Trang chính‎ > ‎Cây lương thực‎ > ‎VIETGAP lúa‎ > ‎

Mô hình sản xuất lúa theo GAP tại Kiên Giang

KẾT QUẢ THỰC HIỆN MÔ HÌNH SẢN XUẤT LÚA THEO HƯỚNG
VIETGAP TẠI KIÊN GIANG, VỤ ĐÔNG XUÂN 2009-2010

 

                                                                                    KS. Ông Nhất Anh[1]

                                                                                    ThS. Hoàng Trung Kiên[2]

                                                                                    TS. Nguyễn Đức Thuận[3]

 

1. MỤC TIÊU

·        Xây dựng mô hình sản xuất lúa theo hướng VietGAP trên diện rộng làm cơ cho sản xuất lúa theo tiêu chuẩn VietGAP tại Kiên Giang;

·        Nâng cao nhận thức và hướng nông dân tiếp cận với 4 mục tiêu của GAP:

+ Sản phẩm được an toàn và có chất lượng;

+ An toàn cho người sản xuất;

+ Bảo vệ môi trường;

+ Truy tìm được nguồn gốc sản phẩm.

·        Chuyển giao các biện pháp kỹ thuật và ứng dụng một số sản phẩm phân bón (Silica, Silica Potass, Silica-phos, Super Humate) của Công ty CP Mosan vào sản xuất lúa theo hướng VietGAP;

·        Tạo mối liên kết giữa nông dân, khuyến nông và doanh nghiệp trong việc tham gia chương trình VietGAP.

 

2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN MÔ HÌNH

2.1. Chọn điểm

Mô hình được thực hiện tại Tổ Hợp tác số 2, xã Sơn Kiên, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Đây là vùng sản xuất lúa 2 vụ, có đê bao lửng, chủ động tưới tiêu và không có nguy cơ gây ô nhiễm cả về đất và nước tưới.

 

2.2. Các bước tổ chức thực hiện mô hình

- Thành lập tổ sản xuất lúa theo hướng VietGAP và tổ trưởng, tổ phó mô hình;

- Điều tra tập quán và tình hình sản xuất lúa của địa phương;

- Biên soạn tài liệu, sổ ghi chép;

- Tập huấn kỹ thuật đầu vụ, giữa vụ và hướng dẫn ghi chép nhật ký sản xuất lúa;

- Hướng dẫn, chỉ đạo sản xuất lúa;

- Kiểm tra nội bộ.

- Tổ chức hội thảo đầu bờ đánh giá kết quả thực hiện mô hình.

 

2.3. Quy trình canh tác ứng dụng trong mô hình

Áp dụng theo chương trình 3 Giảm - 3 Tăng. Những điểm chính của quy trình canh tác lúa gồm:

* Giống lúa: Sử dụng giống lúa được khuyến cáo cho vùng (OM 2517), sạ hàng hoặc sạ thưa, gieo sạ tập trung theo lịch khuyến cáo của địa phương.

* Phân bón:

+ Loại phân sử dụng trong mô hình: Khuyến cáo sử dụng các loại phân đơn và bổ sung thêm các loại phân có chứa Silic. Kết hợp giữa phân bón gốc và phân bón lá.

+ Lượng bón khuyến cáo cho 1 ha: 90-45-30. Cụ thể:

- Phân bón gốc: 150 kg lân, 50 kg DAP, 175 kg Urê, 50 kg KCl, 150 kg Silica. Chia là các lần bón (kg/ha):

Bón lót: 150 kg Lân nung chảy

Bón thúc 1 (7-12 NSS): 50 Silica + 50 kg DAP + 60 kg Urê + 20 kg KCl;

Bón thúc 2 (18-22 NSS): 50 kg Silica + 65 kg Urê

Bón thúc 3 (40-45 NSS): 50 kg Silica + 50 kg Urê + 30 kg KCl.

