Trang chính‎ > ‎Cây lương thực‎ > ‎VIETGAP lúa‎ > ‎

Mô hình ứng dụng tổng hợp BIO - IPM giải pháp hổ trợ sản xuất lúa theo GAP


MÔ HÌNH ỨNG DỤNG TỔNG HỢP BIO-IPM GIẢI PHÁP

HỖ TRỢ SẢN XUẤT LÚA THEO HƯỚNG GAP

   Chi cục Bảo Vệ Thực Vật Sóc Trăng

 ThS Đặng Thị Cúc & KS Huỳnh Thanh Bình

 

Để áp dụng thành công biện pháp sinh học trong quản lý dịch hại trên đồng ruộng, tỉnh Sóc Trăng đã trãi qua thời gian dài trên 5 năm (2003-2009). Hai chế phẩm được sử dụng đầu tiên là Ometar và Bemetent, kế đến chế phẩm nấm xanh (Metarhizium anisopliae) do nông dân tự sản xuất. Nguồn nấm ký sinh rầy nâu theo thời gian đã được nhân lên và tồn tại trên đồng ruộng, bảo vệ và làm phong phú hóa quần thể thiên địch, góp phần rất lớn trong quản lý dịch hại rầy nâu hiệu quả và hiệu quả ứng dụng nấm ký sinh vào đồng ruộng lại một lần nữa được khẳng định vào ngày 30/12/2009 mô hình “Ứng dụng quy trình sản xuất nấm xanh tại nông hộ để trừ rầy hại lúa ở vùng ĐBSCL” là tiến bộ khoa học kỹ thuật mới đã được cục BVTV công nhận (Quyết định 2006/QĐ-BVTV).

Song song đó, chương trình quản lý dịch hại tổng hợp IPM cũng bắt đầu ứng dụng tại Sóc Trăng từ  năm 1993 và mang lại hiệu quả rất cao trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, từ sau vụ Đông Xuân 2006-2007 gần 100.000 ha lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long đã bị nhiễm rầy nâu và hàng ngàn hecta lúa bị nhiễm bệnh vàng lùn lùn xoắn, càng lúc nông dân càng sử dụng thuốc hoá học nhiều hơn và xem đây là một biện pháp phòng trừ hữu hiệu nhất. Trong năm 2009 để tiếp tục duy trì chương trình IPM và phát huy hiệu quả biện pháp sinh học trên đồng ruộng, bằng nguồn kinh phí hỗ trợ từ dự án Nâng cao Chất lượng Cây trồng Vật nuôi Sóc Trăng, chi cục BVTV tổ chức triển khai thực hiện dự án “Xây dựng mô hình ứng dụng tổng hợp BIO-IPM để nâng cao chất lượng cây trồng”, nhằm nhân rộng và phát triển biện pháp sinh học trong hệ thống IPM, qua đó giúp tạo sự chuyển biến trong nhận thức của nông dân từ việc sử dụng thuốc hóa học sang hướng sinh học, tái tạo hệ sinh thái theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường và góp phần nâng cao giá trị sản phẩm cho tỉnh nhà.

I. KẾT QUẢ TRIỂN KHAI MÔ HÌNH BIO-IPM TRÊN LÚA TỈNH SÓC TRĂNG

1.  Kết quả chuyển giao quy trình sản xuất nấm xanh tại nông hộ trong mô hình IPM trên lúa và lúa - tôm

- Tổ chức triển khai 9 mô hình BIO-IPM trên lúa (50 ha/mô hình)

- Triển khai 06 mô hình BIO-IPM trên vùng lúa - tôm (20 ha/mô hình)

- Tổng số nông dân tham gia: 450 nông dân.

2. Hiệu quả ứng dụng kết hợp nấm xanh vào mô hình IPM (BIO-IPM)

- Mật độ sạ:

TT

 

ĐỊA ĐIỂM

BIO-IPM

ĐỐI CHỨNG

TÊN GIỐNG

kg/ha

Thành tiền (đ)

kg/ha

Thành tiền (đ)

