Trang chính‎ > ‎Cây lương thực‎ > ‎VIETGAP lúa‎ > ‎

Để thực hiện Việt GAP cho lúa

ĐỂ THỰC HIỆN VIỆT/ GLOBAL GAP

VÀ THƯƠNG HIỆU BỀN VỮNG TRONG SẢN XUẤT LÚA

                                                                               GsTs Nguyễn Văn Luật

         

Về những  vấn đề chính hiện nay mà công nghệ và tổ chức sản xuất  ở nông thôn cần tiếp cận đúng và  khắc phục nhanh, để  làm cơ sở thực hiện sản xuất nông nghiệp tốt theo tiêu chuẩn Việt/ Global Gap ( gap = good agricultural  practice)

 

I.- Năng suất lúa tăng theo công nghệ sản xuất mới ở VN

·            Từ 1878 đến 1955

Năng suất lúa được ghi lại từ 1,2 đến 1,4 tấn/ha trên diện tích lúa 4,2 – 4,6 triệu ha. Công nghệ sản xuất chủ yếu dựa vào độ mầu mỡ trời cho đất và sức lao động sẵn có.

·            Từ 1960 đến 1985

Năng suất lúa được ghi lại từ 2,0 đến 2,8 tấn/ha trên diện tích từ 4,8 đến 5,7 triệu ha; sản lượng đạt 9,5 đến 15,9 triệu tấn thóc. Công nghệ sản xuất được cải thiện trong khâu tưới tiêu; sử dụng giống lúa mới cao sản thấp cây ngắn ngày (# 30% diện tích); dùng phân hóa học; cơ giới hóa làm đất, tiêu tưới..   

·            Từ 1900 đến 1999

Năng suất lúa tăng lên từ 3,2 đến 4,05 t/ha, trên diện tích gieo trồng từ 6 đến 7,7 triệu ha,  do tỷ lệ làm 2 vụ lúa tăng vụ từ 1,4 đến 1,7; sản lượng thóc đạt 19,5 đến 31 triệu tấn. Các điều kiện sản xuất được cải thiện rõ rệt: nước được tiêu tưới đến 60-80% diện tích lúa; giống lúa mới được sử dụng  75% – 80% diện tích lúa; cơ giới hóa sản xuất 60-80%; phân hóa học và thuốc sát trùng tăng rõ rệt.. 

·            Từ  2000  đến  2010

              Năng suất lúa đạt từ 4 tấn đến trên 5 t/ha. Đặc điểm của thời kỳ này là diện tích canh tác lúa giảm hàng trăm ngàn ha, nhưng diện tích gieo trồng lúa không giảm do tăng vụ có hệ số 1,8, 1,9; trong đó có diện tích làm 3 vụ lúa/năm ở ĐBSCL đạt 0,4 – 0,5 triệu ha (# 25% diện tích lúa). Ở Indonesia, do dân nhiều mà diện tích lúa ít nên đã có làm tới 4 vụ/năm.

                    Công nghệ sản xuất hiện nay đang hướng tới tăng thu nhập cho bà con nông dân, một trong những giải pháp là “phong trào 3 tăng 3 giảm”. Khuyến nông địa phương  tổ chức họp với nông dân có kinh nghiệm thảo luận xác định những hạn chế sản xuất lúa. Kết quả thảo luận xác định kỹ thuật nào cần đưa vào gói kỹ thuật 3 tăng 3 giảm. Làm như vậy sẽ có hiệu quả nhanh hơn chỉ dựa vào kỹ thuật trên đưa về.

                         Diện tích, năng suất và sản lượng lúa ở Việt Nam

Năm

Diện tích

( triệu ha)

Năng suất

(t /ha)

Sản lượng

(triệu tấn)