            - Phân bón lá: 1 lít Mososan Super Humate, 0,5 lít Silica Phos và 40 gói Silica Potass lại gói 12ml. Chia làm các đợt phun (lít/ha):

            Đợt 1 (18-22 NSS): 1 lít Super Humate

            Đợt 2 (40-45 NSS): 0,5 lít Silica Phos

            Đợt 3 (trước trỗ 1 tuần): Silica Potass (0,25 lít/ha)

            Đợt 4 (sau trỗ 1 tuần): 0,25 lít Silica Potass.

* Bảo vệ thực vật: Áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp trong canh tác lúa nhằm hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc BVTV.

* Các biện pháp chăm sóc khác: theo hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật.

* Thu hoạch và sau thu hoạch: Thu hoạch đúng độ chín (85-90%). Sử dụng máy gặp đập liên hợp cho việc thu hoạch nhằm hạn chế thất thoát sau thu hoạch.

 

2.4. Các chỉ tiêu theo dõi

Lấy mẫu đại diện trên 5 hộ trong mô hình và 5 hộ ngoài mô hình. Các chỉ tiêu theo dõi gồm:

- Ghi nhận các biện pháp kỹ thuật áp dụng của nông dân trong và ngoài mô hình;

- Theo dõi tình hình sinh trưởng, tình hình sâu bệnh trên đồng ruộng, tỷ lệ đổ ngã của cây lúa ở các ruộng trong và ngoài mô hình;

- Theo dõi chi phí, năng suất và hiệu quả kinh tế ở các ruộng trong và ngoài mô hình;

- Theo dõi sổ tay ghi chép.

 

3. KẾT QUẢ THỰC HIỆN MÔ HÌNH

3.1. Thành lập nhóm tổ thực hiện mô hình

Để thực hiện mô hình, 19 hộ nông dân thuộc Tổ Hợp tác số 2, xã Sơn Kiên, huyện Hòn Đất đã tự nguyên tham gia và thành lập 1 nhóm mô hình sản xuất lúa theo hướng VietGAP. Các hộ này nằm đều trong khu vực sản xuất lúa 2 vụ, có đê bao lửng, diện tích khá liền canh, chủ động tưới tiêu và không có nguy cơ gây ô nhiễm cả về đất và nước tưới.

Mô hình cũng đã bầu tổ trưởng và tổ phó để làm cầu nối liên hệ giữa các thành viên và cán bộ kỹ thuật.

Cán bộ kỹ thuật của Trung tâm Khuyến nông tỉnh, Trạm Khuyến nông huyện và Công ty CP Mosan cùng tham gia trong công tác thành lập nhóm nông dân, tổ chức sản xuất và chỉ đạo sản xuất lúa trong mô hình.

 

3.2. Tập huấn, chỉ đạo và hướng dẫn sản xuất

Trong suốt vụ, cán bộ kỹ thuật của Trung tâm Khuyến nông tỉnh, trạm Khuyến nông huyện và Công ty CP Mosan đã tổ chức 2 cuộc tập huấn vào đầu và giữa vụ với các nội dung:

            + Lần 1 (tập huấn đầu vụ): Sản xuất lúa an toàn theo hướng GAP, hướng dẫn ghi chép sổ nhật ký và hướng dẫn sử dụng phân bón giai đọan mạ đến đẻ nhánh;

+ Lần 1 (tập huấn đầu vụ): Chăm sóc lúa từ kết thúc đẻ nhánh đến thu họach, sử dụng phân bón Mosan ở thời kỳ đón đòng, trước và sau trổ.

Hàng tuần, cán bộ kỹ thuật cùng nông dân ra đồng đánh giá tình hình sinh trưởng của lúa, tình hình sâu bệnh và thảo luận, hướng dẫn nông dân cách chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh. Đồng thời theo dõi, nhắc nhở nông dân ghi chép sổ nhật ký.

 

3.3. Kết quả thực hiện quy trình kỹ thuật

3.3.1. Gieo sạ

Tất cả các hộ đều sử dụng giống lúa OM 2517 và tập chung gieo sạ đồng loạt từ ngày 26-30/11/2009 để né rầy đầu vụ. Chỉ có 1 hộ sạ trễ (5/12/2009). Hầu hết các hộ đều áp dụng phương pháp sạ thưa, mật độ sạ từ 150-160 kg/ha.

