan đang trổ
Bỗng nhiên, liên tưởng cảnh đồi hoang
Tiếng Quốc kêu hay hồn Thục Đế
Bồi hồi trong dạ khách xa quê...
Chẳng lẽ nào, ta muốn làm ẩn sĩ
Rũ bụi đời, dứt bỏ nợ trần duyên
Tìm thú vui nơi thiên nhiên hoang dã
Theo lan về đất nước các loài hoa...(*)
Sinh bất trùng thời, đầu thai lầm thế kỷ
Biết làm gì hơn cho nhân thế vuông tròn
Lan tìm chốn núi rừng xanh trú ẩn
Ta ẩn mình, chờ đợi... nhịp thời gian...
*
* Thơ Hàn châu Tín

Mọi người nức nở khen hay, riêng quan Án Sát họ Bùi vẫn chưa vừa ý nói rằng đã có hoa, có thơ, có họa, có rượu mà không có nhạc lai không có mỹ nhân ca múa thực là chưa toàn hảo.

Trương Tấn nói chuyện đó có khó khăn gì chỉ hiềm rằng ở đây là nơi thôn dã hoang vu, phải đi xa mới mời được, mong quý vị cảm phiền chờ cho một chút. Mọi người nói sẵn lòng chờ dù cho đến khi vừng đông ló dạng. Với lấy cành lan bẻ ra thành 3 khúc, đổ chén rượu lên múa may, quay cuồng vẽ bùa đọc thần chú, khúc cây bỗng lớn dần và uốn éo trở thành 3 mỹ nhân khép nép bên cạnh họ Truơng. Cô nào cô nấy mặt hoa da phấn, thân hình yểu điệu như nhành liễu bên hồ, con mắt liếc ngang liếc dọc, chân buớc nhún nhẩy theo điệu nhạc từ trên không trung vọng xuống. Môi son hé mở, tiếng ca trong như chim oanh, chim yến. Mấy bài thơ kể trên đã được phổ thành nhạc khúc làm cho mọi người mê mệt. Tân khách còn đang say sưa trong cảnh nửa thực, nửa mộng, bỗng nhiên một người nhẩy ra nắm áo người ca nữ áo hồng. Nhìn ra mới biết đó là Nguyễn Bảng Nhản, một kẻ xu ninh gian manh xảo quyệt không hiểu ai mời mà lại lọt vào được trong thi các. Hắn giằng co và lè nhè ép các ca nữ uống ruợu, đèn nến bỗng nhiên phụt tắt, và rồi lóe sáng. Trước mặt mọi người, mỹ nhân đã biến mất, chỉ còn là 3 con bọ ngựa với hai càng thu vào trước ngực, bộ chân nhún nhẩy và 2 con mắt láo liên. Cuộc vui cũng vì thế mà tàn...

Lê Ngự sử lấy làm lạ, hỏi thăm duyên cớ, Truơng Tấn thú thực trên đường vào miền Trung, ông đuợc một đạo sĩ truyền cho một vài pháp thuật. Nghe đến đây, Lê ngự sử tỏ vẻ phiền muộn vì không có người kế tự và hỏi Trương có thể giúp được hay không? Truơng Tấn ngẫm nghĩ một lát rồi thưa:
Đệ chỉ là kẻ lãng tử giang hồ phiêu bạt đươc hiền huynh yêu mến. Từ lâu vẫn mong muốn làm được điều gì đền đáp cơ duyên tri ngộ.

Hỏi vậy làm cách gì để chữa chạy? Đáp: chuyện này còn phải chờ đợi ngày giờ hoàng đạo và tùy theo phúc trạch nhà họ Lê song cũng hết sức cố gắng.

Một hôm Trương Tấn nói với Lê Ngự sử dẫn người thứ thiếp đến để làm phép hoán cải việc vô sinh. Dẫn hai người ra hậu viên, đến cạnh một bức tường, Trương dùng cục đất vẽ lên tường một cánh cổng có chiếc ống khóa. Lấy một cành cây, làm điệu bộ như người mở khóa và ra tay đẩy cánh cổng. Cửa bỗng mở toang.Truơng Tấn bảo người thiếp đứng chờ ngoài cổng rồi đưa tay dắt Lê công đi vào trong.

Trong vườn ánh sáng trong xanh bao phủ mọi vật, hương thơm lan tràn khắp không gian Cây cỏ hoa lá toàn là những thứ Lê Công chưa từng thấy, Hoa lan mọc khắp mọi nơi từ trên cành cây, hốc đá, chen lẫn trong đám cỏ dại cũng có lan mọc. Lê công sực nhớ đên câu mà sử sách Trung Hoa còn ghi chép lại:
    Lan vi vương giả hương
Kim nãi dữ chúng thảo ngu


Đó là chuyện đức Khổng tử trên đuờng trở vế nước Lỗ, khi đi qua nước Vệ bỗng ngửi thấy mùi huơng lan thanh cao, sảng khoái từ trong khóm cỏ dại đưa ra, ngài đã than rằng: Lan có hương thơm vương giả mà lại phải sống cùng đám cỏ dại.

Trong vườn ngoài lan ra, nào bàn đào, nào ngân hạnh, nào thạch lựu, kim quất, thanh trà cây trái xum xuê trĩu cành, trái mầu hồng đào, trái mầu hoàng anh, trái mầu đỏ thẫm. Chim hót líu lo, bướm lượn quanh vườn, ong bay tới tấp. Hỏi đây là chốn nào, xưa nay đã từng du ngoạn khắp ngọn núi Chứa Chan mà chưa từng thấy nơi đâu có phong cảnh thân tiên kỳ bí như vậy. Trương Tấn ra hiệu đừng hỏi và dắt tay dạo bước quanh vườn. Cỏ non mượt mà như tấm thảm nhung, giòng suối trong xanh nhìn thấy tận đáy. Đàn cá anh vũ sắp hàng lội theo giòng nước ngược in rõ những viên đá cuội ngũ sắc long lanh dưới ánh mặt trời. Dẫn Lê ngự sử tói một thân cây cao chừng trăm trượng, chung quanh thân cây to chừng ba người ôm, một loài hoa phong lan kỳ dị bám đầy. Toàn thân khẳng khiu, trơ trụi gần như không có một chiếc lá nào. Chùm hoa mầu tím đỏ pha lẫn sắc trắng nhỏ lí ti mọc ở các đốt gần phía ngon. Chỉ vào một nhánh có dò hoa còn đương hàm tiếu, Trương ra hiệu bảo Lê Ngự sử hãy bóc lấy khóm lan rồi trở về lối cũ. Hai người đi đến đâu ánh sáng đổi mầu đến đó, đang trong xanh trở nên trắng đục và mờ mịt như suỏng mù buổi sớm.

