Tiếng vọng thời gian

Chiến tranh biên giới Việt – Trung 1979

Link cố định 01/07/2011@14h44 127 lượt xem
Chuyên mục: LICH SỬ VIỆT NAM

Phần 1 Mục tiêu và cách chuẩn bị chiến tranh.

Sau khi đổ nhiều tỉ mỹ kim ủng hộ Việt Nam đánh Mỹ có chủ đích. Với khẩu hiệu “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng” vừa để cho Mỹ sa lầy, đưa Việt Nam vào vòng cương tỏa của mình, kiểu “bò Việt Nam cày đất Trung Quốc”, tách Việt Nam ra khỏi quỹ đạo của Liên Xô và để cho thế giới thấy mình là “nước nhớn”…đều không đạt. Trung Quốc quay ra bán đứng Việt Nam, vẫn không ngăn cản được cách mạng Việt nam, lại quay ra ngăn cản giải phóng đất nước cũng không xong, dung dưỡng chế độ Pôn Pốt để “chọc sườn” Việt Nam vẫn không ổn
Việt nam gia nhập khối Comecon, liên minh quân sự với Liên xô rồi đánh Campuchia và chính sách đối với người Hoa. Trung quốc cảm thấy cần phải cho Việt nam “một bài học”, được sự đồng tình của tất cả những cấp lãnh đạo, kể cả những phần tử ôn hoà như Hứa Thế Hữu, tư lệnh quân khu Quảng Châu, trong cuộc Cách mạng văn hoá, dù bị xách nhiễu, vẫn cố gắng để cho những chuyến tàu viện trợ vũ khí cho Bắc Việt được chạy thông suốt. Trung quốc chấm dứt viện trợ. Việc sử dụng quân sự của đã được nêu ra thảo luận và chấp thuận. Nhiều biện pháp được đưa ra, trong đó có của Uông Đông Hưng “trực tiếp tham chiến ở Campuchia”, của Hứa Thế Hữu “ào ạt xâm lăng Việt nam”, và của Sử Chấn Hoa, “đem hạm đội Đông Hải xuống vịnh Thái lan yểm trợ vùng duyên hải Campuchia”. Cuối cùng chấp thuận kế hoạch “phản công tự vệ giới hạn” của Đặng nhằm: 1) làm suy yếu tiềm năng Việt nam, trừng phạt một đàn em phản bội, lấy lại uy tín nước lớn. 2) đoàn kết nội bộ trước nguy cơ bị đe doạ từ cả biên giới phía bắc lẫn phía nam. 3) thách đố liên minh Việt Xô, cho thế giới biết Liên xô chỉ là “con gấu giấy”.

