Trung Quốc và các tranh chấp vùng biển Nam Trung Hoa

China and the South China Sea Disputes

The International Institute for Strategic Studies

Oxford University Press 1995

Mark J. Valencia

Lê Hoàng-Bauvinal chuyển ngữ
Nguồn: Hãy dành thời gian

Giới thiệu:

Bài nghiên cứu dưới đây của Mark J. Valencia được viết từ năm 1995, đến nay đã trãi qua hơn 14 năm nhưng vẫn còn nguyên giá trị. Những phân tích sắc sảo của Valencia vẫn còn được nhiều nhà  nghiên cứu tham khảo khi tìm hiểu sâu hơn về tình hình khu vực ĐNÁ, và vấn đề chủ quyền trên biển đông. Động thái tăng cường quân sự không ngừng đặc biệt là hải quân TQ trong những năm gần đây và chính sách đối phó của Mỹ và các nước trong khu vực…càng cho thấy những ý kiến của Ông nêu ra chính xác đến nhường nào.

Vì vậy, dù cứ liệu của bài viết dừng lại ở những năm 1990-1995 nhưng với tầm nhìn và phương pháp luận thoáng mở, bài viết nầy cần được đọc qua để hiểu hơn phương châm “Nói vậy mà không phải vậy” của các nhà lãnh đạo nước láng giềng phương bắc, làm nền tảng để độc giả lý giải chính sách “bất di bất dịch” về lãnh hải phi lý của họ trước khi tiến sâu vào nội dung của những bài viết được tuyển chọn trong tập tư liệu nầy. Xin trân trọng giới thiệu.

Nhóm chuyển ngữ Bauvinal

Bản đồ lãnh hải trên biển Đông của Trung Quốc

Xung đột trong các yêu sách và giải pháp khả thi trong vùng biển Nam Trung Hoa

GIỚI THIỆU: BỐI CẢNH ĐỊA PHƯƠNG

Sau chiến tranh lạnh, Đông Nam Á rơi vào trạng thái địa chính trị biến động mạnh mẽ. Mặc cho chính quyền Clinton ra sức trấn an, hầu hết các nước trong khu vực đều nhận thấy Mỹ tập trung nhiều hơn vào nội địa và các vấn đề Châu Âu, hiển nhiên là chấm dứt nhiệm vụ quân sự của mình trong vùng Đông Nam Á và làm xói mòn sự hiện diện của Nền hòa bình kiểu Mỹ(Pax Americana) trong khu vực Thái Bình Dương. Thực vậy, người ta cảm nhận càng rõ hơn là về lâu dài Mỹ không còn là chỗ dựa cho sự ổn định khu vực và nếu không có Mỹ thì các nước trong vùng sẽ ít bị kiềm chế trong việc khẳng định chính mình, càng đẩy mạnh các yêu sách lãnh thổ và hàng hải (1). Hơn nữa, quan hệ của Mỹ với cả Trung Quốc và Nhật Bản cũng bị xuống cấp, Đông Nam Á hiểu rằng một hoặc cả hai nước này sau cùng sẽ thay thế Mỹ, đóng vai trò thế lực thống trị trong vùng. Đặc biệt đáng quan tâm hơn cả là ý đồ lâu dài  của Trung Quốc.

Mặc dù mang tiềm năng xung đột, Đông Nam Á hiện đang có cơ hội xây đắp một nền hòa bình lâu dài đầu tiên trong suốt cả một thế hệ. Để đáp ứng phần nào lại bầu không khí sau Chiến tranh lạnh, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã bắt đầu quan tâm đến hợp tác an ninh, Indonesia đang bắt đầu khẳng định quyền lãnh đạo ở Đông Nam Á, Việt Nam bị cô lập và yếu ớt đã ôm chặt lấy ASEAN. Thời kỳ Chiến tranh lạnh kết thúc với một Campuchia xung đột đang tàn tạ và mối quan hệ gần gũi hơn bao giờ hết giữa Việt Nam và các nước trong khối ASEAN, cũng như bước dò dẫm nối lại quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, đã vẽ ra toàn cảnh một quan hệ an ninh khu vực tích cực. Nhưng sự ngờ vực từ lịch sử, chịu đựng các tranh chấp lãnh thổ, cạnh tranh nhau các yêu sách hàng hải và gia tăng chi phí quân sự tổng hợp lại đã làm yếu đi viễn cảnh thành công trong cấu trúc an ninh khu vực đa phương.

Đặc biệt, tranh chấp về quần đảo Trường Sa (Spratly) ở biển Nam Trung Hoa đã biến thành trở ngại cho việc xây dựng cấu trúc an ninh đa phương. Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, quần đảo Philippines, Malaysia và Brunei đều đưa ra yêu sách toàn bộ hoặc một phần của quần đảo TS(Spratly) và vùng biển phụ cận. Đáy biển chung quanh các đảo và rặng đá ngầm được xem là nơi tiền tàng các mỏ dầu khí, và các hòn đảo có ý nghĩa chiến lược trong phòng ngự tuyến đường biển, ngăn chận và giám sát cho cả các thế lực mạnh và  yếu(2). Các nước yêu sách ganh đua nhau đưa lực lượng quân sự chiếm đóng các đảo và rặng đá ngầm theo kiểu chắp vá (xem Bản đồ 1 và 2). Các tranh chấp về lãnh thổ và quyền tài phán đã dẫn đến xung đột và sẽ còn tiếp diễn, có lẽ đang khuyến khích những chia rẽ mới trong khu vực. Điều làm cho các tranh chấp này đặc biệt bùng nổ là nó được xem như dính líu đến thách thức về tính toàn vẹn lãnh thổ và về sức mạnh lẫn khả năng lãnh đạo của giới đương quyền. Các tranh chấp có thể dính líu đến quyền lợi về quyền đi lại trên biển và lợi ích kinh tế của Mỹ và Nhật, cộng thêm vào các quyền lợi của những nước yêu sách, vì vậy vấn đề tranh chấp ở biển Đông có thể trở thành một vấn đề về an ninh ảnh hưởng đến toàn khu vực.

Trung Quốc và Đài Loan đòi hỏi rất nhiều quyền lợi trong vùng biển Nam Trung Hoa, ngoài toàn bộ các đảo nổi, hầu hết là dựa trên yếu tố lịch sử. Các yêu sách của Việt Nam cũng trên cơ sở đó dù ít hơn một chút, trong khi Philippines, Malaysia và Brunei đều đòi hỏi các phần nhỏ hơn. Các nước yêu sách trừ Brunei ra đều có quân đồn trú trên các đảo nơi họ đòi chủ quyền: Malaysia (3 đảo); Philippines (8 đảo); và Việt Nam (21 đảo). Đài Loan chiếm đảo lớn nhất, Taiping Dao(Đảo Thái Bình hay Ba Bình), cho quân đồn trú tại đảo này khoảng 800 binh sĩ và đã xây dựng một bến cảng và một đường sân bay. Trung Quốc đã đóng quân trên tám hay chín đảo.

Các tranh chấp vùng biển Nam Trung Hoa có quan hệ mật thiết về địa chính trị vươn xa khỏi quyền làm chủ mấy đảo bé xíu hay bất kỳ mỏ dầu nào ẩn chứa  trong đó. Thực vậy, kết quả của các tranh chấp và tiến trình đưa đến kết quả này có thể xem như là cách biểu thị các xu hướng quan hệ trong khu vực ở kỷ nguyên hậu Chiến tranh lạnh. Chúng có thể bắt đầu trả lời các câu hỏi sau: Chủ nghĩa đa phương có thể thực sự hiệu quả ? Ý đồ của Trung Quốc đối với khu vực ra sao ? Liệu sẽ là một sự hợp tác, láng giềng hữu hảo như họ tự đề ra (như khi gia nhập khu vực được tiếp đón có lẽ quá nồng hậu), hoặc là họ sẽ tìm cách thống trị và tự viết ra những luật lệ theo ý mình trong ứng xử quốc tế ? Nếu Trung Quốc thật sự tìm cách thống trị khu vực, Nhật và Mỹ sẽ phản ứng ra sao – nếu như chỉ đứng ở hậu trường – khi thấy ảnh hưởng khu vực của mình bị lụi tàn khi về tay Trung Quốc ? Trung Quốc có thể hay cần phải được xoa dịu hay khống chế khi lọt vào tay TQ ? ASEAN có thể duy trì đoàn kết khi đối mặt với một Trung Quốc quyết đoán và lôi kéo ? Việt Nam gia nhập ASEAN sẽ ảnh hưởng ra sao đến cán cân chính trị khu vực và mối quan hệ với Trung Quốc ? Việt Nam và ASEAN sẽ thành lập ngấm ngầm hay công khai một mặt trận chống lại Trung Quốc trên vấn đề hệ trọng như là an ninh ? Và liệu Indonesia sẽ nổi lên như là một phó lãnh đạo khu vực qua việc môi giới thành công một giải pháp cho mớ rối rắm biển Nam Trung Hoa ?

Tháng 2-1995, Philippines cáo buộc Trung Quốc vi phạm luật quốc tế khi cho tàu  tàu vũ trang trú đóng và xây dựng công trình kiến trúc kiên cố trên rặng đá ngầm Mischief (Meijijiao/Panganiban) của họ. Cáo buộc qua lại chẳng bao lâu leo thang thành tranh chấp quốc tế, càng gây thêm lo lắng về ý đồ của Trung Quốc. Sự kiện rặng đá ngầm Mischief đánh dấu khởi đầu một giai đoạn mới trong tranh chấp trên biển Nam Trung Hoa. Lần đầu tiên, Trung Quốc chủ động tự mình khẳng định trước một nước có đòi hỏi( về chủ quyền) khác ngoài Việt Nam, phá tan  huyền thoại là Trung Quốc chỉ hànhđộng xông xáo đối với Việt Nam và để yên

Yêu sách về lãnh hải của Trung Quốc(đường lưỡi bò màu xanh)

các  nước tranh chấp khác. Cách tiếp cận của Trung Quốc dường như là ‘thương thuyết song phương theo điều kiện của tao hoặc sẽ đối mặt với hậu quả’. Thêm vào đó, cuộc đối thoại do Indonesia bảo trợ – một cuộc hội họp định kỳ gồm các nước vùng biển Nam Trung Hoa nhằm thăm dò các giải pháp cho tranh chấp – hình như bị chệch hướng. Vụ việc rặng đá ngầm Mischief này có thể làm xói mòn thêm lòng tin vào hiệu quả của tiến trình thương thảo.

ASEAN đã tìm được tiếng nói chung trong vấn đề này, ‘bày tỏ quan tâm sâu sắc trên các diễn biến gần đây có ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định trong vùng biển Nam Trung Hoa’, thúc đẩy nâng cao tin cậy và biện pháp xây dựng lòng tin, triệu tập đại sứ Trung Quốc tại các nước liên quan đến để nhấn mạnh mối quan ngại của mình và đưa ra một mặt trận đoàn kết tại kỳ họp tư vấn đầu tiên  ASEAN – Trung Quốc(5). Mỹ, Nhật, Úc, New Zealand và ngay cả Cộng đồng Châu Âu (EU) cũng bày tỏ sự quan tâm(6). Đặc biệt, chính sách của Mỹ trong vấn đề này dường như đã có thay đổi từ ‘thụ động’ sang ‘trung lập chủ động’(7). Vấn đề tranh chấp biển Nam Trung Hoa đã được nêu ra tại Brunei vào tháng 7-1995 tại Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) – một nhóm rời rạc gồm 19 nước trong vùng biển Thái Bình Dương (bao gồm Trung Quốc, Nhật và Mỹ) cùng EU cũng đã được thành lập nhằm thảo luận và nâng cao an ninh khu vực trong vùng Đông Á(8).

Trung Quốc là thế lực thống trị khu vực và đưa ra yêu sách bao quát nhất vùng biển Nam Trung Hoa. Mọi giải pháp cho tranh chấp tại vùng biển này do đó phải thỏa mãn quyền lợi của Trung Quốc. Tuy nhiên, chính sách và các yêu sách khu vực của Trung Quốc là nhập nhằng và có khoảng cách lớn giữa lời nói và hành động. Thực vậy, nhận chân các ý đồ và quan tâm của Trung Quốc trong vùng biển Nam Trung Hoa là khó khăn và dễ gây tranh cải. Bài viết này cung cấp bối cảnh chính trị và dự đoán các vấn đề thuộc biển Nam Trung Hoa bằng cách lấy Trung Quốc làm điểm nhấn. Đặc biệt là mô tả  các đòi hỏi cùng chiến lược của các quốc gia có yêu sách cũng như sự quan tâm nảy sinh từ tiềm năng mỏ dầu mỏ khám phá  ở vùng biển Nam Trung Hoa. Sau đó là phân tích về các ý đồ của Trung Quốc trong khu vực, tập trung vào sự tương phản giữa lời nói hoa mỹ và hành động thực tế của Trung Quốc. Bài này cũng tổng hợp lại các mối quan hệ của Trung Quốc trong vấn đề trên với Mỹ trong tư cách là bên thứ ba có liên quan, ASEAN, các nước yêu sách khác, đặc biệt là Việt Nam và Đài Loan.

I- CÁC YÊU SÁCH VÀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG

Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam ai nấy đều có yêu sách toàn bộ các đảo, các rặng đá ngầm và các mỏm đá trong vùng quần đảo TS(Spratly), chính xác là những gì nằm trên mực nước biển, cho rằng từ lâu đã thuộc về lãnh thổ của mình (xem Bản đồ 1 và 2). Philippines đòi hỏi theo tính chất như trên, nhưng giới hạn trong vùng họ gọi là Kalayaan (Freedomland). Trung Quốc, Đài Loan và Philippines bên nào cũng đều yêu sách mọi phần nằm dưới mặt nước trong vùng đảo TS(Spratly)(1). Trung Quốc và Đài Loan dựa trên sự khám phá và chiếm dụng trong lịch sử để đưa ra yêu sách gần như toàn bộ vùng biển Nam Trung Hoa(2). Philippines thì biện hộ cho yêu sách của mình đối với khu vực được xem là sống còn đối với an ninh quốc gia và nền kinh tế, rằng lãnh thổ trên chưa có nước nào sở hữu hợp pháp và các yêu sách của các nước khác đều đã bỏ dỡ(3). Lịch sử là nhân tố không thể bỏ qua, và sự chiếm đóng cùng kiểm soát có hiệu lực cũng là những chứng cứ, từ đó xác lập nên chủ quyền ở đây. Malaysia yêu sách thẳng thừng 7 hòn đảo phía nam TS ( Spratlys) vì nó nằm trong biên giới thềm lục địa nước họ. Brunei thì đòi hỏi Khu vực Đặc quyền Kinh tế (EEZ) – một khoảng rộng 200 hải lý qui định bởi Qui ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) – có hình dạng như một hành lang kéo dài chính xác đến phía nam quần đảo TS( Spratlys) và vượt khỏi 200 hải lý từ bờ biển nước họ, bao gồm cả bờ đá Rifleman và một góc nhỏ vùng Kalayaan(4). (UNCLOS đã thông qua vào năm 1982, có hiệu lực vào 16-11-1994 và đã được Indonesia, Philippines và hiện nay là Việt Nam và Singapore phê chuẩn.)

Các nước có yêu sách đã cố gắng để bênh vực cho đòi hỏi của mình bằng nhiều cách,  bao gồm cả biện pháp sử dụng sức mạnh quân sự; ‘diệu võ giương oai’; chiếm đóng và gia cố các đảo nhỏ; xây dựng trên các vùng đá ngầm; lập nên các công trình và cột mốc trên các đảo; thành lập các trạm nghiên cứu khoa học giả như được ủy nhiệm bởi các tổ chức quốc tế; ban hành các đạo luật; sát nhập khu vực vào các tỉnh gần kề; ấn hành các bản đồ thể hiện các yêu sách; đưa ra các tài liệu lịch sử chứng minh cho yêu sách; cho phép các du khách và nhà báo thăm viếng đảo ‘của họ’; và cấp quyền nhượng địa cho các công ty dầu mỏ ở các vùng tranh chấp. Kịch tính nhất của những hành động này dẫn đến vụ đụng độ nhỏ hải quân giữa Trung Quốc và Việt Nam năm 1988, nhưng cả hai nước vẫn tiếp tục đổ bộ binh lính và cắm cột mốc lên các đảo chiếm đóng. Chỉ ít kịch tính hơn một chút là việc Malaysia bắt giữ ngư dân Philippines trong khu vực có tranh chấp chồng chéo về yêu sách của Malaysia và Philippines, và Philippines bắt giữ ngư dân Trung Quốc đang hoạt động gần các đảo mà họ chiếm đóng(5).

Dưới đây là tổng kết những ví dụ trần tục hơn các cố gắng bênh vực yêu sách chủ quyền trong khu vực. Năm 1991, Malaysia loan báo rằng đảo trong rặng đá ngầm Swallow (Terumbu Layang Layang) bị họ chiếm giữ trước đây được biến thành một khu nghỉ dưỡng du lịch có một nhà nghỉ và một đường băng phục vụ máy bay quân sự và dân sự loại nhỏ(6). Họ cũng đang cố gắng mở mang hòn đảo thành một căn cứ cho hoạt động đánh bắt hải sản trong khu vực yêu sách. UNCLOS qui định rằng mỏm đá ngoài khơi nào không thích hợp được cho con người cư ngụ hoặc tự nó không hỗ trợ được cho đời sống kinh tế thì không thể phát huy được đòi hỏi về EEZ hay thềm lục địa. Xem chừng ý đồ của Malaysia là nhằm chứng minh rặng đá ngầm Swallow bản thân nó đã có một đời sống kinh tế . Tương tự, Philippines đã bày tỏ ý định của mình về phát triển du lịch trên đảo Pagasa. Việt Nam, cũng thế, đã khánh thành một cảng đánh cá trên một đảo trong khu vực và trong tháng 12-1992, đúng lúc Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng (Li Peng) sang thăm Hà Nội, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã mời các nhà báo nước ngoài đi thăm viếng các đảo mình đã chiếm ngụ(7).

Trung Quốc đưa ra lời mời thực hiện các cuộc phối hợp khảo sát khoa học với các nước có yêu sách( về chủ quyền) khác bằng tàu của Trung Quốc ở  vùng biển yêu sách của các nước này, có lẽ  đây là sáng kiến nhằm biểu lộ sự mặc nhận về chủ quyền (của  TQ) . Trung Quốc cũng thành lập một trạm quan trắc thời tiết trên một trong những đảo họ chiếm đóng, cho rằng làm thế theo sự bảo trợ của Tổ chức Khí tượng Thế giới, nhưng tổ chức này đã chối bỏ việc cấp phép cho lắp đặt(8). Việt Nam cũng phát triển một trạm nghiên cứu trong khu vực, và tức thì bị Trung Quốc phản đối(9). Căn cứ hải quân của Trung Quốc trên rặng đá ngầm Fiery Cross (Yongshu Jiao) có cả một trạm quan sát hải dương học hiện đại có thể nhận và truyền tín hiệu vệ tinh, cung cấp dữ liệu khí tượng quan trọng cho phi cơ và tàu thủy đi ngang qua. Rặng đá ngầm này cũng có một bãi đáp trực thăng và bến tàu dài 300 mét đáp ứng được sự ra vào cho tàu có trọng tải 4.000 tấn. Các kết nối trực tiếp bưu chính viễn thông cũng đã được thành lập giữa trạm nhân sự trên rặng đá ngầm và lục địa(10).

Đài Loan, Trung Quốc, Việt Nam và Philippines nước nào cũng sát nhập toàn bộ vùng quần đảo TS (Spratly) vào hệ thống quản lý hành chánh cấp tỉnh của mình. Tháng 7-1991, Đài Loan tái khẳng định yêu sách chủ quyền của mình trên quần đảo TS (Spratly)(11). Hai đạo luật hiện đang được Đài Loan cân nhắc – luật về lãnh hải và vùng tiếp giáp, luật về EEZ và thềm lục địa – có thể quan hệ mật thiết đến yêu sách của họ, mặc dù trong văn bản đó chẳng đề cập đặc biệt gì đến đến quần đảo TS (Pratlys). Trung Quốc đã chấp nhận Luật về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp vào tháng 2-1994 vì cho rằng căn cứ vào đó thì quần đảo TS( Spratlys) phải được giao lại cho Trung Quốc(12).

Cấp phép nhượng quyền về dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên trong vùng biển tranh chấp là thông thường nhưng cũng là một phương sách khiêu khích mà các quốc gia yêu sách dùng để chứng tỏ quyền tài phán của mình. Tuy nhiên, hợp đồng có điều kiện là người được nhượng quyền đang trực tiếp thực hiện phải ngưng lại chờ giải quyết khi có va chạm tranh chấp chủ quyền. Tuy thế, trong thập kỷ 70 và đầu 80, AMOCO, Selen và Công ty Phát triển Dầu khí Philippines đã khoan nhiều giếng trên bờ đá Reed qua sự cấp phép nhượng quyền của Philippines. Gần đây hơn, Công ty Dầu khí Kirkland đã nhận được hợp đồng thăm dò và khảo sát địa vật lý từ chính phủ Philippines đến khoảng 15.500 km2, gồm hầu hết bờ đá Reed, và công tác khảo sát địa chấn đã hoàn thành vào tháng 6-1995(13). Trung Quốc nghe nói cũng đã khoan được một giếng, là Nanyang 1, trên rặng đá ngầm Fiery Cross(14). Một hợp đồng nhượng quyền do Trung Quốc cấp cho Crestone Energy Corporation, một công ty Mỹ, có lịch trình công tác rõ ràng các công đoạn như khảo sát bằng địa chấn mà việc này là đòi hỏi phải có cơ sở vật chất chiếm đóng trên khu vực nhượng quyền, và công ty trên đã công bố kế hoạch khoan giếng. Không có chiến dịch phản đối nào về sự nhượng quyền cho Crestone, đặc biệt khi khoan lấy dầu, chứng minh sự kiểm soát hiệu quả thực tế trong khu vực, đây chính là một tiêu chuẩn xác nhận quyền sở hữu (sự ngấm ngầm chấp nhận của các nước yêu sách còn lại là một vấn đề khác). Có thể hiểu được tại sao Việt Nam đã phản đối  hành động của Trung Quốc và toan tính khoan giếng trước một bước trước tiên trong lô nói trên.

Không rõ trữ lượng dầu khí ở quần đảo TS(Spratlys) lớn cỡ nào (ước lượng khoảng 1 đến 17,7 tỷ tấn) nhưng nó cũng là yếu tố chính bao hàm trong các yêu sách chủ quyền trong khu vực(15). Nhiều nhà quan sát cảnh báo rằng với các dữ liệu hạn chế về địa lý và địa hóa học trong khu vực quần đảo TS (Spratlys) cộng với mực nước sâu nói chung cho thấy riêng ở quần đảo nầy( Spratlys) chỉ có trữ lượng khiêm tốn về dầu mỏ và khí đốt có thể khai thác thương mại . Theo quan điểm này, khả năng tồn tại trữ lượng khí thiên nhiên là nhiều hơn, nhưng phải khám phá được mỏ rất lớn mới khai thác thương mại hiệu quả. Thăm dò ở khu vực tư nhân trong vùng quần đảo TS (Spratlys) do đó chắc sẽ khiêm nhường, đồng bộ với mức hấp dẫn thương mại hãn hữu tương tự,  ngay cả khi áp dụng cho một hợp đồng liên kết thăm dò và khai thác.

Tuy nhiên, các công ty dầu mỏ thường hạ thấp kích cỡ tiềm năng trữ lượng nhằm hy vọng có những điều khoản có lợi hơn trong hợp đồng, trong khi chính phủ và những nhà đầu cơ có khuynh hướng nâng cao tiềm năng trữ lượng. Kiểu giả vờ này có thể phần nào giải thích sự khác biệt trong ước tính của các nhà địa chất Trung Quốc và Philippines, là những người lạc quan, khác với một số công ty dầu mỏ cỡ bự, thường là tương đối bi quan(16).

Các viện khoa học ngoài khu vực như Đài Quan sát Địa chất Lamont Doherty và Viện Bản đồ Địa chất Đức quốc thì cũng lạc quan về tiềm năng có các trữ lượng lớn ở quần đảo TS (Spratlys). Một cuộc khảo sát năm 1995 do Viện Khảo sát Địa chất Ngoài Lãnh thổ của Nga thực hiện đã ước lượng khu vực đảo TS (Spratlys) có thể chứa đến 6 tỷ thùng dầu mỏ tương đương, trong đó có thể 70% là khí đốt thiên nhiên. Đây là một ước lượng lạc quan về trữ lượng và thực tế khai thác được sẽ ít hơn nhiều(17). Tuy nhiên, nơi đây có khoảng 9 km trầm tích thuộc Kỷ đệ tam và Kỷ phấn trắng* dưới bờ đá Reed và phần địa tầng phô bày cấu trúc đá rỗng, đặc biệt là các phay lồi. Hơn nữa, một vài giếng đã khoan xác nhận sự tồn tại của nguồn chứa khá tốt và các lớp đá chứa dầu. Tuy vậy, dường như những báo cáo về các trữ lượng dầu khí lớn lao đều dựa trên nguồn tin chưa đầy đủ và khu vực quần đảo TS (Spratlys) hiện tại vẫn chưa là ưu tiên một của các công ty dầu mỏ chủ chốt. Rõ ràng là không khôn ngoan khi quảng bá những ước tính về tiềm năng trữ lượng dầu khí mà chỉ dựa trên một số tin tức hiếm hoi thu nhặt được của người khác.

Ý kiến cho rằng vùng nước biển quanh quần đảo TS (Spratlys) là quá sâu để khoan giếng có hiệu quả kinh tế là diều đang nghi ngờ. Ước độ 10,350km2 đáy biển dưới mặt nước vùng bờ đá Reed và các bờ đá lân cận có độ sâu chưa đến 200 mét(18). Vẫn còn nhiều vùng đáy biển ở quần đảo TS(Spratlys) nằm trong mức 1.000 mét đường đẳng áp. Thêm vào đó, một số đảo san hô vòng ở biển Nam Trung Hoa có lẽ sẽ được dùng làm nền cho bệ khoan. Nhượng quyền đã cấp phát trong vùng nước sâu phía trong và liền kề khu vực Spratlys: cấp cho Kirkland và Alcorn (do Philippines, chỉ mới trên bàn giấy); cấp cho Crestone (do Trung Quốc); và cấp cho Sabah Shell (do Malaysia)(19). Tháng 12-1994, công ty Occidental đã khoan và tìm ra dầu dưới mức khai thác thương mại ở khoảng 1.280 mét sâu khỏi phía tây bắc Palawan, một kỷ lục ở châu Á(20). (Kỷ lục thế giới hiện tại về khai thác ở nước sâu là 725 mét do công ty Petrobras ngoài khơi Brazil.)(21) Trong vòng hai năm, Petrobras mong mỏi được khai thác dầu đều đặn từ độ sâu khoảng 1.000 mét trong vùng trũng Campos. Hãng dầu Shell đã tiến hành khoan thăm dò ở 2.300 mét nước sâu trong vùng thung lũng sông Missisippi, và hy vọng thu lợi được từ độ sâu như thế trong một tương lai gần.

Rõ ràng, kích cỡ của mỏ phải đủ lớn để cân đối chi phí khoan giếng dưới nước sâu, có lẽ 100 – 150 triệu thùng, với chi phí hút lên khoảng 10 đô la mỗi thùng. Đây là số phỏng chừng chi phí ban đầu của giếng số 1 West Linacapan khoan trúng mạch dầu nằm trong phạm vi địa chất của lô khai thác ở đảo Spratlys, mặc dù đang dấy lên nhiều nghi ngờ về khả năng khai thác của nó(22). Khi giá dầu gia tăng, khả năng khai thác sẽ hiện thực hơn.

Trong bất kỳ trường hợp nào, các tranh chấp ở vùng biển Nam Trung Hoa không chỉ chủ yếu vì dầu khí nhưng vì tầm quan trọng chiến lược của các hòn đảo và thêm vào đó là yêu sách chủ quyền. Trong hoàn cảnh này, liên kết quản lý có thể là biện pháp xây đắp lòng tin hiệu quả để có thể mang lại phi quân sự hóa cho khu vực. Hơn nữa, các đương sự yêu sách là quốc gia, không phải các công ty dầu mỏ; họ hành động vì quyền lợi lâu dài, đặc biệt khi có dính líu đến lãnh thổ. Do vậy không chắc là các bên yêu sách sẽ nản lòng trong các tranh chấp của mình đơn giản chỉ vì tiềm năng dầu mỏ trong vùng có lẽ không nhiều.

Trung Quốc: Câu hỏi về ý đồ

Trung Quốc là nhân vật chủ chốt trong vùng biển Nam Trung Hoa do ưu điểm về chiều kích rộng lớn, đang phát triển về chính trị, kinh tế và sức mạnh quân sự, cũng như yêu sách càn quét về lãnh thổ với những hành động hung hăng như đã nêu. Càng khẳng định thêm, chiến lược của Trung Quốc dường như là đồng thời tăng cường khả năng hải quân; nâng cao và mở rộng sự hiện diện thực thể của nó, từ đó hợp pháp hóa sự chiếm đóng; mời gọi các công ty khai thác dầu khí  phương Tây thăm dò trong các vùng tranh chấp; nhấn mạnh vào và hướng đến ngoại giao song phương với các nước có yêu sách khác(23). Dường như Trung Quốc phát triển chính sách ‘ba không’ để đối phó với vấn đề quần đảo TS (Spratlys); không định rõ các yêu sách; không thương thảo đa  phương; và không ‘quốc tế hóa vấn đề’, bao gồm không dính líu đến các thế lực bên ngoài.

Mặc dù Trung Quốc có mời gọi liên kết phát triển khu vực trên với các nước có yêu sách( về chủ quyền) song các điều kiện đưa ra có lẽ không thể chấp nhận được với các nước trên. Qua việc liên kết phát triển, Trung Quốc dường như có ý định khai thác toàn bộ vùng biển Nam Trung Hoa, bao gồm dầu mỏ và khí đốt thiên nhiên trên thềm lục địa của các nước khác – và chỉ nhờ vậy chủ quyền của Trung Quốc trên toàn khu vực biển đương nhiem được nhìn nhận. Thực vậy, ý niệm liên kết phát triển của Trung Quốc có vẻ

như là một sự tham gia của các bên nước ngoài vào việc phát triển tài nguyên của Trung Quốc – đối lập với cách thức góp chung vào các quyền lợi tài nguyên trong vùng tranh chấp, vốn là một kiểu mang tính qui ước hơn trong thể thức liên kết phát triển(25). Mặc dù Trung Quốc chưa tuyên bố rõ ràng về điều này do ngại sự liên minh của các nước yêu sách khác, thái độ lập lờ tại nhiều cuộc thảo luận khác nhau do Indonesia môi giới, sự không nhất quán giữa lời nói và hành động, cách thức tương tự diễn ra trên đảo Senkaku (Taio-yu-tai)(26). Liên quan đến việc quốc tế hóa vấn đề tranh chấpTrung quốc chống lại  mọi sáng kiến tổ chức đa quốc gia nhằm giải quyết các tranh chấp trong khu vực – có vẻ là do  phương thức nầy có thể dẫn đến việc công nhận Đài Loan, và vì không thể tách rời vấn đề chủ quyền vốn chưa giải quyết được. Thay vào đó, Trung Quốc ưa chuộng  các cuộc thương thảo  song phương hơn và  – chỉ khi cảm thấy cần – liên kết phát triển song phương(27).

