trang chủ‎ > ‎

2 * tản mạn về gốm & nghề làm gốm

1.gốm sứ & qui trình làm gốm

Gốm sứ, là từ gọi chung cho các hàng nung từ đất, không hoặc có phủ men. Nếu phân biệt ra thì có thể gọi như sau:

♥ Đất nung (terracotta): là loại hàng nung không phủ men, giữ nguyên màu của đất sau khi nung: vàng – vàng cam – đỏ cam.

♥ Gốm (pottery): là loại hàng nung có phủ men, nung ở nhiệt độ 800 – 1200 độ.

♥ Sứ (porcelain): là loại hàng nung có phủ men, nung trên 1200 độ.

Gốm sứ, nhìn chung đều phải trải qua quá trình “làm hàng” như sau:

♥ Chọn đất: tất nhiên đất làm hàng gốm sứ phải là đất sét trắng, còn đất làm hàng đất nung chỉ là đất sét cũng có thể làm được. Ví dụ, hàng gốm Bát Tràng, Bình Dương, Đồng Nai,…đều làm đất sét trắng, còn gốm Vĩnh Long (mà đa phần là đất nung) được làm từ đất sét nhiễm phèn ven sông.

Tùy vào hàm lượng các khoáng chất trong đất sét mà sẽ tạo nên chất lượng xương gốm khác nhau. Xương gốm, tức là phần gốm bên trong lớp men phủ.

♥ Lọc đất: mà người ta còn gọi là xử lý/ pha chế đất. Cứ tưởng tượng quy trình xay bột làm bánh như thế nào thì quy trình này cũng tương tự như thế! (^__^) Người ta cũng phải ngâm đất sét thô trong nước cho nó tơi ra, như mình ngâm gạo nếp/tẻ trong nước cho mềm ra vậy. Tất nhiên quá trình ngâm này rất lâu, mấy tháng so với việc ngâm gạo xay bột là vài mươi tiếng. Ngâm xong rồi khuấy đều lên, rồi lắng, lọc, lắng, lọc,… Càng lắng lọc nhiều thì lớp đất sau cùng càng tinh, xương gốm sẽ càng mịn trắng, chất lượng càng cao.

một kiểu bể lắng thô sơ (bình dương)

Sau khi lắng lọc, người ta còn phơi & ủ đất. Cũng như trên, tùy thuộc vào thời gian ủ đất mà chất lượng gốm sứ cũng khác nhau.

Ở các lò Bát Tràng, họ bảo rằng trong quá trình xử lí đất họ có pha thêm 1 tỉ lệ cao lanh (kaolin) theo cách làm gia truyền để xương gốm bền đẹp hơn. Nhưng là người ta nói thế, mỏ đất cao lanh cũng như mỏ vàng vậy, có đâu còn hoài mà dùng??? Nếu có, thì may ra chỉ là đất sét có hàm lượng các chất tương đối gần đạt đến như cao lanh mà thôi  =.=

 Tạo dáng: giai đoạn này thú vị & cũng thu hút sự chú ý, hào hứng tham gia của nhiều du khách tham quan các lò gốm nhất. Ngày xưa, làm thủ công thì người ta tạo dáng mọi sản phẩm trên bàn xoay (mà ai ít nhất 1 lần đến các lò gốm hay xem phim có dính dáng sẽ thấy). Ngày nay, sx công nghiệp thì người ta thường đúc khuôn. Khuôn thường là khuôn thạch cao.

Ví dụ, khuôn làm chén cũng là hình cái chén, mà lòng khuôn là kích cỡ của cái chén muốn làm, rồi người ta nhồi vào khuôn 1 cục đất sét, cho qua 1 bàn xoay chạy điện, trục xoay sẽ xoắn 1 phát, cục đất tán ra, bao giáp quanh lòng khuôn, là xong 1 em chén thô.

Minh họa bằng hình ảnh làm…chậu cây, cho dễ hình dung hơn ^^

 tay anh ấy hạ cần trục xuống là đất xét bên trong quét mỏng ra theo thành khuôn.

Với những hàng không có “miệng mở” như kiểu chén thì khuôn sẽ là 2 nửa đối xứng nhau, và sau khi đúc khuôn, họ sẽ ráp lại, vuốt mí cho liền lạc.

Còn đây là hàng to & không dùng bàn xoay hay trục, toàn làm thủ công. Người ta sẽ làm thành những “bánh đất” như kiểu mình “cán bột” thành tấm vậy.


Xong rồi, đặt “tấm bánh đất” vào lòng khuôn, vuốt cho đều, vét bỏ phần thừa


Và vuốt cho thật là láng, láng… Để chỗ thông thoáng cho hơi khô héo thì tiếp tục đem ra phơi nắng


♥ Phơi/sấy & sửa hàng mộc:
Có lò phơi nắng, có lò sẽ sấy cho khô


Hàng men thì sẽ nhúng men rồi phơi/sấy


Rồi đến giai đoạn sửa hàng thô, coi có móp méo vẹo vọ lồi lõm khuyết tật gì thì sửa chữa, vuốt & chà láng


Rồi lại tiếp tục hong, phơi/sấy


Sau đó đem nung, là ra thành phẩm. Hình này là lò nung củi cổ điển, ngày nay, nhất là các lò mà giờ là nhà máy/công ty thì người ta toàn nung bằng điện cả thôi.

Quy trình cơ bản là vậy. Những mặt hàng không cầu kỳ vẽ hoa văn thì sẽ làm theo quy trình này. Nếu có vẽ hoa văn thì công đoạn này sẽ đến trước hoặc sau công đoạn phơi sấy & phủ men. Sự khác nhau này là do kỹ thuật của các lò sx, và cũng là kỹ thuật riêng của từng nước sx gốm sứ. Đại khái người ta sẽ chia ra “vẽ dưới men” và “vẽ trên men”.

Vài nhà lò giải thích với bạn H rằng:

Có nhà lò, sẽ phủ 1 lớp men, nung sấy nhẹ, rồi vẽ hoa văn, nung sấy tiếp để giữ màu & hoa văn, sau đó phủ lớp men bóng và nung cho đến chín thành sản phẩm. Kiểu này họ gọi là “vẽ trên men”.

Có nhà lò, sẽ nung sấy nhẹ hàng gốm mộc, rồi vẽ hoa văn, rồi nung sấy nhẹ, rồi phủ men, rồi nung sấy, rồi phủ men bóng, rồi nung đến chín thành phẩm. Kiểu này gọi là “vẽ dưới men”. Và họ cũng nói rằng hàng “vẽ dưới men” tất nhiên giữ màu sắc hoa văn bền đẹp hơn, nhưng không phải muốn vẽ cái gì cũng sẽ lên màu được như ý.

