Trang chính‎ > ‎Cây lương thực‎ > ‎VIETGAP lúa‎ > ‎

Hiệu quả sản xuất lúa ở Đông Nam Bộ và vấn đề an ninh lương thực vùng

Đỗ Khắc Thịnh   Hoàng Đức Dũng, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam

 

1.     Điều kiện tự nhiên và xã hội

 

Đông Nam bộ (ĐNB) là 1 trong 7 vùng  kinh tế nông nghiệp của cả nước, với tổng diện tích tự nhiên 2,36 triệu ha (chiếm 7,13% so với cả nước), năm 2009 dân số  14,1 triệu (chiếm 16,4% dân số cả nước), có trên 40 dân tộc sinh sống. Nhờ có những ưu thế về mặt vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, lịch sử phát triển, ĐNB được đánh giá là vùng có tài nguyên đa dạng và phong phú, có điều kiện để phát triển một nền kinh tế tổng hợp theo hướng tập trung, có sự liên kết chặt chẽ giữa công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp. 

Mặc dù nông nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng không lớn trong cơ cấu GDP của vùng, nhưng nó có vị trí rất quan trọng vì sản xuất nông nghiệp chải rộng trên bề mặt diện tích tự nhiên, sử dụng lực lượng lao động lớn, nguồn thu nhập chủ yếu của  nông dân vùng sâu, vùng xa. Hơn nữa nông nghiệp có ý nghĩa lớn trong việc cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, lương thực, thực phẩm cho tiêu dùng, góp phần làm cân bằng sinh thái trong quá trình công nghiệp, đô thị hoá nhanh chóng ở vùng này. Trồng trọt là ngành sản xuất chính trong nông nghiệp luôn chiếm tỷ trọng khoảng 75% giá trị xuất khẩu nông nghiệp. Cây ngắn ngày có cơ cấu tương đối biến động phụ thuộc vào giá cả thị trường. Về lương thực có hạt (lúa, ngô) 2008,  bình quân theo đầu người ĐNB là 137,0kg. Lúa vẫn chiếm tỷ trọng cao trên 50%, tiếp đến là cây ngô, sắn, rau đậu, lạc, mía.

 

     2. Về tiếp nhận nguồn thông tin kỹ thuật sản xuất

 

 Theo kết quả điều tra ở một số huyện của các tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, người dân tiếp nhận  các  thông tin  KHKT từ các nguồn khác nhau: 1/ Kinh nghiệm địa phương & bản thân gia đình (91,7%); 2/ Từ Nông dân với nông dân (90,7%); 3/ Tivi, radio: (88,3%); 4/ Hội Khuyến nông, Hội Nông  dân (86,9%); 5/ Tham quan hội thảo: 86,6%;  6/ Cơ quan khoa học (53,5%); 7/ Sách báo (51,6%) và các 8/ Các nguồn khác (2,7%). Kế quả này cho thấy cơ bản người dân sản xuất theo kinh nghiệm bản thân & truyền thống gia đình. Các nguồn thông tin về KHKT qua các phương tiện nghe nhìn rất quan trọng, đồng thời vai trò của các hiệp hội khuyến nông, nông dân hỗ trợ tương đối khá rõ nét. Kênh thông tin qua sách báo vẫn còn ít đối với người dân. Vì vậy để nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật cho người dân việc phát huy hơn nữa của các kênh thông tin đến bà con nông dân hết sức quan trọng, trong đó việc tập huấn bài bản về các lớp KHKT nâng cao tay nghề cho thanh niên nông thôn cũng cần đặt ra để giảm thiểu tỷ lệ sản xuất theo kinh nghiệm gia đình là chủ yếu như hiện nay.

Nói chung mức độ ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật ở các địa phương không đồng đều, nó tuỳ theo vị trí địa lý, sự hoạt động của hội nông dân và chính quyền địa phương. Hình thức tiếp cận các nguồn thông tin cũng có sự khác biệt.