Thảo luận đa phương có thể khiến đi lệch hướng chiến lược của Trung Quốc trong việc trì hoản dàn xếp vấn đề chủ quyền với Đài Loan và xoa dịu căng thẳng thông qua các quan hệ song phương đã cải thiện với các nước yêu sách khác. Hơn nữa, Trung Quốc đang cố gắng tránh né đối mặt với một tập hợp ASEAN trên bàn tranh chấp – sẽ nổi lên từ các thương thảo đa phương – và không muốn đứng vào vị thế ngoại giao chính thức để bị giới hạn tầm vận dụng của mình(28). Trung Quốc cũng chống lại sự chính thức hóa và thể chế hóa các cuộc thảo luận do Indonesia bảo trợ – hình như là do có sự tham gia của Đài Loan. Tình thế này đưa ra một câu hỏi rất cơ bản: Liệu có phải Trung Quốc đang tìm cách viết ra những luật lệ riêng của mình về trật tự quốc tế hơn là chấp nhận những quy tắc đang tồn tại ?(29)

Thỏa mãn những mối quan tâm hợp lý của Trung Quốc là vấn nạn cho bất kỳ một giải pháp toàn diện nào. Tuy nhiên, vị trí chính xác của Trung Quốc trong những vấn đề này là không rõ ràng. Ví dụ như qua các hành động của mình, Trung Quốc dường như đòi hỏi chủ quyền toàn bộ vùng biển Nam Trung Hoa, nhưng lại từ chối  khẳng định hay bào chữa cho yêu sách đó, ngoài việc ấn hành địa đồ cho thấy một ‘đường yêu sách theo lịch sử’ nhô ra bao trùm gần hết vùng biển Nam Trung Hoa (xem Bản đồ 1). Không rõ là Trung Quốc yêu sách chủ quyền toàn bộ khu vực, trên lẫn dưới mặt nước biển, trong vạch yêu sách lịch sử đó hoặc chỉ các hòn đảo nằm trong vạch. Và nếu họ chỉ yêu sách các đảo thôi, thì có kể luôn EEZ và thềm lục địa của các đảo đó hay không, và có cho rằng những khu vực đó phải vươn ra dến phạm vi yêu sách của các nước ở lục địa khác ? Trung Quốc cũng nhận thức rằng một khi họ chỉ rõ các yêu sách của mình, họ sẽ phải bảo vệ nó trong khung cảnh luật quốc tế hiện hành, và một yêu sách lấy gần hết vùng biển Nam Trung Hoa theo yếu tố lịch sử thì sẽ rất khó mà chống đỡ. Có lẽ vì vậy mà Trung Quốc đề nghị tạm thời xếp sang bên vấn đề trên để phục vụ cho việc hợp tác phát triển. Trung Quốc thừa nhận các nước khác cũng đòi hỏi chủ quyền nhiều phần trong khu vực, nên tiếp tục đề nghị liên kết phát triển. Nhưng tín hiệu đưa ra lại lẫn lộn, không rõ là liên kết phát triển chỉ ở vùng quần đảo TS( Spratly) hay toàn bộ vùng biển Nam Trung Hoa, bao gồm cả khu vực mà các nước tranh chấp khác cho rằng rõ ràng là nằm trong thềm lục địa của họ. Hơn nữa, mặc dù đề nghị liên kết phát triển của Trung Quốc thoạt đầu có ý nghĩa đa phương liên kết phát triển, nhưng lúc nào cũng nhấn mạnh vào thương thảo song phương trên các vấn đề này, và dường như đang chơi trò lôi kéo với vài nước có yêu sách trong ASEAN tách ra chống lại Việt Nam. Như thế, giữa lời nói và việc làm của Trung Quốc đã có một khoảng cách mở rộng.

Mỉa mai thay, Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng (Li Peng) trong tuyên bố ngày 13 tháng 8 năm 1990 tại Singapore rằng Trung Quốc đã chuẩn bị xếp lại những vấn đề về chủ quyền và sẽ liên kết phát triển vùng quần đảo TS (Spratly), muốn gác lại vấn đề gây trở ngại chính và dựng lên một khung cảnh mới để giải quyết những vấn đề trong vùng(30). Tuyên bố trên theo sau sự kiện va chạm khốc liệt tháng 3-1988 giữa Trung Quốc và Việt Nam tại rặng đá ngầm Johnson – khi đó ba tàu Việt Nam bị đắm và 77 thủy thủ Việt Nam bị giết hoặc mất tích – và phản ánh một sự trở mặt rất quan trọng(31).

Vào năm 1991 khi hội nghị do Indonesia bảo trợ nhóm họp tại Bandung, mọi bên yêu sách đều nhất trí giải quyết các khác biệt một cách hòa bình và tránh các hành động đơn phương có thể hủy hoại tiến trình. Nhưng những hành động tiếp theo sau của Trung Quốc lại phá hoại thiện chí: Trung Quốc tăng cường sức mạnh hải quân và khả năng không quân trong vùng biển Nam Trung Hoa; sở hữu kỹ thuật tiếp liệu trên không; và ngay cả việc dự tính mua một hàng không mẫu hạm từ Ukraine. Trung Quốc cũng thông qua Luật về Lãnh hải và các Miền tiếp giáp nhằm chính thức hóa và hợp nhất với yêu sách về chủ quyền của mình trên quần đảo HS (Paracel) và TS(Spratly). Sau đó Trung Quốc cấp nhượng quyền khai thác về dầu mỏ cho công ty Crestone, tức giếng dầu Wan’an Bei, trên vùng Việt Nam đòi hỏi chủ quyền ở thềm lục địa thuộc vùng bờ đá Vanguard, và cam kết sẽ dùng vũ lực bảo vệ cho công ty khai thác (xem Bản đồ 1). Ngay cả trong lúc hội nghị do Indonesia bảo trợ tiến hành lần thứ 3 tại Jogjakarta tháng 7-1992 để tìm giải pháp cho vấn đề, Trung Quốc gởi thêm quân bổ sung đến 6 hòn đảo đã chiếm đóng và đổ bộ binh sĩ để dựng cột mốc chủ quyền trên rặng đá ngầm Da Lac mà Việt Nam đang đòi hỏi, nằm gần nhất khu vực nhượng quyền cho Crestone.

Khi đối mặt với sự cảnh báo và chỉ trích  tăng cao từ những nước yêu sách khác trong mùa xuân và hè 1992, Trung Quốc lập tức lại đưa ra cơ hội thương thảo về tranh chấp ở TS(Spratly) và lập lại lời cam kết không sử dụng vũ lực để bảo vệ các yêu sách của mình. Những cố gắng này là quá ít và quá trễ; nhằm phản ứng lại hành động của Trung Quốc, hội nghị Ngoại trưởng ASEAN tại Manila đã đưa ra một tuyên bố chính thức chưa từng có trước đây về an ninh khu vực, gọi là Tuyên bố của ASEAN về biển Nam Trung Hoa. Trong đó thúc dục mọi nước có yêu sách phải dàn xếp tranh chấp một cách hòa bình và kêu gọi sự hợp tác trong khu vực nhằm tiến đến an toàn giao thông liên lạc, ngăn ngừa ô nhiễm, tìm kiếm cứu nạn, chống hải tặc và buôn lậu ma túy. Việt Nam lập tức lên tiếng ủng hộ tuyên bố nhưng phản ứng ban đầu của Trung Quốc là không rõ ràng. Trong tháng 10-1992, lập trường của ASEAN được đưa vào trong văn kiện cuối cùng của Ủy ban  chính trị của Phong trào Không Liên kết, mặc cho Trung Quốc phản đối sự bao gồm này. Trung Quốc bèn tái triển khai ba tàu ngầm qui ước kiểu Romeo từ Hạm đội biển Bắc về tuần tra trong khu vực tranh chấp tại biển Nam Trung Hoa. Động thái này làm dâng cao nghi ngờ Trung Quốc chỉ đơn giản sử dụng tiến trình do Indonesia bảo trợ để câu giờ trong lúc cũng cố và tăng cường vị thế của mình. Mặc dù sau đó Trung Quốc lại đưa ra đề nghị xếp qua bên vấn đề chủ quyền và tiến hành việc liên kết phát triển – đặc biệt là với Malaysia và Philippines – nhưng những đề nghị này chẳng còn làm ai quan tâm đến. Phần nào cũng vì Trung Quốc tiếp tục từ chối giảm nhẹ các đòi hỏi quá đáng của mình trong khu vực mà chẳng thèm nhìn nhận tính hợp pháp trong yêu sách các nước khác.

Nhiều giả thuyết được đưa ra để giải thích tại sao Trung Quốc lại hành động như thế. Làm phức tạp vấn đề là cách giải thích đúng nhất các hành động của Trung Quốc theo từng động năng khác nhau và thời điểm khác nhau. Nguyên tắc của Trung Quốc đối với bất kỳ tiến trình an ninh đa phương nào là mọi quốc gia phải được đối xử bình đẵng trên cơ sở năm nguyên tắc chung sống hòa bình: không quốc gia nào xen vào công việc nội bộ của các quốc gia khác; giải giới và kiểm soát vũ khí phải được tiến hành theo cách công bằng và hợp lý; phải nổ lực chấm dứt chạy đua vũ trang và ngăn ngừa phát triển vũ khí hạt nhân; không nước nào mưu đồ bá chủ hoặc ảnh hưởng toàn cầu, hoặc tổ chức hay liên kết quân sự thành một khối trực tiếp uy hiếp những nước khác; và tranh chấp lãnh thổ, tranh chấp biên giới cũng như các loại khác giữa các quốc gia trong khu vực phải được dàn xếp một cách hòa bình không dùng đến vũ lực(34).

Mặc dù Trung Quốc có thể xem đối thoại đa phương trong khu vực là không thể tránh né được, nhưng lại e dè, sợ rằng lịch trình và diễn tiến này có thể bị Mỹ hay các nước khác giật dây. Trung Quốc cũng sợ rằng Đài Loan có thể dùng cuộc đối thoại về TS(Spratly) để tiến lên mục tiêu nhìn nhận về mặt quốc tế cho mình. Thêm vào đó, Trung Quốc nghĩ rằng các vấn đề an ninh, như việc đảo Spratlys, là vấn đề song phương cần được xử trí bởi các nước liên quan vì vậy cho rằng dùng phương thức đa phương là không thích hợp cho nhiệm vụ đó, cho nên Trung Quốc phản đối đưa vấn đề đảo Spratly trong chương trình nghị sự của thảo luận đa phương về an ninh quốc tế trong khu vực. Từ đó Trung Quốc sẽ đợi cho các nước khác đi bước khởi đầu trong lúc vẫn nhấn mạnh quan điểm cho rằng hầu hết các vấn đề về an ninh trong khu vực là không thể điều chỉnh được bằng giải pháp đa phương.

Tuyến đường chở dầu trên biển kéo dài từ Vịnh Ba Tư đến NB

Trao cho Trung Quốc lợi thế của sự mập mờ, và nghiên cứu các nguyên tắc cùng sự quan tâm nêu trên, Bắc Kinh có thể chỉ đơn giản phản ứng với các động thái từ các nước tranh chấp khác, hoặc tìm kiếm một chiến lược có lợi thế hơn trước khi đồng ý thương thảo. Trong khung cảnh trên, vài nhà phân tích tin rằng đề nghị liên kết phát triển đưa ra bởi Lý Bằng(Li Peng) và lập lại bởi lãnh đạo cấp cao đảng Cộng sản Dương Thượng Côn (Yang Shankun) là hấp tấp vì các bộ ngành liên quan, nhất là Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA), chưa được tham khảo ý kiến(35).

Từ sự khủng hoảng tại quảng trường Thiên An Môn năm 1989, PLA đã trở nên có ảnh hưởng hơn. Gia tăng ngân sách cho PLA và cho phép nó biểu dương sức mạnh trong vùng biển Nam Trung Hoa là hai cách nhằm vỗ về PLA và gặt hái sự hỗ trợ của nó. Sau sự băng hà của Đặng Tiểu Bình, các tân lãnh đạo của Trung Quốc có thể phải chọn cách khó khăn hơn để chiếm được sự hỗ trợ của PLA. Hiện sự bấp bênh đang bao trùm giới lãnh đạo nối ngôi, bất cứ phần lãnh thổ nào bị mất về tay đối thủ sẽ là một sự truất phế; không thể trông mong giới lãnh đạo hiện thời gạt bỏ trách nhiệm lịch sử  mà duy trì được chủ quyền trên vùng lãnh thổ mà Trung Quốc đang yêu sách. Đó là việc TS( Spratly) là một phần của đất mẹ từ thời cổ xưa đã chôn sâu trong tiềm thức dân tộc của người Trung Quốc. Sau khi chịu cảnh mất lãnh thổ về tay các thế lực Tây phương ở thế kỷ qua, nếu như bây giờ lại phải mất thêm lãnh thổ do các nước trong khu vực, thì niềm tự hào quốc gia cùng tính hợp pháp chân chính của chính phủ sẽ bị tổn hại nghiêm trọng.

Có ý kiến cho rằng động cơ chính của Trung Quốc là dầu mỏ. Đồng thời với sự phát triển ngoạn mục về kinh tế của Trung Quốc là bước nhảy vọt tương ứng trong tiêu thụ dầu mỏ và một sự lệ thuộc và nguồn dầu nhập khẩu, tính đến hiện nay là chiếm 17% lượng tiêu thụ năng lượng tại Trung Quốc(36). Hiện đại hóa làm gia tăng nhu cầu về dầu mỏ và sản phẩm đi từ

Nguồn dầu thô nhập khẩu của TQ(2008-2009)

dầu mỏ trong công nghiệp nặng và phát triển cơ sở hạ tầng cũng như cho sự phát triển hệ thống giao thông.

Mặc dù Trung Quốc bắt đầu những nỗ lực bảo toàn năng lượng từ năm 1979, khủng hoảng năng lượng vẫn gia tăng như là một hậu quả từ thiết bị lỗi thời và kém hiệu quả, lạm dụng công suất, phát triển tài nguyên không đồng đều và sự phi lý về giá cả. Vào năm 2000, Trung Quốc sẽ cần 3,8 đến 4 triệu thùng dầu mỗi ngày với sự gia tăng nhu cầu 5 – 5,5% hàng năm trong suốt thập kỷ 90. Vào năm 2010, Trung Quốc sẽ cần phải nhập khẩu 100 triệu tấn dầu thô hàng năm nếu như không có mỏ dầu thay thế nào được tìm thấy(37). Mặc dù sản lượng dầu mỏ cũng gia tăng, nhưng mức

tăng lại chậm hơn. Gia tăng tiêu thụ dầu và chất lượng kém của dầu khai thác làm nổi lên câu hỏi vể tương lai của Trung Quốc trong vai trò một nhà xuất khẩu sản phẩm. Gia tăng tìm kiếm năng lượng một cách tuyệt vọng đã buộc Trung Quốc phải từ bỏ ý định ban đầu của mình là chỉ làm việc với hai công ty nước ngoài trong vùng giếng dầu Tarim, đang đề nghị họ khẩn cấp tìm thêm vùng giếng dầu mới.

Trung Quốc cho rằng  các nước có yêu sách ( về chủ quyền) khác đã đơn phương khai thác dầu trong lãnh địa Trung Quốc. Khoảng 120 giếng đã được khoan dưới sự bảo trợ các nước này trong đường biên lịch sử của Trung Quốc với sản lượng hàng năm trên 1 triệu tấn(38). PLA cho rằng trong lúc Trung Quốc không có khả năng khai thác dầu ở vùng biển Nam Trung Hoa, các nước có quân đội yếu ớt hơn đã lợi dụng sự chịu đựng và kiềm chế của Trung Quốc để lẵng lặng chôm chỉa dầu mỏ của Trung Quốc(39). Các nhà hoạch định quân sự của Trung Quốc đã sử dụng triết lý này – thêm vào tầm mức quan trọng về kinh tế của các tỉnh ven biển – như một biện minh cho việc hiện đại hóa quân sự nói chung và cho phình to ngân sách hải quân nói riêng.

Những nhà quan sát khác không lạc quan gì về những ý đồ của Trung Quốc. Họ cho rằng Trung Quốc rất sợ sự phân rã và đã quyết tâm siết chặt biên giới của mình , kiểm soát chặt chẽ những vùng mình đòi hỏi như là một phần của động cơ phục hồi lãnh thổ nhằm tái xác lập một nước Trung Hoa vĩ đại hơn và hồi phục nhiệm vụ cổ xưa của mình là thế lực thống trị Châu Á. Theo học thuyết này, Trung Quốc muốn lập nên một vòng cung bảo vệ trên biển bao quanh mình và đã dấn thân vào một chiến dịch xông xáo để sở hữu và phát triển các loại vũ khí qui ước nhằm cho phép mình khẳng định quyền kiểm soát trên các đảo – và cuối cùng là toàn bộ vùng biển Nam Trung Hoa hay ngay cả vùng Đông Nam Á(40). Trong quan điểm này, vấn đề của Trung Quốc là đòi lại lãnh thổ về đất mẹ và gỡ bỏ những hệ quả của thế lực xâm lược phương Tây để lại đã ngụy tạo chia cắt các phần lãnh thổ mà đúng ra phải thuộc về Trung Quốc(41). Do đó Trung Quốc phải ‘thu hồi phần lãnh thổ bị thất lạc’ ngay khi có thể ; xem việc chiếm ngụ các đảo như một sự giảm thiểu đất đai bị mất đi chứ không phải là xâm lăng hay bành trướng lãnh thổ. Chiến lược này cũng sẽ bao gồm tiềm năng ngăn chặn các lực lượng hải quân đối địch trong khu vực như Ấn Độ hay Nhật Bản tiếp cận các bến cảng phía nam Trung Quốc cũng như kiểm soát tuyến đường thông thương biển và các eo biển xung yếu như eo biển Malacca, từ đó nâng cao sức mạnh và ảnh hưởng của Trung Quốc.

Trung Quốc có thể cảm nhận rõ là với sự phát triển sức mạnh về chính trị và kinh tế của mình, thì sẽ bị chèn ép đòi hỏi phải ghìm lại việc bung ra sức mạnh và bị trói buộc bởi các luật lệ, quy phạm và thể chế các loại mà mình không có nhiều lý lẽ cải lại. Một số người còn cho rằng Trung Quốc xây dựng lại hải quân vì bị kích động bởi ý thức hiểm họa từ phía Nhật và vấn đề chủ quyền quần đảo TS(Spratly) là một nguyên cớ thuận tiện đế đánh lạc hướng (41). Cũng có thể là với sự sụp đổ của khối Xô Viết, Trung Quốc mới được rảnh tay chuyển sự quan tâm từ biên giới Trung- Xô sang vùng biển Nam Trung Hoa(42). Quân đội Trung Quốc đã thấy rõ sự sụt giảm hiện diện quân sự của Nga và Mỹ trong khu vực, và sự xao lảng do việc bẩu cử Tổng thống và chuyển giao quyền lực chính quyền của Mỹ năm 1992, coi đó là một dịp may để tiến hành các dự tính của mình mà tương đối ít bị trừng phạt nhất.

Chi phí quốc phòng của Trung Quốc gia tăng ít nhất 21% lên đến 7,5 tỉ đô la vào năm 1995, và dường như đang làm tốt việc phát triển lực lượng hải quân cấp đại dương – là Hải quân PLA (PLAN)(43). Một số người còn tin rằng lực lượng lính thủy đánh bộ của Trung Quốc có đủ khả năng thực hiện đổ bộ và chiếm đóng đồng loạt tại Việt Nam, Philippines và Malaysia chắc chắn thành công. Họ khẳng định rằng tàu chiến của PLA và máy bay hải quân có trang bị tên lửa chiến lược đủ khả năng phá hủy trọng pháo và các hệ thống trang bị điện tử trên các đảo mà họ muốn tấn công, trước khi đổ bộ lính thủy đánh bộ(44). PLAN đang đóng mới các khu trục hạm và tiểu hạm có trang bị hệ thống ra-đa hiện đại và có khả năng phóng phi đạn. Hơn nữa, Trung Quốc đã có dự định mua 22 tàu ngầm tuần tiểu loại mới – trong đó có tàu ngầm loại 4 Kilo của Nga – sẽ cải tiến đột ngột khả năng của Trung Quốc trong vùng biển Nam Trung Hoa, đặc biệt là khả năng rải mìn. Một khi 24 chiến đấu cơ  Su-27 kiểu Nga với khả năng chiến đấu và thả bom tầm xa và tiếp liệu trên không mới mua của Iran và Israel đi vào hoạt động, cán cân quân sự vùng Đông Nam Á sẽ biến đổi rõ rệt. Khi ấy Trung Quốc sẽ có đủ năng lực không quân để lan tỏa sức mạnh lên toàn bộ khu vực và xa hơn nữa, từ đó duy trì thế thượng phong trên không trung nơi các vùng đảo tranh chấp. Hơn nữa Trung Quốc lại cộng tác với Israel để phát triển và cải tiến chiến đấu cơ cho Không Lực Trung Quốc tương đương hệ F-16 của Mỹ, đã phát triển loại tên lửa di động có đầu nổ qui ước có thể đe dọa bất kỳ kẻ địch nào trong vòng 1.600 km. Trung Quốc cũng đã cải tiến khả năng chiến đấu trong một cuộc chiến dài hạn trên biển. Thêm vào điểm trên là việc Trung Quốc đã lập một căn cứ lực lượng phản ứng nhanh trên đảo Hải Nam mà nhiệm vụ của lực lượng này là bảo vệ các đảo Trung Quốc đang yêu sách.

Những nhà quan sát khác hạ thấp giả thiết củng cố lực lượng của Trung Quốc, cho rằng sẽ cần một thời gian nhất định trước khi Bắc Kinh có thể đủ khả năng chiếm giữ các đảo đã bị nước khác chiếm ngụ, và dù thế nào đi chăng nữa, Trung Quốc phải cần rất lâu mới hiện đại hóa được hệ thống vũ khí cổ lổ sỉ của họ và đơn giản chỉ nhằm sao cho đàm phán được giá sàn mà thôi. Trường phái này cho rằng địa lý không dẫn đến một chiến thắng dễ dàng cho Trung Quốc trong bất kỳ một chiến dịch quân sự nào trong vùng quần đảo TS(Spratlys)(45). Viện lẽ như sau: ngay cả khi toàn bộ thiết bị quân sự của Nga đã được giao cho Trung Quốc theo các báo cáo thương vụ, khoảng cách giữa các đảo Spratlys và những căn cứ quân sự chủ yếu của Trung Quốc sẽ gây khó khăn cho họ trong việc duy trì  liên tục hoặc chu đáo sự bảo vệ từ trên không cho các tàu trong Hạm đội Biển Nam của mình. Thử nghĩ xem PLAN thiếu những tàu chiến trang bị tên lửa đất đối không (SAMs), sự thiếu vắng một màng chắn trên không hữu hiệu sẽ là một thảm họa. Ngay cả khi nếu PLAN có nhiều tàu trang bị hỏa tiển SAM, cũng chẳng giúp được gì cho lực lượng Trung Quốc hoạt động trong vùng phụ cận quần đảo TS (Spratlys). Hầu hết khí tài quân sự của Trung Quốc đơn giản là lỗi thời, và khi phải đối diện một lực lượng trang bị vũ khí thuộc loại “tinh khôn”, dù chỉ số ít thôi, cũng có thể là bất hạnh cho người Trung Quốc. Trong bất kỳ một cuộc đối đầu vũ trang nào thì hoàn cảnh như trên gần như không thể tránh khỏi do các đối thủ cạnh tranh trong khu vực với Trung Quốc đều phát triển cả về mặt giàu có lẫn tinh thông kỹ thuật. Trường phái này còn đẩy xa lý lẽ của mình rằng Trung Quốc quá tính toán và bận bịu với việc phát triển kinh tế nội địa khi phải chia bớt tài nguyên cho kiểu đối đầu khu vực như thế.

Có những giải thích khác viện dẫn tình hình chính trị trong nước là nguyên nhân sâu xa cho các động thái gần đây của Trung Quốc trên vùng biển Nam Trung Hoa. Có quan điểm cho rằng Bắc Kinh đơn giản chỉ muốn chứng tỏ cho một số tỉnh trong nước đang ngày càng cứng đầu, cũng như đối với phong trào dân chủ ở Trung Quốc và Hong Kong cùng các phong trào đòi độc lập ở Đài Loan, rằng Bắc Kinh đang kiểm soát chặt chẽ chính sách quốc gia(46). Một số khác thì đưa ra ý kiến rằng hành động của Trung Quốc là kết quả của trào lưu chủ nghĩa dân tộc đang dường như thay thế chủ nghĩa xã hội trong vai trò chất kết dính xã hội được ưa thích hơn(47). Trong quan điểm này, sự đẩy mạnh cải tạo nền kinh tế của Đặng Tiểu Bình đã đặt phe bảo thủ vào tình thế chống đỡ, và họ đang sử dụng chiêu bài dân tộc chủ nghĩa, như chủ quyền trên quần đảo TS (Spratlys), để tự khẳng định mình.

Một số khác xem đó như là một sự cân phân giữa hai phe: một chính sách quyết đoán hơn trong vùng biển Nam Trung Hoa đổi lại một sự “Coca-Cola-hóa” nền kinh tế Trung Quốc(48). Vậy là kinh tế có cả hai tác động “kéo” và “đẩy” vào đường lối của Trung Quốc ở vùng biển Nam Trung Hoa(49). Tổng thu nhập cao sẽ nâng cao khả năng của Trung Quốc trong việc phát huy sức mạnh, nhưng lo sợ tổn hại đến quan hệ kinh tế với các nước láng giềng lại dẫn đến kiềm chế sử dụng vũ lực. Tuy nhiên, một số người khác lại cho rằng sự e dè này chưa đủ lực kiềm hãm. Trong hoàn cảnh này, con đường thông qua Luật về Lãnh hải và Các vùng Phụ cận có thể xem là một phản ảnh sự lớn mạnh của Ủy ban Đối ngoại thuộc Quốc hội và các cố vấn cao cấp loại lá chắn già giặn ‘có bằng cấp’ đối với Bộ Ngoại thương. Quân đội và Cục Quản lý Đường biển Quốc gia có lẽ đã đẩy dự luật này thông qua trong lúc Bộ Ngoại thương và giới lãnh đạo đang bận bịu với các vấn đề khác, hoặc là không thông hiểu các vấn đề này. Bộ Ngoại giao bị bỏ mặc cho việc trấn an các nước có yêu sách khác là luật này không phải là một dấu hiệu thay đổi trong chính sách về liên kết phát triển. Trong hoàn cảnh này, Bộ Ngoại thương chủ trương xếp lại các tranh chấp và tiến hành liên kết phát triển ngay, trong lúc đó thì PLA chủ trương chiếm lại lãnh thổ ngay rồi sau này hãy khai thác – đưa đến kết cục là Trung Quốc mâu thuẫn giữa lời nói và việc làm.

Trong lúc này, Trung Quốc tiếp tục khiêu khích Việt Nam và dường như quyết định dùng chiêu ‘củ cà rốt và cây gậy’ để tách biệt mối quan hệ với Việt Nam ra khỏi mối quan hệ của Trung Quốc với các nước yêu sách khác trong vùng biển Nam Trung Hoa. Việt Nam công khai hỗ trợ đa phương liên kết phát triển khu vực trên trong lúc Trung Quốc nhấn mạnh vào việc dùng mối quan hệ song phương để thương thảo và dàn xếp với Việt Nam. Trung Quốc rõ ràng cố ngăn ngừa sự liên hiệp quyền lợi giữa Việt Nam và các nước ASEAN trong vấn đề này, và dường như đang áp dụng chiến thuật cổ điển của mình là ‘giết gà dọa khỉ’ – dùng các hành động chống Việt Nam để răn đe các nước yêu sách khác(50). Ngay cả một số người còn cho rằng Trung Quốc cố ý khiêu khích Việt Nam vào cuộc xung đột để xua đuổi những nhà đầu tư rời khỏi Việt Nam và làm trì hoãn nền kinh tế đang phát triển tương đối của Việt Nam(51). Ít ra thì thủ đoạn này cũng làm nản lòng các công ty dầu mỏ nước ngoài khi muốn hợp tác với nước yêu sách nào khác mà không phải là Trung Quốc.

Có thể Trung Quốc tin rằng thời gian đứng về phía mình nên có thể sử dụng các buổi hội nghị do Indonesia bảo trợ mà trì hoản các nước yêu sách khác cho đến khi mình có đủ sức mạnh về kinh tế và chính trị để dọa dẫm các nước khác phải chấp nhận quyền bá chủ của Trung Quốc trên vùng biển Nam Trung Hoa. Vài người cho rằng Trung Quốc kiên  định ở vị trí của mình trong việc hợp tác nhờ vào khả năng quân sự đã cải tiến và nhu cầu về dầu mỏ gia tăng. Quỹ thời gian có được đó sẽ dùng vào việc gia tăng sự hiện diện thực thể của Bắc Kinh trong khu vực và hậu thuẩn cho vị trí trong đàm phán của họ, mua sắm thiết bị khoan giếng ngoài khơi, cải tiến năng lực kỹ thuật, và cải tiến khả năng quân sự lẫn việc triển khai sức mạnh của mình. Thực thế, việc tiếp cận từng bước một của Trung Quốc đã tỏ ra thành công vì mỗi bước xâm lấn là rất nhỏ bé trong khi chi phí để vạch trần trò bip bợm này có thể là rất cao.

Tuy nhiên, Trung Quốc sẽ sớm nhận ra mình lâm vào thế chống đỡ vì bây giờ Việt Nam đã là một thành viên ASEAN. Mỹ đã chấm dứt việc cấm vận chống lại Việt Nam và đang tái lập bang giao, trong lúc quan tâm đến các ý đồ của Trung Quốc đang phát triển trong vùng ASEAN và ra ngoài nữa. Trung Quốc do đó cần đến ASEAN hỗ trợ để chống lại cái mà họ cho là những rắp tâm của Tây phương nhằm kiểm soát, kiềm chế và làm suy yếu mình. Đặc biệt hơn, Trung Quốc sẽ sớm nhận ra mình cần phải đạt đến việc dàn xếp các vấn đề vùng biển Nam Trung Hoa với các nước có yêu sách trước khi vấn đề được quốc tế hóa bởi sự dính líu vào của các nước ASEAN không yêu sách và các thế lực bên ngoài.

Vài học giả Trung Quốc tin rằng các tranh chấp sẽ tiến lên quốc tế hóa là việc không tránh khỏi vì vị trí chiến lược của quần đảo TS(Spratlys) nằm vắt ngang các hải lộ huyết mạch, quyền lợi kinh tế về dầu mỏ, và các hiệp ước phòng vệ giữa một số nước có yêu sách và các thế lực bên ngoài – Malaysia và Singapore ký với Anh, Philippines ký với Úc, New Zealand và Mỹ(52) Các nhà phân tích quan ngại rằng Mỹ có thể bị lôi kéo vào cuộc tranh chấp bởi là đồng minh của Philippines và nếu được Philippines mời tham gia, như trong cuộc chiến vịnh Péc-xích năm 1990-91. Kịch bản này cho thấy trước rằng khi xảy ra đụng độ, Mỹ và Nhật sẽ tham gia bằng cách nào đó để bảo vệ tuyến giao thông đường biển huyết mạch(53). Các nhà phân tích này sợ rằng Mỹ sẽ hỗ trợ những cuộc thảo luận đa phương chính thức và rộng rãi về vấn đề quần đảo Spratly và có khi còn thử đóng vai trò người trung gian không chừng. Một nghiên cứu sâu hơn cho thấy Trung Quốc có thể đạt được một thỏa thuận có lợi hơn ngay vào lúc này, trước khi ASEAN và Việt Nam hình thành một mặt trận thống nhất chống lại mình. Bằng chứng về một chuyển biến trong vị thế của Trung Quốc có thể thấy được là phản ứng lập lờ ban đầu của họ đối với Bản Tuyên bố Manila của ASEAN về vùng biển Nam Trung Hoa, tiếp sau đó là thái độ hiển nhiên tán thành.

