Hoàng đế và người thi sĩ
                      
                           Vietsciences-Cao Huy Thuần
      01/05/2007


Những bài cùng tác giả

Victor Hugo trên giường chết. Hình của Felix Nadar (histoire du monde)

Khi nghe tin người thi sĩ ấy mất, cả thủ đô rúng động. Trong một thoáng, mọi người ai cũng nghĩ như ai : chưa có nhà thơ nào lớn hơn thế. Như một cây đại thụ mênh mông, người ấy tỏa bóng mát trong hơn nửa thế kỷ trên vườn hoa tư tưởng đơm bông mới. Thơ của người ấy vang dội trên mỗi bước dựng xây của nền Cộng Hòa, trên mỗi chiến thắng, mỗi thất bại của dân chủ. Với ông, lịch sử biến thành thơ. Với thơ, ông phất cờ cho tự do, công lý. Bàn tay của ông nóng trong bàn tay của người cùng khổ. Tiếng nói của ông đập trong ngực của bất cứ ai yêu mến tự do. Ngày 22 tháng 5 năm 1885, khi ông ngừng thở, dường như người ấy đang thở trong tim của mọi người. Người ấy là Victor Hugo.

Sáng sớm chủ nhât 31 tháng 5, quan tài của ông được chở đến Khải Hoàn Môn truớc đám đông dân chúng đã đứng chờ suốt đêm tại đó. Như lúc ông còn sống, họ hoan hô : « Victor Hugo muôn năm ! » Một tấm màn đen mênh mông phủ trên Khải Hoàn Môn, nhấp nhánh tên những tác phẩm của người thi sĩ. Trên các nẻo đường đổ vào Khải Hoàn Môn, hàng trăm ngàn người kéo đến diễn hành không ngớt trước quan tài.

Suốt cả ngày hôm đó cho đến nửa khuya, đại lộ Champs-Elysées tràn ngập người, Khải Hoàn Môn được thắp sáng với hai hàng kỵ binh cầm đuốc. Tờ mờ năm giờ sáng hôm sau, mồng một tháng sáu, dân chúng lại nườm nượp kéo đến, kèn lại thổi vang, vòng hoa lại phủ một núi hoa chung quanh quan tài. Đúng 11 giờ, 21 phát súng đại bác nổ vang, báo hiệu lễ chính thức. Quân nhạc trỗi bản tang hành của Chopin. « Đây không phải là đám tang ; đây là lễ đăng quang của vua chúa » : ai đó, từ một bài diễn văn, đã nói lên đúng ý nghĩ của mọi người.

Lễ « đăng quang », người thi sĩ ấy đã nhận từ lúc còn sống. Ngày 25-12-1881, thủ tướng Jules Ferry đích thân đến viếng ông tại nhà riêng, mang quà tặng sinh nhật 80 tuổi của chính phủ. Ngày 27, đúng ngày sinh nhật, dân chúng lũ lượt diễn hành trước gian nhà được trang hoàng đèn hoa, hoan hô vang dậy tên tuổi của ông. Vòng hoa thi nhau móc vào tường : « Tặng người thi sĩ, tặng nhà triết gia, tặng người chiến sĩ tranh đấu cho công lý của các dân tộc ». Hết đoàn đại biểu này đến đoàn đại biểu khác của các thành phố, của các tỉnh, lần lượt bước vào nhà, giữa tiếng hoan hô vang dậy. Diễn hành, dàn nhạc, dàn ca, và hoa, và hoa, và hoa phủ lên nhau chật nhà, chật ngõ, từ sáng đến đêm, giữa trời tuyết, và người, và người, và người chen nhau, đủ mọi thành phần, mũ dạ của trưởng giả chen với cát-két của thợ thuyền, học sinh chen với binh lính, tay chen tay vẫy lên cửa sổ. Quà tặng, huân chương, sách, báo, chen nhau đưa đến tận tay người nhận. Trên tóc bạc của người thi sĩ ấy, dường như mở ra rạng đông của thời đại mới mà vầng trán kia đã không ngớt mơ tưởng bằng thơ văn, bằng hành động.

