Nghiên cứu Trung Quốc

Chủ nghĩa Lê-nin hợp doanh của Trung Quốc*

John Lee**


http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai24/201224_JohnLee.pdf

Tạp chí Thời đại mới số 24 tháng 3/2012

Chính trị vẫn là thống soái trong chính sách toàn cầu của Trung Quốc.
Ngày 10 tháng 12 năm 2003, trong một diễn văn cho sinh viên đại
học Harvard, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã giới thiệu cho cử tọa Mỹ luận
thuyết “trỗi dậy hòa bình”của Trung Quốc. Lập luận rằng Trung Quốc
là một nước nghèo tính theo thu nhập đầu người và một nền kinh tế còn
lạc hậu trên nhiều phương diện, Ôn Gia Bảo khẳng định rằng quốc gia
của ông cần một môi trường ổn định để trỗi dậy. Ông nhấn mạnh là
Trung Quốc đang trỗi dậy trong một trật tự kinh tế tự do toàn cầu, chọn
tham gia vào trật tự ấy thay vì theo chính sách khắc khổ tự cấp tự túc của
thời Mao Trạch Đông. Luận thuyết “trỗi dậy hòa bình”của Trung Quốc,
sau này được điều chỉnh thành “phát triển hòa bình”, dường như đã tái
khẳng định điều mà các học giả danh tiếng đã nói đến trong nhiều năm
qua: Mặc dù trật tự kinh tế tự do được Phương Tây thiết kế và xây dựng,
nhưng đó là một trật tự mở. Những quốc gia đang trỗi dậy, dù ngoài
phương Tây, vẫn có thể trở nên thịnh vượng trong môi trường cạnh tranh
này mà không cần thách thức các nguyên tắc và luật lệ cơ bản của trật tự
ấy.1
Có nhận định cho rằng Trung Quốc không muốn mà cũng chẳng có
khả năng ngầm phá hoại và thay đổi trật tự quốc tế hiện tại. Đó là một
nhận định thuyết phục. Trong hơn hai thập kỷ qua, chính Trung Quốc là
* Phỏng dịch bài “China’s Corporate Leninism”của John Lee, tạp chí The
American Interest, tháng 5-6 năm 2012, tr. 36-45.
** John Lee là phó giáo sư trợ giảng, đồng thời là nghiên cứu viên theo chương
trình Michael Hintze về An ninh năng lượng tại Trung tâm nghiên cứu an ninh
quốc tế, Đại học Sydney. Ông cũng là một học giả tại Viện Hudson,
Washington, DC.
1 Xem G. John Ikenberry, “The Future of the Liberal World Order:
Internationalism After America”, Foreign Affairs (May/June 2011).
thời đại mới
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN
Số 24
tháng 3, 2012
John Lee | Chủ nghĩa Lê-nin hợp doanh của Trung Quốc 88
Thời Đại Mới | Tháng 3, 2012
quốc gia hưởng lợi nhiều nhất từ trật tự này và, vì nhiều lý do thực tế, có
vẻ như họ sẽ tiếp tục chấp nhận trật tự ấy trong tương lai trước mắt.
Trung Quốc hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Nhật Bản, Hàn
Quốc, Việt Nam, Singapore và Úc, đồng thời cũng là bạn hàng Châu Á
lớn nhất của Mỹ và Ấn Độ, thế nên Trung Quốc khó có thể chấp nhận hi
sinh đứng ngoài thể chế thương mại toàn cầu này. Quan trọng hơn, Trung
Quốc chưa triển khai được một quan niệm nào khả dĩ thay thế trật tự hiện
tại ̶ tất nhiên đó phải là một quan niệm mà, về lâu dài, các quốc gia
khác cũng sẽ chấp nhận hoặc rập khuôn. Cũng khó mà tưởng tượng
Trung Quốc có thể áp đặt một trật tự mới trên các nước láng giềng của
họ. Mỹ vẫn là một sức mạnh quân sự vượt trội ở châu Á và một đối tác
an ninh được hầu hết các nước quan trọng trong vùng ưa chuộng. Rõ
ràng là về mặt chiến lược thì Trung Quốc vẫn còn là một thế lực đang
trỗi dậy nhưng cô lập, dù khả năng quân sự của họ càng ngày càng lớn.
So với lập luận trên, thì lập luận cho rằng Trung Quốc sẽ quyết định
tăng hội nhập vào trật tự kinh tế tự do toàn cầu, hoặc rằng Trung Quốc
có thể bị thuyết phục để theo con đường ấy, thì yếu hơn rất nhiều. Có
người khẳng định rằng việc Trung Quốc hội nhập vào trật tự kinh tế quốc
tế tự do2 là một xu hướng tất yếu, song khẳng định này phản ánh nhiều
nhầm lẫn nghiêm trọng về thế giới quan và các ưu tiên của Đảng Cộng
sản Trung Quốc (ĐCSTQ). Những người khẳng định như thế không thấy
những ý nghĩa sâu xa của thể chế cai trị hiện nay của Trung Quốc. Họ
cũng không thấy những áp lực chính trị và cấu trúc chi phối ĐCSTQ,
những áp lực bắt buộc ĐCSTQ phải “bảo đảm”cho các doanh nghiệp
nhà nước có được những thành tích kinh tế nhất định. Họ cũng bỏ qua
thực trạng các tương tác chính trị, kinh tế và xã hội giữa những chủ thể
trong một chế độ mà Nhà nước đóng vai trò chủ đạo và khống chế.
Cơ bản, vấn đề là: Một hệ thống trong đó các chủ thể cạnh tranh với
nhau theo quy luật, một sự cạnh tranh mà động lực là thương mại, thì sẽ
tìm cách giới hạn vai trò và khả năng can thiệp vào đời sống kinh tế từ
nhà nuớc (và các đảng phái chính trị). Hệ thống ấy sẽ tách biệt –trong
chừng mực có thể ̶ hoạt động kinh tế ra khỏi những can thiệp chính trị
của nhà nước, và nó cho phép logic của lợi ích thương mại, thay vì lợi
ích chính trị, được hiện thực tối đa. Hệ thống ấy tôn trọng những thị
trường có quy củ, nhưng là những thị trường đích thực. ĐCSTQ cuối
cùng thì có những mục đích ngược lại.
2 Hay cũng chính là những người bị thuyết phục bởi ẩn dụ “kẻ dự phần”
(stakeholder) của Robert Zoellick (và nhiều tác giả khác). Theo ẩn dụ này, trật
tự kinh tế toàn cầu được ví như một đại công ty có nhiều người “dự phần”vào
(chẳng những là người đầu tư mà còn là ban quản lý, và cả công nhân trong
công ty ấy). Mỗi người “dự phần”như vậy đều đóng góp, chia sẻ lợi lộc, và có
trách nhiệm đối với công ty (chú thích của nguời dịch).
John Lee | Chủ nghĩa Lê-nin hợp doanh của Trung Quốc 89
Thời Đại Mới | Tháng 3, 2012
Tất nhiên, thành quả của cạnh tranh kinh tế cũng đem lại lợi ích
chính trị tiềm ẩn cho chính phủ các quốc gia dân chủ tự do. Nhưng ở
một quốc gia chuyên chế như Trung Quốc thì khác: những chỉ tiêu kinh
tế thì đã được định trước, và làm thế nào để đạt đuợc những chỉ tiêu ấy3
là vấn đề cốt lõi có tính sống còn cho chế độ. Một sự hội nhập thực sự
vào trật tự tự do toàn cầu sẽ bắt buộc Trung Quốc điều chỉnh sâu rộng hệ
thống kinh tế - chính trị, cũng như cách thức điều hành quốc gia của họ.