Ra khỏi cổng gỗ, cánh cửa bỗng dưng khép lại và tiếng ống khóa kêu lách cách như có người khóa lại. Trương Tấn ngắt chùm hoa tím hồng rồi bảo người thứ thiếp hãy há miệng nuốt đi. Kỳ diệu thay chùm hoa có những cánh nhọn, như một nhánh cây khô vừa chạm đến miệng bỗng biến thành một con trùng nhỏ chui tọt vào trong cổ họng. Ngô thị thất kinh, định nhổ nó ra nhưng một mùi thơm ngon ngọt ngào từ miệng chạy vào thanh quản làm cho nàng cảm thấy tinh thần sảng khoái. Trương xẻ một nhánh lan nhỏ ra đem trồng vào trong chậu. Chỗ còn lại bảo gia nhân tỳ nữ lấy dao chặt thân cây lan chia thành từng phần nhỏ đem sao vàng, sắc đặc cho Ngô thị uống đủ 3 tháng 10 ngày.

Qua giai đoạn này Ngô phu nhân đã có dấu hiệu thụ thai. Lê Ngư sử mừng rỡ vô hạn liền đem của cải vàng bạc tặng cho Trương. Trương Tấn không nhận và nói rằng:
Đa tạ hiền huynh đã coi đệ như anh em ruột thịt, nay chỉ làm một việc nhỏ giúp cho giòng giỏi họ Lê, đâu cần phải để hiền huynh nhọc lòng báo đáp. Hơn nữa nay đả đến lúc đệ phải trở về quê cũ.

Lê ngự sử hết lòng cầm giữ và nói rằng:
Hiền đệ chẳng còn gia đình, tại sao không ở lại đây coi gia đình này như gia đình của đệ. Sau này đứa con ra đời dù là trai hay là gái, nó cũng phải bái đệ làm sư phụ.

Trương Tấn cố gắng khước từ nhưng hứa sẽ ở lại cho đến ngày đứa trẻ chào đời. Từ đó Trương dành hết thì giờ trông nom cây lan mang về từ trong khoảnh vườn kỳ bí. Hỏi tên cây lan Trương cho biết tên là Báo Hỷ. Hỏi chừng nào ra hoa Trương đáp khi nào trong nhà có tin vui. Hỏi tin vui gì Trương không đáp.

Đông qua, Xuân tới những nhánh cây già cằn cỗi đã có mầm non nhú ra. Cây lan Bào Hỷ rụng lá từ cuối Thu năm ngoái, chỉ còn trơ lại thân cây già nua, khô cằn nay bỗng nhiên như có mầm sống nhú ra ở hai đốt trên ngọn. Mầm hoa càng lớn ra, Trương càng thêm buồn bã. Lê ngự sử hỏi thăm duyên cớ, Trương chỉ ậm ừ nói là se mình, đau xương nhức cốt vì khí lạnh của núi rừng.

Bụng của Ngô phu nhân càng ngày càng lớn và lớn quá mức của một người sinh đẻ con so… Khi phu nhân sắp sửa lâm bồn, Lê tướng công bảo gia nhân đầy tớ sửa soạn một tiệc ruơu linh đình để đón mừng một thế hệ mới sắp sửa ra đời. Trong Lan Viên Thi Các tân khách vây quanh chậu lan Báo Hỷ còn đang hàm tiếu chờ lúc mãn khai. Đang đứng xem hoa tự nhiên Trương Tấn bỗng ngã lăn ra bất tỉnh, mọi người sờ vào mũi thấy hơi thở đã tắt. Giữa lúc đó gia nhân vào báo là phu nhân đã hạ sinh một cậu công tử.

Lê tướng công buồn rầu vô hạn vội sai gia nhân ma chay cho Trương rất trọng thể. Đêm hôm ấy Lê công nằm mộng thấy họ Trương trở về nói: Xin hiền huynh đừng buồn! Số mạng của tiểu đệ đến đây đã hết, phải đi đầu thai vào kiếp khác. Nghĩ rằng chúng ta là anh em kết nghĩa, hiền huynh lại không con vì vậy tiểu đệ đã xin với thánh thần đầu thai làm con cho hiền huynh còn hơn làm con cho kẻ khác… Chắc hiền huynh không đến nỗi ghét bỏ chứ.

Nói xong họ Trương đứng dậy xin cáo biệt. Lê Công vội vàng nắm áo giữ lại nhưng chẳng qua là một giấc chiêm bao.

Nhớ đến người em kết nghĩa, Lê ngự sử bèn đặt tên cho con là Lê Như Trương. Như Trương lớn nhanh như thổi và càng ngày càng giống Trương Tấn như đúc. Không những giống về dung mạo, còn giống cả tính nết và lời ăn tiếng nói. Năm lên 10 tuổi đã lầu thông thơ phú, hiểu biết về các giống hoa lan và có biệt tài chăm sóc loài hoa vương giả này.

Như Trương lớn lên không màng công danh phú quý, cho nên không ứng thí. Chàng chỉ muốn sống một cuộc đời thanh đạm trong vườn lan, tiêu dao ngày tháng trong đám cỏ cây bên sườn núi.

* * *

Khi quân Pháp trở lại Đông Dương lần thứ hai vào năm 1945, núi Chứa Chan là chiến khu chống Pháp. Trong cuộc chiến tranh chủ nghĩa huynh đệ tương tàn, cây cỏ trên núi Chứa Chan hay là ngọn đồi 837 đã bị bom đạn san bằng, người ta không còn thấy dấu vêt gì của vuờn lan ngày trước.

Placentia 9-2006
BÙI XUÂN ĐÁNG

Nguồn: http://www.hoalanvietnam.org/Article.asp?ID=141


Công nữ Ngọc Vạn, người không có "truyện" trong sử nhà Nguyễn
___________
Bùi Thụy Đào Nguyên
Hơn ai hết, Ngọc Vạn thấu hiểu dãi đất miền Trung, nơi bà đã sinh trưởng & lớn lên, cuộc sống khốn khó như thế nào. Cho nên dù tuổi mới đôi mươi lại phải dấn thân đến chốn đất khách quê người rồi lâm cảnh chồng chết sớm, con trẻ bị giết hại, triều chính đầy dẫy những thế lực cùng tham vọng mù quáng, đen tối... trái tim bao dung, không bao giờ biết vun vén ấy; phải luôn dằn nén mọi nỗi đau riêng để hoàn thành sứ mạng vì dân tộc của mình.

