Nói cười lồng lộng giữa không trung

NGỌC PHƯƠNG NAM. "Vũ trụ nhãn cùng thương hải ngoài. Tiếu đàm nhân tại bích vân trung" thơ Nguyễn Trãi: Vũ trụ mắt soi ngoài biển cả. Nói cười lồng lộng giũa không trung.. Tiếu và đàm chuyện gì ? Cười và nói việc nào? : "Lưu Cung tham công nên thất bại. Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong. Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô. Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã. Việc xưa xem xét. Chứng cớ còn ghi." "Cố chấp ý mình gieo vạ cho bao người khác. Tham công một lúc mua cười cho cả thế gian" Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo năm 1428 đến nay đã 583 năm và những tiếu đàm của Người vẫn lồng lộng trên non sông Việt. "Việc nhân nghĩa cốt ở an dân" xin đừng tin theo Thập sách (mười điều nên đánh), bởi có Mười điều không nên đánh.

BÁI THƠ THẦN CỦA NGUYỄN TRÃI TRÊN ĐỈNH YÊU TỬ

   


“Yên sơn sơn thượng tối cao phong
Tài ngũ canh sơ nhật chính hồng
Vũ trụ nhãn cùng thương hải ngoại
Tiếu đàm nhân tại bích vân trung
Ủng môn ngọc sóc sâm thiên mẫu
Quải ngọc châu lưu lạc bán không
Nhân miếu đương niên di tích tại
Bạch hào quang lý đổ trùng đồng” (2)   




  




  

(2) Nguyễn Trãi ” Đề Yên Tử sơn, Hoa Yên tự ”
trong ”Nguyễn Trãi toàn tập”

   

 

Nguyễn Trãi “đề Yên Tử sơn, Hoa Yên tự ”  trong Kiều Văn 
- Thơ văn Nguyễn Trãi , NXB TH Đồng Nai 2009, tr. 148

  

 Đề chùa Hoa Yên núi Yên Tử   

Nguyễn Trãi   

Trên dải Hoa Sơn , đỉnh tuyệt vời
Đầu canh năm đã sáng trưng rồi
Mắt ngoài biển cả ôm trời đất
Người giữa mây xanh vẳng nói cười
Giáo ngọc quanh nhà giăng vạn khoảnh
Dải châu treo đá rũ lưng trời
Nhân Tông còn miếu thời nao đó
Thấy rõ đôi ngươi giữa ánh ngời   

Bản dịch thơ: Khương Hữu Dụng   

  


   

(3) Thơ ”Yên Tử” Nguyễn Trãi, dịch thơ:  Hoàng Kim
Bình minh trên Yên Tử , ảnh chụp lúc 5:00 của HK ) 


(1) Tư liệu về  Trần Nhân Tông  và
Chuyên trang 
Trúc Lâm Yên Tử 
Đi bộ trong đêm lên Yên Tử

Bình minh trên Yên Tử

Yên Tử tâm sáng Ức Trai trong tựa ngọc

Lên Yên Tử sưu tầm thơ đức Nhân Tông




"Cố chấp ý mình gieo vạ cho bao người khác.
Tham công một lúc mua cười cho cả thế gian"



10 lý do để tấn công Việt Nam

  Theo  bài dịch nguyên bản tiếng Trung Quốc

TRUNG QUỐC BINH KHÍ ĐẠI TOÀN

Tháng Sáu 9, 2011 at 22:03 (Nhìn ra Thế giới)

Ngày 29-5-2011 Internet phổ biến bài dịch nguyên bản tiếng Trung Quốc trên Điện báoTrung Quốc Binh Khí Đại Toàn”đăng ngày 9-01-2010 của Gs Vũ Cao Đàm. Vì tính cực kỳ nghiêm trọng, lời lẽ rất khiêu khích đe dọa quá hiếu chiến của bài báo, nên có thể Gs Đàm chưa muốn phổ biến sớm hồi tháng 01-2010, sợ tạo dư luận hoang mang và căm thù có thể chưa quá cận kề (hoặc đã phổ biến mà chúng tôi không biết). Nay đứng trước những động thái cố tình khiêu chiến và xâm lược thực sự của một bộ phận những kẻ xấu trong , tạo nên tình hình rất nghiêm trọng trong những ngày này quanh quần đảo Trường Sa và vùng biển Phú Yên, Khánh Hòa, Cam Ranh…, nên Gs Đàm – hoặc Bạn nào đó- phải phổ biến ngay bản dịch này. Cùng với hơn 90 triệu con dân Việt đang thấp thỏm lo âu cho Tổ quốc, xin chân thành cảm ơn những ai đã giúp phổ biến bài báo và nhất là tấm lòng liêm chính quyếtchính giới Trung Quố tâm đứng hẳn về phía Công lý không do dự của Giáo sư Vũ Cao Đàm (một người Việt gốc Hoa) trong khi nhiều người tự coi là nòi giống Việt chính gốc vẫn cứ cố tình tiếp tục ngủ mê mà không hề chút bận tâm hổ thẹn!!! Tiêu đề do chính Gs Đàm đặt cho Tổ quốc – Dân tộc Việt Nam, thay cho tiêu đề của nguyên bản không được dịch. Những đoạn gạch dưới và tô đậm là của chúng tôi. Sau đây là nội dung bản dịch :


 TRUNG QUỐC BINH KHÍ ĐẠI TOÀN

Quần đảo Nam Sa (Việt Nam gọi là Trường Sa) vốn dĩ là chuỗi ngọc trai lấp lánh của đất mẹ Trung Hoa, nhưng lại bị nhiều kẻ trộm cắp, muốn chiếm đoạt, giành giật, việc này chỉ làm phân tán đi ánh hào quang của chuỗi ngọc trai mà thôi. Trong số các đảo bị các nước chiếm đoạt, bọn Việt Nam kiêu ngạo, vong ơn bội nghĩa đã ráo riết chiếm đóng quần đảo với số lượng nhiều nhất.

Nghĩ lại mà xem, Việt Nam vốn xưa là phiên thuộc của nước ta. Năm 1885, theo Thỏa ước Pháp – Thanh, Việt Nam đã bị nhượng lại cho Pháp, dần trở thành thuộc địa của Pháp. Sau hai cuộc chiến tranh, Trung Quốc đã giúp Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hai miền Nam Bắc đã được thống nhất. Nhưng thật không ngờ bọn Việt Nam không những không biết ơn Trung Quốc, mà trái lại đã lấy oán báo ân, tự vỗ ngực xem mình là nước có tiềm lực quân sự lớn thứ ba thế giới, liên tiếp khiêu khích Trung Quốc. Mặc dù qua hai bài học, là cuộc chiến tranh biên giới Trung – Việt và chiến tranh Bãi đá ngầm, nhưng Việt Nam vẫn không nhận ra được bài học, càng ra sức chiếm đoạt nhiều đảo hơn.

Do bọn Việt Nam bắt tay thực hiện khai thác đảo sớm nên điều kiện chiếm cứ thuận lợi hơn, hơn nữa lại có nguồn nước ngọt nên bọn chúng có thể thi công trên đảo, xây dựng sân bay, kiến tạo hạ tầng kỹ thuật thông tin di động, di dân ra đảo, tổ chức du lịch quốc tế, thiết lập phân chia ranh giới khu hành chính cấp huyện hòng vĩnh cửu hóa, thực tế hóa, quốc tế hóa, hợp pháp hóa hành vi bá chiếm. Tiếp đó các nước khác cũng lần lượt theo đuôi Việt Nam, như Philipin, Malaysia, Indonesia, Bruney… xâu xé vùng biển Nam Sa của Trung Quốc, xây dựng căn cứ quân sự hoặc khoan dầu mỏ. Tất cả bọn chúng đều không coi Trung Quốc ra gì.

Các nước xung quanh xâm chiếm quần đảo Nam Sa đúng vào thời kỳ đất nước Trung Quốc chúng ta tiến hành cải cách mở cửa, thực hiện chiến lược đối ngoại hòa bình, tập trung xây dựng kinh tế trong nước, duy trì hòa bình phát triển với bên ngoài. Cùng là những nước đang phát triển đáng ra Việt Nam và các nước lân cận phải có thiện ý giải quyết hài hòa những tranh chấp. Đất nước chúng ta đề xướng ra mục tiêu “gác lại chiến tranh, cùng nhau phát triển”. Tuy nhiên, 30 năm qua, lòng tốt của chúng ta lại không hề được báo đáp, mà trái lại các nước còn không ngừng tăng cường lấn chiếm khu vực biển của nước ta, ngang nhiên chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta. Không khó khăn lắm, chúng ta cũng có thể nhận ra rằng, lòng tốt của chúng ta không được báo đáp tử tế; danh dự, lãnh thổ và lãnh hải quốc gia nếu chỉ dựa vào giao thiệp hòa bình thì khó mà giữ gìn, bảo vệ được. Ủy ban thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc quy định, 12/5/2009 là kỳ hạn cuối cùng cho các quốc gia có liên quan phải hoàn thành việc gửi những bản giải trình các luận cứ khoa học về chủ quyền thềm lục địa và khu kinh tế đặc quyền. Tình hình phát triển còn làm phức tạp hóa vấn đề, sự xoay chuyển của thời gian sẽ làm cho chúng ta càng thêm bất lợi, nếu cứ tiếp tục kéo dài sự khoan dung của chúng ta thì kẻ khác sẽ cho rằng chúng ta đã chấp nhận, bằng lòng với việc đó. Vì thế, biện pháp có hiệu quả là phải dùng lực lượng quân sự chiếm đoạt lại Nam Sa, và phải đưa việc này vào chương trình nghị sự.

Chúng ta phải thấy một thực tế rằng, mức độ xâm phạm của các nước có liên quan đối với lợi ích của nước ta là khác nhau, do điều kiện môi trường và địa vị quốc tế khác nhau nên sẽ có những phản ứng khác nhau đối với hoạt động quân sự của nước ta, vì vậy mà chúng ta cần phải có những cách đối xử khác nhau, giải quyết tốt những mâu thuẫn chủ yếu, thúc đẩy giải quyết những mâu thuẫn thứ yếu. Không còn nghi ngờ gì nữa, mục tiêu tấn công chủ yếu của chúng ta phải là Việt Nam.

Chúng ta có đầy đủ lý do để tấn công Việt Nam, Việt Nam cũng có đầy đủ điều kiện để trở thành vật tế của trận chiến thu hồi Nam Sa :

1. Việt Nam xâm chiếm nhiều đảo nhất, có nguy hại lớn nhất, hơn nữa có thái độ kiêu ngạo nhất, ảnh hưởng xấu nhất. Trước tiên ta thu hồi lại những đảo mà Việt Nam chiếm đóng là có thể thu hồi lại hầu hết các đảo bị chiếm, khống chế được toàn bộ. Lấy gương xua đuổi thành công quân Việt Nam để răn đe các nước khác buộc chúng phải tự mình rút lui.

2. Trước đây, Việt Nam đã nhất nhất thừa nhận Tây Sa và Nam Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc.Những bài phát biểu của các quan chức, bản đồ quân sự, tài liệu địa lý đều là những bằng chứng xác thực, cho đến sau khi thống nhất đất nước thì Việt Nam có những thái độ bất thường, có yêu cầu về lãnh thổ lãnh hải đối với Tây Sa và Nam Sa. Việt Nam ngấm ngầm thọc lưng Trung Quốc, tiền hậu bất nhất, đã làm mất đi cái đạo nghĩa cơ bản, khiến quân đội của chúng ta phải ra tay, với lý do đó để lấy lại những vùng biển đảo đã mất.

3. Việt Nam có lực lượng quân sự lớn nhất Đông Nam Á. Hơn nữa lại đang tăng cường phát triển lực lượng hải quân, không quân để đối đầu với ta. Quân đội của ta có thể phát động cuộc chiến Nam Sa, cho dù quân đội Việt Nam đã có chuẩn bị. Với chiến thắng trong cuộc chiến này, hoàn toàn có thể làm cho các nước khác thua chạy, không đánh mà lui. Đây là cách để loại trừ Việt Nam, làm cho Việt Nam ngày càng lụn bại.

4. Hai nước Trung – Việt xích mích đã lâu, đã từng nảy sinh tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải, lần này lại xảy ra xung đột quân sự. Đây là điều mà thế giới đã dự đoán và đã sớm nghe quen tai với việc này, chắc chắn phản ứng sẽ nhẹ nhàng hơn. Trái lại, nếu tấn công vào các nước như Philipin thì phản ứng quốc tế nhất định sẽ rất mạnh mẽ.

5. Các nước khác tuy cùng trong khối ASEAN nhưng chế độ xã hội và ý thức hệ khác với Việt Nam, các nước khác lại ủng hộ Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, thời gian đó đã sinh ra những khúc mắc. Là liên minh ASEAN, khi chúng ta phát động chiến tranh thu hồi lại Nam Sa ắt sẽ gặp phải sự phản đối của ASEAN, nhưng hậu quả của cuộc tấn công Việt Nam sẽ tương đối nhỏ, vì Việt Nam đã từng có ý đồ thiết lập bá chủ khu vực, việc này đã làm cho các nước láng giềng có tinh thần cảnh giác, việc làm suy yếu lực lượng quân sự của Việt Nam cũng là điều tốt cho các nước ASEAN.

6. Tình hình quốc tế gần đây có lợi cho việc giải quyết vấn đề Nam Sa. Quan hệ Trung – Mỹ ; Trung – Nga đang ở thời kỳ tốt nhất, không phải vì thế mà dẫn đến sự đối đầu về quân sự giữa các nước lớn. Quân đội Mỹ đang sa lầy vào chiến trường Afganistan, Iraq và vẫn phải chuẩn bị ứng phó với chiến tranh có thể xảy ra với Iran, chưa rảnh tay để quan tâm tới chiến sự Nam Sa. Hơn nữa tranh chấp đảo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, tranh chấp giữa Campuchia và Thái lan đều sẽ làm phân tán sự chú ý của cộng đồng quốc tế.