Bằng thơ văn và hành động : Victor Hugo ngự trị trên thế kỷ của ông là vì thế. Văn thơ của ông là khí giới sắc bén trong cuộc đấu tranh chính trị sắt máu, triền miên từ cách mạng tư tưởng 1789 đến sau cách mạng xã hội 1848, với quần chúng thấp hèn vươn lên nắm lấy vận mệnh của mình. Đưa thơ vào chính trị, ông thổi khí thế cho quần chúng. Làm chính trị với uy lực của thơ, ông tạo chấn động trong nghị trường. Thơ của ông kích thích như bài hịch. Dấn thân của ông ngay thật, bất khuất. Ông là lương tâm của thế hệ cộng hòa, chiến sĩ của tự do, nhà tiên tri của nhân loại, kẻ tiên phong của Âu châu hợp nhất, người bênh vực giới khốn cùng. Tất nhiên ông có địch thủ. Trong giới nhà thờ. Nơi phe bảo hoàng, quân chủ. Nhưng ông càng cao, địch thủ của ông càng thấp.

Đâu phải người thi sĩ này sinh ra và lớn lên giữa lòng của khuynh hướng cấp tiến ! Ngược lại, gia đình ông mang truyền thống thiên chúa giáo và bảo hoàng. Ông bắt đầu sự nghiệp văn thơ và chính trị dưới bóng lá cờ trắng của phe quân chủ. Cuộc sống trước mắt và kinh nghiệm chính trị máu xương xoay tầm nhìn của ông về chân trời khác, rất sớm. Vở kịch Cromwell, viết xong năm 25 tuổi, mở đầu cách mạng lãng mạn trong kịch nghệ, cởi trói cho bi kịch thoát khỏi những quy tắc cổ điển. Ông tuyên bố tự do trong nghệ thuật, đưa nhân vật trong kịch trở về với đời sống thực, với con người thực, con người toàn diện, gồm cả cao thượng lẫn thấp hèn. Cùng với kịch và thơ, ông viết xong một truyện ngắn xứng đáng được xem như phát súng đầu nổ vào thành trì bảo thủ kiên cố nhất, không phải của ngày hôm qua mà cả ngày nay : Ngày cuối cùng của người tử tù. Rất sớm, Victor Hugo đi trước thời đại ; từ đó cho đến cuối đời ông không để lỡ một dịp nào để đòi hỏi chấm dứt tội tử hình. Cái gì đã đưa ông đến thái độ quyết liệt như vậy ? Một kỷ niệm mà ông kể lại 40 năm sau, năm 1862 :

« Tại Paris, năm 1818 hay 19, một ngày hè, vào khoảng trưa, tôi đi ngang qua trước tòa án. Một đám đông vây quanh một cột trụ. Tôi đến gần. Một thân hình người, không biết đàn bà hay con gái, bị trói vào cột trụ, gông quàng trên cổ, bảng đội trên đầu. Dưới chân của thân hình người ấy, một lò lửa cháy rực than hồng, một miếng sắt cán gỗ vùi trong than, đỏ ửng, đám đông có vẻ hài lòng. Người phụ nữ ấy phạm cái tội mà luật lệ gọi là ăn cắp của chủ và ngôn ngữ thông thường gọi là tính thêm tiền chợ. Đồng hồ điểm 12 tiếng. Thoắt nhiên, từ phía sau tội nhân, một người đàn ông vọt ra, leo lên thang chém. Trước đó, tôi để ý thấy chiếc áo ngắn của người phụ nữ bị tách ra hai vạt, buộc lại sau lưng bằng sợi dây. Người đàn ông nhanh nhẹn mở dây, vén áo lên, lột trần lưng của người đàn bà đến eo, vớ lấy miếng sắt trong lò lửa dí sâu vào chiếc vai trần. Một màn khói trắng bốc lên, phủ mờ miếng thép và bàn tay của tên đao phủ. Hơn 40 năm sau, tai tôi vẫn còn nghe và lòng tôi còn chấn động tiếng thét hãi hùng của người bị hình phạt. Từ kẻ ăn cắp, người phụ nữ trong tôi đã trở thành người tử đạo. Tôi ra khỏi đám đông, lòng quyết tâm chống lại đến cùng những hành động tai hại của luật lệ. Lúc đó, tôi 16 tuổi ».