Những sự điều chỉnh này sẽ làm suy yếu chí tử ĐCSTQ, làm lung lay tận
gốc những thoả hiệp vốn đã mong manh giữa Đảng và các tầng lớp kinh
tế và xã hội tinh hoa. Bởi lẽ việc duy trì quyền lực vẫn là ưu tiên số một
của ĐCSTQ, các chủ thể kinh tế Trung Quốc ̶ đặc biệt là những chủ thể
do nhà nước trực tiếp sở hữu ̶ vẫn là công cụ ngầm, không chỉ cho
phương thức quản trị quốc gia mà còn để bảo vệ an ninh cho chế độ
trong “thế giới quan Lê-nin-nít”theo kiểu hiện nay của ĐCSTQ
Vì các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc phải đối đầu với nhiều
chướng ngại đáng kể (về cách vận hành lẫn văn hóa) để có thể thành
công trên thị trường thế giới, ĐCSTQ khó lòng phó thác vận mệnh các
doanh nghiệp này vào tay các vị “thần”của cạnh tranh, năng lực và may
rủi, trong một hệ thống thị trường xô bồ, song có quy luật. Nói cách
khác, trong nhận thức của ĐCSTQ thì cái giá phải trả về chính trị, kinh tế
và chiến lược của sự hội nhập thực sự vào trật tự kinh tế tự do toàn cầu
sẽ cao hơn rất nhiều, so với những chi phí (mà phần lớn là phí giao
dịch4), của sự “ăn theo miễn phí”(free riding) trong trật tự đó.
Những cột trụ của trật tự kinh tế tự do toàn cầu
Dễ thấy rằng cột trụ của trật tự kinh tế quốc tế tự do hiện nay gồm
hai hệ thống: một là một hệ thống mà đặc tính là cạnh tranh và tranh
chấp được giải quyết theo luật định, và hai là các hệ thống kinh tế,
thương mại mở. Song, các luật định ấy ảnh hưởng ra sao đến vai trò của
nhà nước, đến sự phân tán quyền lực, đến các chính sách đối nội lẫn đối
ngoại, thì rất ít khi được bàn đến và càng ít được hiểu rõ.
Trong trật tự kinh tế tự do, các chính phủ phải cam kết duy trì (i) một
hệ thống luật lệ kinh tế toàn cầu, (ii) một khuôn khổ đã được thỏa thuận
về sự hợp tác và cạnh tranh kinh tế, và (iii) các quy trình giải quyết tranh
chấp mà kẻ thắng người thua không do sắp đặt trước. Lấy một ví dụ,
trách nhiệm tuần canh của Hạm đội thứ Bảy của Mỹ trên vùng Ấn Độ -
Thái Bình Dương không ảnh hưởng gì đến sự vận hành và kết quả của
các hoạt động kinh tế trong vùng. Washington có thể sử dụng sức mạnh
quân sự của mình một cách chính đáng khi bảo vệ các công dân Mỹ ở
3 Qua việc cung cấp những cơ hội mở rộng cho các doanh nghiệp nhà nước và
bảo đảm nguồn lực cho các khoản đầu tư được hướng dẫn trước trong nền kinh
tế.
4 Transactions cost (chú thích của người dich).
John Lee | Chủ nghĩa Lê-nin hợp doanh của Trung Quốc 90
Thời Đại Mới | Tháng 3, 2012
nước ngoài, nhưng không thể dùng sức mạnh ấy để ép buộc các chính
phủ hoặc công ty ngoại quốc thực hiện những mục tiêu kinh tế của Mỹ.
Đã qua rồi thời kỳ chiến tranh vì thương mại; và làm sao để chấm dứt
những cuộc chiến như thế chính là một trong những trụ cột ý thức hệ của
cuộc Cách mạng Mỹ.5 Bằng cách trông chừng hệ thống, thay vì chính họ
can dự vào những cuộc cạnh tranh kinh tế và thương mại, các chính phủ
tự ý không dùng quyền lực của họ để đạt được những thành quả kinh tế
nào đó. Nói cách khác, trong trật tự kinh tế tự do quốc tế, có sự phân biệt
rõ ràng giữa chủ thể chính trị và các chủ thể kinh tế.
Đặc tính căn bản của trật tự chính trị nội bộ ở các quốc gia dân chủ
tự do hiện nay là sự tách biệt các chủ thể chính trị, kinh tế, pháp luật và
hành chính, và theo sau đó là sự phân tán quyền lực nhờ sự tách biệt này.
Người dân có thể kiện nhà nuớc, mà thắng bại trên pháp lý là do phán
quyết của các tòa án và thẩm phán độc lập. Thể hiện đặc trưng và tối
thượng của một quốc gia pháp trị trên thực tế đối với mọi chính thể là
khả năng thay thế trong hoà bình chính phủ đương nhiệm nếu chính phủ
này thất cử và buộc phải bàn giao tất cả tài sản quốc gia cho chính phủ kế
nhiệm. Đó là những cấu trúc và tập quán xử thế tối cần cho sự vận hành
trung thực của một trật tự tự do, trong nội bộ một nước cũng như giữa
các nước với nhau. Trên phương diện toàn cầu, trật tự này có thể có được
nhờ một sự kiện căn bản, đó là các chính phủ tự nguyện tham gia vào
cách sắp xếp của trật tự ấy (kể cả những định chế của nó, chẳng hạn như
Tổ chức Thương mại Thế giới). Không phải ngẫu nhiên mà những người
bảo trì trật tự tự do ở các quốc gia phương Tây cũng có những kỳ vọng
tương tự đối với trật tự tự do toàn cầu. Tuy nhiên, không như sự suy diễn
thường có của những người phương Tây đối với các thành viên tham gia
trật tự toàn cầu, trật tự trong nước không nhất thiết phải đi đôi với trật tự
quốc tế. Người phương Tây có thể không ý thức rõ về sự song trùng này
bởi lẽ, đối với họ thì sự song trùng ấy hầu như là đương nhiên, thế nhưng
giới lãnh đạo ĐCSTQ ý thức rất rõ sự song trùng này và họ rất hiểu hệ
quả đáng lo ngại (đối với họ) của liên hệ ấy.
Hiển nhiên, một quốc gia chuyên chế vẫn có thể tham gia vào trật tự
toàn cầu tự do mà không phải chịu hậu quả có tính quyết định đến chế độ
trong nước. Nhật Bản vào cuối những năm 1940, Hàn Quốc, Đài Loan
trong những năm 1980, có những chính quyền chuyên chế mới nổi lên
trong khuôn khổ của trật tự tự do sau Thế chiến II. Tuy vậy tất cả các
quốc gia đó đều nép mình trong liên minh với phương Tây và trông cậy
vào cái ô an ninh của Mỹ. Điều này có nghĩa là các chính phủ độc tài ở
những quốc gia ấy dễ bị ảnh huởng của Mỹ về cải cách kinh tế, chính trị,
hơn là Trung Quốc ngày nay rất nhiều. Một phần của ảnh hưởng này cho
thấy, vào cuối những năm 1970, tình trạng thực thi pháp quyền, bảo hộ
5 Để ý cuốn sách nổi tiếng một cách xứng đáng của Felix Gilbert: To The
Farewell Address (Princeton University Press, 1970).