 

   3. Tình hình ứng dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất lúa  ở ĐNB

   Vùng ĐNB có diện tích sản xuất lúa thấp, khoảng 307 nghìn ha (2009), nhưng địa hình sản xuất khá phức tạp, mang tính phân tán, tuy vậy cũng có những tỉnh có diện tích sản xuất lúa thuộc loại khá cao như Tây Ninh, Đồng Nai. Các giống lúa trồng phổ biến ở các tỉnh ĐNB là: OM 576, OM 1490, VND 95-20, VND 99-3, IR 64, IR 59606, IR 50404, AS996, OM 2492, OM 2518, Jasmine 85, OM 3536, VD20, Mashuri, OMCS 2000, ML48, ngoài ra còn nhiều giống người dân không biết tên.  Ví dụ điều tra ở Đồng Phú, Bình Phước năm 2009 cho thấy cơ cấu giống lúa hạn chế về số lượng và chủng loại giống.  Địa phương chỉ sử dụng 3 giống lúa chính, giống OM 3536 được sử dụng phổ biến nhất chiếm đến 75.8%, tiếp theo là giống VND95-20 chiếm 18,2% và sau cùng là giống Jasmine 85 chiếm 6%. Số liệu điều tra cơ cấu giống lúa trong sản xuất ở Bù Đăng cũng cho thấy giống Jasmine 85 được sử dụng phổ biến chiếm 49%, tiếp theo là giống địa phương chiếm 38%, các giống còn lại sử dụng ít phổ biến như VND95-20 (5%), Sáu Hiển (5%), OM 85 (3%). Do tiêu thụ gạo tại chỗ, nhu cầu đa dạng về chủng loại gạo cho nên các nhóm giống có chất lượng gạo khác nhau được sản xuất, trong đó có những giống gạo thơm, ngon chiếm trên 70%. Nhưng các giống này đã sử dụng qua nhiều năm nên đã bị thoái hóa, năng suất bị giảm và nhiễm sâu bệnh nặng, cơ cấu giống không đa dạng phong phú.  

    Năng suất là chỉ tiêu định lượng tổng hợp về điều kiện sản xuất và cũng là nhân tố quan trọng cho biết hiệu quả sản xuất lúa của nông hộ. Số liệu điều tra cho thấy đa số các hộ nông dân đạt năng suất dưới 3 tấn/ ha, tỉ lệ này ở Bình Phước, huyện Bù Đăng là 77,78%, Đồng Phú, 77,14%. Số hộ đạt năng suất 3-4 tấn/ha chiếm tỉ lệ 20-22,2 %, số hộ nông dân đạt trên 4 tấn/ha chiếm tỉ lệ không đáng kể 2,86%.  Nhìn chung năng suất lúa như trên là rất thấp so với các khu vực sản xuất lúa khác trong vùng như Tây Ninh, Bà Rịa-VũngTàu (4,5 tấn/ha).

Cũng theo kết quả điều tra của Viện KHNNMN ở một số địa phương thuộc ĐNB, 2006, tỷ lệ nông dân ứng dụng tiến bộ kỹ thuật tương đối biến động: 1/sử dụng giống lúa có gạo chất lượng cao TB=73,3%; 2/ sử dụng dụng cụ sạ hàng: TB=7,5%; 3/ sạ đúng lượng giống TB=24,5%; 4/ Sử dụng bảng so màu lá: TB= 17,9%; 5/ Bón phân cân đối: TB=31,8%; 6/ Áp dụng IPM:  TB=54,0%.  Đa số người nông dân sử dụng lượng giống gieo sạ từ  100 – 150 kg/ha chiếm 57,7 – 74,3 %, từ 150 - 200 kg/ha chiếm 22,9 – 30,8 %, ở mức ≤ 100 kg/ha hoặc ≥ 200 kg/ha chiếm tỉ lệ thấp tương ứng 2,8-3,8% và 0 - 7,7%. Ở đây đa phần người dân vẫn còn thói quen sử dụng lúa thương phẩm trao đổi hoặc bán cho nhau làm giống cho vụ sau, nên việc tiếp cận với nguồn giống mới chất lượng cao cũng như chi phí mua hạt giống chất lượng chưa được quan tâm nhiều. 