1

Long Phú

150

1.425.000

200

1.900.000

OM 5627

2

Mỹ Xuyên

100

500.000

150

750.000

IR 59656

3

Châu Thành

120

900.000

200

1.600.000

OM 5464

4

TP.Sóc Trăng

150

1.425.000

200

1.900.000

 OM 4276

5

Thạnh Trị

100

1.000.000

200

2.000.000

OM 5464

6

Kế Sách

120

960.000

150

1.200.000

OM 5472

7

Mỹ Tú

150

675.000

200

900.000

Trắng mây

8

Vĩnh Biên-Ngã Năm

100

600.000

120

720.000

ST19

9

Long Bình-Ngã Năm

150

750.000

200

1.000.000

MTL 480

 

Bình quân

127

915.000

180

1.330.000

 

 

Bình quân ruộng ứng dụng BIO-IPM sạ 127kg/ha, ruộng đối chứng sạ 180 kg/ha. Ruộng BIO-IPM giảm 53kg/ha lúa giống, tương đương tiết kiệm chi phí mua giống 415.000đ/ha. Với mật độ sạ thích hợp giúp lúa phát triển và sinh trưởng cân đối, đồng thời góp phần hạn chế dịch hại.

- Tình hình sử dụng phân bón:

ĐVT: kg/ha

TT

 

ĐỊA ĐIỂM

BIO-IPM

ĐỐI CHỨNG

N

P2O5

K20

N

P2O5

K20

1

Long Phú

76

84

52

100

90

22

2

Mỹ Xuyên

83

61

48

107

46

34

3

Châu Thành

93*

50

30

138*

75

14

4

TP.Sóc Trăng

62*

80

20

110*

70

10

5

Thạnh Trị

120

84

45

137

83

45

6

Kế Sách

79

61

45

80

42

45

7

Mỹ Tú

53

42

30

60

42

30

8

VB-Ngã Năm

92

60

45

101

74

45

9

LB-Ngã Năm

83

60

45

92

60

45

                                                                                                                                                        

Qua kết quả tổng hợp tình hình sử dụng phân bón cho thấy, hầu hết các ruộng mô hình BIO-IPM đều sử dụng phân bón thấp so với đối chứng, bình quân thấp hơn 20,4 kg/ha N và 12,7 kg/ha NPK, có trường hợp cá biệt thấp hơn 45-48 kg/ha N (Châu Thành, TP Sóc Trăng).

 

- Tình hình sử dụng thuốc BVTV:

 

 

 

TT

 

 

Địa điểm

 

Thuốc trừ sâu rầy (lần/vụ)

Thuốc trừ bệnh (lần/vụ)

BIO-IPM

ĐỐI CHỨNG

BIO-IPM

ĐỐI CHỨNG

1

Long Phú

3

3

3

4

2

Mỹ Xuyên

2

3

4

5

3

Châu Thành

1

0

4

4

4

TP.Sóc Trăng

2

3

1

3

5

Thạnh Trị

2

5

4

5

6

Kế Sách

2

3

3

4

7

Mỹ Tú

2

4

2

5

8

Vĩnh Biên-Ngã Năm

2

3

5

6

9

Long Bình-Ngã Năm

1

3

4

4

 

Bình quân

1,9

3,0

3,3

4,4

                                                                                                                                                        

Trên cơ sở ứng dụng chương trình IPM áp dụng kỹ thuật sạ thưa, bón phân cân đối kết hợp sử dụng thuốc sinh học (nấm xanh) và chất kích kháng cháy lá (Biosar-3) cho thấy, bình quân 9 mô hình điểm số lần phun thuốc trừ sâu rầy giảm 1,9 lần, thuốc trừ bệnh giảm 1 lần. Tổng số tiền tiết kiệm là 529.000 đ/ha. Trong đó chi phí đầu tư thuốc trừ sâu rầy trên ruộng BIO-IPM thấp hơn đối chứng 130.000 đ/ha (BIO-IPM: 284.000 đ/ha, đối chứng: 414.000 đ/ha) và thuốc trừ bệnh đạo ôn trên ruộng BIO-IPM thấp hơn đối chứng 271.000 đ/ha (BIO-IPM: 151.000 đ/ha, đối chứng: 292.000 đ/ha)

 

* So sánh năng suất giữa ruộng BIO-IPM và đối chứng:

Nhìn chung năng suất của các mô hình ứng dụng BIO-IPM từ tương đương đến cao hơn so với đối chứng, năng suất biến động từ 6-7,4 tấn/ha. Ruộng BIO - IPM năng suất bình quân cao hơn và ruộng đối chứng 400 kg/ha.