Tháng 6 năm 1848, quần chúng nổi loạn. Cuộc vùng dậy bị dập tắt trong máu. Victor Hugo xông trận trên khắp chiến tuyến : đòi tự do chống lại thiết quân luật ; đòi tương trợ xã hội chống lại nghèo khốn ; đòi chủ quyền cho nước Ý chống lại quyền hành chuyên chế của giáo hoàng ; đòi giáo dục tiểu học trung lập chống lại trường học lệ thuộc giáo quyền ; đòi phổ thông đầu phiếu chống lại đầu phiếu hạn chế. Người thi sĩ trở thành chiến sĩ của phe xã hội. Đảo chánh quân chủ tháng chạp năm 1851 đẩy ông ra khỏi nước Pháp, mở đầu cuộc đời lưu đày kéo dài gần hai chục năm. Đây là giai đoạn phong phú nhất trong sáng tác của ông. Hầu hết các tác phẩm danh tiếng nhất ra đời trong khoảng thời gian này, đáng kể nhất, đối với độc giả Việt Nam, là tập tiểu thuyết Những người cùng khổ. Trong một lời tựa gởi đến nhà xuất bản năm 1862, ông viết :

« Cho đến khi nào, bằng luật lệ và phong tục, xã hội bày đặt ra một cách giả tạo, giữa nền văn minh đang nẩy nở, những địa ngục để đày đọa con người, làm con người lầm tưởng rằng vận mạng của mình, vốn linh thiêng, đã được an bài từ trước ; cho đến khi nào ba vấn đề của thế kỷ - con người bị rơi tụt xuống hàng vô sản, phụ nữ bị mất phẩm cách vì đói, trẻ em teo tóp vì đêm khuya - chưa được giải quyết ; cho đến khi nào, trong nhiều nơi, con người vẫn còn có thể bị bóp ngạt trong xã hội ; nghĩa là, nói rộng hơn, cho đến khi nào trên mặt đất còn ngu dốt và khốn cùng, những quyển sách như quyển truyện này vẫn còn ích lợi ».

Ông viết thêm trong thư gởi Lamartine cùng năm :

« Vâng, thế đấy, tôi muốn hủy diệt số phận an bài ; tôi kết án chế độ nô lệ, tôi xua đuổi nghèo khổ, tôi dạy cho sự dốt nát, tôi chữa cho bệnh tật, tôi thắp đèn cho đêm khuya, tôi căm thù sự căm thù. Tôi là như vậy, và đó là lý do tôi viết Những người cùng khổ. Trong suy nghĩ của tôi, đây là quyển truyện lấy tình huynh đệ làm gốc, lấy tiến bộ làm ngọn ».

Đó chưa phải là xã hội chủ nghĩa. Chỉ xã hội thôi đã quá đủ để phe hữu mạt sát, la ó, tố cáo người thi sĩ ấy phun nọc độc cách mạng. « Đả đảo Jean Valjean ! » « Giết chết Jean Valjean ! » giới bảo thủ ở Bruxelles, nơi ông lưu vong, còn ném hằn học vào cửa sổ nhà ông mười năm sau khi quyển truyện ra đời. Họ đồng hóa ông với Jean Valjean, nhân vật trong truyện, người tù bị đày khỏi xứ. Nhưng Jean Valjean là hiện thân của công lý dưới ngòi bút của Victor Hugo. Vượt ngục, trở về nước, đổi tên, sống cuộc đời thánh thiện, giúp người nghèo, nâng đỡ thợ thuyền, được yêu mến, được kính trọng, bỗng một hôm Jean Valjean nghe tin cảnh sát bắt được một tội nhân vượt ngục tên là ... Jean Valjean. Làm gì bây giờ ? Tiếp tục sống đời thánh thiện, cứu giúp đồng loại, mặc người kia hàm oan, hay nhận lãnh trách nhiệm, tránh bất công ? Jean Valjean lựa chọn công lý. Ông tự nộp mình cho cảnh sát. Nhưng hành động đạo đức cao thượng ấy cũng là hiện thân cao nhất của tự do, bởi vì tự do cụ thể nhất, cơ bản nhất, là tự do lựa chọn. Sống vì tự do, chết vì tự do, con người phải có tự do lựa chọn : đó là thông điệp hùng vĩ nhất của Victor Hugo, trong Những người cùng khổ cũng như trong tất cả tác phẩm và hành động chính trị của ông.