John Lee | Chủ nghĩa Lê-nin hợp doanh của Trung Quốc 91
Thời Đại Mới | Tháng 3, 2012
sở hữu trí tuệ, bản quyền kinh doanh và các bộ máy hành chính độc lập
đã được xây dựng vững chắc ngay trong lòng các quốc gia chuyên chế
ấy, và còn hơn của Trung Quốc hiện nay nhiều. Một khi tiến trình tự do
hóa thực sự diễn ra ở các nước đó thì họ đã thực sự hội nhập vào trật tự
tự do ấy, và mạnh tiếng ủng hộ nó. Hoàn cảnh và diễn biến ở các quốc
gia đó lúc ấy là hoàn toàn khác với Trung Quốc ngày nay.
Cuối cùng, còn một quan điểm nữa cũng rất sai lầm, đó là quan điểm
cho rằng, đơn giản, Trung Quốc đang theo đuổi “mô hình phát triển kiểu
Đông Á”. Với sự tiến hoá của mô hình kinh tế của các quốc gia Đông Á,
những chướng ngại vào quá trình hội nhập trật tự tự do đã giảm đi nhiều.
Với cơ cấu chính-trị-là-trên-hết của mô hình kinh tế - chính trị Trung
Quốc, Trung Quốc càng ngày càng là thù địch đối với những yếu tố then
chốt mà sự hội nhập vào trật tự tự do đòi hỏi. ĐCSTQ rất không sẵn sàng
hội nhập thực sự và thích ứng với trật tự kinh tế tự do toàn cầu vì sợ điều
này sẽ làm xói mòn chí tử chiến lược trong nước của họ, đó là chiến lược
bám giữ quyền lực.
Hai giai đoạn cải cách khác biệt của Trung Quốc
Chúng ta có thể hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa chính sách trong nước
và định hướng quốc tế của Trung Quốc nếu chúng ta xem kỹ bản chất
những cải cách sau Mao. Những cải cách này có thể được chia làm hai
giai đoạn: trước biến cố Thiên An Môn từ 1978-89, và sau biến cố Thiên
An Môn từ 1991 đến nay.
(a) Giai đoạn đầu bắt đầu với Đặng Tiểu Bình vào tháng 12/1978. Trước
năm 1989, sự bùng nổ tự phát, không theo kế hoạch, những sáng kiến tư
nhân ở nông thôn Trung Quốc phần lớn là hậu quả của cuộc cải cách
ruộng đất, được các quan chức khuyến khích và đuợc cả chính sách nhà
nước ủng hộ. Nông dân được khuyến khích tự quyết định cách sử dụng
phần đất mà họ được giao (dù vẫn là sở hữu của nhà nước) và được phép
bán nông sản ở giá thị trường sau khi đạt hạn mức sản xuất. Cuộc cải
cách ruộng đất này, dù hạn chế, đã có một kết quả tốt, đó là sự gia tăng
tự phát các doanh nghiệp cỡ nhỏ dưới tên “công nghiệp hương trấn”6
(CNHT), phần lớn là ở nông thôn Trung Quốc. CNHT là kết quả của sự
thông đồng giữa các quan chức địa phương và lao động nông thôn. Các
quan chức địa phương được khích lệ để dẹp bỏ các rào chắn quan liêu vì
CNHT đóng góp vào ngân sách địa phương. Như Đặng Tiểu Bình đã
nhìn nhận vào năm 1987: “kết quả đạt được là cái mà tôi và các đồng chí
khác chẳng ai có thể dự đoán trước; nó như từ trên trời rơi xuống”.7 Sử
6 Tiếng Anh: TVE (Township and Village Enterprises).
7 Lời Đặng Tiểu Bình, như đuợc trích dẫn trong Michael Ellman, Socialist
Planning, 2nd Edition (Cambridge University Press, 1989), tr. 72.
John Lee | Chủ nghĩa Lê-nin hợp doanh của Trung Quốc 92
Thời Đại Mới | Tháng 3, 2012
dụng gần 30 triệu người năm 1980 các CNHT đã tạo việc làm cho
khoảng 140 triệu người vào đầu những năm 1990.
Điều đáng nói là các CNHT đã gây một cú hích cho tiến trình công
nghiệp hóa của Trung Quốc. Trong thập kỷ 1980 mức lương trung bình
và thu nhập hộ gia đình đã tăng cùng tốc độ, hoặc nhanh hơn, tốc độ tăng
trưởng GDP. Một giai cấp trung lưu độc lập hình thành ở Trung Quốc.
Thực vậy, 80% trong khoảng 400 triệu người đã thoát vòng nghèo đói là
từ năm 1978 đến năm 1989.
Do sự xuất hiện của Trung Quốc như là một trung tâm thương mại
khu vực và toàn cầu, nhiều người Mỹ đã gắn ý nghĩa đặc biệt cho chuyến
đi Nam Trung Quốc8 của họ Đặng sau biến cố Thiên An Môn năm 1992
để thăm viếng các đặc khu kinh tế thành công nhất, chẳng hạn như
Quảng Đông và Thẩm Quyến. Không còn nghi ngờ gì nữa, chuyến đi này
đã thúc đẩy phát triển vùng đồng bằng sông Châu trong vai trò là trung
tâm của ngành công nghiệp chế tạo Trung Quốc, đặc biệt là khu vực xuất
khẩu. Nói rộng hơn thì có nhiều người tin rằng chuyến đi xuống miền
Nam (mà sau này đã được gói gọn trong cách ngôn của Đặng: “làm giàu
là vinh quang”) là rất ý nghĩa để đảm bảo rằng Trung Quốc vẫn tiếp tục
mở cửa chứ không quay lại với tư tưởng của Mao và tình trạng tự cấp tự
túc. Tuy nhiên cách hiểu này còn chưa đầy đủ. Ngay cả khi thứ chủ nghĩa
cộng sản kiểu Mao đã bị dứt khoát từ bỏ thì những cuộc phản kháng dai
dẳng ở các vùng nông thôn năm 1989 đã để lại di sản có nhiều ý nghĩa
hơn, đó là sự trỗi dậy của “chủ nghĩa tư bản nhà nước”–một diễn biến
khác hẳn những gì đã từng xảy ra ở các nền kinh tế Đông Á thành công.
Các cuộc xáo trộn năm 1989 thực ra rộng lớn hơn nhiều so với nhận
định của người Mỹ và những người nước ngoài khác. Đa số các nhà quan
sát ngoại quốc chỉ thấy những diễn biến ở Bắc Kinh, nhưng còn hàng
ngàn cuộc phản kháng trên gần 350 thành phố khác, lôi cuốn hàng triệu
người tham gia. Sau một thời gian tự kiểm điểm về chính trị, ĐCSTQ đã
quyết tâm thay đổi sách lược hành động; tư duy của Đảng cũng chịu ảnh
hưởng sâu sắc bởi sự sụp đổ của bức tường Bá Linh và sau đó là sự sụp
đổ từ bên trong của Liên Xô. Khi các lãnh đạo và học giả Trung Quốc
phân tích tình hình, họ kết luận rằng ngoài việc phải tiếp tục duy trì bộ
máy đàn áp rộng lớn của Đảng, họ cũng phải buộc chặt an sinh tương lai
của tầng lớp trung lưu thành thị với hệ thống độc đảng của ĐCSTQ.