1878

4.6

1.2

5.5

1930

4.3

1.2

5.2

1939

4.3

1.3

6.7

1944

4.6

1.1

4.9

1955

4.1

1.4

6.1

1960

4.8

2.0

9.5

1976

5.3

2.4

10.5

1980

5.6

2.1

10.3

1985

5.7

2.8

15.9

1990

6.0

3.2

15.9

1995

6.7

3.7

22.0

2000

7.7

4.3

32.5

2005

7.3

4.9

35.8

2008

7.4

5.2

38.7


II.- Một số vấn đề KHCN hạn chế sản xuất lúa hiệu quả cao

  Mặt ruộng gieo trồng lúa chưa được thật bằng phẳng

            Mặt ruộng lúa ở ĐBSCL hiện nay so với hồi mới giải phóng thì phẳng hơn nhiều. Có thể coi là một trong những nhân tố quyết định đển năng suất và sản lượng lúa ngày một tăng, trong khi diện tích lúa ngày một giảm, diện tích làm 3 vụ lúa ngày một rộng. Tuy nhiên, cũng có nơi độ phẳng mặt ruộng chưa đạt yêu cầu. Mặt ruộng lúa nước không bằng thì tốn hạt giống, tốn nước và tốn phân bón hơn, do mặt ruộng lồi lõm. Vì nước, phân và hạt giống dễ dồn xuống chỗ trũng, thường bị sâu bệnh trước. Một kết quả nghiên cúu của Viện Lúa QT (IRRI) ở nước Campuchia làng giềng cho những số liệu cụ thể tác dụng giảm yêu cầu về nước, phân bón và thuốc sát trùng, cũng như tăng năng suất lúa từ 15-25%  của công nghệ san phẳng mặt ruộng lúa bằng máy có công nghệ dùng tia lazer điều khiển.

 

Mật độ gieo trồng lúa chưa hợp lý, nói chung còn dầy

            Hồi mới giải phóng, bà con nông dân ta sạ rất dầy, 250-300 kg/ha; nay còn khoảng 180 kg, nhưng năng suất lúa vẫn tăng  gấp 2, khoảng 5-6 tấn/ha. Với khả năng đẻ nhánh “kỳ diệu” của cây lúa, hay khi gieo trồng ít hơn, ruộng lúa thưa hơn thì cây lúa lại đẻ bù cho kín ruộng, năng suất vẫn tăng, đầu tư giảm. Tuy làm sau nông dân ĐBSCL 10 năm, nhưng miền Bắc đang phát triển nhanh kỹ thuật sạ lúa theo hàng tới 50% diện tích bằng dụng cụ kéo tay. Ở ĐBSCL đang sựng lại, có nơi chỉ thưc hiện sạ lúa theo hàng có 10-15% diện tích lúa. Một trong những nguyên nhân  là ruộng lúa chưa bằng phẳng. Sạ lúa ở miền Bắc gọi là gieo thẳng, bà con ở đây dùng có 50 – 60kg hạt giống gieo cho 1 ha; Có nơi làm có 40kg, mà năng suất lúa vẫn đảm bảo, lại ít sâu bệnh, yêu cầu phân đạm ít hơn, chống đổ tốt hơn, dễ gặt lúa, nhất là gặt bằng máy gặt đập liên hợp. Nông trại của Viện lúa ĐBSCL đã trồng lúa bằng máy cấy hiện đại.

            Công nghệ dùng kỹ thuật sạ lúa theo hàng bằng máy hay dụng cụ  phải bao gồm nhiều khâu khác được thực hiện một cách liên hoàn,  từ khâu làm đất sao cho mặt ruộng lúa phẳng, chủ động tiêu tưới nước, chất lượng hạt giống tốt, làm đúng thời vụ.. Thực hiện đúng khâu này cũng đạt yêu cầu “3 tăng 3 giảm”: giảm hạt giống; giảm phân đạm và thuốc sát trùng, giảm chi phí sản xuất: tăng năng suất, tăng chất lượng thóc, tăng thu nhập.

 

Chăm bón chưa đúng, khi thừa, khi thiếu

            Chi phí cho phân bón tốn kém nhất trong chi phí sản xuất, nhất là phân đạm, thường dùng ở dạng urê. Bà con nông dân cần được đào tạo để  sử dụng phân hợp lý, hay bón đúng lọai, đúng lúc, đúng cách.

            Những biện pháp kỹ thuật làm giảm yêu cầu phân đạm và thuốc sát trừng còn chưa được thực hiện đúng mức. Kết quả nghiên cứu khoa học và kinh nghiệm sản xuất đều cho thấy ruộng sạ theo hàng lúa xanh bền hơn sạ lan, ít sâu bệnh và chuột phá hơn, do đó giảm được độ 1 bao urê và vài đợt xịt thuốc; ánh sáng mặt trời chiếu xuyên vào ruộng lúa, làm giảm sâu bệnh, cây lúa cứng cáp, dùng được nhiều ánh sáng mặt trời quang hợp tăng năng suất và chất lượng hạt thóc.