 

3.3.2. Xử lý cỏ dại

Ở một số ruộng khâu làm đất chưa thật tốt, ruộng không được bằng phẳng và quản lý cỏ dại chưa được tốt nên còn sót lại nhiều cỏ, chủ yếu là các loại cỏ đuôi phụng, cỏ gạo, cỏ chác lác, cỏ chỉ nước mặn và phải phun lại lần 2.

 

3.3.3. Bón phân

* Sử dụng  phân bón gốc:

Ở các ruộng trong mô hình, nông dân mua phân bón tại các đại lý phân bón ở địa phương, có nguồn gốc rõ ràng. Số lượng và các lần bón, ngày bón có ghi chép lại đầy đủ theo quy trình được tập huấn.

Ở những lần bón lót, bón thúc cây mạ và đón đòng cho thấy rằng: những ruộng trong mô hình do có sử dụng phân Silica nên hạ phèn tốt hơn, bộ rễ ra dài hơn những hộ đối chứng. Sức đẻ nhánh mạnh và sớm, thân cứng, chắc khỏe.

So màu lá lúa tại thời điểm 35 và 70 ngày sau sạ cho thấy cả trình diễn và đối chứng đều có chỉ số bằng và trên khung số 4 chứng tỏ ruộng lúa không có thiếu phân, nhìn tổng thể cả ruộng lúa rất xanh tốt.

Ở các hộ trong mô hình có sử dụng kết hợp phân bón Mosan cho thấy đã tiết kiệm được lượng phân bón nguyên chất đáng kể (27N - 28P2O5 -10K2O) so với đối chứng (bảng 1) nhưng lại có bộ rễ phát triển tốt hơn, khỏe hơn, nhiều lông hút hơn, cây cứng và đẻ nhánh sớm hơn, nhánh to khỏe hơn. Điều này chứng tỏ phân bón Mosan đã phát huy tác dụng đến sinh trưởng, đặc biệt đối với bộ rễ lúa và quá trình đẻ nhánh.

Kiểm tra độ cứng cây lúc lúa 70 NSS tại 5 ruộng trong mô hình và 5 hộ ngoài mô hình (đối chứng) cho thầy kết quả tất cả các cây trong mô hình đều cứng hơn so với cây ở ngoài mô hình. Như vậy, bón phân Silica còn có tác dụng làm cho lúa cứng cây hơn.

Các quan sát theo dõi trên đồng ruộng cũng cho thấy tỷ lệ và mức độ sâu bệnh (sâu cuốn lá, rầy nâu, đạo ôn, ...) ở các ruộng trong mô hình nhẹ hơn rất nhiều so với các ruộng ngoài mô hình. Điều này đã dẫn đến, os61 lần phun xịt sâu bệnh ở các ruộng trong mô hình ít hơn so với ngoài mô hình, qua đó giảm được chi phí về thuốc bảo vệ thực vật và bảo vệ môi trường.

 

Bảng 1. Loại phân và lượng phân bón gốc

TT

Điểm lấy mẫu

Lượng phân bón (kg/ha)

Silica

Urê

DAP

KCl

Lân NC

NPK

Quy ra

N-P2O5-K2O

1

Trong mô hình (có sử dụng phân bón Mosan):

 

 Đỗ Hồng Thái

150

165

50

75

 

 

85-23-45

 

 Đặng Hồng Cảnh

150

130

60

 

50

130

91-35-10

 

 Nguyễn Văn Sơn

150

195

60

65

 

40

108-35-47

 

 Đỗ Mạnh Hùng

150

120

100

105

 

90

87-60-70

 

 Trần Thị Mơ 

150

120

75

25

150

150

98-87-38

 

Trung bình:

 150

147

69

54

40

82

92-48-42

2

Ngoài mô hình (bón phân theo tập quán):

 

 Đặng Thị Mừng

 

175

100

36

Hạt vàng 150

100

121-54-42

 