Thành phần trung thành của Đảng nhận định rằng trong một xã hội
nhanh chóng công nghiệp hóa thì vận mệnh của chính quyền chuyên chế
sẽ tuỳ thuộc vào tầng lớp ưu tú ở thành thị. Bài học lớn của các cuộc
cách mạng Đông Âu và Liên Xô mà Bắc Kinh rút ra là, nếu một chế độ
chuyên chế trở nên xa rời với thành phần uu tú của chính chế độ ấy thì
chế độ ấy sẽ có nguy cơ sụp đổ.
8 Đó là “Nam tuần”(chú thích của người dịch).
John Lee | Chủ nghĩa Lê-nin hợp doanh của Trung Quốc 93
Thời Đại Mới | Tháng 3, 2012
(b) Từ giữa những năm 1990 trở đi, ĐCSTQ lập một kế hoạch để giành
lại những đòn bẩy quyền lực và quyền lợi kinh tế. Cơ bản, kế hoạch này
bao gồm việc tiếp tục phát triển khu vực tư nhân và giảm bớt đáng kể số
lượng các doanh nghiệp do trung ương quản lý, nhưng nó cũng giành
hơn một chục lĩnh vực quan trọng và béo bở nhất của nền kinh tế cho
doanh nghiệp nhà nước nắm vị thế thống soái. Các lĩnh vực này gồm tài
chính, ngân hàng, bảo hiểm, xây dựng, hạ tầng, hóa chất, truyền thông,
công nghệ thông tin và viễn thông. Mặc dù đầu tư nước ngoài được
khuyến khích vào khu vực sản xuất để xuất khẩu, dòng đầu tư này bị đẩy
chệch ra ngoài các lĩnh vực có tính sinh lợi cốt lõi kể trên và các khu vực
nhạy cảm chính trị. Ngay cả các doanh nghiệp tư nhân trong nước của
Trung Quốc cũng không được nâng đỡ, một cách cố ý, về mặt tiếp cận
thị trường, vốn vay và đất đai trong các lĩnh vực cốt lõi này. Ở đây nhà
nước duy trì sự kiểm soát về chính trị thông qua các doanh nghiệp nhà
nước với mục đích bảo đảm sự trung thành của tầng lớp quản trị cao cấp
đồng thời đem lại nguồn thu cho ĐCSTQ.
Trung Quốc ngày nay có khoảng gần 150 doanh nghiệp cấp trung
ương và 120.000 doanh nghiệp địa phương. Nếu tính cả các công ty con
thì số doanh nghiệp nhà nước có thể gấp đôi. Khi so sánh con số này với
4 triệu công ty tư nhân thì, nhìn từ bên ngoài, Trung Quốc là một trường
hợp thành công nhờ khu vực kinh tế cá thể. Thế nhưng khi nhìn gần hơn
thì lại thấy sự trở lại rõ ràng của nhà nước trong nền kinh tế - chính trị
Trung Quốc, căn cứ trên một số phép đo và quan sát.
Một phép đo, lần theo đường đi của dòng vốn, là đặc biệt có ích vì
nó cho thấy các khoản đầu tư cố định trong nước (chủ yếu trong lĩnh vực
xây cất) chính là động lực chủ yếu của sự tăng trưởng GDP. Từ năm
2001 đến 2008 dòng vốn đầu tư này góp phần tạo nên 40% tăng trưởng.
Năm 2009 nhờ vào biện pháp kích thích kinh tế khổng lồ của chính phủ
mà có tới 80 - 90% tăng trưởng được tạo ra nhờ đầu tư vốn. Con số này
hiện giảm xuống còn khoảng 50 - 55%.
Trung Quốc khác thường ở chỗ: các khoản vay ngân hàng, lấy từ tiền
gửi của dân dồn vào các ngân hàng do nhà nước quản lý, chiếm tới gần
80% mọi hoạt động đầu tư. Đối với một nền kinh tế lớn như Trung Quốc
thì nước này có thị trường vốn cổ phần rất kém phát triển. Các ngân hàng
do nhà nước quản lý thống lĩnh khu vực tài chính chính thống, trong khi
các ngân hàng tư nhân trong nước và ngân hàng nước ngoài chỉ chiếm 2-
5% tỷ trọng. Sự thiên vị rõ rệt đối với khu vực nhà nước quản lý được
thấy từ mối quan hệ giữa các ngân hàng nhà nước và các doanh nghiệp
công nghiệp quốc doanh của Trung Quốc.
Dù các doanh nghiệp nhà nước (chỉ) sản xuất 30-50% tổng sản phẩm
quốc gia, chúng nhận được hơn 75% vốn đầu tư của cả nước, và con số
John Lee | Chủ nghĩa Lê-nin hợp doanh của Trung Quốc 94
Thời Đại Mới | Tháng 3, 2012
này đang gia tăng.9 Các doanh nghiệp nhà nước nhận được hơn 95% các
khoản tiền trong gói kích thích được chi ra trong các năm 2008-09 và
khoảng 85% vào năm 2010. Theo thống kê của Ủy ban Giám sát và
Quản trị Tài sản Nhà nước, (gọi tắt là Quốc Tư Ủy10) thì tài sản của các
doanh nghiệp nhà nước hiện nay chiếm hơn 66% tài sản của cả nước,
năm 2003 con số này chỉ có 60%. Đây là điều ngược lại với những gì đã
diễn ra ở Trung Quốc trong thập niên đầu tiên của cải cách, khi mà đa số
tài sản cố định được quản trị trên thực tế bởi khu vực tư nhân mới trỗi
dậy. Ngay khi nếu được xem là các doanh nghiệp “cộng đồng”đi nữa thì
sự thực là khu vực kinh doanh tư nhân nhận được hơn 70% lượng vốn
của quốc gia.
Thực vậy, theo Cục Thống kê Trung Quốc, một phân tích kinh tế
theo từng khu vực cho thấy các chủ thể do nhà nước quản lý đầu tư vào
hầu hết mọi lĩnh vực ở các đô thị Trung Quốc nhiều hơn là đầu tư của
các doanh nghiệp tư nhân. Chỉ có một khu vực mà doanh nghiệp tư nhân
khống chế là ngành chế tạo, đó cũng là khu vực mà các doanh nghiệp
chuyên về chế tạo để xuất khẩu có vốn đầu tư nước ngoài hoặc các doanh
nghiệp do nước ngoài sở hữu chiếm ưu thế.
Hơn nữa, một điều đã được công nhận rộng rãi đó là ưu tiên chiến
lược phải được dành cho các doanh nghiệp quốc doanh để chúng có thể
thống lĩnh tất cả những lĩnh vực mới nổi nào được xem là sẽ quan trọng
cho việc hiện đại hóa nền kinh tế Trung Quốc. Chẳng hạn, một tài liệu
của Quốc Tư Ủy với tựa đề “Ý kiến hướng dẫn hỗ trợ và điều hành các
doanh nghiệp có vốn nhà nước và tái tổ chức các doanh nghiệp quốc
doanh”xuất bản tháng 12/2006 đã mở rộng các lĩnh vực chiến lược để
bao gồm cả hàng không dân dụng, công nghiệp ô tô và tàu thủy, thêm
vào danh sách khoảng một tá các lĩnh vực mà trước đó đã được chỉ định
là then chốt. Theo cuốn “Ý kiến hướng dẫn”này, nhà nước sẽ vẫn nắm
đa số sở hữu trong các doanh nghiệp quan trọng ở những ngành công
nghiệp mới nổi nêu trên. Mặc dù Quốc Vụ Viện không chính thức phê
chuẩn tài liệu này nhưng trên thực tế nó vẫn là khuôn khổ hướng dẫn các
lĩnh vực mới nổi ấy. Quả thực, Kế hoạch 5 năm (2011-2015) công bố vào
tháng 3/2011 đã công khai khẳng định rằng “các quán quân quốc gia”
9 Số liệu chính xác là khó tìm vì thiếu sự minh bạch của việc tham gia cổ phần
và sở hữu trong các xí nghiệp Trung Quốc. Mặc dù thuật ngữ “doanh nghiệp
nhà nước”được sử dụng rộng rãi nhưng đa phần các xí nghiệp này được nhà
nước nắm phần lớn cổ phần chứ không sở hữu toàn bộ (Quốc Tư Ủy quản lý các
cổ phần này). Ngoài ra rất nhiều công ty do nhà nước quản lý lại thâu tóm phần
lớn cổ phần trong các công ty tư nhân Trung Quốc. Nếu chúng ta gộp tất cả các
loại doanh nghiệp do nhà nước sở hữu toàn bộ và sở hữu một phần thì tỷ trọng
GDP do khu vực doanh nghiệp nhà nước tạo ra sẽ xấp xỉ 50%.