Trung Quốc tiêu biểu chọn cách cương/nhu trong các tranh chấp lãnh thổ và dường như đã sử dụng chiến lược tương tự đối với quần đảo TS(Spratlys)(54). Ví dụ như trong lúc Bắc Kinh tăng cường chỗ đứng của mình tại đây và nâng cao khả năng sức mạnh tên lửa trong khu vực, dọa rằng sẽ sử dụng nếu cần thiết, thì đồng thời lại bày tỏ mong muốn bàn bạc cho các vấn đề. Bài học nhặt được khác về cách tiếp cận của Bắc Kinh với các tranh chấp lãnh thổ khác là họ mong muốn thương thảo và ngay cả tham gia vào (song phương) liên kết phát triển một khi họ không thể kiểm soát hết được vùng lãnh thổ đang tranh chấp, thí dụ như quần đảo TS(Spratlys) hoặc quần đảo Diaoyutai(Điếu Ngư Đài—Senkaku) ở biển Tây Trung Hoa. Tuy nhiên, nếu Trung Quốc kiểm soát chặt chẽ được trong vùng, như quần đảo HS( Paracels), thì họ càng không muốn thương thảo, đừng nói chi đến việc tham gia hợp tác nào khác. Càng khẳng định hơn, thái độ của Bắc Kinh trong tranh chấp lãnh thổ ở các nơi khác cho thấy họ chỉ muốn vận dụng cho một vị trí mạnh hơn trong mặc cả; một khi các quyền lợi khác về kinh tế và an ninh vượt qua sự quan tâm nhỏ nhen về quần đảo TS(Spratlys), Trung Quốc sẽ sẵn sàng thỏa hiệp.

Nếu những nước có yêu sách khác muốn thuyết phục Trung Quốc thật sự tham gia liên kết phát triển thì họ phải chú tâm đến những lợi ích khác của Trung Quốc và ràng buộc lợi ích đó vào bất kỳ một hợp đồng liên kết nào về vấn đề chủ quyền quần đảo TS(Spratlys). Sự gia tăng mạng lưới ràng buộc về kinh tế và chính trị của Trung Quốc có thể làm hạn chế khả năng hành động đơn phương của họ. Do đó, các nước yêu sách khác phải nhấn mạnh rằng liên kết phát triển sẽ cho phép tiến hành thăm dò và khai thác những tài nguyên khan hiếm mà không có nguy cơ xung đột, là điều cần quan tâm với tất cả các bên, kể cả Trung Quốc. Điều đó cũng khuyến khích đặt niềm tin vào Trung Quốc như là một nhà cái có trách nhiệm tại khu vực và gia tăng lòng tin trong giao thương, từ đó lôi cuốn thêm nhiều khoản đầu tư vùng Đông Nam Á đổ vào Trung Quốc. Đối với phe chủ nghĩa dân tộc tại Trung Quốc, một chương trình liên kết phát triển sẽ hợp pháp hóa sự có mặt của Trung Quốc trong vùng biển Nam Trung Hoa như là một cường quốc rộng lượng đang hành xử những gì mà họ xem như là thuộc về vai trò dẫn đầu hợp pháp bắt nguồn từ lịch sử.

Ngược lại, hành động bạo lực của Trung Quốc ở quần đảo TS (Spratlys) chống lại bất kỳ nước yêu sách nào – kể cả Việt Nam – có thể kích động sự phản đối kịch liệt của quốc tế, cô lập về ngoại giao và sụp đổ đầu tư nước ngoài na ná như sau cuộc khủng hoảng quảng trường Thiên An Môn. Ít nhất thì nó cũng sẽ làm tan nát hình ảnh tô vẽ hết sức công phu là một nước nghèo đơn giản chỉ còng lưng tự nhấc mình lên để tham dự vào hàng ngũ những quốc gia có nền kinh tế phát triển. Trung Quốc hẵn không nghĩ đến việc tham dự này theo cách đặc biệt hung hăng, mặc dù hoàn toàn có thể là họ sẽ tiến hành những thủ đoạn có ý đồ để cảnh báo và nắn gân những nước có yêu sách (về chủ quyền lãnh thổ) khác. Sự chiếm đóng của Trung Quốc ở rặng đá ngầm Mischief có thể, một phần nào đó, đã được tính toán để thử nghiệm cách giải quyết của ASEAN và Mỹ trong hướng can thiệp vào với danh nghĩa là đồng minh của Philippines. Các ví dụ khác nhằm soi rọi thêm ý đồ của Trung Quốc là sự cấp phát nhượng quyền khai thác dầu trên thềm lục địa của Việt Nam, ấn hành bản đồ quốc gia có gồm luôn phần thềm lục địa của Indonesia gần quần đảo Natuna, và hiện tại đang xây dựng một số cơ sở kiên cố trên đảo san hô vòng sát bên hông Philippines.

Bất chấp những nguyên do ngụy tạo , hành động của Trung Quốc đã làm các quốc gia ASEAN cảnh giác và thu hút sự chú ý của Mỹ và ngay cả Nga, quan tâm đến an ninh tuyến đường  thông thương trên biển  mà họ đã nhờ nó để giữ liên lạc với các khu vực Châu Âu và Châu Á. Lần đầu tiên kể từ thập niên 1970, quan niệm Trung Quốc là mối nguy tiềm tàng cho khu vực đã dần trở nên phổ biến. Hệ lụy của nó là cuộc liên hoan mua sắm vũ khí quy mô nhỏ trong khu vực sắp diễn ra. Philippines lập kế hoạch trang bị 3 tàu tuần tiểu loại mới có gắn tên lửa Exocet, là thứ mà Malaysia cũng đang ngấp nghé ngoài việc mua 30 chiến đấu cơ MiG-29 của Nga ra(55). Kịch bản tệ hại nhất là tần suất và qui mô các va chạm bạo lực sẽ gia tăng, gây nguy hiểm cho tự do hàng hải dọc theo các tuyến hải lộ chiến lược và sau cùng sẽ lôi kéo Mỹ và Nhật vào. Từ những lý do này, Trung Quốc dường như đã quyết định nếu không tham gia vào cuộc đối thoại Indonesia thì mạo hiểm hơn là chọn giải pháp tham dự vào.

Cách cư xử của Trung Quốc từ thời xa xưa về tranh chấp biên giới đã thay đổi. Thái độ tích cực trong quá khứ cho thấy Trung Quốc sẽ không mềm dẽo chút nào trong việc dàn xếp tại vùng biển Nam Trung Hoa vì các mối quan tâm chiến lược chưa đủ trở nên gay gắt. Có lẽ chủ trương của Bắc Kinh là tìm kiếm hòa bình dọc theo biên giới và sự giao lưu kinh tế với nước ngoài sẽ dẫn đến hiện đại hóa đất nước. Thực vậy, Bắc Kinh có thể nhận ra là mối bang giao hiện tại với các nước láng giềng là tốt đẹp nhất kể từ cuộc cách mạng 1949, và có lẽ là tốt đẹp nhất trong vòng 200 năm qua.

Nếu các vấn đề chiến lược trở nên cấp bách, thái độ tiêu cực giống thời xa xưa của Trung Quốc về tranh chấp biên giới sẽ trở nên thích đáng – cảnh báo và dàn quân rồi sau đó quyết định dùng vũ lực. Các nguy cơ đối với Bắc Kinh có thể làm thay đổi hiện trạng chính trị là bao gồm khuynh hướng về hợp tác Nhật-ASEAN-Mỹ trên vấn đề an ninh hoặc về hợp tác ASEAN-Việt Nam để kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc lên khu vực – kiểu như là một hợp đồng liên kết phát triển tài nguyên trong vùng biển Nam Trung Hoa. Để đáp lại từng mối nguy cơ trên, Trung Quốc cần phải nhanh chóng tìm kiếm sự dàn xếp các tranh chấp về chủ quyền ở quần đảo TS(Spratlys). Thực vậy, Trung Quốc có thể cho ít nhượng bộ ở vấn đề trên, như là sửa đổi hoặc diễn dịch lại đường biên giới theo lịch sử, nhưng thực là dại dột khi trông chờ Trung Quốc từ bỏ yêu sách toàn bộ các đảo của mình hay chấp nhận mọi chiếm đóng ‘ngoại bang’ hiện thời.

Đáng ngại hơn, bệnh hoang tưởng dân tộc về việc này dường như tràn lan ở Trung Quốc. Tờ Nhân dân Nhật báo của Trung Quốc đã giương cao bóng ma âm mưu mới của Tây phương giống như những gì tiếp theo sau cuộc nổi loạn Boxer năm 1898-1901(56). Vài học giả cho rằng các nhà xây dựng chiến lược Trung Quốc trông thấy một chiến lược bao vây mới gồm sự lớn mạnh khả năng phòng vệ của Nhật Bản, xây dựng lực lượng vũ trang ở Đài Loan, cảnh báo từ quan hệ Mỹ-Việt Nam và Mỹ-Ấn Độ cùng sự khiêu khích chủ quyền Trung Quốc ở vùng biển Nam Trung Hoa. Có dấu hiệu cho thấy Trung Quốc xem Mỹ như là một hậu thuẩn hoặc thậm chí xúi dục Philippines hành động. Quan hệ trở lại  mới đây giữa Mỹ và Trung Quốc cũng sẽ không làm thui chột nhận thức này. Thực vậy, Trung Quốc dường như trong tâm trạng rộn ràng về thay đổi căn bản vị trí của mình vào chỗ Mỹ và sẽ không bao giờ chấp nhận sự hiện diện quân sự Mỹ ở Châu Á.

Các thế lực bên ngoài và các nước láng giềng của Trung Quốc phải nhận thức điều trên khi so sánh với vị thế mà Trung Quốc nắm giữ trước thập niên 90, Trung Quốc cân nhắc chính sách của mình qua việc gạt sang bên những tranh chấp vì sự liên kết khai thác ở một vùng nhượng quyền quan trọng. Đặc biệt điều này phải làm như vậy khi Trung Quốc xem bên tổ chức các cuộc hội thảo – Indonesia – như thành phần không trung lập vì những yêu sách của họ và họ đang cho các công ty Mỹ thuê nhiều vùng biển rộng nằm trong đường ranh yêu sách lịch sử của Trung Quốc. Tóm lại, chiến lược của Trung Quốc trong vấn đề này dường như tổng hợp sự mơ hồ, chủ nghĩa lấn sân từng chút, chiến thuật canh me, có dựa vào vũ lực, và chiến thuật “chia để trị”. Không rõ các yếu tố trên được sử dụng  theo cách thức phối hợp hay mạch lạc, và câu hỏi về ý đồ vẫn chưa trả lời được. Chính sách đa diện và dường như mâu thuẩn của Trung Quốc có thể sau cùng đã phát huy tác dụng. Có vẻ như Trung Quốc tiếp tục tăng lực bẩy từng chút một trong các buổi hội thảo Indonesia và tiếp tục gia tăng sự hiện diện của mình trong vùng biển Nam Trung Hoa.

Yêu sách của Trung Quốc (và cả của Đài Loan) về gần như toàn bộ vùng biển Nam Trung Hoa căn cứ vào lịch sử thì không thề nào phù hợp với luật quốc tế hiện đại hoặc UNCLOS và đang bị gia tăng chỉ trích thậm chí nhạo báng. Nếu Trung Quốc tiếp tục theo đuổi yêu sách của mình một cách xông xáo và không mềm dẽo,  thì lại càng dấy lên nhiều vấn đề cơ bản thuộc công pháp quốc tế khi ủng hộ cho Trung Quốc nói chung, cả về nền tảng tư cách của Trung Quốc trong các mối quan hệ quốc tế.

Câu hỏi chiến lược chỉ có một: Họ thích cái gì hơn ? Trung Quốc sẽ sau cùng trở thành một thế lực kinh tế và quân sự chủ yếu; nếu vị thế chính trị của họ không thay đổi và họ tiếp tục hung hăng gây sức ép về các yêu sách bành trướng của mình trong vùng biển Nam Trung Hoa, các đảo và vùng biển phụ cận có thể dễ dàng rụng vào tay họ như trái chín. Tối thiểu thì Trung Quốc sẽ chi phối vấn đề và chiếm phần béo bở nhất trong mọi cuộc dàn xếp. Chọn cách khác, Trung Quốc có thể sau cùng trở nên dân chủ hơn và cư xử hòa hợp hơn với những qui tắc xã hội văn minh quốc tế. Điều này gồm cả việc tuân thủ luật lệ quốc tế và sử dụng nó vào việc dàn xếp một cách hòa bình các tranh chấp – sử dụng củ cà rốt kinh tế thay vì cây gậy quân sự để mang lại một giải pháp mà họ quan tâm.

Vẫn còn le lói tia hi vọng. Tại cuộc gặp với các quan chức ASEAN ở Hội nghị Thường niên ASEAN 1995 vào tháng 7 tại Brunei, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Tiền Kỳ Thâm (Qian Qichen) khẳng định là Trung Quốc mong muốn lấy luật lệ quốc tế và UNCLOS làm căn bản cho thương thảo các vấn đề và muốn thảo luận với cả bảy thành viên ASEAN. Như vậy, Trung Quốc dường như đã từ bỏ toàn bộ đường ranh yêu sách theo lịch sử của mình và có lẽ đang chính thức nghiên cứu sửa đổi yêu sách của mình chỉ bao gồm phần lãnh thổ do Nhật nhượng lại cho Đài Loan vào năm 1945. Đài Loan cũng đang nghiên cứu thay đổi các yêu sách của họ chỉ bao gồm những đảo đã chiếm giữ bởi họ và Trung Quốc. Những yêu sách này không bao trùm các tuyến đường biển chủ yếu hay có ảnh hưởng gì đến quyền tự do đi lại trên biển trong khu vực. Ông Tiền cũng lưu ý rằng Trung Quốc luôn gắn liền tầm quan trọng to lớn vào vấn đề an ninh và tự do hải hành trong khu vực và do đó chắc chắn không có vấn đề gì trong việc này. Vào tháng 8-1995, Trung Quốc và Philippines loan báo về một bộ qui tắc ứng xử từ chối sử dụng vũ lực trong dàn xếp tranh chấp của họ. Hy vọng rằng hiệp nghị trên sẽ trở thành căn bản cho một qui tắc ứng xử toàn khu vực.

Sự thay đổi trong vị thế của Trung Quốc có thể đã làm cho sự cấp phát hoặc giải pháp đa phương mang tính khả thi hơn do việc từ bỏ hoặc tạm hoãn yêu sách của Trung Quốc về phần thềm lục địa của các thành viên ASEAN. Trong hoàn cảnh này, có thể là quan trọng khi Đài Loan, ngược lại với Trung Quốc, đã đề xuất liên kết phát triển đa phương(61). Ngay cả một vài quan chức Bắc Kinh dường như xem việc các dự án tiến triển dần từ song phương sang đa phương, là nằm trong điều hư cấu thuận lợi của thỏa thuận ăn chia 50-50 từ “song phương” ASEAN – Trung Quốc. Tuy nhiên, vì UNCLOS không thể giải quyết tranh chấp chủ quyền trên các đảo, và Trung Quốc đã hoàn tất các thảo luận ‘song phương’ với ASEAN, cho nên không có những nhượng bộ quan trọng nào. Ông Tiền cũng đòi hỏi là Trung Quốc đã có chủ quyền không thể tranh cải được trên quần đảo TS(Spratlys) và vùng biển phụ cận, và rằng các đạo luật của Trung Quốc khẳng định chủ quyền vùng này sẽ giữ nhiệm vụ trong việc giải quyết vấn đề. Đáng ngại hơn là có báo cáo rằng Trung Quốc có kế hoạch giữ cuộc tập trận hải quân tại quần đảo TS (Spratlys) vào cuối năm 1995(62). Các thay đổi này có thể sẽ kích thích một cuộc chạy đua giữa Trung Quốc và Đài Loan, hoặc giữa cả hai với Việt Nam, để chiếm càng nhiều đảo càng tốt, đặc biệt các đảo ở rìa phía xa của quần đảo, xem đó là căn bản cho yêu sách của họ.

Tuy vậy, lời lẽ của Trung Quốc trong lúc này đã phần nào làm dịu đi sự lo lắng của ASEAN và giảm bớt căng thẳng trong khu vực. Nhưng không rõ lắm liệu sự thay đổi lòng dạ hiển nhiên này bắt nguồn từ mong muốn không chọc giận ASEAN trong lúc này khi quan hệ của Trung Quốc với Mỹ bị căng thẳng, hay xuất phát từ  mối quan tâm thực sự đến việc hợp tác khu vực gây ra bởi chủ trương ưu tiên cải tạo kinh tế, hoặc chỉ là một hệ quả của việc khả năng quân sự của Trung Quốc hiện tại còn hạn chế(63). Trước nay, Trung Quốc chưa bao giờ cho thấy một chút nào quan tâm đến việc thỏa hiệp yêu sách chủ quyền của mình đối với vùng biển Nam Trung Hoa và các đảo ở đó, bất chấp mối liên hệ mật thiết về mặt vị trí lãnh đạo của mình(64). Vấn đề là có phải nhu cầu hợp tác khu vực của nền kinh tế đủ sức kiềm chế tham vọng lâu dài về dân tộc chủ nghĩa của Trung Quốc. Chứng cứ thì không được khích lệ lắm, đặc biệt khi Trung Quốc bị thúc đẩy bởi nhu cầu mạnh mẽ là phục hồi lại tầm cỡ và lãnh thổ đã bị mất đi, và tiếp tục cải tiến khả năng quân sự  không như từng bị kiềm chế bởi cán cân sức mạnh từ cuộc chiến tranh lạnh trước đây. Do vậy, tình hình ở vùng biển Nam Trung Hoa có thể tệ hại hơn trước khi nó tốt dần lên. Để gieo rắc sự tin tưởng, Trung Quốc phải theo sát những lời êm dịu của mình bằng những hành động tích cực.

II- BIỂN NAM TRUNG HOA VÀ CÁC MỐI QUAN HỆ QUỐC TẾ CỦA TRUNG QUỐC

Trung Quốc và Mỹ

Mỹ đang cố gắng đứng ngoài các tranh chấp vùng biển Nam Trung Hoa. Đường lối chính thức của Mỹ về vấn đề này như sau:

. Mỹ thúc dục các quốc gia liên quan dàn xếp vấn đề một cách êm thấm trên tinh thần đề cao hòa bình, thịnh vượng và an ninh.

. Mỹ cực lực phản đối sự hăm dọa hoặc sử dụng sức mạnh quân sự để áp đặt lên bất kỳ một quốc gia nào có yêu sách trong vùng lãnh thổ biển Nam Trung Hoa và sẽ xem việc vi phạm trên là nghiêm trọng.

. Mỹ không đứng ra phân giải phải trái về mặt luật pháp cho sự tranh giành yêu sách chủ quyền và sẵn lòng giúp đỡ nếu được các bên yêu cầu trong một giải pháp hòa bình cho các cuộc phân tranh yêu sách.

. Mỹ có mối quan tâm chiến lược đối với việc duy trì tuyến liên lạc đường biển trong vùng và cho rằng cần thiết phải chống lại mọi yêu sách trên biển nào vượt quá sự cho phép của UNCLOS(1).

Tuân thủ chính sách này, Mỹ ủng hộ việc khai thác một cách hòa bình nguồn tài nguyên trong khu vực như là cách tốt nhất có lợi cho các bên. Mỹ cũng xác định là hoàn cảnh hậu chiến tranh lạnh hiện nay cung ứng một cơ  hội tuyệt vời, là duy nhất, để hình thành một môi trường hợp tác an ninh tích cực trong khu vực. Mỹ hỗ trợ mạnh mẽ đối thoại đa phương về vấn đề an ninh khu vực, đặc biệt là nổ lực đang tiếp diễn của Indonesia nhằm mở ra một giải pháp hòa bình cho tranh chấp vùng biển Nam Trung Hoa, và thúc giục các bên tham gia sốt sắng làm việc trong khuôn khổ Indonesia đã đưa ra. Mỹ ủng hộ việc các nước yêu sách nổ lực liên kết giải quyết vấn đề và phát triển khu vực hơn là thúc đẩy yêu sách lãnh thổ của mình tiến lên một cách đơn phương. Phụ tá Bộ trưởng Winton Lord mới đây kêu gọi một sự trao đổi quan điểm chân tình các vấn đề trên  ở hội nghị RAF, và cho các bên có yêu sách đảm nhận việc thương thảo các vấn đề tranh chấp càng sớm càng tốt. Tại Hội nghị Cựu Bộ trưởng ASEAN năm 1992 – 1993, Mỹ hoan nghênh Tuyên bố của Hội nghị Bộ trưởng ASEAN về vấn đề biển Nam Trung Hoa và bày tỏ được góp phần hỗ trợ bằng bất kỳ cách nào mà các bên thấy rằng có ích. Mỹ cũng đã thông báo cho các công ty Mỹ về các đòi hòi về chủ quyền đang tranh chấp và mối nguy hiểm của việc tiến hành  việc thăm dò và khai thác  tại vùng có tranh chấp trước khi các bên đối thủ đạt được một  hiệp ước về khai thác.

Từ kinh nghiệm trong quá khứ, Mỹ nhận thức rằng áp lực thái quá lên Bắc Kinh sẽ  phản tác dụng. Đặc biệt điều này đúng trong hiện tại vì đối đầu với Trung Quốc có thể làm mạnh thêm phe cứng rắn dân tộc chủ nghĩa do sự mất điểm của phe ôn hòa trong hoàn cảnh nạn thao túng bè phái nhằm kế vị một Đặng Tiểu Bình đang đau yếu. Trong một nghiên cứu của các chuyên gia về Trung Quốc do Lầu Năm góc ủy thác, chỉ có một trong ba kịch bản có thể diễn ra thời hậu Đặng Tiểu Bình tại Trung Quốc, kịch bản mường tượng như là “cải tổ tận gốc” này không bao gồm khả năng va chạm quân sự trong vùng đảo TS Spratlys(2). Trong sự khuấy nhiễu từ cuộc tranh chấp Philippines-Trung Quốc trên rặng đá ngầm Mischief, Chỉ huy của Hạm đội Thái Bình Dương là Đô đốc Richard Macke tuyệt đối đánh giá thấp mọi đe dọa do hoạt động của Trung Quốc đưa ra tại vùng đảo TS (Spratlys). Tuy nhiên, ông cũng đã yêu cầu Trung Quốc tuân thủ Tuyên bố Manila của ASEAN năm 1992 về vùng biển Nam Trung Hoa, kêu gọi một giải pháp hòa bình cho các tranh chấp. Trong lúc chưa được nắm chắc hướng hành động của Trung Quốc, ông khẳng định là khi đối phó với Bắc Kinh thì đối thoại vẫn tốt hơn là cô lập hay đối đầu, và nhấn mạnh rằng việc gia tăng sức mạnh hải quân của Trung Quốc không nhất thiết là hăm dọa đến ổn định khu vực – quan trọng hơn nữa, ông khẳng định, là ý đồ của Trung Quốc. Trong phạm vi này, Macke trích dẫn cuộc thương thảo hiện tại giữa Bắc Kinh và Việt Nam về tranh chấp lãnh thổ và những nổ lực bắt chuyện với Philippines là những dấu hiệu đầy hy vọng cho thấy quan tâm của Trung Quốc đến nền hòa bình trong khu vực(3).

Trong lúc chính quyền Clinton đang cố tách mình ra khỏi các tranh chấp gần đây, Chủ tịch của Tiểu ban  Công tác Châu Á – Thái Bình Dương của Quốc hội do đảng Cộng hòa dẫn đầu, Benjamin Gilman, đưa ra giải pháp cảnh cáo Trung Quốc không được dùng vũ lực hoặc sự đe dọa trong khu vức quần đảo TS (Spratlys). Một giải pháp tương tự được điều trần tại Thượng viện,  trong lúc có một dự luật chính sách đối ngoại chủ yếu trình trước Quốc hội đã kết án ‘hành động hung hăng chống Philippines’ của Trung Quốc và kêu gọi chính quyền Clinton xem xét lại nhu cầu phòng thủ của các quốc gia dân chủ đang có yêu sách về lãnh thổ trên vùng biển Nam Trung Hoa(4). Tổng thống Fidel Ramos của Philippines đã tiết lộ  Tổng thống Clinton đã trấn an ông vào tháng 11-1993 rằng nước Mỹ sẽ không cho phép các tranh chấp tại quần đảoTS(Spratlys) giải quyết bằng vũ lực, tuy nhiên điều này có khả năng là một sự diễn dịch theo chính sách xưa nay của Mỹ là chống lại hành động dùng vũ lực để giải quyết tranh chấp.

Mặc dù Mỹ cố tránh xa các tranh chấp vùng biển Nam Trung Hoa (hơn là thúc giục một giải pháp hòa bình), xô xát tại rặng đá ngầm Mischief mới đây có dính líu đến đồng minh của họ là Philippines, và Trung Quốc đã làm cho các chính trị gia Mỹ và các nhà kế hoạch quân sự thêm quan tâm đến an ninh khu vực. Tháng 6-1995, Phụ tá An ninh Quốc tế thuộc Bộ Quốc Phòng Mỹ là Joseph Nye phát biểu rằng ‘nếu xung đột quân sự xảy ra ở quần đảo Spratlys và gây trở ngại đến “quyền tự do trên biển”, [Mỹ] sẽ chuẩn bị cho sự hộ tống và đảm bảo quyền tự do đi lại trên biển được tiếp tục bình thường’(5). Chiến lược an ninh mới của Mỹ cho vùng Đông Á – Thái Bình Dương chứa đựng một sự điều chỉnh về thái độ trong chính sách của Mỹ: ”Mỹ có một quan tâm chiến lược trong việc duy trì các tuyến giao thông biển trong khu vực và nghĩ rằng mình cần thiết phải chống lại mọi yêu sách hàng hải nào vượt quá mức cho phép của Hiệp định Luật đường biển(6). ‘(Vì  Mỹ chưa phê chuẩn Hiệp định Luật đường biển, và có lẽ sẽ không bao giờ phê chuẩn, một tuyên bố tiếp theo sau của Văn phòng Bộ trưởng Mỹ đã khôn khéo thêm vào ‘hoặc luật quốc tế’ sau từ  Hiệp định Luật đường biển.)’ Mặc dù cũng bao gồm luôn các yêu sách của Philippines, tuyên bố này ắt hẵn nhắm vào Trung Quốc. Tuy nhiên, tiêu chuẩn và tiền lệ luật pháp của Tây phương có rất ít ảnh hưởng đến Trung Quốc. Rõ ràng đó sẽ là tài ngoại giao và sự dàn xếp lẫn nhau, chứ không phải luật pháp quốc tế, sẽ đóng vai trò trung tâm trong việc gỡ rối các vấn đề biển Nam Trung Hoa. Sau cuộc xung đột ở rặng đá ngầm Mischief, Mỹ cảnh báo Trung Quốc là họ phải bảo vệ sự an toàn các tuyến đường biển và tìm cách làm sáng tỏ bản chất, qui mô và cơ sở các yêu sách của Trung Quốc. Đáp trả của Trung Quốc rằng đòi hỏi của họ sẽ không gây trở ngại gì đến quyền tự do hải hành cũng đã xoa dịu phần nào phía Mỹ(7).

Tuy nhiên, khi Hải quân Trung Quốc phiêu lưu càng xa bờ hơn, thì sẽ lọt vào vòng đai của vùng biển có liên quan đến quyền lợi hàng hải của Ấn Độ, Nhật Bản và Đông Nam Á. Chắc chắn là sẽ đụng đầu với lực lượng Hải quân Mỹ. Thực vậy, rắc rối gần đây giữa hàng không mẫu hạm Mỹ là Kitty Hawk và một tàu ngầm nào đó của Trung Quốc trong vùng Hoàng Hải có thể là điềm báo trước những cuộc đụng độ trong tương lai. Một Trung Quốc thời hậu Đặng Tiểu Bình đầy lòng tự hào dân tộc và thích quyết đoán sẽ nghiêng về lối đối phó bằng bạo lực dễ dẫn tới đụng độ súng đạn với Mỹ. Để tránh những rắc rối này, Mỹ đã đề nghị đến Trung Quốc những chuổi hành động khẩn cấp đễ kìm chế leo thang hoạt động quân sự. Kế hoạch của Mỹ là sẽ thiết lập những hướng dẫn tổng quát nhằm thông báo cho nhau về lịch diễn tập hải quân và cách xử lý những rắc rối không lường trước được ở gần vùng biển mỗi bên. Mỹ cũng quan tâm đến việc định rõ các tuyến biên giới mà Trung Quốc  cho rằng đó là yêu sách lãnh hải của mình. Trung Quốc đã từng từ chối các đề xuất tương tự từ những nước khác và họ không chắc là sẽ chấp nhận đề nghị của Mỹ.

Có khả năng dễ dự đoán nhất là sự đối đầu giữa Trung Quốc và Mỹ tập trung tại vùng Đông Nam Á là nơi quan yếu về kinh tế và lệ thuộc vào đường biển. Đông Nam Á ngày càng tỏ ra là nơi tập trung cạnh tranh về hải quân. Mỹ nằm chễm chệ vững chải trong vùng với trao đổi thương mại hai chiều đang vươn cao; đầu tư thực chất vào khai thác nguyên liệu; các nhà xưởng sản xuất và nhiều cơ quan tài chính; và các mối quan hệ sẵn có về chính trị và quân sự với nhiều nước ASEAN. Do đó, những chồng chéo trong quyền tài phán, cạnh tranh yêu sách lãnh thổ và tổng thể về mặt kinh tế sẽ là phép thử quyết tâm của Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, ASEAN và Mỹ. Trong một chiều hướng đáng ngại, các đơn vị chiến đấu chủ lực trên bộ của Hạm đội Nam Trung Hoa đã kích hoạt hệ thống khai hỏa bằng ra-đa và cài sẵn trên tàu  chiến  gần các đảo  TS (Spratly) trong suốt sự kiện Trung Quốc-Philippines tháng 12-1944 đến tháng giêng 1995. Vài người giải thích cho hành động này như một cảnh báo người ngoài phải tránh xa vụ việc ‘cải cọ mang tính địa phương’ này(8).

Nhưng những thế lực bên ngoài như Mỹ và đồng minh là Nhật Bản có mối quan tâm về an ninh và kinh tế rõ rệt trong việc giữ thông suốt các tuyến thông thương trong vùng biển Nam Trung Hoa. Chừng khi nào mà sự liên hệ an ninh Mỹ-Nhật còn chặt chẽ thì chừng ấy Nhật Bản không cần xây dựng lực lượng Hải quân và Không quân để bảo vệ cho các tuyến thương mại đường biển của mình. Các tàu chở dầu của Nhật Bản chuyên chở 70% lượng dầu cung cấp cho Nhật qua đường biển Nam Trung Hoa và Hạm đội thứ 7 cũng cần được vận động tự do và linh hoạt, và đặc biệt cho các tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân của họ, một lộ trình không bị rình mò theo dõi trong khu vực. Trong nhận thức này, thật không thực tế khi Trung Quốc đề nghị Mỹ và Nhật ‘hãy lo việc các anh’ và đứng ngoài hoàn toàn các tranh chấp. Trước hết, quyền lợi của các công ty dầu mỏ Tây phương, quyết định bởi sự dàn xếp các tranh chấp, chính là ‘việc của các anh’. Thứ đến, chính Trung Quốc là người mời phương Tây tham gia vào qua việc mời gọi cho công ty dầu mỏ Mỹ (Crestone) thuê vùng biển đang có tranh chấp với Việt Nam.

Một số người ở Nhật tin rằng có vài quan chức Mỹ thích cô lập và làm Trung Quốc mất ổn định, hoặc là chịu đựng sự bất ổn này vì muốn Trung Quốc tiến bộ lên nền dân chủ, và cho rằng ASEAN có thể hỗ trợ một chính sách như thế(9). Mặc dù chính sách của Mỹ cả quyết rằng một nước Trung Quốc ổn định là tối cần thiết cho hòa bình, ổn định và tăng trưởng kinh tế trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, thái độ của Trung Quốc vẫn rất đáng ngờ(10).