I . Nước non ngàn dặm ra đi... Sách Nguyễn Phúc tộc thế phả, do Hội đồng Nguyễn Phúc tộc ấn hành năm 1995 cho biết vào năm 1620 Sãi vương đã gả người con gái thứ nhì là Nguyễn Phúc Ngọc-Vạn cho vua Chân Lạp là Chey-Chette II (trị vì: 1618-1628).
Thế rồi người con gái trẻ ấy phải đến sinh sống nơi vương quốc xa lạ.
Ấy vậy mà trong thời gian ngắn, cô vợ mới xinh đẹp rất được ông vua chồng yêu quí vì đức hạnh,vì khôn khéo; và bà trở thành hoàng hậu với vương hiệu Somdach Prea eaccayo dey Preavoreac Ksattecey.
( trước đây có một số sách gọi là công chúa, nhưng xét ra bà chỉ là con của chúa, nên gọi là công nữ thì đúng hơn)
Cuộc hôn nhân của Ngọc Vạn cho thấy rõ cả hai bên Đàng Trong và Chân Lạp đều muốn tựa vào nhau để cùng tồn tại:
Vua Chey-Chetta II muốn cầu thân với để chống lại áp lực của Xiêm La (Thái Lan).
Còn Sãi Vương ( 1563-1635, ở ngôi: 1614-1635) là chúa Nguyễn thứ 2 của chính quyền Đàng Trong, thời nhà Hậu Lê, lúc đó mới lên cầm quyền, tình hình đối kháng với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài bắt đầu căng thẳng.
Những tin tức về sự lớn mạnh của người Xiêm, sự dòm ngó của người Tây phương làm cho nhà chúa càng thêm lo ngại. Vì lẽ đó, vương gả con gái yêu của mình để tạo mối quan hệ thân tình, thế phên giậu, đồng thời cũng để hướng đến một tương lai xa cho đất nước, cho dân tộc hãy còn nghèo khó...

II . Dù đường thiên lý xa vời... (Dẫn đường cho người Việt mở đất về phương nam lần thứ nhất)
Nhiều tư liệu tường thuật việc hôn nhân này, đại để đều có chung nội dung như sau :
"Vua Chân Lạp Chey Chetta II muốn tìm một đối lực đủ mạnh để chống lại lân bang Xiêm La thường gây hấn kia, nên năm 1620 ông đã xin cưới một công nữ, để nhờ cậy sự ủng hộ của triều đình Thuận Hóa ...
Khi tới quê mới, Ngọc Vạn đã đem theo nhiều người Việt, trong đó có người được giữ chức vụ quan trọng trong triều đình Chân Lạp. Bà cũng cho lập xưởng thợ, mở các nhà buôn gần kinh đô Oudong/Phnompenh cho họ sinh sống.
Ngoài ra, chúa Nguyễn còn gửi quân lính, thuyền chiến & vũ khí sang giúp.
Và thực tế, Sãi vương đã hai lần giúp Chey Chetta II đẩy lui quân Xiêm xâm lược. Đổi lại, vua Chân Lạp cho phép lưu dân người Việt đến lập nghiệp trong mấy tỉnh thưa dân phía đông nam vương quốc.
Và ba năm sau cuộc hôn nhân của Ngọc Vạn, Sãi Vương cử một sứ bộ sang xin vua Chey-Chetta II nhượng khu dinh điền ở vùng Mô Xoài, gần Bà Rịa ngày nay. Nhờ sự vận động của hoàng hậu Ngọc Vạn, vua Chân Lạp lại đồng ý cho người Việt đến đó canh tác.
Đây là lần đầu tiên người Việt chính thức đặt chân lên đất Chân Lạp, và Mô Xoài chính là bàn đạp để người Việt tiến dần xuống phía nam vì cuộc mưu sinh.
Sau này, khi cư dân Việt ngày một đông đúc, làm ăn phát đạt, chúa Nguyễn mới xin lập ra sở thuế, cử tướng lĩnh đến đóng đồn giữ gìn an ninh, trật tự.
Bấy giờ, nhân dân ta gọi đấy là vùng "Đàng Thổ" ( để phân biệt với xứ Đàng Trong), triều đình chúa Nguyễn thì gọi là Đông Phố.
Vào năm 1698, thời điểm mà Nguyễn Hữu Cảnh đến kinh lược,theo kê biên sổ đinh, cả vùng Sài Gòn, Đồng Nai có khoảng 40 ngàn hộ, ước lượng 200 ngàn dân.