Nếu bạn nào từng đến hoặc lê la ở Bát Tràng nhiều lần, chắc chắn sẽ nghe người ở làng giới thiệu về các loại men như là: men tro, men nâu, men rạn, men ngọc, men lam, men chảy,…v.v… Nếu như quy trình làm là như nhau. Đất & các công đoạn nhiều hay ít, nung nhiệt độ cao hay thấp ảnh hưởng đến chất lượng của sản phẩm thì kỹ thuật làm men & tráng men xác định độ tinh xảo, mức tinh tế của sản phẩm. Vì thế, nói đi nói lại, men gốm là bí quyết của mỗi nhà lò và nó được gìn giữ như “tuyệt kỷ kungfu” vậy. Giang hồ khó mà biết được huống chi “giang hồ vặt” như bạn H đây,…bàn cho vui thoai hén!…khà..khà…(^__^)

Túm lại, gốm sứ đều từ…lò nung mà ra cho nên đều có tính chịu nhiệt cao, (chỉ không chịu độ cao thôi <– để cao quá coi chừng rớt bể…hị..hị…), vì vậy hầu hết là hàng gốm sứ gia dụng dùng cho bếp núc có thể cho vào lò nướng, microwave được cả. Ngoại trừ 1 số hàng mà trang trí màu sắc lại không được phủ men với chất lượng cao thì bỏ lò với nhiệt độ cao sẽ chóng hư lớp hoa văn trang trí. Đây cũng là lý do mà đa số hàng bakeware thường ít vẽ hoa văn cầu kỳ,…(^_^)

Tiếp, nói đến chuyện đi mua đồ gốm sứ. Nếu mọi người đi chợ mua cá-không-bơi-không-quẫy, mọi người thường hay nhìn mắt cá để biết vẫn còn tươi hay không, nhỉ? Thì người ta đi mua đồ gốm sứ sẽ hay gõ gõ để nghe xem thanh âm thế nào? Gõ cho vui vậy thoai, phải cần gõ một thời gian dài thì mới phân biệt được….(^__^)

Trên lý thuyết, 

♥ Thanh âm nghe trong & vang thì là gốm sứ tốt, tức qua xử lý đất tốt, nhiệt độ nung cao, bền chắc. 

♥ Thanh âm đùng đục & ngắn, tức nghe cứ như bộng bộng, thì là gốm sứ thường thường, xử lý đất không tốt, nhiệt độ nung lại thấp, tất nhiên hàng xoàng thôi.

Mà thường, chất lượng & mẫu mã cũng đi đôi với nhau, những hàng tinh xảo thì nhìn vô là biết liền, khỏi gõ làm chi. Chỉ có hàng nhái của anh TQ thì mình phải gõ để ”thẩm định, so đo” giá cả mà thôi….(^__^)

Còn 1 cách nữa, để phân biệt hàng tốt – dzỏm, là khi mua về xài rồi, mà cách này nói cho vui thoai nha:

- Hàng dzỏm, thường rất dễ mẻ theo mảng. Do xử lý đất kém, còn lẫn tạp chất nhiều nên đất bở và nhiệt độ nung thấp. Nếu có bể thì sẽ bể thảnh mảng và nhiều vụn nát.

- Hàng tốt, ít khi mẻ mà nếu mẻ thì sẽ mẻ sắc cạnh theo hình tam giác nhỏ. Nếu có bể thì cũng bể rốp rốp thành đôi ba miếng sắc cạnh, ít vụn.


2.gốm Việt (bắc - trung - nam)

gốm Bắc bộ :

gốm Bát Tràng

Xã Bát Tràng (社鉢場) là tên gọi cũ của làng Bát Tràng thuộc huyện Gia LâmHà Nội từ trước năm 1945. Trước đây hơn 700 năm, người dân thôn Bát Tràng di cư từ làng Bồ Bát (xã Bồ Xuyên và trang Bạch Bát thuộc tổng Bạch Bát, huyện Yên Mô, phủ Trường Yên, trấn Thanh Hóa ngoại, nay là hai thôn của xã Yên Thành, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình[1]), theo vua Lý Công Uẩn rời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, đến vùng đất bồi trên bờ sông Hồng, lập phường làm nghề gốm (gạch xây dựng); lúc đầu thôn Bát Tràng được gọi là Bạch Thổ Phường, Xã Bát Tràng (tức làng Bát Tràng ngày nay) thuộc tổng Đông Dư, huyện Gia Lâmphủ Thuận An, tỉnh Bắc Ninh) sinh sống chủ yếu bằng nghề làm gốm sứ và buôn bán và làm quan. Thờinhà Hậu Lê, xã Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc. Sang thời nhà Nguyễn, năm 1822 trấn Kinh Bắc đổi làm trấn Bắc Ninh, năm 1831 đổi làm tỉnh Bắc Ninh, lúc này xã Bát Tràng thuộc tổng Đông Dư, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An. Đến năm 1862 chia về phủ Thuận Thành và năm 1912 chia về phủ Từ Sơn. Từ tháng 2 đến tháng 11 năm 1949, huyện Gia Lâm thuộc về tỉnh Hưng Yên. Từ năm 1961 đến nay, huyện Gia Lâm thuộc ngoại thành Hà Nội. Năm 1948, xã Bát Tràng nhập với xã Giang Cao và xã Kim Lan lập thành xã Quang Minh. Từ năm 1964, xã Bát Tràng được thành lập gồm 2 thôn Bát Tràng và Giang Cao như hiện nay.

Năm 1958, nhà nước thực hiện đào sông Bắc Hưng Hải - Đại thuỷ nông Bắc Hưng Hải làm thuỷ lợi tưới tiêu cho một vùng đồng ruộng rộng lớn của 3 tỉnh: Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, tạo ra thêm một con đường mới đi vào xã Bát Tràng, vì vậy từ Hà Nội, có thể theo đường thuỷ từ bến Chương Dương hoặc bến Phà Đen, xuôi sông Hồngđến bến Bát Tràng, cũng có thể theo đường bộ qua cầu Chương Dương (hay cầu Long Biên) rồi theo đê sông Hồng đến dốc Giang Cao rẽ xuống Bát Tràng (khoảng 15 km) hoặc theo quốc lộ số 5 đến Trâu Quỳ rẽ về phía tay phải theo đường liên huyện qua xã Đa Tốn đến Bát Tràng (khoảng hơn 20 km). Hoặc từ trung tâm thành phố Hà Nội, nếu theo đường thủy có thể xuất phát từ bến Chương Dương dọc theo sông Hồng đến bến Đình Bát Tràng (cảng du lịch Bát Tràng) hoặc theo đường bộ, qua cầu Chương Dương hoặc cầu Long Biên dọc theo tuyến đê Long Biên-Xuân Quan (đê Tả Hồng) tới Cống Xuân Quan (công trình Đại thủy nông Bắc Hưng Hải) rồi rẽ tay phải đi khoảng 1 km sẽ tới Trung tâm làng cổ Bát Tràng. Hoặc từ quốc lộ 5 rẽ vào Trâu Quỳ qua xã Đa Tốn lên đê rẽ tay trái tới 1 km tới cống Xuân Quan rồi rẽ tay phải (cách trường Đại học Nông nghiệp I - Trâu Quỳ chỉ khoảng 7 km).