10Tiếng Anh: SASAC (State-owned Assets Supervision and Administrative
Commission)
John Lee | Chủ nghĩa Lê-nin hợp doanh của Trung Quốc 95
Thời Đại Mới | Tháng 3, 2012
phải dẫn đạo trong “những công nghiệp chiến lược mới nổi”như năng
lượng tái tạo, chăm sóc sức khỏe, công nghệ sinh học, sản xuất các thiết
bị công nghệ cao, các phương tiện vận tải tiết kiệm năng lượng và công
nghệ thông tin. Kế hoạch này nêu rõ rằng chính phủ sẽ “hướng vốn nhà
nước vào các ngành công nghiệp phù hợp với phát triển kinh tế và an
ninh quốc gia qua việc bơm vốn và rút vốn một cách có cân nhắc và hợp
lý”. Các nguồn vốn đó bao gồm ngân sách nhà nước và quan trọng hơn là
gồm cả những khoản cho vay từ các ngân hàng quốc doanh.
Các phép đo khác cũng cho nhiều thông tin, chẳng hạn như theo Niên
giám Thống kê Trung Quốc 2009 thì các chủ thể do nhà nước quản lý
chiếm hơn một nửa toàn bộ quỹ lương chi trả cho người lao động ở các
đô thị. Không có gì đáng ngạc nhiên, điều này phù hợp với một phát hiện
khác, đó là gần một nửa số thuế mà chính phủ thu được là từ các chủ thể
do nhà nước quản lý.
Cuối cùng, một sự kiện làm vấn đề sáng tỏ hơn nữa, đó là hầu hết đại
doanh nghiệp xuất hiện ở Trung Quốc đều là doanh nghiệp do nhà nước
quản lý. Tất cả, chỉ trừ khoảng một trăm trong số 2037 công ty niêm yết
trên hai thị trường chứng khoán Trung Quốc, đều do nhà nước nắm đa số
sở hữu. Mười công ty lớn nhất Trung Quốc xếp theo thu nhập và/hoặc lợi
nhuận đều là quốc doanh. Năm 2009, hai doanh nghiệp nhà nước (China
National Petroleum và China Mobile) làm ra khoản lợi nhuận lớn hơn cả
500 công ty tư nhân hàng đầu của Trung Quốc gộp lại. Thực vậy, thu
nhập của 20 doanh nghiệp trung ương quản lý chiếm hơn nửa GDP hàng
năm của Trung Quốc.
Chính trị thống soái
Như vậy, so với cái gọi là “sự phát triển chuyên chế”dưới sự lãnh
đạo của nhà nước ở Châu Á sau Thế chiến II thì tầm cỡ và vai trò của
doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc vượt hơn rất nhiều. Chìa khoá để
hiểu những sự khác biệt giữa, chẳng hạn, Bộ Ngoại thương và Công
nghiệp (MITI) của Nhật, và những gì đang xảy ra ở Trung Quốc là,
không như Trung Quốc, các quốc gia Châu Á khác không dùng lợi nhuận
của kinh doanh để củng cố một hệ thống chính trị độc đảng. Ở các quốc
gia này, quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng đã gia tốc sự nổi lên của
những người tự thân và thực tài thành một tầng lớp tinh hoa kinh tế. Ở
Trung Quốc thì ngược lại.
Trên đây đã cho thấy sự khống chế của nhà nước trong nền kinh tế
Trung Quốc, bây giờ xin minh hoạ cách mà mạng lưới tinh vi của quyền
lực chính trị và kinh tế liên kết ĐCSTQ với các doanh nghiệp nhà nước.
Thực vậy, cơ cấu của hệ thống kinh tế - chính trị Trung Quốc hiện nay
rõ ràng là được xây dựng để bảo đảm ĐCSTQ sẽ luôn luôn là trung tâm
chi phối, điều tiết mọi cơ hội trong các lĩnh vực thương mại, kinh doanh,
nghề nghiệp và ngay cả xã hội. Mục đích là buộc chặt mọi đặc quyền và
cơ hội của tầng lớp tinh hoa Trung Quốc với ý muốn của Đảng. Trong
John Lee | Chủ nghĩa Lê-nin hợp doanh của Trung Quốc 96
Thời Đại Mới | Tháng 3, 2012
khi sự vận hành của một trật tự tự do trong nước hay quốc tế là được
thiết kế để làm yếu đi hay ít ra cũng là để giữ ở mức độ vừa phải mối
quan hệ mong muốn giữa, một bên là quyền lợi chính trị và mục tiêu của
chính phủ, và bên kia là sinh hoạt kinh tế, thì chủ nghĩa hợp doanh nhà
nước ở Trung Quốc lại được suy tính để thực hiện điều ngược lại.
ĐCSTQ có một quan điểm, cơ bản là chủ nghĩa Lê-nin, rằng mọi chủ thể
và hoạt động kinh tế phải là nhằm củng cố ảnh hưởng kinh tế và sau đó
là quyền lực chính trị của chế độ. Những chủ thể và hoạt động như thế
không thể chấp nhận đối lập chính trị trong bất cứ hình thức nào.
Lấy cảm hứng từ Marx và Lê-nin, ĐCSTQ đã từng được định nghĩa
bằng một sự căm thù có tính ý thức hệ chủ nghĩa tư bản. Thứ chủ nghĩa
Marx huyên náo ấy thì đã tàn lụi lâu rồi, hạ huyệt cùng với Mao Trạch
Đông và các cộng sự sát nhân của ông ta. Thế nhưng, khi chủ nghĩa
Marx của Trung Quốc đã qua đi thì chủ nghĩa Lê-nin vẫn tồn tại dai
dẳng, và mối liên kết doanh nghiệp nhà nước và ĐCSTQ được phát triển
sau biến cố Thiên An Môn giờ đây không khác gì hệ thống đỡ đầu, một
cấu trúc kinh tế-chính trị đặc trưng của các chế độ Mussolini ở Italia,
Kemal ở Thổ Nhĩ Kỳ và Franco ở Tây Ban Nha.