 Do đất đai ở ĐNB không bằng phẳng, hệ thống thuỷ lợi không thuận lợi như ở ĐBSCL cho nên người dân rất ít sử dụng dụng cụ sạ hàng, mà chủ yếu áp dụng sạ lan hoặc sạ khô (đối với lúa hè thu & lúa mùa).

Về sử dụng phân bón, số liệu điều tra cho thấy việc sử dụng phân bón ở các hộ nông dân rất khác biệt, nhất là liều lượng bón đạm. Tại Đồng Phú, Bình Phước một số hộ bón ở mức quá cao (138 kg N/ha) trong khi một số hộ khác chỉ bón 23 kg N/ha. Ngược lại tại  Bù Đăng các hộ bón đạm ở mức trung bình đến thấp biến động từ 18-46 kg N/ha.Việc sử dụng Lân và Kali ở các địa phương này cũng bất hợp lý như sử dụng phân đạm.  Việc sử dụng phổ biến phân hỗn hợp NPK mà chưa biết cách tính toán, cân đối cho riêng từng loại N, P, K (qui ra phân đơn) đã dẫn đến những bất hợp lý trong việc sử dụng phân bón cho lúa là khá phổ biến. Trên 90% các hộ điều tra tại địa phương đều sử dụng phân hỗn hợp NPK bón cho lúa. Có mối quan hệ giữa việc sử dụng phân NPK và sự bón phân không cân đối, chưa hợp lý của các đơn chất N, P và K, điều này cũng đã đẩy chi phí sử dụng phân bón chiếm tỉ lệ khá cao trong cơ cấu giá thành sản xuất lúa của các hộ nông dân.

 Tỷ lệ người sử dụng bảng so màu lá để bón phân thấp, do nguồn cung cấp ít, hoặc do người dân ngại sử dụng, mà chỉ bón theo kinh nghiệm. Áp dụng bón phân cân đối hợp lý chiếm tỷ lệ thấp và biến động theo từng địa phương.

  Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), thuốc BVTV được sử dụng phổ biến và thường xuyên trong canh tác lúa. Đa phần các nông hộ tham gia trả lời phỏng vấn đều biết cách sử dụng thuốc BVTV bao gồm thuốc trừ cỏ và thuốc phòng trừ sâu bệnh. Chi phí sử dụng thuốc BVTV chiếm khoảng 7,16 – 8,22 % trên tổng chi phí sản xuất. Hầu hết các hộ nông dân giảm tối đa hoặc không sử dụng công nhổ cỏ bằng tay mà sử dụng thuốc diệt cỏ dại. Cách dùng phổ biến là: xịt thuốc tiền nảy mầm (1-2 ngày sau sạ) bằng các loại thuốc thông dụng như: sofít, Nomenee, cantanin. Khi lúa được 12-15 ngày tuổi thì xịt lại lần 2 với các loại thuốc hậu nảy mầm như: Echo, Butaco, Tiler. Chi phí sử dụng thuốc diệt cỏ chiếm 2- 3% chi phí sản xuất. Các loại sâu bệnh phổ biến như: Đạo ôn, rầy nâu, bọ trĩ, sâu cuốn lá khá phổ biến, trên 90% nông dân nhận xét ruộng họ có những loại sâu bệnh này nhất là vụ Đông Xuân. Trong vụ Đông Xuân rầy nâu và đạo ôn là 2 loại sâu bệnh chính gây hại cho cây lúa và nông dân tốn nhiều chi phí sử dụng thuốc. Các giống Jasmine 85, OM 3536 cũng như các giống địa phương được trồng phổ biến bị hại nặng nhất. Các loại thuốc phòng trừ sâu bệnh được dùng phổ biến là Tilt Super, Bassan, Bacide, Actara, Carbendazime, Anvil. Chi phí sử dụng thuốc phòng trừ sâu bệnh chiếm khoảng 4 – 6% chi phí sản xuất.

