Cảnh báo của Tỳ khưu Giới Đức

DẠY VÀ HỌC. Blog Hoài Tố Hạnh có bài viết Sóng thần Hoàng Quang Thuận với cảnh báo của Tỳ khưu Giới Đức ( Minh Đức Triều Tâm Ảnh ) : Hai hiện tượng bất thường: Một, mạo danh thơ Thiền Yên Tử. Hai, mạo danh Thiền của vua Trần Nhân Tông cần phải được báo động rộng rãi. Đây là vấn đề hệ trọng , tôi chép lại để nghiên cứu (tài liệu tham khảo đặc biệt).

Trong thời gian gần đây có hai hiện tượng được đài báo và nhiêu tạp chí truyền thông... Một là “hiện tượng thơ Thiền non thiêng Yên Tử” của ông Hoàng Quang Thuận, và hai là hiện tượng “đạo sư” Duy Tuệ lập nhiều câu lạc bộ, nhóm, hội “ Thiền Minh Triết Trần Nhân Tông” trong và ngoài nước.

Hiện tượng nào cũng như sóng nổi ầm ào... và đúng sai, phải trái, chân ngụy - mọi người cũng đang bàn cãi, tranh luận...

Nhận thấy cả hai hiện tượng đều liên hệ đến vua Trần Nhân Tông, sơ tổ Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Cả hai đều mượn danh nghĩa ngài. Một người làm thơ về Yên Tử, rồi cổ súy, ca ngợi trở thành “Thơ thiền non thiêng Yên Tử” để dự giải Nobel văn học! Một người lấy luôn tên hội của mình là “Thiền Minh Triết Trần Nhân Tông” để rao giảng “xuyên quốc gia” có nhiều tổ chức “nâng” và “đỡ”.

Nhận thấy đây là mối nguy hại cho Phật giáo nói chung và non thiêng Yên Tử, Hương Vân đầu đà nói riêng - nên tôi, là một tu sĩ, do có nghiên cứu thơ Thiền, và Thiền của đại sĩ nên tôi muốn đóng góp một tiếng nói chính quy từ cửa Thiền, cửa Phật không phân biệt Bắc Nam cùng mọi tông hệ trên toàn thế giới - hầu cùng chư vị thức giả, trí giả suy ngẫm để biết đâu là cái thực và đâu là cái giả, đâu là cái chánh, đâu là cái tà.
Dĩ nhiên, hai bài viết của tôi phải bám tựa vững chắc trên mảnh đất Phật học và Thiền học mang tinh yếu, cốt lõi nền tảng chung của giáo pháp.
Trân trọng,
Tỳ-khưu Giới Đức
(Minh Đức Triều Tâm Ảnh)


Bài thứ nhất:
Hiện tượng “thơ Thiền” của Hoàng Quang Thuận

Hoa Tàn, Mưa Tạnh,
Non Yên Lặng...

Hiện tượng thiên tài thơ, siêu việt thơ, thần thánh thơ... của GSTS Hoàng Quang Thuận - Viện trưởng Viện Công nghệ Viễn thông Việt Nam - qua hai tập “Thi vân Yên Tử” và “Ngọa Vân Yên Tử” mà hội Nhà văn Việt Nam vừa tổ chức hội thảo với những bài tụng ca vi vút tận trời xanh, xem như “dòng thơ Thiền non thiêng Yên Tử” và người ta đã gởi đi dự giải Nobel văn học, người ta đã tặng cho đất Phật Yên Tử cuốn sách độc bản với kích thước 125cm x 80cm x 16cm nặng 120 ký đạt kỷ lục châu Á; lại nghe tin hành lang là người còn dự định cho khắc chạm “thơ Thiền này” khắp núi non Yên Tử nữa!

Hiện tượng ấy như là một cái gì cần phải “chau mày suy nghĩ” đối với nền văn học nước nhà, nhất là văn học Phật giáo. Người ta muốn quảng cáo như thế nào, đạt được kỳ vọng gì là quyền của người ta, nhưng ca tụng thái quá hai tập thơ ấy như là “thơ Thiền non thiêng Yên Tử” là một cái gì thiếu nghiêm túc, thiếu cẩn trọng cần phải được báo động:
- Thơ của Hoàng Quang Thuận có phải là “thơ thiền” hay không?
- Một người Phật tử hay là một người mộ Phật, cảm xúc về Yên Tử có thể làm được “thơ thiền” chăng?
- Thơ “nhập đồng” hay là kiểu mượn bút viện cớ là của tiền nhân có phải là tinh thần Phật giáo không?
- Làm thơ mà “đạo văn” của người khác - dù bạn bè đã gắng gượng đính chính chỉ là “mượn văn” - cái tâm ấy có thể sáng tác ra “thơ thiền” được chăng?

Hỏi, dường như đã có câu trả lời. Một người Phật tử bình thường cũng cảm nhận, cũng ý thức được đấy là chuyện “không thể”. Thế nhưng, tại sao, thiên hạ chẳng thấy đó là chuyện “không thể”, lại làm một trò đùa hơi quá đáng để “tụng ca, tán thán ca” bằng một bè hợp xướng, một giàn đồng ca ”tươi vui xôm trò” như thế?

Cái hiện tượng thơ Thiền ấy tạo nên một cao trào “rôm rả” mà ta có thể tóm lược như sau:
- Hai tập thơ đã được in và tái bản bốn lần bằng tiếng Việt và cùng ba thứ chữ Việt-Pháp-Anh với số lượng in lên đến 25.000 bản. Và người ta đã làm đầy đủ hồ sơ hai tập thơ và dịch ra tiếng Anh gửi tham dự giải Nobel văn học.
- Có một vị giáo sư mê say ngồi dịch nó mặc dù tuổi cao sức yếu vì không thể cưỡng lại “chất Thiền” ở trong đó.
- Có một ngài nguyên Tổng giám đốc đài nghe nhìn, đọc thơ của ông Thuận đã cảm hứng thốt lên bằng một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt tuy không đúng niêm luật, lại tán thơm: “Tôi tưởng theo anh thăm Yên Tử/ Nào ngờ lạc bước chốn thi vân/ Hoàng Quang cửa Phật soi câu chữ/ Thuận dòng rửa sạch chốn bụi trần”.

- Đến nay hiện đã có hàng chục tờ báo ở trung ương và địa phương, từ báo Nhân Dân, Hà Nội mới, Sài Gòn Giải phóng đến các báo Hạ Long, Quảng Ninh, Thể thao - Văn hóa... đều đã có bài đăng tải về “hiện tượng thơ Hoàng Quang Thuận”. Thậm chí có người “cho lên mây xanh” nhưng dựa trên nền thực trạng bát nháo thơ Việt hôm nay: “Giữa thời buổi thơ in ra nhan nhản, chủ yếu xoay quanh đề tài tình yêu hoặc co vào suy tưởng chiêm nghiệm cá nhân, đôi khi rối mù tắc tị… thì “Thi vân Yên Tử” và “Ngọa Vân Yên Tử” như một áng mây lành, thoát tục, trong trẻo đến lạ lùng dắt người đọc vào chốn Bồng Lai, rũ bỏ bụi trần trở về với bản ngã thiện tâm trong mỗi con người...”

- Tập thơ đã có tiếng vang thật là “quốc tế”, có lẽ do không tiếc công quảng cáo, tiếp thị, “ưu thế quan hệ” và cả cái gì đó khó hiểu nữa - đến đổi Tổng Thống Pháp đã khen ngợi, Tổng Thống Mỹ gởi lời cảm ơn và hoàng cung Thụy Điển đánh giá là cao siêu và sâu sắc!

- Trước sự động viên cổ vũ của “giàn đồng ca”, ông Thuận đã tự mình - hay ai đó xúi giục - gửi hai tập thơ ấy đi tham dự giải Nobel văn học; và có người còn đẩy “giá trị thơ thiền” ấy đi quá xa, rằng là: “Được giải hay không chẳng quan trọng bằng việc hai tập thơ đã là sách gối đầu giường của nhiều bạn đọc hôm nay và mai sau, đặc biệt đối với những ai yêu thích ‘dòng thơ Thiền’ với những trải nghiệm tâm linh cực kỳ thú vị”.

Còn nữa, chúng ta còn có duyên may mắn ngàn năm một thuở được nghe khúc hòa tấu vang vọng lên tận non thiêng Yên Tử, nó động đến, làm giật mình những hồn thơ cổ xưa, cổ kính của sơ tổ Trúc Lâm, tam tổ Huyền Quang và cả Nguyễn Trãi, Nguyễn Trung Ngạn nữa...

Để có thêm tư liệu dẫn chứng, tôi xin nhắc đến bài “Thi vân Yên Tử - tác phẩm và dư luận” của GD&TĐ Online đã đúc kết đại lược là: Sau hội thảo “Hoàng Quang Thuận với Non thiêng Yên Tử” do Tạp chí Nhà văn - Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức ngày 8/8/2012, có rất đông người yêu thơ phản hồi bày tỏ tình cảm quan tâm, trân trọng những vần thơ đẹp lạ, rất thanh khiết mà dung dị mang đậm chất Thiền. Đại diện cho Hội Nhà văn, ông Hữu Thỉnh nói rằng: “Thơ anh - Hoàng Quang Thuận - là một bức tranh tôn giáo trầm mặc mà sống động, thanh khiết mà run rẩy!”