7. Quần đảo Nam Sa là một vị trí chiến lược không thể thiếu của Trung Quốc trên trận tuyến kéo dài từ Trung Đông đến Viễn Đông, tuy eo biển Malacca là con đường yết hầu nhưng quần đảo Nam Sa không phải là không có vị trí chiến lược. Có được Nam Sa sẽ uy hiếp được Malacca, yểm trợ các đường ống dẫn dầu, Nam Sa là một trong những vùng hiểm yếu, Trung Quốc quyết không ngần ngại chiến đấu để thu hồi Nam Sa.

8. Lấy chiến tranh để luyện tập quân đội, lấy việc thực hiện chiến tranh để kiểm nghiệm và nâng cao năng lực chiến đấu của quân ta, tình hình phát triển của hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể đảm bảo để hai bên bờ sẽ không xảy ra chiến tranh trong tương lai gần, giải quyết triệt để vấn đề Nam Hải, trong khi thực hiện chiến tranh trên biển phải khảo sát những thiếu sót của hải quân, không quân của Trung Quốc để kịp thời nhận diện những khiếm khuyết, cải thiện, nâng cấp, nhằm phát triển càng nhanh càng tốt lực lượng hải quân không quân của ta, để chứng tỏ rằng quân đội ta là lực lượng quân đội theo mô hình mới, có kinh nghiệm chiến đấu hiện đại, chuẩn bị sẵn sàng cho chiến sự Đài Loan – Hải Nam hoặc để đối phó với những thách thức khác có thể phát sinh. Lực lượng hải quân, không quân của Việt Nam không thể xem là quá mạnh cũng không thể xem là quá yếu, chúng phù hợp với việc luyện tập quân đội của ta.

9. Việc thiết lập hợp tác quân đội với Đài Loan có thể còn nhiều khó khăn, sự bất đồng giữa hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể tồn tại, nhưng việc thu hồi Nam Sa thì hai bên lại có chung một lập trường. Mặc dù không thể mời quân đội Đài Loan cùng tham chiến, nhưng trước và sau trận chiến đều cùng nhau tiến hành các hoạt động như : cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị bảo trì, nhân viên xử lý, máy bay, tàu chiến do nhu cầu cần thiết hạ cánh hoặc cập bến trong chiến tranh, chắc chắn rằng sự phối hợp hai quân đội sẽ góp phần vào đoàn kết, thống nhất quốc gia.

10. Việt Nam là bọn tham lam, kiêu ngạo, vô lễ, tuyệt đối không thể thông qua đàm phán để chiếm lại quần đảo Nam Sa, không chiến đấu thì không thể thu hồi lại biên cương quốc thổ. Như vậy, cuộc chiến Nam Sa là không thể tránh khỏi, đánh muộn không bằng đánh sớm, bị động ứng phó không bằng chủ động tấn công.

Vẫn còn rất nhiều lý do nhưng không tiện để nêu ra cụ thể từng lý do được.

Mặc dù nói chúng ta đánh Việt Nam như đánh bạc nhưng việc thu hồi Nam Sa quả thực không phải chuyện nhỏ. Hải quân và không quân Việt Nam cũng đang dần hiện đại hóa cho nên ta quyết không đánh giá thấp đối phương, bắt buộc phải làm tốt công tác chuẩn bị, không đánh thì thôi, đã đánh là phải thắng nhanh. Trong khi bàn việc lấy lại Nam Sa vấn đề không phải là xét xem có thể thành công hay không mà phải xét xem thắng lợi có triệt để hay không, những tổn thất, rủi ro có phải là nhỏ nhất hay không và kết quả cuối cùng có phải là tốt đẹp nhất không… Vì thế cần phải xác định 4 mục tiêu rõ ràng. Đó phải là, xuất một đường quyền đẹp mắt về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao.

Trên lĩnh vực quân sự, đáng tiếc rằng Việt Nam đã làm những việc gây phản ứng mãnh liệt như xâm chiếm nhiều đảo mới, giam giữ ngư dân và tàu đánh cá Trung Quốc. Ta tuyên bố rằng lãnh thổ lãnh hải nước ta không dễ dàng xâm chiếm, bắt buộc Việt Nam trả lại những đảo đã xâm chiếm, nhanh chóng hoàn thành việc triển khai quân sự tại Nam Hải. Nếu quân đội Việt Nam không chịu thì Trung Quốc sẽ tiến hành tấn công xua đuổi, kẻ nào dám phản kháng ta kiên quyết diệt trừ, nếu tăng viện trợ máy bay tàu chiến cho Việt Nam thì sẽ bắn hạ, bắn chìm hết. Quân đội Việt Nam đã trang bị một số lượng nhất định máy bay, tàu chiến và tên lửa tiên tiến do Nga sản xuất. Quân đội của ta sẽ huy động tiềm lực hải quân, không quân để phong tỏa những căn cứ hải quân, không quân của chúng. Quân đoàn pháo binh thứ hai cần làm tốt việc che giấu những cứ điểm chiến lược hiểm yếu, không quân và chiến hạm cần làm tốt công tác dự báo; cung cấp nhiên liệu cho kế hoạch tấn công lâu dài ở căn cứ phía Nam. Lực lượng trên mặt đất phải luôn luôn sẵn sàng ứng phó với các cuộc tấn công quấy nhiễu của quân đội Việt Nam ở khu vực biên giới bất kỳ lúc nào; phải thực hiện phá hủy các căn cứ hải quân không quân ở miền Bắc. Tóm lại, ta sẽ lấy việc tấn công Việt Nam như là cuộc diễn tập để giải phóng Đài Loan, một khi tình hình đã lan rộng thì sẽ triệt để phá hủy lực lượng hải quân, không quân Việt Nam.

Trên lĩnh vực chính trị, vạch trần việc các nước như Việt Nam xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải nước ta, nhắc lại rằng nước ta muốn duy trì phương châm hòa bình, nhưng chúng ta không thể hòa bình với những kẻ xâm hại đất nước ta. Cho dù xảy ra rồi thì chúng ta không mong nhìn thấy xung đột quân sự. Trung Quốc hy vọng rằng các bên liên quan nên ngồi lại tiến hành đàm phán hòa bình để nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Nếu các nước như Việt Nam chịu khuất phục trước sức ép quân sự to lớn của nước ta thì nước ta sẽ không sử dụng biện pháp vũ lực nữa, sẽ mở rộng tiếng nói quốc tế của nước ta.

Trên lĩnh vực ngoại giao, một khi chiến sự xảy ra, cộng đồng thế giới chắc chắn sẽ đưa ra bốn chữ “phê phán, phản đối”. Chúng ta cần nhanh chóng tranh thủ sự thông cảm của Mỹ, Nga, Liên minh Châu Âu, nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt động ngoại giao là nắm được mục tiêu của các nước ASEAN, cố gắng bình tĩnh trước sự phẫn nộ và hoảng hốt của họ, khiến họ tin tưởng rằng Trung Quốc vô cùng coi trọng quan hệ với ASEAN, tuyệt đối không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia ASEAN ngoại trừ Việt Nam, Trung Quốc sẽ làm cho mức độ phản ứng của họ giảm xuống mức tối thiểu.

Trên lĩnh vực kinh tế, để chung sống hòa bình cần thực hiên chiến lược “Dùng đất đai đổi lấy hòa bình”. Để hòa bình phát triển thì cần thực hiện chiến lược “Dùng tiền bạc đổi lấy đất đai”. Đối với quần đảo Nam Sa thì lại phải thực hiện phương châm “chủ quyền thuộc về tôi, cùng nhau phát triển, thỏa hiệp hòa bình, chia sẻ lợi ích”thiết lập một số khu vực cùng phát triển ở giáp giới các nước ASEAN gần quần đảo Nam Sa. Lấy nước ta làm chủ, lần lượt cùng hợp tác phát triển với Philipin, Malaysia, Bruney… giúp các đối tác cùng có lợi. Mục đích của các nước này muốn chiếm đảo là vì muốn đạt được lợi nhuận dầu mỏ, giúp cho họ kiếm được tiền mà họ muốn,làm cho nó dễ dàng đồng ý chủ quyền Trung Quốc. Nếu Việt Nam đồng ý với chính sách này thì có thể cũng nhận được một phần nào đó.

Với ý đồ lấy phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp Nam Sa thì kết quả cuối cùng Nam Sa quần đảo ắt bị chia cắt. Tất cả những đảo bị chiếm giữ là do ban đầu lực lượng quân đội của nước ta không đủ, khi có đủ năng lực thì không cần phải do dự mà không quyết định, việc sử dụng vũ lực chắc chắn sẽ dẫn đến có sự phản đối. Cùng năm đó, Anh ra sức tranh đoạt đảo Falklands cũng đã bị lên án chỉ trích nhiều, nhưng khi đảo Falklands đã nằm trong tay nước Anh, ai đã có thể làm gì họ. Nếu Việt Nam nguyện làm đầu têu thì phải đánh cho chúng không kịp trở tay.

Hãy giết chết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa. @@@

Gs. Vũ Cao Đàm dịch theo Nguyên bản tiếng Trung Quốc trên Điện báoTrung Quốc Binh khí Đại toàn”

http://www.cnweapon .com/html/ news/2010- 01/news14304. html

越南——收复南沙之战的祭

2010年1月09日 05:49 热度8票 浏览148次 已有评论 (1)

南沙群岛本是中华母亲胸前璀璨的珍珠项链,却被诸多宵小或偷或抢、你争我夺,只闹的珠光散乱、岛礁蒙尘,其中气焰最为嚣张、抢占数量最多的便是狂妄自大、忘恩负义之辈——越南。

想那越南原为我国藩属,1885年中法安南之役清廷将其割让给法国,遂成为法属殖民地, 二战后是中国助其战败法国、赶走美帝,南北得以统一。不料此獠非但不思感恩,反而以怨报德,竟然以世 界第三军事大国自居,频频向中国寻衅,虽经中越边境反击战和赤瓜礁海战两次教训,依旧不服不,变本加厉地抢占了更多岛礁。因其下手较早,所盘踞之地往往居 住条件较好,且有淡水水源,越南便在上面修建机场,建造移动通讯设施,还向岛礁移民,组织国际旅游,并设置县级行政区划,妄图将霸占的地域永久化、实事 化、国际化、合法化。

另有菲、马、印尼、文莱等国也纷纷效仿,在我国南沙海域或建设军事基地,或钻井开采石油,全然不把中国放在眼里。

周边各国抢占南沙岛礁之时,正值我国实行改革开放方针、和平崛起战略之际,出于对内集中精力抓经济建设、对外维持和平发展环境的需要,基于都是发展中国家、理应和平解决纠纷的美好愿望,我国提出了“搁置争议,共同开发”的倡议。

然而,三十多年来相关国家置我们的善意于不顾,不断加快侵蚀我国海疆的脚步,公然 将我国领土领海据为己有。

可见,好心未必就有好报,国家尊严和领土领海完整仅靠和平交涉难以维护。联合国大陆礁层 委员会规定,2009年5月12日为有关国家对其大陆架和专属经济区的主权要求提出科学依据、完成申请的最后期限。事态的发展将使问题越来越复杂化,时间 的推移将对我们愈加不利,拖延下去别人将会把我们的容忍误读为默许。因此,采取有效的手段——武力收复南沙已该摆上议事日程。
鉴于涉案国家对我国利益的侵害程度不同,其所处环境和国际地位不同,对我方的军事行动可能做出的反应不同,因此应区别对待,全力处理好主要矛盾,带动次要矛 盾的解决。

毫无疑问,我们的主要打击目标就是越南,我们有足够的理由打击越南,越南也有充分的条件成为收复南沙之战的祭品。

1.越南侵占的岛礁最多,危害最大,且态度蛮横,影响恶劣。率先收复越南盘踞的岛礁,就能收复被占岛礁的绝大部分,便可基本掌控全局,以成功驱逐越军的实例威慑其它国家,迫其自行撤。

2.过去越南一直承认中国拥有西沙、南沙主权,其官员讲话、军用地图、地理教材都是佐证,直到实现统一后才一反常态,对西沙和南沙提出领土要求。其背信弃义、前后矛盾的行径丧失了基本道义,使我军师出有名,据理收复失。

3.越南拥有东南亚最强军力,而且正在加速发展海空军,企图与我对抗。我军如能借南沙之战摧毁其已具雏形的海空军力,既能使其他国家望风披靡、不战而退,又能解除使越南日益坐大、养虎遗患的。

4.中越反目已久,曾发生过陆战海战,再次爆发军事冲突已在世界意料之中,各国早已习以为常,反应也会相对较轻。反之,如先打击菲律宾等国则会平添一个交战国,国际反应肯定较为强烈。

5.相关各国虽同属东盟,但越南与其他国家社会制度、意识形态不同,他国又曾在越战中支持美,其间自有感情隔阂。我国收复南沙必遭东盟反对,但集中打击越南的副作用就会较小,因为越南曾经企图建立地区性霸权的往事仍使其邻国怀有戒心,消弱越南军力对东盟各国也有好处。

6.近期国际形势对解决南沙问题有利。中美、中俄关系均处于最好时期,不致因此引起大国之间的军事对抗。美军深陷阿富汗、伊拉克战场,还要准备应付可能与伊朗发生的战争,无暇顾及南沙战事。而且日韩岛屿纠纷、柬泰寺庙争端都会分散国际社会视线。

7.南沙群岛对中国具有不可或缺的战略地位。在中东到远东的石油动脉上,马六甲海峡固然扼守咽喉要道,南沙群岛何尝不是位居战略要冲,据有南沙便可威慑马六甲,掩护石油通道。南沙是中国必有之地,为此应不惜一战。

8.以战代练,以实战来检验并提高我军实力。台海形势发展可确保两岸近期不会发生战事, 正宜借此空隙彻底解决南海问题,在实战中考察我海空军的缺陷和差距,及时抓紧弥补提高,使我海空军尽快发展成为具有现代战争实战经验的新型军事力量,以备 战台海战事或其他可能出现的挑。越南海空军不算强也不算弱,正适合我军 实战练兵。