III . Phía sau ngai vàng là máu (Dẫn đường cho người Việt mở đất về phương nam lần thứ hai)
Chồng Ngọc Vạn, vua Chey-Chetta II từ trần năm 1628.
Từ đó triều đình Chân Lạp liên tục xảy ra những cuộc tranh chấp ngôi báu đẫm máu giữa các hoàng thân.
( trước mắt của người biên soạn bài này là năm bảy bộ sử, việt có khơme có; dù lòng muốn hệ thống lại, vẫn thấy khá rối rắm vì tên vua, tên hiệu các sách phiên âm hơi khác, vì sự chồng chéo mối quan hệ gia tộc và còn vì ngôi vị cứ thay đổi liên tục; nên ở bài viết này tôi chỉ xin nhắc đến giai đoạn nào có liên quan đến đề tài mà thôi)
Chey Chetta II chết để ngôi lại cho Ponhea To hay Ang Saur .
Ang Saur chết, để ngôi lại cho em là Ponhéa Nou.
Nou cai trị, có chú ruột là Prea Outey, trước kia đã là phó vương cho Chey Chetta II làm phụ chánh.
Đến năm 1640, Nou bị giết, Outey phải đưa con mình lên ngôi, tức là Ang Non I.
Hai năm sau, người con thứ 3 của Chey Chetta II (mẹ người Lào) là Chant nổi lên, với sự hổ trợ của người Chiêm và nhứt là người Mã Lai giết phụ chánh Prea Outey và Ang Non I, cướp ngôi vua, lấy tên là Nặc Ong Chân, lập Hoàng hậu là một Công chúa người Mã Lai theo đạo Hồi (Islam) và cai trị trong 17 năm (1642-1759).
Trong thời gian này, tại Chân Lạp có rất nhiều người Chiêm và Mã Lai đến sinh sống, ( từ Chiêm Thành chạy qua để trốn giặc giã ). Vì vua vừa theo đạo mới, nên nhóm người này được ưu đãi. Điều này đã gây bất bình trong hoàng tộc cũng như dân chúng ( cầm đầu là Hoàng Thân So và Ang Tan ). Theo lời khuyên của Thái Hậu Ngọc Vạn, họ sang xin chúa Nguyễn trợ giúp.
Chúa Hiền, cháu kêu thái hậu Ngọc Vạn bằng cô ruột, cho quan Khâm Mạng Trấn Biên dinh Phú Yên là Tôn Thất Yến đem 3000 quân qua giúp bắt được Nặc Ong Chân tại Mô Xoài ( Bà Rịa) vì cớ "phạm biên cảnh", cho giải về Quảng Bình, nên "người Cao Miên khâm phục oai đức của triều đình đem nhượng hết cả đất ấy rồi đi lánh chỗ khác, không dám tranh trở chuyện gì." (Trịnh Hoài Đức,Gia Định Thông Chí, trung, tr.7)
Con trai thái hậu Ngọc Vạn được chúa Hiền tôn làm quốc vương Chân Lạp: Batom Réachea Pontana Reja. ( tức Pon Héa So, trị vì 1660-1672). Năm 1658, để tạ ơn, triều đình Chân Lạp hợp thức hóa chủ quyền của nhà Nguyễn tại Đồng Nai. (người Việt mở đất về phương nam lần thứ hai)
Năm 1672 Pon Héa So ở ngôi được 12 năm thì bị người cháu vừa là con rể giết cướp ngôi.
Nhưng rồi vua nầy cũng lại bị vợ và con cả của Pon Héa So giết lại. Con cả này lên ngôi vua mà sử Việt gọi là Năc Ong Đài (1673-74).
Trớ trêu, năm 1674 Nặc Ong Đài dựa thế lực người Xiêm mang quân lấn ép vùng Đồng Nai, xây đấp công sự kiên cố ở Mỗi-xuy, làm xiềng sắt giăng ngang sông Mékong
Lưu dân người Việt kêu cứu triều đình chúa Nguyễn lúc đó đóng đô ở Kim Long. Chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần sai các tướng Nguyễn Dương Lâm cùng với Nguyễn Diên Thái và Văn Sùng mang quân tới tận Oudong hỏi tội. Năc Ong Đài bỏ thành chạy vào rừng, để rồi bị thuộc hạ đâm chết.
Theo Huỳnh Văn Lang viết trong quyển Công Chúa Sứ Giả, thì:
Sau khi Năc Ong Đài mất, Còn lại Ang Tan và Ang Non, hai con của Pon Héa So (cũng là cháu của Ngọc Vạn). Ang Tan chết bệnh, Ang Non là Năc Ong Nộn lên ngôi vua.
Nhưng chỉ 5 tháng sau, tức là cuối năm 1674, em của Nặc Ong Đài là Năc Ong Thu kéo quân đánh lại Nặc Ong Nộn.
Năc Ong Nộn chạy về Sàigon, kêu cứu với chúa Nguyễn.
Chúa Nguyễn giải quyết vấn đề "nồi da xáo thịt" nầy bằng cách nhìn nhận cho Năc Ong Thu làm Chánh vương vì là thuộc dòng nhà bác, đóng đô ở Phnom pênh, cho Nặc Ong Nộn làm Obareach, tức là Đệ nhị vương, đóng đô ở khu vực gò Cây Mai...
Cả hai vị vua Chân Lạp đều phải triều cống xưng thần với chúa Nguyễn tại Kim Long. Vua Nặc Ong Nộn ở Sài Gòn đến khi chết năm 1691 thì toàn quyền cai trị tại đây thuộc về chúa Nguyễn
(Có sách cho rằng Ang Non tức Nặc Ong Nộn con trai thứ của bà Ngọc Vạn. Người soạn không đồng thuận, vì nhiều sách đều nói 2 ông này chỉ vào hàng cháu của Ngọc Vạn)

IV . Tạm lý giãi vì sao sử triều Nguyễn không nói đến Ngọc Vạn -Bộ Đại Nam liệt truyện tiền biên, khi ghi chép về các con gái của Sãi Vương, đến mục "Ngọc Vạn", "Ngọc Khoa"(sẽ có bài riêng) đã ghi rằng: "Khuyết truyện" tức thiếu truyện, nghĩa là không có tiểu sử.
-Trong "Généalogie des Nguyễn avant Gia Long" (Phổ hệ nhà Nguyễn trước Gia Long) của Tôn Thất Hân và Bùi Thanh Vân (Bulletin des Amis de vieux Huế, năm 1920) cũng ghi tương tợ :
"Ngọc Khoa con gái thứ của Sãi vương, không để lại dấu tích.
Ngọc Vạn con gái thứ của Sãi vương, không có dấu tích gì về Ngọc Vạn"
May thay, sách Nguyễn Phúc tộc thế phả, ấn hành năm 1995 có biên chép đôi điều, nhờ vậy ta mới có những thông tin như sau :
Nội chiến Trịnh Nguyễn bùng nổ tại Bố Chánh năm 1627. Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên Theo chính sách nhà Trần, gả 2 con gái cho vua Chân Lạp & Chiêm Thành để việc ngoại giao được ổn định ở phía Nam, vì phiá Bắc phải đương đầu chống lại với Chúa Trịnh.
* Năm canh thân 1620 bà Ngọc Vạn được đức Hy Tông sãi vương gã cho vua Chân lạp là Chey Chetta 2.về sau nể tình bà. Vua Chân lạp cho người Việt lập dinh điền tại Mô xoài Bà riạ
* Năm tân mùi 1631 bà Ngọc Khoa được đức Hy tông gả cho vua Chiêm thành lá Pôrômê. Nhờ có cuộc hôn phối nầy mà tình giao hảo giữa hai nước Việt Chiêm tốt đẹp
Có nhiều ý kiến về việc không biên chép này, ở đây tôi xin được tóm gọn thành 3 ý :
-Vì công cuộc mưu sinh cho dân tộc, vì thế "môi hở răng lạnh" và cũng vì để theo dõi hoạt động của các nước chung quanh, nhất là sự thường xuyên xâm lấn của người Xiêm La (ngườiTây phương cũng bắt đầu dòm ngó vùng Đông Nam Á), nên Sãi Vương không muốn làm ồn ào hai cuộc hôn nhân nầy, mà chỉ lặng lẽ tổ chức hôn lễ, nên sử quan nhà Nguyễn suy tính thấy không nên viết ra.
-Có thể vì ngày trước, nhiều vương triều Việt có cái nhìn hơi xem thường người Chiêm Thành, Chân Lạp. Do vậy, chuyện chẳng hay ho gì mà ầm ĩ, nhất là từ khi công chúa Huyền Trân đi vào sử sách với những giai thoại buồn tủi, với những vần thơ chua chát, mai mỉa như: " Tiếc thay cây quế giữa rừng, để cho người mán, người Mường nó leo!"; có thể vì lẽ đó các sử quan được lệnh né tránh việc biên chép.
-Có lẽ do tư tưởng phong kiến "nữ nhân ngoại tộc" nên mới có tình trạng không ghi chép.
-Người soạn nghiêng theo ý đầu, vì xét thấy ý sau chưa ổn lắm, bởi nhiều triều đại trước,việc nhà vua gả con cho vua chúa lân bang, cho những thủ lĩnh các châu miền xa xôi trong nước nhầm củng cố mối giao hảo, thế phiên giậu đã từng xảy ra nhiều lần trong lịch sử
Như vua Trần Nhân Tông gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân, Chiêm Thành. Năm 1286, tướng Nguyên là Ô Mã Nhi đánh rất gấp, quân ta tan vỡ.Triều đình phải sai người đưa công chúa An Tư - em gái út của Thánh Tôn - đến cho Thoát Hoan để xoa dịu hắn.
Năm 1036, Lý Thái Tôn, gả công chúa Kim Thành cho châu mục Phong Châu là Lê Tông Thuận, gả công chúa Trường Ninh cho châu mục Thượng Oai là Hà Thiên Lãm vv...
Thế nhưng sử sách không hề che giấu. ( ngay cả trong lịch sử Trung Quốc việc tương tợ cũng đã xảy ra không ít lần, mà câu chuyện công chúa Văn Thành thời nhà Đường phải đến làm dâu xứ Tây Tạng, Vương Chiêu Quân thời nhà Hán phải chịu cống Hồ... là hai ví dụ điển hình).
Còn nếu vì nữ nhân ngoại tộc nên sử sách không ghi, người soạn e rằng không phải. Sãi Vương có 4 người con gái, sách sử ghi khá tường tận 2 cô lấy chồng Việt kia mà...
Tuy nhiên để có câu trả lời thật thỏa đáng, thiết nghĩ ta phải chờ Hội đồng Nguyễn Phúc tộc, các nhà sử học nghiên cứu thêm