*

*    *

Chính tư tưởng đó đã khiến Victor Hugo lựa chọn đời sống lưu vong thay vì chấp nhận ân xá của một chế độ độc tài. Cũng chính tư tưởng đó đã khiến ông thay đổi thái độ đối với Napoléon, thần tượng của ông lúc trẻ. Napoléon ! Có ai lớn hơn vị thần ấy ? Núi, sông, đồng bằng, lâu đài, kinh đô, trận mạc, Đức, Ý, Áo, Phổ, Nga, giáo hoàng, tất cà Âu châu, cho đến tận Ai Cập xa xăm, huyền bí, tất cả đều nằm rạp dưới vó ngựa của hoàng đế. Napoléon ! Như hình vẽ từ ngón tay đứa bé trên cát / Từng đế quốc ngổn ngang xóa sạch dưới chân người. Napoléon ! « Không có môt cái đầu nào, dù cao lớn, ngạo nghễ đến đâu đi nữa, mà không cúi chào vầng trán kia, trên đó rõ ràng bàn tay của Trời đã đặt hai vương miện, một làm bằng vàng mà người ta gọi là vương hiệu, một làm bằng ánh sáng mà người ta gọi là thiên tài ». Napoléon ! Người ngự trị trên thời đại chúng tôi, thiên thần hay quỷ dữ không cần biết / Cánh ó của Người mang chúng tôi phiêu du khắp chốn, ngất ngây.

Đó là Napoléon thần thánh của Victor Hugo lúc trẻ, ngôi sao dẫn đường trong đêm tối trước khi trở thành mặt trời chiếu sáng cho thế kỷ mở đầu. Vầng ánh sáng đó rạng rỡ quá, che khuất hẳn mặt tối của ông thần nhưng không xóa được. Mặt tối ấy là tham vọng, độc tài. Tham vọng làm tanh máu trên bàn tay của ông. Máu của hơn 800.000 xác chết vất trên khắp chiến trường. Máu của 3 000 lính Thổ đầu hàng ở Jaffa năm 1799 mà ông hạ lệnh bắn chết sạch. Sạch ! Giữa sa mạc, chỗ đâu mà chứa ? Quang cảnh hàng ngày trước mắt ông là hàng ngàn, hàng chục ngàn thi hài hấp hối, thối rữa. Bài học vỡ lòng của ông là phải có trái tim sắt, không biết cảm động : bản chất của sự vật, theo ông, là như vậy. Suốt đời, ông đi trên máu và thịt ; ông lấy máu làm mực để viết lịch sử. Lịch sử của tham vọng, của ước mơ trong đầu ông. Ông hô to : « Ta đưa các ngươi đến những cánh đồng phì nhiêu nhất thế giới ». Cánh đồng này rồi cánh đồng khác, lính của ông tha hồ cướp bóc, và giết, và chết.

Ông áp dụng « bản chất của sự vật » đó vào chính trị : sẵn sàng giết không động lòng. « Chính người lính dựng xây Cộng Hòa ; thanh gươm là trục quay của thế giới », ông tuyên bố. Cho nên, tướng biên cương, ông cưỡi gươm về kinh đô đảo chánh ngày 18 Mãn Thu. Ông đoạt quyền. Ông ngồi trên gươm để cai trị. Ông dạy : « chính trị không có tim, chỉ có đầu ». Chống đối, ông dẹp. Hiến pháp, ông sửa. Địch thủ - quận công d’Enghien - ông bắt cóc, ông bắn. Ông thổ lộ : « Từ toàn thắng đến sụp đổ, chỉ một bước thôi. Bao giờ cũng vậy, một chuyện cỏn con, vô nghĩa lý, chợt đến, quyết định những sự việc trọng đại ». Tay độc tài nào cũng sợ những « chuyện cỏn con » như vậy. Cho nên đã nắm trọn vẫn cứ muốn nắm trọn hơn nữa quyền hành : ông dẹp luôn chế độ cộng hoà. Từ Bonaparte, ông trở thành Napoléon hoàng đế. Ôi, cay đắng cho bao nhiêu hy vọng đặt vào ông để bảo vệ gia tài của cách mạng lúc đầu ! « Bonaparte đập nát tự do bây giờ, nhưng ông sửa soạn tự do cho ngày mai bằng cách kiềm chế cách mạng và tiếp tục tận diệt những gì còn sót lại của nền quân chủ hôm qua. Ông cày bừa cánh đồng ngổn ngang xác chết và phế tích : chiếc cày lực lưỡng của ông được Vinh Quang kéo đi, đào sâu trong đất những luống cày từ đó những hạt giống tự do sẽ mọc ». Ôi, ngây thơ ! Ngây thơ ngủ ngon với nhung y của Bonaparte và thức dậy với cái vương miện trên đầu hoàng đế.