Ngày nay việc đến Bát Tràng rất thuận lợi vì từ năm 2006, công ty vận tải Hà Nội đã mở tuyến xe buýt 47 về đến Chợ Gốm Làng cổ Bát Tràng là điểm cuối bến.

Ở huyện An Lão, thành phố Hải Phòng có một xã tên gọi Bát Trang gần giống với Bát Tràng.


Hiện nay, sản phẩm gốm Bát Tràng càng ngày càng phong phú và đa dạng. Ngoài các mặt hàng truyền thống, các lò gốm Bát Tràng còn sản xuất nhiều sản phẩm mới đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trong Việt Nam như các loại ấm chén, bát đĩa, lọ hoa... kiểu mới, các vật liệu xây dựng, các loại sứ cách điện... và các sản phẩm xuất khẩu theo đơn đặt hàng của nước ngoài. Sản phẩm Bát Tràng có mặt trên thị trường cả nước và được xuất khẩu sang nhiều nước châu Áchâu Âu. Bát Tràng cuốn hút nhiều nhân lực từ khắp nơi về sáng tác mẫu mã mới và cải tiến công nghệ sản xuất. Một số nghệ nhân đã bước đầu thành công trong việc khôi phục một số đồ gốm cổ truyền với những kiểu dáng và nước men đặc sắc thời Lý, Trần, Lê, Mạc...


Những đặc điểm của gốm Bát Tràng

Căn cứ vào những đặc điểm chung về xương gốm, màu men, đề tài trang trí và đặc biệt nhờ các dòng minh văn, có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của gốm cổ Bát Tràng.


Loại hình

Hầu hết, đồ gốm Bát Tràng được sản xuất theo lối thủ công, thể hiện rõ rệt tài năng sáng tạo của người thợ lưu truyền qua nhiều thế hệ. Do tính chất của các nguồn nguyên liệu tạo cốt gốm và việc tạo dáng đều làm bằng tay trên bàn xoay, cùng với việc sử dụng các loại men khai thác trong nước theo kinh nghiệm nên đồ gốm Bát Tràng có nét riêng là cốt đầy, chắc và khá nặng, lớp men trắng thường ngả mầu ngà, đục. Bát Tràng cũng là làng gốm có các dòng men riêng từ loại men xanh rêu cùng với nâu và trắng cho đến men rạn với cốt gốm xốp có mầu xám nâu. Dựa vào ý nghĩa sử dụng, có thể phân chia loại hình của đồ gốm Bát Tràng như sau:

  • Đồ gốm gia dụng: Bao gồm các loại đĩa, chậu hoa, âu, thạp, ang, bát, chén, khay trà, ấm, điếu, nậm rượu, bình vôi, bình, lọ, choé và hũ.
  • Đồ gốm dùng làm đồ thờ cúng: Bao gồm các loại chân đèn, chân nến, lư hương, đỉnh, đài thờ, mâm gốm và kiếm. Trong đó, chân đèn, lư hương và đỉnh là những sản phẩm có giá trị đối với các nhà sưu tầm đương đại vì lẽ trên nhiều chiếc có minh văn cho biết rõ họ tên tác giả, quê quán và năm tháng chế tạo, nhiều chiếc còn ghi khắc cả họ và tên của những người đặt hàng. Đó là một nét đặc biệt trong đồ gốm Bát tràng.
  • Đồ trang trí: Bao gồm mô hình nhà, long đình, các loại tượng như tượng nghê, tượng ngựa, tượng Di Lặc, tượng Kim Cương, tượng hổ, tượng voi, tượng người ba đầu, tượng đầu khỉ mình rắn và tượng rồng.


Trang trí

  • Thế kỉ 1415: Hình thức trang trí trên gốm Bát Tràng bao gồm các kiểu như khắc chìm, tô men nâu theo kĩ thuật gốm hoa nâu thời Trần, kết hợp với chạm nổi và vẽ men lam. Khoảng thời gian này đánh dấu sự ra đời của dòng gốm hoa lam đồng thời xuất hiện những đồ gốm hoa nâu vẽ theo gốm hoa lam. Đề tài trang trí còn giới hạn trong các đồ án hoa lá, tiếp nối gốm hoa nâu thời Trần.
Rồng vẽ trên gốm lam thế kỉ 16 (ảnh chụp tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam)
Sư tử-long mã chạm nổi trên gốm thế kỉ 18 (ảnh chụp tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam)
  • Thế kỉ 16, cùng với việc xuất hiện những chân đèn, lư hương có kích thước lớn hơn, kĩ thuật trang trí chạm nổi kết hợp vẽ men lam đạt đến trình độ tinh xảo. Đề tài trang trí phổ biến có các loại: rồng, phượng, xen kẽ cụm mây, ngựa có cánh, hoạt cảnh người, cánh sen đứng, hoa dây, lá đề, phong cảnh sơn thuỷ... Trang trí vẽ men lam còn giữ được nhịp độ phát triển, nhiều loại văn hình học và hoa lá còn thấy gần gũi với đồ gốm hoa lam xuất hiện cùng thời ởChu Đậu, (Hải Dương).
  • Thế kỉ 17, kĩ thuật chạm khắc, đắp nổi trên gốm Bát Tràng càng tinh tế, cầu kì, gần gũi với chạm đá và gỗ. Đề tài trang trí tiếp nối thế kỉ 16, đồng thời xuất hiện các đề tài trang trí mới: bộ tứ linhhổ phùnghêhạc... Những đề tài chạm nổi, để mộc điển hình khác như bông cúc hình ôvan, bông hoa 8 cánh, bông cúc tròn, cánh hoa hình lá đề, cánh sen vuông, các chữ Vạn-Thọ (chữ Hán)... Việc sử dụng men lam kém dần, tuy đề tài trang trí vẽ tương đồng với chạm nổi. Thế kỉ 17 xuất hiện dòng gốm men rạn với sự kết hợp trang trí đề tài nổi bật như rồng, tứ linh, hoa lá, cúc-trúc-mai. Trong khoảng thời gian này còn xuất hiện loại gốm nhiều màu, nổi trội nhất là màu xanh rêu với các đề tài trang trí độc đáo: hoa sen, chim, nghê, hình người...
  • Thế kỉ 18, trang trí chạm nổi gần như chiếm chủ đạo thay thế hẳn trang trí vẽ men lam trên gốm Bát Tràng. Các kỹ thuật đúc nổi, dán ghép, chạm khắc nổi đã thích ứng với việc sử dụng men đơn sắc (men trắng xám và men rạn). Đề tài trang trí ngoài bộ tứ linh, rồng, nghê còn thể hiện các loài cây tượng trưng cho bốn mùa. Ngoài đề tài sen, trúc, chim và hoa lá còn thấy xuất hiện các loại văn bát quái, lá lật... Hoa văn đường diềm phát triển manh các nền gấm, chữ vạn, cánh sen nhọn, hồi văn, sóng nước...
  • Thế kỉ 19, gốm hoa lam Bát Tràng phục hồi và phát triển phong cách kết hợp sử dụng nhiều loại men vào trang trí. Bên cạnh các đề tài đã có, Bát Tràng còn xuất hiện thêm các đề tài du nhập từ nước ngoài theo các điển tích Trung Quốc như Ngư ông đắc lợiTô Vũ chăn dêBát tiên quá HảiNgư ông kéo lưới...