Những ai quan tâm đến nội dung buổi hội thảo mà GD&TĐ đề cập để biết cái “thanh khiết mà run rẩy” của Hữu Thỉnh muốn nói là cái gì - thì có thể đọc bài của ông: “Một hồn thơ sau những bức tranh tôn giáo”. Tiếp theo, những ai muốn nghe những “vần thơ đẹp lạ, rất thanh khiết mà dung dị mang đậm chất Thiền” ấy ra sao thì cứ nhờ chú Google dẫn đường để xem thêm một số bài khác:

- Lạc đạo tùy duyên cùng Thi Vân Yên Tử (Đỗ Ngọc Yên). Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử (Hữu Việt). Cảm hứng thiền trong thơ Hoàng Quang Thuận (Ngô Hương Giang). Dấu tích vua Phật Trần Nhân Tông ở Yên Tử trong lòng thi nhân (Đặng Hiến). Vẻ đẹp cõi Phật trong Thi Vân Yên Tử của Hoàng Quang Thuận (Nguyễn Toàn Thắng). Cảm thức tâm linh trong thơ Hoàng Quang Thuận (Dương Kỳ Anh). Thiền vị trong Thi vân Yên Tử của Hoàng Quang Thuận (Trần Thị Thanh). Về Yên Tử đọc thơ Hoàng Quang Thuận (Đăng Lan). Cảnh vật trong cảm thức thiền tông (Phạm Quang Trung). Không gian “Thiền” trong Thi vân Yên Tử (TS. Hà Ngọc Hòa). Yên Tử qua thơ Hoàng Quang Thuận (Thu Phong). Chữ tâm trong Thi Vân Yên Tử (Mộc Lan). GS. Hoàng Quang Thuận: Tiền nhân mượn bút tôi viết thơ (Dương Tử Thành). Có một nhà thơ danh sơn Yên Tử (Trần Nhuận Minh). Thi vân Yên Tử của Hoàng Quang Thuận - Một chân dung thơ - Phật tính hiền truyền (Hoàng Trung Hiếu). Tình yêu đất nước và chất thiền Thi Vân Yên Tử (Thế Trung). Thi vân Yên Tử của tác giả Hoàng Quang Thuận như một hiện tượng văn học (PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn).

Tuy nhiên, có điều đáng mừng là không phải ai cũng chạy theo phong trào ca tụng ấy, quả thật đã có những người đã tỏ vẻ hoài nghi thiên tài thơ thiền ấy, họ đã biết đặt những vấn đề:
- Thi vân Yên Tử “nhập đồng” hay “đạo” thơ? (SGGP Online). Trong đó nhà văn Võ Thị Xuân Hòa: “Hội Nhà văn Việt Nam sẽ làm rõ nghi án ‘đạo’ thơ”. Còn nhà phê bình Nguyễn Hòa: “Liệu nó có đúng là thơ không và có đúng với những gì mà ông Thuận nói là thơ của tiền nhân không, vì theo đánh giá của tôi, đó chỉ là văn bản thơ hạng xoàng!”

- “Thi vân Yên Tử” của Hoàng Quang Thuận có phải là thơ nhập đồng? của luật sư Nguyễn Minh Tâm. Trong đó, người viết đã rất trung thực phân tích và chứng minh rõ, thơ ấy không phải là thơ nhập đồng, cũng không phải tiền nhân mượn bút - mà chính Hoàng Quang Thuận đã lấy ý từ quyển sách “Chùa Yên Tử, lịch sử - truyền thuyết, di tích và danh thắng” của tác giả Trần Trương để “biên soạn lại thành thơ”.

- “Hiện tượng thơ nhập đồng” hay là trò sao chép, lừa đảo? của Mai An đăng ở báo Dân Việt, trong đó tác giả nói trong ba đêm mà sáng tác 141 (sic) bài thơ và dự giải Nobel phải chăng là “giấc mơ quá cỡ”? Rồi Mai An trích câu nói của nhà thơ Trần Trương, hội Nhà văn VN: “Đây là một hành động lừa đảo...”

- Dấu hiệu đạo văn của “nhà thơ nhập đồng” - tác giả Nguyễn Việt Chiến đăng trong tạp chí Văn học và Ngôn ngữ.
- “Hiện tượng thơ nhập đồng”: Sớm làm rõ “nghi án” đạo văn; và “Ai tiếp tay cho nhà thơ nhập đồng Hoàng Quang Thuận dự giải Nobel” - Lê Tâm thực hiện. Trong đó tác giả bảo có nhiều người muốn biết ai viết giấy giới thiệu? Và nổi bật ý kiến: “Dự giải Nobel là một điều khôi hài”.

- Và mới đây là bài “Cái lưỡi... đa nhân cách và những phát ngôn” của Kỳ Duyên đăng tại Báo Mới.com - trong đó tác giả sau khi phê phán khá nặng nề ... và viết lơ lửng “Xấu chàng, hổ... Tạp chí Nhà văn”, đã nói là ông Thuận phải trả giá đắt cho sự nông nổi của mình chỉ vì hai chữ lợi danh tai quái; ông muốn đạt tới “ngộ” nhưng có lẽ tục lụy còn quá nhiều, tham, sân si còn quá lớn nên “ngộ nhận” chăng?

Có lẽ liệt kê như thế cũng tạm đầy đủ.

Đầu tiên, tôi xin góp ý một cách đúng đắn và khách quan rằng, cả hai tập thơ của Hoàng Quang Thuận là loại thờ tả cảnh, tự sự, cổ tích, sử tích, huyền thoại vào loại bình thường. Tôi nói là bình thường - chớ không dám nói thẳng thừng như nhà phê bình Nguyễn Hòa gọi là “hạng xoàng!” Đối với tôi, nếu “được gọi là thơ” thì thơ Quang Thuận chưa phải là “thơ hay” vì nó thiếu “chất thơ”, tức là thiếu vắng ngôn ngữ nghệ thuật và hình tượng nghệ thuật. “Chất thơ” thì nó không nằm nơi ý nghĩa bề mặt câu chữ của văn bản mà nó phải ở ngoài hoặc ở phía sau bề mặt câu chữ của văn bản. Cố gắng đọc vài chục bài thơ của ông, tôi đã thấy chán, vì nó “chẳng có thơ” và dĩ nhiên, đích thực là “chẳng có Thiền”! Tôi thấy đâu đó chỉ là sự lắp ghép ý tứ, câu chữ, lựa dáng, tìm vần... nhưng mà cũng chưa chỉnh, chưa “giỏi” lắm! Và ý nghĩa của nó chỉ có một, nó nằm “chết”, nằm “bất động” nơi bề mặt câu chữ của văn bản mà thôi. Ta hãy khảo sát một số bài:

1. “Cổ thụ vươn cao xòe tán rộng
Rừng già nóng lọt đốm hoa rơi
Dây leo chằng chịt vắt cành lá
Chìm rừng líu lót với hương trời”.

2. “Viên gạch Hoa Cúc đời nhà Trần
Phù điêu sư tử sứ hoa vân
Vẫn ba gốc đại ngày xưa ấy
Bao năm xa cách vẫn thấy gần”.

3.“ Từ bỏ ngôi vua để tu hành
Từ cái nhất thời, cái hữu danh.
Vĩnh hằng vô hạn, vua tìm đến
Yên Tử trường xuân hóa đất lành”.

4. “Vòng cung uốn lượn tựa mình rồng
Vươn mình thế núi hướng biển Đông
Ẩn sâu khúc lượn trong lòng đất
Đầu rồng ngoảnh lại hướng Thăng Long”.

5. “Dựng xây cung điện đế triều nghi.
Định đế xưng vương lập thành trì.
Đại Hoàng cổ Việt Trương Yên phủ.
Hào sâu núi hiểm bất khả tri”

Cả năm bài tứ tuyệt, nếu là tứ tuyệt nghiêm túc thời trung đại thì bài nào ở đây cũng thất niêm luật cả (những chữ gạch đáy, đổi trắc thành bằng, bằng thành trắc mới đúng); và ý nghĩa của nó chẳng khác gì thông tin của một văn bản điện tử, hiểu ngay, nắm bắt được ngay! Đây là loại “văn xuôi có vần!” Rất tầm thường! Mới tập làm thơ cũng làm được. Nếu ai đó nói là có tâm thì đúng vậy, nó chỉ có tâm! Nhưng ngay cái tâm ấy cũng chưa nắm bắt căn bản tư tưởng Phật học khi nói “vĩnh hằng và trường xuân” ở nơi bài 3 - vì “vĩnh hằng” là cõi của nước Chúa, còn “trường xuân” là cảnh giới luyện tinh thành khí để đạt “trường xuân bất lão” của Đạo gia! Còn về thơ tứ tuyêt như trên thì nhà phê bình Nguyên Hòa cười mỉm: “Dù tác giả làm nhiều bài thơ tứ tuyệt hoặc ghép hai bài tứ tuyệt thành một bài thất ngôn bát cú cho có dáng dấp Đường luật thì ngay cái việc cố gắng ép thơ vần cũng đã đưa lại ý tứ khôi hài...”

Đấy là chúng ta khảo sát về cái gọi là thơ thì thơ Quang Thuận chỉ là “văn xuôi có vần!”, chưa phải là thơ thứ thiệt! Còn về cái mà người ta gọi là “thơ Thiền” của Quang Thuận, thì hãy nghe nhà phê bình Nguyên Hòa nhắc nhở: “Xin chớ nghĩ hễ trong bài thơ có hình ảnh chùa chiền, non cao, bóng núi, cây đá, mây trời, trăng treo, tiếng hạc... là bài thơ có chất Thiền! Xin hãy hiểu rành rẽ về Thiền và thơ Thiền rồi hãy viết, kẻo lại rơi vào cảnh ngộ ‘vẽ rắn thêm chân’!” Nói vậy, rõ là ông Nguyên Hòa đã rất thận trọng “về Thiền và thơ Thiền”. Thận trọng là đúng. Tuy nhiên, nếu là tôi, là một tu sĩ có học Thiền, có tu Thiền và cả dạy Thiền, tôi sẽ mạo muội xin phép viết lại mệnh đề cuối như sau:“Xin hãy tu tập Thiền, chứng nghiệm Thiền, sống Thiền rồi hãy làm thơ Thiền, kẻo lại rơi vào cảnh ngộ ‘đầu thượng trước đầu, tuyết thượng gia sương’! (1)” Vì vậy, hai tập thơ của Quang Thuận viết về Yên Tử mà được mọi người gọi là thơ Thiền thì quả là hơi nóng vội, có cái gì đó thiếu chân xác, cần phải đính chính lại.