Victor Hugo không chối bỏ hình ảnh vinh quang mà ông đã nhận được từ thần tượng của ông lúc trẻ, nhưng lòng yêu tự do khiến ông biết nhìn cả hai mặt của ông thần và biết mình đứng ở đâu, với ai, trong tư tưởng. Được bầu vào Hàn Lâm Viện năm 1841, lúc ông mới 39 tuổi, diễn văn của ông đối đầu cây bút với lưỡi gươm :

« Tất cả lục địa cúi mình trước Napoléon - tất cả, trừ sáu người thi sĩ, sáu nhà tư tưởng, vẫn đứng thẳng trong một vũ trụ quỳ gối : Ducis, Delille, phu nhân de Staël, Benjamin Constant, Chateaubriand, Lemercier ... Sáu thi sĩ nổi giận đó tượng trưng trong Âu châu điều duy nhất mà Âu châu đang thiếu lúc đó : độc lập ; tượng trưng cho nước Pháp điều duy nhất mà nước Pháp lúc đó đang thiếu : tự do ».

Độc tài, nhưng thông minh xuất chúng, Napoléon biết giá trị của người cầm bút. Trong vinh quang của quyền lực, ông biết vinh quang của văn chương. Ông muốn hai vinh quang đó hợp lại sáng rực dưới triều đại của ông, nghĩa là dưới uy quyền của ông. Cho nên, « khoá miệng quần chúng cũng chưa đủ, ông còn muốn Benjamin Constant phải quy phục ; chiến thắng 30 quân đội cũng chưa đủ, ông còn muốn chiến thắng Lemercier ; chinh phục bấy nhiêu vương quốc cũng chưa đủ, ông còn muốn chinh phục Chateaubriand ». Danh vọng, chức tước, địa vị, không thiếu thức gì ông đem ra chiêu dụ họ ; tất cả đều từ chối. Vuốt ve không được, ông đập. Không người nào nhượng bộ. « Nhờ sáu tài năng đó, nhờ sáu cá tính đó, dưới triều đại của ông, tuy bao nhiêu tự do đã bị dẹp bỏ, tuy bao nhiêu vua chúa đã bị làm nhục, phẩm chất cao quý của tư tưởng tự do vẫn còn được duy trì ».

Các văn hào ấy không phải chống đối cái hào hiệp, cái hiếm có, cái lừng lẫy nơi Napoléon. Nhưng họ thấy « con người chính trị đã làm mờ nhạt con người chiến thắng, bậc anh hùng sóng đôi với tay bạo chúa, một nửa người này đối đáp cay đắng với nửa người kia ». Hơn thế nữa, độc tài và chiến tranh thúc đẩy lẫn nhau ; họ phản đối chiến tranh vì chiến tranh triền miên đến mức ấy đã động đến lương tâm con người.

Tất nhiên, không phải chiến tranh nào cũng xấu, có chiến tranh là cần thiết. Nhưng « lúc chiến tranh vươn đến mục đích thống trị, lúc chiến tranh trở thành tình trạng bình thường của một xứ sở, lúc chiến tranh bước vào giai đoạn kinh niên, lúc 13 chiến tranh diễn ra trong vòng 14 năm, lúc đó, dù cho kết quả về sau là thế nào đi nữa, đến một lúc con người không chịu đựng mãi được. Lúc đó, phong hóa suy đồi vì bị cọ xát với những tư tưởng bạo tàn, thanh gươm trở thành dụng cụ duy nhất của xã hội, sức mạnh chế tạo ra một thứ luật pháp cho riêng mình, thương mại, kỹ nghệ, sự phát triển rạng rỡ của trí óc, tất cả những hành động của hòa bình đều biến mất. Chính lúc đó, dù đang giữa mùa chiến thắng rầm rộ của gươm giáo, xã hội cần có những nhà tư tưởng để khuyến cáo người anh hùng ; lúc đó, các nhà thi sĩ - nghĩa là các người làm nên văn minh một cách nhẫn nại, thanh bình, an nhiên - cần đứng lên phản đối những người chinh phục - nghĩa là những người làm nên văn minh bằng bạo lực ».