Thực vậy, có thể Trung Quốc  sợ rằng nếu hành động quá xông xáo trong vụ quần đảo TS(Spratlys), Mỹ sẽ dùng vấn đề này làm điểm tập hợp để phát động chính sách ngăn chận chống lại mình. Ủng hộ nhận thức này, vài nước Đông Nam Á đã mời Mỹ làm trung gian cho những tranh chấp trong một cố gắng tránh bị Trung Quốc hiếp đáp. Ngay cả Thượng viện Philippines còn thảo luận xem Hiệp ước Hỗ tương Phòng Thủ ký với Mỹ có thể áp dụng được trong trường hợp lực lượng Philippines bị tấn công tại TS( Spratlys) hay không. Cựu bộ trưởng Mỹ James Baker, người đã tham dự kỳ họp Liên minh Cựu Bộ trưởng ASEAN 1992, đã viết rằng ‘cái mà chỉ là mặt phụ về an ninh trong thời Chiến tranh Lạnh [của chúng ta]  đang trở thành nhân tố căn bản chủ đạo cho cam kết quốc phòng của chúng ta trong vùng [Châu Á]: giữ gìn cân bằng địa chính trị, trở thành một người môi giới lương thiện, [và] tái đảm bảo(an ninh) trước một tình hình không chắc chắn’(11). Thực vậy, sự hiện diện của máy bay tàu chiến Mỹ trong vùng biển Nam Trung Hoa thường được tin tưởng là có ảnh hưởng đến sự ổn định trong vùng có  tranh chấp tại quần đảo TS(Spratlys). Nhưng các nước ASEAN hiện đang sợ rằng nếu không có sự hiện diện của Mỹ, các bên tranh chấp sẽ ít bị kiềm chế hơn trong việc đòi hỏi và cưỡng chế các đòi hỏi của mình.

Mỹ có thể được mời gọi đóng vai trò người đảm bảo, từ đó sẽ xoa dịu những lo lắng về vi phạm các thỏa thuận đã đạt được. Trong lúc việc phác thảo các điều khoản cho một thỏa thuận như thế phải xuất phát từ các nước có yêu sách, Mỹ có thể sửa soạn cho việc thúc đẩy Trung Quốc hợp tác và xây dựng lại việc đảm bảo cần thiết cho các nước Đông Nam Á dựa vào sự chấp thuận của Trung Quốc. Mỹ đã thúc dục Trung Quốc minh bạch hóa chủ trương của mình và xây đắp lòng tin cho các nước trong khu vực để họ không e dè trường hợp tệ hại nhất và tránh được cuộc chạy đua vũ trang. Trớ trêu thay, vài nước ASEAN, do cảnh giác Trung Quốc, ngần ngại cho phép Mỹ bố trí trước các khí tài quân sự ở ngoài khơi của họ vì lo sợ sự hiềm khích củaTrung Quốc.

Vấn đề biển Nam Trung Hoa đã nổi cộm, gần như đứng đầu trong lịch trình hội đàm hiện nay giữa Mỹ và Trung Quốc. Ngày 17/4/1995, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Warren Christopher nhắc nhở Ngoại trưởng Trung Quốc Tiền Kỳ Thâm (Qian Qichen) là Mỹ có nghĩa vụ trong hiệp ước phòng vệ Philippines trước mọi sự tấn công uy hiếp. Khunh hướng tăng cường tên lửa của Trung Quốc,  phát triển hải quân đại dương và sự khẳng định chủ quyền trong vùng biển Nam Trung Hoa khiến TQ trở thành kẻ thù tiềm năng của Mỹ trong bất kỳ một kế hoạch chiến lược toàn diện nào. Nếu chưa làm trước đây, thì nay việc bố trí của quân đội Mỹ sẽ bắt đầu xem xét kỷ lưỡng đến các yêu sách quá đáng của Trung Quốc, và khả năng dính líu tới xung đột tại các tuyến đường biển của mình trong vùng biển Nam Trung Hoa. Thậm chí đã có những báo cáo cho biết Mỹ đã đặt Trung Quốc vào vai trò là đối tượng “kẻ thù” trong kế hoạch liên kết tập trận hải quan với các đồng minh tại khu vực(12).

Trong âm hưởng của câu chuyện rặng đá ngầm Mischief, Tổng thống Ramos tiết lộ rằng Mỹ đã đề nghị được góp phần trong các cuộc tập trận hải quân song phương. Các phi công thuộc không lực Philippines được phép bay thử máy bay F-16 của Mỹ mở đầu cho một hợp đồng mua bán máy bay và cuối tháng 7-1995, binh sĩ Philippines đóng tại Puerto Princesa được biệt kích hải quân Mỹ huấn luyện kiểu chiến tranh đặc biệt. Những việc mua bán vũ khí, huấn luyện và tập trận như trên đơn thuần chỉ được xem là sự trấn an của Washington vẫn giữ những gì được ủy thác đối với an ninh khu vực. Nhưng sự tham dự của Mỹ có thể khuyến khích một sự liên kết địa chính trị mới ở Châu Á – một Đông Nam Á với sự yễm trợ ngấm ngầm của Mỹ và có lẽ cả Nhật Bản liên kết chống lại Trung Quốc. Nhật Bản có thể sẽ tận dụng tình thế để nhanh chóng bành trướng lực lượng hải quân. Đã có báo cáo rằng trong một động thái bất thường, Thủ tướng Nhật Bản là Koichi Murayama đã bày tỏ sự quan tâm về những hành động của Trung Quốc ở rặng đá ngầm Mischief khi ông gặp Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng (Li Peng) vào tháng 4-1995(14). Nhật Bản quan tâm với những gì họ nắm được về chủ nghĩa bành trướng lén lút của Trung Quốc và có thể tự hình dung rằng phải sẽ cản trở tham vọng của Trung Quốc, có lẽ thông qua sự trừng phạt về kinh tế.

Có thể Mỹ sẽ tìm cách tránh chọc giận Trung Quốc và làm trầm trọng thêm quan hệ hai bên bằng cách không tự mình trực tiếp tham gia vào  các cuộc tranh chấp. Tuy nhiên, có một số bước mà Mỹ có thể nghiên cứu nhằm thúc đẩy một giải pháp.

Mỹ có thể nhắc lại và mở rộng chủ trương của mình về những vấn đề trên như sau:

. Mỹ chống lại việc dùng vũ lực để dàn xếp tranh chấp;

. Mỹ sẽ quan sát và mạnh dạn quan tâm đến bất kỳ sự trở ngại nào đến quyền tự do và an toàn hàng hải trong vùng biển Nam Trung Hoa;

. Trong lúc Mỹ không đứng về bên nào trong các tranh chấp, nói chung, Mỹ chống lại các đòi hỏi quá đáng không phù hợp với luật quốc tế hoặc thông lệ;

. Mỹ hỗ trợ tiến trình do Indonesia đăng cai và thúc giục các bên sử dụng nơi đây như là một diễn đàn thương thảo để đạt đến một giải pháp đa phương cho các tranh chấp.

Mỹ cũng có thể đạt được cùng  lúc một tác dụng phụ tốt đẹp, như biểu thị cho Đài Loan hiểu rằng một giải pháp tiếp cận một cách mềm dẽo hơn đến vấn đề tranh chấp và tiến trình Indonesia sẽ được mở ra.. Mỹ cũng có thể theo đuổi sự trung lập ‘chủ động’ của mình bằng cách lay động Đài Loan và Trung Quốc nhằm làm rõ những đòi hỏi đặc thù của họ cùng những cơ sở họ dựa vào(để đưa ra yêu sách), từ đó có thể  làm sáng tỏ hơn những ý đồ của Trung Quốc.

Trung Quốc và Việt Nam

Cho đến gần đây, Việt Nam đã bị cô lập bởi cuộc cấm vận của Mỹ và bỏ rơi do sự sụp đổ của đồng minh thân cận là khối Xô Viết. Bị trơ trọi, không ít thì nhiều, Việt Nam phải đối mặt với áp lực ngày càng tăng từ những người đô hộ và kẻ thù từ xa xưa, Trung Quốc, điều mà những quan tâm và chủ trương của Việt Nam đều luôn phải tập trung vào. Trong vịnh Bắc Bộ và biển Nam Trung Hoa, những va chạm về yêu sách đã trở thành rào cản những cũng là phương tiện khả dĩ để cải thiện quan hệ.

Tuyến đường biển và căn cứ hải quân  TQ trên vùng biển từ Vịnh Péc-xích đến Thái Bình Dương

Quần đảo Spratly (Trường Sa)

Quần đảo Spratly có tầm quan trọng đặc biệt về quân sự và kinh tế đối với Việt Nam. Thực vậy, Việt Nam nhận thức rất rõ sự liên quan đến chủ quyền và nhu cầu dầu mỏ của mình. Việt Nam đặc biệt chuộng cách thương thảo đa phương để giải quyết tranh chấp lãnh thổ tại Spratly, nhưng sẽ không thương thảo về chủ quyền trên những gì họ tin rằng thuộc về thềm lục địa của mình. Việc Trung Quốc nhượng quyền cho Công ty dầu mỏ Crestone phần thềm lục địa thuộc yêu sách của Việt Nam tại Bờ đá Vanguard/Wan’an Bei (và cam kết dùng vũ lực để bảo vệ cho công ty hoạt động) là một hành động đặt Việt Nam vào một tình thế khó xử về chính trị. Trung Quốc hiểu rằng nếu như Việt Nam có ý định bình thường hóa quan hệ với Mỹ và chấm dứt tình trạng cấm vận thì lúc này sẽ phải chần chừ không dám hành động càn rở với một công ty Mỹ. Vấn đề trên là mối quan tâm chủ yếu trong kỳ phiên họpTƯ Đảng Cộng sản lần 3 cuối tháng 6/1992. Lo sợ dấy lên rằng việc Trung Quốc  nhượng quyền khai thác có nghĩa là họ đã tin tưởng mình có đủ khả năng hữu hiệu để sát nhập quần đảo trên. Vẫn còn đáng ngại hơn nữa, vài lãnh đạo trẻ của Việt Nam nghĩ rằng Đảng cần phải chuẩn bị cho một cuộc xung đột quân sự(15).

Tuy nhiên, Việt Nam không có đủ sức mạnh quân sự để bảo vệ cho yêu sách của mình. Hải quân của họ chủ yếu là lực lượng phòng vệ duyên hải đã được giao nhiệm vụ giám sát vùng EEZ trong vùng biển Nam Trung Hoa, Vịnh Thái Lan cùng Vịnh Bắc Bộ ngoài nhiệm vụ bảo vệ quần đảo TS(Spratly). Việt Nam có rất ít khả năng triển khai quân sự trên vùng biển Nam Trung Hoa hoặc ở một mặt trận xa hơn nữa và các lực lượng Việt Nam sẽ bị đánh bạt trong bất kỳ một cuộc đụng độ qui mô nào với lực lượng Hải quân Trung Quốc.

Quyết tâm trong vấn đề biển Nam Trung Hoa nằm ưu tiên trong lịch trình đối thoại giữa Thủ tướng Lý Bằng( Li Peng) và Thủ tướng Võ Văn Kiệt vào tháng 12-1992. Mặc dù có ít tiến bộ đạt được, song Trung Quốc và Việt Nam đã thỏa thuận dàn xếp tranh chấp một cách hòa bình và nâng cấp về mức độ và các bước tiến hành dàn xếp. Về việc nhượng quyền cho Crestone, Trung Quốc đề xuất Việt Nam nhận phần thềm lục địa giữa tuyến yêu sách  truyền thống của Trung Quốc và cạnh phía tây của vùng nhượng quyền trong lúc Trung Quốc giữ lại vùng Crestone (xem bản đồ 1). Trong bảng đề xuất “cùng nhau khai thác” của Trung Quốc, mỗi bên sẽ có đầy đủ thẩm quyền để khai thác  trong khu vực của mình. Việt Nam từ chối đề xuất của Trung Quốc, cho rằng toàn bộ khu vực là thuộc thềm lục địa của mình, đã được qui định rõ theo luật UNCLOS, do đó là thuộc về Việt Nam(16). Lý luận này là từ ý kiến của đoàn luật sư người Mỹ được Việt Nam thuê, họ đưa ra căn cứ riêng biệt cho yêu sách của Việt Nam về giếng dầu Rồng Xanh (Blue Dragon) và hầu hết, nếu không nói là toàn bộ, vùng Bờ đá Vanguard. Trước tiên, cả hai vị trí trên nằm trong vùng 200 hải lý EEZ của Việt Nam. Thứ nhì, nó cũng nằm sâu trong thềm lục địa Việt Nam dựa trên 350 hải lý thềm lục địa được phân phối do nguyên tắc mép lục địa đương nhiên được kéo dài thêm. Thứ ba là sử dụng nguyên tắc cách đều và tính cân xứng để định ra một vùng biên giới giả định thì cả hai  vùng trên cũng thuộc về Việt Nam. Ngay trong trường hợp Trung Quốc sở hữu các đảo nhỏ gần đó, thì các đảo đó cũng quá nhỏ, không quan trọng và quá xa vùng đất liền của Trung Quốc để phát huy đầy đủ tác dụng vùng hàng hải. Việt Nam giờ đây đã phê chuẩn UNCLOS và muốn mang vấn đề tranh chấp thềm lục địa của mình với Trung Quốc  ra Tòa án Quốc tế. Hiển nhiên là Việt Nam có kế hoạch dựa vào dư luận quốc tế để làm bẻ mặt Trung Quốc và kiềm hãm nước này không được manh động nữa.

Căn cứ cho yêu sách của Trung Quốc đối với vùng trên là nó nằm trong đường biên yêu sách theo lịch sử và nằm bên cạnh đường trung gian giữa hòn đảo gần nhất bị đòi chủ quyền và phần lãnh thổ Việt Nam không có yêu sách. Vùng trên cũng rơi vào vùng tiềm năng 200 hải lý EEZ từ đảo gần nhất mà Trung Quốc đòi chủ quyền. Như vậy yêu sách của Trung Quốc thử nghiệm một phần về mặt yêu sách chủ quyền trên các đảo và một phần dựa trên thực tế là các đảo trên quả thực nằm trong diện UNCLOS nên do đó được hưởng các quyền EEZ. Yêu sách theo lịch sử của Trung Quốc – bao trùm hầu hết vùng biển Nam Trung Hoa và gồm cả những đảo chìm, như Bờ đá Vanguard – phải được sự chú ý và quan tâm của tất cả các nước Đông Nam Á, chứ không chỉ các nước có yêu sách về các đảo. Vòng đàm phán kỹ thuật thứ 3 Việt Nam – Trung Quốc về quần đảo  TS (Spratlys) được tổ chức vào ngày 3 tháng giêng 1993, nhưng chỉ là thăm dò các nguyên tắc mà theo đó sự tranh chấp sẽ được sắp xếp.

Việt Nam tin rằng Trung Quốc có ý định bố trí quân sự chủ lực trong vùng, nhằm ngăn chận ảnh hưởng của các cường quốc khác, đặc biệt là Nhật Bản, và thành lập tại vùng biển Nam Trung Hoa một chế độ hợp pháp chủ nhà các vùng lãnh hải.Về lâu  dài Việt Nam vẫn tin là Trung Quốc có ý đồ xác lập quyền bá chủ trên vùng biển Nam Trung Hoa và như vậy họ sẽ làm hay nói bất cứ gì cần thiết  kiên định từng bước hòng đạt được mục tiêu này . Việt Nam đoan chắc rằng sự thống trị của Trung Quốc đối với Việt Nam và vùng biển Nam Trung Hoa sẽ không trở thành mối việc quan tâm của Mỹ hay Nhật Bản, và rằng, khi tệ hại nhất, sự gia tăng tần suất, qui mô và cường độ của các cuộc đụng độ bạo lực sẽ đe dọa đến quyền tự do đi lại trên biển dọc theo tuyến đường thông thương chiến lược và thường xuyên lôi kéo Mỹ và / hoặc Nhật Bản vào mớ nhiễu nhương.

Trong tầm nhìn của Hà Nội, thói quen của Trung Quốc trong việc lợi dụng sự yếu kém của Việt Nam là chẳng mới mẻ gì. Năm 1956, khi Việt Nam vừa mới hồi phục từ cuộc chiến tranh Đông dương lần thứ nhất, Trung Quốc đã chộp lấy vài đảo trong quần đảo Paracel (Hoàng Sa). Các đảo còn lại cũng lần lượt bị thâu tóm vào năm 1974 khi Việt Nam cấp quyền thăm dò dầu mỏ các lô cho mấy công ty Tây phương và chính quyền Sài Gòn bị suy yếu theo sau sự rút quân của Mỹ. Năm 1988 khi Việt Nam bị rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế và sự hỗ trợ của Xô Viết đã sụt giảm trầm trọng, Trung Quốc đã chôm luôn 7 đảo nữa trong quần đảo TS (Spratlys). Mặc dù Việt Nam không tỏ thái độ phản đối trong các vụ việc xâm chiếm trước đây, lúc bấy giờ họ cho rằng im lặng như thế là cần thiết để duy trì sự hỗ trợ của Trung Quốc trong cuộc chiến Việt Nam. Cùng lúc, Trung Quốc cố trấn an các nước Đông Nam Á có đòi hỏi về chủ quyền(ở biển Đông) khác đang hốt hoảng và khối ASEAN rằng vấn đề này chỉ liên quan giữa họ và Việt Nam, và nhấn mạnh Trung Quốc không hề có ý đồ bành trướng(17).

Chiến lược của Việt Nam ngày nay trong đối phó với Trung Quốc là cố gắng đưa những lợi ích của bản thân  và chính sách của nước mình ăn khớp với mạng lưới khu vực sâu rộng hơn nữa  trong các hoạt động về  kinh tế và chính trị. Việt Nam hy vọng rằng bằng cách thắt chặt những quyền lợi và đường lối hành động của nước mình vào những nước có yêu sách khác, một cuộc tấn công vào Việt Nam qua việc chiếm đóng các hòn đảo sẽ bị xem như là cũng xâm phạm đến những quyền lợi của những nước nầy. Đã có những thành công nhất định; Việt Nam đã gia nhập Hiệp Ước Bali về Hữu nghị và Hợp tác Đông Nam Á, và trở thành một thành viên của ASEAN từ tháng 7-1995. Bây giờ khi Việt Nam đã gia nhập ASEAN, cán cân  ngoại giao về vấn đề biển Nam Trung Hoa sẽ nghiêng bất lợi cho phía Trung Quốc. Mĩa mai thay, trong suốt thập kỷ 1980, chính

Trung Quốc và các nước ASEAN đã duy trì một sự liên minh về thực chất là hòng cô lập Việt Nam, lúc đó  VN đang chiếm đóng Cam-pu-chia. Bây giờ Việt Nam có thể trả đủa lại Trung Quốc. Một viên chức cao cấp Việt Nam đã khẳng định rằng người Việt Nam “nhận thức rõ là mình cũng cần đến công khai phản đối và vận động dư luận quốc tế nếu không thì Trung Quốc sẽ tiếp diễn bành trướng trong vùng biển Nam Trung Hoa”(18). Do đó, Việt Nam cũng mở rộng hỗ trợ liên kết phát triển đa phương trong vùng TS(Spratly). Tin tưởng  quyền lợi kinh tế có thể tác động đến hỗ trợ ngoại giao, Việt Nam đã cố ý giao quyền trong các hợp đồng ăn chia sản phẩm đến nhiều công ty thuộc nhiều quốc gia càng tốt. Vậy là Việt Nam đã hả hê khi sự kiện rắc rối ở rặng đá ngầm Mischief  cuối cùng làm cho các nước ASEAN nhận ra một cách sâu sắc hiểm họa từ Trung Quốc và đang tính đến việc thành lập một mặt trận thống nhất.

Việt Nam muốn Mỹ làm một trái độn, làm đối trọng và một bộ thăng bằng trên vùng biển Nam Trung Hoa. Theo quan điểm của Việt Nam, ASEAN, hoặc ngay cả một tổng hợp Việt Nam – ASEAN chống đối lại sự bành trướng của Trung Quốc cũng sẽ không hiệu quả nếu thiếu hậu thuẩn ngấm ngầm của Mỹ. Hà Nội o bế Mỹ bằng cách mở lời cho Hải quân Mỹ sử dụng Vịnh Cam Ranh(19). Điều này đã bị  Bắc Kinh cảnh cáo sẽ  chống lại bất kỳ nước ngoài nào thành lập căn cứ quân sự tại Việt Nam (20). Như một quan chức cao cấp đã nhận xét, ‘nếu Mỹ không đưa ra dấu hiệu nào hỗ trợ các nước nhỏ hơn trong vấn đề này, Việt Nam sẽ không còn cách nào khác đành phải thích nghi với Trung Quốc’, có lẽ qua một thỏa hiệp không thuận lợi về phía Việt Nam  – tiền đề và lôi kéo theo—bất lợi cho các nước có yêu sách khác(21). Cũng theo quan chức trên, chọn lựa nầy đã được  phe thân Trung Quốc ở Hà Nội tán thành  . Cho nên, sự công nhận Việt Nam của Mỹ sẽ tăng cường cho bàn tay Việt Nam trong cuộc tranh chấp.

Vịnh Bắc Bộ

Việt Nam và Trung Quốc đang tranh chấp biên giới đường biển trong vùng Vịnh Bắc Bộ, và Trung Quốc cũng áp dụng một chiến lược tương tự ở đây. Ví dụ vào tháng 6-1992, Trung Quốc đưa một tàu khoan đến lãnh hải Việt Nam; rồi đồng ý thương thảo vấn đề. Nhưng vào tháng giêng 1993, một ngày sau khi đoàn thương thảo của Trung Quốc rời Hà Nội, Trung Quốc cấm mọi hoạt động trên biển trong một vùng hình chữ nhật lấn sâu vào khu vực 200 hải lý từ bờ biển Việt Nam để họ có thể tiến hành các hoạt động bắt đầu thăm dò trong vùng Việt Nam đang có (yêu sách) chủ quyền.

Tranh chấp này bắt nguồn từ lịch sử. Năm 1887, vừa sau khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, một hiệp định về biên giới đã được ký tại Bắc Kinh qui định rằng kinh tuyến 10803’18′E là đường ‘biên giới’ giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ (Tonkin thuộc Pháp ở Việt Nam). Hiện trạng này vẫn ổn định cho đến thập niên 1970. Trong khoảng thập niên 50 và 60, là kỷ nguyên “vừa là đồng chí vừa là anh em”, rất ít nhà phân tích nghĩ rằng Vịnh này là một yếu tố then chốt trong quan hệ Trung – Việt. Nhưng khi chiến tranh Việt Nam kết thúc và quan hệ Việt – Xô nở rộ, vấn đề phân định ranh giới tại Vịnh này trở nên một sự bức xức chủ yếu trong quan hệ Bắc Kinh – Hà Nội. Việt Nam, trước đây là đồng chí và anh em của Trung Quốc, nay trong mắt Trung Quốc đã trở thành một tiểu bá trong khu vực. Việt Nam cho rằng hành động của mình chỉ là một sự biểu lộ của việc mới giành được độc lập. Trong tình cảnh này, nói chuyện song phương ắt là không xong. Việt Nam nhấn mạnh rằng đường biên giới trong Hiệp định đã phân ranh giới  chẳng những qui định biên giới trên bộ mà còn cả biên giới trên biển trong vùng vịnh. Trung Quốc xem việc phân định như vậy là chơi không công bằng và vô lý vì đường ranh phân định lại này sẽ cắt đến 2 phần 3 vịnh về phía Việt Nam. Thương thảo song phương và tuyên truyền trả đủa nhau kéo dài không kết quả suốt nửa cuối thập kỷ 70. Đến nay vẫn còn mang ra phân xử tranh chấp là một vùng giàu nguồn lợi  hải sản và nhiều khả năng có trữ lượng dầu lớn, có thể đóng góp lớn cho phát triển kinh tế bất kỳ bên nào giành được. Với chủ nghĩa dân tộc hiện nay đang rồ nở ở cả hai nước, vấn đề lại càng nổi cộm hơn so với lúc trước đây.

Cuộc chiến tranh biên giới Trung – Việt năm 1979 và những cuộc đụng độ lẻ tẻ ở vùng biển Nam Trung Hoa để lại một hậu quả dài lê thê đầy cay đắng và nghi ngờ cho cả hai phía. Việt Nam vẫn lo ngại về dã tâm bành trướng của Trung Quốc trong khu vực, trong lúc thường dân Trung Quốc ôm hận những ký ức về sự tàn ác có chủ ý của người Việt Nam trong cuộc chiến tranh biên giới. Cả hai bên hãy còn ‘hối tiếc’ về cuộc ‘thánh chiến’ của mình, nhưng lòng oán hận đã bị đè nén bởi trào lưu thay đổi mạnh mẽ trên thế giới lẫn trong khu vực đòi hỏi phải hồi phục lại các mối quan hệ song phương. Tuy thế, xuất phát từ lịch sử, thật khó khăn để quan hệ ấm áp thuở thập niên 50 và 60 có thể hồi sinh.

Mặc dù Vịnh Bắc Bộ, không giống các đảo ở TS( Spratly), chỉ tranh chấp bởi Trung Quốc và Việt Nam, tuy nhiên nó cũng là một phần của vùng biển Nam Trung Hoa, do đó tiến bộ trong đối thoại song phương ở vấn đề trên có liên quan chặt chẽ đến tương lai các cuộc đối thoại song phương hay đa phương nhằm dàn xếp tranh chấp chồng chéo lãnh thổ vùng quần đảo TS( Spratly). Từ khi bình thường hóa quan hệ Trung Quốc – Việt Nam cuối 1991, đã có hàng loạt những cuộc thương thảo về vấn đề biên giới. Những cuộc đàm phán nầy cũng có tiến bộ dù rất chậm chạp. Vòng đàm phán thứ hai Trung-Việt ở cấp chuyên viên về phân định đường biên giới ở vùng Vịnh được tổ chức cuối tháng 2-1993; tháng 10-1993 hai bên đạt được thỏa thuận về nguyên tắc căn bản để dàn xếp tranh chấp biên giới. Cả hai bên cũng đồng ý dàn xếp tranh chấp biên giới trên bờ lẫn dưới biển trong vùng Vịnh Bắc Bộ, và sau cuộc bàn thảo kéo dài, cuối cùng hai bên đã đồng ý tiếp tục thương thảo về các tranh chấp trên các đảo trong biển Nam Trung Hoa nhằm tìm kiếm một giải pháp lâu dài. Cả hai bên cũng đồng ý tự kiềm chế việc sử dụng vũ lực hoặc hăm dọa sử dung vũ lực để giải quyết tranh chấp tại các khu vực trên. Các thỏa thuận này đã có một tác động tích cực đến mối bang giao giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Trung Quốc dường như xem việc khởi đầu giải quyết tranh chấp thông qua đối thoại song phương như là một sự nhượng bộ và biểu hiện của tính mềm dẽo. Trung Quốc cũng có lẽ xem việc đưa ra đề nghị chia vùng vịnh Bắc Bộ tỷ lệ 50-50 với Việt Nam như là một sự nhượng bộ (đưa ra trong cuộc đối thoại hòa bình Trung-Việt sau cuộc chiến tranh biên giới 1979). Không giống như cuộc đối thoại với khối Xô Viết trong thập niên 60 – 70, trong cuộc thương thảo với Việt Nam, Trung Quốc không kèm theo điều kiện tiên quyết nào, cũng như đã có một bản tuyên bố cho rằng Hiệp ước Trung-Pháp 1887 phải được nhìn nhận trước tiên như một hiệp định bất bình đẳng của chủ nghĩa đế quốc  nhằm áp đặt Trung Quốc.

Có một số nguyên nhân khiến Trung Quốc hiện nay mong muốn cải thiện bang giao với Việt Nam. Đầu tiên, việc giải hòa với Việt Nam giống như “một hòn đá bắn hạ hai con chim”(nhất cử lưỡng tiện); nó bù lại phần nào cho các mối liên hệ trục trặc với các nước phương Tây, đặc biệt là Mỹ, và cho sự mất mát về tinh thần gây ra do sự thất bại của chủ nghĩa Cộng Sản ở Đông Âu và khối Xô Viết.

Thứ nhì, công việc chủ yếu của giới lãnh đạo Trung Quốc hiện nay là thực thi chủ nghĩa thực dụng của Đặng Tiểu Bình qua chương trình ‘bốn hiện đại hóa’. Bài học chủ yếu rút ra từ sự sụp đổ của cộng sản Xô Viết là thất bại về kinh tế. Tính toán của phe họ Đặng về công tác đối nội tại Trung Quốc cũng có ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại , đặc biệt là mong muốn của họ trong việc chấm dứt mọi đối kháng với Việt Nam.

Thứ ba, mặc dù PLA phải tuân theo lãnh đạo Đảng, ảnh hưởng của nó trên trường chính trị tại Trung Quốc quả thật rất mạnh mẽ. Đơn cử là PLA bảo vệ chế độ khỏi ‘giặc ngoài’ và do đó giới lãnh đạo phải luôn nghĩ đến đến những gì quân đội quan tâm. PLA phải nghĩ đến sự sụp đổ của khối Xô Viết đồng thời nguôi ngoai mối nguy hiếp từ phương Bắc và giảm nhẹ tay đòn Việt Nam trong mối quan hệ song phương với Trung Quốc. Không cần nói, giảm nhẹ trong quan hệ song phương với Việt Nam gần như được PLA tán đồng cả hai tay.

Hiện giờ đang có một số tiến bộ trong quan hệ chính trị giữa Bắc Kinh và Hà Nội, có thể là một cơ hội để thử định lại biên giới vùng biển trong vịnh Bắc Bộ. Nhưng với tiền đề quan hệ song phương hãy còn mong manh và sự nghi ngờ của Việt Nam về đầu óc bành trướng của Trung Quốc, cuộc thương thảo sẽ cần nhiều thời gian và kiên nhẫn, cho dù có sự đồng ý của hai bên là cần thúc đẩy. Hơn nữa, nếu Trung Quốc tiếp tục hành động đơn phương, hoặc nếu Việt Nam nhấn mạnh vào sự bất khả thương thảo những đòi hỏi gần đây về lãnh hải theo lịch sử của TQ trong Vịnh Bắc Bộ, thì sẽ không hy vọng có được một giải pháp bình ổn.

Cùng lúc đó, xảy ra những xô xát và mắng mỏ nhau nhiều hơn lúc nào hết. Ngày 2-7-1994, Việt Nam khai là đã bắt được 3 tàu đánh cá Trung Quốc xâm phạm lãnh hải gần đảo Bạch Long Vĩ. Ngày hôm sau, hai tàu Trung Quốc đã bắn vào một tàu tuần tra biên giới của Việt Nam khi tàu này tiến gần để kiểm tra. Trong tháng 10, Việt Nam từ chối một yêu sách của Trung Quốc về quyền đánh bắt truyền thống trong vùng biển cách bờ mỗi nước 12 hải lý. Cùng lúc, Việt Nam ra thông báo chào mời đấu thầu thăm dò các lô dầu mỏ ở Vịnh Bắc Bộ tại hội nghị ở Luân Đôn và Houston, gồm cả những vùng phụ cận của đảo Hải Nam thuộc Trung Quốc, việc này đã bị Trung Quốc phản đối kịch liệt (22). Liên đoàn Quốc gia về Dầu mỏ Ngoài khơi của Trung Quốc (CNOOC) cũng chào mời bỏ thầu dạng héc-ta có trùng lắp chút ít đến các lô đã được Việt Nam định danh. Công ty dầu mỏ Total đã khám phá có khí đốt trước đây ở vùng này(23). Trước cuộc viếng thăm Việt Nam của Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân vào tháng 11-1994, Hà Nội giận dữ cáo buộc Bắc Kinh với hơn chục lần vi phạm có hệ thống và không thể chấp nhận được vào vùng biển yêu sách của mình ở Vịnh Bắc Bộ giữa tháng 5 và tháng 10.

Từ năm 1974, Trung Quốc đã đề nghị tạo một vùng tự do thăm dò dầu mỏ trong một vùng tam giác giới hạn bởi vĩ tuyến 180 và 200, kinh tuyến 1070 và 1080 cho đến khi đạt được một thỏa ước về biên giới trong vùng vịnh. Việt Nam không chấp nhận việc tạo ra một “vùng trung lập” và họ từ lúc đó tái nhấn mạnh là họ không bao giờ chấp nhận ý niệm về sử dụng lẫn lộn hoặc vùng trung lập nằm giữa vùng vịnh như Trung Quốc đề xuất. Tuy nhiên, Hà Nội đồng ý một sự phác họa công bằng cho vùng vịnh phù hợp với luật quốc tế(24).