 Vũ Đức Oai

 

100

70

50

200

120

83-76-48

 

 Phạm Thị Tươi

 

235

145

90

200

50

142-107-58

 

 Dương Thị Tý

 

210

140

25

 

100

138-78-23

 

 Đỗ Thị Cúc

 

120

80

40

Con gà 100

TE2 200

122-79-56

 

Trung bình:

 

173

100

66

50

134

119-76-52

3

Chênh lệch

 

 

 

 

 

 

27-28-10

 

* Sử dụng phân bón lá (loại phân, lượng bón/ha):

Ở các ruộng trong mô hình có phun các loại phân bón lá Super Humate, Silica Phos và Silica Potass với lượng bón như ở bảng 2 cho thấy sau khi phun cây có hiện tượng nhóng chiều cao, màu lá xanh, rễ phát triển mạnh, ra dài, lúa đẻ nhánh khỏe, lá lúa dày, đứng lá, hạt lúa sáng, nhiều hạt chắc. Ở giai đoạn cuối, cây cũng cứng hơn so với đối chứng ngoài mô hình. Như vậy các loại phân bón lá có chứa silic (Silica Phos, Silica Potass) cũng có tác dụng giúp cho cây lúa cứng hơn và cây phát triển cân đối hơn.

 

Bảng 2. Loại phân và lượng phân bón lá

TT

Công thức

Các loại phân bón lá và số lượng bón (lít/ha)

Đẻ nhánh

(18-22 NSS)

Làm đòng

(40-45 NSS)

Trước trỗ

(55-57 NSS)

Sau trỗ

(70-75 NSS)

1

Trong mô hình

Super Humate: 0,5 lít/ha

Silica Phos: 0,5 lít/ha

Silica Potass: 0,25 lít/ha

Silica Potass: 0,25 lít/ha

2

Ngoài mô hình

 

 

Boom Flower: 1lít

Boom Flower: 1 lít

 

3.3.4. Quản lý dịch hại

* Sâu, rầy:

Các quan sát, theo dõi, đánh giá trên đồng ruộng ở các ruộng trong và ngoài mô hình, kết quả cho thấy ở thời kỳ trước và sau sạ có ốc bươu vàng xuất hiện với mật  độ thấp nên mức độ gây hại trên đồng ruộng không cao.

Ở thời kỳ sau sạ 40-45 ngày có sâu cuốn lá và rầy nâu rải rác và 70-75 ngày có sâu cuốn lá rải rắc, rầy mật độ 1.000-2.000con/m2 xuất hiện ở cả ruộng trong mô hình và ngoài mô hình. Mật độ rầy nâu ở các ruộng trong mô hình có xu hướng thấp hơn.   

* Bệnh hại:

Sau sạ 20-25 ngày, 35-40 ngày, 50-55 ngày có xuất hiện bệnh đạo ôn trên lá, nhưng do trong mô hình và Tổ hợp tác đa số sử dụng giống hơi kháng nên không có diện tích nhiễm, chỉ có rải rác ở ruộng ngoài mô hình và 1 số ít ở ruộng trong mô hình. Nhưng giai đoạn cuối vụ lúc lúa 70-80 ngày sau sạ có bệnh đạo ôn lá và gié, cổ bông với cấp bệnh 1-3, tỷ lệ 4-6%. Lem lép hạt cấp 1-5, tỷ lệ 8- 11%, cả ruộng trình diễn và đối chứng không có sự khác biệt gì lớn.

Nhìn chung, ở đầu vụ đến giữa vụ thời tiết khá thuận lợi ít sâu rầy, từ giữa đến cuối vụ sâu, rầy, nhất là bệnh đạo ôn phát triển mạnh làm cho nông dân phải xử lý thuốc nhiều lần làm tăng chi phí sản xuất, nhất là ở các ruộng ngoài mô hình.