 

 

* Hiệu quả kinh tế:

                                                                                                              ĐVT: đ/ha

 TT

NỘI DUNG

BIO-IPM

ĐỐI CHỨNG

GIẢM

1

Làm đất

900.000

900.000

0

2

Giống

915.000

1.330.000

-415.000

3

Công gieo sạ

100.000

100.000

0

4

Phân bón

3.242.000

3.560.000

-318.000

5

Thuốc BVTV

736.000

1.267.000

-531.000

6

Công phun rãi

650.000

800.000

-150.000

7

Công chăm sóc

1.000.000

1.000.000

0

8

Công thu hoạch

1.800.000

1.800.000

0

9

Tổng chi

9.343.000

10.757.000

 - 1.414.000

10

Tổng thu

34.500.000

32.000.000

 + 2.500.000

11

Lợi nhuận

25.157.000

21.243.000

 + 3.914.000

12

Giá thành 1kg lúa

1.354

1.681

 

Ghi chú: - giảm; + tăng

 

 

 

Các khoản đầu tư về giống, phân bón, thuốc BVTV ruộng BIO-IPM đều thấp hơn so đối chứng và qua tính toán chi phí cho thấy ruộng BIO-IPM có lợi nhuận cao hơn đối chứng 3.914.000 đ/ha, giá thành 1kg lúa thấp hơn 327 đ.

 

II. BÀI HỌC KINH NGHIỆM

1. Biện pháp sinh học được sử dụng kết hợp trong mô hình IPM sẽ phát huy hiệu quả ứng dụng cao hơn.

2. Cần có sự đồng thuận của cộng đồng nông dân trong ứng dụng sinh học (hiệu quả của biện pháp sinh học càng cao khi diện tích ứng dụng càng lớn và thời gian sử dụng nấm liên tục nhiều năm).

3. Kế hoạch sản xuất nấm phải được xây dựng trước khi xuống giống và thời điểm cấy nấm phù hợp khi rầy vào đèn rộ (theo dõi bẫy đèn hoặc bản tin dự báo của ngành Nông nghiệp).

4. Khuyến cáo sử dụng hợp lý giữa thuốc sinh học và hóa học trong quản lý dịch hại trên lúa.

 

III. KẾT LUẬN & ĐỀ NGHỊ

* Kết luận:

- Tăng cường nguồn nấm ký sinh vào đồng ruộng góp phần phong phú hóa quần thể thiên địch, quản lý dịch hại hiệu quả hơn.

- Sử dụng nấm xanh giúp hạn chế sử dụng hóa chất vùng nuôi tôm, tái tạo hệ sinh thái đồng ruộng, tạo lòng tin của khách hàng vào sự an toàn nông sản của Sóc Trăng.

- Ngoài lợi ích về môi trường, sức khỏe, an toàn của nông sản, hiệu quả từ các mô hình BIO-IPM cho thấy chi phí đầu tư để trừ sâu rầy bằng nấm xanh và trừ bệnh thuốc kích kháng Biosar thấp hơn so với thuốc hóa học.

- Việc hình thành cộng đồng hợp tác sử dụng chế phẩm vi sinh giữa các tỉnh sẽ phát huy hiệu quả nấm xanh trên diện rộng góp phần tránh hiện tượng tái nhiễm do rầy di trú từ nơi khác đến.

- So cùng kỳ năm ngoái diện tích nhiễm rầy nâu của Sóc Trăng giảm và bệnh vàng lùn, lùn xoắn xuất hiện rất ít với tỷ lệ thấp không đáng kể.

- Ứng dụng mô hình BIO-IPM ngoài lợi ích kinh tế còn góp phần tạo sự chuyển biến  nhận thức của nông dân từ việc sử dụng thuốc hóa học sang hướng sinh học, tái tạo hệ sinh thái theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường góp phần nâng cao giá trị sản phẩm cho tỉnh nhà. 

* Kiến nghị

- Qui mô ứng dụng sinh học càng rộng hiệu quả thể hiện càng cao. Đề nghị Bộ NN & PTNT hỗ trợ kinh phí để các tỉnh có thể triển khai ứng dụng mô hình BIO-IPM trên diện rộng.

- Trong chương trình sản xuất nông sản an toàn theo tiêu chuẩn GLOBALGAP, VIETGAP đề nghị chuyển giao quy trình sản xuất nấm xanh cho nông dân, bước đầu hỗ trợ khuyến khích nông dân sản xuất và sử dụng nấm xanh giảm sử dụng thuốc hóa học.

Comments