 

4. Cơ cấu chi phí sản xuất và hiệu quả sản xuất lúa

      Trong cơ cấu chi phí sản xuất thì công lao động chiếm 49,26 – 51,19 % trên tổng chi phí, tiếp đến là phân bón chiếm 22,30 – 28,34 %, làm đất chiếm 11,09 – 13,58% và thuốc BVTV chiếm 7,16 – 8,22 %. Các khoản khác như: giống, năng lượng, thủy lợi phí chiếm chi phí không nhiều khoảng 4-5 %. Các chi phí công lao động, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật chiếm tỷ trọng khá cao trong cơ cấu giá thành sản xuất 1 kg lúa, do vậy việc sử dụng các giống lúa mới kết hợp tăng cường các thông tin về sử dụng phân bón, thuốc BVTV hợp lý và hiệu quả là rất quan trọng và cần thiết nhằm nâng cao năng suất lúa tối đa từ đó tăng thu nhập cho người nông dân trồng lúa cũng như hiệu quả kinh tế- xã hội trong vùng và góp phần bảo vệ môi trường. Nói chung hiệu quả kinh tế của sản xuất lúa/ ha ở ĐNB tương đối thấp, năm 2006 tổng thu cho ha khoảng 10-15 triệu đ/ha, tổng chi khoảng 7- 8,5 triệu đồng, như vậy lãi ròng 4-5 triệu đồng/ha. Nếu cộng thêm công lao động gia đình thì thu nhập mỗi ha từ 5-6 triệu đồng. Giá thành trên 1 kg lúa thường là 1.200- 1.500 đ trong vụ ĐX, 1.200 -1400đ trong vụ HT, và vụ Mùa 1.300 – 1.400đ trong vụ Mùa. Tuỳ theo điều kiện tưới tiêu của từng tiểu vùng mà mỗi địa phương có ưu thế theo từng mùa. Điều này rất khác với ĐBSCL, vì ở vụ ĐX đa số năng suất lúa thường cao nhất và giá thành thấp nhất. Sở dĩ thu nhập từ lúa không cao vì chi phí bỏ ra lớn (trong đó phân bón & thuốc BVTV chiếm 45-55%), Chi phí giống (6,5-11,5%), chi phí làm đất (9,5-12,0%), tưới nước (8-9%), thu hoạch (9-16%),  các chi phí này tương đối biến động tuỳ thuộc vào từng địa phương, như độ bằng phẳng của ruộng, độ phì của đất, giá cả thị trường, đồng thời  phụ thuộc vào trình độ của người sản xuất.

     Hiệu quả sản xuất lúa tại các điểm điều tra không cao, nguyên nhân chính tạo nên là năng suất lúa quá thấp trong khi chi phí sản xuất cao tương đương với các vùng trồng lúa khác. Các nông hộ ở đây trồng lúa chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng tại chỗ, mang tính tự cung tự cấp nên người dân không hạch toán hiệu quả sản xuất cũng như mức lời lãi, gần như 100 % các hộ trả lời phỏng vấn đều khẳng định làm lúa từ lỗ đến hòa. Mức lãi ròng đạt chỉ số âm bởi tổng chi phí cao nhưng năng suất đạt được quá thấp do vây dẫn đến tổng thu thấp thấp đưa đến sản xuất lúa không có hiệu quả kinh tế. Mặt khác phân bón, thuốc BVTV áp dụng chưa hợp lý đã dẫn tới mất năng suất cũng như đẩy cao chi phí sản xuất và giá thành sản xuất 1 kg lúa thương phẩm.