__________________
YM: quanglam_8_5
Đỗ Quang Lâm is offline   Trả lời cùng trích dẫn
Những thành viên đánh giá bài viết này hay:
Old 16-07-2008, 11:23 PM   #2
Thành viên
 
Đỗ Quang Lâm's Avatar
Phản động số 1
 
Trường: Chu Văn An
Lớp: S - 2002-2005
Nơi ở: vietnam
Bài viết: 664

Bài được đánh giá hay: 44
Lần được đánh giá hay: 116
Mặc định Re: Công nữ Ngọc Vạn

V . Người soạn xin góp ý về một trang viết trích trong quyển "Công Chúa Sứ Giả " của Huỳnh Văn Lang, do chính tác giả xuất bản tại California, năm 2004. Trích nguyên văn:
Ngọc Vạn Công chúa sinh ở đâu và ngày nào, không sách sử nào nói. Nhưng người viết tìm lại những năm tháng liên hệ thì có thể cũng biết được phần nào. Ví như Công chúa đi lấy chồng là năm 1620, thì có thể nói là lúc bấy giờ Công chúa vào khoảng 16, 17 tuổi...
...Ngọc Vạn Công chúa ăn ở với Chey Chetta đã 17, 18 năm rồi, Công chúa có con với Chey Chetta không? Không thấy sử Chân Lạp, sử ta nói là Công chúa có con với Chey Chetta II. Người viết luôn luôn thắc mắc tìm hiểu về vấn đề đó và thật là may mắn khi bắt gặp bài viết của Hương giang Thái văn Kiểm. Dựa theo sách " L'Indochine du Sud", của Cl. Madrolle, xuất bản năm 1926 tác giả đã viết như sau:
"Sau khi Chey Chetta mất, liền xảy ra việc tranh quyền giữa chú và cháu. Chú là Prea Outey, em ruột của Chei Chetta II, giữ chức Giám quốc (abjoréach) và cháu là Chau Ponhéa To, con của Chetta II và bà Công chúa Việt nam.
"Cháu Ponhéa To là một vị hoàng tử Miên-Việt rất thông minh và đã được giáo huấn rất chu đáo. Vua Chei Chetta khi còn sống định cưới cho hoàng tử nường Công chúa Ang Vodey. Nhưng chẳng may, khi ngài vừa mất thí Préa Outey, tức là chú ruột của hoàng tử, lại cưới nường công chúa Ang Vodey trong khi hoàng tử còn phải trường trai trong tu viện.
"Sau khi rời tu viện, Chau Ponhéa To lên ngôi Chân Lạp và trong một buổi tiếp tân trông thấy Ang Vodey liền đem lòng cảm mến và sau đó hai người cũng thương trộm nhớ thầm một cách tha thiết. Công chúa bèn trốn chồng bỏ nhà ra đi theo vua vào rừng săn bắn. Ông chú là Préa Outey biết được liền rượt theo và giết chết cả hai người".
Thật là họa vô đơn chí! Chồng chết, rồi con bị giết, thì người vợ người mẹ phải thế nào? Không biết Ngọc Vạn Công chúa phải đau khổ biết bao và còn cảm thấy bơ vơ ở xứ người.... "
Xin nêu điều nhầm lẫn : ngay phần đầu, tác giả đã xác định đúng thời điểm Ngọc Vạn đi lấy chồng là năm 1620 rồi ở đoạn sau, ông viết:Năm 1628 Vua Chey Chetta băng hà đang tuổi thanh xuân, chưa đầy 40.
Như vậy từ 1620- 1628, mới có 8 năm chung sống thì làm gì có đứa con nào của Ngọc Vạn đủ lớn để xảy ra thảm kịch trái khoáy ở chốn cung đình kia ? Cho nên có thể quả quyết, vị hoàng tử vắn số này là con của một bà vợ Việt nào đó của vua Chey Chetta, mà ta chưa có điều kiện để tìm hiểu tận tường.
Qua những dòng tư liệu ít ỏi vừa kể, ta biết chắc Ngọc Vạn có 1 người con trai. Và theo 2 tư liệu sau, ta biết bà có thêm 1 gái.
a."Công chúa Ngọc Vạn", tr 89-95, của Lương Văn Lựu trong sách Biên Hòa sử lược toàn biên ,q.II, do tác giả tự xb năm 1973:
"Đến năm 1624, bà lại sanh thêm một gái lấy tên là Néang Nhéa Ksattrey..."
b.Theo http://hue.vietnamnet.vn/chuyende/2005/12/117013/ :
Năm 1624 Ngọc Vạn sinh hạ một hoàng nữ và sau khi chồng qua đời, vẫn ở lại để che chở, giúp đỡ đồng bào.