Đối với các nhà khảo cổ, các nhà sưu tầm đổ cổ và các nhà nghiên cứu mỹ thuật, chủ đề rồng thể hiện qua các thời kì được nhiều người quan tâm nhất vì nó có những sự thay đổi đáng kể. Rồng là đề tài thường được trang trí trên nhiều loại hình, đặc biệt trên chân đèn và lư hương.

  • Thế kỉ 16, rồng được đắp nổi hoặc để mộc như trên đồ gốm thời Nguyên (Trung Quốc) hay vẽ men lam, rồng có đôi cánh mọc ra từ chân trước, cong như cánh bướm. Rồng cùng với phượng mở ra cấu trúc trang trí rồng bay phượng múa.
Minh văn trên gốm: Bát Tràng xã, Đỗ Xuân Vi tạo 缽塲杜春闈造
  • Đầu thế kỉ 17, rồng vẫn giữ nhiều nét tương đồng rồng thế kỉ 16, nhưng sau đó được cách điệu với 4 khúc không đều nhau, mở ra một kiểu rồng mới, khác lạ. Rồng bố cục theo chiều ngang, dáng rồng ngắn, thân uốn hình cánh cung, tay trước nắm râu. Rồng chạm nổi trong hình khánh hay thấu kính có thân nhỏ và đều có những dải mấy lửa kiểu đao mác. Nửa sau thế kỉ 17 lại xuất hiện dáng rồng gần gũi với rồng điêu khắc trên gỗ. Đuôi rồng từ bên trái trườn qua bên phải, đầu quay vào giữa. Mặt rồng tả chính diện, tay trước nắm râu. Xung quanh rồng có nhiều dải mây nổi vẽ men lam. Một kiểu rồng nữa được thể hiện trên lư hương, đế nghê, mô hình nhà là rồng nổi, đuôi vút lên trên, hai chân trước chống, đầu uốn lên, bố cục trong hình chữ nhật.
  • Thế kỉ 18, rồng thân dài, đắp nổi theo dạng phù điêu, đầu nghiêng, hai mắt lồi, sừng và râu cong, bờm gáy dày, vây cá nhọn, vảy rắn, xung quanh rồng có những dải mây nổi hình 3 ngọn lửa. Sau đó, rồng ổ xuất hiện bao gồm một rồng mẹ và 6 rồng con, xen kẽ các dải mây hình khánh. Rồng được thể hiện trên bình con voi, lư hương hoặc trên bao kiếm thờ...Với rồng đắp nổi, chỉ thể hiện đầu rồng chính diện, hai chân trước dang rộng, lộ mũi hẹp, mắt lồi, miệng ngậm vòng tròn hay chữ Thọ kiểu triện còn được thể hiện trên những chiếc đỉnh.
  • Thế kỉ 19, rồng lại được thể hiện theo phong cách tượng tròn với thân ngắn, mình tròn, đầu rồng có miệng rộng, mũi cao, vây cá, vảy tròn và được trang trí theo kiểu đắp nổi hoặc vẽ men lam trên đỉnh gốm hoặc trên bình men rạn vẽ nhiều màu. Ngoài ra, còn có đầu rồng với mặt nhìn chính diện, hai chân xoè ngang năm hai dải mây, miệng ngậm vòng...


Các dòng men

Gốm Bát Tràng có 5 dòng men đặc trưng được thể hiện qua mỗi thời kì khác nhau để tạo nên những sản phẩm đặc trưng khác nhau: men lam xuất hiện khởi đầu ở Bát Tràng với những đồ gốm có sắc xanh chì đến đen sẫm; men nâu thể hiện theo phong cách truyền thống và được vẽ theo kĩ thuật men lam; men trắng ngà sử dụng trên nhiều loại hình đồ gốm từ thế kỉ 17 đến thế kỉ 19, men này mỏng, màu vàng ngà, bóng thích hợp với các trang trí nổi tỉ mỉ; men xanh rêu được dùng kết hợp với men trắng ngà và nâu tạo ra một đòng Tam thái rất riêng của Bát Tràng ở thế kỉ 16–17 và men rạn là dòng men chỉ xuất hiện tại Bát Tràng từ cuối thế kỉ 16 và phát triển liên tục qua các thế kỉ 17–19.

gốm Phù Lãng

Gốm Phù Lãng hiện nay

Nằm bên bờ sông Cầu, cách Hà Nội khoảng 50 km và thành phố Bắc Ninh 20km, làng Phù Lãng ngày nay thuộc xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Đây là một làng nghề nổi tiếng trong và ngoài nước với nghề làm gốm truyền thống.

Cùng với làng Bát Tràng của Hà Nội và làng Thổ Hà của Bắc Giang, làng Phù Lãng được coi là một trong ba trung tâm gốm cổ của người Việt. Một số phát hiện khảo cổ cho thấy gốm Phù Lãng đã xuất hiện vào đời Trần, thế kỷ 13. Hiện nay, gốm cổ của Phù Lãng vẫn hiện diện trong nhiều di tích lịch sử ở châu thổ sông Hồng như các đình, đền, chùa…

Gốm Phù Lãng độc đáo ở chất men màu da lươn, thô mộc, khỏe khoắn, bền bỉ và chứa đựng vẻ đẹp nguyên sơ của đất. Sau những thăng trầm của lịch sử, tưởng chừng đã có lúc tàn lụi, nghề gốm ở Phù Lãng vẫn được duy trì và những năm gần đây có dấu hiệu phát triển lạc quan. Để phù hợp với nhu cầu thị trường, sản phẩm gốm Phù Lãng ngày nay đã có thêm nhiều sự cách tân, nhưng vẫn dựa trên cái xưa hồn mộc mạc của mình.