Mặc dù việc xếp đặt biên giới đường biển cách đều từ vùng đất không tranh chấp của hai nước có yêu sách chồng chéo nhau đã từ lâu không còn là nguyên tắc quản lý theo luật quốc tế, nó vẫn có thể dùng làm căn bản cho việc phân định ranh giới tại Vịnh. Để khởi đầu, Việt Nam và Trung Quốc phải đồng ý  một công ước không khiêu khích nhau, trong đó mỗi bên phải thông báo trước nếu có hoạt động gì gần ranh giới. Nếu cả hai không thể đồng ý về biên giới, thì liên kết phát triển có thể tạo ra lợi ích kinh tế cho cả hai. Sự phát triển phải tập trung vào những vùng nằm giữa đường cách đều và đường biên theo Hiệp ước 1887, hoặc có lẽ trong vùng đệm mà Trung Quốc đề nghị. Có vài ví dụ trước đây của sự liên kết phát triển trong khu vực mà Trung Quốc cùng Việt Nam đã thử nghiệm liên kết khai thác đánh bắt cá trong vùng Vịnh những năm thập kỷ 50 và 60. Do hai chế độ cần phải tỏ ra càng mạnh mẽ càng tốt trong đối nội, cả Trung Quốc và Việt Nam dường như đều không  chịu nhường nhịn yêu sách mà không cần dùng đến vũ lực. Tuy nhiên, dầu mỏ đều quan trọng cho cả hai nên trừ phi một bên có thể đạt được chiến thắng tuyệt đối, liên kết phát triển có thể là hấp dẫn cho cả hai. Nếu Trung Quốc và Việt Nam có thể giải quyết sự khác biệt của họ trong vùng Vịnh Bắc Bộ và vùng Vanguard Bank/Wan’an Bei, điều này có thể lót đường cho một sự dàn xếp tranh chấp ở quần đảo TS( Spratly) mà ở đó các tranh chấp khác đều liên kết cả về pháp lý lẫn chính trị

Tranh chấp của Việt Nam – Trung Quốc bao hàm cả những khu vực bên ngoài vùng san hô “đa yêu sách” (riêng trong vùng đảo TS- Spratlys thôi đã có đến bốn hoặc nhiều quốc gia có yêu sách; xem bản đồ 6) – gồm phần trên đất liền, trong vùng Vịnh Bắc Bộ và vùng Vanguard Bank/Wan’an Bei. Nhiều yếu tố phối hợp lại có thể  đưa vấn đề sau cùng là việc khai thác ở vùng Vanguard thành vấn đề  có khả năng đi đến một giải quyết trước tiên. Vận hành việc thăm dò dưới giấy phép của Việt Nam, công ty British Petroleum đã có hai phát hiện kể cả một giếng khí dốt thiên nhiên tự phun trong lô khai thác nằm kề lô của công ty Crestone, cả hai giếng đều nằm trong vùng ‘truyền thống’ của Trung Quốc, tức trong đường biên yêu sách theo lịch sử. Mọi xung đột xảy ra sẽ làm một chất xúc tác dẫn tới giải pháp cuối cùng cho vấn đề tranh chấp bằng cách thông qua vài phương thức liên kết khai thác trong đó những công ty tư nhân có thể đóng vai trò trung gian cho các bên có yêu sách. Mặc cho mọi vận động chính trị, cuộc thương thảo Trung-Việt vẫn đang tiến hành. Một giải pháp sẽ chắc chắn sẽ mang lại quyền lợi cho Việt Nam và đã có vài dấu hiệu cho thấy Việt Nam đã mềm mỏng hơn trong vị thế của mình.

Các tiến bộ gần đây

Trong một tình huống dường như đảo chiều đáng ngạc nhiên về vị thế và bầu không khí quan hệ của hai nước bắt nguồn từ chuyến thăm viếng VN vào tháng 11-1994  của Tổng Bí Thư Giang Trạch Dân, cả Việt Nam và Trung Quốc đều tỏ ra mềm dẽo trong vấn đề trên giữa họ Giang và Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười, đồng ý gát những khác biệt sang một bên mà tập trung vào việc cải tiến mối quan hệ. Đặc biệt, họ đồng ý thương thảo một giải pháp lâu dài cho các tranh chấp ở quần đảo TS(Spratlys). Sự thỏa thuận này là chiều ý theo sự kiên quyết của Trung Quốc, đòi hỏi các bên tranh chấp yêu sách về chủ quyền quần đảo phải được thương thảo theo nguyên tắc song phương, do đó đã gây băn khoăn trong số các nước yêu sách khác là Đài Loan, Malaysia, Brunei và Philippines. Nếu Việt Nam tìm kiếm hỗ trợ từ các nước có yêu sách khác chống lại Trung Quốc, có nghĩa  nhìn nhận công khai chủ quyền của các nước ở nơi đó. Hơn nữa, trái lại với tuyên bố chính thức trước đây của chính phủ, Bộ  trưởng Ngoại giao Việt Nam  Nguyễn Mạnh Cầm cho biết Hà Nội không chấp nhận toàn bộ đề xuất của Trung Quốc trong việc liên kết phát triển vùng Bờ đá Vanguard, và cần phải thảo luận thêm nữa để hiểu rõ cách nào và tại đâu ở khu vực trên mô hình liên kết trên có thể được áp dụng.

Việt Nam có thể quan tâm nhiều hơn đến liên kết phát triển nếu Crestone khoán lại hoạt động cho một công ty dầu mỏ quốc tế chủ chốt nào đó. Một nhà điều hành mới sẽ chẳng những mang đến vốn liếng và chuyên môn cần thiết để thăm dò sâu sát hơn và phát triển lô thăm dò ở biên giới, mà còn có thể cung ứng tốt hơn về kỹ thuật và huấn luyện cho cả Trung Quốc lẫn Việt Nam. Sự tham gia của một công ty dầu mỏ lớn cũng giúp cho Việt Nam đỡ mất mặt vì không phải giao thiệp với một khách hàng của Trung Quốc là Crestone. Đồng thời, công ty Mobil Oil khoan dầu cho Việt Nam ở giếng Thanh Long nằm trong đường yêu sách theo lịch sử của Trung Quốc đã làm khó xử cho Bắc Kinh khó xử , vì TQ đã có phương châm không hành động chống lại một công ty dầu mỏ Mỹ. Lựa chọn duy nhất của Bắc Kinh là tiếp tục thăm dò trong phần của mình hoặc chia cắt làm nhiều lô và nghiên cứu việc liên kết phát triển. Về phần mình, công ty Mobil đòi hỏi là mình đã được cả hai nước cam kết rằng vấn đề sẽ được giải quyết một cách hòa bình(25).

Cả hai Ông,  Giang (Trạch Dân) và  Đỗ (Mười) cũng đồng ý sớm thành lập một nhóm hỗn hợp đặc biệt tách riêng tìm kiếm những giải pháp cho các tranh chấp ở Wan’an Bei (Tu Chinh) và TS (Spratlys). Bộ trưởng Ngoại giao (Nguyễn Mạnh) Cầm cũng lạc quan cho rằng vấn đề có thể được giải quyết sớm hơn mong đợi; bằng cách tách vấn đề Vịnh Bắc Bộ và Spratlys ra,  hai bên sẽ đẩy nhanh việc vạch ra đường ranh giới phân định trên Vịnh Bắc Bộ. Vòng thứ ba và thứ tư cuộc đàm phán được tổ chức tại Hà Nội vào các ngày 20 và 22-12-1994, và trong tháng 4-1995. Hội nghị  ngoại trưởng tại Bắc Kinh vào tháng 5-1995 đã ca ngợi các kết quả đàm phán và đưa ra một thỏa thuận thành lập các nhóm chuyên gia để thúc đẩy các cuộc đàm phán(26). Hai nhà lãnh đạo cũng đồng ý giải quyết các tranh chấp thông qua thương thảo một cách hòa bình; từ bỏ việc sử dụng và hăm dọa sử dụng vũ lực; kiềm chế mọi hành động có thể làm trầm trọng thêm tranh chấp; và ngăn ngừa những bất đồng làm ảnh hưởng đến tiến trình phát triển  các mối quan hệ song phương. Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Tiền (Kỳ  Thâm–Qian Qichen) bác bỏ các tiến đoán rằng hai nước có thể  xung đột nhau tại các vùng tiềm năng nhiều dầu trong vùng biển Nam Trung Hoa, và ông khẳng định rằng Trung Quốc và Việt Nam tự mình có đầy đủ khả năng giải quyết vấn đề. Tuy nhiên, nhiều dấu hiệu cho thấy một giải pháp không đến ngay được, cả hai bên đều lặp lại đòi hỏi  chủ quyền đơn phương  trên các vùng tranh chấp(27).

Dường như căng thẳng cao độ giữa hai kẻ thù truyền kiếp vẫn còn âm ỉ sát dưới bề mặt yên tỉnh. Việt Nam tiếp tục xây dựng các ngọn hải đăng trên các đảo mà họ chiếm  được, bao gồm đảo An Bang (Amboyna) đã bị các nước Trung Quốc, Philippines và Malaysia yêu sách. Việt Nam cũng xây dựng một trạm nghiên cứu khoa học. Việc Nga, đồng minh trước kia của Trung Quốc, đã giúp Việt Nam khảo sát khoa học tại đảoTS( Spratlys) bị tiết lộ cũng đãg làm không vừa lòng Trung Quốc(28). Trong tháng 8-1995, công ty Mobil bắt đầu khoan giếng thăm dò thứ nhì trong vùng mỏ Thanh Long (Dragon field)(29).

Trung Quốc và Đài Loan

Đài Loan quyết định lờ đi không cần cố gắng đạt được giải  pháp cho vấn đề Spratlys. Chú tâm nhiều hơn vào việc được nhìn nhận là một quốc gia và cứ  để mặc cho Trung Quốc chịu búa rìu dư luận từ các nước Đông Nam Á, Đài Loan tiếp tục khuyến khích và hỗ trợ Trung Quốc trong những yêu sách bành trướng của nước này, cố gắng kết hợp  thành ‘một nước Trung Quốc vĩ đại hơn’ trong các tranh chấp. Mặc dù đã thỏa thuận không có những hành động đơn phương có thể hủy hoại tình thế yên tĩnh hiện nay, Đài Loan đang có kế hoạch xây dựng một đường băng cũng như một ngọn hải đăng và cảng đánh cá trên đảo Itu Aba (Đảo Thái Bình-Taiping Dao)(30). Trong lúc Bắc Kinh nhấn mạnh tầm quan trọng của việc gác  tranh chấp, Đài Loan dường như có ý kết phe với Trung Quốc chống lại các nước có yêu sách về chủ quyền khác. Thứ tự ưu tiên trong chính sách của Đài Loan là, trước hết, phấn đấu cho quốc tế công nhận một nước Trung Hoa Dân Quốc (Đài Bắc) độc lập và, thứ nhì, hỗ trợ việc đòi chủ quyền cho Trung Quốc trên vùng biển Nam Trung Hoa trong lúc để lại trách nhiệm tăng cường quân sự cho Trung Quốc lo(31). Cùng lúc, Trung Quốc nhấn mạnh rằng Đài Loan đi theo chính sách của mình ở quần đảo TS( Spratlys).

Mặc cho Trung Quốc hăm dọa  Đài Loan nhân vụ Tổng thống Đài Loan Lý Đăng Huy (Lee Teng-Hui) viếng thăm Mỹ, hợp tác giữa Trung Quốc và Đài Loan có thể tạo ra thúc đẩy cần thiết cho lộ trình đa phương hóa tiến lên. Các thảo luận đang tiếp diễn giữa Tổ hợp Dầu mỏ Trung Quốc (CPC) chi nhánh Đài Loan, CNOOC của Trung Quốc và Tổ hợp Dầu mỏ Chevron của Mỹ trong việc thành lập một liên doanh thăm dò dầu mỏ trong vùng biển Tây và Nam Trung Hoa, nổi lên khả năng một mặt trận thống nhất Trung-Đài cho vấn đề này và có thể dẫn đến một giải pháp cho chúng(32). Các đại diện của CNOOC và CPC đã hoàn tất chọn địa điểm ngoài khơi đảo Hải Nam, trong vùng châu thổ sông Pearl và chung quanh đảo Đông Sa (Dongsha) để khai thác chung. Công ty sẽ đầu tư thông qua một chi nhánh của Đài Loan tại Panama để né tránh lệnh cấm đầu tư trực tiếp từ Đài Loan của Trung Quốc(33). Một mặt trận thống nhất như thế sẽ làm nản lòng sự giành giựt giữa hai phe, nhất là phe chủ trương bảo vệ chủ quyền Trung Quốc là ưu tiên. Có thể nó cũng đơn giản hóa tiến trình thăm dò đang diễn ra giữa các nước yêu sách vì họ không còn phải chọn lựa giữa Trung Quốc hay Đài Loan nữa.

Các học giả ở Trung Quốc nhắc mãi đề nghị Trung Quốc và Đài Loan nên hợp tác nhau trên vùng biển Nam Trung Hoa thông qua tiếp xúc giữa các lực lượng chiếm đóng trong khu vực, liên kết các nhiệm vụ, hỗ trợ tiếp vận và ngay cả việc phối hợp diễn tập quân sự. Dấu hiệu đầu tiên nổi bật cho thấy Trung Quốc và Đài Loan có thể chấp nhận một chính sách chung trong vấn đề này là trong cuộc đụng độ vào tháng 3-1988 ở vùng biển Nam Trung Hoa giữa Trung Quốc và Việt Nam, khi Bộ trưởng Quốc phòng Đài Loan khẳng định rằng Đài Loan sẽ giúp Trung Quốc phòng vệ nhóm đảo chống bên thứ ba xâm nhập nếu được yêu cầu(34). Trong cuộc hội thảo do Indonesia bảo trợ kỳ họp năm 1991, việc này trở nên hiển nhiên khi Trung Quốc và Đài Loan cùng một yêu sách trãi rộng gần hết vùng biển Nam Trung Hoa – và cùng một lý lẽ căn cứ vào lịch sử giống nhau. Mặc dù yêu sách của họ dựa trên căn cứ có sự thám hiểm từ xưa và hoàn toàn khống chế vùng này, phiên bản hiện đại của họ bắt nguồn từ mốc năm 1947. Yêu sách này thường được kèm theo một bản đồ cho thấy đường yêu sách lịch sử hình chữ U bao trùm nhiều phần thềm lục địa và luôn cả các vùng mỏ dầu và khí thiên nhiên mới tìm được sau này và đang khai thác của các nước ASEAN (xem bản đồ 1).

Đài Loan mới đây đã nhắc lại yêu sách của mình gồm hầu hết vùng biển Nam Trung Hoa như một vùng biển của họ trong lịch sử và , được sự hỗ trợ của Trung Quốc, cho rằng phải theo đuổi hợp tác đa phương suốt khu vực biển Nam Trung Hoa – chứ không chỉ là vùng  quần đảo TS(Spratlys) hoặc khu vực có nhiều nước đòi hỏi chủ quyền(35). Đài Loan còn mạnh dạn đề nghị thành lập một cơ quan hợp pháp liên kết giữa Trung Quốc – Đài Loan để hỗ trợ yêu sách bao trùm của họ. Cuối tháng 6-1994, một hội nghị hỗn hợp Trung Quốc – Đài Loan nghiên cứu về vùng biển Nam Trung Hoa được tổ chức tại Đài Bắc. Tại hội nghị này, Zhang Jinyou, cố vấn chính trị của chính phủ Yuan (bộ máy quan chức của Đài Loan), thúc dục hai chính phủ Đài Loan và Trung Quốc cùng nhau vẽ lại bản đồ lãnh hải và thực hành quyền tài phán tương ứng(36). Đây cũng diễn ra các thảo luận về một đoàn thám hiểm hải dương học hổn hợp Trung Quốc – Đài Loan đến vùng đảo TS( Spratlys).

Sự nở rộ mặt trận thống nhất này được thúc đẩy bởi các nhà chính trị muốn hợp nhất Trung Quốc – Đài Loan. Mặc dù Bắc Kinh và Đài Bắc tiếp tục giành giật nhau việc được công nhận đơn độc về ngoại giao, khuynh hướng chính trị trong vùng Eo biển Đài Loan từ 1987 là nghiêng về hòa giải hơn là đối đầu. Cũng đã có những thỏa thuận về cấp chuyên viên trong thương thảo, mặc cho những căng thẳng dâng cao với Đài Loan qua việc  Hàn Quốc chuyển sự công nhận của họ sang Trung Quốc, các thương vụ Mỹ và Pháp bán máy bay phản lực  chiến đấu hiện đại cho Đài Loan, và việc Trung Quốc phản đối  Đài Loan nộp đơn xin gia nhập Liên Hiệp Quốc và chính sách ‘ngoại giao ngày nghỉ lễ’ của Đài Loan (thông thường Tổng thống Lý Đăng Huy của Đai Loan viếng thăm các nước Đông Nam Á vào các ngày nghỉ lễ).

Mối ràng buộc kinh tế giữa Đài Loan, phía nam Trung Quốc và Hương Cảng đã phát triển mạnh mẽ đến nỗi cả Bắc Kinh lẫn Đài Bắc đều không muốn trở lại thời kỳ trước 1987 theo phương châm ba không,  không tiếp xúc, không thương thảo và không thỏa hiệp. Thực vậy, các quan chức chóp bu của Đài Loan về kế hoạch kinh tế, vận tải và ngoại thương đã không ngừng nhấn mạnh “yếu tố đại lục” của Trung Quốc trong khi xây dựng chính sách và kêu gọi nới lỏng hơn nữa các hạn chế còn lại về tiếp xúc qua lại vùng eo biển. Đài Loan hiện nay đã thông báo một kế hoạch chỉ định Cao Hùng (Kaohsiung) và một phi trường ngoài khơi thành một trung tâm trung chuyển và hàng không từ đó tàu bè và máy bay có thể qua lại trực tiếp giữa hai miền Trung Hoa mà không vi phạm về kỹ thuật đến lệnh cấm trực tiếp qua lại của Đài Loan.

Một trong nhiều lý do khiến Đài Loan giảm nhẹ lập trường của họ đối với đại lục là vì chính phủ sợ rằng tiếp tục lệnh cấm mãi sẽ làm ngăn chận đầu tư nước ngoài. Đài Loan muốn trở thành một trung tâm hàng hải, hàng không và viễn thông trong khu vực cho các tổ hợp đa quốc gia, và cho rằng sự hạn chế tiếp cận đến Trung Quốc sẽ là một trở ngại để đạt được mục tiêu trên. Tình hình chính trị trong nước cũng là một yếu tố tác động một phần. Các nhà chính trị trong vấn đề tranh chấp lãnh thổ thường hay bảo vệ mạnh mẽ yêu sách trong quá khứ hòng lấy tranh thủ phiếu ủng hộ của cử tri trong nước. Bằng cách tạo lập một mặt trận thống nhất với Trung Quốc trong vấn đề biển Nam TH, Đài Loan có thể bảo đảm là vùng tranh chấp sẽ không thể rơi vào tay ai ngoài người Trung Quốc, bất chấp chế độ Trung Quốc nào sau cùng sẽ kiểm soát Đại lục và Đài Loan. Từ khi Nhật Bản đầu hàng và giao lại các hòn đảo, chưa có bên nào (Đại lục và Đài Loan) bị khiêu khích bởi phía bên kia qua việc chiếm đóng, hoạt động hoặc xây dựng mang tính quân sự tại biển Đông.

Mặc dù một mặt trận thống nhất Trung-Đài có thể giải quyết các tranh chấp, điều đó cũng có thể là Trung Quốc và Đài Loan trở nên cạnh tranh và sẽ thúc đẩy lẫn nhau đứng vào vị thế mạnh mẽ hơn so với mỗi nước tự làm một mình, đặc biệt là sau chuyến đi thăm Mỹ của việc Tổng thống Lý  (tránh bị xem là yếu đuối hơn trong việc bảo vệ ‘tổ quốc’). Trong tháng 7-1995, khi một tàu tuần tra Trung Quốc chặn lại và kiểm tra hai tàu đánh cá Đài Loan trong vùng đảo TS( Spratlys) lần đầu tiên, là dấu hiện sự ganh đua nói trên sẽ đổ ập xuống các tranh chấp ở quần đảo TS(Spratlys)(38). Giọng nói đinh tai và không khoan nhượng của mặt trận thống nhất Trung Quốc sẽ đẩy lộ trình hội nghị do Indonesia bảo trợ đi đến chỗ bế tắc và có lẽ làm nỗi sợ tệ hại nhất của các nước Đông Nam Á về một nước Trung Quốc trỗi dậy và hung hăng lại càng đoan chắc(38). Tháng 5/1995 lực lượng quân sự của Đài Loan nả súng bắn vào tàu của VN vì cho rằng taù nầy đã “vi phạm” vunbgf biển quanh vùng đảo của Đài Loan chiếm cứ càng làm cho nổi sợ hãi nầy lắng dịu mà còn ngược lại(39).

Tuy nhiên, cũng có một số dấu hiệu tích cực hơn từ thái độ của Đài Loan. Trong vụ việc rắc rối giữa Trung Quốc và Philippines, Đài Loan đã huy động ba tàu tuần tra phóng thẳng đến hiện trường đối mặt với những phản đối mạnh mẽ từ Việt Nam và Philippines. Hậu quả, Tổng thống Lý đã đề xuất một sự liên kết phát triển đa phương cho vùng này. Đặc biệt, ông đề nghị rằng Đài Loan và các nước liên quan cùng góp vốn để thành lập một công ty phát triển quốc tế để có thể khai thác tài nguyên suốt vùng biển Nam Trung Hoa(40). Mới đây ông còn khẳng định rằng 12 quốc gia và vùng lãnh thổ có quyền lợi trong khu vực sẽ được mời đầu tư vào một tổ hợp công ty Phát triển biển Nam Trung hoa có vốn 10 tỷ đô la và kêu gọi các bên có liên quan chấm dứt các yêu sách về tranh chấp chủ quyền các đảo vì tương lai của dự án trên. Lợi nhuận của liên doanh sẽ được dùng phát triển hạ tầng cơ sở trong các nước ASEAN.

Trung Quốc và ASEAN

Nhiệm vụ của ASEAN trong các vụ tranh chấp ở quần đảo TS( Spratlys) đã vào một chương mới với vụ va chạm vỗ mặt giữa Trung Quốc và Philippines trong vùng Rặng đá ngầm Mischief. Các nhà lãnh đạo ASEAN quan tâm đến việc không để cho cuộc cải vã cản trở đến mục tiêu sau cùng của họ là tạo ra một Khu vực Hòa bình, Tự do và Trung lập tại Đông Nam Á và sự phát triển kinh tế của bản thân nó tự tạo ra. Trong bối cảnh này, vài nhà quan sát tin rằng ASEAN phải đoàn kết đứng lên đương đầu Trung Quốc nhằm thuyết phục họ giải quyết vấn đề theo cách đa phương và hòa bình(41). Cuối kỳ họp thường niên năm 1995 tại Brunei, các ngoại trưởng ASEAN đưa ra một thông cáo chung thúc dục toàn bộ các nước yêu sách phải ‘kiềm chế các hành động có thể làm mất ổn định trong khu vực, gồm cả những việc có thể gây phương hại đến quyền tự do đi lại trên biển và không lưu trong vùng bị ảnh hưởng.’ Thông cáo cũng nhắc lại tầm quan trọng của việc thúc đẩy thước đo xây đắp lòng tin và  liên doanh hợp tác có lợi đôi bên trong hội thảo do Indonesia bảo trợ. Ít ra thì một mặt trận đoàn kết như vậy có thể làm dịu lại các hành động của Trung Quốc trong tương lai ở khu vực và thúc đẩy tranh chấp hướng về một giải pháp lâm thời. Sự đoàn kết đứng lên này cần được làm gấp trước khi Việt Nam gia nhập khối ASEAN nhằm tránh việc Trung Quốc xem ASEAN là một công cụ trong lịch trình tham gia của Việt Nam. Vẫn có thể là cần thiết phải đứng lên trước khi Đặng Tiểu Bình chết kẻo sẽ không tránh được những việc không thể lường trước.

Nếu ASEAN không thể duy trì một tiếng nói chung, Trung Quốc có thể mạnh dạn tiếp tục chính sách ‘lấn chiếm từng bước một’ của mình. Nhưng mối nguy hiểm là nếu ASEAN thống nhất đối đầu với Trung Quốc, đặc biệt có Việt Nam làm thành viên, điều đó sẽ chọc giận Trung Quốc. Từ lâu đã có những quan điểm bất đồng trong khối ASEAN về ‘hiểm họa Trung Quốc’ và một khi ASEAN tạo lập một sự đồng thuận bằng cách nhất trí, sự bất đồng này có thể tái xuất hiện dưới áp lực của  TQ. Ngoài việc không nước nào trong ba nước có yêu sách trong ASEAN cho thấy có khuynh hướng sẽ có một thỏa hiệp gì với các nước khác trên vấn đề chủ quyền, ASEAN vẫn còn chia rẽ về thái độ đối với Trung Quốc. Mặc dù giờ đây Việt Nam đã là thành viên ASEAN, các thành viên khác sẽ cố ngăn ngừa tổ chức này bị lôi kéo vào cuộc tranh đua giữa Việt Nam -Trung Quốc. Indonesia, Thailand và Singapore lại chẳng là nước có yêu sách (mặc dù Singapore và Thailand rất quan tâm về an toàn trên các tuyến hàng hải trong biển Nam Trung Hoa, và Thailand đã đề nghị làm trung gian hòa giải). Vài nước trong ASEAN lo ngại rằng đối đầu với Trung Quốc hiện nay về vụ TS(Spratlys) có thể làm tăng cường sức mạnh cho phe chủ nghĩa dân tộc cứng rắn ở TQ trong cuộc tranh giành quyền kế thừa Đặng Tiểu Bình. Malaysia và Singapore thích khuyến khích sự tham gia của Trung Quốc trong một mạng lưới các tổ chức trong khu vực như là một ‘cấu tạo còn phôi thai của một công dân tốt’(43). Tuy nhiên, nếu chiến lược của Trung Quốc rõ ràng là chia để trị, ASEAN có thể chưa có được sự khôn ngoan trong việc cùng   đề xuất  chung một giải pháp đa phương.

Indonesia

Tổng thống Indonesia là Suharto thích làm người trung gian mối lái cho một giải pháp thành công đối với các tranh chấp và từ đó nâng cao thanh danh của mình như một lãnh đạo trong khu vực  hoặc có thể là ở tầm toàn cầu. Indonesia cũng có một ảnh hưởng chính trị sâu rộng trong các tranh chấp mà ở đó nước này được chú ý về mặt hòa bình và ổn định trong Đông Nam Á. Indonesia ủng họ mạnh mẽ việc xây dựng một Khu vực Hòa bình, Tự do và Trung lập tại Đông Nam Á. Indonesia đã chống lại việc bị lôi kéo vào trung tâm các tranh chấp, muốn để cho các nước có yêu sách tuyến đầu làm vai trò tấm đệm giữa họ và Trung Quốc. Trong phạm vi này, sự tương đồng về nòi giống giữa Trung Quốc với Singapore và Malaysia đã khơi dậy sự e dè của Indonesia rằng Singapore có thể làm tay trong kiểu “Ngựa thành Troie”(Trojan Horse) của Bắc Kinh trong khu vực(44).

Indonesia bị ràng buộc trực tiếp hơn trong tranh chấp vì đường biên yêu sách lịch sử của Trung Quốc bao trùm mỏ khí thiên nhiên Nutuga của mình và những khu vực nước này đã nhượng quyền cho các công ty Mỹ thăm dò. Đặc biệt Tổ hợp Exxon đã ký một hợp đồng trị giá 35 tỉ đô la Mỹ để phát triển một vài mỏ trong khu vực này(45). Thật đáng ngạc nhiên khi Trung Quốc không hề phản đối gì về các thỏa thuận này. Tuy nhiên, Exxon cần sự tái đảm bảo về chính trị là khu vực mà họ đang tiến hành dự án không bị yêu sách của các quốc gia khác, và Indonesia đã hỏi ý Trung Quốc để làm rõ yêu sách của Trung Quốc trong khu vực đồng thời Indonesia đang tăng cường lực lượng không và hải quân tuần tiểu nơi đây. Dưới mắt Trung Quốc, việc này và tư cách thành viên ASEAN của Indonesia đã làm sói mòn những nhận thức về tính trung lập của Indonesia.

Giờ thì Việt Nam đã gia nhập ASEAN, Trung Quốc dường như càng gia tăng nghi ngờ về vai trò của Indonesia. Có vài suy đoán rằng Indonesia và Việt Nam không thể dàn xếp yêu sách về phần thềm lục địa chồng chéo nhau trong khu vực Natuna vì nếu nó được dàn xếp, hai bên có thể cùng nhau giao cho Trung Quốc các vùng thềm lục địa ngoài thỏa thuận của hai bên. Nhưng một sự dàn xếp hiện nay có thể làm trầm trọng thêm tranh chấp ở nơi khác giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Indonesia sẵn sàng làm trung gian hoặc tạo điều kiện để đạt được một giải pháp cho các tranh chấp ở vùng biển Nam Trung Hoa nếu như được tất cả các bên có yêu sách đề nghị, nhưng Indonesia vẫn còn thất vọng trước thái độ cố ý lập lờ của Trung Quốc không nói rõ là yêu sách gì và tại sao. Bộ trưởng Ngoại giao Indonesia, Ali Alatas, đã công khai phát biểu mối quan tâm về các hành động gần đây của Trung Quốc và thúc giục cả Trung Quốc và Philippines dàn xếp tranh chấp của họ một cách hòa bình. Trong giai đoạn này, Indonesia có thể hoan nghênh sự tham gia trực tiếp hơn của các thế lực ngoài khu vực như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản và Nga.

Philippines

Philippines hỗ trợ mạnh mẽ một giải pháp đa phương lâm thời thông qua tiến trình hội nghị Indonesia,  họ đã đề nghị liên kết khai thác với cả Việt Nam lẫn Trung Quốc. Tuy nhiên, Philippines có lẽ sẽ không đồng ý chia cắt khu vực “kiểu Biển Bắc”(xem http://en.wikipedia.org/wiki/North_Sea) giữa các nước yêu sách vì nó đi ngược lại hiến pháp nước này không cho nước ngoài sở hữu phần lãnh thổ bất kỳ nào của Philippines. Philippines là quốc gia ít chuẩn bị quân sự nhất trong việc phòng thủ hoặc khẳng định quyền lợi của mình nên do đó cần đến một bên thứ ba phân xử, và họ đã yêu cầu sự giúp đở của Mỹ làm trung gian.

Vụ va chạm mới đây giữa Trung Quốc và Philippines tại Mischief Reef đáng được xem xét tỉ mĩ. Tháng 4-1988, vụ bắt giữ 49 ngư dân Philippines bởi tàu chiến Malaysia châm ngòi cho một vụ huyên náo chính trị giữa hai nước thành viên ASEAN. Tháng 9-1994, lực lượng vũ trang Philippines đã lưu giữ khoảng 55 ngư dân Trung Quốc khi họ đang cố dựng nhà cửa trên một trong các đảo do Philippines yêu sách. Những người này bị nhập cảnh bất hợp pháp và sở hữu chất nổ bất hợp pháp. Sau đó, vào cuối tháng giêng 1995, Trung Quốc cầm giữ 35 ngư dân Philippines một tuần trên vùng Kalayaan, là nơi Philippines yêu sách. Vào ngày 8 tháng 2-1995, Philippines cáo buộc Trung Quốc phá vỡ luật quốc tế qua việc đóng quân các tàu vũ trang và lập các cấu trúc xây dựng trên rặng đá ngầm Mischief của họ. Mischief Reef trơ trọi chỉ là rặng san hô ngầm  có mũi thò lên trải rộng khoảng hơn 15 hải lý vuông, cách Palawan khoảng 135 hải lý về phía tây (xem bản đồ 2).