Vinh quang của người này phải tôn trọng vinh quang của người kia. Vinh quang của người này cần có vinh quang của người kia. Đó là động cơ của tiến bộ. Ở tột đỉnh của quyền lực, ở tột đỉnh của vinh quang, Napoléon không còn biết đến ai nữa. Ông chỉ còn nghĩ đến ông và một đứa con trai phải đẻ ra để bế lên ngai vàng của ông, đánh bạt những dòng máu chính thống khác. Ông trèo quá cao nên ngã quá đau. Giá như ông chịu khó hỏi ý kiến của một người dân quê nào đó ở phương trời Á châu xa xăm, chắc ông đã được nghe nói :”mãnh hổ nan địch quần hồ “. Tham vọng của ông đưa ông vào tử lộ. Và đây là tử lộ trong thơ của Victor Hugo, người đã xem ông là thần tượng trước khi biết trách ông quên mất vinh quang của tự do :

Tuyết rơi. Rơi trên hùng binh gục ngã

Lần đầu tiên con ó cúi đầu

Lệnh hoàng đế rút lui nhục nhã

Bỏ đàng sau bốc khói Mát-Scơ-Va.

Tuyết rơi. Mùa đông vỡ tan theo tuyết

Mênh mông đồng tuyết, đồng tuyết mênh mông

Tướng ở đâu, cờ ở đâu, không biết

Đại binh hôm qua, nay đàn súc khốn cùng.

Mơ ước lạc loài tan theo sương khói

Dưới trời đen hình bóng mông lung

Cùng với tuyết trời kia yên tĩnh

Dệt khăn tang trùm hàng vạn tàn binh.

Trước tàn quân lưa thưa trên tuyết

Người vinh quang run rẩy nhìn trời

Nói gì đây một câu sám hối

“Phải chăng đây trừng phạt hỡi Trời ?”

Napoléon ! tên ông ai gọi

Nghe mơ hồ ai nói với ông :

Không.

 

Ba năm sau, Waterloo khép lại bước đường cùng. Khi lớp tinh binh cuối cùng của Napoléon bị tiêu diệt sạch, khi tàn binh bỏ chạy như sóng lũ, người, ngựa, cờ, trống rơi quỵ ngổn ngang trên trận địa,

Napoléon hốt nhiên hối hận

Lính chết. Ta thua. Trời hỡi ! Ông than

Đế quốc ta tan tành như gương vỡ

Phải chăng đây trừng phạt hỡi Trời ?”

Napoléon ! tên ông ai gọi

Nghe mơ hồ ai nói với ông :

Không.

Trời không dung. Bởi vì thanh gươm của ông đâm vào tự do của các dân tộc. Bởi vì thanh gươm của ông đâm vào tự do.

*

*    *

Giống như bất cứ ai, tôi cũng đã từng choáng ngợp trước hào quang của Napoléon. Người Việt lại dễ choáng ngợp hơn ai hết, vì lịch sử mà chúng ta học từ bé là lịch sử của võ công, của trận mạc, của danh tướng. Huống hồ, trong huyền sử chung quanh Napoléon, còn phảng phất thêm phấn hương hồng lâu mộng Joséphine ! Trai mới lớn chúng tôi ngày trước có đứa thuộc lòng từng đoạn trong thư tình ông gởi cho hoàng hậu. « Ta đang trên đường từ chiến trận về thăm nàng đây. Đừng tắm nhé ! » Khói bốc ra từ hàm ngựa và mùi mồ hôi dâng lên từ phía dưới cổ quý phi, trai nào mà không rạo rực ? Lớn lên chút nữa mới hiểu rằng đâu phải chỉ ngồi trên mình ngựa mới làm nên lịch sử ! Nhưng có lẽ chưa già thì chắc cũng chưa dám nghĩ đến việc so sánh sức mạnh giữa cây bút với lưỡi gươm. Chưa già thì chưa nhận ra rằng hóa ra lưỡi gươm chẳng thấm vào đâu so với lời nói và chữ viết. Riêng về chuyện Napoléon, dù ông là thần thánh, ông đã chết. Yên lặng trong nấm mồ / Ông nằm nghe lòng đất nói về ông. Victor Hugo vẫn còn sống. Bằng chứng là ông đang tiếp tục viết lịch sử của ngày mai. Ông viết lịch sử của tự do thì bao giờ ông cũng vẫn còn đấy. Đây, tôi xin tóm tắt một đoạn mà nét mực vẫn còn tươi.