Sau đây là những hình ảnh Đất Việt ghi nhận ở làng gốm Phù Lãng.

Quang cảnh ấn tượng đập vào mắt du khách tới Phù Lãng là những đống củi được chất cao, có khi đến 3 - 4m ở hai bên đường làng. Đây là chất đốt cho những lò nung gốm Phù lãng nổi tiếng. Nhìn vào lượng củi sử dụng có thể thấy sức sống của làng nghề.


Làng có hàng chục xưởng gốm. Mỗi xưởng gốm thường có trên dưới 10 nhân công, đảm nhiệm những công đoạn khác nhau.


Loại đất sét dùng để làm gốm Phù Lãng được khai thác ở huyện Yên Lập – Bắc Giang. 
Đất thô sẽ được cho vào máy tán thành những mẩu nhỏ trước khi đem gia công.


Trước khi tạo hình, đất sét sẽ được nhào nặn thành những hình khối tròn. Công đoạn này được gọi là se đất.



Những khối đất này sau đó sẽ được đưa lên bàn xoay để vuốt thành hình. 
Những bàn xoay được xoay bằng lực chân của người se đất ngồi phía trên.


Khi đã có hình dáng hoàn chỉnh, sản phẩm được khắc chìm các hình vẽ và trang trí họa tiết nổi.
Sau đó, sản phẩm sẽ được phơi khô, tráng men và tô màu.

Cuối cùng, sản phẩm sẽ được nung 15 ngày trong lò nung đốt bằng củi. 
Khi nung gốm được sắp xếp cẩn thận nhằm tận dụng tối đa diện tích trong lò.



Sản phẩm gốm của Phù Lãng rất phong phú, gồm các vật dụng truyền thống như 
bình, vại, đôn, tiểu… cho đến các sản phẩm mới như tượng gốm và tranh gốm




Người làm gốm ở Phù Lãng cho biết, danh tiếng làng nghề vẫn chưa vươn xa nhưng thời gian tới sẽ có nhiều triển vọng. 
Ông Trần Văn Phận, cán bộ thư viện làng cho biết, đến cuối năm 2009, một con đường và một khu chợ gốm sẽ được hoàn thành và nghề gốm Phù Lãng có thể bước sang trang mới.

gốm Trung Bộ

 Pháp lam và pháp lam Huế

Pháp lam là thuật ngữ dùng để gọi tên một sản phẩm thủ công mỹ nghệ có mặt ở Trung Quốc trong khoảng thời gian từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX, có mặt ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XIX. Từ xưa, sản phẩm được chế tác bởi các nghệ nhân, bằng cách trang trên men nhiều màu lên trên bề mặt một số kim loại quý như vàng, bạc, đồng… Đó là sự phối hợp khéo giữa cách thức điều chế các loại men với kỹ thuật đúc, gò, hàn cốt kim loại và nung nấu sản phẩm ( ngày nay còn dùng cả kỷ thuật điện phân).

pháp lam cổ ( lộ cốt kim loại)


Dựa vào phương pháp chế tạo thai cốt và kỹ thuật thể hiện men màu, họa tiết, có thể chia chế phẩm pháp lang thành 4 loại:

1. Kháp ti pháp lang (掐 丝 珐 琅): Pháp lang làm theo kiểu ngăn chia ô hộc. Chế tác bằng cách dùng những sợi tơ đồng mảnh và nhỏ kết thành các hoạ tiết gắn lên cốt bằng đồng. Sau đó, đổ đầy men pháp lam nhiều màu lên phần trong và phần ngoài các ô trang trí ấy rồi đưa vào lò nung đốt nhiều lần, cho đến khi bên ngoài sản phẩm phủ kên men pháp lam với độ dày thích hợp. Mài nhẵn và mạ vàng (nếu có) các đường chỉ đồng là khâu cuối cùng, hoàn thành sản phẩm.

2. Họa pháp lang (画 珐 琅): Pháp lang làm theo kiểu vẽ trên nền men như các tác phẩm hội họa (Painted enamel), kiểu này được phát minh ra tại thị trấn Limoges của Pháp trong thế kỷ 15. Hoạ pháp lam là kỹ thuật dùng men pháp lam một màu quét trực tiếp lên cốt kim loại. Theo màu sắc thiết kế của hoa văn, dùng men pháp lam vẽ nên các họa tiết, sau đó đưa vào lò nung ở nhiệt độ cao. Sản phẩm sau khi đưa ra khỏi lò được mài bóng để hoàn chỉnh. Trên thực tế nhiều hoạ tiết vẽ trên cốt đồng là nhân vật, phong cảnh với các điển tích lịch sử…


3. Tạm thai pháp lang (錾 胎 珐 琅): Pháp lang có cốt được chạm trổ (champleve). Phương pháp chế tác giống Kháp ti pháp lam, chỉ khác ở chỗ hoa văn tô điểm bên ngoài, cốt sản phẩm, được khắc lõm xuống khiến đường viền hoa văn nổi lên. Ở phần lõm này được phủ đầy men pháp lam, sau khi nung đốt thì đem mài bóng để hoàn thiện. Các đường nổi trên sản phẩm Tạm thai Pháp lam tuy rắn rỏi nhưng đạt được sự trang trọng mà mộc mạc trong nghệ thuật.

4. Thấu minh pháp lang (透 明 珐 琅): Pháp lang có phủ lớp men trong bên ngoài. Thấu minh pháp lam chỉ tráng men pháp lam trong suốt lên cốt bằng vàng, bạc hoặc đồng sau khi được chạm nổi, khắc chìm, rồi đem nung là hoàn thành. Cốt hoa văn được chạm nổi hoặc khắc chìm, đôi khi các đường nét hoa vàn chạm khắc này được thiếp vàng, bạc, hiện rõ xuyên qua lớp men pháp lam một màu như: vàng, lục, lam, tím… Loại hình pháp lam này lợi dụng tính chất của lớp men trong suốt hoặc trong mờ để biểu thị sự biến đổi của đồ án hoa vàn do độ sáng tối, đậm nhạc mà có.