VI . Bước đi... có vào lòng muôn dân? Theo câu chuyện chia tách trên cùng vài truyền thuyết trong dân gian thì Ngọc Vạn về lại đất Việt sống cho đến cuối đời. (phần thuộc quyền cai quản của Nặc Ong Nộn ; và thành quách , cung điện của ông phó vương này ngày trước nằm trên vùng đất cao ráo từ đồi Cây Mai đến vùng Phú Thọ , Tp HCM hiện giờ)
Có thể khi bà mất, thân xác mà cả đời chỉ biết cống hiến, được hỏa thiêu theo phong tục nhà chồng ( người Chân Lạp chọn Phật Giáo tiểu thừa làm quốc giáo).Có thể rồi chút tro than kia cũng đã tản mát sau nhiều cơn binh lửa, nên bây giờ ta không thể tìm thấy dấu vết ?
Với lòng biết ơn của một người sinh sau đang sống bình yên, nơi mà bà & bao thế hệ cha ông đã dày công mới có được; khiến tôi day dứt khi đọc được câu: Năm 1624 Ngọc Vạn sinh hạ một hoàng nữ và sau khi chồng qua đời, vẫn ở lại để che chở, giúp đỡ đồng bào.
Ngẫm xưa nay, đâu phải ai sống trong cảnh son vàng đều có được tấm lòng ấy?. Bởi vậy, tôi đã nhờ Google để tìm xem người đời có lấy tên Ngọc Vạn để đặt tên cho đường phố, trường học hoặc nhà lưu niệm, tượng đài nào không; thì tôi chỉ gặp duy nhất một nơi liên quan đôi chút đến bà. Đấy là Chùa Gia Lào ở núi Chứa Chan, Đồng Nai.
Tương truyền chùa do công nữ Ngọc Vạn xây nên.Cũng có người bảo, đấy là do người dân thời bấy giờ tự quyên góp tiền của, để có nơi tưởng nhớ công ơn bà.

VII . Thay lời kết Ngọc Vạn, người công nữ đức hạnh & xinh đẹp này, đã hai lần dẫn đường cho người Việt mở đất về phương nam. Lần thứ nhất sau cuộc hôn nhân năm 1620, lần thứ nhì trong cuộc tranh chấp nội bộ vương quyền Chân Lạp năm 1658, thời trị vì của Batom Reacha Pontana Reja ( tức hoàng thân So, con Ngọc Vạn )
1/Nguyễn Lệ Hậu Phân viện chính trị HCM tại Đà Nẵng, đã có nhận định xác đáng như sau :
"Việc giữ gìn biên cương và mở mang bờ cõi luôn là ước vọng lớn lao của hầu hết các đấng quân vương, và trong suốt thời gian trị vì của mình các bậc đế vương đã không ngừng khai thác bằng hầu hết những khả năng và biện pháp vốn có.
Ở đây, vấn đề hôn nhân nhằm mục đích chính trị đã đóng một vai trò không nhỏ trong việc mở mang bờ cõi, nhất là trong công cuộc Nam tiến. Trong đó các cành vàng lá ngọc đã đóng một vai trò nhất định, nước mắt má hồng đã tô thắm cho từng dãi đất biên cương."

2/Để ca ngợi công ơn mở cõi to lớn của hai công nữ Ngọc Vạn và Ngọc Khoa, Á Nam Trần Tuấn Khải (1895 - 1983), một nhà thơ nổi tiếng vào thế kỷ trước có làm bài thơ sau:
Cảm Vịnh Hai Bà Ngọc Vạn, Ngọc Khoa
Hồng Lạc ta đâu hiếm nữ tài
Nghìn xưa Trưng Triệu đã từng oai
Noi gương Khoa, Vạn, hai công chúa
Một sớm ra đi mở đất đai
Mối tình hữu nghị Việt Chiêm Miên
Thần xỉ mong sao được vững bền;
Chúa Sãi bao năm nhờ diệu kế,
Giữ miền Nam Á đặng bình yên.
Đời vốn quen dùng sức lửa binh,
Gây nhiều thảm họa khổ sinh linh.
Riêng đây ngọc lụa thay gươm giáo,
Trăm họ âu ca hưởng thái bình.
Cũng vì hạnh phúc của muôn dân
Vì nước, vì nhà, xá quản thân.
Lá ngọc cành vàng coi nhẹ bổng,
Hiếu trung cho trọn đủ mười phân.
Những tiếc riêng cho phận nữ hài,
Đem thân giúp nước há nhường trai.
Vắng trang lịch sử, nào ai biết?
Người đã hy sinh vị giống nòi.
Tới nay kể đã mấy tinh sương
Mượn bút quan hoài để biểu dương:
Bà Rịa, Phan Rang ngàn vạn dặm,
Công người rạng rỡ chốn quê hương.
Và một bài thơ của Tân Việt Điểu lấy trong sách Biên Hòa sử lược của Lương Văn Lựu, Không thấy ghi tựa bài:
Ngọc Vạn, Ngọc Khoa giữ một niềm
Vì ai, tô điểm nước non tiên?
Chị lo giữ vẹn tình Miên Việt,
Em nhớ làm tròn nghĩa Việt Chiêm
Bà rịa, Biên Hòa thêm vạn dặm,
Phan Rang, Phan Rí mở hai miền
Non sông gấp mấy lần Ô, Lý
Nam tiến, công người chẳng dám quên.
Ghi chú kèm theo :
1/Một ý cần nêu để tránh hiểu lầm:
Dân tộc Việt có giành chiếm đất của người Chân Lạp không ?
(Đề mục quang trọng & không ít nhạy cảm này, người soạn chỉ nêu vắn tắt, không đi sâu vào chi tiết. Xin bạn đọc tự tìm đọc nhiều bài nghiên cứu của những tác giả có công tâm, có uy tín.)