« Hồi thế kỷ này mới bắt đầu, có một đứa bé sống trong một ngôi nhà lớn, kín đáo ẩn khuất giữa một khu vườn lớn, trong một vùng thanh vắng nhất Paris. Trước cách mạng, nhà đó là một tu viện mang tên là Feuillantines. Đứa bé sống một mình, với mẹ, hai anh và một ông linh mục dạy trong nhà. Ông linh mục là người đáng kính, nhưng lối giáo dục của ông tiêm vào đầu óc non trẻ của chúng tôi sự già nua của thành kiến, hút bình minh ra để đưa đêm tối vào, đổ đầy quá khứ vào tâm hồn đến nỗi không còn chỗ nào để chứa tương lai. Đứa bé đó là tôi, cách đây sáu mươi năm.

Đó là giai đoạn huy hoàng của Napoléon, chiến thắng tiếp theo chiến thắng. Tôi còn nhỏ, không biết gì, chỉ sống giữa hoa bướm với ong, không thấy ai ngoài mẹ, hai anh và quyển sách dưới nách ông linh mục.

Bỗng một buổi chiều, vài người khách ở đâu đến viếng mẹ tôi, chuyện lạ chưa từng thấy trong ngôi nhà Feuillantines này. Khách ba người, bạn của cha tôi đang công tác xa. Khách và mẹ tôi đi dạo trong vườn ; mẹ tôi nghe khách nói chuyện, tôi bước theo sau mẹ tôi. Hôm đó là một ngày lễ lớn, đèn, pháo bông, đại bác nổ vang, cả kinh đô tung hô hoàng đế và quân đội của ông, đêm hồng lên ánh lửa, khu vườn sáng tỏ như ban ngày. Ba người khách nói chuyện ; cây cối lặng yên ; đàng xa đại bác trang nghiêm nổ, mười lăm phút một phát. Điều mà tôi sắp kể sau đây, không bao giờ tôi quên được.

Khi ba người khách bắt đầu bước vào dưới lùm cây lớn, một trong ba người dừng lại, nhìn lên trời đêm rực ánh sáng, bật tiếng lớn :

 Dù sao đi nữa, người ấy thật vĩ đại.

Bỗng một tiếng cất lên từ trong bóng tối :

 Chào Lucotte, chào Drouet, chào Tilly.

Rồi một người cao lớn hiện ra trong ánh sáng mờ ảo của lùm cây. Ba người khách ngẩng đầu. Một người kêu lên : “Ồ !" Ông chưa kịp gọi tên người ấy thì mẹ tôi, tái mặt, ra dấu bảo im. Họ im. Còn tôi, ngạc nhiên, đứng trố mắt. Chưa bao giờ tôi biết trong góc vườn sau, chỗ có một căn nhà nhỏ bỏ hoang, có người trú ẩn từ lâu nay. Người ấy lớn tiếng :

 Lucotte, anh vừa nói người ấy vĩ đại.

– Đúng.

– Có người vĩ đại hơn Napoléon.

– Ai ?

– Bonaparte.

– Lúc nào ?

– Trước ngày 18 Mãn Thu.

Rồi tiếp luôn :

– 18 Mãn Thu là sụp đổ.

– Đúng rồi, của Cộng Hòa.

– Không, của Bonaparte.

Cái tên Bonaparte làm tai tôi bỡ ngỡ vô cùng. Tôi vẫn thường nghe nói : "hoàng đế". Từ lúc đó tôi mới chợt hiểu cách nói tự nhiên, pha chút khinh bạc, về sự thật. Ngày hôm đó, tôi mới biết tiếp cận cách xưng hô hùng vĩ mày tao thân mật với lịch sử.

Ba người khách là ba ông tướng ; họ nghe với dáng mặt vừa ngạc nhiên vừa nghiêm trọng. Ông Lucotte nói :

 Anh có lý. Để xóa bỏ 18 Mãn Thu, tôi sẽ hy sinh tất cả. Nước Pháp lớn, tốt. Nước Pháp tự do, tốt hơn.

 Nước Pháp không thể lớn nếu không tự do.

 Đúng. Để lập lại nước Pháp tự do, tôi cho hết gia sản. Còn anh ?

 Tính mạng.