Tại sao tôi lại dám nói vậy? Vì thật sự là thơ Thiền thì phải được cảm hứng từ trực giác tâm linh của những Thiền sư đạt ngộ, của những hành giả đã từng miên mật công phu định tuệ (2) trên non cao, động thẳm, trong những tu viện xa vắng, tịch liêu. Các vị ấy đã nhảy qua hố thẳm phạm trù của lý-trí-thức-tri-nhị-nguyên-sai-biệt, đã giải quyết trọn vẹn “tử sinh đại sự”, đã cất tiếng cười lạnh giá cả sao Ngưu, sao Đẩu, đã cởi bỏ tất thảy mọi xiềng xích buộc ràng của bản ngã với những mặt nạ hư dối, đã trang bị cho mình con mắt thứ ba của “tuệ nhãn” nhìn xuyên thủng hư vô bị che chắn dập dờn bởi khói sương mê lầm, vọng huyễn. Cuộc đời các vị ấy là một chân dung mô phạm khả kính. Họ có đời sống giới luật nghiêm túc, có đạo hạnh tôn quý, có tuệ giác khinh linh siêu thoát. Họ sống thiền trong từng hơi thở, từng sát-na nên mới có thẩm quyền về thiền, nói về thiền, mới có thể “thở ra thơ thiền” được. Còn tác giả của những tập thơ Yên Tử này là ai? Một Phật tử hay đơn thuần chỉ là một người mộ Phật? Hoặc chỉ là một người kính yêu non thiêng Yên Tử? Là một con người bình thường có gia đình vợ con? Một cư sĩ trí thức hay một vị quan đang “đại ẩn” tại triều trung? Và nếu gồm tất thảy những con người ấy, với những “hành trạng” như thế thì người ta chỉ có thể làm thơ tức cảnh, tức tình, về tự sự, về cổ tích, về danh thắng hay về huyền thoại... nhưng thơ ấy không thể gọi là thơ thiền! Tôi nghe biết tác giả là một GSTS, một viện trưởng, một nhà khoa học; tuy nhiên, cho dẫu một trí thức uyên bác cũng không thể nào với tới thế giới tâm linh trực giác, là lãnh địa ở ngoài mọi kiến thức và trí năng? Có thể nào trí thức bác học hiện nay trên thế giới ai cũng có thể liễu giác, chứng nghiệm thiền, sống thiền trong một vài sát-na tư duy đốn ngộ và có thể làm được thơ thiền cả thảy? Điều này là bất khả. Điều này là “vẽ lông cho rùa”, “chắp sừng cho thỏ” (3).

Còn nữa. Còn một chuyện nữa. Như người ta nói, và chính tác giả cũng có nói là mình làm trong ba đêm liền tập “Thi vân Yên Tử” gồm 143 bài trong trạng thái như “nhập đồng’, do tiền nhân mượn bút nên khó lý giải được. Đầu tiên, xin được đính chính, là cái kiểu “nhập đồng, mượn bút” kia không phải là tinh thần của nhà Phật chánh tông, nó hơi “tà” rồi đấy! Có người lại suy luận, có lẽ do nhập định sâu mới làm thế được. Xin thưa, “nhập định sâu” (4) thật sự thì phải đóng hết cả sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý); trong trạng thái ấy, hành giả đâu có thể khởi tư duy mà làm thơ được?! Hàng ngàn người tu thiền định thứ thiệt họ biết rõ điều đó; nói chuyên môn một chút là phải xuống “cận hành định” mới khởi “tầm và tứ” tức là khởi ý niệm và suy nghĩ được! Riêng chuyện nhập thần, mượn bút thì có thể có - nhưng “tiền nhân” này là ai? Tiền nhân này sao lại có đọc quyển sách “ Chùa Yên Tử, lịch sử, truyền thuyết, di tích và danh thắng” của tác giả Trần Trương? Cứ dựa theo sách của người ta, đổi văn xuôi thành văn vần để biến ra cái gọi là thơ thiền? Tiền nhân này sao lại “mượn văn” của tác giả đang sống hiện nay một cách vô ngại thời gian như thế? Và nếu có thật chuyện đó thì tiền nhân này không phải là Phật, là thần, là Trần Nhân Tông, là các vị thiền sư, là các đại bút danh sĩ rồi! Tại sao? Vì Phật thần thì không có cái tâm xiêng xẹo, cong vênh như thế! Và nếu là các tác gia thời trung đại thì “đại bút” của các vị ấy đã rơi xuống “tiểu bút” rồi, thi hương cũng không đỗ đâu! Còn nếu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, các vị thiền sư giáng bút thì sao thơ quý ngài lại “xuống cấp” đến vậy, “tầm thường thơ” đến vậy, chẳng có tuệ, có thiền, có trao truyền mật chỉ tâm ấn gì cả?! Tiền nhân này là ai vậy? (5) Chúng ta phải tìm cho ra cái khuôn mặt của ông ta - để giải bớt cái oan khuất cho tất thảy thiền sư, danh sĩ thời Lý, Trần mà văn học sử thường xem như đấy là thời đại đỉnh cao của văn học, là cái “nôi” hàm tàng mọi giá trị mỹ học, thiền học cũng như tinh túy văn hóa bản sắc của cha ông. Tiền nhân nhập bút ấy là ai mà Nguyễn Hòa đã than: Nếu thực sự “tiền nhân mượn bút” của Hoàng Quang Thuận để “viết thơ” thì xem ra thơ của “tiền nhân” đã sa sút đến mức thê thảm... Với các bài thơ chưa đúng niêm luật ... mà được gọi là “nghệ thuật Đường thi trác việt” thì đúng là hết thuốc chữa!
Quả đúng là hết thuốc chữa!
Vì “trăm năm duyên kiếp” như thế này mà cũng là thiền sao:
“- Trăm năm duyên kiếp còn lưu lại
Lối cũ đường xưa ngập cỏ cây”.
Và đây cũng gọi là thơ, là thiền sao:
“- Ba tên kẻ cướp nhảy chặn đường
Vua Trần cho bạc lẫn phần cơm
Nhẹ nhàng thuyết giáo trừ tâm độc
Cả ba quỳ lạy hứa hoàn lương!”
Và đây nữa:
“- Hoa Lư kinh thành của Đế vương
Mây bay phủ núi luỵ biên cương
Hoàng Long dậy sóng ngàn năm ngủ
Long Mã truy phong thượng đạo đường”.

Bài nào cũng thất niêm luật, không những không phải thơ, không phải thơ thiền mà còn không hiểu tác giá đưa thông tin “bí mật” gì ở nơi chỗ “lụy biên cương” và cái “thượng đạo đường”?
Vậy là quá đủ.
Xin chư vị thức giả thẩm định cái gọi là “tiền nhân nhập thần mượn bút” ấy cho!
Tôi không tu Thiền theo thiền phái Trúc Lâm, không phải là đệ tử, thân hữu, cũng không quen biết các ngài, các Sư, Ni ở trong tông môn đó. Tôi thuộc Theravāda, chỉ là một tu sĩ yêu thơ, có nghiên cứu thơ văn của Trúc Lâm tam tổ và các danh sĩ làm thơ có ảnh hưởng thiền thời Lý, Trần. Thơ, thơ thiền, thơ có tư tưởng thiền và thơ có liên hệ đến non thiêng Yên Tử của các vị ấy, vào thời trung đại ấy... tôi nghẹn chữ, không biết nóí sao. Tôi chỉ muốn ví von - dù biết ví von nào cũng khập khễnh - là nó như là hạt tuyết trắng trinh tuyền trên non cao. Nó là đóa hoa tinh khôi, diệu vợi u hương trên đầu núi. Mà bút khí, bút lực, bút trí, bút tâm của thế gian là bút của chợ triền, ở dưới này, thường không vói tới! Nó khác, nó rất khác, nó khác xa so với tất cả thơ mạo nhận là thơ thiền hiện nay. Tảng đá tịnh định, trầm mặc trong vườn thiền hôm kia cũng toát mồ hôi. Lau cỏ quê mùa dân dã, an nhiên sáng nay bên hiên chùa cũng run lẩy bẩy. Hiện tượng phẩm bình hơi quá bút về thơ thiền của Hoàng Quang Thuận làm cho “đá cỏ trong vườn thiền” cũng phải lên tiếng đính chính một vài chỗ cần thiết. Tuy nhiên, thật may mắn thay cho Phật giáo chúng ta, và cả cho những ai yêu non thiêng Yên Tử cùng cốt cách “cam lộ lưu phương (6)” của Hương Vân đầu-đà - là các nhà học giả nghiêm túc, các nhà nghiên cứu có đạo đức tri thức đã đồng loạt phản bác, phê phán nghiêm khắc, đã nhìn ra “chân tướng”, đã chỉ ra cái “bản lai diện mục” của cái trò chơi hơi “quá đà” kia rồi! Chỉ một chút xíu “quá đà” thôi, chớ không nên nói khá nặng lời như ai đó đã xem như là một hiện tượng vĩ cuồng!
Để kết luận, tôi xin trích bài tứ tuyệt thứ hai trong “Sơn phòng mạn hứng” có 2 câu đầu đối, hai vận, luật bằng nghiêm túc của thiền sư thi sĩ Trần Nhân Tông:

“ Thị phi niệm trục triêu hoa lạc
Danh lợi, tâm tùy dạ vũ hàn
Hoa tận, vũ tình, sơn tịch tịch
Nhất thanh đề điểu, hựu xuân tàn”.
Tạm dịch (không lấy hết ý trong cặp đối):

“- Phải, trái niệm rơi hoa rạng sớm
Lợi danh lòng lạnh mưa thâm đêm
Hoa tàn, mưa tạnh, non yên lặng
Còn tiễn xuân tàn, một tiếng chim!”

Hy vọng rằng, những hiện tượng phù du như vậy rồi sẽ qua đi. Chuyện phải, chuyện trái nó rơi theo hoa buổi sớm rơi. Cái tâm về lợi danh nó lạnh ngắt giống như trận mưa lạnh ngắt đêm rồi! Và ngay cái rơi, cái lạnh ấy cũng không còn nữa, nó rụng, nó tạnh hết rồi, chỉ còn lại non yên lặng mà thôi. Và ở nơi cái “thực tại non yên lặng” ấy, một tiếng chim vừa hót lên...Cũng vậy, cái gì không phải thơ, không phải thiền thì nó sẽ rơi, sẽ rụng đi - nhưng sự an tĩnh và thanh khiết của hồn thơ, hồn thiền non thiêng Yên Tử sẽ còn mãi với thời gian. Mong vậy thay!