9.借机建立起两岸军队的协同合作。台海两岸分歧多多,唯独在南沙问题上立场一致,虽然不大可能邀到台军一起参战,但在战前战后进行些物资补给、装备维修、人员救治、飞机舰船因战事需要紧急降落停靠等等活动,无疑会对将来的国家统一、军队统一起到推动作用。

10.越南贪得无厌、见利忘义,态度又极其蛮横无礼,绝无通过谈判放弃其抢占岛屿的可能,不打不足以收复国土海疆。既然南沙之战不可避免,晚打就不如早打,被动应付就不如主动出击。
还有很多理由,不再一一列举。

虽说我军收拾越南不在话下,但是收复南沙毕竟不是小事,越南海空军也正在逐步现代化,并非易与之辈,所以决不可轻敌盲动,必须做好充分准备,不打则已,打则 速胜。

收复南沙不是看能否成功,而要看胜得是否彻底,付出的代价是否必要,遭受的损失是否最小,最终结果是否最佳。因此有必要政治、军事、经济、外交四箭 齐发,打出一套漂亮的组合拳。

军事方面,可借越南侵占新岛礁、扣押我国渔船渔民等事件为导火索,做出强烈反应,宣布我国领土领海不容侵犯,勒令越方限期退出所有侵占岛礁,迅速在南海完成军事部署,如越军置之不理就强行驱逐,敢于反抗者坚决消灭,凡来增援的越舰越机予以击沉击落。

越军已装备一定数量的俄制先进战机、舰艇和导弹,我军应以海空, 潜全面封锁其海空军基地,

二炮部队应做好覆盖其所有战略要点的准备,空军和海航应做好在预警、加油机支援下 长途奔袭其南部基地的预案,地面部队要随时应对越军在边境地区的偷袭骚,必要时实施反击摧毁其北部海空军基地。总之,要由陆海空潜导编织成立体战场,把打 击越南当作解放台湾的预演,一旦事态扩大就 彻底摧毁越南海空军力量。

政治方面,彻底揭露越南等国强占我国领土领海的事实,重申我国坚持和平崛起的既定方针, 但是和平决不意味着可以容忍对我国国家利益的侵害。尽管发生了我们不愿看到的军事冲突,中国依然希望有关各方坐下来进行和平谈判,及早结束战争。假如越南 等国在我强大的军事压力下被迫屈服,则我国实现不战而屈人之兵,必将大大 扩大我国的国际发言权。

外交方面,一旦战事发生,世界上必然批评、抗议声四起,我们要尽力获得美、俄、欧盟的 理,争取使其置身事外。最重要的外交活动应针对东盟各国,尽量平息他们的愤怒和恐惧,使他们相信中国非常重视与东盟的关系,绝不会损害除越南之外的东盟国 家的切身利益,将他们的反应程度降到最。

济方面,为了和平生存,以色列可以“用土地换和 平”;为了和平发展,我们也可以“用金钱换土地”。对南沙群岛,应实行“主权归我,共同开发,和平协商,利益均沾”的方针,在南沙群岛靠近东盟各国的边缘 地带划出若干共同开发区,以我国为主,分别与菲、马、印尼、文莱组成合资开发企业,让对方拥有分享利润的权利。这些国家强占岛礁的目的就是获取石油利润, 让他们得到他们想要的钱,就更易于同意我国拥有主权。如果越南愿意接受这种模式,不妨也分他一杯羹。

企图以和平方式解决南沙争议,最终结果必然是南沙群岛被人瓜分。众多岛礁被强占是由于当初我军实力不足,能力具备了就不要再犹豫不决。

动用武力肯定会引来反对声浪,当年英国力夺马岛也曾谴责声一片,但是马岛在手别人又能奈何英?越南愿当出头鸟就打他个措手不及,杀越寇为南沙之战祭旗!

[中华兵器大全 中国武器大全 CNWEAPON.COM] @@@

(1) Nguyên bản tiếng Trung Quốc trên Điện báo Trung Quốc Binh Khí Đại Toàn” ngày 9-01-2010. Như chúng tôi đã giải thích ở đầu bài, ngày 29-5-2011 Internet phổ biến bài dịch này của Gs Vũ Cao Đàm.

Fw: FYI

Quần đảo Nam Sa (Việt Nam gọi là Trường Sa) vốn dĩ là chuỗi ngọc trai lấp lánh của đất mẹ Trung Hoa, nhưng lại bị nhiều kẻ trộm cắp, muốn chiếm đoạt, giành giật, việc này chỉ làm phân tán đi ánh hào quang của chuỗi ngọc trai mà thôi. Trong số các đảo bị các nước chiếm đoạt, bọn Việt Nam kiêu ngạo, vong ơn bội nghĩa đã ráo riết chiếm đóng quần đảo với số lượng nhiều nhất.

Nghĩ lại mà xem, Việt Nam vốn xưa là phiên thuộc của nước ta. Năm 1885, theo Thỏa ước Pháp – Thanh, Việt Nam đã bị nhượng lại cho Pháp, dần trở thành thuộc địa của Pháp. Sau hai cuộc chiến tranh, Trung Quốc đã giúp Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hai miền Nam Bắc đã được thống nhất. Nhưng thật không ngờ bọn Việt Nam không những không biết ơn Trung Quốc, mà trái lại đã lấy oán báo ân, tự vỗ ngực xem mình là nước có tiềm lực quân sự lớn thứ ba thế giới, liên tiếp khiêu khích Trung Quốc. Mặc dù qua hai bài học, là cuộc chiến tranh biên giới Trung – Việt và chiến tranh Bãi đá ngầm, nhưng Việt Nam vẫn không nhận ra được bài học, càng ra sức chiếm đoạt nhiều đảo hơn.

Do bọn Việt Nam bắt tay thực hiện khai thác đảo sớm nên điều kiện chiếm cứ thuận lợi hơn, hơn nữa lại có nguồn nước ngọt nên bọn chúng có thể thi công trên đảo, xây dựng sân bay, kiến tạo hạ tầng kỹ thuật thông tin di động, di dân ra đảo, tổ chức du lịch quốc tế, thiết lập phân chia ranh giới khu hành chính cấp huyện hòng vĩnh cửu hóa, thực tế hóa, quốc tế hóa, hợp pháp hóa hành vi bá chiếm. Tiếp đó các nước khác cũng lần lượt theo đuôi Việt Nam, như Philipin, Malaysia, Indonesia, Bruney… xâu xé vùng biển Nam Sa của Trung Quốc, xây dựng căn cứ quân sự hoặc khoan dầu mỏ. Tất cả bọn chúng đều không coi Trung Quốc ra gì.

Các nước xung quanh xâm chiếm quần đảo Nam Sa đúng vào thời kỳ đất nước Trung Quốc chúng ta tiến hành cải cách mở cửa, thực hiện chiến lược đối ngoại hòa bình, tập trung xây dựng kinh tế trong nước, duy trì hòa bình phát triển với bên ngoài. Cùng là những nước đang phát triển đáng ra Việt Nam và các nước lân cận phải có thiện ý giải quyết hài hòa những tranh chấp. Đất nước chúng ta đề xướng ra mục tiêu “gác lại chiến tranh, cùng nhau phát triển”. Tuy nhiên, 30 năm qua, lòng tốt của chúng ta lại không hề được báo đáp, mà trái lại các nước còn không ngừng tăng cường lấn chiếm khu vực biển của nước ta, ngang nhiên chiếm lãnh hải, lãnh thổ nước ta. Không khó khăn lắm, chúng ta cũng có thể nhận ra rằng, lòng tốt của chúng ta không được báo đáp tử tế; danh dự, lãnh thổ và lãnh hải quốc gia nếu chỉ dựa vào giao thiệp hòa bình thì khó mà giữ gìn, bảo vệ được. Ủy ban thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc quy định, 12/5/2009 là kỳ hạn cuối cùng cho các quốc gia có liên quan phải hoàn thành việc gửi những bản giải trình các luận cứ khoa học về chủ quyền thềm lục địa và khu kinh tế đặc quyền. Tình hình phát triển còn làm phức tạp hóa vấn đề, sự xoay chuyển của thời gian sẽ làm cho chúng ta càng thêm bất lợi, nếu cứ tiếp tục kéo dài sự khoan dung của chúng ta thì kẻ khác sẽ cho rằng chúng ta đã chấp nhận, bằng lòng với việc đó. Vì thế, biện pháp có hiệu quả là phải dùng lực lượng quân sự chiếm đoạt lại Nam Sa, và phải đưa việc này vào chương trình nghị sự.

Chúng ta phải thấy một thực tế rằng, mức độ xâm phạm của các nước có liên quan đối với lợi ích của nước ta là khác nhau, do điều kiện môi trường và địa vị quốc tế khác nhau nên sẽ có những phản ứng khác nhau đối với hoạt động quân sự của nước ta, vì vậy mà chúng ta cần phải có những cách đối xử khác nhau, giải quyết tốt những mâu thuẫn chủ yếu, thúc đẩy giải quyết những mâu thuẫn thứ yếu. Không còn nghi ngờ gì nữa, mục tiêu tấn công chủ yếu của chúng ta phải là Việt Nam.

Chúng ta có đầy đủ lý do để tấn công Việt Nam, Việt Nam cũng có đầy đủ điều kiện để trở thành vật tế của trận chiến thu hồi Nam Sa :

1. Việt Nam xâm chiếm nhiều đảo nhất, có nguy hại lớn nhất, hơn nữa có thái độ kiêu ngạo nhất, ảnh hưởng xấu nhất. Trước tiên ta thu hồi lại những đảo mà Việt Nam chiếm đóng là có thể thu hồi lại hầu hết các đảo bị chiếm, khống chế được toàn bộ. Lấy gương xua đuổi thành công quân Việt Nam để răn đe các nước khác buộc chúng phải tự mình rút lui.

2. Trước đây, Việt Nam đã nhất nhất thừa nhận Tây Sa và Nam Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Những bài phát biểu của các quan chức, bản đồ quân sự, tài liệu địa lý đều là những bằng chứng xác thực, cho đến sau khi thống nhất đất nước thì Việt Nam có những thái độ bất thường, có yêu cầu về lãnh thổ lãnh hải đối với Tây Sa và Nam Sa. Việt Nam ngấm ngầm thọc lưng Trung Quốc, tiền hậu bất nhất, đã làm mất đi cái đạo nghĩa cơ bản, khiến quân đội của chúng ta phải ra tay, với lý do đó để lấy lại những vùng biển đảo đã mất.

3. Việt Nam có lực lượng quân sự lớn nhất Đông Nam Á. Hơn nữa lại đang tăng cường phát triển lực lượng hải quân, không quân để đối đầu với ta. Quân đội của ta có thể phát động cuộc chiến Nam Sa, cho dù quân đội Việt Nam đã có chuẩn bị. Với chiến thắng trong cuộc chiến này, hoàn toàn có thể làm cho các nước khác thua chạy, không đánh mà lui. Đây là cách để loại trừ Việt Nam, làm cho Việt Nam ngày càng lụn bại.

4. Hai nước Trung – Việt xích mích đã lâu, đã từng nảy sinh tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải, lần này lại xảy ra xung đột quân sự. Đây là điều mà thế giới đã dự đoán và đã sớm nghe quen tai với việc này, chắc chắn phản ứng sẽ nhẹ nhàng hơn. Trái lại, nếu tấn công vào các nước như Philipin thì phản ứng quốc tế nhất định sẽ rất mạnh mẽ.

5. Các nước khác tuy cùng trong khối ASEAN nhưng chế độ xã hội và ý thức hệ khác với Việt Nam, các nước khác lại ủng hộ Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, thời gian đó đã sinh ra những khúc mắc. Là liên minh ASEAN, khi chúng ta phát động chiến tranh thu hồi lại Nam Sa ắt sẽ gặp phải sự phản đối của ASEAN, nhưng hậu quả của cuộc tấn công Việt Nam sẽ tương đối nhỏ, vì Việt Nam đã từng có ý đồ thiết lập bá chủ khu vực, việc này đã làm cho các nước láng giềng có tinh thần cảnh giác, việc làm suy yếu lực lượng quân sự của Việt Nam cũng là điều tốt cho các nước ASEAN.

6. Tình hình quốc tế gần đây có lợi cho việc giải quyết vấn đề Nam Sa. Quan hệ Trung – Mỹ ; Trung – Nga đang ở thời kỳ tốt nhất, không phải vì thế mà dẫn đến sự đối đầu về quân sự giữa các nước lớn. Quân đội Mỹ đang sa lầy vào chiến trường Afganistan, Iraq và vẫn phải chuẩn bị ứng phó với chiến tranh có thể xảy ra với Iran, chưa rảnh tay để quan tâm tới chiến sự Nam Sa. Hơn nữa tranh chấp đảo giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, tranh chấp giữa Campuchia và Thái lan đều sẽ làm phân tán sự chú ý của cộng đồng quốc tế.

7. Quần đảo Nam Sa là một vị trí chiến lược không thể thiếu của Trung Quốc trên trận tuyến kéo dài từ Trung Đông đến Viễn Đông, tuy eo biển Malacca là con đường yết hầu nhưng quần đảo Nam Sa không phải là không có vị trí chiến lược. Có được Nam Sa sẽ uy hiếp được Malacca, yểm trợ các đường ống dẫn dầu, Nam Sa là một trong những vùng hiểm yếu, Trung Quốc quyết không ngần ngại chiến đấu để thu hồi Nam Sa.