 

3.3.4. Thu hoạch và xử lý sau thu hoạch:

Khâu thu hoạch đa số ở đây sử dụng máy gặt đập liên hợp, dụng cụ chứa đựng không có nguy cơ ô nhiễm. Sau thu hoạch nông dân ở đây thường có tập quán phơi và bán lúa ngay trên bờ ruộng. Trường hợp không có thương lái mua thì mới mang về tồn trữ có lưới bao để hạn chế súc vật gây ô nhiễm.

 

3.4. Kết quả thực hiện ghi chép của nông dân

Mỗi nông dân tham gia mô hình đã được phát 1 cuốn sổ tay ghi chép tình hình sản xuất lúa theo hướng VietGAP (theo hướng dẫn của Cục Trồng trọt). Nông dân cũng đã được tập huấn và hướng dẫn cách ghi chép. Cán bộ kỹ thuật cũng đã thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn cách ghi chép. Nhìn chung, tất cả nông dân trong mô hình đã ghi chép công việc, nhật ký đồng ruộng, tình hình sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật vào sổ. Tuy nhiên, vẫn còn đến 1/3 số hộ nông dân ghi chép chưa đầy đủ các khoản mục.

 

3.5. Kiểm tra nội bộ

Trong vụ đã tổ chức đi thăm đồng, kiểm tra 4 lần để đánh giá lại mức độ thực hiện chương trình.

 

3.6. Quản lý chất thải

Sau vụ Hè Thu, nông dân cày hoặc trục vùi rơm rạ, sau đó đưa nước lũ vào để phân huỷ và lấy phù sa.

Các ruộng mô hình đều ở xa khu dân cư nên không bị ảnh hưởng bởi chất thải của người và gia súc.

 

3.7. Hiệu quả kinh tế của mô hình

3.7.1. Phân tích chi phí sản xuất

Số liệu thu thập ở bảng 3 cho thấy ở các ruộng trong mô hình do bón phân và áp dụng các biện pháp kỹ thuật hợp lý nên đã tiết kiệm đươc chi phí sản xuất. Tổng chi trung bình của các ruộng trong mô hình là 12.402.000đồng/ha, trong khi đó ở các ruộng ngoài mô hình là 14.335.000đồng/ha. Như vậy, chi phí sản xuất cho các ruộng trong mô hình thấp hơn so với ngoài mô hình 1.933.000đồng/ha. Chi phí tiết kiệm ở các ruộng trong mô hình chủ yếu từ giảm được chi phí về thuốc bảo vệ thực vật và phân bón.

 

Bảng 3. Chi phí sản xuất lúa

Đơn vị tính: 1.000 đ/ha

TT

Điểm lấy mẫu

Giống

Làm đất

Phân bón

Thuốc BVTV

Thu

hoạch

Chi

khác

Tổng chi

1

Trong mô hình (có sử dụng phân bón Mosan):

 

Đỗ Hồng Thái

 1.100

 1.630

 3.685

 1.145

 2.200

 2.660

 11.420

 

Đặng Hồng Cảnh

 1.100

 1.790

 3.796

 1.651

 2.200

 2.140

 12.677

 

Nguyễn Văn Sơn

 1.100

 1.393

 3.210

 2.000

 2.200

 2.377

 12.280

 

Đỗ Mạnh Hùng

 1.100

 1.640

 3.206

 1.211

 2.200

 2.750

 12.107

 

Trần Thị Mơ 

 1.100

 1.650

 4.646

 1.280

 2.200

 2.750

 13.526

 

Trung bình

 1.100

 1.621

 3.709

 1.457

 2.200

 2.535

 12.402

2

Ngoài mô hình (bón phân theo tập quán):

 

Đặng Thị Mừng

 1.200

 1.400

 3.906

 1.750

 2.200

 3.080

 13.536

 

Vũ Đức Oai

 1.200

 1.325

 3.956

 2.436

 2.200

 3.690

 14.807

 

Phạm Thị Tươi

 1.100

 1.600

 4.734

 2.500

 2.200

 3.100

 15.234

 

Dương Thị Tý

 1.000

 1.500

 3.709

 2.320

 2.200

 3.480

 14.209

 

Đỗ Thị Cúc

 1.000

 1.450

 4.188

 2.000

 2.200

3.050 

 13.880

 

Trung bình

 1.100

 1.455

 4.099

 2.201

 2.200

 3.280

 14.335

3

Chênh lệch

 

166

-390

-744

 

  -745

-1.933

 

3.7.2. Hiệu quả kinh tế của sản xuất lúa

Kết quả phân tích hiệu quả kinh tế ở bảng 5 cho thấy năng suất trung bình của các ruộng trong mô hình có sử dụng phân bón Mosan cao hơn các ruộng ngoài mô hình là 0,2 t/ha.