Chú thích:
(1) Trên cái đầu, chồng thêm cái đầu, trên tuyết lại phủ thêm sương - tức là ý niệm chồng thêm ý niệm, che lấp cái thực!
(2) Định (Samādhi), Tuệ (Vipassanā).
( 3) Thuật ngữ Thiền: “ Thố giác” (sừng thỏ), “mao quy” (lông rùa). Hình ảnh này nói lên ý nghĩa, là người ta đã dùng cái “không thực có” để găm cắm lên “cái thực” - tức là lấy ý niệm, khái niệm (chỉ tồn tại trong tu duy lý tính) để vẽ, để chắp lên pháp như thực tánh, bản nguyên (sabhāva dhamma - paramattha dhamma).
4) Tối thiểu phải sơ thiền trong bốn tầng (jhāna) thiền.
(5) Theo nhà Phật, một người tu Phật có chánh kiến, không bao giờ tin việc nhập thần, giáng bút ấy là của thánh thần tiên Phật; nếu có, chúng chỉ là ma quỷ (ngạ quỷ, dạ-xoa, a-tu-la) mà thôi. Tin ba cái chuyện mê mê hoặc hoặc ấy là tà kiến. Vậy, nếu có, thì “tiền nhân mượn bút” ấy chỉ là ma quỷ.
(6) Móc ngọt chảy mùi thơm.


Mổ xẻ cái gọi là Thiền Minh Triết của “đạo sư” Duy Tuệ

- Tỳ-khưu Giới Đức (Minh Đức Triều Tâm Ảnh)

Duy Tuệ đã dùng công cụ của lý trí bất toàn đầy tham vọng cùng với những sở tri chắp vá, vay mượn nhiều nơi để khai sáng cho bao người?!

Đầu tiên tôi sẽ khảo sát, phân tích xem thử cái kiến thức “hàn lâm” của ông ta như thế nào! Thiền là gì và Minh Triết là gì! Và ông ta có hiểu Thiền là gì không? Có hiểu Minh Triết là gì không?

Đập ngay trước mắt ta là cụm từ “Thiền Minh Triết” mà ông đã dịch sang tiếng Anh là Enlightenment Meditation - xem thử có đúng với ngữ nguyên chăng?

Enlightenment: Khai sáng, giác ngộ.

- Nếu dịch “enlightenment” là “khai sáng” thì xuất xứ của nó ta được biết có từ “thời kỳ khai sáng” hay “thời đại khai sáng” mà người Anh gọi là “The Enlightenment” (Xem Wikipedia). Phong trào có tên là “Thời đại khai sáng” này xuất hiện ở châu Âu được đánh dấu niên đại từ năm 1648, hiệp ước Westphalie đến năm 1979, cách mạng Pháp - nhằm hạ bệ sự thống trị của tôn giáo trên mọi lãnh vực tín ngưỡng, tư tưởng, nhân sinh, xã hội, nhất là khoa học tự nhiên (natural science). Phong trào này người ta cho rằng, chính “lý trí và khoa học” chứ không phải tôn giáo (Thiên chúa giáo La Mã) làm cho nhân loại tiến bộ. Vậy “khai sáng” trong không-thời-gian và bối cảnh châu Âu thuở ấy có nghĩa là “lý trí khoa học” khai sáng (enlightenment) cho nhân loại qua những nghiên cứu về vật lý, sinh học, hóa học, cơ học, quang học, thiên văn học...

- Nếu dịch “enlightenment” là “giác ngộ” thì Tây phương thường dùng để chuyển tải khái niệm về sự giác ngộ của đức Phật (The Buddha's Enlightenment). Và nếu là giác ngộ thì nó không thuộc phạm trù lý trí khoa học ở trên nữa, mà nó thuộc về trực giác tâm linh, tức là sự thấy biết chân lý, sự thật, pháp như thực tánh (sabhāva dhamma) ngay tức khắc, không qua trung gian của lý trí nhận thức hay suy luận (tưởng tri - sañjānāti hay thức tri - vijānāti). Nó thuộc lãnh vực của tuệ tri (pajānāti) hay liễu tri (ājānāti) mà học thức, trí năng của con người không bén mãng tới được.

Meditation:

- Tây phương thường dùng từ này để dịch chữ “Thiền” của Phật giáo. Có lẽ họ đã không có từ tương đương để chuyển tải chính xác nội dung của “Thiền”. Tại sao vậy?

Trong Tam Tạng kinh điển Pāḷi văn mà (hội) Pāḷi Test Society đã dịch ra tiếng Anh phổ biến từ thế ký 19-20, các nhà nghiên cứu người ta đã rất thận trọng khi dịch những thuật ngữ Phật học. Từ nào chuyển ngữ được thì họ tìm từ tiếng Anh tương đương, từ nào không chuyển ngữ được, họ dịch ý, nếu sợ bị lệch khái niệm thì họ giữ nguyên từ Pāḷi.

Ví dụ:

* Thiền định, samādhi: Người Anh họ dịch là suy ngẫm, là trầm tư, là gom tâm ý lại (concentration) hay là sự bình tĩnh, tự chủ (self-control); và phổ thông nhất là tập trung tư tưởng (meditation) vào một đối tượng. Thiền định, samādhi của Phật giáo được dịch là meditation thì tạm được. Tôi nói “tạm được” là vì suy gẫm, trầm tư, gom tâm ý lại, bình tĩnh, tự chủ hay tập trung tư tưởng đều không diễn đạt được trạng thái “buông xả” nhẹ nhàng “ly dục, ly ác pháp, đi vào định sơ thiền có tầm, có tứ” của chánh định nhà Phật. Còn nếu là dùng cho Thiền tuệ, minh sát tuệ thì ngữ nghĩa khái niệm đã sai lệch mất rồi.
*Thiền tuệ, tuệ quán hay minh sát tuệ: Chính là Thiền minh sát (vipassanā), tiếng Anh không có từ tương đương nên họ dịch ý bằng những cum từ “nhìn vào bên trong” (inward vision), “thấu hiểu bên trong” (insight), thấy biết bằng “trực giác, qua trực giác” (intuition). Hiện nay, do rất nhiều nhà sư Tây phương tu Thiền tuệ, minh sát, biết dịch sang một ngôn ngữ khác sợ khái niệm bị lệch lạc nên họ đã cẩn trọng giữ nguyên từ vipassanā - khi đề cập đến Thiền minh sát.

Vậy, nếu là Thiền Nguyên thủy (Theravāda), là Thiền có thời đức Phật thì ngài chỉ nói Định và Tuệ. Định thì phải tu “Thiền chỉ - Thiền vắng lặng” qua 40 đề mục về khái niệm (paññatti). Tuệ thì phải nội quán, minh sát ngũ uẩn, thập nhị duyên khởi để thấy rõ tam tướng; tức là phải thấy thực, như chân như thực vô thường, khổ không, vô ngã; và đối tượng của nó phải là pháp như thực tánh (paramattha dhamma) không đi qua, không dính mắc nơi thế giới khái niệm. Đây chính là nội dung mà người Anh thận trọng dịch ý là “nhìn vào bên trong”, “thấu hiểu bên trong”, “bằng trực giác, qua trực giác” như trên. Tất cả các truyền thống Thiền như Thiền Đông độ, Thiền Zen Nhật Bản, Thiền các quốc độ Nam phương như Thái, Myanmar, Srilaṅkā... Thiền Trúc Lâm tam tổ - đều lấy Tứ niệm xứ, nói rõ là Thiền minh sát này làm sở y.

Do vậy, do liên hệ đề tài này, chúng ta phải bỏ công khảo sát thêm ba dòng Thiền khác nữa, đó là Thiền Đông độ của Trung Quốc, Thiền Zen của Nhật Bản và Thiền của Trúc Lâm Sơ tổ.

*Thiền Đông độ: Sơ tổ là Đạt Ma với tuyên ngôn “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”.Và sự lãnh hội tâm chứng của lục tổ Huệ Năng qua bài kệ: “Bồ-đề bổn vô thụ. Minh kính diệc phi đài. Bản lai vô nhất vật. Hà xứ nhạ trần ai!”.

Do giới hạn trang viết nên chúng ta chỉ cần khảo sát hai tuyên ngôn này là biết rõ Thiền này là Thiền gì!

Đạt Ma nói, đại ý là: “Thiền của ta không y cứ trên văn tự, chữ nghĩa, nó là đường truyền riêng không lệ thuộc từ chương kinh giáo; chỉ cứ việc đi thẳng vào tâm người, nếu thấy rõ tánh thì tức khắc thành Phật”. Tuyên ngôn này rất rõ ràng, là đừng kiếm tìm nơi văn tự chữ nghĩa, kinh giáo nữa, mà hãy hạ thủ công phu tu tập nội quán, thấy rõ pháp thực tánh (sabhāva dhamma), tức là thành Phật.

“Trực chỉ nhân tâm” ấy như thế nào?

Huệ Khả thưa:

- Tâm con “không an” xin thầy “an tâm” cho con?

Tổ Đạt Ma mỉm cười (vì chắc là ngài nở nụ cười trong tâm):

- Đâu? Đâu nào? Tâm “không an” của ông đâu, đưa ra đây ta “an” cho!

Có lẽ Huệ Khả “lắng nghe” một hồi rồi thưa bạch:

- Con đã cố tìm rồi nhưng không thấy!

- Vậy là ta đã “an tâm” cho ông rồi đó!

Đúng thế! Vậy là tổ “đã an” rồi! An mà không an gì cả! Truyền tâm mà chẳng truyền cái tâm nào cả. Hóa ra, Đạt Ma dạy quán “tâm pháp” đó thôi! Tại sao? Vì khi Huệ Khả quay lại tìm kiếm tâm, quán tâm, lắng nghe tâm thì khi ấy chính ông ta đã khởi tuệ tri (pajānāti) để nhìn ngắm. Và ông ta đã “tuệ tri được cái tâm bất an” ấy, đã nhìn như thực nó, nhìn ngay cái bản lai diện mục của nó, không đánh giá, không phê phán, không thủ, không xả! Đây đúng là bản sao y gần như nguyên văn câu kệ Pāḷi trong kinh Tứ niệm xứ, đức Phật dạy về lắng nghe tâm, quán tâm, minh sát tâm: “Asamāhitaṃ vā cittaṃ asamāhitaṃ cittaṃ ti pajānāti (Tâm bất an, tuệ tri tâm bất an). Hoặc là: “Thấy như thực thấy, nghe như thực nghe... biết như thực biết...” nhan nhản trong các Nikāya. Cái “tâm bất an” ấy chính là cái đang là, đang hiện thực, đang hiện tiền, nó chính là cái thiết thực hiện tại (sandiṭṭhiko); nó chính là pháp như thực tánh (sabhāva dhamma). Rõ ràng là do nhờ căn trí cao, Huệ Khả tức khắc “ngộ” ra nên quỳ xuống sụp lạy. Vậy là ông ta được trao tâm ấn làm đệ nhị tổ Thiền Đông độ. (1)
Thật ra, đây chỉ là một cách “truyền tâm, quán tâm” mang cá tính, bản sắc Trung Quốc, nhưng cũng là vọng âm ngàn đời của minh sát vipassanā có được từ Thiền Nguyên thủy vậy.