 

  5. Kết quả nghiên cứu và xây dựng mô hình sản xuất

-   Qua nghiên cứu đánh giá bộ giống của Viện KHNNMN gồm 20 giống lúa mới triển vọng, xác định 5 giống có triển vọng tại 2 tỉnh Bình Phước và tỉnh kế cận là Đắk Nông gồm các giống: VND22, VND34, VND36, VND37,  VND 139.

-         Đánh giá 20 giống tuyển chọn của các Viện Nghiên cứu, 7 giống có triển vọng tại tỉnh Bình Phước và Đắk Nông gồm có: VND95-20, VND99-3, VN24-4, VN121, OM4900, OM6161 và OM6162

-  Kết quả thí nghiệm vụ HT 2009 & ĐX 2008-2009 cho thấy liều lượng gieo sạ ở ĐNB khác biệt so với điều kiện ở ĐBSCL. Do ĐNB cỏ dại nhiều, đất đai không bằng phẳng và dễ bị rửa trôi, dinh dưỡng thấp nên gieo thưa không phù hợp nhất là ở khi áp dụng cho vụ ĐX. Theo kế quả bước đầu cho thấy Bình Phước, vụ ĐX 2010, với lượng hạt gieo 120-150 kg/ha là phù hợp. Trong khi áp dụng lượng giống từ 210 kg/ha trở đi năng suất của giống VN121 có chiều hướng giảm. Ở mật độ này, sự cạnh tranh về ánh sáng, dinh dưỡng giữa các cá thể trong quần thể đã hạn chế tới năng suất. Đặc biệt chiều cao cây của giống VN121, thường cao trong điều kiện gieo dày, phân bón ở liều lượng đạm khá trở lên (N > 90N kg/ha). Ở điều kiện đất tốt ở ĐBSCL, lượng giống chỉ cần 90 -100 kg/ha. Tuy vậy ở ĐNB, đất xấu hơn, cỏ dại nhiều, ốc bưu vàng gây hại nặng nên lượng giống gieo sạ yêu cầu cao hơn.

-         Công thức phân bón phù hợp ở vụ Hè Thu cho vùng đất cát pha tỉnh Bình Phước: 90 N + 60 P2O5-50 K2O kg/ha;  Vụ Đông Xuân cho vùng đất cát pha tỉnh Bình Phước: 90 - 120N + 60 P2O5-50 K2O kg/ha;   

-         Tại Bình Phước vụ ĐX 2009-2010, người dân thường sử dụng giống lúa OM 3536 trong sản xuất, giống này có chất lượng gạo tốt nhưng thường bị đổ và cho năng suất không cao. Sử dụng giống lúa mới VND 99-3 và VN 121, mô hình sản xuất đạt 5,2-5,5 t/ha. Mức thu nhập đạt 26,0-27,5 triệu đ/ha và mức lãi 9,64 triệu đ và 10,58 triệu đ/ha so với Đ/C của nông dân có mức lãi 8,1 triệu đ/ha. Ở mô hình tỷ suất lợi nhuận đạt 0.59 – 0.63 cao hơn so với ngoài mô hình người dân sử dụng giống đã bị thoái hóa chỉ đạt 0.49.

 

   6.  Nhận xét chung về tình hình sản xuất lúa  

-         Canh tác lúa ở các hộ nông dân vùng ĐNB mang tính nhỏ lẻ, manh mún, tự cung tự cấp lương thực tại địa phương và người dân ít quan tâm đến hiệu quả sản xuất lúa

-         Cơ cấu giống của địa phương nhìn chung rất hạn chế, chủ yếu lúa thuần ngắn ngày đã bị thoái hóa do sử dụng liên tục trong nhiều năm nên năng suất thấp, nhiễm sâu bệnh nặng, chất lượng gạo kém.