Philippines đã thất bại trong việc giám sát hoạt động xây dựng của Trung Quốc vì họ thiếu các khí tài ra-đa, không và hải quân. Đồng minh của họ qua danh nghĩa Hiệp ước Phòng vệ tương hỗ Manila năm 1951, là Mỹ, không sử dụng máy bay trinh sát biển loại P-3C Orion và cũng không thu thập và phân tích vệ tinh thám sát trên khu vực này ở thời điểm trên. Về phần mình, Mỹ phân bua rằng Hiệp ước không áp dụng cho vùng tranh chấp vì nó chỉ bao gồm những khu vực mang tính “thủ đô” của Philippines, như đã qui định trong Hiệp ước Paris 1899 và Hiến pháp Philippines 1935, và bởi vì Philippines đã yêu sách khu vực này sau khi ký Hiệp ước 1951.

Sở Ngoại Vụ Philippines đã gửi một bút lục cứng rắn đến Đại sứ quán Trung Quốc ở Manila về việc các công trình xây dựng của Trung Quốc và sự cầm giữ ngư dân Philippines. Trung Quốc chối bỏ việc Hải quân của họ đã xây dựng một căn cứ hoặc cầm giữ ngư dân Philippines nào trong vùng tranh chấp và cho rằng các cấu trúc xây dựng trên Mischief Reef là các chòi trú bão cho ngư dân và do Cục Quản lý Ngư nghiệp của dựng lên. Trung Quốc cũng cho rằng sự chiếm ngụ trên dãy đá ngầm là do các viên chức cấp thấp cấp phép mà chính quyền Trung Quốc không hề hay biết hoặc ưng thuận. Tuy nhiên, các chuyên gia sau khi xem xét ảnh chụp đoan chắc rằng các cấu trúc là tháp canh điển hình dựng trên các trụ bê tông với an-ten chảo liên lạc vệ tinh, và cờ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bay phất phới trên nóc mỗi tháp. Đối với Philippines, mục đích của các cấu trúc trên dường như đã rõ là đánh dấu lãnh thổ và thiết lập kiểm soát.

Trong một cuộc phỏng vấn của đài truyền hình quốc gia, Tổng thống Ramos tố cáo buộc hành động của Trung Quốc đi ngược lại tinh thần Tuyên bố ASEAN về biển Nam Trung Hoa tại Manila năm 1992,  kêu gọi dàn xếp hòa bình các tranh chấp và hợp tác nhau thăm dò và khai thác trong khu vực. Philippines than phiền rằng Trung Quốc, dù không là nước có ký tên vào, cũng phải thể hiện tôn trọng tinh thần của tuyên bố.

Mặc dù Malaysia, Đài Loan và Việt Nam cũng chiếm ngụ một số đảo bị Philippines yêu sách, Bộ trưởng Ngoại giao Philippines cho rằng các sự chiếm ngụ này đã có từ rất lâu trước khi có Tuyên bó Manila. Do vậy, ông lý luận tiếp, Trung Quốc không nên sử dụng sự hiện diện lực lượng đồn trú của các nước kia để bào chữa cho việc tiếp tục ở lại trên đảo san hô vòng này.

Mặc dù Tổng thống Ramos đã ra lệnh tăng cường lực lượng phòng vệ tại khu vực, nhưng không có vẻ rắc rối này sẽ dẫn đến xung đột vũ trang tại khu vực, hoặc dẫn đến một sự đối đầu, chủ yếu vì Philippines không đủ khả năng triển khai sức mạnh. (Tuy nhiên, họ cũng gởi đến một phi đội gồm 5 chiến đấu cơ cũ kỹ và một tàu tuần tra để giám sát rặng đá ngầm bị Trung Quốc chiếm ngụ).

Trung Quốc dường như không tiên liệu được chiến thuật của Philippines; thay vì hăm dọa dùng sức mạnh quân sự, Philippines xoay qua phía cộng đồng quốc tế và cố gắng khêu gợi tình cảm và sự hỗ trợ của ASEAN. Họ cũng dọa sẽ mang vấn đề lên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và Tòa án Thế giới (Tòa án Công lý Quốc tế). Hiển nhiên là Philippines sẽ sớm nhận ra là với tư cách là thành viên của Hội đồng Bảo an, Trung Quốc có thể phủ quyết bất kỳ giải pháp nào hội đồng này đưa ra, và Tòa án Thế giới không thể phân xử  nếu Trung Quốc không chấp nhận quyền tài phán của tổ chức này. Lời kêu gọi một hội nghị đại sứ của các nước yêu sách do Jose de Venecia, phát ngôn viên Quốc hội và Tổng thư ký đảng của ông Ramos, phát ra hầu như đều bị làm ngơ. Tuy thế, sau đó thì Bộ trưởng Ngoại giao của Philippines là Roberto Romulo và Bộ trưởng Ngoại giao của Việt Nam là Nguyễn Mạnh Cầm cũng đề xuất một cuộc gặp thượng đỉnh toàn Đông Nam Á vào tháng 12-1995 để thảo luận về vấn đề trên.

Trong lúc này, Trung Quốc rút 7 trong số 9 tàu của mình ra khỏi lãnh hải 200 hải lý của Philippines, nhưng để lại các cấu trúc xây dựng không tháo dỡ. Sau đó Tổng thống Ramos nói với Hội đồng An ninh Quốc gia của ông rằng động thái của Trung Quốc là xâm nhập vào lãnh thổ Philippines và các cấu trúc trên làm các tiền đồn mới và có thể là một căn cứ phục vụ hải quân xây dựng giữa 200 hải lý thuộc lãnh hải của Philippines. Hội đồng khẳng định là họ thấy hành động này là bằng chứng mạnh mẽ về yêu sách của Trung Quốc trên toàn bộ vùng biển Nam Trung Hoa. Tiếp đó, ông Ramos đòi hỏi ‘kẻ xâm lược ngoại bang’ phải rời Philippines trong hòa bình và cam kết sẽ duy trì khả năng phòng thủ  quốc gia. Thế là quân đội gởi ngay đến Palawan thêm 28 tàu tuần tra, một tàu  hàng, hai trực thăng UH-1 và 4 phản lực cơ huấn huyện kiểu S-211 do Italy chế tạo. Bị thúc đẩy bởi vụ việc trên, về phần mình, Thượng viện Philippines thông qua một dự luật chờ đợi đã lâu là hiện đại hóa lực lượng vũ trang quốc gia.

Mặc dù  có cố gắng trong cuộc phô diễn sức mạnh, chiến lược cơ bản của Philippines là mô tả tranh chấp lãnh thổ của mình như là thuộc vấn đề đa phương, không phải song phương. Họ đề nghị  khu vực trên phải được phi quân sự hóa, và xem như là một biện pháp lâm thời mỗi hòn đảo tranh chấp phải đặt đưới sự quản lý của nước yêu sách nào kề cận nhất về mặt địa lý; nước quản lý đó phải tạo điều kiện cho các nước yêu sách khác khi họ cần nơi trú ẩn, thả neo hay các hành động có mục đích hòa bình khác. Các nước yêu sách khác có quyền bảo vệ ngư dân nước họ khi tiến vào vùng biển mà nước họ yêu sách, nhưng lại đang được quản lý bởi một nước khác. Philippines cũng đề xuất hợp tác liên doanh về du lịch và đánh bắt giữa các vùng riêng tư của các nước yêu sách, điều này Trung Quốc từ chối thẳng thừng. Không nản lòng, Philippines vẫn đang cố tranh thủ các nước yêu sách khác và ARF rằng vùng biển chung quanh các hòn đảo tranh chấp phải được tuyên bố là khu dự trữ biển.

Philippines và Trung Quốc đồng ý đàm phán. Nhưng Philippines ngần ngừ khi tiến hành thương thảo song phương về liên kết phát triển vùng tranh chấp chồng chéo vì họ không muốn bị Trung Quốc bắt nạt, và các thảo luận như thế sẽ làm vấn đề chủ quyền không giải quyết được. Càng làm sự việc tệ hại hơn, một ngày trước khi cuộc thảo luận bắt đầu, họ khám phá ra rằng Trung Quốc đã dựng các cột mốc mới tại đảo san hô vòng Jackson, rặng đá ngầm Sabina và Half Moon, chỉ cách 70 hải lý phía tây Palawan. Ngay sau đó Bộ trưởng Quốc phòng Romulo khẳng định có sự hiện diện các cột mốc Trung Quốc nhưng tuyên bố rằng chúng đã bị nhổ bỏ bởi tàu tuần tra hải quân Philippines ngay tức thì sau khi kết thúc cuộc thảo luận. Nhiều cột mốc khác của Trung Quốc sau đó cũng bị khám phá và nhổ bỏ trên rặng đá ngầm Pennsylvania, vùng bãi cạn Thomas I và II. Trung Quốc tuyên bố rằng phá hủy các cột mốc khảo sát của họ sẽ không giúp được gì trong việc dàn xếp tranh chấp hay thay thế được chủ quyền của Trung Quốc trên vùng này. Philippines bèn thông báo là họ sẽ xây dựng ngọn hải đăng trên các vùng yêu sách và chạy tàu tuần tiểu hải quân sát bên các rặng đá ngầm do Trung Quốc chiếm giữ. Tuy thế, Philippines cũng đã thả 55 ngư dân bị cầm giữ từ tháng 9-1994.

Không có gì đáng ngạc nhiên , cuộc đối thoại song phương không đưa đến một thỏa thuận nào, dù vậy cũng đặt ra được nền tảng cho các thảo luận trong tương lai. Vào ngày 25 tháng 3-1995, binh sĩ Philippines bắt giữ bốn tàu đánh cá Trung Quốc và khoảng 62 công dân Trung Quốc gần bãi cạn Half Moon, 50 hải lý cách Palawan. Những ngư dân này bị truy tố tội nhập cảnh bất hợp pháp, đánh bắt bất hợp pháp, giết hại một số sinh vật biển sắp tuyệt chủng và sở hữu chất nổ bất hợp pháp. Vấn đề tranh chấp chủ yếu giữa Philippines và Trung Quốc sẽ là nước nào giữ quyền tài phán trên bãi cạn Half Moon. Vào ngày 28 tháng 3, quân đội Philippines phàn nàn rằng kiều dân Trung Quốc vẫn chiếm ngụ trên các phần nổi của rặng đá ngầm Mischief, và ngày 30 tháng 3, Trung Quốc yêu cầu thả những tàu và ngư dân đã bị bắt giữ. Sau đó, nhằm lúc Philippines tổ chức cuộc thăm viếng của đoàn báo chí nước ngoài đến khu vực tranh chấp, Trung Quốc cảnh báo là ‘sự kiên nhẫn của họ không phải là vô hạn đối với những sự xâm phạm đến chủ quyền và phẩm giá của Trung Quốc’ và rằng phía bên kia ‘phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về các hậu quả nghiêm trọng’. Cùng lúc đó, trong một động tác cố tình chọc tức Trung Quốc, Philippines tuyên bố rằng họ dang xây dựng các ngọn hải đăng trên khu vực bờ đá Reed, Nares and Seahorse như là một cơ sở hợp pháp cho đường biên giới mới của Philippines. Trung Quốc tiếp tục đề xuất phát triển song phương trong khi Philippines nhấn mạnh vào liên kết phát triển đa phương, viện cớ rằng vấn đề trên đã được quốc tế hóa do có bản chất là dính líu đến nhiều nước yêu sách.

Đầu tháng 8-1995, một bước đột phá được loan báo: Trung Quốc và Philippines thỏa thuận về một bộ quy tắc cư xử từ chối việc sử dụng vũ lực để dàn xếp các tranh chấp đôi bên, và sẽ gửi đến ASEAN để xem xét. Cả hai quốc gia cũng đồng ý sử dụng bộ luật quốc tế và UNCLOS để giải quyết cuộc xung đột. Trung Quốc đề xuất liên kết phát triển, mặc dù Philippines e dè về các vấn đề liên quan đến tính pháp lý và kỹ thuật. Họ đồng ý thành lập danh sách chuyên gia để thảo luận về cơ sở pháp lý các yêu sách đôi bên và thăng tiến liên kết hợp tác trong ngành khi tượng, an ninh hàng hải, ngăn ngừa cướp biển, nghiên cứu và bảo vệ môi trường biển. Trung Quốc còn mạnh dạn đề nghị cho phép ngư dân Philippines tiếp cận các cấu trúc họ đã xây dựng trên Mischief Reef, trong lúc tiếp tục yêu cầu phóng thích toàn bộ ngư dân Trung Quốc đang bị Philippines bắt giữ.

Malaysia

Malaysia ban đầu tỏ ra rất bảo thủ về sáng kiến của Indonesia. Họ sợ rằng khái niệm liên kết phát triển của Trung Quốc sẽ bao gồm luôn cả các giếng dầu đang khai thác của Malaysia và do đó họ   không tin tưởng gì về yêu sách của Trung Quốc. Malaysia cũng không muốn nhìn nhận đòi hỏi của Brunei vì đụng chạm đến thềm lục địa của mình. Họ vẫn còn phản đối liên kết phát triển đối với khu vực mà họ có yêu sách và bỏ rơi ý tưởng về một giải pháp đa phương. Hơn nữa, Malaysia ngờ rằng Indonesia đã dùng các nước có yêu sách khác làm trái độn giữa họ và Trung Quốc, đề cao  bản thân, và việc ‘kết bè kết lủ’ trước Trung Quốc có thể là trò chơi chiến lược trong tay Mỹ. Malaysia cũng biểu lộ dấu hiệu đố kỵ về vai trò lãnh đạo của Indonesia.

Tuy nhiên, giờ đây có những dấu hiệu cho thấy Malaysia tin rằng họ phải hỗ trợ cuộc đối thoại do Indonesia bảo trợ, mặc dù chỉ tiếp cận dần dần; tuy vẫn chống lại việc chính thức hóa cuộc đối thoại này. Thủ tướng Mahathir Mohamed thích xem Trung Quốc như là một người bạn và là một đối tác trong công cuộc tìm kiếm hòa bình và thịnh vượng cho khu vực. [59] Malaysia tin rằng về cơ bản thì Trung Quốc không tệ đồng thời cho rằng thái độ của họ sẽ sau cùng bị kiềm chế bởi xã hội dân sự  quốc tế, chấp nhận  một giải pháp hòa bình. Trung Quốc đã  đánh giá cao Malaysia bởi lập trường này đáp lại bằng các cuộc đối thoại song phương một cách thân thiện về các vấn đề tranh chấp và cam kết Trung Quốc sẽ chẳng bao giờ có hành động quân sự chống lại lực lượng Malaysia.

Tuy nhiên, xung đột gần đây tại Mischief Reef đã đưa đến một ít băn khoăn và có thể, làm Kuala Lumpur suy nghĩ lại. Tổng thư ký của Bộ Ngoại giao Malaysia đã hỗ trợ việc đưa vấn đề trên lên ARF ở Brunei. Và vào ngày 23-3-1995, tàu tuần tra hải quân Malaysia đã nổ súng vào một tàu lưới cá Trung Quốc bên ngoài Sarawak, làm bị thương bốn thuyền viên Trung Quốc. [60] Trong tháng 5/95, Thủ tướng Mahathir viếng thăm đảo Pulau Layang-Layang do Malaysia chiếm ngụ và tái khẳng định chủ quyền của Malaysia tại đây, sau đó phía Trung Quốc đã kịch liệt bác bỏ. [61]

Singapore

Không phải là quốc gia có yêu sách, ban đầu Singapore không có chỗ đứng trong các cuộc tranh chấp vùng biển Nam Trung Hoa. Tuy nhiên, sau sự kiện Mischief Reef họ đã bắt đầu bày tỏ quan ngại – công khai và nêu thẳng với Trung Quốc – về sự an toàn và tự do lưu thông trên biển có thể gặp nguy hiểm do  xung đột gia tăng hoặc là một bộ phận của biển Nam Trung Hoa có nguy cơ biến thành một vết khảm kiểu như ‘hồ quốc gia’ Trung Quốc giữa lòng biển Nam Trung Hoa(62). Khi mở đầu vấn đề với Trung Quốc, Singapore tự đặt mình trong vị trí bình thường trong ASEAN. Thủ tướng Goh Chok Tong cảnh báo Bắc Kinh là sự quyết đoán gia tăng quân sự đồng thời phát triển kinh tế của họ đã làm dấy lên một mối lo ngại bất ổn trong khu vực. Tổng thống Singapore là Ong Teng Cheong, đã kêu gọi ASEAN đưa ra một mặt trận thống nhất, phản đối sự xâm lược. Nhưng Singpore vẫn dường như chưa thấy các hành động của Trung Quốc là đe dọa thật sự, và người đứng đầu lực lượng vũ trang Singapore từ chối việc giúp đỡ Philippines trong cuộc xung đột với Trung Quốc.

III. NHỮNG GIẢI PHÁP

Tìm kiếm những giải pháp

Hội nghị kiểu ngoại giao về biển Nam Trung Hoa trong tháng 10-1994 ở Bukittinggi, Indonesia, là lần thứ năm của chuổi hội họp không chính thức – tài trợ bởi Tổ Chức Phát triển Quốc tế Canada(Cadanian International Development) và chủ trì bởi Indonesia – dự trù đi sâu vào các vấn đề nhạy cảm trong xung đột yêu sách ở vùng biển Nam Trung Hoa.  [1] Các bên tham gia hội nghị chỉ được mời với tư cách đa phương – không hẵn là chính thức mà cũng không phải là phi chính thức -  chủ yếu là quan chức bộ ngoại giao và một số viện sĩ ở ASEAN lúc đó là 6 quốc gia cùng với Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan và Lào. Bên Campuchia tham dự vào buổi làm việc cuối cùng với một vài nhà nghiên cứu từ các nước ngoài khu vực. Lịch trình hội nghị bao quát nhiều chủ đề về vùng biển Nam Trung Hoa, nhưng lại né tránh tập trung vào vấn đề gây tranh cãi nhất là sự mâu thuẩn về yêu sách chủ quyền các hòn đảo.

Chính phủ và các nhà nghiên cứu tham gia hội nghị ảnh hưởng đến tiến trình qua nhiều cách khác nhau. Các đề xuất về các biện pháp xây đắp lòng tin, trao đổi  quan điểm và các phát biểu khuôn sáo vào cuối mỗi buổi họp phản ánh những tác động của chính quyền đến tiến trình. Các nhà nghiên cứu tạo ra bầu không khí trí thức và các đề nghị mang tính sáng tạo cho cơ chế giảm thiểu căng thẳng và các chế độ đa phương phát triển tài nguyên. Tiến trình của hội nghị có thể đóng góp rất quan trọng trong lĩnh vực này.

Hội thảo không do chính phủ chỉ định là một cách tiếp cận mới lạ trong quản lý tranh chấp quốc tế. Tính cách “không chính thức” của quy trình hội thảo là điều kiện có thể đưa mọi vấn đề gay gắt lẫn vấn đề xoàng xỉnh ra thảo luận một cách thẳng thắn và các giải pháp được tranh cãi một cách tự do; các chính phủ có thể mặc xác các kết quả thảo luận và có khi theo đuổi các chính sách đi ngược lại đề xuất của hội thảo. Tiến trình đa phương thì, không nghi ngờ gì, rất mong manh và các hành động đơn phương do các nước có  yêu sách đưa ra có thể kết thúc việc thương thảo đa phương trước khi nó được hoàn thiện.

Mặc dù có trạng thái là khép kín, phi chính thức và không do chính phủ chỉ định, các tuyên bố đều được công bố ở cuối mỗi kỳ họp. Một trong những tuyên bố cốt lõi của hội nghị này là Tuyên bố Bandung tháng 7/1991. Các bên tham dự được đề nghị nên khuyến cáo lại chính phủ nước mình là:

* Không nên sử dụng sức mạnh để dàn xếp các tranh chấp về lãnh thổ và quyền tài phán;

* Nơi nào có xảy ra xung đột về yêu sách, các nước nên nghiên cứu khả năng đảm nhận hợp tác vì lợi ích đôi bên, bao gồm . . . liên kết phát triển;

* Và sự tự kiềm chế phải được thực hiện nhằm không làm phức tạp thêm tình thế tranh chấp yêu sách.

Cho đến kỳ họp ở Bukittinggi, các nguyên tắc trên đều được tái xác nhận trong mọi kỳ họp.

Với những hành động đơn phương của Trung Quốc và việc thiếu những tiến bộ dáng kể trong cuộc đối thoại Jogjakarta do Indonesia môi giới vào tháng 6-1992, vấn đề quần đảo TS(Spratly)s được đặt lên hàng đầu trong lịch trình hội nghị Ngoại trưởng ASEAN tháng 7/1992 và tại cuộc Nhóm họp Cựu Bộ trưởng gồm cả Trung Quốc, Nhật Bản, Nga và Mỹ. Các cuộc thảo luận tại Jogjakarta rất cởi mở, nhưng vào cuối hội nghị các bên tham gia không tìm được tiếng nói chung trên một số vấn đề cơ bản, như là về diện tích và các đường biên giới của khu vực đang có tranh chấp. Mặc dù các bên tham gia tái khẳng định mong muốn  giải quyết các tranh chấp bằng  giải pháp hòa bình và hợp tác, nhưng yếu tố nắm được rất ít là ở đâu, bằng cách nào, khi nào và do nước nào để các việc trên được thực thi. Các bên tham gia cũng từ chối việc cố gắng nâng cấp các cuộc đàm phán sắp tới sẽ diễn ra trang trọng và chính thức hơn. Chỉ duy nhất một kết quả cụ thể là tổ chức các nhóm công tác về thẩm định tài nguyên và nghiên cứu khoa học, cũng như việc giao hẹn qua loa tiếp tục gặp nhau. Tuy nhiên, các bên tham gia từ khắp các nước – kể cả Trung Quốc và Đài Loan – đều đã tham dự cuộc hội họp tiếp theo về kỹ thuật khảo sát khoa học tại Manila đầu tháng 6-1993.

Vấn đề trên cũng đã được chen vào lịch trình hội nghị của ARF, vốn gồm cả các nước không có yêu sách và các thế lực bên ngoài. Một vài ý kiến mạnh dạn cho rằng ARF hình thành một phần đó do các tranh chấp ở biển Nam Trung Hoa. Thủ tướng Thái Lan lúc đó là Chuan Leekpai tuyên bố vào tháng 7-19/4 là tình hình ở TS(Spratlys) rất khẩn trương  do đó ASEAN phải sử dụng biện pháp ngoại giao ngăn ngừa để tránh đối đầu quân sự. [2] Trung Quốc, như dự đoán, tái khẳng định rằng họ chỉ thương thảo tìm giải pháp cho các tranh chấp trên biển Đông theo cách song phương.  [3] Tiến bộ duy nhất mà ARF đưa ra được là một đề xuất các trận đấu bóng chuyền giao hữu giữa các đơn vị binh sĩ đồn trú trên các đảo do nhiều quốc gia khác nhau kiểm soát. Để xoa dịu thêm Trung Quốc, người ta đồng ý nhau rằng ARF chỉ giữ vai trò diễn đàn tư vấn và các giải pháp trực tiếp sẽ được chỉ định qua các tiến trình đã được swaps đặt trước(ac hoc processes), tương tự như sáng kiến Indonesia về vùng biển Nam Trung Hoa.

Mục đích của tiến trình Indonesia là thiết lập sự hợp tác trong việc mở rộng sáng kiến về biển Nam Trung Hoa nhằm mục tiêu xây đắp đủ mức độ tin tưởng lẫn nhau để thực hiện việc hợp tác đa phương vùng biển thuộc quần đào TS (Spratlys). Tiến trình này cũng hy vọng là các hoạt động đan xen như lưới nhện tiến triển chậm chạp sẽ ngăn chận các động thái gây hấn của các bên có yêu sách và từ đó giảm khả năng xung đột. Để tạo được bước vũng chắc hướng về hợp tác vùng biển Nam Trung Hoa, các bên tham gia phải thành lập các nhóm hoạt động kỹ thuật về khảo sát khoa học đại dương, bảo vệ môi trường, thẩm định tài nguyên và các phương tiện cần cho sự phát triển, và quan trọng hơn hết là các vấn đề về pháp lý. Trong thời gian dẫn đến cuộc đối thoại Bukittinggi vào tháng 10/1994, các nhà quan sát đã biểu lộ sự bi quan đáng kể, họ tin rằng các cuộc đối thoại đã đạt ngưỡng bình  ổn vì Trung Quốc ngần ngại tiến thêm  nữa. Bộ trưởng Ngoại giao Indonesia là Alatas nhận xét trước buổi khai mạc hội nghị là tiến trình không thể được thể chế hóa hay chính thức hóa, và trong buổi khai mạc, ông bày tỏ hy vọng của mình là có được sự tham gia vào của các thể chế nhà nước và các bên không thuộc vùng biển Nam Trung Hoa trong các dự án hợp tác chung. Tuy thế các cuộc đối thoại nóng bỏng nhiều hơn là nhẹ nhàng: Đài Loan và Trung Quốc khóa chặt điều khoản thỏa thuận về việc không bành trướng thêm chiếm đóng quân sự trong vùng biển Nam Trung Hoa, và họ yêu cầu các biện pháp xây dựng lòng tin kiểu như trên và đề mục truyền thống như ‘vấn đề TS(Spratlys) và HS (Parace)l’ – phải được rút ra khỏi lịch trình hội nghị. [4]

Mặc dù các bên tham gia cùng đồng ý tránh các hành động đơn phương có thể gây mất ổn định tình hình, nhưng chính các điều này lại được nhiều nước có yêu sách đang làm. Thực vậy, các hành động đơn phương và các thương thảo song phương đang tiến hành cùng lúc với tiến trình hội thảo, có thể làm suy yếu mất tin tưởng vào những gì hội thảo đạt được. Hơn nữa, những mặt thất bại của hội thảo thì nhiều hơn về số lượng và sự đáng lưu tâm so những thành quả đạt được. Họ đã thất bại trong việc tạo ra tiến bộ quan trọng về một giải pháp cho các vấn đề lôi thôi nhất, vá các bên tham gia thậm chí còn không thèm chỉ ra hay giải thích về những đòi hỏi của mình. Hơn nữa, sự chính thức hóa và thể chế hóa của hội nghị đã bị từ chối, như khi đề xuất thành lập một văn phòng chẳng hạn. Vài bên tham gia thậm chí còn ngần ngừ khi cần mời thêm số nước ngoài khu vực tham gia quan sát cuộc bàn cãi – hoặc thậm chí là không cho tham dự các nghi lễ khai mạc và bế mạc. Càng quan trọng hơn, các bên tham gia không đủ năng lực hay không muốn thể hiện sự nhất trí trong việc cụ thể hóa hơn các biện pháp xây đắp lòng tin, như việc ngưng lại bành trướng quân sự trên các đảo, hoặc công bố minh bạch về lực lượng chiếm đóng.

Dù tốt dù xấu, vị thế và chiến lược của các nước có yêu sách đã trở nên rõ ràng, và có sự chênh lệch khác biệt. Malaysia thì không mặn mà gì đến liên kết phát triển đa phương, nhất là trong khu vực họ có yêu sách, Việt Nam cương quyết chống lại bất kỳ chương trình liên kết phát triển nào mà có dính dáng đến phần thềm lục địa mà họ yêu sách, tuy thế họ ủng hộ thương thảo đa phương và liên kết phát triển riêng biệt trong vùng TS(Spratlys). Philippines là nước yêu sách duy nhất ủng hộ liên kết phát triển đa phương trên toàn bộ khu vực họ có yêu sách. Mặc dù Trung Quốc và Đài Loan bày tỏ sự ủng hộ liên kết phát triển, dường như họ muốn chương trình này bao trùm gần như toàn bộ vùng biển Nam Trung Hoa, gộp cả phần thềm lục địa mà các nước khác đã yêu sách, và họ mong muốn thương thảo song phương để từ đó họ có thể chiếm ưu thế trong các điều khoản thỏa thuận. Đài Loan và Trung Quốc có vẻ muốn trì hoãn tiến trình và Malaysia dường như ủng hộ chiến lược này. Việt Nam và Philippines là những nước yêu sách duy nhất ủng hộ tiến trình một cách toàn tâm toàn ý, và sự ủng hộ của Việt Nam có thể bắt nguồn sâu xa hơn nữa từ mong muốn cô lập và làm mất mặt Trung Quốc bởi lòng nhiệt tình nghiêng về quan điểm giải quyết đa phương .

Những kết quả tích cực của tiến trình hội thảo là sự đồng ý trong việc hợp tác nghiên cứu về tính đa dạng sinh học (chỉ sau khi được “Nhóm Chuyên gia” xem xét lại); sự nhận dạng các tâm điểm quốc gia qua việc tồn tại các Nhóm Công tác Kỹ thuật (TWGs) trong việc nghiên cứu khoa học về biển và bảo vệ môi trường; và sự cấp phép cho điều phối viên để tìm kiếm sự ủng hộ bên ngoài khu vực nhằm thực hiện dự án đa dạng sinh học. Các cuộc đối thoại cũng đã nhận ra một số khả năng hợp tác khu vực với hy vọng rằng các nổ lực này sau cùng sẽ xây dựng nên một cộng đồng liên thông ủng hộ khái niệm hợp tác khu vực trong quản lý biển.  Hy vọng tốt nhất hiện tại là có thể dựa vào một TWG trên các vấn đề pháp lý đầu tiên đã được họp bàn tại Thái Lan vào giữa năm 1995. Mặc dù hội nghị đã dứt khoát nghiêm cấm thảo luận về các vấn đề yêu sách và chủ quyền, nó cũng đã đề cập đến chức năng của luật pháp quốc tế trong việc giải quyết các tranh chấp.

Sự thất bại trong việc thúc đẩy nhanh đến một giải pháp đa phương đặt ra những câu hỏi về tương lai của tiến trình hội họp không chính  thức. Đáng chú ý nhất – và cũng rất bi quan -  là tiến trình đa phương trở thành một sự lệch hướng, một ‘câu lạc bộ nói suông’, đưa ra lời hứa hảo về hợp tác trong lúc một vài nước yêu sách hợp nhất nhau lại và tăng cường khả năng đàm phán hoặc vị trí quân sự ? Một quan điểm lạc quan hơn cho rằng tiến trình hội nghị không chính thức có thể vẫn đóng vai trò chất làm nguội khi các hành động đơn phương làm dâng cao sự căng thẳng. Hơn nữa, cuộc đối thoại là tiến trình đa phương cụ thể duy nhất mà trong đó cả Trung Quốc lẫn Đài Loan có tham gia thảo luận về các vấn đề an ninh. Trong quan điểm này, chừng khi nào các nước yêu sách còn chịu nói chuyện với nhau, thì càng khó mà chối bỏ toàn bộ khỏi tiến trình. Như thế, tiến trình có thể được mô tả như bước khiêu vũ: hai bước tiến, một bước lùi. Nhưng có thể nào những bạn nhảy dẫm không phải chân nhau ? Có nghĩa là, sự tin cậy sẽ tiến triển hay bị sói mòn ? Để tiến trình đa phương phi chính thức không lâm vào số phận của câu lạc bộ nói suông, các nhóm công tác phải mang lại sự hợp tác có hiệu quả từ các chính phủ trong vùng biển Nam Trung Hoa – và phải thật nhanh chóng. Biện pháp thật sự của tiến trình không phải là những gì đạt được tương ứng với nổ lực bỏ ra, mà là những quan điểm nào sẽ bị loại trừ một khi tiến trình bị sụp đổ. Những phương cách sau cùng đi đến tan vỡ cuộc đối thoại là sự xung đột, hoặc sự thống trị của Trung Quốc trên vùng  biển Nam Trung Hoa.