Lý do vương triều Chân Lạp dễ dàng nhượng vùng hạ lưu sông Cửu Long, vì nguyên thủy vùng đất nầy không phải là đất của họ, mà là của nước Phù Nam (Funan) thủa xa xưa.
Và gần hơn, theo Trịnh Hoài Đức, tác giả Gia Định thành thông chí: nước Bà Lợi là Bà Rịa, nước Chu Lai là Sài Gòn ngày nay. Còn theo Nguyễn siêu, tác giả Phương Đình dư địa chí thì nước Xích Thổ & nước Can Đà Lợi chính là vùng đất Biên Hòa bây giờ vv..
( Xin bạn đọc xem chi tiết trong bài Trước khi lưu dân Việt Nam tới, đất Sài Gòn xưa thuộc cư dân nào? của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, sách Địa chí văn hóa Tp HCM, nxb Tp HCM, năm 1987)
Vì không phải là đất của mình, lại rất ít dân sinh sống, không có người đủ tài đức cai quản, nguồn lợi thu về không là bao; nên vua chúa Chân Lạp dễ dàng dùng đất nầy làm quà tạ lễ các chúa Nguyễn đã giúp họ lên ngôi, hoặc giúp họ chống lại Xiêm La.
Vả lại, trong lịch sử, chuyện cắt đất để cầu phong, để củng cố thế lực hoặc cầu bình an cho vương triều là chuyện thường xảy ra ở chế độ phong kiến. Bạn đọc dễ dàng tìm thấy ví dụ trong các sách, nhất là ở sử Tàu ...
Như thế có nghĩa, người Việt đã không giành chiếm mà chỉ đến (cùng vài dân tộc khác như Hoa, Champa chẳng hạn) cộng cư với dân bản địa, đơn thuần buổi đầu chỉ là lý do mưu sinh với sự đồng thuận của cả hai vương triều.
Nhưng do tập quán sinh hoạt, canh tác của mỗi dân tộc ít nhiều có điểm khác nhau, như dân bản địa thích chọn ở nơi đất cao (giồng), trồng khoai sắn, làm ruộng chỉ cầu đủ ăn và ít muốn khai thác gì thêm; người Hoa thì thích buôn bán hơn.
Riêng người Việt,vì bấy lâu bẩn chật nơi mảnh đất miền Trung nhỏ hẹp, nghèo khó, lắm thiên tai; giờ được đứng trước vùng đất phương nam mênh mông nhiều sông nước này; nên cha ông ta với lòng hăm hở cộng thêm đức tính cần cù, không ngại khó; vì thế chẳng bao lâu nơi trước đây còn hoang vu, nhiều đầm lầy, rừng rậm, thú dữ...trở thành vô số những cánh đồng ngút ngàn màu mỡ, trĩu xanh.
Dù vậy, nhưng người bản địa không hề tỏ thái độ cạnh tranh hay thù hằn, và cũng vì thói quen sống nên họ thường lánh đi nơi khác...
Mãi về sau, năm 1698, nghĩa là đã tròn 40 năm, nếu tính từ năm1658, thời trị vì của Batom Reacha Pontana Reja ( tức hoàng thân So, con Ngọc Vạn), Minh Vương Nguyễn Phúc Chu mới cử Nguyễn Hữu Cảnh đến thiết lập chủ quyền nơi vùng đất mới để bảo vệ cuộc sống bình an, sự làm ăn mua bán của cư dân mình vì chính quyền Chân Lạp thời bấy giờ cứ liên tiếp xào xáo, không ổn định.
Vậy có thể nói gọn:
Trước mắt của người Đàng Trong là một vùng đất mênh mông hoang vu cần khai khẩn để biến nó thành kho lương thực, thành tài sản quí giá cho người dân và quốc gia.
Với lòng khao khát này, tất nảy ra"Cái khó ló cái khôn": đấy chính là kế sách "tầm ăn dâu" khôn khéo của các chúa Nguyễn, là đường lối "dân đi trước, làng nước theo sau", là tài thao lược khiến đối phương thì qui phục, dân thì tin yêu của các danh tướng như Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Văn Thoại vv...
Và đặc biệt hơn cả, chính là tấm lòng son của một phận má hồng: Ngọc Vạn.
Hơn ai hết, Ngọc Vạn thấu hiểu dãi đất miền Trung, nơi bà đã sinh trưởng & lớn lên, cuộc sống khốn khó như thế nào .Cho nên dù tuổi mới đôi mươi lại phải dấn thân đến chốn đất khách quê người rồi lâm cảnh chồng chết sớm, con trẻ bị giết hại, triều chính đầy dẫy những thế lực cùng tham vọng mù quáng, đen tối... trái tim bao dung, không bao giờ biết vun vén ấy; phải luôn dằn nén mọi nỗi đau riêng để hoàn thành sứ mạng vì dân tộc của mình.
2 / Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên ( 1563-1635, ở ngôi: 1614-1635) là chúa Nguyễn thứ 2 của chính quyền Đàng Trong, thời nhà Hậu Lê.
Ông còn được gọi laø Chúa Sãi, Chúa Bụt hay Phật Chúa.
Là con trai thứ 6 của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng và là người đầu tiên mang họ Nguyễn Phúc; nhưng ông được kế nghiệp năm 1613 vì các anh đều chết sớm và một anh bị Chúa Trịnh giữ làm con tin tại Đàng Ngoài.
Trước khi kế nghiệp chúa, ông từng nhiều năm làm Trấn thủ Quảng Nam, tước Thụy Quận công. Khi kế nghiệp, bấy giờ ông đã 51 tuổi
Theo di mệnh của Nguyễn Hoàng, Sãi Vương quyết xây dựng Đàng Trong thật vững mạnh để chống lại chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Do đó, ông giao hảo với các nước phương nam để củng cố vị thế vương triều.
Song song việc đó, ông cho dời cung phủ về xã Phúc Yên, huyện Quảng Điền, chăm lo chính sự, thu dụng nhân tài.Dưới trướng của chúa bấy giờ có những người giúp việc tài ba như Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến, Đào Duy Từ.Chính nhờ có sự góp sức của Đào Duy Từ, chúa Sãi đã xây Lũy Thầy, gây dựng chính quyền độc lập với Đàng Ngoài.
Nguyễn Phúc Nguyên mất năm 1635, thọ 73 tuổi
Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên có bốn cô con gái. Hai người lớn nhất và trẻ nhất có chồng Việt.Còn hai cô còn lại chính là nội dung bài viết này.
3/Ngọc Khoa cũng là con gái Chúa Sãi, được gả cho vua Chiêm Thành Poromê năm 1631.Tên đầy đủ là Nguyễn Phúc Ngọc Khoa, em gái công nữ Ngọc Vạn. Rồi chính nhờ cuộc hôn nhân Việt-Chiêm năm 1631, người Việt nhanh chóng vượt qua Chiêm Thành, xuống tận miền sông nước Cửu Long.
Bà cũng như chị, là người không có "truyện" trong sử nhà Nguyễn.
4/ Một điều lạ là ở thời kỳ ấy và ngay cả lúc sau này, có người dành nhiều trang viết về Ngọc Vạn, có người không hề nhắc đến bà dù chỉ một chữ:
-Nhiều tác giả đề cập đến Ngọc Vạn như:
G. Maspéro, Moura, Henri Russier,A. Dauphin Meunier ,Giáo sĩ người Ý tên Christopho Borri ,Nguyễn Văn Quế, Lương Văn Lựu,Phan Khoang, Ngô Viết Trọng,Huỳnh Văn Lang vv...
-Có thể vì người soạn thiếu thông tin hoặc do cách đánh giá, có sách không nói gì đến Ngọc Vạn, như:
- Việt nam sử lược của Trần Trọng Kim, nxb Tân Việt, Sài Gòn 1964
-Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển của G.s Trịnh Văn Thanh, nxb Hồn Thiêng,Sài Gòn 1965
-Bộ Việt sử Tân Biên của Phạm Văn Sơn,Sài Gòn 1959
-Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam của Nguyễn Q. Thắng& Nguyễn Bá Thế, nxb KHXH, năm 1992
-Bộ Việt sử giai thoại của Nguyễn Khắc Thuần, nxb Giáo dục, năm 1998 vv...


5/Tài liệu tham khảo:
Tôi có sử dụng mấy câu trong bài Nước non ngàn dặm ra đi của Ns Phạm duy để làm tên đề mục.
Và ngoài số sách đã dẫn trong bài, tôi còn tra cứu, so sánhthêm tại các địa chỉ:
http://www.nguoivienxu.vietnamnet.vn
http://www.hue.vnn.vn/chuyende/2005/12/117013/http://saigon.nguoihanoi.net/diendan...ST&f=36&t=4004
http://www.maiyeuem.net/vtopic87020.html
http://vi.wikipedia.org/wiki/Ngọc_Vạn
***
gửi kèm ảnh minh họa :

- Ảnh 1 : Không tìm thấy ảnh hoặc tượng thờ nào của Ngọc Vạn, người soạn tạm dùng ảnh tượng thờ của công chúa Huyền Trân, người có cùng cảnh ngộ để minh họa.