Còn Huệ Năng thì ngài đề cập thẳng vào cái tánh của giác ngộ, bồ-đề (bodhi), cách nói khác của tánh không (Suññatā-Śūnyatā).Ở trong tánh không rốt ráo hay tuệ “thâm bát-nhã - gambhīrapaññā” (2) thì không tồn tại một chút gì của thế giới hữu vi (ly tứ cú, tuyệt bách phi) thì chỗ nào, vật nào ở đâu mà dính bụi bặm phiền não? Đây là tổ khơi mở lối vào thế giới thực tánh (paramattha dhamma) của tuệ giác bên kia bờ (đáo bỉ ngạn). Vậy, Thiền của tổ Huệ Năng cũng được “truyền đèn nối lửa” từ Đạt Ma, từ Thiền vipassanā Nguyên thủy.

*Thiền Zen Nhật Bản:

Nhật Bản tiếp thu Thiền Đông độ, dung hợp với tín ngưỡng cổ truyền cùng thần đạo dân tộc, vận dụng sáng tạo để biến ra Thiền Zen cho hợp với khẩu vị, hợp với bản sắc văn hóa của mình. Nhờ vậy, nó phát triển rất mạnh, đi sâu vào mọi sinh hoạt xã hội. Thật không ngạc nhiên gì, khi nơi “xứ sở hoa anh đào” này cái gì cũng Đạo cả, cái gì cũng Zen cả rất chi là rôm rả, xôm trò vậy. Nói chính xác hơn - Zen Nhật Bản đã “tận tình và tâm huyết” biến Thiền Đông độ thành “mỹ học Thiền”, thành “nghệ thuật Thiền” để phụng sự cho con dân xứ Mặt Trời.

Nhưng nếu ta thử hỏi, Thiền Zen của Nhật Bản là Định hay Tuệ? Thật ra, Zen là phát âm đọc trại của từ Jhāna mà ra. Nhưng Jhāna không mang nội dung Thiền định hay Thiền tuệ, nó cũng có nghĩa là Thiền nhưng là để chỉ các tầng Thiền, ví dụ sơ Thiền, nhị Thiền, Thiền chi (jhānaṅga)... Vậy, hóa ra, Thiền sư Suzukhi là thủ phạm sai lầm - đã dịch sai - bây giờ đã tràn lan khắp thế giới. Hay là ông ta đã cố ý chuyển ngữ sai, bởi lòng tự hào dân tộc để thầm nói rằng:“Thiền của Nhật Bản ta không phải là Định hay Tuệ của Phật Ấn Độ hay Phật Trung quốc - mà là Thiền của con cháu Thái Dương Thần Nữ!” Tuy nhiên, nói cho vui vậy thôi, chứ điều đó không quan trọng bằng nội dung mà nó chuyển tải. Suzuki là một vị Thiền sư cư sĩ, cũng là một nhà thơ Thiền - khi ông nói bằng hình tượng nghệ thuật: “Phải nắm bắt thực tại bằng bàn tay trần trụi, không mang găng tay!” Thực tại là pháp như thực tánh (sabhāva dhamma), bàn tay trần trụi là “tánh không”, không mang găng tay là rỗng không tất thảy mọi ý niệm, khái niệm dù danh hay vật. Thấy chưa, cốt tủy Thiền, qua Zen Nhật Bản cũng có một sợi chỉ đỏ xuyên suốt. Đa phần trí thức Tây phương biết Thiền, phần nhiều là nhờ vị học giả uyên bác và thông thái này. Đọc bộ luận của Suzuki, Trúc Thiên và Tuệ Sỹ dịch, ta thấy rõ nó cũng là bản sao của Thiền Đông Độ mà thôi. Nhưng mà nó mạnh mẽ hơn, có cá tính Nhật hơn.

*Thiền Trúc Lâm sơ tổ:

Trong một bài tiểu luận viết về vị vua này, tôi đã tóm thâu vào một đoạn văn khá dài: Người ta thường nói, Thiền Trúc Lâm Yên Tử là Thiền Việt Nam! Đây là dấu hiệu tốt, một ý thức độc lập, tự chủ muốn ly thoát cái bóng vĩ đại của đế quốc phương Bắc đã phủ trùm dân tộc ta thuộc mọi lãnh vực hơn ngàn năm qua. Tuy nhiên, cốt lõi Thiền, yếu tính Thiền, yếu chỉ Thiền là kiến tánh, thấy rõ thực tánh, liễu ngộ pháp thực tánh (sabhāva dhamma, (paramattha dhamma) thì Thiền Nguyên thủy, Thiền Đông độ, hay Zen đều giống nhau. Nếu nói là Thiền mang bản sắc văn hóa dân tộc Việt thì nghe ổn hơn. Tôi nói “nghe ổn hơn” là vì điều ấy cũng chưa nói được gì, vì rằng, Phật giáo đến quốc độ nào đều mang bản sắc văn hóa bản địa của dân tộc ấy.

Ví dụ, Trung Quốc kết hợp Phật với Khổng Mạnh và Lão Trang; và sau khi Thiền Đông độ ra đời, sau Huệ Năng thì Thiền ấy trở thành Thiền phù hợp với khẩu vị, bản sắc văn hóa Trung Quốc. Nhật Bản thì kết hợp với văn hóa truyền thống và tín ngưỡng Thần đạo dân tộc mà biến thành Zen. Tây Tạng kết hợp với đạo Bon, tín ngưỡng thờ ma quỷ, huyền thuật mà thành Mật tông!

Ấy là sự thật trong lịch sử Phật giáo thế giới, không có gì là đặc thù, khu biệt và mới mẻ cả. Phải nói rằng, Trần Nhân Tông, sau khi tiếp thu trọn vẹn mọi nguồn, mọi tông phái Thiền học đương thời, ngài vận dụng thêm tư tưởng nhập thế tích cực hơn để đáp ứng với tình thế đất nước, huy động toàn bộ nhân dân không kể đạo đời, tăng tục cùng đoàn kết chống ngoại xâm, xây dựng đất nước thì khả dĩ hơn.

Tôi cũng nói “khả dĩ hơn”, vì thật ra, cái vận dụng nhập thế tích cực, đạo đời, tăng tục không có biên ranh thì đã có từ thời Lý Thánh Tông với Thiền phái Thảo Đường; và gần nhất là các Thiền sư cư sĩ như Ứng Thuận, như Tuệ Trung! Trần Nhân Tông chỉ là người tiếp lửa cho xu hướng Phật giáo nhập thế tích cực ấy!

Chính điều quan trọng nhất, mấu chốt nhất, cốt tử nhất mà chưa ai đề cập là: Thiền nhập thế ấy có được từ một vị vua trẻ tuổi từng là một bậc anh hùng lãnh đạo hai cuộc chiến tranh tự vệ oanh liệt; một nhà chính trị, quân sự kiên cương nhưng thầm lặng; một nhà ngoại giao cứng mềm tùy nghi nhẫn xả; một người xây dựng đất nước có chiến lược, có tầm nhìn xa, trông rộng; lại là một nhà văn hóa cầm đuốc dẫn đạo tiên phong phục hồi, duy trì và phát huy ngôn ngữ Việt; một Thiền sư sơ tổ Trúc Lâm đại sĩ tầm vóc lớn lao; một nhà sư thọ trì 12 pháp đầu-đà khổ hạnh, một nhà thơ trong sáng và tịnh định hồn Thiền - mới chính thật là vô tiền, khoáng hậu! Trong lịch sử thế giới, ở đâu có sự tổng hợp, tương hòa, hỗn dung kỳ diệu, tối đại thượng thừa như thế chứ? Không, không có! Và chưa hề có!

Hành trạng của sơ tổ là vậy, còn Thiền của vị ấy, ta có thể khảo sát từ 4 câu kệ được đúc kết trong bài phú “Cư trần lạc đạo” sau đây:

“Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

Cơ tắc xan hề khốn tắc miên

Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch

Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền”.

(Ở đời vui đạo hãy tùy duyên

Hễ đói thì ăn, mệt ngủ liền.

Châu báu trong nhà đừng kiếm nữa

Không tâm đối cảnh, hỏi chi Thiền”.

Ta có thể diễn giải 4 câu thơ ấy, đi theo dòng chảy của cốt tủy Thiền vipassanā:

“Ở đời vui đạo” là cách nói khác của “hiện pháp lạc trú”, tức là an lạc trong hiện tại bây giờ đây, ở đời này, ngay giây khắc này. Về phương pháp lạc trú, vui đạo thì Nikāya, A-hàm hay Hán tạng có cả một tủ kinh, ai muốn tham khảo thì có thể xem (2). Phải biết “tùy duyên” mà sống. Khi ăn uống, nằm ngồi, nói năng, hành động, suy nghĩ đều phải chánh niệm, tỉnh giác... đón nhận mọi việc đến và đi một cách “thuận pháp”, đừng cưỡng cầu, vọng tưởng trái với cái tự nhiên đang là, đang xảy ra, đang cụ thể, thiết thực diễn ra trong hiện tại (thiết thực hiện tại - sandiṭṭhiko).

Tứ niệm xứ dạy rằng, đi biết đi, ăn biết ăn, nằm biết nằm, ngủ biết ngủ, suy nghĩ biết suy nghĩ... Vì là một nhà thơ nên Hương Vân đầu-đà nói cho giản dị, khiến cho ai cũng có thể lãnh hội “tâm ấn” được: “Đói thì ăn, mệt thì ngủ”! Lưu ý cho, đây là câu kệ của vị Thiền sư nên xin ai đó đừng hiểu một cách dung tục để dịch câu ấy, đại lược là: “Hễ đói thì ăn, mệt ngủ ‘khì’!”; hoặc nghĩ rằng, tổ dạy “ăn no nằm ngủ” là Thiền - thì thật là oan cho chư Phật và chư tổ ba đời!