           

Còn nhiều vấn đề thuộc về KHCN có ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng hạt lúa, đấy là chất lượng hạt giống và loại giống chưa đạt yêu cầu; thu hoạch chưa kịp thời; lò sấy lúa và kho lúa còn thiếu trầm trọng. Những khâu này cần Nhà nước đầu tư nhiều hơn từ khâu đào tạo lao động nông nghiệp, đến tổ chức sản xuất và tài chính để mua sắm máy nông nghiệp, nhất là gặt đập liên hợp, xây lò sấy lúa, xây hệ thống kho dự trữ lúa, và về hạ tầng cơ sở khác.

Chiến lược và tầm nhìn KHCN cần thấy và đề xuất giải pháp khắc phục những hậu quả đến sản xuất do biến đổi khí hậu toàn cầu. Theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, trong phát biểu tại Hội nghị Thượng đỉnh về BĐKH tại Copenhagen (12/2009) thì 50 năm qua, nhiệt độ đã tăng trung bình 0,5-0,7oC và nước biển dâng cao 20cm. Số lượng các cơn bão và áp thấp nhiệt đới đã tăng tới con số 7-8/năm, làm chung ta tổn thất ít nhất 1,5% GDP/năm. Theo tính toán, vào năm 2010, nước biến sẽ dâng thêm 75-100cm, và khi đó ĐBSCL, nơi sản xuất trên 50% sản lượng gạo của Việt nam, đóng góp trên 90% lượng gạo xuất khẩu sẽ bị ngập 19-38% diện tích (chủ yếu đất lúa). BĐKH cũng làm gia tăng thiên tai, dịch bệnh, năng suất cây trồng suy giảm. Theo IPPC, nếu nhiệt độ tăng thêm 1°C, năng suất lúa sẽ giảm khoảng 10%. 

 

III.- Hoạt động khuyến nông

 

            Hoạt động khuyến nông trong những năm qua đã giữ một vai trò quan trọng trong việc nâng cao trình độ, kiến thức cho bà con nông dân, góp phần tăng hiệu quả sản xuất rõ, nhất là cùng với với đội ngũ KHCN đóng góp vào sản xuất lúa cho an ninh lương thực quốc gia và một phần cho thế giới như đ/c Bộ trưởng Bộ Khoa học công nghệ có nói. Tuy nhiên, trình độ chung cũng như kiến thức và kỹ năng sản xuất nông nghiệp của nông dân ta còn thấp hạn chế hiệu quả sản xuất. Cải thiện tổ chức và hoạt động khuyến nông vốn thiếu và yếu về chiều sâu cũng như chiều rộng cần được quan tâm đúng mức nhằm khắc phục hiện trạng hạn chế hiệu quả của hoạt động khuyến nông:

(i)                    Về số lượng: Hơn 60 triệu nông dân mới có 4 ngàn khuyến nông viên hưởng lương Nhà nước; hơn mười ngàn khuyến nông viên khôngchuyên trách; và hơn 15 ngàn cộng tác viên khuyến nông ở thôn/ ấp;

(ii)                        Về trình độ chuyên môn, cả nước có hơn 21 triệu lao động nông nghiệp, trong đó gần 98% trong độ tuổi chưa qua đào tạo và chưa có chứng chỉ chuyên môn; chỉ có 1,26% có bằng sơ cấp công nhân kỹ thuật; 0,87% có bằng trung cấp!

           

Sự quan tâm của Nhà nước đã thể hiện trong Nghị định 02/2010/NDCP của Chính phủ về khuyến nông nhằm tăng cường mức hỗ trợ chi phí tài liệu, ăn ở khi tham gia các lớp tập huấn..; Bộ Nông nghiệp và PTNT sắp hoàn thành Đề án Khuyến nông, Khuyến Lâm, và Khuyến ngư .. trong đó 100% cán bộ khuyến nông các cấp được huấn luyện nghiệp vụ và kỹ thuật chuyên ngành.