Lại im lặng một lúc. Đàng xa vẳng đến tiếng huyên náo của Paris vui nhộn, cây cối hồng lên, ánh sáng của lễ hội chiếu trên khuôn mặt của ba người. Sao đêm trên đầu mờ nhạt giữa rực rỡ của Paris thắp sáng, vầng sáng của Napoléon làm ngập bầu trời.

Thốt nhiên, người trú ẩn khi nãy xoay mặt về phía tôi khiến tôi sợ và lén trốn ; ông nhìn tôi đăm đăm, rồi nói :

 Này cháu, hãy nhớ câu này nhé : trước hết là tự do.

Rồi ông đặt tay lên vai tôi ; cho đến bây giờ vai tôi vẫn giữ nguyên cái rùng mình khi ấy. Và ông lặp lại :

 Trước hết là tự do.

Rồi ông đi vào dưới lùm cây, chỗ mà khi nãy ông bước ra.

Người ấy là ai ? Một tội nhân bị truy nã. Tướng Lahorie, bạn của cha tôi, tuy lớn hơn cha tôi 25 tuổi. Năm 1801, ông chống lại Bonaparte, bị truy lùng, đầu ông bị treo giá, cha tôi cho ông ẩn nấp trong nhà hoang. Nhà phế nát chứa chấp một phế nát khác - một kẻ bại trận. Chim chóc tự do bay vào chỗ ông trốn, sợ gì một chiếc giường con, một khẩu súng lục, và một cuốn sách lịch sử Cộng Hòa Roma thời cổ. Tôi còn nhớ như in một hôm ông bế tôi trên đùi, mở cuốn sách ra và đọc hàng chữ la tinh : Urbem Romam a principio reges habuere. Ông dừng lại, thầm thì :

 Nếu Roma hãy còn vua chúa, Roma đã không phải là Roma.

Rồi, nhìn tôi âu yếm, ông lặp lại câu nói ấy :

 Này cháu, trên tất cả là tự do.

Một ngày kia, ông biến mất khỏi nhà. Tôi không hiểu tại sao. Nhiều biến cố xảy ra quá. Một buổi chiều tháng 10-1812, tôi nắm tay mẹ tôi đi trước nhà thờ Saint-Jacques-du-Haut-Pas. Một áp phích lớn, màu trắng, niêm trước cột cổng, cột bên phải, sau này thỉnh thoảng tôi vẫn nhìn cột đó. Người qua đường liếc nhìn tấm áp phích, dáng sợ hãi, lướt mắt đọc qua, rồi bỏ đi thật nhanh. Mẹ tôi dừng lại bảo tôi : con đọc đi. Tôi đọc. Tôi đọc thế này :"Đế chế Pháp quốc. Chiếu bản án của phiên tòa án binh đầu tiên, đã bắn trên phố Grenelle, vì âm mưu chống lại đế chế và hoàng đế, ba cựu tướng Malet, Guidal và Lahorie". Mẹ tôi nói : "Lahorie, con nhớ tên của bác ấy". Và tiếp theo :

 Bác ấy là cha đỡ đầu khi con mới sinh ».

Cũng giống như “những chuyện cỏn con“ ám ảnh hoài các nhà độc tài, câu nói cỏn con của người trú ẩn, thốt ra giữa một đêm tưng bừng ánh sáng vinh quang của quyền lực tối cao, vang dội mãi trong đầu của người thi sĩ ấy : “trước hết là tự do".

Nếu có ai khác nói tự do, tôi sẽ còn xét lại. Nhưng khi đứa bé trong chuyện là tác giả Những người cùng khổ, khi người bênh vực cho những người cùng khổ nói lên tự do, tôi lắng tai nghe định nghĩa của người ấy. Người ấy định nghĩa tự do như thế này : là “Lý Trí trong triết lý, Hứng Khởi trong nghệ thuật, Công Lý trong chính trị”. Một tự do với định nghĩa rõ ràng như vậy, có gì trái với hướng đi của ngày nay ?

 CAO HUY THUẦN

Chú thích:

Ngoài thơ văn của Victor Hugo, những trích dẫn in chữ nghiêng lấy từ Max Gallo, L’homme qui était l’Histoire, Express 29-11-2004 ; và quyển sách vừa xuất bản : Michel Winock, Victor Hugo dans l’arène politique, Bayard, 2005 (trừ câu về quý phi trích theo trí nhớ - vì dễ nhớ).

Đã đăng trên Diễn Đàn số 159, tháng 2/2006