Tiếp nữa:“Quá khứ không truy tìm, tương lai không ước vọng, chỉ có pháp hiện tại, tuệ quán chính là đây”; đừng rong ruổi Đông Tây Nam Bắc, đừng tìm kiếm ở đâu nữa, châu báu nó có sẵn trong nhà, trong tâm mình, tại đây và bây giờ đây! Hãy sống với hiện tại, hãy để tâm rỗng rang khi đối cảnh. Chỉ có tâm không, tuệ không mới thấy được pháp thực tánh, như thị tánh (sabhāva dhamma). Nếu sống được như vậy thì hỏi Thiền làm chi nữa! Đây chính là Tứ niệm xứ, là vipassanā rồi!

Nói tóm lại, khi Thiền Tứ niệm xứ sang Trung Quốc thì khái niệm, cách nói, sự vận dụng đã mang bản sắc, cá tính của dân Hoa Hạ, không tránh khỏi bàng bạc ở trong đó khói sương của tư tưởng Khổng, Lão. Đại Việt thuở ấy cũng vậy, Trần Nhân Tông đã từ bản sắc văn hóa, căn cơ của người Việt để nói cho người Việt sau khi đã bác lãm, kinh qua chư kinh, chư giáo cùng mọi Thiền, mọi lục. Ai muốn tham khảo, để chứng thực cho điều này thì hãy bỏ công khám phá cái vỉa quặng ẩn sâu trong bài phú “Cư trần lạc đạo” của ngài thì sẽ thấy và hiểu.

Đến đây, ta có thể kết luận mà không sợ áp đặt, là tất cả Thiền của mọi quốc độ, xưa cũng như nay đều được khởi xuất từ Thiền minh sát vipassanā cả thảy.

Còn đạo sư Duy Tuệ? Ta chưa vội đi vào nội dung cái gọi là “cẩm nang” của ông ta, nhưng cụm từ Thiền Minh Triết mà tác giả dịch là Enlightenment Meditation - thì nghĩa nó ra làm sao?

Như đã bàn ở trên, Thiền của ông ta là meditation, Thiền định, không phải Thiền tuệ vipassanā. Nếu là Định sâu, an trú vào các tầng Thiền thì chưa có Tuệ. Còn Minh Triết mà tác giả dịch là Enlightenment thì nó có nghĩa là “khai sáng” hay “giác ngộ”? Tác giả chữ nghĩa cũng có được vài thành, nên biết đâu ông ấy có dụng ý “ngạo mạn” dùng từ Enlightenment có nghĩa là “khai sáng” để khai sáng cho thế gian y như tuyên ngôn của lý trí khoa học thời phục hưng?

Nếu vậy là “đại loạn, đại ngông cuồng” rồi! Ông ta đã dùng công cụ của lý trí bất toàn đầy tham vọng cùng với những sở tri chắp vá, vay mượn nhiều nơi để khai sáng cho bao người?!

Còn nếu Enlightenment có nghĩa là giác ngộ thì Định (meditation-samādhi), an trú Định làm sao mà giác ngộ? Vậy thì tác giả đã sử dụng từ Minh Triết theo nghĩa nào - hay là ông ta “quay cóp” từ “Minh Triết” của hội “Minh Triết Việt” do Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai khởi xướng và cũng là giám đốc điều hành hội này trong hơn mười năm qua? Và đa phần trong đó là các bậc thức giả cha chú, trưởng thượng về tuổi tác cũng như về lãnh vực nghiên cứu, học thuật hàn lâm - hơn ông Duy Tuệ mấy cái đầu kia đấy!

Nếu vậy, do sự mù mờ về kiến thức, chắc ông ta cũng chưa hiểu rõ nguồn gốc, xuất xứ của nó?

Thì ông Duy Tuệ hãy chịu khó nghe cho kỹ đây.

Tôi là người có viết bài tham luận cho hội “Minh Triết Việt” nhân đọc “Minh Triết phương Đông và Triết học phương Tây” của Triết gia Francois Jullien, người Pháp. (Bản Việt dịch - chủ biên: GS. Hoàng Ngọc Hiến, GS. Lê Hữu Khóa - NXB Đà Nẵng, 2004). Ở đó, tôi có đóng góp thêm ý kiến với vị triết gia khả kính này về Minh Triết của Phật. Và sau khi làm một cuộc so sánh, tỷ giảo, tôi đã chứng minh được, là Minh Triết của Phật cao siêu hơn Minh Triết của Khổng, Lão qua những tư tưởng khái niệm vô vị, vô vi, vô ý, vô cố, vô tất, vô ngã... là ở chỗ nào và như thế nào.

Cố học giả uyên bác Hoàng Ngọc Hiến rất “hứng thú” về bài viết có “tính phê phán rất nhẹ nhàng” ấy của tôi, lẫn cả “vỉa quặng” Minh Triết Phật và Minh Triết Việt mà tôi có nêu ra trong bài.

Trong hai lần ghé thăm Huyền Không Sơn Thượng, đi cùng Nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai, PGS.TS Trần Thị Băng Thanh với một số vị học giả, nhà nghiên cứu khác - cụ Hoàng Ngọc Hiến có nói với tôi rằng: “Triết gia Francois Jullien cũng biết vậy, biết những điều sư nói, nhưng thế giới tư tưởng Phật giáo mênh mông quá nên ông ta ‘chưa dám’ bước vào!”

Nói vậy chỉ để nhắc nhở ông Duy Tuệ, rằng là, không rõ ông có hiểu gì về Minh Triết của Phật không, mà dám cả gan sử dụng cụm từ “Thiền Minh Triết” làm nhãn hiệu để rao giảng đó đây, trong lúc triết gia nổi tiếng đương đại Francois Jullien, người Pháp kia cũng chưa dám bước vào?

Cho đến đỗi, từ thuở bình minh của triết học phương Tây, đối với Minh Triết (sagesse) chư vị triết gia cổ đại Hy Lạp cũng “kính nhi viễn chi” không dám bàn đến!

Họ chỉ biết cúi đầu, chấp tay cung kỉnh tôn vinh nó, vì “Minh Triết là của thần, con người chỉ có thể quý kính nó chứ không thể vươn tới nó được”. Từ sagesse (Minh Triết), tiếng Pháp thì Anh dịch là wisdom, Nga dịch là mudrost; rồi cũng từ đó, nội dung trường nghĩa được kiến lập từ “tư duy lý tính” mà chúng ta hiểu ngày nay là tuệ trí, duệ trí, tài trí, minh trí, trí thức, học thức, thông minh... không biết đã với tới cái sagesse kia chưa?
Những triết gia cổ đại Hy Lạp người ta rất là khiêm tốn dù sở học bác lãm, mênh mông; còn ông Duy Tuệ học hành “i-tờ-rít” gì mà dám cả gan mạo phong đạo sư để đi dạy Thiền Minh Triết khắp nơi trong nước, sang cả các quốc gia châu Âu, châu Mỹ?...

Còn Đông phương thì nói gì về Minh Triết? Tôi sẽ chỉ cho ông Duy Tuệ thấy luôn.

Nó có cũng đã từ lâu lắm! Dịch, Thi, Thư... chúng có bàng bạc, rải rác từ thời thượng cổ, sau Khổng Tử san định lại mà thành. Khổng nói lại trong Kinh Thi: “Ký minh thả triết” (sáng suốt, thấu đáo mọi việc); từ đó “dĩ bảo kỳ thân” (dùng để bảo vệ bản thân cho khỏi trái đạo). Trong Kinh Thư thì có “Duệ triết văn minh” (văn minh trí tuệ); “tri chi viết Minh Triết” (hiểu biết sự việc gọi là Minh Triết). Vậy cả Đông và Tây đều có cùng một trường nghĩa giống nhau về Minh Triết.

Tóm lại, Thiền và Minh Triết khi đã tra cứu tận ngọn nguồn, từ đó, chúng ta sẽ lần lượt mổ xẻ Thiền Minh Triết của vị “đạo sư” này ra sao! Trong cái “hồ lô” của ông ta đựng những gì! Ông ta có đi từ những Minh Triết mà chúng ta vừa khảo sát khi lập ngôn “Thiền Minh Triết”? Hay ông ta như mọi người phê phán hết chữ, hết lời - là không biết gì về Thiền, về Minh Triết lại đi dạy Thiền Minh Triết mạo danh đức đại sĩ Hương Vân đầu-đà?

Ai muốn biết cái uy lực và hiệu ứng đô-mi-nô của tiếp thị, quảng cáo, của truyền thông điện tử thời đại tin học ngày nay thì cứ đi lần theo cái địa chỉ email của daosuduytue@yahoo.com thì sẽ thấy cả một đống hỗn mang, một cái gì bất bình thường; người ta nói là còn bài bản hơn, xảo trí hơn, “quái chiêu” hơn hiện tượng Thanh Hải vô thượng sư nữa. Chúng ta hãy chịu khó bỏ chút thờ giờ vào trong mà xem một tí (tôi ghi nguyên văn):
“1- Sự phát triển của chương trình học và thực hành Thiền Minh Triết.

Các buổi thuyết giảng, chia sẻ trải nghiệm của Thiền Minh Triết do Đạo sư Duy Tuệ thuyết giảng nhiều năm qua với hàng trăm người nghe trực tuyến tại nhiều nước được cập nhật, đăng tải và chuyển thành bài viết, clip qua trang web: ww.daosuduytue.com ; www.duytue.com và ww.ungdungphathoc.vn với hàng trăm lượt đọc, lượt nghe mỗi ngày. Những bài viết, những bài giảng được biên tập và chuyển tới cộng đồng và bạn bè quốc tế qua nhiều đầu sách đã xuất bản và phát hành bằng tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Nauy và đang tiếp tục được chuyển ngữ sang tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Thái, tiếng Trung. Trang web www.duytue.com cũng đang được chuyển ngữ sang tiếng Anh và tiếng Pháp.

Các clip, bài giảng cũng được các Hiền Giả Minh Triết tuổi trẻ chia sẻ trên các mạng xã hội với hàng ngàn thành viên tham gia như Facebook, Tagged, Youtube...

1.Thiền Minh Triết đã được áp dụng tại hầu hết các tỉnh thành trong cả nước.