8. Lấy chiến tranh để luyện tập quân đội, lấy việc thực hiện chiến tranh để kiểm nghiệm và nâng cao năng lực chiến đấu của quân ta, tình hình phát triển của hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể đảm bảo để hai bên bờ sẽ không xảy ra chiến tranh trong tương lai gần, giải quyết triệt để vấn đề Nam Hải, trong khi thực hiện chiến tranh trên biển phải khảo sát những thiếu sót của hải quân, không quân của Trung Quốc để kịp thời nhận diện những khiếm khuyết, cải thiện, nâng cấp, nhằm phát triển càng nhanh càng tốt lực lượng hải quân không quân của ta, để chứng tỏ rằng quân đội ta là lực lượng quân đội theo mô hình mới, có kinh nghiệm chiến đấu hiện đại, chuẩn bị sẵn sàng cho chiến sự Đài Loan – Hải Nam hoặc để đối phó với những thách thức khác có thể phát sinh. Lực lượng hải quân, không quân của Việt Nam không thể xem là quá mạnh cũng không thể xem là quá yếu, chúng phù hợp với việc luyện tập quân đội của ta.

9. Việc thiết lập hợp tác quân đội với Đài Loan có thể còn nhiều khó khăn, sự bất đồng giữa hai bờ Đài Loan – Hải Nam có thể tồn tại, nhưng việc thu hồi Nam Sa thì hai bên lại có chung một lập trường. Mặc dù không thể mời quân đội Đài Loan cùng tham chiến, nhưng trước và sau trận chiến đều cùng nhau tiến hành các hoạt động như : cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị bảo trì, nhân viên xử lý, máy bay, tàu chiến do nhu cầu cần thiết hạ cánh hoặc cập bến trong chiến tranh, chắc chắn rằng sự phối hợp hai quân đội sẽ góp phần vào đoàn kết, thống nhất quốc gia.

10. Việt Nam là bọn tham lam, kiêu ngạo, vô lễ, tuyệt đối không thể thông qua đàm phán để chiếm lại quần đảo Nam Sa, không chiến đấu thì không thể thu hồi lại biên cương quốc thổ. Như vậy, cuộc chiến Nam Sa là không thể tránh khỏi, đánh muộn không bằng đánh sớm, bị động ứng phó không bằng chủ động tấn công.

Vẫn còn rất nhiều lý do nhưng không tiện để nêu ra cụ thể từng lý do được.

Mặc dù nói chúng ta đánh Việt Nam như đánh bạc nhưng việc thu hồi Nam Sa quả thực không phải chuyện nhỏ. Hải quân và không quân Việt Nam cũng đang dần hiện đại hóa cho nên ta quyết không đánh giá thấp đối phương, bắt buộc phải làm tốt công tác chuẩn bị, không đánh thì thôi, đã đánh là phải thắng nhanh. Trong khi bàn việc lấy lại Nam Sa vấn đề không phải là xét xem có thể thành công hay không mà phải xét xem thắng lợi có triệt để hay không, những tổn thất, rủi ro có phải là nhỏ nhất hay không và kết quả cuối cùng có phải là tốt đẹp nhất không… Vì thế cần phải xác định 4 mục tiêu rõ ràng. Đó phải là, xuất một đường quyền đẹp mắt về chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao.

Trên lĩnh vực quân sự, đáng tiếc rằng Việt Nam đã làm những việc gây phản ứng mãnh liệt như xâm chiếm nhiều đảo mới, giam giữ ngư dân và tàu đánh cá Trung Quốc. Ta tuyên bố rằng lãnh thổ lãnh hải nước ta không dễ dàng xâm chiếm, bắt buộc Việt Nam trả lại những đảo đã xâm chiếm, nhanh chóng hoàn thành việc triển khai quân sự tại Nam Hải. Nếu quân đội Việt Nam không chịu thì Trung Quốc sẽ tiến hành tấn công xua đuổi, kẻ nào dám phản kháng ta kiên quyết diệt trừ, nếu tăng viện trợ máy bay tàu chiến cho Việt Nam thì sẽ bắn hạ, bắn chìm hết. Quân đội Việt Nam đã trang bị một số lượng nhất định máy bay, tàu chiến và tên lửa tiên tiến do Nga sản xuất. Quân đội của ta sẽ huy động tiềm lực hải quân, không quân để phong tỏa những căn cứ hải quân, không quân của chúng. Quân đoàn pháo binh thứ hai cần làm tốt việc che giấu những cứ điểm chiến lược hiểm yếu, không quân và chiến hạm cần làm tốt công tác dự báo; cung cấp nhiên liệu cho kế hoạch tấn công lâu dài ở căn cứ phía Nam. Lực lượng trên mặt đất phải luôn luôn sẵn sàng ứng phó với các cuộc tấn công quấy nhiễu của quân đội Việt Nam ở khu vực biên giới bất kỳ lúc nào; phải thực hiện phá hủy các căn cứ hải quân không quân ở miền Bắc. Tóm lại, ta sẽ lấy việc tấn công Việt Nam như là cuộc diễn tập để giải phóng Đài Loan, một khi tình hình đã lan rộng thì sẽ triệt để phá hủy lực lượng hải quân, không quân Việt Nam.

Trên lĩnh vực chính trị, vạch trần việc các nước như Việt Nam xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải nước ta, nhắc lại rằng nước ta muốn duy trì phương châm hòa bình, nhưng chúng ta không thể hòa bình với những kẻ xâm hại đất nước ta. Cho dù xảy ra rồi thì chúng ta không mong nhìn thấy xung đột quân sự. Trung Quốc hy vọng rằng các bên liên quan nên ngồi lại tiến hành đàm phán hòa bình để nhanh chóng kết thúc chiến tranh. Nếu các nước như Việt Nam chịu khuất phục trước sức ép quân sự to lớn của nước ta thì nước ta sẽ không sử dụng biện pháp vũ lực nữa, sẽ mở rộng tiếng nói quốc tế của nước ta.

Trên lĩnh vực ngoại giao, một khi chiến sự xảy ra, cộng đồng thế giới chắc chắn sẽ đưa ra bốn chữ “phê phán, phản đối”. Chúng ta cần nhanh chóng tranh thủ sự thông cảm của Mỹ, Nga, Liên minh Châu Âu, nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạt động ngoại giao là nắm được mục tiêu của các nước ASEAN, cố gắng bình tĩnh trước sự phẫn nộ và hoảng hốt của họ, khiến họ tin tưởng rằng Trung Quốc vô cùng coi trọng quan hệ với ASEAN, tuyệt đối không làm tổn hại đến lợi ích của các quốc gia ASEAN ngoại trừ Việt Nam, Trung Quốc sẽ làm cho mức độ phản ứng của họ giảm xuống mức tối thiểu.

Trên lĩnh vực kinh tế, để chung sống hòa bình cần thực hiên chiến lược “Dùng đất đai đổi lấy hòa bình”. Để hòa bình phát triển thì cần thực hiện chiến lược “Dùng tiền bạc đổi lấy đất đai”. Đối với quần đảo Nam Sa thì lại phải thực hiện phương châm “chủ quyền thuộc tôi, cùng nhau phát triển, thỏa hiệp hòa bình, chia sẻ lợi ích” thiết lập một số khu vực cùng phát triển ở giáp giới các nước ASEAN gần quần đảo Nam Sa. Lấy nước ta làm chủ, lần lượt cùng hợp tác phát triển với Philippin, Malaysia, Bruney... giúp các đối tác cùng có lợi. Mục đích của các nước này muốn chiếm đảo là vì muốn đạt được lợi nhuận dầu mỏ, giúp cho họ kiếm được tiền mà họ muốn, làm cho nó dễ dàng đồng ý chủ quyền Trung Quốc. Nếu Việt Nam đồng ý với chính sách này thì có thể cũng nhận được một phần nào đó.

Với ý đồ lấy phương thức hòa bình để giải quyết tranh chấp Nam Sa thì kết quả cuối cùng Nam Sa quần đảo ắt bị chia cắt. Tất cả những đảo bị chiếm giữ là do ban đầu lực lượng quân đội của nước ta không đủ, khi có đủ năng lực thì không cần phải do dự mà không quyết định, việc sử dụng vũ lực chắc chắn sẽ dẫn đến có sự phản đối. Cùng năm đó, Anh ra sức tranh đoạt đảo Falklands cũng đã bị lên án chỉ trích nhiều, nhưng khi đảo Falklands đã nằm trong tay nước Anh, ai đã có thể làm gì họ. Nếu Việt Nam nguyện làm đầu têu thì phải đánh cho chúng không kịp trở tay.

Hãy giết chết bọn giặc Việt Nam để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa. @@@

Gs. Vũ Cao Đàm dịch

theo Nguyên bản tiếng Trung Quốc trên Điện báo “Trung Quốc Binh khí Đại toàn”

http://www.cnweapon .com/html/ news/2010- 01/news14304. html


BẢN TUYÊN CÁO ĐẶC BIỆT DO GIỚI NHÂN SĨ TRÍ THỨC KHỞI XƯỚNG

 http://xuandienhannom.blogspot.com/2011/06/ban-tuyen-cao-ac-biet-cua-gioi-nhan-si.html

                                                                                                    Nếu chư vị đồng ý ký tên, xin ký tại địa chỉ: tuyencao2506@gmail.com

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
--- o0o ---

TUYÊN CÁO

VỀ VIỆC NHÀ CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC LIÊN TỤC CÓ NHỮNG HÀNH ĐỘNG GÂY HẤN,
XÂM PHẠM NGHIÊM TRỌNG CHỦ QUYỀN VÀ TOÀN VẸN LÃNH THỔ VIỆT NAM TRÊN BIỂN ĐÔNG


Chúng tôi, những người đồng ký tên dưới đây

Nhận định rằng :
    
1. Trong quá trình lịch sử, Trung Quốc đã nhiều lần tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam. Năm 1974 chiếm Hòang Sa, năm 1979 xua quân đánh 9 tỉnh biên giới phía Bắc, tiếp sức cho bọn diệt chủng Pôn Pốt đánh vào các tỉnh Tây Nam Việt Nam, năm 1988 đánh chiếm đảo Đá chữ thập thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, cho đến nay mưu đồ lấn chiếm ngày càng tiếp diễn thô bạo hơn.

2.  Mặc dù năm 1991, Việt Nam Trung Quốc đã ký Hiệp định Hòa Bình, tuyên bố láng giềng hữu nghị nhưng nhà cầm quyền Trung Quốc vẫn tiếp tục ngang ngược cho tàu ngăn cản, bắn giết ngư dân Việt Nam trong cuộc mưu sinh trên vùng biển của mình; bắt tàu đánh cá,  phạt vạ, trấn lột, cướp bóc tài sản của ngư dân Việt Nam. Ngày 26 tháng 5 năm 2011, tàu hải giám Trung Quốc xông vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tấn công, cắt cáp thăm dò dầu khí của tàu Bình Minh, tiếp đến ngày 9 tháng 6 năm 2011, tàu Trung Quốc lại hung hãn xông vào cắt cáp tàu Viking đang hoạt động trong vùng  đặc quyền kinh tế của Việt Nam, với ý đồ xấu xa là biến vùng đặc quyền kinh tế,vùng biển của Việt Nam thành vùng đang tranh chấp để thưc hiện cái gọi là gác bỏ tranh chấp để cùng nhau khai thác với ưu thế vượt trội của Trung Quốc; áp đặt thô bạo đường lưỡi bò 9 đoạn trên Biển Đông mà không có cơ sở lịch sử, pháp lý nào. Việc làm này đã ngăn cản tự do hàng hải, đang bị các nước lên tiếng phản đối. Các hành vi nêu trên của Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng Luật Biển và Công ước về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 của Liên Hiệp Quốc mà Trung Quốc là thành viên Thường Trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, vi phạm tuyên bố về ứng xử trên Biển Đông (DOC) mà Trung Quốc và ASEAN đã ký năm 2002.

3.  Mới đây Trung Quốc lại điều tàu chiến Hải tuần 31 qua Biển Đông, tổ chức tập trận để đe dọa Việt Nam, Philippines và các nước khác ở Đông Nam Á. Những hành động ngang ngược, phô trương lực lượng này đã tạo nên không khí căng thẳng, phá hoại hòa bình, ổn định và an ninh trong toàn khu vực Châu Á Thái Bình Dương và trên toàn thế giới, ngăn cản công cuộc xây dựng hòa bình của các nước trong khu vực Đông Nam Á - Thái Bình Dương, trong đó có ASEAN và Việt Nam. Các hành vi nêu trên của Trung Quốc là trái ngược hoàn toàn với những gì mà Trung Quốc đã tuyên bố với thế giới và với xu thế phát triển hòa bình, tiến bộ của thời đại.

4.  Những lời tuyên bố của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngày 08/06/2011 tại Nha Trang: “Tiếp tục khẳng định mạnh mẽ và thể hiện ý chí quyết tâm cao nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong việc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển và hải đảo của Tổ Quốc”, đã đáp ứng nguyện vọng chính đáng của nhân dân Việt Nam.
Chúng tôi long trọng tuyên bố:

1.Cực lực lên án và tố cáo trước dư luận trong và ngoài nước: Nhà cầm quyền Trung Quốc liên tục có những hành động gây hấn nhằm xâm chiếm Biển Đông với tuyên bố chủ quyền đường lưỡi bò 9 đoạn và Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam; bắt bớ cướp bóc, phá hoại tàu bè của ngư dân Việt Nam; cắt cáp tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam với ý đồ biến vùng đặc quyền kinh tế, vùng biển của Việt Nam thành vùng tranh chấp để Trung Quốc hưởng lợi; diễn tập quân sự, điều tàu chiến lớn đến Biển Đông, đe dọa hòa bình an ninh trong khu vực.

2. Chúng tôi ủng hộ những phát biểu mạnh mẽ, hợp lòng dân của những nhà lãnh đạo cao nhất của nhà nước Việt Nam và rất mong các nhà lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị và xã hội, các ban ngành đoàn thể Việt Nam nhanh chóng có những biện pháp tích cực và hữu hiệu hơn nữa nhằm bảo vệ ngư dân, bảo vệ các tàu thăm dò dầu khí. Chúng ta yêu chuộng hòa bình, nhưng  kiên quyết không để một tấc đất, một vùng biển, đảo nào lọt vào tay bất cứ một nước ngoài nào như Chủ tịch Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Nguyễn Minh Triết nhiều lần phát biểu khẳng định.  

3. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân. Vì vậy bên cạnh biện pháp chính trị, quân sự và ngoại giao, biện pháp đấu tranh hiệu quả nhất vẫn là phải dựa vào sức mạnh của toàn dân tộc, của tất cả mọi người Việt Nam yêu nước ở trong nước cũng như ở ngoài nước nhằm chống lại những hành động ngang ngược gây hấn, xăm lấn của nhà cầm quyền Trung Quốc, bảo vệ nền độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam mà bao đời ông cha đã gầy dựng, gìn giữ.

4. Chúng tôi nghĩ rằng không vì lý do gì ngăn chặn những hành động yêu nước của nhân dân bao gồm các cuộc biểu tình, mít tinh ôn hòa, trật tự của thanh niên, sinh viên học sinh và đồng bào Việt Nam trên toàn quốc.

Trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước, nối tiếp biết bao thế hệ cha ông chúng ta đã khắc sâu lời thề: “Quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh”.  

Dựa vào sức mạnh của nhân dân là chính, nhất định chúng ta sẽ chiến thắng. Chính nhờ vậy mà Tổ quốc Việt Nam chúng ta đã trường tồn và độc lập đến ngày hôm nay.
Làm tại TP.HCM, ngày 25 tháng 06 năm 2011
Đồng ký tên

                                                                                               ..
01
Ô.NGUYỄN ĐÌNH ĐẦU
-     Nhà nghiên cứu sử địa học, chuyên gia về Biển Đông


02
Ô. NGUYỄN TRỌNG VĨNH
-         Thiếu tướng, lão thành Cách Mạng
-         Nguyên ủy viên Trung Ương Đảng Khóa 3
-         Nguyên Đại Sứ Đặc Mệnh Toàn Quyền Việt Nam tại Trung Quốc



03
Ô. NGUYỄN HUỆ CHI
-     Giáo sư Văn học, người sáng lập trang mạng Bauxite
      Việt Nam



04
Ô. NGUYỄN QUANG A
-         Tiến sĩ



05
Ô. PHẠM TOÀN
-         Nhà giáo, người sáng lập trang mạng  Bauxite Việt Nam

06
Ô. CHU HẢO
-         Giáo sư Tiến sĩ  Nguyên Thứ Trưởng
      Bộ Khoa Học Công Nghệ

07
Ô. NGUYỄN KHẮC MAI
-         Nguyên vụ trưởng Ban Dân Vận Trung Ương
-         Gíam Đốc Trung Tâm Minh Triết

08
Ô. PHAN ĐÌNH DIỆU
-         Giáo sư Tiến sĩ
-         Ủy viên Đoàn Chủ Tịch ủy ban Trung ương MTTQ VN

09
Bà TRẦN THỊ BĂNG THANH
-         Phó GSTS , Viện Văn học Việt Nam

10
Ô. NGUYÊN NGỌC
-         Nhà văn
-         Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Đại Học Phan Chu Trinh – tỉnh Quảng Nam

11
Ô. HỒ NGỌC NHUẬN
-         Nhà báo
-         Nguyên Gíam Đốc chính trị nhật báo Tin Sáng
-         Uỷ viên TW Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam
-         Phó chủ tịch Ủy Ban Mặt Trận Tổ Quốc TP.HCM

12
Ô. LỮ PHƯƠNG
-         Viết văn
-         Nguyên thứ trưởng Bộ Văn Hóa Thông Tin Chính Phủ CM Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam VN

13
Ô. NGUYỄN XUÂN DIỆN
-         Tiến sĩ, Phó GĐ Thư viện Viện Nghiên cứu  Hán Nôm VN
14
Ni sư trưởng NGOẠT LIÊN
-         Trụ trì tịnh xá Ngọc Phương
-         Ủy viên Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo VN
-         Ủy viên Trung ương Mặt Trận Tổ Quốc VN

15
Ô. HUỲNH TẤN MẪM
-         Bác sĩ  Đại biểu Quốc Hội Khóa 6
-         Nguyên chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên SG trước 1975

16
     
Ô. TRẦN QUỐC THUẬN
-          Luật sư , Phó Ban Thường Trực Ban Liên Lạc Tù Chính Trị Việt Nam
-         Nguyên Phó chủ nhiệm thường trực văn phòng Quốc Hội Việt Nam .

17

18
Ô. TƯƠNG LAI

Ô. LÊ HIẾU ĐẰNG
-         Gíao sư, Email: tnglai@gmail.com, DĐ: 0918739367

-         Nguyên phó Tổng Thư Ký Uỷ Ban TW Liên Minh các lực lượng dân tộc, dân chủ & hòa bình Việt Nam
-          Nguyên phó chủ tịch UB MTTQ TP.HCM
-         Đại biểu HĐND TP.HCM khóa 4&5

19
Ô. LÊ CÔNG GIÀU
-         Cựu tù chính trị trước 1975
-         Nguyên Phó Bí Thư thường trực Thành Đoàn TP.HCM
-         Nguyên GĐ Trung Tâm Xúc Tiến Thương Mại & Đầu tư TP.HCM.
-         Nguyên Phó Tổng GĐ Saigontourist

20
Ô. ANDRÉ MENRAS- HỒ CƯƠNG QUYẾT

-         Cựu tù chính trị tại Việt Nam trước 1975
-         Nhà giáo về hưu

21
Ô. PHẠM VĂN ĐỈNH
-         Tiến sĩ quốc gia Pháp, chuyên ngành Vật Lí Khí Quyển
-         Chủ tịch hội văn hóa Trịnh Công Sơn
-         Thành viên hội đồng quản trị hội “Maison Vietnam” – Pháp

22
Ô. HÀ DƯƠNG TƯỜNG
-         Nguyên giáo sư Đại học Công nghệ Compiègne (UTC, France)



23
Ô. NGUYỄN NGỌC GIAO
-    Tiến sĩ Nguyên Giáo sư Đai học Paris 7

24
Ô. HÀ SỸ PHU
-    Tiến sĩ Sinh Học ( Đà Lạt )

25
Ô. TRẦN VĂN LONG
-    Cựu tù Côn Đảo trước 1975,
-    Nguyên Phó Bí thư Thành Đoàn Tp.HCM
-    Nguyên Tổng thư kí UB Vận động cải thiện chế độ lao tù                    -    MNVN  (trước 1975), Nguyên phó Tổng GĐ Saigontourist

26
Ô. NGÔ ĐỨC THỌ
-    Phó GS TS ( Hà Nội ), nguyên cán bộ Viện Hán Nôm

27
Ô. HUỲNH NHẬT HẢI
-    Nguyên Phó Chủ tịch UBND Thành Phố Đà Lạt

28
Ô. HUỲNH NHẬT TẤN
-         Nguyên giám đốc Trường Đảng Tỉnh Lâm Đồng



29

30
Ô. BÙI MINH QUỐC

Ô. TIÊU DAO BẢO CỰ
-         Nhà thơ, Nguyên chủ tịch Hội Văn Nghệ Lâm Đồng

-         Nhà văn tự do ( Đà Lạt )

31
Ô. MAI THÁI LĨNH
-         Nguyên phó chủ tịch HĐND Thành phố Đà Lạt

32
Ô. NGUYỄN QUANG NHÀN
-         Cán bộ công đoàn Đà Lạt ( đã nghỉ hưu )

33
Bà TRẦN THỊ THANH BIÊN
-         Nhà giáo ( đã nghỉ hưu )

34
Ô. KHA LƯƠNG NGÃI
-         Nguyên Phó Tổng Biên Tập báo Sài Gòn Gỉai Phóng thuộc Thành Uỷ TP.HCM

35

Ô. HỒ TỊNH TÌNH
( HỒ THANH)
-         Nguyên hiệu trưởng trường Phát Thanh Truyền Hình TW 2



36
Ô. HUỲNH KIM BÁU
-         Nguyên Tổng Thư Ký Hội Trí Thức Yêu Nước TP.HCM (nay là  Liên Hiệp các hội Khoa Học Kỹ Thuật TP.HCM )
37
Luật sư TRỊNH ĐÌNH BAN
-         Nguyên Chủ Tịch Phong Trào Tự Trị Đại Học Miền Nam Việt Nam
-         Nguyên thành viên Tổ Tư Vấn Chính Phủ nước CHXH Chủ Nghĩa Việt Nam
-         Nguyên phó chủ tịch Hội Luật Gia TP.HCM
-         Nguyên Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân TPHCM Khóa 3

38
Ô.NGUYỄN XUÂN LẬP



-         Nguyên chủ tịch đoàn sinh viên Phật Tử Sài Gòn
-         Nguyên Gíam Đốc Cty Dược TP.HCM ( SAPHARCO)
-         Nguyên chủ tịch Hội Dược Học TP.HCM

39
Ni sư TUẤN LIÊN
-         Phong trào đấu tranh trước 1975

40
Ni sư trưởng LIÊN HÀN LIÊN
-         Phong trào đấu tranh trước 1975

41
Thích nữ TÍN LIÊN
-         Uỷ viên TW Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam

42
Ni sư THÍCH NỮ MINH LIÊN
-         Uỷ viên Uỷ Ban Mặt Trận Tổ Quốc , quận Gò Vấp

43
Ni sư Thích nữ LỆ LIÊN
-         Phong trào đấu tranh trước 1975

44
Thích nữ HÒA LIÊN
-         Uỷ viên Hội Liên Hiệp Phụ Nữ , quận Gò Vấp

45
Thích nữ VIÊN LIÊN
-         Tịnh xá Ngọc Phương

46
Ô.HẠ ĐÌNH NGUYÊN
-         Nguyên Chủ Tịch Uỷ Ban Đấu Tranh thuộc Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn ( trước 1975)

47
Ô.PHAN LONG CÔN
-         Nguyên Tổng Thư Ký Tổng Hội Sinh Viên Liên Viện Miền Nam VN (1967)
-         Nguyên Chủ tịch Liên Hiệp Các Tổ Chức Hữu Nghị Phú Yên

48
Bà VÕ THỊ BẠCH TUYẾT
-         Nguyên Gíam Đốc Sở Lao Động Thương Binh Xã Hội TP.HCM

49
Ô. NGUYỄN TRỌNG TẠO
-         Nhà thơ, nhạc sĩ

50
Ô. TRẦN NHƯƠNG
-         Nhà thơ, nhạc sĩ

51
Ô. LÝ TRỰC DŨNG
-         Họa sĩ

52

Ô. TRỊNH QUANG VŨ

-         Họa sĩ

53
Ô. MAI THANH HẢI
-         Blogger

54
Ô. HÀ THÚC HUY
-         Tiến sĩ Hóa học Đại học KHTN

55
Ô. PHẠM QUỐC VỸ
-         Bác sĩ, Nguyên ban đại diện SV Y Khoa Sài Gòn.
-         Nguyên trưởng phòng y tế LLTNXP

56
Ô. PHAN THANH HUÂN
-         Luật sư

57
Ô. THÁI VĨNH TRINH
-         Cựu tù Côn Đảo

58
Ô. VƯƠNG ĐÌNH CHỮ
-         CLB Phaolo NGUYỄN VĂN BÌNH

59
Ô. ĐÌNH VƯỢNG
-         CLB Phaolo NGUYỄN VĂN BÌNH

60
Ô. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG
-         Thanh niên Hà Nội

61
Bà HUỲNH THỊ KIM TUYẾN
-         Nguyên Phó Tổng Thư Ký Hội Nhà Gíao Yêu Nước TP.HCM
-         Nguyên Cán Bộ Ban Dân Vận Thành Uỷ

62
Ô. ĐẶNG NGỌC LỆ
-          Phó giáo sư tiến sĩ , Chủ Tịch Hội Ngôn Ngữ Học TPHCM
-         Trưởng Khoa Đông Phương Học – Trường Đại Học Văn Hiến

63
Ô. HUỲNH SƠN PHƯỚC
-         Nguyên Phó Tổng Biên Tập Báo TUỔI TRẺ TP.HCM

64
Ô. NGUYỄN QUỐC THÁI
-         Nhà Báo Nguyên Tổng Thư Kí báo Công Nghiệp

65
Ô. TRẦN MINH ĐỨC
-         Nguyên Phó Tổng Biên Tập Báo Tuổi Trẻ TP.HCM
-         Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị CTY CỔ PHẦN THẾ KỈ 21

66
Ô. CAO LẬP
-         Cựu tù Chính trị Côn Đảo trước 1975
-          Nguyên Gíam Đốc Làng Du Lịch Bình Quới – Saigontourist

67
Ô. BÙI TIẾN AN
-         Huynh trưởng hướng đạo
-         Cựu tù Chính trị Côn Đảo trước 1975

68
Ô. NGUYỄN TUẤN KIỆT
-         Nhạc sĩ
-         Cựu tù Chính trị Côn Đảo trước 1975

69
Ô. ĐỖ TRUNG QUÂN
-         Nhà thơ

70
    
Ô. NGUYÊN HẠO
-         Họa sĩ

71

Ô. VŨ QUANG HÙNG
-         Cựu tù Chính trị Côn Đảo trước 1975
-         Nguyên Phó Tổng Biên Tập Báo Công An TPHCM

72
Ô. ĐỖ HỮU BÚT
-         Nguyên trưởng Ban Tuyên Huấn Đảng Uỷ Sinh Viên Sài gòn Gia Định
-         Cựu sinh viên phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh Sài Gòn Gia Định

73
Ô. TRẦN HƯNG ĐOÀN
-         Nguyên Tổng Gíam Đốc cty SAVIMEX

74
Bà TRẦN THỊ KHÁNH
-         Biên tập viên nhà xuất bản Trẻ TP.HCM



75
Ô. NGUYỄN TẤN Á
-         Nguyên quyền trưởng ty điện lực Phú Yên (trước 1975)
-         Nguyên Tổng Thư Kí Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn 1964