áp ti pháp lang Trung Quốc


Nguồn gốc xuất xứ Pháp lam Huế

Pháp lam Huế tiếp thu kỹ nghệ Họa pháp lang của Quảng Đông, Trung Quốc. Quảng Đông là cửa ngõ du nhập công nghệ chế tác Họa pháp lang (Émaux hay Painted enamel) vào Trung Hoa. Khác với kỹ nghệ Kháp ti pháp lang (Cloisonné), từ xứ Byzantine du nhập vào Trung Hoa qua ngã Tây Vực theo vó ngựa viễn chinh của quân Mông Cổ, kỹ nghệ Họa pháp lang xuất xứ từ vùng Limoges ở Pháp và vùng Battersea ở Anh, du nhập vào Trung Hoa theo chân các tu sĩ dòng Tên vào cuối thế kỷ 17.

Kỹ nghệ này du nhập vào Việt Nam từ thời vua Minh Mạng (năm 1827). Bấy giờ, có một nhóm thợ vẽ ở Nội Tạo, cơ quan chuyên việc vẽ vời, trang trí trong cung Nguyễn, học được nghề làm pháp lam từ Trung Hoa.

Pháp lam Huế thuộc Họa pháp lang và một số vật dụng khác là đồ ký kiểu thuộc Kháp ti pháp lang được đặt mua tại Trung Hoa. Dựa trên các hiện vật pháp lam được trang trí trên các cung điện của triều Nguyễn và các hiện vật pháp lam hiện còn lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật cung đình Huế cũng như trong dân gian, có thể thấy pháp lam được sử dụng vào các mục đích chính sau đây:

* Pháp lam dùng trong trang trí ngoại thất các cung điện triều Nguyễn: Loại hình này thường thấy trên các bờ nóc, bờ quyết, cổ diềm tại các cung điện điển hình như ở điện Sùng Ân (lăng Minh Mạng); điện Biểu Đức (lăng Thiệu Trị); điện Hòa Khiêm (lăng Tự Đức); điện Thái Hòa (Đại Nội) và các nghi môn ở các lăng trên cũng như khu vực Đại Nội.

* Pháp lam dùng trong trang trí nội thất: Đó là những hoành phi, câu đối, bình, choé…

* Pháp lam gia dụng và pháp lam tế tự: Hiện vật nhóm này bao gồm các đồ dùng trong việc tế tự như lư hương, quả bồng, chân đế quả bồng, cơi trầu… và các đồ gia dụng như khay trà, tô, bát, tìm đựng thức ăn.


Pháp lam Huế

Sau gần 150 năm tồn tại, nhà Nguyễn đã để lại trên đất Huế một kho tàng di sản văn hóa đồ sộ. Trong đó, không thể không nhắc đến những sản phẩm pháp lam ở di tích Huế – một loại hình trang trên, đồng thời là những tác phẩm nghệ thuật – nay đã thất truyền về kỹ thuật chế tác, không còn dấu tích các lò xưởng và đang được nhiều nhà nghiên cứu, bảo tồn quan tâm phục hồi.

Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế hiện đang trưng bày 98 hiện vật pháp lam, bao gồm các vật dụng trong cung như: bát, ly, khay, đĩa, bình hoa, chum, hộp, quả bồng, lư hương, bát hương, chậu đựng cành vàng lá ngọc… Ngoài ra, pháp lam còn được dùng để trang trí các đồ áng rồng, máy, bát bửu, hoa điểu, thơ văn chữ Hán… trên các công trình kiến trúc khác ở cố đô Huế. Đa số những hiện vật pháp lam này đều do thợ thủ công Việt Nam, có thể có sự giúp đỡ của các nghệ nhân mời từ Trung Quốc làm ra. Một số ít hiện vật có khả năng ký kiểu hay mua ở Trung Quốc như những đồ sứ cùng thời.

Các tài liệu, thư tịch và hiện vật pháp lam ở bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, cũng như ở trên các công trình kiến trúc thời Nguyễn cho thấy kỹ nghệ chế tác pháp lam được nghệ nhân Việt Nam tiếp thu, sáng tạo, làm nên những sản phẩm tuyệt mỹ, những hiện vật vô giá được trưng bày, quản lý cẩn thận ở Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình và trên các di tích khác ở Huế. Pháp lam Huế có mặt ở các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Đãy là buổi thịnh thời của triều Nguyễn: quốc gia thống nhất, kinh tế ổn định. Triều đình lo việc xây dựng kinh đô, lập đền miếu, trang trí tô điểm cho đời sống đế vương. Để thực hiện công việc lớn lao đó, nhiều người đã được cử đi học nghề và kinh nghiệm ở Trung Quốc, đương thời là một quốc gia nổi tiếng về các nghề thủ công, mỹ nghệ. Do vậy, có thể một số đồ pháp lam đạ được mua về từ nước ngoài, trước khi nảy sinh nghề làm pháp lam ở Huế.

Hiện vật pháp lam ở Huế thuộc loại hình pháp lam hoạ. Do chỉ được sử dụng trong Hoàng cung Huế, nên thuật ngữ pháp lam Huế đã được dùng để gọi tên cho kỹ nghệ chế tác pháp lam ở Việt Nam vào thời Nguyễn. Trình độ kỹ thuật chế tác pháp lam thời kỳ này chưa đạt độ sắc nét, tinh xảo, màu sắc không đẹp như pháp lam ở các nước khác, nhất là Trung Quốc. Tuy nhiên, pháp lam Huế lại khẳng định dấu ấn sáng tạo của người Việt, của văn hoá Việt Nam, minh chứng cho nền kinh tế – chính trị những năm độc lập, tự chủ thời Nguyễn. Pháp lam được xem là một báu vật xa xỉ, quý hiếm, sang trọng, chỉ được dùng để trang trí ở những nơi cung điện, tôn miếu uy nghiêm như điện Thái Hoà (Đại Nội, Huế), điện Hoà Khiêm (làng Tự Đức), điện Biểu Đức (làng Thiệu Trị)… hoặc làm đồ dùng trong cung đình như bát, tô, đĩa, khay, chậu hoa, bình hoa, hộp trầu, hộp phấn… hoặc làm đồ tế tự như lư trầm, bát hương, quả bồng… Nguyên liệu pháp lam phải mua từ nước ngoài, kỹ thuật chế tác phức tạp, trải qua nhiều công đoạn, nên làm pháp lam rất tốn kém, đòi hỏi phải có một nền kinh tế vững chắc, ổn định. Chênh vì điều đó, pháp lam Huế không phát triển và dẫn đến thất truyền từ nửa sau thế kỷ XIX do chiến tranh xảy ra, kinh tế sa sút, kỹ nghệ đặc sắc này không còn được quan tâm như trước.