 

Trong gần 1 thập kỷ qua, có 2 chương trình mang tính khuyến nông được nhắc đến nhiều là “3 tăng 3 giảm” và “1 phải 5 giảm”. Chương trình Ba Giảm, Ba Tăng (3G-3T) được triển khai từ 2002 với sự phối hơp của Viện Lúa quốc tế (IRRI), Viện Lúa ĐBSCL và các sở Nông nghiệp-PTNT. Đến 2004, đã có 13 tỉnh tham gia Chương trình với 103 ngàn nông dân ứng dụng trên qui mô 418 ngàn ha, chiếm 15% tổng diện tích gieo trồng lúa 2 vụ của toàn vùng. Hầu hết các điểm trình diễn đều cho năng suất cao hơn ruộng đối chứng trung bình 2,3 tạ/ha, tiết kiệm được 25-30kgN, 70-90kg hạt giống/ha và giảm 1,8 lần phun thuốc BVTV. Điều này làm giảm chi phi 630 ngàn đồng/ha, do vậy giá thành sản xuất 1 kg thóc cũng giảm được 138 đồng. Tổng lợi nhuận mang lại do tăng năng suất và giảm chi phí là 1,1 triệu đồng/ha. Để triển khai Chương trình 1P-5G, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã chọn An Giang làm thí điểm. Theo báo cáo của Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh, ngay trong năm 2009 đã có 608ha ứng dụng kỹ thuật của Chương trình và đạt kết quả như sự đánh giá của cơ quan chủ  trì: lượng giống sạ giảm 24,5kg/ha; phân đạm giảm 15kg/ha (urea),  số lần phun thuốc giảm 1,4 lần/vụ, số lần bơm nước giảm 2 lần/vụ, ti lệ đổ ngã giảm 12%, ti lệ diện tích thu hoạch bằng cơ giới tăng từ 5% lên 30% và tỉ lệ thóc được sấy đạt 40%. Tất cả các kỹ thuật trên đã làm giảm giá thành 615đ/1kg thóc. Như vậy với năng suất  trung bình 10 tấn thóc/2 vụ/năm chúng ta có thể thu thêm được trên 6 triệu đồng/ha.

           

Nói chung, để đẩy mạng và tăng hiệu quả công tác khuyến nông, chúng ta cần quan tâm đến một số vấn đề sau:

1./ Nội dung hoạt động khuyến nông cần tiếp cận với thực tế sản xuất để đổi mới sao cho đáp ứng yêu cầu của bà con nông dân ở những vùng cụ thể.  Muốn vậy, nội dung của “gói kỹ thuật” 3 tăng 3 giảm;  hay 1 phải 5 giảm  cần được bà con nông dân và cán bộ khuyến nông địa phương thảo luận và xác định sao cho phù hợp với địa phương mình. Cần có những nghiên cứu đúng phương pháp khoa học xác định hiệu quả của từng biện pháp kỹ thuật chính trong 3 tăng 3 giảm hay 1 phải 5 giảm, để không lâm vào tình trạng “thấy cây mà không thấy rừng”, hay ngược lại “thấy rừng mà không thấy cây”.

2./ Dựa vào những chủ trương và kinh nghiệm trên, tổ chức khuyến nông cần được cải thiện về chất cũng như về lượng. Trên cơ sở những chủ trương chính sách của Nhà nước và của Bộ chủ quản, Bộ NN và PTNT, cần cụ thể hóa đến mức không còn những cán bộ khuyến nông năn nổ muốn đến vùng sâu vùng xa mà tiền công tác phí cũng không đủ.

3./ Tổ chức khuyến nông từ trung ương đến địa phương cần có đủ điều kiện để được coi như là nòng cốt liên kết trong các hoạt động khuyến nông, liên kết với các viện nghiên cứu liên quan, liên kết với các địa phương, với các đoàn thể quần chúng trong và ngoài hệ thống chính trị.


IV.- Xây dựng nông thôn mới 

Xây dựng nông thôn mới trên cơ sở kinh nghiệm xây dựng mô hình nông thôn mới (MH-NTM) là cách làm hợp lý nhằm thực hiện Nghị quyết VII của Đảng về nông nghiệp, nông thôn và nông dân có hiệu quả thiết thực hơn. Chính phủ cùng địa phương đã chọn 11 xã điểm thực hiện MH- NTM với 19 tiêu chí . Ngay sau khi có QĐ số 491/2009/QĐ TTg về xây dựng NTM, nhiều nơi nằm ngoài phạm vi 11 xã được CP chọn đã tự chọn xã điểm cho địa phương mình để xây dựng MH- NTM với tiêu chí và bước đi thích hợp.

Kết quả của việc xây dựng MH- NTM toàn diện chỉ có thể từ những kết quả tổng hợp của nhiều ngành nhiều cấp, có sự đầu tư thỏa đáng, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Phong trào xây dựng MH- NTM  đang nhen lên lần này là có ưu thế tuyệt đối  so với nhiều loại mô hình khác ở nông thôn, kể cả những mô hình NTM từ trước đến nay, như mô hình xã Định Công tỉnh Thanh Hóa ở thập kỷ 60  thế kỷ trước.