Điều này là hiển nhiên trong nhiều cách. Mặc dù các doanh nghiệp
nhà nước Trung Quốc theo lẽ thường phải là những chủ thể sinh lời, thế
nhưng rốt cuộc chúng vẫn được coi như là công cụ của chế độ. Điều này
được thấy rõ từ cơ cấu chính quyền trong hệ thống Trung Quốc. Cổ phần
và do đó là cả tài sản của doanh nghiệp nhà nước là do Quốc Tư Ủy nắm
giữ dưới sự chỉ đạo của các Bộ hữu quan. Ngược lên trên, Quốc Tư Ủy
lại nằm dưới sự lãnh đạo và phải báo cáo Quốc Vụ Viện (State Council)
cơ quan hành chính và lập pháp cao nhất ở Trung Quốc.11 Cơ cấu này
được rập khuôn cho các doanh nghiệp nhà nước ở các tỉnh và địa phương
cấp dưới. Thực tế là ĐCSTQ mới chính là người điều hành và nêu các
yêu cầu về tài chính đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước.
Việc các doanh nghiệp nhà nước vẫn là những công cụ của quyền lực
ĐCSTQ có thể được minh họa qua mối liên hệ giữa đội ngũ quản trị các
doanh nghiệp này với Đảng. Một nghiên cứu tỉ mỉ của Bùi Mẫn Hân
(Minxin Pei) đã cho thấy các quản trị viên cấp cao của tất cả doanh
nghiệp trung ương hầu hết là đảng viên cao cấp của ĐCSTQ.12 Ban Tổ
chức Trung ương có quyền bổ nhiệm trực tiếp ba vị trí chủ chốt nhất (Bí
thư Đảng, Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị và Tổng Giám Đốc) của 50
doanh nghiệp trung ương. Hiện nay, người đứng đầu Ban này là Lý
Nguyên Triều (Li Yuancho), một uỷ viên của Bộ Chính trị. Hầu hết
những người được bổ nhiệm đều là đảng viên, trong nhiều trường hợp
11 Chú thích của người dịch: Có lẽ tác giả lầm, Quốc Vụ Viện là cơ quan hành
chánh tối cao, không phải cơ quan lập pháp tối cao.
12 Pei, China’s Trapped Transition (Harvard University Press, 2006).
John Lee | Chủ nghĩa Lê-nin hợp doanh của Trung Quốc 97
Thời Đại Mới | Tháng 3, 2012
Tổng Giám Đốc và Bí thư Đảng của doanh nghiệp là cùng một người.
Nhiều người trước đây từng là quan chức đứng đầu cấp tỉnh. Tất cả
những bổ nhiệm cán bộ điều hành cao cấp còn lại đều được Quốc Tư Ủy
điều hành sau khi bàn thảo với Ban Tổ chức Trung ương. Cũng vậy, quy
trình bổ nhiệm ở cấp cao được rập khuôn ở các doanh nghiệp nhà nước
cấp tỉnh và địa phương. Đó là một bằng chứng không thể rõ ràng hơn về
sự kết hợp giữa các ban giám đốc doanh nghiệp.
Những phát hiện này cũng trùng hợp với một nghiên cứu gần đây
hơn của công ty tư vấn Asianomics có trụ sở đặt tại HongKong trong báo
cáo vào tháng 12/2011 nhan đề Bên trong các tập đoàn Trung Quốc.
Điều tra kỹ lưỡng gốc gác của các quản trị viên cao cấp ở 10 doanh
nghiệp lớn nhất Trung Quốc (9 trong số đó thuộc diện quốc doanh) và
các chi nhánh của các doanh nghiệp này, báo cáo cho thấy các quản trị
viên cao cấp của tất cả những doanh nghiệp đó đều là đảng viên ĐCSTQ,
trong đó có nhiều người từng giữ chức vụ chính trị ở các nhiệm sở cấp
tỉnh. Lần theo dấu vết ban lãnh đạo cao cấp của 20 doanh nghiệp kế tiếp
lớn nhất Trung Quốc và hàng trăm công ty con của chúng, báo cáo phát
hiện nhiều giám đốc và quản đốc đã từng công tác tại Ban Tổ chức của
ĐCSTQ. Cuối cùng bản báo cáo kết luận rằng vai trò của chủ tịch doanh
nghiệp và Tồng Giám Đốc là “đồng nghĩa với Đảng Cộng sản”.
Mặc dù doanh nghiệp nhà nước cạnh tranh nhau quyết liệt để giành
thị phần và lợi nhuận, các Ban Thi Đua mà thành phần là những cán bộ
chính trị có quyền đánh giá mức độ mà các quản trị viên cao cấp đã hoàn
thành chỉ tiêu về chiến lược và thương mại của chính phủ. Các ban của
Quốc Vụ Viện thẩm tra định kỳ kỹ lưỡng các doanh nghiệp mẹ để xem
chúng đã thực thi các sáng kiến và chỉ thị chính sách của nhà nước đến
đâu. Bởi thế, mặc dù cạnh tranh giữa các quản trị viên của doanh nghiệp
nhà nước là quyết liệt, việc tăng thu nhập, lợi nhuận là tiêu chí quan
trọng đối với hoạt động của họ, song thước đo dùng để đánh giá hàng
ngũ quản trị viên lại được quyết định bởi những lợi ích chính trị nhiều
hơn là thương mại.
Để có một ấn tượng về cơ cấu của chủ nghĩa Lê-nin hợp doanh ở
Trung Quốc, chúng ta có thể nhờ ký giả Richard McGregor trên tờ
Financial Times:
Cách tốt nhất để thấy ý nghĩa công việc (của Ban Tổ chức Trung
ương) là hãy tưởng tượng một cơ quan tương đương ở Washington.
Một ban giống như thế ở Mỹ sẽ giám sát việc bổ nhiệm toàn bộ nội
các của chính phủ Mỹ, các thống đốc bang và cấp phó của họ, các
thị trưởng ở những thành phố quan trọng, người đứng đầu các cơ
quan điều tiết liên bang, các tổng giám đốc của General Electric,
Exxon-Mobil, Wal-Mart và khoảng 50 công ty còn lại lớn nhất của
Mỹ, các quan toà của Tối cao Pháp viện, các tổng biên tập của New
York Times, Wall Street Journal và Washington Post, các ông trùm
John Lee | Chủ nghĩa Lê-nin hợp doanh của Trung Quốc 98
Thời Đại Mới | Tháng 3, 2012
của mạng lưới truyền hình phát sóng và truyền cáp, các hiệu trưởng
của trường đại học như Yale và Harvard cùng nhiều đại học lớn
khác, và cả người đứng đầu những trung tâm nghiên cứu (think
tank) như viện Brookings và Heritage Foundation.13
Cuối cùng, thành phần của ĐCSTQ với khoảng 80-85 triệu đảng viên
cũng nói lên nhiều điều. Công nhân và nông dân hiện nay chỉ chiếm
không đến ¼ tổng số đảng viên. Thời nay các doanh nhân thành đạt,
người làm công tác chuyên môn và sinh viên có bằng cấp cao chiếm hơn
¾ tổng số đảng viên. Với các sinh viên tốt nghiệp đại học mà là đảng
viên thì một trong những điều đầu tiên trong lý lịch mà họ sẽ khai là số
thẻ đảng. Có tới 80 tới 100 triệu người khác đã nộp đơn xin gia nhập
đảng và đa phần xuất thân từ tầng lớp trung lưu và tinh hoa đầy tham
vọng. Họ công khai nói về ý nguyện của họ là gia nhập ĐCSTQ để tiến
thân trong kinh doanh và sự nghiệp. Những bằng chứng mang tính giai
thoại ấy củng cố mạnh mẽ luận điểm cho rằng hệ thống kinh tế - chính trị
Trung Quốc thời nay được thiết kế để bảo đảm ĐCSTQ luôn luôn là
người ban phát mọi cơ hội, có nghĩa là tương lai của các tầng lớp tinh
hoa, ít nhất là trong lúc này, được gắn chặt với tương lai của Đảng.