Những nỗ lực và tâm huyết

Trong nỗ lực trùng tu, tôn tạo các công trình kiến trúc thời Nguyễn – có dấu ấn của pháp lam Huế, nhiều nhóm chuyên gia bảo tồn đã dày công nghiên cứu chất liệu pháp lam cổ, xây dựng phương pháp, kỹ thuật chế tác trong điều kiện các thư tịch, bí quyết đều thất truyền. Sau nhiều năm nghiên cứu, trải qua vô số hoạt động thử nghiệm, nhóm nghiên cứu của Thạc sĩ Đỗ Hữu Triết (công ty cổ phần Kỹ nghệ Pháp lam Sao Khuê – Khuestar JSC) đã thành công và tự hào phục hồi – tôn vinh nét văn hoá – nghệ thuật độc đáo của dân tộc. Hơn một thế kỷ thất truyền, pháp lam Huế đang trở lại nhờ những bàn tay tài hoa của nghệ nhân hiện đại, tâm huyết của những con người yêu quê hương.

Pháp lam Huế ngày nay không dừng ở việc chế tác phục vụ trùng tu, bảo tồn các công trình kiến trúc thời Nguyễn và cũng không dừng lại ở loại hình hoạ pháp lam truyền thống. Khuestar JSC đang nỗ lực kết hợp pháp lam với các ngành mỹ nghệ khác như chạm, khảm… nâng lên thành những tác phẩm có giá trị về mặt hội hoạ và hàm lượng nghệ thuật cao.



Lịch sử tên gọi “Pháp lam”


Lư trầm, pháp lam nội thất Huế


Vấn đề này hiện đang còn được tiếp tục tranh luận bởi giới nghiên cứu về Huế.

* Dựa theo một số bài viết của cố họa sĩ Phạm Đăng Trí, những nhà sưu tập cắt nghĩa rằng: “pháp lam” bắt nguồn từ chữ “pha lang” do người Trung Hoa dùng để chỉ một loại đồ tráng men mà các nhà truyền giáo Tây phương trước kia hướng dẫn cho họ sản xuất rồi du nhập kỹ thuật sang Việt Nam. Sở dĩ chữ “pháp lam” phải trại ra từ chữ “pha lang” (france) là để tránh phạm húy chúa Nguyễn Phúc Lan…


Pháp lam ngoại thất Huế


* Một số nhà khảo cổ học cho rằng “Pháp lam” là loại đồ men Pháp, chữ “Pháp” ở đây được người Trung Hoa dùng đề chỉ chung người phương Tây chứ không riêng gì người Pháp…; chữ “lam” ngoài nghĩa thông thường chỉ màu sắc xanh lam, cây chàm… còn được Từ điển Hán Việt Thiều Chửu giải thích trong là soi, làm gương theo kiểu Pháp… Theo từ điển, Cảnh Thái lam là tên gọi sản phẩm mỹ nghệ dùng men tráng lên đồng hoặc thiếc… niên hiệu Cảnh Thái đời Minh Đại Tông, hàng được chế tạo tại Bắc Kinh, và gọi: Cảnh Thái lam…

* Ý kiến khác: “… Châu Âu trang trí cửa sổ bằng khung ghép hình và cùng với vật gia dụng tráng men trắng có lấm tấm hạt các màu xanh lục… Nghệ nhân Huế dưới triều nhà Nguyễn cũng chế tác mặt hàng nhiều mảng màu trên men, cốt đồng và nghĩ rằng nó có nguồn gốc từ “pháp lang sa” (Française) và do kiêng húy 2 Thượng Vương Nguyễn Phúc Lan (1635-1648) nên gọi là “Pháp lam”. Về việc đổi chữ “lang” thành “lam” đó là vì chữ Lang (瑯) có âm gần giống với chữ Lan (灡) trong tên chúa Nguyễn Phước Lan, nhất là phát âm theo lối Huế. Vì thế cần phải đọc trại đi để tránh phạm húy…

* Tạm gọi và hiểu: Sản phẩm này mang tính địa phương (Huế) cao và trong lịch sử chỉ thời Nguyễn mới sản sinh ra chúng. Chúng có liên quan đến một di tích nằm trong quần thể Di sản văn hóa thế giới (Cố đô Huế), đó là Pháp lam tượng cục. Dẫu không còn rõ nét trên thực địa nhưng tên gọi của cơ quan này vẫn còn ghi trong sử liệu. Thời xưa nghệ nhân Huế có sáng tạo trong quy trình công nghệ chế tác đồ pháp lam. Đây chính là cái giá trị văn hóa phi vật thể của loại đồ đặc biệt này và Luật di sản văn hóa buộc mọi người phải bảo vệ. Do đó không nên đổi tên gọi “Pháp lam” thành “đồ đồng tráng men”, cũng không nên viết chung chung “Pháp lam” mà phải viết rõ ràng “Pháp lam Huế” hay “đồ đồng tráng men thời Nguyễn” để khỏi nhầm với Pháp lang Trung Hoa.



Đèn gốm làng nghề Thanh Hà – Hội An


– Đến đô thị cổ Hội An (Quảng Nam), du khách sẽ được gặp thứ ánh sáng huyền ảo lung linh hắt bóng từ những chiếc lồng đèn gốm đặc biệt được trang trí ở hầu khắp các nơi. Đấy chính là thứ ánh sáng hình thành từ đất – nước – lửa – gió.

Gốm cũng có thể làm lồng đèn – một sáng tạo độc đáo của những nghệ nhân làng gốm có lịch sử 500 năm Thanh Hà. Từ đô thị cổ Hội An, đi thuyền ngược sông Thu Bồn khoảng hơn 1km, bạn sẽ đến một bến thuyền với cây đa cổ thụ và mái nhà tranh làm điểm dừng chân, nơi từ đó bạn bước vào tham quan làng gốm Thanh Hà.


Điều thú vị là du khách có thể tận mắt chứng kiến quy trình sản xuất gốm từ nhiều thế kỷ trước. Nghệ nhân Lê Trọng – 70 tuổi, người làm lồng đèn bằng đất nung đầu tiên tại đây – cho biết: “Ban đầu, chúng tôi thuê hoạ sĩ thiết kế mẫu lồng đèn. Sau đó cứ thế mày mò làm thêm các kiểu dáng… theo phương thức hoàn toàn thủ công”.

Thanh Hà vốn nổi tiếng là nơi sản xuất và cung cấp gạch, ngói lợp cho các ngôi nhà cổ ở Hội An – Di sản Văn hoá thế giới. Theo những người già, làng nghề hình thành từ những năm đầu thế kỷ 16. Sang thế kỷ 17, gốm Thanh Hà được biến đến qua các sản phẩm nổi tiếng vào thời đó với tên gọi chung là gốm “Cauchi”.