- Thiền Minh Triết áp dụng cho các Câu Lạc Bộ Trần Nhân Tông thuộc Trung tâm UNESCO Nghiên cứu và Ứng dụng Phật học Việt Nam.

- Thiền Minh Triết đã phát thanh trên Đài tiếng nói Việt Nam 12 buổi liên tiếp trong chương trình CLB Người cao tuổi. Cẩm nang Thiền Minh Triết được Trung tâm UNESCO Nghiên cứu và Ứng dụng Phật học Việt Nam gửi tặng các CLB Người cao tuổi cấp huyện trên toàn quốc.

- Thiền Minh Triết được đưa vào áp dụng cho Trung tâm cai nghiện, Trung tâm hướng thiện, Trung tâm bảo trợ xã hội...

- Thiền Minh Triết được áp dụng trong Hội người mù Lâm Đồng, Hội người mù Khánh Hòa...

- Thiền Minh Triết được áp dụng cho tuổi trẻ qua các CLB Trần Nhân Tông Tuổi Trẻ Thăng Long và CLB Trần Nhân Tông Minh Triết Tuổi Trẻ Phía Nam, thuộc Trung tâm UNESCO Nghiên cứu và Ứng dụng Phật học Việt Nam; qua Diễn đàn tuổi trẻ tiếp cận hành trang vào đời sống Minh Triết.

- Thiền Minh Triết được áp dụng cho viên chức, doanh nhân, học sinh, sinh viên, người thành thị và nông thôn qua hệ thống nghe giảng online, sách, CD, VCD và DVD.

- Thiền Minh Triết được áp dụng trong (sic) các học giả, nhà trí thức qua các buổi Hội thảo do Trung tâm UNESCO Nghiên cứu và Ứng dụng Phật học Việt Nam tổ chức.

- Thiền Minh Triết được áp dụng cho tăng ni, phật tử qua các buổi giảng trực tuyến của Đạo sư Duy Tuệ và qua hệ thống sách và ấn phẩm phát hành.

2. Thiền Minh Triết được áp dụng tại các nước: Na Uy, Đan Mạch, Hà Lan, Úc Châu, Cộng hòa Séc, Slovakia, Hoa Kì, C H Pháp, Thái Lan...

- Thiền Minh Triết được truyền tải qua hệ thống online và các cuộc thăm viếng của Đạo sư Duy Tuệ tại các nước.

- Tại Na Uy, Hà Lan, Đan Mạch đã hình thành các hội Thiền lấy tên Trần Nhân Tông và hoạt động áp dụng Thiền Minh Triết hơn 6 năm nay. Tất cả các Hiền giả Minh Triết tại những nước này đều nhiệt tâm phát đại nguyện truyền bá Thiền Minh Triết đến cho mọi người, mọi nhà để góp phần xoa dịu nỗi đau của con người.

- Tại Úc Châu: Hội Thiền Trần Nhân Tông Minh Triết Úc Châu đã có giấy phép chính thức hoạt động vào tháng 11 năm 2009.

- Hiện nay, tại Hoa Kì đang chuận bị để ra đời Hội Thiền Minh Triết Trần Nhân Tông Hoa Kì.

- Chương trình cũng đang phát triển tại CH Pháp với một nhóm Hành giả Minh Triết trẻ trung, đầy năng lực và nhiệt huyết phát triển trong giới trẻ và từng lớp trí thức”.

Thật là kinh khiếp phải không chư vị thức giả? Tôi là tu sĩ, có tu học mấy phần, có chút nhẫn, chút xả mà cũng “rợn cả tóc gáy” những chiêu thức quỷ ma của tà đạo mượn danh chánh đạo thời nay - ở đây, ông ta mượn “vỏ Thiền” của Trần Nhân Tông:

Đành phải “hạ” một câu sáu tám nữa:

“Quái cuồng, quái quỷ, quái chiêu”

Là Thiền Minh Triết chợ chiều xúm mua”.


xem thêm:

"Đạo sư" Duy Tuệ - Kẻ truyền tà đạo mượn lớp Phật Giáo

Thêm góc nhìn cùng tìm hiểu cái gì đằng sau hiện tượng “Duy Tuệ và thiền minh triết”.

Duy Tuệ cạo đầu, mặc y phục na ná với tu sĩ Phật giáo, cũng bàn luận về Phật học, tu thiền, đôi khi choàng cả “y hậu” màu đỏ làm chủ lễ... Với hình thức của ông ta, khiến không ít người nhầm lẫn cho rằng ông ta là Tăng sĩ Phật giáo, thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nhầm cho rằng “thiền minh triết” là thiền Phật giáo, “sách viết về lối sống” của ông ta là triết lý sống nhà Phật... như một số cơ quan truyền thông, đài truyền hình đã từng giới thiệu. Tiếp theo những bài viết trên Giác Ngộ Online (www.giacngo.vn)

Câu chuyện trong tuần kỳ này giới thiệu bài viết của tác giả Thái Nam Thắng, góp thêm góc nhìn cùng tìm hiểu cái gì đằng sau hiện tượng “Duy Tuệ và thiền minh triết”.

“Đạo sư” Duy Tuệ cũng có một xuất phát điểm như “Vô thượng sư” Thanh Hải, đó là tiếp cận các nhà sư và tìm hiểu giáo lý đạo Phật, sau đó tuyên bố mình đã “chứng ngộ”, rồi nhanh chóng lập pháp môn, lập phái để truyền “đạo”. Tuy nhiên, “Vô thượng sư” Thanh Hải được xem là một dạng tà đạo biến tướng thì Duy Tuệ lại có một vỏ bọc kỹ hơn, an toàn hơn khi núp dưới danh xưng “Trung tâm UNESCO Nghiên cứu và Ứng dụng Phật học Việt Nam” do chính ông ta làm Chủ tịch Hội đồng sáng lập.

Cả Thanh Hải và Duy Tuệ đều học lỏm các giáo lý của đạo Phật, mượn vào các nội dung, hình thức Phật giáo để phổ biến những thứ “pháp môn” đã được gia công nhào nặn. Duy Tuệ, một người thế tục, bỗng một hôm, cạo trọc đầu, mặc áo tràng tay thụng màu đỏ boọc-đô có viền đen, trông giống như các nhà sư, khiến cho mọi người hiểu lầm rằng nó thuộc về đạo Phật hay thuộc về Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Điều đáng nói, ban đầu cả Duy Tuệ và Thanh Hải đều thuyết giảng khá hay về giáo lý Phật giáo, sau một thời gian chiếm được niềm tin của những người có cảm tình với Phật giáo, họ liền chuyển sang chống phá Phật giáo như xuyên tạc kinh điển, phủ nhận những giáo lý căn bản của đạo Phật, kêu gọi mọi người rời xa “Tam bảo” (Phật - Pháp - Tăng), không cần phải tìm đến chùa chiền hay lễ tụng, chỉ cần làm theo những điều họ “phát minh” ra là sẽ đạt đạo.

Nhưng nếu chỉ xuyên tạc, chống phá Phật giáo thì mọi người sẽ nghi ngờ động cơ không trong sáng đó, nên họ mới lồng ghép những việc như kêu gọi bảo vệ môi trường, kêu gọi tình yêu thương; phong cho những người tu theo là “hiền giả minh triết”, “doanh nhân minh triết”; gọi những người trẻ là “niềm tự hào dân tộc”; lập các quỹ từ thiện…, rồi nhân đó “khai ngộ” bằng một mớ những giáo lý pha tạp, lẫn lộn giữa Phật tính và Tiên thiên, Thượng đế, đồng thời sử dụng các thuật ngữ Phật giáo, các hình thức như ngồi thiền, quán niệm, khai mở ánh sáng, minh triết…

Duy Tuệ xuất hiện trong khoảng chục năm nay, tuy nhiên không có cách gì để chính danh hoạt động như một tổ chức gắn với danh nghĩa “Phật giáo Việt Nam”. Đúng lúc ấy, có một nhóm trí thức quan tâm và bàn đến “Minh triết Việt”, Duy Tuệ nhanh nhảu chớp thời cơ để lập ra cái gọi là “Thiền Minh triết”, để nhập nhằng với Thiền Minh Sát - một phương pháp thiền căn bản trong đạo Phật. Phật giáo chính thống ở các quốc gia dù có phát triển nhiều dòng thiền, nhiều pháp môn, nhưng vẫn phải dựa trên căn bản của quá trình tu học Giới, Định, Tuệ (Giới sinh Định, Định sinh Tuệ, trong Giới có Định, Tuệ, trong Định có Giới, Tuệ, trong Tuệ có Giới, Định).

Sự đại vọng ngữ khi tự xưng là “Đạo sư” của Duy Tuệ đã phản lại với những phương pháp tu tập Giới, Định, Tuệ. Đáng nói, do thiếu lương thiện ngay từ động cơ ban đầu, nên Duy Tuệ đã nhào nặn các phương pháp thiền của Phật giáo để lập ra cái gọi là “Thiền Minh triết”. Đến khi thấy mọi người quan tâm đến tư tưởng của Phật hoàng Trần Nhân Tông, Duy Tuệ cũng nhanh nhảu tiếp cận và mượn vào “Trung tâm UNESCO Nghiên cứu và Ứng dụng Phật học Việt Nam” để trao tặng tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông cho Trung tâm Phật giáo Quốc tế của Thái Lan nhằm tìm cho mình những mối quan hệ mang tính “quốc tế” (sic). Sau đó, Duy Tuệ dùng chính những ảnh hưởng này để tuyên truyền chống phá Phật giáo. Những giáo lý căn bản của Phật giáo như “Nhân quả”, “Nghiệp báo”, “Tứ đế”, “Bát Chánh đạo”… đều bị Duy Tuệ đem ra xuyên tạc. Duy Tuệ ra sức bác bỏ giáo lý “Bát Chánh đạo” (Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định) chỉ vì bản thân việc làm của Duy Tuệ không những không có “chính danh” mà còn không có bất kỳ chữ “chánh” nào như tám chữ “chánh” đã nêu.