Nhiều triển vọng hơn là khi  Bắc Kinh, lần đầu tiên,  áp dụng một ‘chính sách hòa giải hỗ tương’ nhằm giải quyết một tranh chấp đường biển – biên giới biển giữa Trung – Việt trong Vịnh Bắc Bộ. [5] Thông thường người ta nhận ra rằng xung đột vũ trang giữa hai nước sẽ lan tỏa raxa hơn đến tầm khu vực và các mối liên hệ thế lực hùng mạnh khác. Hơn nữa, đối thoại đang tiếp diễn phi chính thức, tại các cuộc đối thoại do Indonesia bảo trợ; theo cách song phương như giữa Trung Quốc và Việt Nam, Trung Quốc và Malaysia, Trung Quốc và Philippines; theo cách cục bộ khu vực như tại Hội nghị Cựu Bộ trưởng ASEAN và ARF. Bộ khung tồn tại cho sự thương thảo, ấy là Tuyên bố ASEAN về vùng biển Nam Trung Hoa và Hiệp ước ASEAN về Hữu nghị và Hợp tác trong vùng Đông Nam Á, mà Việt Nam đã gia nhập và Trung Quốc đang được thúc giục gia nhập theo. Mọi bên yêu sách đã đồng ý, trên nguyên tắc, là theo đuổi thương thảo một cách hòa bình. Có những tiền lệ trong khu vực như là ủng hộ rộng rãi cho, và hiểu biết về, khái niệm liên kết phát triển, mặc dù các nước yêu sách có những diễn dịch khác nhau về ý nghĩa của nó và sự liên kết có thể  được thực thi ở đâu .

Hội thảo do Indonesia bảo trợ đã cung cấp một nguyên tắc cho việc thương thảo, và Tuyên bố ASEAN có ý định, và có thể, là khơi mào những cuộc thương thảo kiểu như trên. UNCLOS kêu gọi các dàn xếp tạm thời trong khi chờ đợi sự giải quyết các tranh chấp trên. Mối quan hệ giữa các nước yêu sách nói chung là tốt và cảm giác cấp bách ngày càng tăng do áp lực về kinh tế và những quyền lợi chiến lược.

Một sự dàn xếp giữa các nước có yêu sách ở Đông Nam Á và Trung Quốc – Đài Loan có thể đưa các tranh chấp biển Nam Trung Hoa ra khỏi giai đoạn địa chính trị, và theo đó là cơ hội cho các thế lực bên ngoài dính líu vào. Các nước nhỏ hơn sẽ an tâm có được ít nhất một chút trong phần mà họ đòi hỏi, còn hơn là không có gì cả nếu sau cùng Trung Quốc đạt được mong muốn của họ. Lời mời gọi của Trung Quốc giải quyết các vấn để theo luật pháp quốc tế và UNCLOS là đáng khích lệ. Tuy nhiên, các vấn đề quan trọng vẫn còn đó. [6]

Tìm kiếm các giải pháp

Mặc cho mọi hy vọng về sự cải thiện, kịch bản có vẻ thích hợp nhất cho tương lai tranh chấp tại vùng biển Nam Trung Hoa là giữ nguyên trạng( Status Quo). Trong kịch bản này, các cuộc đối thoại được tiếp tục nhưng vẫn phi chính thức và tập trung vào các vấn đề kỹ thuật. Các nhóm công tác trên các chủ đề vô thưởng vô phạt như nghiên cứu khoa học về đại dương, bảo vệ môi trường và an toàn hàng hải làm chệch hướng các vấn đề cốt lõi của những yêu sách xung đột chủ quyền. Trung Quốc, sợ rằng tính linh hoạt của mình sẽ bị giới hạn, từ chối cho phép cuộc đối thoại được chính thức hóa hoặc thậm chí từ chối thảo luận về các yêu sách đặc biệt của TQ cùng cơ sở hợp lý của nó, chỉ đơn thuần muốn hợp tác khai thác dầu mỏ. Các cuộc đối thoại lệch mất trọng tâm, chỗ ngồi chai lì và thất vọng lớn dần. Các nhà bảo trợ và một số nước yêu sách mất đi sự quan tâm khi họ đi đến tin tưởng rằng Trung Quốc chỉ sử dụng cuộc đối thoại như một cách câu giờ để lo cũng cố lực lượng hùng mạnh về kinh tế và quân sự của  bản thân, trong tác động hướng về một vị thế mới, là một hiện trạng đang bị Trung Quốc  thống trị. Các đảo, mỏm đá và rặng đá ngầm vẫn bị chiếm giữ xăm soi bởi những lực lượng quân sự của năm quốc gia có yêu sách. Thỉnh thoảng, bạo lực bộc phát khi các lực lượng hoặc tàu bè của một bên tiến quá gần đến bên đối thủ yêu sách mà không báo trước.

Người ta có thể cho rằng tình trạng này – một dạng hiện trạng “đang rò rỉ” – là có thể chấp nhận được, ít ra là trong thời gian ngắn, và như thế các bên yêu sách có thể lừa phỉnh hay quát tháo nhau nhưng sẽ tránh đụng độ vũ trang vì lo sợ đến sự hao tổn về chính trị và kinh tế. Điều này ngụ ý là sống chung với nguyên trạng rò rỉ này cho đến khi cải thiện được các mối quan hệ về chính trị và kinh tế, giảm được căng thẳng và khả năng xung đột.

Động cơ thúc đẩy cho một giải pháp tạm thời là hiện trạng này – cũng được gọi là cách tiếp cận “không làm gì hết” – thì không ổn định và có thể dẫn đến xung đột. Một hiện trạng rò rỉ có thể chấp nhận được chừng khi nào các mối quan hệ giữa các bên có yêu sách còn tốt đẹp, hoặc ít ra không là kẻ thù. Trong những lúc tạm lắng này, các hòa giải song phương về đánh bắt hải sản qua lại nhau trên các vùng yêu sách chồng chéo chẳng hạn, có thể được thu xếp, giống như trường hợp đã xảy ra giữa Malaysia và Philippines, mà chỉ chút ít hoặc không có phản ứng gì từ các nước yêu sách khác. Nhưng khi các mối liên hệ giữa hai hoặc nhiều bên yêu sách bị xuống cấp, các khác biệt không thể nhân nhượng được sẽ phơi bày ra, căng thẳng trong khu vực sẽ dâng cao; các lực lượng quân sự bị đặt vào tình trạng báo động đỏ; và tần suất của sự xô xát gia tăng. Chủ nghĩa dân tộc và áp lực trong nước có thể buộc chính phủ hành động và phản ứng, và tính sai nước cờ có thể dễ dàng biến hiện trạng rò rỉ thành dòng thác lũ.

Sự tiếp cận không-làm-gì-cả gây ra sự lạc hướng một cách nguy hiểm và vốn đã không ổn định. Nếu hiện trạng này thực sự là quy tắc có tác dụng, sự đua nhau tăng cường trang bị khí tài quân sự sẽ được đóng băng giảm đi việc điều động quân sự, xây dựng các căn cứ, hải cảng và phi trường trên các đảo trong khu vực, trên vùng biển đánh bắt nhạy cảm , và ở các vùng có tổ chức khảo sát bằng địa chấn và các lỗ khoan dầu ở trong hoặc kề cận khu vực. Nếu các hoạt động này vẫn tiếp diễn mặc cho các bên có yêu sách đã thỏa thuận  mà không thực thi, thì vẫn có thể làm mất ổn định tình hình. Hơn nữa, giải pháp không-làm-gì-cả là thuận lợi cho những quốc gia nào có thể dùng thời gian trì hoãn , ngấm ngầm xây dựng kinh tế và sức mạnh quân sự cho họ. Điều đó cũng tạo  thuận lợi cho cách lấn dần dần của Trung Quốc hướng tới một vị thế thống trị do lấn đất từng bước  rất nhỏ mà chi phí để vạch trần trò bịp của họ thì quá lớn. Do vậy, việc này sẽ sau cùng dẫn đến một thực tế(de facto) là Trung Quốc kiểm soát hầu hết vùng biển Nam Trung Quốc. Một vài nhà quan sát tin rằng việc chiếm đóng bãi đá ngầm Mischief của Trung Quốc là một phần trong chủ trương dấn thân lì lợm này, có ý đồ thử nghiệm phản ứng của ASEAN lẫn Mỹ. [7]

Những vấn đề cơ bản trong tranh chấp trên biển Nam Trung Hoa vẫn chưa giải quyết được, và dễ dàng vận dụng để đạt được lực bẩy chính trị. Trong thập niên 80, các tranh chấp được dùng cho mỗi mục đích trên: tần suất và cường độ các tuyên bố hiếu chiến và xô xát giữa Trung Quốc và Việt Nam về quần đảo TS(Spratlys) xuống rồi lên như nước thủy triểu cùng sự tiến bộ đạt được trong giải quyết xung đột ở Cam-pu-chia. Khi Trung Quốc nhận thấy Việt Nam trở nên bướng bỉnh về vấn đề Cam-pu-chia, họ gia tăng áp lực lên TS(Spratlys); và khi sự chấm dứt cuộc chiến tranh lạnh đã hiển hiện, khối Xô Viết đã tách rời khỏi Việt Nam, cả Việt Nam và Trung Quốc bắt đầu gia tăng số lượng các vị trí chiếm giữ và quân số đồn trú ở các đảo. Cuối thập niên 80, khi Việt Nam bị cô lập do khối Xô Viết sụp đổ và bị cấm vận bởi Mỹ, Trung Quốc bắt đầu sử dụng lợi thế sức mạnh của mình triệt để, chiếm thêm 7 vị trí và trong tháng 3-1988, họ đã tấn công và đánh bại quân Việt Nam gần bãi đá ngầm Fiery Cross(Đá Chữ Thập). Điều này tạo ra tình trạng tạm thời hiện nay nhưng với sự bế tắc căng thẳng về quân sự.

Tình hình trên vẫn nhạy cảm vì có sự dính líu các thế lực bên ngoài qua việc họ có thể hành động để bảo vệ các tuyến hàng hải, những quốc gia và các công ty của họ tham gia vào công tác thăm dò dầu khí ngoài khơi. Mặc dù Trung Quốc rào đón sự quốc tế hóa vấn đề trên, họ lại là nước Đông Nam Á đầu tiên gần đây đã cấp phép nhượng quyền vùng TS( Spratlys) cho một đối tác ngoài khu vực (Crestone). Giờ đây các công ty Mỹ và Nhật Bản đang ở giữa tiềm năng một cuộc xung đột giữa Trung Quốc và Việt Nam trên những mâu thuẩn về yêu sách ở vùng Vanguard Bank(Bãi Tư Chính) (xem Bản đồ 1).

Dùng cách tiếp cận theo nguyên trạng(status-quo) có thể – thông qua một biến cố bất ngờ về chính trị hay quân sự – bị chuyển sang chí ít là giống kịch bản sau: công khai xung đột. Ví dụ như một sự xuống cấp trong quan hệ Trung Quốc với Việt Nam hoặc Đài Loan có thể báo trước xung đột vũ trang nhiều hơn trong vùng biển TS(Spratlys). Hoặc là, các hành động đơn phương bởi một trong các nước có yêu sách – giật lấy một đảo đã bị nước khác chiếm đóng, đơn phương khoan dầu trong khu vực; bắt giữ hoặc giết hại ngư dân; hoặc lớn hơn như hung hăng diễn tập hải quân – có thể kích hoạt một loạt các cuộc xô xát ngày càng tăng mức độ phổ biến và  dữ dội. Sự huy động lực lượng hải và không quân trong khu vực – ý đồ ban đầu chủ yếu là nâng cấp khả năng bảo vệ tài nguyên trong vùng EEZ của các nước trong khu vực – có thể trở thành một cuộc chạy đua vũ trang thật sự, bao gồm việc sở hữu tàu ngầm, máy bay vận tải quân sự, chiến đấu cơ và máy bay ném bom có đủ khả năng đe dọa đối phương thật sự. Do tính bạo lực càng gia tăng và trải rộng có thể gây nguy hiểm cho sự tự do lưu thông hàng hải dọc các tuyến chiến lược trong vùng biển Nam Trung Hoa, các quyền lợi của Nhật và Mỹ có thể bị ảnh hưởng. Thực vậy, kiểm soát khu vực này bởi một kẻ thù tiềm năng hoặc đồng minh của nó liên hệ đến sự quan tâm về an ninh quốc gia của Nhật Bản, Mỹ và thậm chí cả Nga. Mặt khác, lập trường chung của Việt Nam và ASEAN, ngầm ủng hộ bởi Mỹ để đối phó với Trung Quốc, có thể làm Trung Quốc càng chắc rằng mình bị vây quanh bởi các quốc gia thù địch và thúc ép họ đi đến hành động hung bạo. Các khả năng này, đi cùng với kịch bản tệ hại nhất là công khai xung đột, sẽ thậm chí có sự ràng buộc địa chiến lược dài hạn các đồng minh trong khu vực.

Tuy nhiên, những nguyên tố đưa đến một sự dàn xếp hòa bình có tồn tại. [8]

* Việt Nam và ASEAN có thể cố gắng giúp đỡ các nhà lãnh đạo Trung Quốc nào mà chú ý đến phát triển kinh tế hơn là biến thành kẻ xâm lược để phải đối mặt với một lệnh cấm vận.

* Không hẵn trong vòng năm hay mười năm nữa một quốc gia yêu sách nào, kể cả Trung Quốc, sẽ có đủ khả năng quân sự để chiếm đóng các đảo chính và thống trị vùng trời và vùng biển trong khu vực.

* Cả Trung Quốc và Việt Nam đang phấn đấu cho phát triển kinh tế, gắn liền đầu tư nước ngoài và giành được hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Mọi sự thù địch sẽ gây hủy hoại đầu tư nước ngoài và gia tăng mối nguy là chiến thắng quân sự.

* Chừng khi nào mà Trung Quốc còn muốn duy trì hình ảnh tốt đẹp của mình trong mắt ASEAN như một đối tác thương mại và đầu tư, thì họ sẽ không phá vỡ hiện trạng tại quần đảo TS(Spratlys).

Sự phân chia hoặc phân phối

Về lý thuyết, khu vực và các đảo của nó có thể được phân chia hoặc phân phối giữa những nước có yêu sách theo các cách sau:

Kịch bản 1: Phân phối toàn bộ vùng biển Nam Trung Hoa trên căn bản đường cách đều từ đường cơ sở yêu sách, bỏ qua quần đảo TS (Spratlys) và HS(Paracels) (xem Bản đồ 3).

Kịch bản 2: Phân phối vùng biển Nam Trung Hoa ra ngoài 200 hải lý từ đường cơ sở và / hoặc ra ngoài đến giới hạn hợp pháp của thềm lục địa,  bỏ qua quần đảo Spratlys và Paracels (xem Bản đồ 4). [9]

Kịch bản 3: Phân phối vùng biển Nam Trung Hoa ra ngoài 200 hải lý và  hoặc ra ngoài đến giới hạn hợp pháp của thềm lục địa trên cơ sở đường cách đều từ đường cơ sở yêu sách, kể cả quần đảo HS(Paracels), nhưng bỏ qua quần đảo TS( Spratlys) (xem Bản đồ 5).

Trong cả ba kịch bản, chủ quyền trên những vị trí sẽ rơi vào tay bên nào đang chiếm giữ, nhưng những vị trí này sẽ phát huy ra chỉ 500 hải lý vùng an toàn; chúng không được sử dụng như là các điểm mốc; chúng phải được phi quân sự hóa; và mọi bên yêu sách đều được phép tiếp cận với mục đích hòa bình. Trong hai kịch bản đầu, Trung Quốc-Đài Loan, Việt Nam và Philippines sẽ được các phần lớn xấp xỉ bằng nhau. Malaysia sẽ nhận được hai khu vực khá lớn ngoài khơi Sarawak và Sabah ngăn cách bởi hành lang hẹp của Brunei, và Indonesia sẽ được vùng mỏ khí Natuna hiện tranh chấp với Việt Nam. Trong kịch bản 1, Philippines và Việt Nam sẽ chia gần đều nhau khu vực mà đã được xem như vùng biển khơi trong kịch bản 2 và 3.

Trong kịch bản 2, một vùng biển khơi còn lại nằm ngoài cả 200 hải lý và giới hạn hợp pháp của thềm lục địa trong vùng trung tâm biển Nam Trung Hoa. Khu vực này – hoặc, nói một cách khác, toàn bộ khu vực nằm ngoài 200 hải lý -  có thể là tâm điểm của một cơ chế quản lý đa phương. Nó cũng là một vùng đệm giữa Trung Quốc-Đài Loan và các nước yêu sách còn lại. Những khu vực còn lại nằm trong 200 hải lý các đường cơ sở hoặc nằm trong thềm lục địa hợp pháp sẽ được phân phối trên căn bản cách đều. Trong kịch bản 2, Việt Nam và Philippines sẽ mất một số phần quan trọng thềm lục địa của mình liên quan đến kịch bản 1 và vài khu vực có nhiều nước yêu sách sẽ trở thành vùng biển khơi. Trong kịch bản 3, vùng biển khơi phía bắc và vùng nằm ngoài cả giới hạn 200 hải lý và giới hạn hợp pháp của thềm lục địa bị giảm lại. Trung Quốc lấy được toàn bộ HS(Paracel Islands) và  Macclesfield Bank (Trung Sa), và một phần đáng kể đáy biển được xem là vùng biển khơi trong kịch bản 2.

Vấn đề chính của cách phân phối trên và hầu hết các kịch bản phân phối khác là phần chia của Trung Quốc không vươn ra đến các lô khai thác và vị trí địa lý tại TS(Spratlys), và Trung Quốc, do đó, chắc là sẽ không chấp nhận. Có lẽ Trung Quốc nên được thuyết phục là qua việc đồng ý với cách dàn xếp trên thì họ trụ được việc hợp pháp hóa sự hiện diện của mình trong lòng vùng biển Đông Nam Á, mặc dù  tư cách là thành phần trong một tập thể đa phương. Nhưng rồi sự dàn xếp này sẽ làm cho Việt Nam và, hầu như chắn chắn, Malaysia khó mà chấp nhận. Tuy thế, bất cứ một kịch bản khả dĩ nào cũng sẽ là một thỏa hiệp giữa ý muốn của Trung Quốc có một vùng ‘hồ Trung Quốc’ để bảo vệ cạnh sườn phía nam của mình và mối quan tâm của các nước trong khu vực về sự hiện diện của Trung Quốc ở trong lòng vùng biển Đông Nam Á.

Tuy nhiên, còn có những vấn đề khác nữa trong việc phân phối thẳng thừng như trên, bao gồm việc thiếu những thỏa thuận về phân định khu vực trong tranh chấp; các yêu sách và sự chiếm đóng đan xen phức tạp; khác biệt trong nhận thức về tính hợp tình hợp lý; khả năng là sự phân phối các vị trí trên có thể nhấn mạnh thay vì giải quyết các mối quan tâm chiến lược; và thực tế là sự phân phối đó sẽ không tự nó nêu được các yêu sách mở rộng toàn vùng biển. Cũng còn những khả năng là sự phân phối các đảo nhỏ sẽ làm trầm trọng thêm các tranh chấp nếu chủ sở hữu được nhìn nhận sẽ khăng khăng đòi vùng EEZ và vùng thềm lục địa kéo dài ra từ những vị trí này. Hơn nữa, thành lập các vùng biên giới biển sẽ làm cho việc quản lý các tài nguyên sinh vật biển vẫn còn khó khăn.

Thương thảo và thu xếp song phương

Trung Quốc đã kiên trì nhấn mạnh rằng các tranh chấp vùng biển Nam Trung Hoa là thuộc về song phương và phải được giải quyết thông qua thương thảo song phương. Nếu các yêu sách của Trung Quốc và Đài Loan được xem là một và như nhau, vị thế này cũng có phần nào chính xác. Điều đó có nghĩa là một bộ phận lớn vùng biển Nam Trung Hoa về hướng tây và hướng bắc quần đảo TS(Spratly) được yêu sách tương ứng bởi Trung Quốc-Đài Loan và Việt Nam, Trung Quốc-Đài Loan và Philippines. Vậy thì các khu vực này có thể được gom riêng lại để tách ra thương thảo song phương; có thể hiểu được là một cách tiếp cận kết hợp có thể được sử dụng trong đó hai khu vực được thương thảo riêng biệt trong số khu vực có yêu sách đa phương. Hai bên đồng ý hợp tác nhau thì dễ dàng hơn là nằm chung trong một nhóm lớn, và một hệ thống thỏa thuận song phương có thể khơi dậy và hình thành nên nền tảng cho một tiến trình và giải quyết theo cách đa phương. [10]

Tuy nhiên, các thương thảo song phương không nghi ngờ gì là rất được ưa chuộng bởi thế lực đang thống trị là Trung Quốc, trong khi thương thảo đa phương cho phép các nước nhỏ hơn liên kết nhau lại để chia phần lớn hơn từ phía Trung Quốc. Hơn nữa, hậu quả của các cặp đôi thương thảo song phương là sẽ ấn định các điều kiện tiên quyết và làm giới hạn tính chất mềm dẽo trong việc theo đuổi thương thảo. Về mặt chiến thuật mà nói, nếu các nước yêu sách khác chọn thương thảo với Trung Quốc theo cách song phương, họ sẽ phải thừa nhận các yêu sách của Trung Quốc dù muốn dù không, từ đó cho phép Trung Quốc dùng nó làm đòn bẩy với các nước yêu sách khác. Giải quyết các tranh chấp qua thương thảo song phương cho toàn khu vực sẽ rất tốn kém, không hiệu quả và phi thực tiển, đặc biệt là liên quan đến việc quản lý đánh bắt xuyên biên giới, hệ thống sinh thái và sự ô nhiễm. Hơn nữa, khi có nhiều hơn hai nước cùng yêu sách một khu vực, thương thảo song phương sẽ không giải quyết hết các yêu sách xung đột và một sự thỏa thuận liên kết phát triển giữa hai nước yêu sách trên một khu vực cùng được yêu sách bởi một phía thứ ba có thể gây vi phạm đến các quyền lợi của bên thứ ba đó.

Dàn xếp đa phương

Nhiều biện pháp nữa vời được đưa ra để giúp tiến trình chuyển động: bộ qui phạm ứng xử; thể chế hóa đối thoại đa phương; và một nhóm các nhân vật kiệt xuất. Tất cả các biện pháp này sẽ giúp xây dựng lòng tin cần thiết để vượt khỏi hiện trạng không ổn định đi đến một giải pháp tạm thời vừa công bằng vừa ổn định. Nhưng nó tự thân không phải là giải pháp. Bởi vì biện pháp nữa vời sẽ không làm ổn định tình hình và cũng không đề cập đến các câu hỏi về sự sở hữu và cấp phát tài nguyên, có thể cần đến một chế độ hợp tác đa phương.

Bất kỳ một thỏa thuận đa phương nào cũng phải tính đến các hiện thực chính trị khu vực dưới đây:

* Xung đột về yêu sách chủ quyền đối với các địa điểm và nhu cầu phi quân sự hóa các địa điểm này;

* Xung đột các yêu sách về các khoảng còn trống trên biển;

* Xung đột về định nghĩa khu vực sẽ đưa vào thỏa thuận quản lý tài nguyên;

* Quan tâm chủ yếu của nước yêu sách luôn là về tiềm năng dầu hỏa trong khu vực;

* Nhu cầu thành lập một bộ máy quản lý ổn định có cấu trúc sao cho lập ra được các quyết định có tính công bằng và tốt đẹp;

* Trung Quốc nhấn mạnh vào việc thương thảo và thu xếp riêng biệt với từng bên đối tác;

* Nhu cầu cần được phân phối một ít quyền hạn và lợi ích cho các nước nhỏ, yếu;

* Nhu cầu được chấp nhận sự hiện hữu và được lưu ý đến những quyền lợi của những nước trong vùng biển Nam Trung Hoa không có yêu sách.;

* Và nhu cầu được chấp nhận sự hiện hữu và được lưu ý đến những quyền lợi của những nước ở ngoài vùng biển khu vực.

Hơn nữa, Trung Quốc không thích tham gia vào một thỏa thuận hợp tác mà trong đó mọi quyền lợi đều được đổ dồn bằng nhau giữa các bên. Để được sự hợp tác của mình, Trung Quốc nghĩ là phải nhận được phần thưởng. Như vậy, nếu Bắc Kinh tham gia vào một nổ lực liên kết khai thác thì phía bên yêu sách kia phải làm sao tạo đủ sự hấp dẫn cho Trung Quốc. Vả lại, Trung Quốc muốn liên kết khai thác dưới hình thức lỏng lẻo, như thế cần đưa ra một hợp tác dài hạn phải được thành lập với chi phí cao nhằm làm khó khăn thêm cho Trung Quốc mỗi khi muốn rút lui. Điều này có thể bao gồm việc ràng buộc một giải pháp cho vấn đề TS(Spratly) vào các thỏa thuận ở các khu vực khác mà trong đó ASEAN có nhiều lực bẩy hơn, như về đầu tư kinh tế và thương mại.

Sự chia sẻ quản lý các khu vực chung trong vùng ?

Một chế độ hợp tác đa phương có thể là đột ngột, có mục đích đơn giản hoặc hợp lệ và toàn diện, gồm cả việc sẻ chia quản lý một khu vực chung. Các chế độ theo mục đích đơn giản đã được đề ra bao gồm xây dựng một khu công viên biển; thành lập một viện nghiên cứu vùng biển Nam Trung Hoa về mặt quản lý tài nguyên biển; điều khiển việc liên kết khảo sát và thẩm định khoáng sản ,tiềm năng dầu mỏ trong khu vực; và hợp tác thi hành an toàn đường biển cũng như các biện pháp giám sát, có lẽ loại trừ vùng phụ cận sát bên các đảo để không gây thiệt hại đến các yêu sách chủ quyền.

Có nhiều đề xuất rất có giá trị, và việc chấp nhận một hay nhiều đề xuất trên sẽ là một bước tiến đến việc bảo vệ tài nguyên trong khu vực và xây đắp lòng tin thông qua sự hợp tác. Tuy nhiên, không có đề xuất nào hướng đến các tranh chấp chủ yếu, hoặc cho phép làm gì đó về hợp tác khai thác tài nguyên trong vòng trật tự tại vùng biển Nam Trung Hoa. Do đó, cần đưa ra một bước tiến táo bạo hơn trong việc xem xét các khu vực có tranh chấp như là một khu vực chung được quản lý bởi một giới thẩm quyền đa phương về tài nguyên trong khu vực.

Một phương án sắp xếp khác là sẽ cấp phát một vùng vươn ra 200 hải lý từ đường cơ sở bờ biển đến vùng các nước có yêu sách trên căn bản  cách đều và đồng ý rằng khu vực vượt khỏi 200 hải lý là vùng biển khơi – cái được gọi là sự tiếp cận kiểu “lổ bánh còng”(Doghnut hole) (xem bản đồ số 4 và 5). Nhưng vấn đề tồn tại trong bất kỳ cách tiếp cận kiểu vùng biển khơi nào là chiếu theo luật UNCLOS (đã được Việt Nam và Philippines phê chuẩn), các vùng biển khơi như thế sẽ có khả năng rơi vào luật Thẩm quyền Quốc tế về Đáy Đại dương, và do đó sẽ phải mở ra cho các thế lực bên ngoài khu vực khai thác tài nguyên, và lợi nhuận thu được từ tài nguyên vùng đáy đại dương sẽ được chia sẻ cho phần còn lại của thế giới. Cách tiếp cận kiểu vùng biển khơi do đó dường như không thể chấp nhận được đối với bất kỳ nước yêu sách nào, đặc biệt là Trung Quốc. Ngoài ra, cách tiếp cận vùng biển khơi thì thuận lợi cho quốc gia nào có nhiều vốn, kỹ thuật và bí quyết công nghệ, và có thể chỉ làm tăng thêm sự cạnh tranh và xung đột, dẫn đến điểm cuối quá quen thuộc là hủy hoại tài nguyên sinh vật biển và nền hòa bình mong manh.

Một vùng thừa hưởng lợi ích chung của khu vực sẽ chỉ cho phép tiếp cận tài nguyên đối với các nước trong khu vực hoặc các nước có yêu sách từ đầu. Chọn cách nào là tùy theo điều 123 của công ước UNCLOS, khuyến khích hợp tác quản lý các vùng biển bán khép kín. Khái niệm vùng thừa hưởng lợi ích chung khu vực sẽ hữu dụng trong việc viện dẫn để chống lại sự tham gia các thế lực bên ngoài và trong việc khuyến khích chia sẻ quản lý. Giải pháp này có thể bao gồm, nhưng không cần thiết đòi hỏi, một tổ chức đa phương để quản lý việc sử dụng khu vực. Tuy nhiên Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei đều không có yêu sách toàn bộ khu vực, và vì không có một trung tâm quyền lực nên câu hỏi về chi phí và vị trí lợi ích vẫn không được đề cập đến. Hơn nữa, nếu một khu vực chung như thế mà vẫn không được quản lý, tình hình sẽ không ổn định và có phản tác dụng đến tài nguyên sinh vật biển. Do vậy, nếu một giải pháp đa phương trở nên khả thi, một chuổi các dàn xếp liên kết khai thác sẽ được điều phối bởi một trung tâm quyền lực có thể làm hài lòng hầu hết những mối quan tâm chính của các nước yêu sách.

Một loạt 12 công ty liên kết phát triển (JDCs) có thể được thành lập, ít ra là trên danh nghĩa, căn cứ trên các vùng có yêu sách chồng chéo nhau (xem Bản đồ 6). 12 JDC này sẽ được điều động bởi một Đại lý Điều động cho vùng TS(Spratly) (SCA) có thể tạo điều kiện, điều động và phối hợp các hoạt động về các dàn xếp liên kết phát triển đa phương cho việc khai thác tài nguyên trong vùng lõi. Trung Quốc-Đài Loan sẽ là một thành viên trong toàn bộ các công ty liên kết phát triển và Việt Nam sẽ là một thành viên trong tất cả các công ty trừ ra 3 JDC dính líu đến các vùng mà Việt Nam không có yêu sách. (Hiện có vài nghi vấn liệu Việt Nam có yêu sách đến phần nào khác trong quần đảo TS(Spratly) ngoại trừ các địa điểm hiện hữu hay không; nếu Việt Nam chỉ yêu sách các địa điểm này mà thôi thì sự tham gia và phần chia của Việt Nam trong các công ty liên kết phát triển có thể bị sụt giảm rất nhiều hoặc loại trừ ra khỏi toàn bộ, có lẽ sẽ bù lại bằng sự thuận lợi trong dàn xếp biên giới ở một nơi nào khác chẳng hạn). Phần đóng góp, huê lợi, chi phí và tiếng nói (hoặc phiếu bầu) trong hoạt động của mỗi JDC có thể được chia đều sau khi phân phối 5% lợi nhuận cho kinh phí hoạt động của SCA. Con số 5% lợi nhuận khác có thể giao cho các nước không có yêu sách trong vùng biển Nam Trung Hoa. SCA phải có một đại diện của Trung Quốc nằm trong ban lãnh đạo vì tư cách thành viên của Trung Quốc-Đài Loan trong mỗi JDC. Các thành viên của SCA được rút ra từ mỗi JDC. Mặc dù một JDC chỉ tồn tại trên mặt giấy tờ trong từng khu vực thuộc 12 khu vực, nó chỉ trở nên có hiệu lực hoạt động một khi và nếu như nó được đồng ý bởi một đa số biểu quyết của các nước yêu sách trong khu vực đó. Cách tiếp cận này sẽ là một bước tiến bộ đáng kể trong việc thỏa mãn yêu cầu của Trung Quốc là các vấn đề phải được giải quyết giữa họ và từng bên yêu sách một, trong lúc cho các nước yêu sách một cơ hội để ảnh hưởng đến các quyết định trong các khu vực mà họ có yêu sách cùng chung các nước khác.

Nếu Bắc Kinh cất được gánh nặng của mình vào một giải pháp đa phương cải tiến, họ có thể giảm nhẹ sự băn khoăn của Đông Nam Á (và cả Mỹ) về các ý đồ của Trung Quốc, từ đó khóa chặt sự dính líu của các thế lực bên ngoài và chặn đứng sự phát triển chung của Việt Nam và ASEAN nhằm đối đầu với các yêu sách của Trung Quốc. Một lần nữa, quyền lợi và sự hiện diện của Trung Quốc tại trung tâm vùng hàng hải Đông Nam Á sẽ được hợp pháp hóa. Đối với Việt Nam, một giải pháp đa phương sẽ là một cơ hội để cải tiến quan hệ với cả Trung Quốc lẫn ASEAN, và biểu lộ sự chân thành của mình trong mong muốn tránh xung đột. Liên kết phát triển mang đến cho Brunei, Philippines và Malaysia một cách thức để dự phần vào bất kỳ một khám phá tài nguyên nào trong tương lai trong vùng lõi trong lúc tránh được việc xây dựng phòng vệ tốn kém và một vị thế quân sự mà họ không thể nào chống giữ được. Nhật Bản và Mỹ sẽ hoan nghênh một giải pháp thương thảo do sự an toàn cho tuyến hải lộ chiến lược chạy ngang vùng biển Nam Trung Hoa đã được đảm bảo.