Tôi có dịp được đi tham quan học tập về NTM ở một số nước và trong nước. Tôi cũng có cơ hội tham gia, hoặc trực tiếp chỉ đạo xây dựng mô hình sản xuất ở nông thôn, tất nhiên chỉ về khoa học và công nghệ, như mô hình sản xuất vụ lúa xuân đầu tiênảơ miền Bắc vào năm 1966  trên diện tích cả hợp tác xã Tân Hưng Hòa, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Và, mấy thập kỷ gần đây là mô hình sản xuất bằng các loại giống mới ở ĐBSCL, nhất là những giống dưới 90 có tên chung là OMCS. So với MH- NTM đang được xây dựng, những mô hình chúng tôi làm được, kể cả mô hình về kinh tế xã hội mà các viện bạn làm được, chỉ là những viên gạch, và cũng mong trở thành một trong những viên gạch xây dựng MH- NTM. Là vì, cách đặt vấn đề cũng như cách tiếp cận vấn đề xây dựng MH- NTM hiện nay là rộng lớn và sâu sắc hơn nhiều, có cơ sở là NQ VII. Xin được chứng minh bằng tóm lược ý kiến của các nhà khoa học trong và ngoài nước:

Bối cảnh chung hiện nay như TS Rudengre (CTA- MSCP- TA) khảng định, Việt Nam đang đạt được sự phát triển chưa từng có trong lịch sử với bước phát triển nhanh và mạnh, tỷ lệ nghèo đói ở một mức độ nào đó giảm mạnh, nhất là trong khu vực hơn 73% dân số sống ở nông thôn..

 Mặt khác, cũng theo tác giả này và nhiều nhà khoa học, và tổ chức QT như Nhóm hỗ trợ QT (ISG- Internertional Support Group); Diễn đàn các nhà tài trợ cho phát triển kinh tế nông thôn.., thì song song với bước phát triển ấn tượng trên đang nẩy sinh nhiều bất cập mới ngày một phức tạp, như tốc độ CNH nhanh nẩy sinh sự bất bình đẳng đặc biệt giữa khu vực nông thôn và thành thị về thu nhập cũng như về hạ tầng cơ sở như giao thông, điện, nước, và  các dịch vụ như y tế, giáo dục, những công trình phúc lợi khác... Những khó khăn vĩ mô đang cản trở phát triển khu vực nông thôn. 

Các giải pháp về chính sách, thể chế, theo như b/c phát triển nông nghiệp thế giới năm 2008 của WB, và một số b/c khác về chính sách phát triển nông nghiệp châu Á; cách tiếp cận vào các khu vực phát triển nông nghiệp..,có thể được tóm lược vào những điểm chính như sau:

1./ Phương pháp tiếp cận về chính sách và thể chế, trước hết cần nhận thức về TN trên cơ sở NQ VII về TN của Đảng, trong đó người nông dân là trọng tâm, là chủ thể của phát triển nông thôn và nông nghiệp. Vấn đề này không chỉ liên quan đến hàng chục triệu nông dân, mà còn liên quan đến các khu vực phi nông nghiệp, đến  toàn thể xã hội.

Nếu coi người nông dân là trọng tâm của phát triển nông thôn và nông nghiệp (thực sự đã và luôn luôn sẽ là chủ thể), mà không tập trung cải thiện đời sống cho nông dân trong phạm vi rộng thì việc xây dựng nông thôn mới không còn ý nghĩa nữa. Có một thời vào khoảng thập kỷ 90 ngày của thế kỷ trước, việc cải thiện hệ thống xuất khẩu gạo như thế nào để mang lợi ích nhiều hơn cho người sản xuất còn rất coi nhẹ. Tổ chức quốc tế Unctad hợp tác với Escap, đều thuộc LHQ, đã  tổ chức Hội nghị ở Bangkok từ 3 – 5/ tháng 4 năm 2001, với nội dung xuất khẩu nông sản hướng tới lợi ích của người nghèo, trong đó đại đa số là nông dân. Cách tổ chức của hội thảo này, có lẽ đúng nghĩa với hội thảo, mỗi đề tài được báo cáo và trao đổi thảo luận ở hội trường khoảng 1 giờ rưỡi, thời gian b/c khoảng hơn 1/3, còn lại dành cho thảo luận, chứ không như nhiều hội thảo chỉ làm sao có nhiều báo cáo mà không có thảo luận. Tôi cũng được mời báo cáo về sản xuất và xuất khẩu lúa gạo ở Việt Nam hướng tới tăng thu nhập cho nông dân. Thời gian báo cáo và thảo luận vượt quá mức quy định, chủ tịch đoàn vẫn khuyến khích, vì thảo luận khá sôi nổi, trao đổi kinh nghiệm khá phong phú.