Trung Quốc dự định mở một cuộc hành quân chớp nhoáng, chiếm đóng một số thị xã dọc biên giới để phân tán lực lượng và buộc Việt nam phải rút bớt quân ở Campuchia, dùng đất đai chiếm đóng làm điều kiện trao đổi. Điều này giải thích lý do chờ tới sát ngày rút quân, không hy vọng thương thuyết, mới bắt đầu đặt chất nổ san bằng hết những thị xã. Một chiến thắng quân sự chớp nhoáng sẽ đập tan huyền thoại Việt nam, thoả mãn tinh thần “Đại Hán”, nâng uy tín nước lớn. Hành động đó là một thách đố liều lĩnh nhưng có tính toán. Chấp nhận những hậu quả có thể xảy ra nếu Liên xô trả đũa, Trung Quốc muốn “dằn mặt” Liên xô đồng thời cũng cho các quốc gia Đông Nam Á thấy có thể tin cậy vào Trung Quốc để ngăn chặn tham vọng của Việt nam. Uy tín nước lớn của Trung Quốc đối với Hoa kiều được vuốt ve khi thấy Trung Quốc dám đương đầu với một siêu cường quốc. Khác với Việt nam, tấn công Campuchia vì những lý do quân sự và an ninh quốc gia, cuộc tấn công của Trung Quốc nhằm những mục tiêu chính trị và ngoại giao nhiều hơn. Liên xô lúc đó đang ở trong một tình trạng kinh tế khó khăn, không muốn làm mất lòng Hoa kỳ, lại càng không muốn đẩy Hoa kỳ vào một liên minh quân sự với Trung Quốc, nên cùng lắm chỉ có thể mở một cuộc tấn công giới hạn vào biên giới để giúp Việt nam và để đỡ mất mặt. Trong trường hợp đó, với quân số đông đảo trong cuộc chiến tranh cổ điển, Trung Quốc tự tin có đủ sức đối phó. Trung Quốc vẫn tiếp tục những cuộc hội đàm thường lệ với Liên xô về những rắc rối biên giới và để cho Liên xô biết cuộc chiến Việt Trung không ảnh hưởng đến việc cải thiện bang giao giữa hai nước. Trung Quốc công khai báo trước về cuộc tấn công, nhưng loan báo “Chúng tôi không muốn một tấc đất của Việt nam. Sau khi đã phản công trả đũa Việt nam một cách thích đáng, quân đội biên phòng sẽ rút về bảo vệ biên giới quốc gia”. Trung Quốc cũng gián tiếp cho biết sẽ không tấn công Hà nội, không tiến quân về châu thổ sông Hồng, và trong cuộc chiến tranh, đã cẩn thận không oanh tạc những cơ sở tiếp vận và truyền tin mà Liên xô mới viện trợ cho Việt nam. Hành động công khai báo trước đó cũng là để chuẩn bị dư luận thế giới, nhất là Hoa kỳ và các nước ASEAN. Đặng đã nói thẳng với Thủ tướng Thái và Thủ tướng Singapore trong cuộc công du các nước trong vùng cuối năm 1978. Trong cuộc công du Hoa kỳ họp mật với hội đồng an ninh quốc gia thu hẹp, Đặng báo cho Hoa kỳ biết, ông ta bảo đảm là cuộc tấn công sẽ giới hạn và nhanh chóng, mong muốn sự hỗ trợ về tinh thần từ phía Hoa kỳ. Carter đã phản ứng trước ý định của Trung Quốc một cách lưng chừng. Ngoài sự làm ngơ của chính phủ Hoa kỳ, Đặng đã được sự ủng hộ của các lãnh tụ Quốc hội. Chủ tịch Hạ Viện Hoa Kỳ tuyên bố hành động phiêu lưu của Việt nam nếu không được ngăn chặn từ đầu sẽ có thể đưa tới thế chiến thứ ba, tương tự như trường hợp Nhật bản xâm lăng Mãn Châu năm 1931. Trước khi Trung Quốc tấn công, đại sứ Hoa kỳ kín đáo khuyến cáo Liên xô nên tự kiềm chế trong trường hợp Trung Quốc tấn công Việt nam để khỏi ảnh hưởng đến việc Quốc hội Mỹ sẽ thông qua thoả ước SALT mà Liên xô rất mong muốn. Tuy thế Trung Quốc cũng vẫn không thể không quan tâm đến sự hiện diện của trên bốn mươi sư đoàn quân Liên xô đóng dọc theo biên giới. Với hiệp ước liên minh với Việt nam, Liên xô có lý do và có nhiều biện pháp trả đũa, thí dụ như dùng võ khí nguyên tử tàn phá những cơ sở kỹ nghệ hay quân sự trong nội địa Trung Quốc, hoặc ào ạt tấn công xâm lăng Trung Quốc. Nhưng Đặng đã tính toán là cùng lắm Liên xô sẽ chỉ tấn công giới hạn vào các tỉnh biên giới như Tân Cương, Hắc Long Giang. Với quân số đông, đất đai rộng lớn, hiểm trở, Trung Quốc tự tin có thể đối phó, và rằng Liên xô sẽ không vì Việt nam mà sử dụng võ khí nguyên tử hay bị lôi cuốn vào một cuộc chiến kéo dài và tiêu hao, ngoài ra, còn phải đối đầu với khối NATO ở phía tây. Mặt khác, Trung Quốc