76
Bà HUỲNH QUANG THƯ
-         Nguyên Tổng Thư Kí Tổng Hội Sinh Viên Sài Gòn 1968

77
Ô. THIỀU HOÀNH CHÍ
-         Bác sĩ

78
Ô. HUỲNH NGỌC CƯƠNG
-         Dược sĩ
-         Gíam đốc công ty Dược Phú Thọ

79
Bà TRƯƠNG HỒNG LIÊN
-         Nguyên cán bộ Thành Đoàn TP.HCM

80
Bà  HUỲNH MINH NGUYỆT
-         Cựu sinh viên phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh Sài Gòn Gia Định

81
Bà NGUYỄN THỊ XUÂN DUNG
-         Cựu sinh viên phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh Sài Gòn Gia Định

82
Bà TẠ THỊ TƯƠI
-         Cựu sinh viên phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh
      Sài Gòn Gia Định
83
Bà NGUYỄN THỊ TRUYỀN
-         Cựu sinh viên phong trào đấu tranh của sinh viên học sinh
     Sài Gòn Gia Định

84
Ô. HỒ HIẾU
-         Nguyên chánh Văn phòng ban Dân vận Thành Ùy TP.HCM

85
Ô. LÊ THÂN 
-         Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, Cựu tù Côn đảo trước 1975
86
Ô. HOÀNG TIẾN CƯỜNG
-         Hà Nội

87

Bà CAO THỊ VŨ HƯƠNG

-        Hà Nội

88

Ô. NGUYỄN QUANG THẠCH

-         Sáng lập Tủ sách dòng họ ở nông thôn

89

Ô. LÊ TUẤN ANH

-         Hà Nội

90

Bà ĐẶNG BÍCH PHƯƠNG

-         Hà Nội

91

Bà TRẦN THANH VÂN

-         KTS Cảnh quan, Hà Nội

92

Ô. PHẠM VIỆT CƯỜNG

-         Hà Nội

93

Ô. ĐỖ MINH TUẤN

-         Nhà thơ, Đạo diễn, Hà Nội

94

Ô. PHAN HỒNG GIANG

-    Tiến sĩ khoa học, nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam

95

Bà NGUYỄN THỊ HỒNG NGÁT

-         Nhà thơ, nhà biên kịch điện ảnh, nguyên Phó Cục trưởng Cục Điện ảnh, hiện là Phó Chủ tịch thường trực Hội Điện ảnh Việt Nam

TRÍ THỨC VÀ NHÀ BÁO ĐỨNG TRƯỚC VẬN MỆNH CỦA ĐẤT NƯỚC

Tô Văn Trường

Đất nước  đang đứng trước những thử thách cam go: lạm phát, giá cả tăng cao, chủ quyền biển đảo bị xâm phạm nghiêm trọng. Có lẽ chưa bao giờ vai trò của trí  thức và nhà báo lại được nhắc đến nhiều như bây giờ và thực sự giới trí thức và nhà báo Việt Nam đã và đang cố gắng thể hiện lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm của mình trước vận mệnh của đất nước.

Nhìn chung, nhân dân ta chưa được tiếp cận đầy đủ với các nguồn thông tin để  đánh giá phân tích có được thái độ rõ ràng, do đó vai trò trách nhiệm của người trí thức và  nhà báo càng nặng nề hơn vì họ có học vấn và điều kiện tiếp cận với thông tin trên toàn cầu và những vấn đề thời sự nóng hổi của đất nước. Trí thức và nhà báo phải làm gương đi đầu trong việc yêu nước, đoàn kết, rèn luyện kỹ năng để góp phần đắc lực trong việc kiến giải các vấn đề của đất nước.

Thanh niên Hà Nội biểu tình chống TQ sáng 12.6.2011, Ảnh: MK

Nổi cộm nhất hiện nay là mối quan hệ với nước Trung Quốc khổng lồ đã có rất nhiều điều phải nghĩ, phải nói như mưu mô hành động ở biển Đông, dọc tuyến biên giới  đường bộ 1500 km, khai thác tài nguyên nước sông Hồng, sông Mekong, nhà thầu Trung Quốc ồ ạt vào Việt Nam, tràn ngập hàng hóa, công nghệ thấp, thuê đất rừng 50 năm, thọc sâu, chia rẽ tác động đến chủ trương chính sách và nhân sự của Việt Nam vv…

Trí thức và nhà báo cần phải phân tích vạch trần thủ đoạn về biển Đông âm mưu và hành động nguy hiểm nhất, ngang ngược nhất, trái thực tế, lẽ phải và pháp lý nhất, xâm phạm đến lợi ích của nhiều quốc gia dân tộc nhất, đồng thời thiết cốt nhất đối với thủ phạm, và vì thế là chỗ yếu kém nhất của thủ phạm, đó là cái lưỡi bò, chứ không phải sự giành giật chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.  Ba lần biểu tình, tuần hành của dân ta ngày 5 tháng 6, ngày 12 tháng 6, ngày 19 tháng 6 vừa qua đều là tự nguyện, thể hiện lòng yêu nước của người dân, đó là hồng phúc của đất nước.  Tuy nhiên,  chúng ta chưa thật tập trung vào lưỡi bò, còn nêu nhiều quá những khẩu hiệu đòi toàn bộ chủ quyển hai quần đảo. Khi tôi đang viết đến đây, nhận được thông tin và hình ảnh hàng trăm đồng bào ta ở Paris (Pháp) tham gia biểu tình, phát truyền đơn, gửi thư đến đại sứ Trung Quốc ở Pháp để chuyển về cho chính phủ Trung Quốc nói rõ 2 dân tộc Việt Nam và Trung Quốc đều mong ước hòa bình và tố cáo các hành động gây hấn có tính bành trướng của Trung Quốc ở biển Đông. Tham gia biểu tình còn có trẻ em, từ em bé còn nằm nôi cho tới những em lớn hơn cầm cờ cùng đoàn người biểu tình,  gợi nhớ lại hình ảnh truyền thống  bất khuất của dân tộc Việt Nam nếu “giặc đến nhà, đàn bà và trẻ em cũng đánh”!

Vừa qua, trên BBC có 2 bài báo đặc biệt của GS Minxin Pei gây ra ngộ nhận cho công chúng chưa có điều kiện tìm hiểu về luật quốc tế và luật biển. Rất tiếc phía chúng ta  cũng chưa có bài báo nào phản hồi về vấn đề này. Theo chúng tôi hiểu cách đơn giản tại biển Đông có hai loại tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và tranh chấp phân định biên. Thông thường khi chủ quyền đã xác định đảo nào thuộc ai thì sẽ mới bàn đến vấn đề phân định biên theo công ước luật biển quốc tế  1982. Việc xác định  chủ quyền và phân định biển là theo nguyên  tắc và án lệ của luật quốc tế chứ không phải Công ước luật biển. Lâu nay,  rất nhiều người phát biểu còn lẫn lộn về khái niệm nêu trên, nhất là giới báo chí, làm cho công chúng hiểu lầm.

Nếu không có hai quần đảo thì áp dụng Công ước Luật biển, Philippines, Malaysia  và Brunei có quyền yêu sách 200 hải lý quy chế vùng  đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa. Vùng yêu sách này sẽ  chồng lấn lên một phần vùng biển Spratlys bây giờ, gồm cả đảo mà Trung Quốc yêu sách và nếu không có đảo  thì Trung Quốc và Việt Nam không có tư cách pháp lý để đòi chủ quyền ở khu vực quá xa đất liền của mình như vậy. Tuy nhiên, Trung Quốc yêu sách đảo chỉ vì những đảo này nằm trong yêu sách biển nằm trong đường chữ U của họ. Đây là điều không có tiền lệ và không được Công ước Luật biển công nhận.  Yêu sách này của Trung Quốc đã xâm phạm vào quy chế vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Philippines và các nước khác.  Một số nước ở Đông Nam Á cho rằng  Việt Nam cũng yêu sách toàn bộ các đảo ở Trường Sa cũng đưa đến sự kiện chồng lấn vào vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Về phía Việt Nam cần tiếp tục củng cố bằng chứng pháp lý-lịch sử làm rõ quan điểm của mình chiếm hữu hai quần đảo từ lâu đời. Trung Quốc cũng dựa vào danh nghĩa lịch sử. Còn Philippines  bị giới hạn trong phạm vi Hiệp ước 1898 Mỹ-Phi, không bao gồm quần đảo Trường Sa. Brunei thì vùng chồng lấn quá nhỏ. Do vấn đề chủ quyền chưa được giải quyết nên các bên đều tìm mọi cách mở rộng vùng yêu sách của mình. Philippines  từ thuyết kế cận địa lý và an ninh còn Malaysia cho rằng họ có thềm lục địa và một vài đảo thuộc Trường Sa nằm trên thềm lục địa từ bờ biển của họ nên thuộc về họ. Việt Nam và Trung Quốc đều đòi hỏi các đảo thuộc Trường Sa có vùng  đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng. Xin lưu ý, theo Công ước Luật biển, các đảo đá không thích hợp cho con người đến ở hoặc không đời sống kinh tế riêng sẽ không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, cho hầu hết nếu không nói là tất cả các đảo ở Trường Sa đều không được hưởng quyền có EEZ. Vả lại, nếu có, tỷ lệ được chủ quyền sẽ nhỏ hơn so với vùng đất liền của các nước ở kế cận theo như án lệ của Tòa án Công lý quốc tế.

Chính vấn đề đường lưỡi bò của Trung Quốc  mới thực sự phi lý, thâm hiểm, mục đích chiếm toàn bộ biển Đông , nhốt nước ta và một số nước Đông Nam Á vào một cái rọ. Bởi thế, Việt Nam cần chủ động, khôn ngoan xây dựng chiến lược và sách lược phù hợp, phối hợp chặt chẽ với các nước Đông Nam Á có cùng chung trách nhiệm và quyền lợi đấu tranh một cách bài bản, hiệu quả với Trung Quốc cả trước mắt lẫn lâu dài.  

Đến nay, chúng ta đã tìm thấy bằng chứng rằng cách đây 30 năm, Trung Quốc  đã âm thầm và có âm mưu chiếm biển Đông, đưa ra cả yêu sách "Đường đứt đoạn 9 khúc" vào các bài báo khoa học, có nghĩa là họ đã đi trước nhiều bước hơn chúng ta tưởng. Qua các bài báo xuất bản ra thế giới chúng ta thấy rằng các tác giả Trung Quốc đã sử dụng bản đồ nước họ với đường lưỡi bò vô lý, ngay cả khi tính minh họa cho nghiên cứu không liên quan, ví dụ như khu vực nghiên cứu chỉ là các thành phố lục địa. Nhiều  nhà khoa học Trung Quốc đã lập bản đồ quốc gia với "đường lưỡi bò" chiếm hầu hết biển Đông và công bố trên các tạp chí quốc tế từ cách đây 30 năm. Mặc dù trong các công bố khoa học này, họ chỉ đưa "hình lưỡi bò" một cách  "lập lờ",  không đưa bất cứ chú thích cụ thể  nào về U-line trong bản đồ là đường gì, nhưng ảnh hưởng của nó đến cộng đồng quốc tế  vẫn rất lớn vì  được đăng  trên các các tạp chí khoa học uy tín trên thế giới. Trong khi đó, các bài báo của các nhà khoa học Việt Nam được công bố trên các tạp chí khoa học trên thế giới đã vừa ít, thậm chí lại  vừa sai vì có những bài đăng bản đồ Việt Nam không có các đảo Trường Sa và Hoàng Sa!?

Có ý kiến cho rằng nếu chúng ta cứ ngồi yên, và bị cảm giác cũng như thói quen cũ chi phối, chúng ta sẽ cảm thấy không có đe dọa (hoặc đe dọa quá nhỏ) thì đến một lúc nào đó sẽ vô cùng thiệt thòi, trở tay không kịp, sẽ lại phải chấp nhận những việc mà trước đó nhiều năm chúng ta không thể chấp nhận.  Nhiều người còn nhớ phương Tây có câu chuyện ngụ ngôn “con ếch chịu nóng”. Nếu thả con ếch vào chậu nước sôi thì nó nhảy ra ngay, còn nếu thả nó vào chậu nước lạnh rồi đun nóng  từ từ thì nó sẽ không nhảy ra mà chịu nóng cho đến khi bị luộc chín. Điều đó có nghĩa là sự mất cảnh giác, ngộ nhận, tự  ru ngủ, quen dần với mọi đe dọa thật là nguy hiểm, nó dẫn người ta tới chỗ bị bất ngờ và tất nhiên là thất bại trước sự leo thang của kẻ thù. Có người còn vạch rõ tư duy về biển Đông của Trung Quốc giống như hình ảnh của con cá mập khi đã xác định được con mồi của nó quyết đuổi đến cùng để thỏa mãn cơn đói.

Sau khi nhận được hàng chục phản ứng của các nhà khoa học Việt Nam ở trong và ngoài nước về việc các bài báo của các nhà khoa học Trung Quốc có cả hình “lưỡi bò” phi lý, không theo luật quốc tế, ban biên tập tạp chí khoa học quản lý chất thải ở Ý hứa sẽ cho chỉnh sửa lại trong số xuất  bản sắp đến. Tuy nhiên, có tạp chí khoa học quốc tế  như “Biến đổi khí hậu” cho biết GS  Xuemei Shao Viện hàn lâm khoa học Trung Quốc là tác giả bài báo có hình lưỡi bò  phản hồi là sẽ không chỉnh sửa vì đó là do yêu cầu của chính phủ Trung Quốc!? Qua đó, càng thấy rõ chính phủ Trung Quốc đã yêu cầu các  nhà khoa học Trung Quốc sửa bản đồ, và chèn đường lưỡi bò vào trong bản đồ,  bóp méo sự thật, đánh lừa dư luận thế giới để thực hiện âm mưu chiếm toàn bộ biển Đông.