Với giá bán là 4.180 đ/kg, tổng thu bình quân của các ruộng trong mô hình cao hơn ngoài mô hình là 438.000 đồng/ha. Ngược lại, chi phí sản xuất ở các ruộng trong mô hình lại thấp hơn đối chứng (trung bình 1.933.000 đ/ha). Điều này đã dẫn đến lợi nhuận thu được ở các ruộng trong mô hình từ 15.463.000-19.220.000 đ/ha, trung bình là 17.016.000 đ/ha và cao hơn so với ngoài mô hình là 2.873.000 đ/ha.

Xét về giá thành sản xuất lúa, kết quả tính toán cho thấy giá thành trung bình 1 kg lúa ở các ruộng trong mô hình là 1.798 đ/kg và ở các ruộng ngoài mô hình là 2.116 đ/kg. Như vậy, tham gia mô hình này, ngoài lợi nhuận thu được, nông dân còn hạ được giá thành sản xuất lúa khoảng 318 đ/kg so với sản xuất bình thường..

 

Bảng 5. Hiệu quả kinh tế của sản xuất lúa

TT

Điểm lấy mẫu

N.suất

(t/ha)

Tổng thu

(1.000đ/ha)

Tổng chi

(1.000đ/ha)

Lợi nhuận

(1.000đ/ha)

Giá thành

(đ/kg)

1

Trong mô hình (có sử dụng phân bón Mosan):

 

Đỗ Hồng Thái

6,9

28.980

11.420

17.560

1.655

 

Đặng Hồng Cảnh

6,7

28.140

12.677

15.463

1.892

 

Nguyễn Văn Sơn

6,9

28.980

12.280

19.220

1.779

 

Đỗ Mạnh Hùng

7,5

30.750

12.107

18.643

1.614

 

Trần Thị Mơ 

6,6

27.720

13.526

14.194

2.049

 

Trung bình

6,92

28.914

12.402

17.016

1.798

2

Ngoài mô hình (bón phân theo tập quán):

 

Đặng Thị Mừng

7,0

29.400

13.536

15.864

1.933

 

Vũ Đức Oai

6,7

28.140

14.807

13.333

2.210

 

Phạm Thị Tươi

6,5

28.560

15.234

13.326

2.240

 

Dương Thị Tý

6,5

27.300

14.209

13.091

2.186

 

Đỗ Thị Cúc

6,9

28.980

13.880

15.100

2.011

 

Trung bình

6,72

28.476

14.335

14.143

2.116

3

Chênh lệch

0,20

438

-1.933

2.873

-318

 

3.9. Đánh giá tác động của mô hình

* Về mặt xã hội, môi trường

Qua mô hình này đã từng bước giúp nông dân nâng cao trình độ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật. Nông dân cũng đã biết chọn và sử dụng các loại phân bón hợp lý hơn, bón đúng bón đủ, bón theo nhu cầu sinh trưởng của cây lúa để giảm chi phí đầu tư, tăng hiệu quả kinh tế và thu nhập.

Góp phần phát triển nhanh và chặt chẽ, bền vững liên kết của 4 nhà (nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nông) trong việc chung tay xây dụng cánh đồng liên kết sản xuất lúa theo hướng GAP.