Chủ nghĩa hợp doanh Lê-nin và trật tự tự do
Năm 1997 Bill Clinton công khai ủng hộ lập luận cho rằng tự do hóa
về kinh tế ở Trung Quốc sẽ chắc chắn “qua thời gian, gia tăng tinh thần
tự do… cũng tất yếu như sự sụp đổ của bức tường Berlin”, và đã nói có
phần táo bạo tại cuộc họp báo với sự có mặt của Chủ tịch Trung Quốc
lúc ấy là Giang Trạch Dân rằng “các ông đang ở phía sai lầm của lịch
sử”. Hai năm sau đó, ứng cử viên Tổng thống George W. Bush, để biện
hộ cho việc buôn bán với Trung Quốc, đã tuyên bố rằng: “Tự do kinh tế
sẽ tạo ra những tập quán của tự do. Và tập quán của tự do sẽ tạo kỳ vọng
dân chủ”. Tổng thống Bush đã lặp lại lập luận đó vào năm 2005 khi ông
ta tuyên bố rằng “làn gió tự do trên thị trường (ở Trung Quốc) sẽ làm nảy
sinh nhiều đòi hỏi cho dân chủ hơn”. Gần đây nhất, Tổng thống Barack
Obama tuyên bố liên quan tới Trung Quốc rằng: “sự thịnh vượng mà
thiếu tự do thì chỉ là một dạng khác của bần hàn”và các chính phủ không
dân chủ sẽ thất bại bởi lẽ “họ coi thường cội nguồn tối thượng của quyền
lực và tính hợp pháp –đó là nguyện vọng của nhân dân.”
Các vị Tổng thống Hoa Kỳ sau Chiến tranh lạnh (và những người
viết diễn văn bận rộn của họ) không phải là những người duy nhất có
lòng tin ấy. Từ khi Liên Xô sụp đổ thì nhiều người Mỹ tin rằng sự tham
gia của Trung Quốc vào trật tự tự do toàn cầu ắt sẽ dẫn đến việc Trung
Quốc hội nhập và đồng hoá với trật tự ấy, và nhất định sẽ kèm theo việc
gỡ bỏ những cấu trúc chuyên chế. Logic này giả định một sự phân ly (về
13 McGregor, The Party: The Secret World of China’s Communist Rulers
(HarperCollins, 2010), tr. 72.
John Lee | Chủ nghĩa Lê-nin hợp doanh của Trung Quốc 99
Thời Đại Mới | Tháng 3, 2012
lợi ích và hành động) ắt phải đến và ngày càng tăng giữa các cơ quan
chính trị, kinh tế trong nội bộ Trung Quốc. Logic ấy cũng giả định rằng
cuối cùng thì ĐCSTQ sẽ không thể nào ngăn chặn (hoặc là sẽ phải vô
tình cho phép) sự hình thành của một giai tầng độc lập và hùng mạnh về
kinh tế, và rằng điều đó sẽ làm rộng thêm cái hố giữa quyền lực chính trị
và quyền lực kinh tế trong lòng Trung Quốc. Sự xuất hiện ngoài ĐCSTQ
đa số những lợi ích và các nhóm lợi ích đầy quyền lực sẽ buộc trật tự
chính trị chuyên chế phải dãn ra.
Các suy đoán ấy dựa trên sự hiểu biết hết sức hạn hẹp về những sắp
xếp kinh tế - chính trị có thể diễn ra. Đó là đặc tính của lối nghĩ xa rời
bản chất của thời đại Khai sáng khi cho rằng, khả năng logic duy nhất mà
theo theo đó Phương Tây đã phát triển là từ trên trời rơi xuống. Cũng là
một cách nghĩ tương tự, thậm chí có phần còn sơ đẳng hơn khi khăng
khăng cho rằng dân chủ và thị trường tự do là xu hướng toàn cầu không
thể thiếu vắng đối với mọi cộng đồng nhân loại, bất kể kinh nghiệm lịch
sử. Cách nghĩ này coi nhẹ tài khéo léo của nhân loại sáng tạo ra những lộ
trình mới đi tới các điểm cuối rất khác nhau. Nó không đếm xỉa gì tới
một thực tế là cơ cấu của hệ thống kinh tế - chính trị Trung Quốc ngày
nay được cố ý thiết kế với mục đích đối kháng những hiệu ứng gây biến
đổi do sự tham gia và cuối cùng là sự hội nhập vào trật tự tự do.
Đối với ĐCSTQ, tham gia vào trật tự tự do hiện tại là cần thiết để
Trung Quốc tiếp tục phát triển, nhưng họ cũng cho rằng sự tham gia đó
là con ngựa thành Troa mà các nước tự do dân chủ sử dụng để làm suy
yếu ĐCSTQ, đẩy nhanh sự xuất hiện một tầng lớp trung lưu độc lập và
chủ nghĩa đa nguyên, và, bằng cách đó, vận động cho dân chủ ở Trung
Quốc. Duy trì và tăng cường hệ thống kinh tế - chính trị do nhà nước giữ
vị trí thống lĩnh vẫn là chiếc khiên hữu hiệu của ĐCSTQ để chống lại cái
mà Đảng cho là sự lật đổ công khai.
Phân tích này có ba hàm ý quan trọng. Nếu những dự đoán dựa trên
các hàm ý ấy là chính xác thì những hàm ý ấy có thể đuợc xem như
chứng cứ cho phân tích ở đây.
Thứ nhất, Trung Quốc sẽ tiếp tục ngăn cấm các công ty nuớc ngoài
xâm nhập vào những khu vực kinh tế mang tính “chiến lược quan
trọng”. Bởi lẽ ĐCSTQ có cách nhìn nặng về xu hướng sát nhập quyền
lực chính trị và quyền lực kinh tế, những khu vực kinh tế có ý nghĩa
“chiến lược quan trọng”có thể bao gồm tất cả khu vực quan trọng cho
nền kinh tế hiện nay của Trung Quốc, ngay cả khi chúng không có biểu
hiện rõ rệt nào về mặt “bảo vệ lãnh thổ”.
Hơn nữa, sự hoà hợp sâu xa các quyền lợi chính trị và các quyền lợi
kinh tế có nghĩa là ĐCSTQ xem kinh tế qua lăng kính cạnh tranh chính
trị: vị thế kinh tế của các công ty nước ngoài (nhất là phương Tây) càng
lớn trên các thị trường có vị trí “chiến lược quan trọng”của Trung Quốc
thì tất yếu sẽ làm lỏng lẻo sự kiểm soát của Đảng đối với nền kinh tế
John Lee | Chủ nghĩa Lê-nin hợp doanh của Trung Quốc 100
Thời Đại Mới | Tháng 3, 2012
trong nước, và như thế là sự lỏng lẻo quyền lực chính trị. Điều này giải
thích tại sao chính sách “sáng chế bản địa”của Trung Quốc (mà mục
đích là giảm sự lệ thuộc vào các công ty nước ngoài về mặt phát minh)
đang được thực hiện hầu như hoàn toàn qua các doanh nghiệp nhà nước.
Việc cho phép các công ty nước ngoài hoạt động trong những khu vực
“quan trọng chiến lược”của nền kinh tế căn cứ vào nhu cầu gia tăng
chuyển giao công nghệ và bí quyết kinh doanh thông qua các cơ cấu liên
doanh vẫn được tiếp tục duy trì.