Về Việt Nam : Trí thức và nhà báo nước ta cần kịp thời thông tin chính xác đến dân ta, kết thành một khối toàn dân tộc, và góp phần trên tinh thần xây dựng để những người đang cầm quyền gắn bó với dân tộc, chung sức, chung lòng cùng với mọi tầng lớp khác trong dân tộc.  Việc làm này đòi hỏi nhiều tâm huyết và bản lĩnh, về nội dung và về cách làm.

Về Trung Quốc : Đừng gộp hoàn toàn thành một cục dân Trung Quốc và nhà cầm quyền Trung Quốc. Nên nói về lợi ích chung chính đáng ( hòa bình, ổn định, hữu nghị, thịnh vượng) của dân Việt Nam và dân Trung Quốc. Nhiều nhà phân tích đã vạch rõ rằng hành động chiếm lưỡi bò là một thất bại nặng, tổn hại đến bước đường phát triển và uy tín quốc tế của Trung Quốc, hại trước mắt và lâu dài cho dân Trung Quốc.

Về quốc tế : Trí thức và nhà báo nước ta cần viết, nói và làm trong quan hệ hợp tác với các nước  ASEAN, và cần kịp thời thông tin chính xác ra thế giới, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ quốc tế sâu rộng đối với dân tộc ta. Chúng ta cần thông tin đầy đủ và rộng rãi hơn tới cộng đồng khoa học Việt Nam cả trong và ngoài nứớc và bạn bè ở các nước, đặc biệt là các nước Đông Nam Á  về việc nhiều Tạp chí khoa học quốc tế đã vô tình đăng  bài của các tác giả Trung Quốc có hình vẽ đường lưỡi bò ở biển Đông. Động viên cộng đồng khoa học Việt Nam gửi ý kiến tới Ban biên tập các Tạp chi khoa học có sai sót yêu cầu sửa chữa, hiệu đính, như  đã làm có kết qủa với Tap chí của Hội  địa lý Hoa Kỳ và  Tạp chí khoa học Quản lý chất thải rắn của Ý.  

Cuộc sống thay đổi từng ngày, thế giới phẳng thay đổi từng giờ, trí thức và nhà báo là những người được học nhiều, biết rộng, biết vượt lên chính mình để không bị rơi vào trường hợp mà Shakespeare đã từng trách khéo: “càng thông minh hiểu biết nhiều càng hèn nhát”!

Thời gian vừa qua, VNN, Tuan VN.Net  và Bee.net VN  kịp thời đưa các thông tin phản ánh về vai trò của cộng đồng trí thức Việt Nam ở trong và ngoài nước đã rất tích cực bám sát, phát hiện, phản ứng nhanh, hiệu quả trước việc một số Tạp chí khoa học quốc tế đưa thông tin sai lệch về vấn đề chủ quyền ở biển Đông.  Trí  thức và nhà báo Việt Nam chắc chắn cũng thấy rõ hơn bao giờ hết sứ mạng cao cả của mình, để tiếp nối ý nguyện của nhà thơ - nhà báo liệt sỹ Lê Anh Xuân là góp phần tạo nên một "Dáng đứng Việt Nam" trường tồn vững chắc bên biển Đông đầy sóng gió. 

*Bài do Tiến sĩ Tô Văn Trường gửi trực tiếp cho Nguyễn Xuân Diện-blog.



NGƯỜI VIỆT NAM CÓ BÀI HOA KHÔNG?

 
Bùi Công Tự

Phải chăng ông Trời phú cho đất nước Việt Nam thiên thời, địa lợi và con người hòa hiếu hơn đất nước Trung Quốc nên hàng triệu người Hoa đã bỏ lại mồ mả tổ tiên để di cư đến Việt Nam mưu cầu đời sống, từ ngàn năm xưa và cả hôm nay ?
Một thập niên qua lượng người Trung Quốc vào Việt Nam càng ngày càng nhiều. Họ đến để kinh doanh hay làm gì gì nữa thì chỉ có họ biết. Một số đông đến theo rất nhiều các dự án của Việt Nam mà các công ty Trung Quốc trúng thầu giá rẻ. Một tỉnh nhỏ như Ninh Bình mà cũng đang có tới 2400 người Trung Quốc làm việc. Các nơi khác như Hải Phòng,  thành phố Hồ Chí Minh thì số người Trung Quốc còn đông gấp bội. Suy ra cả nước con số rất lớn. Nó chiếm mất đáng kể chỗ làm việc của những người Việt Nam đang còn thất nghiệp.
Hôm nay tôi đọc thấy một bạn viết trên blog cá nhân những dòng sau đây:
“Mình cũng lấy làm lạ, sao mà lắm Tàu trên đất nước mình thế ? Có đi từ Bắc vào Nam mới biết. Trên tàu hỏa cũng thấy đông, xuống ga cũng gặp nhiều, qua Thanh Hóa, Vinh và các thành phố khác cũng nhan nhản người Tàu”.
“Ở Việt Nam trông thấy anh nào nhếch nhác, đầu trọc, mắt một mí, thuốc lá rút từng điếu ra mời thì chắc chắc đó là cái anh người Tàu…nhận ra ngay” (Blog Mai Tiến Nghị).
Thành phố Hồ Chí Minh nơi tôi ở có lẽ có nhiều người Trung Quốc hơn các tỉnh thành khác. Có hôm 5h sáng đi thể dục đã gặp một anh “đầu trọc, mắt một mí” ngồi sau xe máy một cô gái từ trong hẻm đi ra. Những người Trung Quốc mới đến thành phố này chủ yêu làm kinh doanh nên trông họ cũng khá lịch sự. Những chuyện tôi nghe kể người Trung Quốc làm tầm bậy tầm bạ thường là ở nơi có những công trình xây lắp hay khai mỏ. Như chuyện ở Thanh Hóa họ kéo bè kéo đảng cả trăm người cầm gậy gộc đang đêm xông vào làng đuổi đánh bà con ta. Cảnh ấy đã có người quay được video phát trên mạng internet.
Vậy chúng ta nên nhìn nhận về những người Trung Quốc đang làm việc ở Việt Nam như  thế nào?
Thực tế đã cho chúng ta bài học lịch sử là những người cầm quyền Bắc Kinh luôn luôn tìm mọi cách kìm hãm sự phát triển của Việt Nam, khi ngấm ngầm, khi công khai phá hoại chúng ta. Họ đang từng bước xâm chiếm biển đông và Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam cũng như đang rục rịch gây hấn ở biên giới phía Bắc. Về lâu dài họ có dã tâm xâm lược cả nước ta. Chính vì thế họ buộc chúng ta phải cảnh giác với mọi người Trung Quốc đang hiện diện trên đất nước này.
Rất có thể cái anh người Tàu đang tợp li café ở bàn bên cạnh chỗ ta ngồi là một tên gián điệp Bắc Kinh? Rất có thể cái cậu “đầu trọc, mắt một mí” đêm qua ngủ trọ nhà cô gái trong hẻm là một tên phá hoại? Rất có thể cái đơn vị sản xuất gồm những nhà quản lý, kỹ sư và công nhân đang xây lắp cho một dự án trúng thầu kia là một đơn vị sư đoàn hoặc trung đoàn quân đội Trung Quốc trá hình?  Và ai biết được họ đang thực hiện âm mưu gì trong những khu đất mênh mông mà họ rào kín bưng nội bất xuất, ngoại bất nhập ?
Vì thế tâm lý nhân dân ta hiện nay là không muốn có người Trung Quốc trên đất nước mình. Đó là sự thật. Vì cảnh giác là chính chứ không phải vì sợ mất chỗ làm việc.
Tuy vậy để khách quan chúng ta cứ đặt ra câu hỏi: Người Việt Nam có bài Hoa không ?
Bảo không ư? Sao các anh chị lại gọi người Trung Quốc là Tàu khựa, Tàu ô, Chú Khách?
Xin thưa đó cũng là sự thật, sự thật của những câu nói đùa.
Sự thật không đùa là người Việt Nam đã thờ Khổng Tử, thờ ông Quan Vân Trường ở những đền miếu tôn nghiêm nhất. Thậm chí một tên tướng giặc như Sầm Nghi Đống cũng được dân ta cho một cái miếu thờ nho nhỏ. Tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay trong khu đô thị Phú Mỹ Hưng có một đại lộ rất đẹp mang tên Tôn Dật Tiên và một trường học mang tên một người Trung Quốc khác.
Sự thật lịch sử là đất nước và nhân dân Việt Nam đã cưu mang hàng triệu người Trung Quốc đến làm ăn sinh sống. Theo tài liệu lịch sử, cuộc di cư của người Hoa đến Việt Nam phổ biến từ sau các cuộc chiến tranh ở Trung Quốc. Họ chạy trốn các cuộc chiến cuối đời Đường – đầu đời Tống (960-1279), cuối đời Tống – đầu đời Nguyên (1279-1368), cuối đời Nguyên – đầu đời Thanh (1662-1911).
Những đô thị thương mại như Vân Đồn (TK XV), phố Hiến (TK XVI), Hội An (TK XVII) và Sài Gòn – Chợ Lớn (TK XVIII-XX) là nơi tập trung nhiều người Hoa sinh sống nhất.
Năm Kỷ Mùi (1679) hai viên tướng của nhà Minh là tổng binh Dương Ngạn Địch và phó tướng Trân Thượng Xuyên, sau khi thua trận với người Mãn Thanh, đã đem 3000 quân chạy sang vùng cửa biển Thuận An của Việt Nam. Không chịu làm tôi tớ cho nhà Thanh nhưng họ chấp nhận làm bề tôi cho chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn Phúc Tần đã cưu mang những người Trung Quốc này, cho họ về ở vùng Biên Hòa (Trần Thượng Xuyên) và vùng Mỹ Tho (Dương Ngạn Địch). Sau này những người Trung Quốc nói trên đã đóng góp vào việc phát triển những vùng đất đó.
Một người Trung Quốc khác cũng là tướng nhà Minh chạy sang Việt Nam là Mạc Cửu thì được chúa Nguyễn cưu mang ở vùng đất Cà Mau.
Giữa TK XIX, để tránh sự đàn áp của nhà Thanh, hàng ngàn người Trung Quốc và gia đình thuộc đội quận Cờ đen, Cờ vàng vốn là tàn quân của các cuộc khởi nghĩa của nông dân Trung Quốc dã từ Quảng Đông, Quảng Tây tràn vào Việt Nam. Đội quân Cờ đen do Lưu Vĩnh Phúc (1837-1917) cầm đầu đã tham gia cùng quân đội nhà Nguyễn đánh Pháp, giết được viên đại úy Garnier tại Cầu Giấy.
Những người Trung Quốc này sau khi tổ chức bị tan rã đã không trở về Trung Quốc. Họ định cư tại các vùng miền núi của Việt Nam như Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Tại vùng Định Hóa và Đại Từ Thái Nguyên tôi đã gặp những người họ Lương tự nhận là họ hàng của Lương Tam Kỳ một thủ lĩnh quân Cờ đen. Như vậy thêm một lần nữa đất nước Việt Nam lại cưu mang những người tị nạn đến từ phương Bắc cho dù có một thời họ làm thảo khấu.
Người Hoa hay người gốc Hoa hiện nay đang sống trên lãnh thổ Việt Nam có gần 1 triệu người. Tỉnh thành nào ở Việt Nam cũng có người Hoa. Đông nhất là ở thành phố Hồ Chí Minh. Do sống ở Việt Nam lâu đời nên đa số bà con người Hoa có quốc tịch Việt Nam. Tuy thế họ vẫn giữ được bản sắc Hoa rất đậm, vẫn nói tiếng Hoa, phong tục tập quán Hoa. Đồng thời họ thông thạo tiếng nói và tập quán của người Việt. Những năm gần đây người Hoa ở Trung Quốc lục địa, Đài Loan, Hồng Kong đến làm ăn ở Việt Nam chưa có số liệu nhưng ước đoán cũng phải vài chục ngàn người. Nhìn chung người Hoa và gốc Hoa đang sống ở Việt Nam đều có đời sống khá giả hơn người Việt.
Cũng cần nói thêm là trong số những người Trung Quốc đang làm việc ở Việt Nam hiện nay có nhiều người là dân nghèo, họ đến Việt Nam để kiếm miếng cơm manh áo. Cho nên chúng ta cần nhìn họ với con mắt nhân văn.
Bây giờ xin bạn đọc trả lời giúp tôi câu hỏi: Người Việt có bài Hoa không ?
Tuy nhiên với người Trung Quốc tôi xin nhắc tại đây câu nói của nhà cách mạng Tiệp Khắc tác giả “Viết dưới giá treo cổ”: CON NGƯỜI, HÃY CẢNH GIÁC! TÔI YÊU TẤT CẢ CÁC NGƯỜI.
TP Hồ Chí Minh 26/06/2011.
*Bài viết do tác giả Bùi Công Tự gửi NXD-Blog.
Xin chân thành cảm ơn tác giả!

Nếu khai chiến trên biển Đông,

Hoa lục có thể sẽ thua Việt Nam

 

Một số tờ báo của Hồng Công gần đây như "Đại công báo", “Văn Hối”, “Đông phương” và nguyệt san “Phòng vệ Hán Hoà” dẫn lời các nhà quan sát quân sự Bắc Kinh cho rằng tuy từ đầu năm 2009 đến nay, các bước chuẩn bị đấu tranh quân sự của Hoa Lục trong vấn đề tranh chấp chủ quyền biển Đông (Hoa Lục gọi là biển Hoa Nam) vô cùng rầm rộ. Thế nhưng trong bối cảnh hiện nay, còn rất nhiều rào cản khiến Hoa Lục chưa thể áp dụng hành động quân sự thực tế trong tranh chấp chủ quyền biển Đông. Các chuyên gia quân sự Hoa Lục cũng cảnh báo nếu Bắc Kinh áp dụng hành động quân sự, cái giá phải trả sẽ rất đắt, thậm chí ảnh hưởng quốc tế tiêu cực của hành động này đối với Hoa Lục còn lớn hơn cả phát động một cuộc chiến tranh tại Eo biển Đài Loan. Dưới đây là tổng hợp nội dung cơ bản của các bài viết này.