cũng bắn tiếng là họ sẽ không ngần ngại đem quân vượt biên giới tấn công trả đũa. Với một biên giới đài hơn bảy ngàn cây số, bốn chục sư đoàn của Liên xô không có cách nào ngăn chặn hết. Cuối cùng, Trung Quốc cũng thành lập một Bộ tư lệnh mặt trận phía bắc để thống nhất chỉ huy các quân khu Tân Cương, Lan Châu, Bắc kinh, Chấn Giang và Hắc Long Giang. Vì muốn cố ý báo trước về hành động xâm lăng của mình, Trung Quốc đã dùng cả hai phương tiện ngoại giao và truyền thông. Bộ ngoại giao Trung Quốc cũng như tờ Nhân dân nhật báo liên tiếp đưa ra những lời phản kháng và cảnh cáo. Lời cảnh cáo đầu tiên được đưa ra ngày 7-11-1978, khi Bộ ngoại giao Trung Quốc tố cáo Việt nam cho quân vượt biên giới gây thương vong cho mười hai thường dân. Lời cảnh cáo nghiêm trọng thứ hai được đưa ra ngày 13-12-1978, cảnh cáo nhà cầm quyền Việt nam nên biết “sự tự kiềm chế của Trung Quốc chỉ có giới hạn, nếu Việt nam tiếp tục xâm phạm lãnh thổ và chủ quyền Trung Quốc, họ sẽ phải chịu trách nhiệm về mọi hậu quả”. Sau khi Phnom Penh bị mất, bài bình luận của tờ Nhân dân nhật báo đã viết “Sự thất thủ Phnom Penh không có nghĩa là chiến tranh chấm dứt mà chỉ là khởi đầu” càng gần đến ngày tấn công, những lời cảnh cáo càng dồn dập vào những ngày 18.1, rồi 10 và 16-2-1979. Hiển nhiên là những tín hiệu mà Trung Quốc muốn gửi đi đã được Liên xô ghi nhận. Ngày 6-2-1979, Thủ tướng Liên xô nhận xét là những lời tuyên bố của Đặng được coi như tuyên chiến với Việt nam. Trong nước, Trung Quốc cố tình không làm rầm rộvì ở trong một giai đoạn chính trị nội bộ tế nhị, và chính quyền không muốn nhìn nhận lỗi lầm đã hết lòng viện trợ cho Việt nam mà không đạt mục đích và cũng lo ngại về những hậu quả do cuộc tấn công gây ra. Lần này, không thấy có những cuộc biểu tình chống Việt nam. Báo chí, đài phát thanh cũng cố tình đặt những tin tức và tuyên truyền về cuộc chiến tranh xuống hàng thứ yếu. Nhân dân Trung Quốc được khuyến cáo nên yên tâm lao động, tăng gia sản xuất, hoàn thành nhiệm vụ trong mục tiêu “bốn hiện đại”. Trung Quốc không nói rõ ràng về mục tiêu, chỉ nói mù mờ là cuộc tấn công sẽ được giới hạn về thời gian và quy mô để nếu gặp khó khăn, họ có thể ngừng và rút quân bất cữ lúc nào, mà vẫn có thể tuyên bố đã đạt được mục đích. Họ cũng chuẩn bị cuộc tấn công rất kỹ lưỡng, những dân tộc thiểu số ở biên giới được khuyến dụ, mua chuộc. Những người gốc Hoa được tuyển mộ làm hướng đạo. Họ ve vãn Sihanouk, với Koong Le, Vang Pao, nhằm gây khó khăn thêm cho Hà nội. Đồng thời, ít ngày trước khi tấn công, họ ngưng cung cấp dầu hoả cho Việt nam. Sau khi đã chuẩn bị xong về quân sự, chính trị và ngoại giao, thời điểm tấn công được lựa chọn. Quân Trung Quốc phải tấn công gấp rút để hoàn thành trước tháng 4, vì tháng đó, mùa mưa ở vùng biên giới Việt Hoa bắt đầu, sẽ gây khó khăn cho vấn đề tiếp vận của Trung Quốc. Đồng thời, cũng tháng đó, băng tuyết trên biên giới Nga Hoa lại đã tan hết, tạo điều kiện thuận lợi cho quân đội Liên xô nếu họ quyết định tấn công giúp đỡ Việt nam. Cuối cùng, thời điểm tấn công được quyết định vào ngày thứ bảy 17-2-1979. Thứ bảy là ngày các hãng thông tấn và truyền hình Hoa kỳ và Tây Âu ít làm việc, dân chúng đang nghỉ cuối tuần, cuộc xâm lăng của Trung Quốc sẽ không gây phản ứng mạnh trong dư luận thế giới, đó cũng là thời gian không ngờ. Trung Quốc đành hy sinh sự cải thiện bang giao với Ấn độ. Như dự đoán, ngay sau khi nghe tin ngoại trưởng Ấn độ chấm dứt ngay cuộc viếng thăm, bay trở về Ấn độ. Bộ trưởng Tài Chánh Mỹ Blumenthal đang tiếp tục công tác ở Bắc kinh. Sự hiện diện của Blumenthal, cũng như của hàng không mẫu hạm của Hoa kỳ ở ngoài khơi biển Đông khiến cho Liên xô bị mơ hồ về lập trường và thái độ của Hoa kỳ. Xếp đặt xong mọi chi tiết, mờ sáng ngày 17-2-1979, hơn tám chục ngàn quân Trung Quốc vượt biên giới Việt Hoa, bắt đầu một bài học đắt giá.

Comments