2./ Vấn đề lớn nhất của toàn cầu là: (i) an ninh lương thực trong tình hình nhu cầu ngày càng tăng mà đất ruộng lại ngày một thu hẹp do phát triển đô thị, khu công nghiệp và sân golt; (ii) biến đổi khí hậu toàn cầu, ngày càng diễn biến phức tạp vừa làm giảm diện tích sx lúa, vừa tạo ra điều kiện ngày một khó khăn cho sx lúa; và (iii) cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính. Tất cả đều không phải nông dân gây ra, nhưng người nông dân phải hứng chịu hậu quả sớm nhất, nhiều nhất, và nặng nề nhất.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã cho rằng an ninh lương thực nói riêng và nông nghiệp nói chung  ở Việt Nam ta đã làm giảm tối thiểu tác hại đến Việt Nam từ khủng hoảng kinh tế TG từ phố Wall bên Mỹ.  Các nhà khoa học và giới quan chức cùng có nhận thức đúng đắn như trên, đã thể hiện bằng những bài phát biểu và bài viết với nội dung là người nông dân đều phải hứng chịu sớm nhất và nhiều nhất những hậu quả do các nước phát triển, do tầng lớp những người có thu nhập cao ngất gây ra. Thế nhưng, quá trình khắc phục những hậu quả  trên lại do những người nông dân đứng hàng đầu.

3./ Mặc dầu đã có NQ VII của Đảng ta rõ ràng và công bằng đối với nông dân, nhưng vẫn còn có những nhận thức và việc làm không theo tình thần NQ VII. Sau khi NQ VII trên ban hành, một số ký giả và chuyên gia kinh tế còn cho rằng cần gì phải bắt nông dân VN oằn mình làm để tăng sản lượng lúa cho xuất khẩu đến 6 triệu tấn gạo, mình đâu có chức  năng lo an ninh lương thực cho toàn thế giới! Sao không đầu tư phát triển các ngành khác thu lời nhiều mà đầu vào ít, như du lịch, sản xuất phần mềm máy tính... TS Trần Văn Đạt chuyên gia của FAO ở Italia, nay hưu ở Mỹ, sau khi tìm hiểu tình hình ở quê nội ở Tiền Giang và quê ngoại ở Vĩnh Long thuộc ĐBSCL cũng nhận thấy ở nhiều nơi hiện ta chưa chưa có hoạt động kinh tế nào hơn tăng năng suất và tăng vụ lúa gạo, giảm sx lúa gạo ở ĐBSCL là giảm thu nhập của nông dân vốn đã rất nghèo khó, vì làm mầu thì vừa khó bán, vừa khó bảo quản.

4./ Vai trò của “4 nhà –Nhà nước, nhà khoa học, Doanh nghiệp và Nhà nông là trung tâm” có lẽ cũng là cách làm tốt nhất. Được biết, tỉnh Kiên Giang và Hậu giang được chọn xã điểm ở vùng sâu vùng xa, vùng có nhiều người dân tộc, vùng còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất và đời sống. Trung ương cho vốn khoảng 30 tỷ/ xã, tỉnh đóng góp thêm gấp khoảng 4 lần. Trao đổi với một số cán bộ thực hiện ở địa phương, thì việc tranh thủ được số vốn lớn cho MH- NTM đã rất khó, sử dụng vốn đó cho có hiệu quả càng khó hơn nhiều, ngay cả trong việc chọn bước đi thích hợp với tính khả thi cao nhằm đạt hiệu quả cao, nếu không lại rơi vào tình trạng duy lý trí và hình thức.

Tại xã điểm ở Gò Quao, Kiên Giang, Viện Lúa ĐBSCL tham gia một khâu sản xuất lúa, tuy chưa thu hoạch vụ đầu, nhưng có tác dụng, vì là bước đi  và người thực hiện thích hợp. Phần Xây dựng NTM đã đăng báo Nhân dân ngày 5/8/2010)

 

Comments