1- Rào cản chính trị: Tại khu vực Biển Đông, hiện nay có ba nước tồn tại bất đồng lớn nhất với Hoa Lục về lãnh hải và hải đảo là Việt Nam, Philippin và Malaixia, trong đó Việt Nam là hàng đầu. Vì thế, khả năng bùng nổ xung đột quân sự tại khu vực biển Đông chỉ có thể là Hoa Lục tấn công quân sự chiếm các đảo, bãi mà Việt Nam đang kiểm soát tại quần đảo Trường Sa (Hoa Lục gọil à Nam Sa). Còn khả năng Hoa Lục và Malaixia nổ ra xung đột quân sự do tranh chấp đảo Layan Layan (đá Hoa Lau) trong tương lai gần, cơ bản bằng không. Thế nhưng, vấn đề quan trọng là Hoa Lục áp dụng hành động quân sự quy mô lớn với Việt Nam, thế tất sẽ thiêu huỷ hoàn toàn hình tượng quốc tế “hoà bình phát triển” mà Hoa Lục tạo dựng trong gần 20 năm qua. Hệ quả là sự cảnh giác của Ôxtrâylia, Mỹ, Nhật Bản và cả Hiệp hội các nước Đông Nam á (ASEAN) đối với Hoa Lục sẽ tăng cao. - Gần đây, hợp tác và trao đổi quân sự giữa Mỹ với ASEAN và Việt Nam đã có những bước tiến lớn, một khi Hoa Lục áp dụng hành động quân sự, dư luận và báo chí chính thức của Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản và các nước phương Tây khác sẽ đứng về phía Việt Nam. Mỹ, Ấn Độ và Nhật Bản thậm chí còn cung cấp cho Việt Nam chi viện về tình báo và hậu cần quân sự cho Việt Nam . Bên cạnh đó, “Học thuyết quân sự mới” của Ôxtrâylia cho rằng biển Đông chính là “biên cương lợi ích” của Ôxtrâylia sẽ có cớ phát triển. - Một khi chiến tranh bùng nổ, sẽ thúc đẩy nhanh hơn sự thành lập chính thức của tập đoàn “NATO biển Đông”, bước đi Nam tiến của Lực lượng Tự vệ trên biển của Nhật Bản cũng sẽ trở thành hiện thực và tạo ra căn cứ hợp pháp để Mỹ can thiệp quân sự trực tiếp. Hơn thế, tại khu vực này, tồn tại “Hiệp ước đồng minh Mỹ - Xinhgapo - Ôxtrâylia” và từ sau năm 1995, Mỹ cùng với 6 nước ASEAN là Philippin, Thái Lan, Xinhgapo, Malaixia, Inđônêxia và Bruney tổ chức cuộc diễn tập quân sự hàng năm mang tên “Karat”, được mệnh danh là “Tập đoàn Karat” và trên thực tế đã trở thành quan hệ “chuẩn đồng minh”. - Quần đảo Trường Sa hiện nay, có một số đảo nằm sát bờ biển Malaixia, có một số đảo gần đường trung tuyến Việt Nam - Malaixia, cách Hoa Lục xa như vậy, nói là của Hoa Lục thật khó có sức thuyết phục. Do vậy, khi Hoa Lục áp dụng hành động quân sự, hình tượng quốc tế của các nước hữu quan, nhất là Việt Nam sẽ tốt hơn nhiều so với Hoa Lục, theo đó các nước lớn châu Âu, thậm chí cả Mỹ và Ấn Độ sẽ cùng đưa ra đề nghị cung cấp vũ khí cho Việt Nam, khiến cho nhân tố thiên thời và nhân hòa là bất lợi đối với Hoa Lục.

2- Rào cản về quân sự: Các nhà quan sát quân sự Bắc Kinh nêu rõ nhìn bề ngoài, so sánh sức mạnh quân sự giữa Hoa Lục với Việt Nam, phía Hoa Lục có vũ khí hiện đại mang tính áp đảo, nhất là ưu thế về số lượng và chất lượng tàu mặt nước, tàu ngầm cỡ lớn. Thế nhưng, phân tích sâu về học thuyết địa - quân sự, thực sự bùng nổ chiến tranh trên không và trên biển với Việt Nam, ưu thế sức mạnh quân sự không hẳn nghiêng về Hoa Lục. Bởi vì đặc điểm mới của chiến tranh kỹ thuật công nghệ cao với vũ khí tên lửa là không có khái niệm so sánh sức mạnh của nước mạnh, nước yếu. Theo đó, nước yếu có một số ít tên lửa hiện đại, trong chiến tranh trên biển và trên không, vẫn có thể dựa vào ưu thế thiên thời, địa lợi, nhân hòa v.v. - So sánh cụ thể hơn, về hải quân và không quân của Hoa Lục tham gia cuộc chiến tranh này thành phần chính sẽ là Hạm đội Nam Hải (Bộ Tư lệnh đặt tại Trạm Giang, Quảng Châu). Còn Việt Nam lực lượng không quân được trang bị máy bay chiến đấu “Su-30MKV” và “Su-27SK/UBK”. Hải quân Việt Nam được trang bị phi đạn tốc độ cao “Molniya-12418” và tới đây có cả tàu ngầm “KILO-636”. Như vậy, xu thế so sánh sức mạnh tại biển Đông đang phát triển theo hướng bất lợi cho Hoa Lục. Trong tương lai gần, khi Hải quân Việt Nam đưa tàu ngầm “KILO- 636” vào sử dụng, quyền kiểm soát cục bộ dưới nước có thể sẽ nghiêng về phía Hải quân Việt Nam. Ngoài ra, Hoa Lục phải tính đến nhân tố máy bay chiến đấu “Su-30MKV” của không quân Việt Nam có thể sẽ được trang bị hoả tiễn siêu âm không đối hạm “BRAHMOS” (của Ấn Độ) và “YAKHONT” (của Nga) với tầm bắn đạt 300km. Về năng lực phòng không, Hoa Lục và Việt Nam đều được trang bị tên hỏa tiễn đối không “S-300PMU1”. Lực lượng phòng không của Việt Nam có 2 tiểu đoàn, còn con số này của Hoa Lục là 20. Thế nhưng, lực lượng này (của Hoa Lục) có căn cứ trên đất liền, do vậy vai trò có thể phát huy trong chiến tranh trên biển và không phận trên biển khá hạn chế.

3- Rào cản về địa lý: Toàn bộ 29 đảo, bãi mà Việt Nam kiểm soát hiện nay tại Trường Sa, cách đất liền từ 400 - 600 km. Tại khu vực này, Việt Nam có các căn cứ không quân tại vịnh Cam Ranh (Nha Trang), Đà Lạt (Lâm Đồng) và ở Thành phố Hồ Chí Minh, đa số không phận tại khu vực tranh chấp này đều nằm trong tầm tác chiến của máy bay tấn công “Su-22” của không quân Việt Nam, chưa kể đến máy bay chiến đấu “Su-30MKV” và “Su-27SK” với bán kính tác chiến lên đến 1.500 km. Từ đó cho thấy cả Hoa Lục và Việt Nam đều có đủ năng lực tấn công tầm xa đối với các căn cứ hải quân trung tâm của đối phương.  Việt Nam đã xây dựng sân bay tại đảo Trường Sa. Nếu so sánh, không quân Hoa Lục kể cả cất cánh từ sân bay tại đảo Hải Nam, khoảng cách đường thẳng đối với 29 đảo bãi Việt Nam đang kiểm soát đã lên đến từ 1.200 - 1.300 km, còn cất cánh từ khu vực quần đảo Hoàng Sa, khoảng cách đến Trường Sa cũng lên đến từ 900 - 1.000 km… Điều này buộc máy bay chiến đấu “J-10” và “J-8D” và cả “Su-30MKK” và “Su-27SK” của Không quân Hoa Lục đều cần được tiếp dầu trên không mới có thể tham chiến. Tuy vậy, thời gian tác chiến trên vùng trời biển Đông so với máy bay chiến đấu cùng loại của không quân Việt Nam cũng ngắn hơn khoảng 50%. Khi chiến tranh bùng nổ, sân bay trên đảo Vĩnh Hưng (Hoàng Sa) và thậm chí cả sân bay trên đảo Hải Nam của không quân Hoa Lục nhiều khả năng trước tiên sẽ bị máy bay chiến đấu “Su-22” của không quân Việt Nam thực hiện tấn công phủ đầu. Căn cứ Toại Khê, Căn cứ Quế Lâm (Quảng Tây) của Sư đoàn không quân số 2 cũng nằm trong phạm vi bán kính tác chiến tấn công của máy bay chiến đấu “Su-30MKV” của Không quân Việt Nam. Ngoài ra, còn một yếu tố quan trọng khác là xung đột không chỉ hạn chế ở khu vực biển Đông, toàn bộ các mục tiêu chiến lược tại đảo Hải Nam, Hồng Kông, Côn Minh (Vân Nam) và Nam Ninh (Quảng Tây) đều nằm trong phạm vi bán kính tác chiến của máy bay chiến đấu “Su-30MKV” của Không quân Việt Nam. Địa hình lãnh thổ của Việt Nam dài hẹp, máy bay “Su-27SK” và “J-10A” của Hoa Lục, sau khi tham chiến, trên đường bay trở về căn cứ tại đảo Hải Nam hay căn cứ Toại Khê, Quế Lâm (Quảng Tây), đều nằm trong tầm tác chiến của máy bay chiến đấu “MiG-21Bis” của Không quân Việt Nam cất cánh từ các căn cứ không quân miền Bắc và miền Trung Việt Nam. Do vậy, MiG-21Bis của Việt Nam có thể cất cánh đánh chặn máy bay chiến đấu của Hoa Lục đã hết vũ khí và thiếu nhiên liệu vào bất cứ lúc nào.

4- Rào cản về chiến thuật: Máy bay chiến đấu “Su-22” của không quân Việt Nam có thể sẽ áp dụng chiến thuật không kích siêu thấp và có được sự yểm hộ hoả lực trong tấn công đảo, bãi. Vì thế, ngay cả khi Hoa Lục chiếm lĩnh được các đảo bãi Việt Nam đang kiểm soát hiện nay, bảo vệ lâu dài là vấn đề cực kỳ khó khăn. Ngoài ra, Không quân Việt Nam áp dụng chiến thuật không kích tầm siêu thấp, sẽ tránh được sự theo dõi của các loại radar trên tàu mặt nước của Hoa Lục và trực tiếp tấn công các tàu mặt nước cỡ lớn của hải quân Hoa Lục. Hải quân Việt Nam không có tàu mặt nước cỡ lớn, cho nên không ngại Hoa Lục áp dụng chiến thuật không kích tầm siêu thấp. Hơn thế, như vậy còn khiến cho tàu ngầm hiện đại của Hoa Lục không thể phát huy sức mạnh, chỉ có thể tấn công tàu vận tải của hải quân Việt Nam. Nhưng phán đoán từ loại tàu đổ bộ từ đất liền tiến ra đảo, bãi quần đảo Trường Sa của Việt Nam hiện nay, đa số là tàu vận tải cỡ nhỏ lớp từ 300 - 500 tấn trở xuống, hơn thế phần nhiều là được đóng bằng gỗ, cho nên điều động tàu ngầm hiện đại để tiêu diệt là không cần thiết




VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI
Thông tin báo chí chung Việt Nam - Trung Quốc
SGGP Online Chủ nhật, 26/06/2011, 16:02 (GMT+7)

Ngày 25-6 tại Bắc Kinh, Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn, Đặc phái viên của Lãnh đạo cấp cao Việt Nam đã gặp Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc, chuyển ý kiến của Lãnh đạo Việt Nam tới Lãnh đạo Trung Quốc về quan hệ hai nước và tình hình Biển Đông thời gian gần đây.

Ủy viên Quốc vụ Đới Bỉnh Quốc đã trình bày lập trường và chủ trương của phía Trung Quốc về việc phát triển quan hệ song phương và vấn đề trên biển.

Trước đó, Thứ trưởng Hồ Xuân Sơn đã hội đàm với Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Trương Chí Quân.

Hai bên cho rằng, quan hệ Việt-Trung phát triển lành mạnh, ổn định, đáp ứng nguyện vọng chung và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước Việt-Trung, có lợi cho hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực. Hai bên nhấn mạnh cần kiên trì đưa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc phát triển theo đúng phương châm 16 chữ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần 4 tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.

Hai bên khẳng định, cần tích cực thực hiện nhận thức chung của Lãnh đạo hai nước, giải quyết hòa bình các bất đồng trên biển giữa hai nước thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị; áp dụng biện pháp có hiệu quả, cùng nhau duy trì hòa bình và ổn định tại Biển Đông; tăng cường định hướng đúng đắn dư luận, tránh lời nói và hành động làm tổn hại đến tình hữu nghị và lòng tin của nhân dân hai nước; đẩy nhanh tiến độ đàm phán để sớm ký kết “Thỏa thuận về các Nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam-Trung Quốc”; thúc đẩy việc thực hiện “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và các công việc tiếp theo, cố gắng sớm đạt tiến triển thực chất.

TTXVN 


Xem ...

Tư liệu Biển Đông và đường lưỡi bò

Xuyên tạc sự thật và hăm dọa dân tộc Việt Nam      ((ĐĐK SGGP 23-6-11) --Trả lời Hòan Cầu Thời Báo). 
 Báo VN nói TQ 'hăm dọa dân tộc' (BBC 23-6-11

BẢN TUYÊN CÁO ĐẶC BIỆT DO GIỚI NHÂN SĨ TRÍ THỨC KHỞI XƯỚNG

Biển Đông – Mỹ – Trung Quốc: Countering Beijing in the South China Sea (Policy Review June 1, 11

Tổ quốc nhìn từ những kiệt tác

Vũ trụ mắt soi ngoài biển cả
Nói cười lồng lộng giữa không trung (
Nguyễn Trãi)

Comments