-         Người dân bón phân không hợp lý, bất cân đối, đặc biệt ít dùng phân kaly và phân lân. Việc quy đổi phân NPK trong việc bón phân, nhiều người dân còn chưa biết tính toán.

-         Các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất lúa còn nhiều bất cập, như sử dụng thuốc BVTV chưa hợp lý, gây lãng phí, từ đó góp phần làm gia tăng giá thành sản xuất lúa.

-         Năng suất lúa thấp, trung bình đạt 2-3 tấn/ha tùy mùa vụ; chi phí  đầu vào của sản xuất lúa cao đã không đem lại hiệu quả kinh tế cho người nông dân trồng lúa

-         Hiệu quả sản xuất lúa rất thấp với tỷ suất lợi nhuận không đáng kể hoặc với tỷ suất âm, đặc biệt đối với sản xuất lúa trong vụ Hè Thu. Nguyên nhân chủ yếu do năng suất lúa thấp, chi phí vật tư  cao, sử dụng vật tư nông nghiệp không hợp lý

 

7.      Quan điểm, định hướng áp dụng các tiến bộ KHKT trong sản xuất lúa  

     Trong thời gian tới  sản xuất lúa gạo ở Việt Nam nói chung, ĐNB bộ nói riêng sẽ đối mặt với những vấn đề sau: Trái đất ấm dần lên, thời tiết khắc nghiệt hơn, dịch hại sâu bệnh xảy ra thường xuyên hơn, thiếu nước tưới cho nông nghiệp, vấn đề thiếu năng lượng, giảm diện tích đất nông nghiệp, áp lực dân số tăng nhanh, sự bất ổn về thị trường quốc tế trong đó có thị trường lương thực-thực phẩm, giá phân bón, xăng dầu tăng cao. Về mặt kỹ thuật, ở nhiều quốc gia  năng suất lúa đã đạt đến trần. Người dân nghèo ở vùng sâu, vùng xa là đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất của biến đổi khí hậu.

    Trên quan điểm phải  coi cây lúa không chỉ là cây kinh tế, nguồn thu nhập, việc làm của nhiều nông dân và một số bộ phận xã hội có liên quan mà còn là cây có tính chất “chính trị", nguồn lương thực chính của tòan dân, liên quan đến sự tồn tại, ổn định và các tập tục truyền thống của xã hội và con người Việt Nam.

     Đối với những vùng lúa hàng hóa, chú ý tăng giá trị xuất khẩu trên đơn vị khối lượng. Giữ lượng xuất khẩu ở mức như “chiếc van an toàn” đề phòng khi sản xuất trong nước gặp điều kiện bất chắc xảy ra. 

  Về mặt khoa học kỹ thuật, để tăng cường vấn đề an ninh lương thực cần ứng dụng, phát  triển các kỹ thuật về giống (lúa thuần, lúa lai, siêu lúa), các biện pháp kỹ thuật (bón phân, sử dụng thuốc BVTV, gieo cấy, công nghệ sau thu hoạch v.v), trên các vùng được tưới tiêu, vùng lúa nước trời khó khăn (khô hạn, ngập nước, phèn, mặn).

  Hạn chế sử dụng đất trồng lúa loại tốt cho mục đích đô thị hoá, xây dựng khu công nghiệp. Trong thời gian tới giữ đất trồng lúa ổn định, đồng thời tăng hệ số sử dụng đất thông qua thủy lợi hóa và thay đổi cơ cấu cây trồng

-         Thay đổi cơ cấu cây trồng mới cho hiệu quả kinh tế, thay các giống lúa cũ bằng các giống lúa mới năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh hại đồng thời vận động cũng như khuyến khích người nông dân áp dụng các tiến bộ KHKT mới vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất cũng như hiệu quả kinh tế.  

-         Tăng cường chỉ đạo, hỗ trợ sản xuất lúa giống xác nhận theo quy mô nông hộ cho vùng sâu, vùng xa.

Comments