-Ảnh 2: Chùa Gia Lào, núi Chứa Chan, Đồng Nai.
Theo Google : đấy là nơi duy nhất có liên quan đến Ngọc Vạn


-Ảnh 3, chỉ để minh họa thêm : Lễ khánh thành đền thờ Công chúa Huyền Trân (Huế) với lời chú thích :
Sau nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước như: Thái Bình, Hải Dương, Nam Định, Đà Nẵng, Quảng Nam, Bà Rịa - Vũng Tàu, ... nay năm 2006, đến lượt TT-Huế có nơi thờ tự sùng kính, tôn nghiêm dành cho công chúa Huyền Trân., vị anh hùng liệt nữ có công mở nước.
Bùi Thụy Đào Nguyên, biên soạn
__________________
YM: quanglam_8_5
Đỗ Quang Lâm is offline   Trả lời cùng trích dẫn
Nguồn: http://forum.hscva.net/showthread.php?t=2707

Núi Chứa Chan (Đồng Nai)

Dulichbui's Blog - Sách Đại Nam Nhất Thống Chí viết : “…Núi Chứa Chan có thế núi chót vót, trông xuống khe Da Lao, chỗ giáp giới của hai huyện Long Khánh và Phước Binh có nhiều mây song gỗ lạt, lưng núi có động đá và giếng đá…”.

Núi Chứa Chan (Đồng Nai)
Núi Chứa Chan còn gọi là núi Gia Ray hay núi Gia Lào thuộc huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Núi có độ cao 837m (cao thứ hai ở Đông Nam Bộ - sau núi Bà Đen ở Tây Ninh - 986m) là điểm du lịch thu hút nhiều du khách hành hương. Vào các dịp lễ, tết số người hành hương về đây lên đến hàng ngàn, tạo bầu không khí náo nhiệt của ngày lễ hội.


Hằng năm, tại chùa Bửu Quang thường có các lễ hội truyền thống và các hoạt động văn hoá được tổ chức với những lễ chính như: Lễ Thượng nguồn (dịp Rằm tháng Giêng); Lễ Trung ngươn (dịp Rằm tháng Bảy); Lễ Hạ ngươn (dịp rằm tháng Mười)…Vào những dịp lễ, nhân dân địa phương cũng như ở các tỉnh, thành phố lân cận và miền Tây Nam Bộ…đến viếng chùa lễ Phật rất đông.
Trên núi có Chùa Bửu Quang được xây dựng từ đầu thế kỳ XX, với chánh điện mái vòm, toạ lạc trên một hang đá có dáng Hàm Rồng. Toàn bộ quần thể kiến trúc chùa đều dựa theo những hang động thiên nhiên, tạo nên nét độc đáo giữa chốn thâm nghiêm kỳ vĩ của núi rừng.

Suối Tiên trong vắt, nước chảy róc rách quanh năm và cây đa ba gốc thần bí ở lưng chừng núi như minh chứng thêm cho các huyền tích được truyền từ bao đời của vùng sơn cước này. Từ độ cao hơn 600 mét, phóng tầm nhìn ra xa du khách có thể chiêm ngưỡng cảnh quan thiên nhiên hữu tình, và lòng người sẽ cảm thấy thư thái sau chặng đường dốc lắm gian nan vất vả.

Núi Chứa Chan ngày nay còn lưu lại nhiều dấu tích hoạt động cách mạng qua hai cuộc kháng chiến của người Đồng Nai, vì đây là căn cứ kháng chiến của Huyện Xuân Lộc và chùa Bửu Hưng từng là căn cứ hậu cần, nơi trú đóng của nhiều cán bộ chiến sĩ cách mạng trong hai cuộc chiến tranh giải phóng.

Tại sao gọi là Chứa Chan?

Vào thế kỉ 17, có một vị quan người Việt là Việt Hùng, trong lúc giao chiến với quân Khmer, ông bị bắt cùng với người vợ của mình. Ông bị giam lỏng ở miền núi này và lập ở đây một ngôi miếu ăn chay tịnh. Còn vợ ông vì có nhan sắc nên đã bị vua khmer ép làm vợ lẽ mặc dầu biết bà đang mang thai. Sau đó, bà sinh dựoc một con gái, đặt tên là Mai Khanh. 18 năm sau, khi cô gái lớn lên, bà đã kể sự thật về cha cô cho cô nghe. Cùng với một người nô bộc của mình cô quyết định đi tìm cha. Hai cha con gặp nhau trong niềm vui sướng, và họ quyết định bỏ trốn , họ bị người Khmer truy đuổi gắt gao. Trong lúc hoạn loạn, cả ba người đã gieo mình tự vẫn ở ngọn núi này. Người dân ở đây đã lập miếu thờ ba người, hiện nay trong chùa có 3 tượng được mọi người gọi là ông vàng, cô bạc và cậu chì là để chỉ ba người này. Biết được câu chuyện thương tâm đó, người dân ở đây đặt tên cho ngọn núi này là núi chứa chan để nói lên tình cảm chan chứa của gia đình họ.

Núi Chứa Chan (Đồng Nai)
Trải qua những biến thiên của lịch sử trong quá trình mở mang bờ cõi của cha ông ta thì ngọn núi Chứa Chan có lẽ là một đỉnh điểm trên bước đường Nam tiến. Tương truyền thời chúa Nguyễn, công chúa Ngọc Vạn đã đặt chân tới vùng đất này, thấy phong cảnh hữu tình non xanh thuỷ tú, bà đã dựng doanh trại lập đền chùa miếu mạo thờ phụng phật tổ thần linh.
Hướng dẫn đi:

Xe máy: Chạy theo QL1 hướng đi Phan Thiết. Chạy qua Thị xã Long Khánh khoảng 4-5km bạn sẽ thấy một ngọn núi bên tay trái - đó chính là núi Chứa Chan. Chạy xe đến khu vực ngã Ba Ông Đồn quẹo trái đi theo tỉnh lộ 766 (có bảng chỉ dẫn nhưng cũ và mờ).

Núi Chứa Chan (Đồng Nai)
Xe khách: Từ Thành phố Hồ Chí Minh đi Chứa Chan không có xe khách chạy thẳng vào núi Chứa Chan, chỉ có xe đi tới Ngã Ba Ông Đồn. Rồi từ đó bạn liên hệ với người dân địa phương để thuê xe ôm đi vào Núi.


Comments