Duy Tuệ đang cố gắng lập nhóm để sinh hoạt, và rất có thể đây là sẽ một biến tướng khác giống như “đạo” của Thanh Hải trong một tương lai không xa. Một khi nó mọc chân rết và bám chắc ở Việt Nam dưới những vỏ bọc an toàn hơn là “Phật học Việt Nam”, “UNESCO”, “Trần Nhân Tông” gì gì đó mang dáng dấp của “Đạo học phương Đông”, Dân tộc, thì sẽ rất nguy hại cho đất nước, nhất là khi người dân không còn biết tin Nhân quả. Bài học về một “giáo sư Phật học”, “nhà sư chém gió” Thích Minh Tâm với tôn chỉ “Chấn hưng nước Việt” vẫn còn đó. Chỉ mất khoảng 6 tháng “tu tập”, Nguyễn Thiếu Văn đã “biến hóa” thành “Thượng tọa Tiến sĩ Thích Minh Tâm”, rồi lọt vào làm chủ tọa điều khiển trong một hội nghị quốc tế về Phật học tại Việt Nam.

Xin hãy cảnh giác khi sử dụng lý trí và niềm tin của mình. Bởi bất cứ khi chọn lựa một điều gì, chúng ta cũng phải kiểm tra nó kỹ càng. Với một điều quan trọng như thực hành giáo lý đạo Phật, chúng ta càng phải xem xét cho cẩn thận, trước khi tìm đến một vị thầy. Xã hội đang tràn lan và gần như mất kiểm soát đối với những thứ giả giá trị, đặc biệt khi chúng biết làm giả như thật, từ đó chống phá các tôn giáo chân chính để trục lợi cho riêng mình.

Duy Tuệ cũng chỉ là một dạng trùng biến hình, nhưng chúng ta không thể không nói đến những người quản lý vô trách nhiệm, tiếp tay cho ông ta để làm hại đến thanh danh của Phật pháp. Điều này còn nguy hiểm hơn là phê phán một Giáo hội, vì ra sức xuyên tạc Phật giáo từ bên trong những giáo lý căn bản như Nhân quả, Nghiệp báo, Bát chánh, Tứ đế… thì sẽ gây ra những hệ quả tiêu cực đến đời sống con người, nhất là khi chủ nghĩa thực dụng, tôn sùng vật chất lên ngôi.

Nếu đây là một âm mưu trá hình, chống phá Phật giáo bằng các phương tiện thông tin chính thống như đài phát thanh, đài truyền hình quốc gia, nhà xuất bản uy tín thì sẽ vô cùng nguy nan cho Phật giáo Việt Nam. Những phát biểu xuyên tạc của Duy Tuệ xúc phạm nghiêm trọng Phật pháp, tạo ra những vết thương tinh thần khó lành cho những người tìm đến giáo lý đích thực, lừa gạt những người sơ cơ đang có cảm tình tìm đến với đạo Phật. Để mọi người không tiếp tục bị lừa gạt, mong Giáo hội Phật giáo Việt Nam có tiếng nói trước dư luận về hiện tượng này.

Ông Duy Tuệ tự xưng là “đạo sư” trái với tinh thần của đạo Phật, dùng tà thuyết để phỉ báng giáo lý đạo Phật. Nhưng với hình thức của ông ta, khiến không ít người nhầm lẫn với Phật giáo, với Tăng sĩ Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Ngoại trừ những Tăng Ni, Phật tử nằm trong tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam, khi chưa được phép, không ai có quyền nhân danh các tổ chức núp dưới danh xưng “Phật giáo Việt Nam” hay “Phật học Việt Nam” để hoạt động. Trung tâm UNESCO Nghiên cứu và Ứng dụng Phật học Việt Nam, không phù hợp để tồn tại một khi nó xuất hiện để nhằm mục đích đánh phá Phật giáo. Đặc biệt, Giáo hội không thể tiếp tục để những con người hủy báng Chánh pháp như vậy được phép tiếp cận hình ảnh Phật hoàng Trần Nhân Tông, một đấng anh minh của dân tộc, sau khi rời bỏ ngôi vua, xuất gia và đi khắp hang cùng ngõ hẻm để khuyên dân chúng giữ gìn mười điều lành, xiển dương Chánh pháp.

Các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo, xuất bản, truyền thanh, truyền hình cần phải rõ ràng và minh bạch về vấn đề này. Bởi nếu thuyết giảng, truyền bá những nội dung trái với đạo Phật, công khai đánh phá Phật giáo, thì phải chăng Duy Tuệ đang muốn xây dựng một tổ chức “Giáo hội” trá hình? Thật ngược ngạo, khi ông Duy Tuệ hủy báng Chánh pháp và không có liên hệ gì với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nhưng tại sao có thể đại diện liên lạc với các tổ chức Phật giáo quốc tế để trao tặng những biểu tượng của Phật giáo Việt Nam?

Các nhà xuất bản cho in những sách chống phá Phật giáo của “đạo sư” Duy Tuệ không biết có ý định gì? Điều đáng nói, việc quản lý các ấn phẩm Phật giáo không nằm trong tay Giáo hội, mà ở những người không có đủ kiến thức chuyên môn về Phật giáo, nên những sách chống phá Phật giáo một cách công khai của Duy Tuệ mới lọt ra thị trường. Ngạc nhiên hơn, Duy Tuệ còn có cả một chương trình phổ biến “Thiền Minh triết” trên sóng phát thanh quốc gia.

Cá nhân ông Duy Tuệ có thể tự do giảng đạo, truyền bá một pháp môn gọi là “Thiền Minh triết”, vậy ông ta thuộc tổ chức Giáo hội nào, ai cho phép thành lập? Phải chăng ai cũng có quyền tự lập hội, lập giáo phái, lập pháp môn và tự do truyền giảng dưới danh nghĩa tôn giáo khi chính thức được một số cơ quan thông tin uy tín “lobby” cho? Rõ ràng điều này hoàn toàn trái với Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo của Chính phủ.

Người Việt có câu “Cái kim bọc trong giẻ lâu ngày cũng lòi ra”. Giá trị giả mãi mãi vẫn chỉ là giá trị giả. Quả báo nhãn tiền mà “Vô thượng sư” Thanh Hải đã gặp phải càng củng cố cho mọi người thấy một hoạt cảnh tương tự sẽ diễn ra cho “đạo sư” Duy Tuệ. Mọi người vẫn hy vọng đó chỉ là một mánh khóe để trục lợi cá nhân của Duy Tuệ, không phải là chủ trương từ những người có trách nhiệm trong quản lý tôn giáo.

Thái Nam Thắng

Hoa Sala (Theo giacngo.vn)


Lại thấy đồng tiền
Lê Hoài Nguyên




Cách đây mấy năm, cô em dâu tôi làm Phó tổng biên tập ở một tờ báo của ngành quản lý tiền bạc bảo tôi viết cho một bài in số Tết. Tôi viết về quan niệm dân gian với đồng tiền. Dẫn mấy câu tục ngữ:
Nén bạc đâm toạc tờ giấy.
Có tiền mua tiên cũng được
Rồi Nguyễn Du:
Đồng tiền đổi trắng thay đen khó gì
Tôi lại dẫn bài tục ngữ mới đang thịnh hành:
Đồng tiền là tiên là Phật
Là sức bật của mọi người
Là tiếng cười của tuổi trẻ
Là sức khỏe của tuổi già
Là cái đà cho danh vọng
Là cái lọng để che thân
Là cán cân công lý
Lại đưa thêm câu:
Không có việc gì khó
Chỉ sợ tiền không nhiều
Đào núi và lấp biển
Không làm được thì thuê
Để nói rằng dân gian ta nhìn tác dụng của đồng tiền rất biện chứng.
Nhưng tôi cũng nói rằng dân ta vẫn coi trọng các giá trị tinh thần:
Đói cho sạch rách cho thơm
Tôi ưng ý với bài viết của mình nhưng kết cục bài báo không lên trang được vì cô em tôi sợ...
Nay nhân chuyện ầm ĩ về cuộc hội thảo thơ của một nhà thơ nọ mới hỏi anh bạn cũng làm nghề văn chương cái gì làm cho mấy người bạn yêu quý của chúng ta lẩm cẩm như vậy. Ông bạn chép miệng tiền, do tiền mà ra hết. Tôi bảo họ là những người không thiếu tiền. Ông lại bảo Nếu đã vì đồng tiền thì bao nhiêu cũng không đủ. Mà tay ấy lại chi rất nhiều tiền, gấp hàng chục lần cuộc hội thảo khác. Lại còn thói sợ quyền uy nữa. Mua được quyền uy rồi thì các quyền úy phải đi theo chứ Tụ tập con cá mập ấy mà.

Anh bạn liền kể hôm đó anh lên Ban sáng tác của Hội Nhà văn gặp nhà phê bình họ Đỗ mọi ngày rất to giọng cứ kéo anh vào dự nhưng anh không vào. Cứ vào ghi tên thôi cũng có 200 ngàn, phát biểu vài câu được 500, lại ăn trưa nữa. Các anh hào có mặt đông đủ lắm.
Bạn tôi hỏi Cậu đang dự trại ở Cửa Lò sao lại về đây.
Họ Đỗ:
Nhận tiền của nó rồi phải viết cho nó một bài chứ.
Bao nhiêu?
Năm triệu. Viết cho vui ấy mà.

Chuyện làng văn nổi cơn sóng gió vì con người đó, vì cuộc hội thảo kỳ dị đó mọi người đã biết rồi. Rồi lại website lethieunhon.com bị đánh phá tơi bời. Bạn tôi lại bảo nó thuê tiền để đánh thằng Nhơn mà. Không lẽ nào cơ quan an ninh lại đi hành hạ một trang web chuyên về văn chương như thế.


Cho đến hôm nay chưa có ai làm một câu tục ngữ mới về việc này, về sức mạnh vô biên của đồng tiền thời @, con virut H5NN trong vật dẫn con thơ thiền HQT bỗng trở nên nổi tiếng vì đã ăn gỏi được hàng chục nhà nghiên cứu, phê bình, nhà thơ, nhà văn nổi tiếng.

Đành chép lại mấy câu thành ngữ đã hơi cũ vậy để mọi người đọc cho vui:
Đầu đất đòi ăn bít tất
Đầu to óc bằng quả nho
Được voi đòi Hai Bà Trưng
Đã ngu còn tỏ ra nguy hiểm
Cống rãnh sóng sánh với đại dương
Phong bì muốn gì thì ăn
Đã máu không cần biết bố cháu là ai
Hồn nhiên như cô tiên
Tiền không thiếu chủ yếu là thái độ
Tê tái con gà mái
...
9-2012


Comments