Thứ hai, chính sách đối ngoại của Trung Quốc sẽ tiếp tục phối hợp
với những nhu cầu về tài nguyên nhằm phục vụ các doanh nghiệp nhà
nước chủ chốt. Mặc dù ngay cả các chính phủ Mỹ cũng hỗ trợ cho một
số khu vực kinh tế cá biệt qua những chính sách toàn cầu về ưu đãi thuế,
trợ cấp v.v… nhưng không có chính phủ Mỹ nào lại gắn chặt chính sách
ngoại giao với sự lựa chọn “những kẻ thắng cuộc”trong công nghiệp và
tài chính. Trong thập kỷ vừa qua, Bắc Kinh đã lập “chiến lược đi ra thế
giới”nhằm bảo đảm an toàn cho các kênh tiếp cận tài nguyên, thu nhận
công nghệ tiên tiến và tạo ra hoặc mở rộng thị trường cho các doanh
nghiệp nhà nước.
Nhận xét trên đây đã giúp giải thích rất nhiều về chính sách ngoại
giao của Trung Quốc đối với Afghanistan, Iran, Sudan, Châu Phi cận
Sahara và nhiều nơi khác. Số liệu của năm 2006 cho thấy các doanh
nghiệp nhà nước đứng đàng sau ¾ các khoản đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài, riêng các doanh nghiệp trung ương quản lý thì đã chiếm 2/3 lượng
đầu tư này. Các công ty quốc doanh đứng sau hơn 90% các khoản đầu tư
phi tài chính ra nước ngoài.14 Tất cả các khoản đầu tư lớn do các công ty
Trung Quốc tiến hành nếu cao hơn $300 triệu vào lĩnh vực tài nguyên và
hơn $100 triệu vào các lĩnh vực khác đều phải có sự chấp thuận công
khai của các cơ quan chính phủ. Trên thực tế, một khi doanh nghiệp nhà
nước xác định được một cơ hội tiềm năng thì người quản lý cấp cao sẽ
tranh thủ sự phê duyệt của các lãnh đạo chính trị. Nếu đã có sự phê duyệt
thì doanh nghiệp sẽ được mọi hỗ trợ tài chính cần thiết để hoàn tất
thương vụ đồng thời những chỉ thị trợ giúp sẽ được gửi sang Bộ Ngoại
giao khi cần thiết.
Cuối cùng, ĐCSTQ sẽ vẫn sẵn sàng phân bổ vốn đầu tư một cách
cực kỳ không hiệu quả để phục vụ các mục tiêu chính trị. Các doanh
nghiệp then chốt của Trung Quốc đều yếu đuối và bấp bênh trên phương
diện cơ cấu kinh doanh. Chúng phụ thuộc vào các khoản tín dụng rẻ,
thậm chí không phải trả lãi, vận hành trong những thị trường được bảo
hộ và thường được điều hành tuỳ tiện bởi những “tay trong”có hậu thuẩn
chính trị nhưng không có khả năng chuyên môn. Những doanh nghiệp ấy
14 Xem Derek Scissors, “Testimony to the United States-China Economic and
Security Commission”, 11 tháng 3, 2011.
John Lee | Chủ nghĩa Lê-nin hợp doanh của Trung Quốc 101
Thời Đại Mới | Tháng 3, 2012
sống mạnh trong một môi trường văn hóa kinh doanh mà ở đó thành tích
kinh tế thường dựa vào các quan hệ và thủ đoạn chính trị hơn là hiệu quả
kinh tế và sáng tạo.
Đó là lý do tại sao mặc dù có lợi thế về tầm cỡ, ngay cả các doanh
nghiệp trung ương quản lý lớn nhất và hiệu quả nhất cũng là kém hơn khi
so sánh với những đối thủ cạnh tranh toàn cầu và các doanh nghiệp tư
nhân trong nước. Các nghiên cứu luôn cho thấy ngay cả những doanh
nghiệp nhà nước lớn nhất có kết quả hoạt động kém hơn các doanh
nghiệp tư nhân từ hai đến ba lần theo các tiêu chí như tính sinh lời, tỷ lệ
thu hồi tính trên tổng tài sản, tính trên vốn được cấp, trên lượng hàng bán
ra và tổng năng suất lao động.15
Sự yếu kém của các doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc còn rõ rệt
hơn khi so sánh với các công ty tư nhân nước ngoài.16 Tỷ lệ thu hồi tính
trên vốn được cấp của 500 công ty đứng đầu Trung Quốc (đều do các
doanh nghiệp nhà nước thống lĩnh) là vào khoảng 40% kém hơn mức
trung bình của các công ty trong danh sách Fortune Global 500 (500
công ty lớn nhất thế giới theo tạp chí Fortune). Ngay cả khi kinh tế
Trung Quốc tăng trưởng đáng kể thì những khuyết tật này sẽ vẫn không
mất đi. Chất lượng của nền kinh tế Trung Quốc, như đuợc thẩm định bởi
sự quản lý doanh nghiệp, sẽ không có huớng tăng lên trên cơ sở các số
liệu thống kê kinh tế dồi dào và chuẩn mực.
Một số người phương Tây rất muốn tin rằng thực tế của Trung Quốc
có thể được lý giải bằng những nguyên tắc phổ quát về kinh tế - chính trị.
Đằng khác, những người có khuynh hướng tư duy triết học, lịch sử hoặc
khoa học xã hội thì lại rất muốn nhìn sự khác biệt của Trung Quốc sâu
sắc qua lịch sử và văn hóa. Đó có thể là một hướng phân tích có ích vì nó
khắc phục được bản chất luận (essentialism) - tức là cứ khăng khăng cho
rằng mọi người Trung Quốc đều nghĩ theo một cách nào đó. Nhưng còn
một con đường khác, đơn giản hơn, để có những nhận định chính xác
hơn là hai cách nói trên.
Những luận cứ cho rằng văn hóa Khổng giáo của Trung Quốc là
không thích hợp với sự biến đổi tự do trong nước và hội nhập quốc tế, là
không cần thiết, dù trên vài phương diện thì những luận cứ ấy là đúng.
Nghĩ cho cùng, các xã hội với những đặc trưng truyền thống tương tự,
15 Muốn biết thêm về một số bài gần đây liên quan đến vấn đề này, xin tham
khảo Shaomin Li, Yingchou Lin và David D. Selover, “China State-Owned
Enterprises: Why Aren’t They Efficient?”, Old Dominion University, July 16,
2010.
16 Xem A Report on the Development of China’s Enterprises 2007 (Enterprise
Management House, 2007).
John Lee | Chủ nghĩa Lê-nin hợp doanh của Trung Quốc 102
Thời Đại Mới | Tháng 3, 2012
như Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc và ngay cả Singapore, đã chứng tỏ
luận đề trên là sai. Đúng hơn, Lê-nin đã ảnh hưởng đến lộ trình của
Trung Quốc nhiều hơn là Khổng Tử. Dù có giải thích sự khác biệt của
Trung Quốc thế nào đi nữa thì người Mỹ và những người khác cần chấp
nhận cái thực tế là Trung Quốc quá quan trọng để bỏ qua, quá to lớn để
hăm dọa, quá ghê gớm để bắt nạt. Trung Quốc sẽ không theo một con
đường quen thuộc hướng tới một điểm đến không tránh khỏi, chỉ vì các
nhà quan sát Phương Tây quá lười biếng hoặc tự mãn về văn hóa để hình
dung những khả năng khác nữa.

© Bản dịch của Thời ĐạiMới

Comments