Cánh cửa cơ hội cho biện pháp nữa vời tích cực, chỉ riêng một giải pháp tạm thời đa phương, có thể bị đóng lại khi vị thế ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc gia tăng lên các tranh chấp ở quần đảo TS(Spratlys). Sự tăng lên về tần suất và cường độ các vụ xô xát và sự mập mờ về chính sách ngoại giao của Trung Quốc trong kỷ nguyên hậu Đặng Tiểu Bình mang đến một ý thức cấp bách phải có tiến triển về những vấn đề này. Đã đến lúc kiến tạo hòa bình, trong lúc hãy còn hòa bình.

Mark J. Valencia

NOTES

Introduction

[1] - Derek da Cunha. ‘Sailing Toward New Naval Balance’, Japan Times, 17 January 1995, p.19.

[2] - Mark J. Valencia, South-East Asian Seas: Oil Under Troubled Waters (Oxford: Oxford University Preee, 1985), pp. 80-83; Valencia and James Barney Marsh, ‘Southeast Asia: Marine Resources, Extended Maritime Jurisdiction, and Development’, Marine Resource Economics, vol.3, no.1, 1986, pp. 3-27; Xia Kan Yuan, ‘The Comparison of Geophysics and Geology Between Northern and Southern Continental Margins of the South China Sea’, Paper presented at the International symposium on Geology and Geophysics of the South China Sea, Guangzhou, China, 9-13 January 1989; Wu Jinmin, ‘The Geological and Structural Features of Nansha Islands and their Prospect for Hydrocarbon Potential’, Geological Research of South China Sea (Series 3) (Guang zhou: South China Sea Institure of Oceanology, 1991), pp.24-38; Jahaya Yahaya, ‘The Contributions of the Marine Sector to the Malaysian Economy’, Paper presented at the Seminar on the Marine Environment: Challenges and Opportinities, Institute for Strategic and International Studies (ISIS), Kuala Lumpur, 31 march 1988, p.29; Valencia, Malaysia and the Law of the Sea (Kuala Lumpur: ISIS, 1992), pp. 67-84; Kathy Shirley, ‘Oil Potential Overshadows Risks’, AAPG Explorer, December 1992, pp. 8-9; and Sermsuk Kasitipradit, ‘Support for Navy’s Plan to Purchase Submarines’, Bangkok Post, 30 January 1995, p.1.

[3] - Mark J. Valencia, ‘The Spratly Islands: Dangerous Ground in the South China Sea’, Pacific Review, vol. 1, no. 4, 1988, pp. 382-95; Robert S. Greenburger, ‘Dispute Underscores Necessity in Asia for US Presence’, Asian Wall Street Journal, 3 August 1992.

[4] - Mark J. Valencia, ‘The Spratly Imbroglio in the Post-Cold War Era’, in David Wurfel and Bruce Barton (eds), Southeast Asia in the New World Order (New York; MacMillan, forthcoming).

[5] - Kunlachada Chaiphiphat, ‘ASEAN Closes Ranks over Spratlys Dispute with China’, The Nation, 21 March 1995, p.A4; Far Eastern Economic Review, 20 April 1995, p. 12; ‘New Chinese Facilities Reported on Two Areas of Spratly Islands’, Japan Times, 20 March 1995, p.3.

[6] - Frank Ching, ‘Manila Looks for a Slingshot’, Far Eastern Economic Review, 9 March 1995, p.40; Jayandra Menon, ‘EU Concerned About Beijing-Manila Row’, Straits Times, 8 march 1995, p. 4; Philip Shenon, ‘On Asia’s Rim, Edginess over a Chain of Islands’, New York Times, 5 April 1995; ‘Settle Spratlys Now, Japan tells China’, Japan Times, 12 April 1995, p. 1; Lynda T. Tumilla and Martin Marfil, ‘Ramos’ Preference for Diplomacy, Dialogue Noted’, Philippine Daily Inquirer, 6 April 1995, pp. , 13; Paul N. Villegas,  ‘Romulo on ASEAN-PRC  Dialogue’, Business World (Philippines), 6 April 1995, p. 12; ‘No Spratlys Agreement Between ASEAN, PRC’, Foreign Broadcast Information Service (FBIS) EAS-95-065, 5 April 1995, p. 37.

[7] - ‘Ramos, Romulo View Status of Spratlys Dispute’, FBIS-EAS-95-036, 23 February 1995, pp. 70-71.

[8] - Derwin Pereira, ‘ASEAN Ministers Concerned over Developments in Spratlys’, Straits Times (Singapore), 19 March 1995; ‘Romulo on ASEAN-PRC Dialogue’, FBIS-EAS-95-069, 11 April 1995, p. 61.

Chapter 1

[1] - J.R.V. Prescott, Maritime Jurisdiction in Southeast Asia: A Commentary and Map (Honolulu: East-West Center, 1981), p. 18; CHen Hurng-yu, ‘A Comparison Between Taipei and Peking in their Policies and Concepts Regarding the South China Sea’, Issues and Studies, vol. 29, no. 9, 1993, pp. 22-57.

[2] - Chen, ‘A Comparison’, pp. 22-57.

[3] - Mark J. Valencia, ‘Spratly Solution Still at Sea’, Pacific Review, vol. 6, no. 2, 1993, pp. 155-70.

[4] - Ibid.; ‘Map showing EEZ of Brunei Darussalam’, Series Misc. 1, Edition 1 JUAB, Sheet 4, Surveyor General of Brunei Darussalam, 1993.

[5] - Lee Lai To, ‘Security Issues of the South China Sea in the Post-Cambodian Era’, Paper to Workshop on Managing Potential Conflicts in the South China Sea, Jogjakarta, 1992, p.16.

[6] - ‘Malaysia Plans Airstrip on Disputed Atoll’, Far Eastern Economic Review, 12 September 1991, p. 14.

[7] - Christopher Smith, ‘The Spratly Spats’, Vietnam Investor, vol.1, no. 3, Octorber/November 1992; ‘Intelligence’, Far Eastern Economic Review, 24-31 December 1992, p. 7.

[8] - ‘Treacherous Shoal’, Far Eastern Economic Review, 13 August 1992, pp. 14-46.

[9] - Sheldon W. Simons, ‘US Interests in Southeast Asia’, Asian Survey, vol. 31, no. 7, July 1991, pp. 662-75.

[10] - Sheng Lijun, China’s Policy Towards the Spratly Islands in 1990s (Canberra: Strategic and Defense Studies Centre, Australian National University, 1994), draft.

[11] - Statement by Tzen Wen-hua, Representative of the Taipei Economic and Trade Office, in M. Singgih Hadipranowo, Ian Townsend-Gault and Hasjim Djalal, ‘Draft Report of the Bandung Conference’, Centre for Asian Legal Studies, University of British Columbia, 28 October 1991, pp. 289-90.

[12] - Nien-Tsu Alfred Hu, ‘The 1982 UN Law of the Sea Convention Current Problems and Issues to the Republic of China’, Paper presented at the Workshop on the Law of the Sea Convention: Issues and Prospects, Chiang Mai, sponsored by the Southeast Asian Project on Ocean Law, Policy and Management, May 1991; Hu, ‘The Two Chinese Territorial Sea Laws: Their Inplications and Comparisons’, Ocean and Coastal Management, vol. 20, no. 1, 1995, pp. 89-96.

[13] - Valencia, Malaysia and the Law of the Sea; ‘Kirkland Gets License in Hot Philippines Area’, Oil and Gas Journal, 3 August 1992, p. 34; ‘PGS Shooting Seismic Off the Philippines’, Offshore, April 1995, p. 16.

[14] - Crestone Energy Corporation, private communication, 1992.

[15] - ‘Creeping Irredentism in the Spratly Islands’, Strategic Comments, no. 3, 22 March 1995.

[16] - ‘Spratlys: Only Modest Oil and Gas Potential’, Asian Oil and Gas (Hong Kong), September 1992, p. 12; Wu, ‘The Geological and Structural Features’, pp. 24-38.

[17] - ‘Russians Estimate Spratly Oil Reserves’, FBIS-EAS-95-037-, 24 February 1995, p. 62; V. I. Vysotsky, R. D. Rodnikova, V. M.  Shlefir and T. N.  Larkova, ‘The Spratly Islands Region: Geology and Petroleum Potential’, Russia Research Institute of Geology of Foreign Countries, mimeograph; E> F> Durkee, ‘Oily Claims’, Fer Eastern Economic Review, 30 March 1995, p. 4.

[18] - Valencia, Malaysia and the Law of the Sea; Wu, ‘The Geological and Structural Features’.

[19] - Offshore, December 1994, p. 12.

[20] - ‘Oxy Abandons Bantac off Filipine Palawan’, Offshore, February 1995, p. 10.

[21] - ‘Deepwater Drilling and Production’, Offshore, October 1991, pp. 56-60; ‘Gulf of Mexico Deepwater Strikes Support Geological Predictions’, Offshore, June 191, pp. 38 and 40; ‘Is It Time for a Collective Effort in Deep Water Field Development?’, Offchore, August 1992, pp. 52-59.

[22] - Benjamin S. Austria and Raymundo A. Reyes, Jr, ‘Possibilities of W. Batagas Basin in Philippine South China Sea’, Oil and Gas Journal, 8 June 1992, pp. 74-80; Rigoberto Tiglao, ‘Dud Alert’, Far Eastern Economic Review, 17 February 1994, pp. 52-54.

[23] - Jian Sanqiang, ‘A Balanced Diplomacy: Beijing’s Handling of the South China Sea Territorial Diapute’, Washington Center for China Studies, January 1995, draft.

[24] - Sheng, China’s Policy; Ling Yu, ‘Article on Possible Clashes over Spratlys’, FBIS-CHI-95-088, 8 May 1995, p.8.

[25] - Leszek Buszynski, ‘ASEAN Security Dilemmas’, Survival, vol. 34, no. 4, p.94; Ian Townsend-Gault and William G. Stormont, ‘Offshore Petroleum Joint Arrangements: Functional Instrument? Compromise? Obligation?’, Paper presented at the International Boundary Research Unit Conference, University of Hull, May 1994.

[26] - Eric A. Hyer, ‘The Spratly Islands Territorial Dispute: Implications of China’s Earlier Settlements’, Paper presented at the joint International Studies Association-West/Association for Asian Studies on the Pacific Coast Conference, Monterey Institute of International Relation, 29-30 Octorber 1993.

[27] - Sheng, China’s Policy; ‘On the South China Sea’, Indochina Digest, 29 July 1994, p.2.; Lee Ngoc, ”Fishing in Troubled Water? Chinese Strategic Considerations in the South China Sea’, Paper presented at the joint International Studies Association-West/Asian Studies on the Pacific Coast, Monterey Institute of International Studies, 29-30 October 1993.

[28] - Richard Solomon, ‘Asian Architecture: The US in the Asia-Pacific Community’, Harvard International Review, vol. 16, no. 2, Spring 1994, Bonnie Glaser, ‘Multilateral Security in the Asia-Pacific Region and its Impact on Chinese Interests: Views from Beijing’, Contemporary Southeast Asia, vol. 16, no. 11, 1994, pp. 14-34.

[29] - Robert Manning and James Przuptup, ‘China’s Syndrome: Ambiguity – What Seizing a Tiny Reef Says about Beijing’s Soul’, Washington Post, 19 march 1995.

[30] - Nayan Chanda and Tai Ming Cheung, ‘Reef Knots’, Far Eastern Economic Review, 30 August 1990, p. 11.

[31] - ‘Intelligence’, Far Eastern Economic Review, 26 April 1990, p.8 ; ‘Pacific Briefs’, Honolulu Advertiser, 15 March 1998, p. D-1.

[32] - Hadipranowo, Townsend-Gault and Djalal, ‘Draft Report of the Bandung Conference’.

[33] - Far Eastern Economic Review, 12 March 1992, pp. 8-9; Law on the Territorial Seas and their Contiguous Waters of the People’s Republic of China, Approved by the 24th Session of the Standing Committee of the Seventh National People’s Congress, Beijing, 25 Fegruary 1992.

[34] - Garrett and Glaser, ‘Multilateral Security’, pp. 14-34; Sheng, China’s Policy.

[35] - Paul Kreisberg, East-West Center Visiting Fellow, personal communication, October 1992.

[36] - Nigel Holloway, ‘For Whom the Bell Tolls’, Far Eastern Economic Review, 2 February 1995, pp. 14-16.

[37] - ‘Business Briefing’, Far Eastern Economic Review, 13 Octobar 1994, p. 79.

[38] - Sheng, China’s Policy.

[39] - Alice D. Ba, ‘Oil and the South China Sea: Prospects for Joint Development’, American Asian Review, vol. 12, no. 4, Winter 1994.

[40] - Laszek Buszynski, ‘Southeast Asia in the Post-Cold War Era’, Asian Survey, vol. 32, no. 9, September 1992, pp. 830-47.

[41] - Sheng, China’s Policy.

[42] - Tai Ming Cheung, ‘Growth of Chinese Naval Power: Priorities, Goals, Missions, and Regional Implications’, Pacifec Strategic Papers (Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 1990), p. 12; Ji Guoxing, Maritime Security Region (Palo Alto, CA: Center for International Security and Arms Control, Stanford University, 1994), p. 25.

[43] - ‘China Boosts Funds for Army Despite Deficit’, Honolulu Advertiser, 7 March 1995, p. A8; Barry Wain, ‘China Tones up its Military Muscle’, Asian Wall Street Journal, 17-18 February 1995, p.6.

[44] - Lee Ngok, ‘chinese Maritime Power’, Paper presented to the Thirty-first Annual Convention of the International Studies Association, Washington DC, March 1990, p. 7; G. Jacobs, ‘China’s Amphibious Capabilities’, Asian Defense Journal, January 1990, p. 68; Tai Ming Cheung, ‘Fangs of the Dragon’, Far Eastern Ecopnomic Review, 13 August 1992, p. 21; Sid Malman, Jr, ‘China Seeks to Seixe the Spratly Islands Forcibly’, Korea Herald, 22 September 1992.

[45] - Michael G. Gallagher, ‘China’s Illusory Threat to the South China Sea’, International Security, vol. 19, no. 1, Summer 1994, pp. 169-94.

[46] - Robert Scalapino, Institute of East Asian Studies, University of California, Berkeley, private communication, October 1992.

[47] - Ibid.

[48] - Robert S. Greenburger, ‘Dispute Underscores Necessity in Asia for US Presence’, Asian Wall Street Journal, 3 August 1992; Ross Terrill, Seminar at the East-West Center, Honolulu, HI, 14 December 1992; Trevor Findlay, ‘South China Sea Scramble’, Pacific Research, November 1992, pp. 10-11; Gerald Segal, china Changes Shape, Adelphi Paper 287 (London: Brassey’s for the IISS, 1994).

[49] - Michael Leifer, ‘Chinese Economic Reform and Security Policy: The South China Sea Connection’, Survival, vol. 37, no. 2, Summer 1995, pp. 44-59.

[50] - Solomon, ‘Asian Architecture’, pp.26-29.

[51] - Balman, ‘China Seeks to Seize’; Susumu Awanohara, ‘Washington’s Priorities’, Far Eastern Economic Review, 13 August 1992, pp. 18-19.

[52] - Sheng, China’s Policy.

[53] - Garret and Glaser, ‘Multilateral Security’, pp. 14-34.

[54] - Hyer, ‘The Spratly Islands’.

[55] - ‘Manila Plans to Arm New Patrol Boats with Exocet Missiles, New Straits Times, 21 June 1992, p. 11; ‘More Troops Sent to Spratlys’, The Star (Penang), 6 July 1992, p. 22.

[56] - Nayan Chanda, ‘Distant Thunder’, Far Eastern Economic Review, 19 November 1992, pp. 15-16.

[57] - Sheng, China’s Policy.

[58] - Barry Wain, ‘China’s Spratly Claim is all Wet’, Asian Wall Street Journal, 15 April 1994, p. 6.

[59] - Michael Richardson , ‘China Takes Softer Stand in Dispute on Spratly Isles’, International Herald Tribune, 31 July 1995, p. 1.

[60] - ‘Li Teng-hui Proposes South China Sea Development’, FBIS-CHI-95-072, 4 April 1995, p. 69.

[61] - ‘Spratlys: China Wants in on Development’, Straits Times, 1 June 1995, p. 1; ‘Ramos’ Preference for Diplomacy, Dialogue Noted’, FBIS-EAS-95-068, 10 April 1995, p. 70. ‘Qian Views Spratlys with Vietnamese Counterpart’, FBIS-CHI-95-096, 18 May 1995, p. 8.

[62] - Murray Hiebert, ‘Comforting Noises’, Far Eastern Economic Review, 10 August 1995, pp. 14-16; ‘Beijing Planning Naval Games in Spratlys’, Honolulu Advertiser, 25 July 1995, p. A6; Harry Wu, ‘China Stands Firm on Spratlys’, Reuters, 30 July 1995; ‘China is Firm on Taiwan, Spratlys Ahead of ASEAN Meeting in Brunei’, Japan Times, 22 July 1995, p. 4.

[63] - ‘China Seen Defusing Tension in South China Sea’, Reuters, 2 August 1995.

[64] - Leifer, ‘Chinese Economic Reform and Security Policy’.

Chapter II

[1] - ‘United States Government Policy on the Spratly Islands and the South China Sea’, American Enterprise Institute, Washington DC, 1994; ‘United States Security Strategy for the East Asia-Pacific Region’, US Department of Defense, Office of International Security Affairs, Washington DC, 27 February 1995.

[2] - ‘Three Scenarios for China after Deng Xiaoping’, Daily Yomiuri, 6 March 1995, p. 6.

[3] - ‘US Military Commander Discounts China Threat’, China News Daily, 10 March 1995; ‘Officials View PRC Withdrawal from Spratlys’, FBIS-EAS-95-029, 13 February 1995, p. 77.

[4] - Nigel Holloway, ‘The Enemy Within’, Far Eastern Economic Review, 13 April 1995, pp. 14-15.

[5] - Nigel Holloway, ‘Jolt from the Blue’, Far Eastern Economic Review, 3 August 1995, pp. 22-23.

[6] - ‘United States Security Strategy’, US Department of Defense.

[7] - Patrick E. Tyler, ‘China Pledges Safe Passage for all Foreign Ships around Contested Islands’, New York Times, 19 May 1995, p. A5; ‘US Warns China over Spratlys’, South China Morning Post, 18 May 1995.

[8] - Derek da Cunha, ‘Increased Chinese Naval Activity Sparks Speculation in Region’, Straits Times, 21 February 1995, p. 26.

[9] - Susumu Awanohara and Lincoln Kaye, ‘The China Finale’, Far Eastern Economic Review, 10 December 1992, p. 11; See also, Tai Ming Cheung, Presentation at a Workshop on Real Threat Perceptions in Asian States, East-West Center, Honolulu, HI, 24-25 August 1992; Carol Giacomo, ‘US Says it Could Mediate in Spratlys Dispute’, Reuters, 25 July 1992; Rodney Tasker, ‘End of the Sentry’, Far Eastern Economic Review, 26 Nevember 1992, pp. 18-20; Chanda, ‘Winds of Change’, pp. 14-16.

[10] - ‘US Security Strategy’, US Department of Defense.

[11] - James Baker, ‘America in Asia: Emerging Architecture for a Pacific Community’, Foreign Affairs, vol. 70, no. 5, Winter 1991-92, pp. 1-18.

[12] - Susumu Awanohara, ‘Washington’s Priorities’, Far Eastern Economic Review, 13 August 1992, pp. 18-19; Julian Baum, Tai Ming Cheung and Lincoln Kaye, ‘Ancient Fears’, Far Eastern Economic Review, 3 December 1992, pp. 8-10.

[13] - ‘US Commandos Train Filipinos near the Spratlys’, Honolulu Advertiser, 23 July 1995, p. A13.

[14] - ‘Japan May Voice Concern over Spartlys Dispute’, China News Digest, 8 March 1995; ‘PRC Urged to Resolve Spratly Issue Peacefully’, Kyodo News Service, 11 April 1995.

[15] - Murray Hiebert, ‘Unhealed Wounds’, Far Eastern Economic Review, 16 July 1992, pp. 20-21.

[16] - See ‘United Nations Convention on the Law of the Sea’, UN Doc. A/CONF 62/121, Art. 76, 10 December 1992.

[17] - ‘Jiang the Discreet’, Far Eastern Economic Review, 23 November 1994, p. 32.

[18] - Ngoc Dae Huy, private coomunication, 1993.

[19] - Associated Press, 4 December 1994.

[20] - Paul Cleary, ‘Vietnam: Hanoi Observed – Old Enemies Locked in a Delicate Balancing Act’, Australian Financial Review, 21 December 1994.

[21] - Ngoc Dae Huy, private communication, 1993.

[22] - FBIS-EAS-94-129, 6 July 1994, p. 66.

[23] - ‘International Focus Asia/Pacific’, Offshore, October 1994, p. 15.

[24] - FBIS-EAS-94-203, 20 October 1994, p.84.

[25] - Adam Schwarz, ‘Where Oil and Water Mix’. Far Eastern Economic Review, 16 March 1995, pp. 54-58.

[26] - ‘Continuing Sino-Vietnamese Dialogue Reported’, FBIS-EAS-95-099, 23 May 1995, p. 59.

[27] - ‘Vietnam, China Seek “Long-Term” Territorial Solution and Vietnam, China Agree to Tackle Spratlys Issue’, Kyodo News Service (Hanoi), 22 November 1994; ‘Pacific Briefs’, Honolulu Advertiser, 24 November 1994.

[28] - ‘Russia helps Vietnam in Spratlys Surveys’, Reuters, 26 December 1994.

[29] - ‘Mobil Drills Second Vietnam Well’, Associated Press, 7 August 1995.

[30] - FBIS-CHI-94-1751, 9 September 1994, p.24.

[31] - Sheng, ‘China’s Policy’.

[32] - ‘China and Taiwan to Begin Joint Exploration of Offshore Oil and Gas’, World Journal, 13 March 1994.

[33] - ‘Taiwan, China to Look for Oil’, Associated Press, 31 August 1995.

[34] - Shim Jae Hoon, ‘Blood Thicker than Politics’, Far Eastern Economic Review, 5 May 1988, p. 26.

[35] - ‘Taiwan Responds to Manila on South China Sea’, World Journal, 30 April 1993.

[36] - ‘Joint Mainland-Taiwan Academic Conference Opens’, World Journal, 28 June 1994, p. 5.

[37] - Frank Ching, ‘Taiwan Looks for Loopholes’, Far Eastern Economic Review, 2 February 1995, p. 29.

[38] - ‘Further Talks Between China and Vietnam’, China News Daily, 13 July 1995.

[39] - ‘Vietnam Says Taiwan Fired at Vessel’, Japan Times, 4 May 1995, p. 1.

[40] - ‘Li Teng-hui Proposed South ChinaSea Development’, FBIS-CHI-95-072, 14 April 1995, p. 69; ‘Police Navy Mission to Spratlys “”Aborted”‘, FBIS-CHI-95-065, 5 April 1995, p. 81; ‘Lee Urges Joint Venture Plan for South China Sea Works’, Japan Times, 22 August 1995, p. 4.

[41] - ‘Taking a United Stand on the Spratly Issue’m The Nation (Bangkok), 13 February 1995.

[42] - ‘China Reassures ASEAN Meeting’, Japan Times, 31 July 1995, p. 6.

[43] - ‘China Nibbles, ASEAN Dithers’, Asian Wall Street Journal, 10-11 March 1995.

[44] - David Winterford, ‘Chinese Naval Planning and Maritime Interests in the South China Sea: Implications for US and Regional Security Policies’, Journal of American East Asian Relations, vol. 2, no. 4., Winter 1993, pp. 369-98.

[45] - Far Eastern Economic Review, 23 February 1995, pp. 14-16; Nayan Chanda, Rigoberto Tiglao and John McBeth, ‘Territorial Imperative: Editorial Plays Down PRC Claim to Natunas’, FBIS-EAS-95-115, 15 June 1995, pp. 44-45.

[46] - ‘Indonesia Calls for Peaceful Solution to Six-Nation Dispute over Spratlys’ Japan Times, 18 February 1995, p. 4.

[47] - ‘China Nibbles’, Asian Wall Street Journal.

[48] - ‘US Stays Neutral in R.P.-China Spratly Dispute’, Japan Times, 15 February 1995, p. 4; ‘Indonesia Calls for Peaceful Solution’, Japan Times.

[49] - ‘Philippines to Boost Forces on Spratlys’, Japan Times, 16 February 1995, p. 4.

[50] - ‘Ramos Asks Chinese “Intruders” to Leave’, Japan Times, 20 February 1995, p. 3.

[51] - ‘Marine Reserve Status Proposed for Spratlys’, FBIS-EAS-95-041, 2 March 1995, p. 60; Gil Butler, ‘Philippines Spratlys Action’, Voice of America (Beijing), 24 March 1995.

[52] - ‘R>P> Seizes China Boats in Spratlys’, Japan Times, 26 March 1995, p. 1.

[53] - ‘Ramos Welcomes US Bilateral Naval Exercises’, FBIS-EAS-95-036, 23 February 1995, p. 70.

[54] - ‘Philippines Seeks End to Dispute Over Islands’, Honolulu Advertiser, 27 March 1995, p. A5.

[55] - ‘Manila Charges China Still Intruding in Spratlys’, Honolulu Advertiser, 29 March 1995, p. A7; ‘Ramos Stresses Peaceful Spratlys Solution’, FBIS-EAS-95-066, 6 April 1995, p. 60; ‘China Demands Immediate Release of Fishermen’, China News Digest, 30 March 1995.

[56] - ‘Spratlys Dispute Flaring’, Voice of America, 11 May 1995; ‘China Asked to Cool Rhetoric’, Associated Press, 18 May 1995.

[57] - ‘Philippines to Build Lighthouses on the Spratlys’, Reuters, 14 June 1995.

[58] - ‘China, Philippines to Settle South China Sea Disputes Peacefully’, Japan Times, 12 August 1995, p. 4; ‘Philippines Will Release 58 Chinese, Try Four Leaders’, Honolulu Advertiser, 14 September 1995, p. A14.

[59] - Frank Ching, ‘Malaysia Charts China Course’, Far Eastern Economic Review, 23 February 1995, p. 32; ‘Malsysia Wants Spratlys Spat to End’, Japan Times, 19 February 1995, p. 4.

[60] - ‘Malaysian Navy Opens Fire on Chinese Fishing Boat’, china News Daily, 26 March 1995.

[61] - ‘Spokesman Dismisses Malaysian Claim to Spratlys’, FBIS-CHI-95-103, 30 May 1995, p. 15.

[62] - ‘Lee Kuan Yew Interviewed over Spratlys Dispute’, Straits Times, 13 May 1995, p. 34.

[63] - ‘Country’s Stand on Spratlys Dispute Reviewed’, Business Times, 17 May 1995, p. 17; ‘Singapore Leader Warns China on Military Ambitions’, Reuters, 13 May 1995.

Chapter III

[1] - Since 1990, a series of workshops on Managing Potential Conflicts in the South China Sea have been held in Indonesia under the auspices of the Research and Development Agency within its Department of Foreign Affairs. These non-governmental gatherings, attended by government officials, have been convened to explore ways to engender cooperation among South China Sea nations to manage the region’s natural resources. The meetings include: the First Workshop of Managing Maritime Conflicts in the South China Sea (Bali, January 1990); the Second Workshop (Bandung, June 1991); the Third Workshop (Jogjakarta, July 1992); the Fourth Workshop (Surabaya, August 1993); and the Fifth Workshop (Bukittinggi, October 1994). The Sixth Workshop is scheduled for October 1995. A series of technical working-group meetings have also been organised, including: Marine Scientific Research (Manila, May 1993, and Singapore, 1994); Resource Assessment (Jakarta, July 1993); Protection of the Marine Environment (China, May 1995); and Legal Issues (Phuket, July 1995).

Từ năm 1990 một loạt những cuộc hội thảo về Quản lý Tiềm năng Xung đột trong vùng biển Nam Trung Hoa đã được tổ chức ở Indonesia dưới sự bảo trợ của Văn phòng Nghiên cứu và Phát triển thuộc Bộ Ngoại Vụ Indonesia. Đây là cuộc nhóm họp không thuộc chính phủ, do các quan chức chính phủ tham dự, đã được triệu tập nhằm thăm dò các đường lối có thể mang đến sự hợp tác giữa các quốc gia trong vùng biển Nam Trung Hoa để quản lý các tài nguyên thiên nhiên trong khu vực. Các cuộc hội họp đã diễn ra gồm: Hội thảo kỳ 1 về  Quản lý Xung đột Hàng hải trong vùng biển Nam Trung Hoa (tại Bali, vào tháng 1-1990); Hội thảo kỳ 2 (tại Bandung, vào tháng 6-1991); Hội thảo kỳ 3 (tại Jogjakarta, vào tháng 7-1992); Hội thảo kỳ 4 (tại Surabaya, vào tháng 8-1993); và Hội thảo kỳ 5 (tại Bukittinggi, vào tháng 10-1994). Hội thảo kỳ 6 theo kế hoạch sẽ diễn ra vào tháng 10-1995. Một loạt các cuộc hội họp của nhóm hành động kỹ thuật cũng được tổ chức, bao gồm Khảo sát Khoa học về Đại dương (tại Manila, vào tháng 5-1993, và Singapore vào năm 1994); Giám định Tài nguyên (tại Jakarta, vào tháng 7-1993); Bảo vệ Môi trường Biển (tại Trung Quốc, vào tháng 5-1995);  và Các Vấn đề Pháp lý (tại Phuket, vào tháng 7-1995).

[2] - Sonya Hepeinstall, ‘Thailand: Thai PM Says ASEAN Must Act over Spratly Dispute’, Reuters, 22 July 1994; Lindsay Murdock, ‘Beijing Snubs Summit Plan – War Fears Mount in Row over South China Sea Resources Carve-up’, International Herald Tribune, 27 July 1994.

[3] - Indochina Digest, 29 July 1994, p. 2.

[4] - Jakarta Post, 26 October 1994, p. 1; Jakarta Post, 27 October 1994, p. 1. ‘Achievements at South China Sea Meeting Lauded’, FBIS-EAS-94-210, 31 October 1994, p. 75; FBIS-EAS-94-209, 28 October 1994, p.1; ‘Little Headway Mase at Indonesia Spratly Talks’, Reuters, 28 October 1994.

[5] - B. A. Hamzah, ‘The Prospects for Solving Territorial Problems in the Spratlys: The Need to Manage Contentious Issues’, Paper presented at the Fifth Workshop on Managing Potential Conflicts in the South China Sea, Bukittinggi, Indonesia, 26-28 October 1994, 13pp.; Frank Ching, ‘Scientific Meetings Being Held to Reduce Spratlys Tension’, Far Eastern Economic Review, 27 May 1993, p. 30.

[6] - See Mark J, Valencia, ‘South China Sea: Where Fear Races Hope’, Honolulu Advertiser, 23 April 1995, p. B3.

[7] - Adam Schwarz, ‘Joining the Fold’, Far Eastern Economic Review, 16 March 1995, pp. 20-21.

[8] - Simon, ‘US Interests’, pp. 662-75.

[9] - An area where sediment thickness is 1% of the distance from the base of the slope is significant because, under Article 76 of UNCLOS, it is an area that in many cases meets the criterion of being continental shelf subject to coastal state control.

[10] - Lee Lai To, CALS Newsletter, vol. 1, no. 2, September 1994.


Lãnh Hải của Việt Nam

http://anhbaque.wordpress.com/2009/11/22/bai-2-trung-qu%E1%BB%91c-va-cac-tranh-ch%E1%BA%A5p-vung-bi%E1%BB%83n-nam-trung-hoa/

Comments