Trong kỹ thuật sản xuất lúa theo hướng GAP do áp dụng biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp, các loại dịch hại như rầy nâu, sâu cuốn lá,… tới ngưỡng gây hại mới phòng trừ, sử dụng phân bón cân đối, hợp lý, nhất là phân đạm, từ đó giảm được dư lượng thuốc BVTV và dư lượng nitrat trong hạt gạo, góp phần vào việc bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, đồng thời từng bước nâng cao nhận thức của người dân và phát triển nền nông nghiệp sạch, nâng cao khả năng cạnh tranh hạt gạo của Việt Nam trên thế giới.

* Về khả năng nhân rộng của mô hình

Mô hình này đã cho kết quả rất khả quan, công tác khuyến nông đã giúp người dân tiếp thu tốt kỹ thuật 3 giảm – 3 tăng và GAP, được nhiều nông dân hưởng ứng và áp dụng.

Mô hình đã từng bước giúp nông dân nhận thấy được những lợi ích trong thâm canh cây lúa theo hướng liên kết cộng đồng.

Trong quá trình thực hiện mô hình, đã tổ chức được các cuộc thăm viếng và đặc biệt là tổ chức thành công hội thảo đầu bờ cho nông dân trong vùng đến tham quan và trao đổi kinh nghiệm. Mô hình cũng đã được nông dân đánh giá cao và đề nghị tiếp tục được nhân rộng cho những vụ tới.

Mô hình đã thực hiện được cơ bản các khâu của chương trình GAP đề ra. Tuy chưa được thực hiện một cách bài bản và vững chắc nhưng mô hình này rất cần thiết, được nông dân và chính quyền địa phương đồng tình ủng hộ, làm cơ sở cho sản xuất lúa theo tiêu chuẩn VietGAP trong thời gian tới.

 

5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

1. Kết luận

Đây là một mô hình mới và nông dân mới thực hiện vụ đầu nên còn nhiều lúng túng. Tuy nhiên, bà con nông dân cũng cố gắng khắc phục và thực hiện được cơ bản các khâu mà chương trình đặt ra.

Nông dân tham gia mô hình sản xuất lúa an toàn theo hướng VietGAP đã áp dụng các biện pháp tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất lúa và đạt được những kết quả khả quan như gieo sạ tập trung, sử dụng giống xác nhận, sạ thưa giảm giống, giảm số lần phun xịt thuốc bảo vệ thực vật, giảm phân bón, giảm thất thoát sau thu hoạch, giảm giá thành sản xuất, ghi chép nhật ký sản xuất lúa, quản lý chi phí đầu tư, tăng hiệu quả kinh tế.

Kết quả của mô hình là rất khả quan, không chỉ mang lại hiệu quả về kinh tế trong sản xuất lúa mà còn giúp nông dân nâng cao nhận thức và tiếp cận được các mục tiêu của VietGAP.

 

2. Đề nghị

Đây mới chỉ là mô hình sản xuất lúa theo hướng VietGAP nên còn rất nhiều việc chưa làm được để có thể đạt được tiêu chuẩn VietGAP như quản lý đất và nước, quản lý thuốc bảo vệ thực vật và bao bì sau khi sử dụng, kiểm tra dư lượng các chất trong sản phẩm và bao tiêu sản phẩm. Khi chuyển sang sản xuất lúa theo tiêu chuẩn VietGAP các vấn đề này và các quy định khác của VietGAP cần được thực hiện đầy đủ.

Các sản phẩm phân bón có chứa Silic như Silica, Silica Phos và Silica Potass giúp cây lúa phát triển cứng cáp, chống đổ ngã, tăng sức chống chịu và giảm sâu bệnh rất rõ, được đánh giá là rất phù hợp cho chương trình VietGAP. Đề nghị nên đưa và khuyến cáo sử dụng các sản phẩm này trong quy trình bón phân cho sản xuất lúa theo tiêu chuẩn VietGAP.

Cần có sự liên kết với các doanh nghiệp trong việc cung cấp vật tư đầu vào đảm bảo chất lượng và bao tiêu đầu ra cho sản phẩm với giá cả có lợi cho nông dân./.

 



[1] Cán bộ kỹ thuật, Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Kiên Giang

[2] Giám đốc, Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Kiên Giang

[3] Phó Giám đốc, Công ty CP MOSAN

Comments