Dưới thời nhà Nguyễn (thế kỷ 19), nhiều nghệ nhân ở đây được gọi ra kinh đô Huế xây dựng cố cung, trong số đó có người được vua phong tước hiệu cao. Tên tuổi làng gốm Thanh Hà xứ Quảng sánh cùng Phù Lãng, Bát Tràng… xứ Kinh Bắc. Thời hưng thịnh, làng có cả ngàn thợ gốm. Tuy vậy, trước sự lấn át của gốm công nghiệp, gốm Thanh Hà một thời chìm vào quên lãng, suốt mấy mươi năm liền, làng nghề phải chuyển sang làm gạch ngói để tồn tại…


Chiếc lồng đèn gốm chính là sản phẩm đánh dấu sự trở lại của gốm Thanh Hà. Đó là một cách tự làm mới để tồn tại. Ban đầu, lồng đèn gốm đỏ được các nghệ nhân làng gốm làm ra cung cấp cho các doanh nghiệp du lịch tại Hội An trang trí nội thất. Kịp đến khi ý tưởng bảo tồn làng nghề truyền thống theo hướng biến làng nghề thành điểm tham quan du lịch, thì lồng đèn gốm nhận được sự chú ý đặc biệt, không chỉ “phủ sóng” các cơ sở du lịch Hội An mà còn theo chân du khách đi khắp nơi, phụng hiến thứ ánh sáng huyền diệu kia.

Lồng đèn gốm rất đa dạng kiểu dáng. Cũng nhờ vào việc quảng bá sản phẩm qua các tour du lịch đến Thanh Hà mà làng nghề nhận những đơn đặt hàng hàng ngàn sản phẩm lồng đèn gốm cho các doanh nghiệp du lịch khắp đất nước, từ TPHCM, Hà Nội, và cả xuất khẩu sang nước ngoài, theo mẫu mã của Cty Okinawa – Nhật Bản…


Mọi giá trị của lồng đèn gốm nằm trong sự giản dị và tài hoa, quá khứ và tương lai. Và bây giờ, bạn có thể biết, ánh sáng huyền diệu hắt bóng từ chiếc lồng đèn gốm chính là thứ ánh sáng của “tứ đại”: đất – nước – lửa – gió…


Gốm Chăm Bàu Trúc

Làng gốm Bàu Trúc (tiếng Chăm gọi là Palay Hamuk) nằm cách thị xã Phan Rang – Tháp Chàm khoảng 10km về hướng Nam. Toàn làng có 440 hộ với 2.887 nhân khẩu dân tộc Chăm, trong đó 80% số hộ gắn bó với nghề gốm truyền thống. Đây là một làng nghề vào loại cổ xưa nhất Việt Nam.

Theo truyền thuyết, nghề làm gốm do vợ chồng ông tổ Poklong Chanh dạy cho phụ nữ trong làng từ ngàn xưa. Để tưởng nhớ công ơn của tổ nghề, bà con lập đền thờ tổ chức cúng tế Poklong Chanh vào dịp lễ hội Katê hàng năm. Ngoài nghề làm ruộng lúa, chăn nuôi gia súc thì nghề gốm được xem là ngành sản xuất chính ở địa phương. Tuy chưa thể giàu lên từ nghề gốm nhưng nhiều gia đình có cuộc sống ổn định nhờ vào bàn tay tài hoa của những người thợ gốm thủ công.


Gốm Chăm Bàu Trúc

Cô gái Chăm chầm chậm đi quanh, đôi bàn tay ve vuốt nhẹ nhàng… Chỉ sau vài vòng đi của cô, dáng hình của chiếc bình đã dần dần hiện ra. Du khách ngẩn ngơ bởi vũ điệu khoan thai, thô phác mà dịu dàng. Chẳng cần lời ca, chẳng cần đèn, cần nhạc, bao đời nay, hàng ngày những cô gái ở làng gốm Chăm vẫn múa… Họ trình diễn một cách hồn nhiên vũ điệu của lao động, của cuộc sống bình dị…


Khác những loại gốm ở nhiều làng khác, gốm của làng gốm Chăm Bàu Trúc (Ninh Phước, Ninh Thuận) không tráng men, không kén nguyên liệu cao lanh, cũng không có lò nung bằng than hay bằng gas. Gọi là gốm cho sang trọng cũng được, gọi là đất nung thấp lửa như cách nói của các nhà chuyên môn cũng chẳng sao. Sản phẩm gốm của Bàu Trúc được tạo nên bằng đất nguyên sơ của quê hương rồi đem đốt cũng bằng rơm bằng trấu của chính mảnh đất này. Nếu có cần thêm một chút màu trang trí cũng chỉ vẩy thêm nước của vài loại lá cây lên sản phẩm khi còn chưa nguội. Nhưng đó chưa phải là nét độc đáo nhất của vùng nghề này.

Du khách đến Bàu Trúc đều ngạc nhiên vì đi khắp cả làng mà không thấy nhà nào có bàn xoay, một công cụ gần như đặc trưng của các làng nghề gốm. Cô gái Chăm chỉ cần đất được nhồi kỹ và một mặt phẳng là đủ các điều kiện để chế tác sản phẩm. Họ uyển chuyển đi vòng tròn quanh khối đất. Đất thì nằm yên còn họ thì khoan thai, đều đặn di chuyển vòng quanh và thao tác từ tốn bằng đôi tay.


Có lẽ trời đã phú cho những người con gái Chăm cái năng khiếu cảm nhận đặc biệt qua đôi bàn tay về sự đều đặn, về sự tròn trịa để đôi tay của họ có thể thay được cả chiếc bàn xoay trên mỗi bước vừa đi quanh vừa nặn gốm. Nhịp điệu của chuyển động, độ nông sâu, nặng nhẹ của từng nét vuốt ve… chỉ có những cô gái Chăm mới có thể hiểu được. Không dùng bàn xoay nhưng những sản phẩm ở đây vẫn đạt độ tròn gần như tuyệt đối. Cái khả năng cảm nhận tinh tế đó từ bàn tay mẹ truyền qua bàn tay con gái, đời nối đời, chưa bao giờ dứt. Kinh nghiệm truyền qua nhiều đời đã hoà vào dòng máu của từng người con gái Bàu Trúc.

Vừa đi quanh vừa nặn gốm, ngôn ngữ hình dáng cơ thể của người con gái như giao hoà, đồng điệu với dáng dấp chiếc bình mà cô sắp tạo ra. Vài sợi tóc xoã vương trên khuôn mặt đang cúi chăm chú, khuôn ngực trẻ căng tròn thấp thoáng qua những vòng xoay, eo hông uyển chuyển trên mỗi bước đi… Khâu tạo hình đã hoàn tất, cô gái dùng khăn ướt để xoa bóng bề mặt chiếc bình. Tiếp sau có thể dập hoa văn trang trí lên thân bình, cũng có thể để trơn, hong khô rồi đem đốt ở trong vườn, ở ngoài đồng rìa làng.

Mọi người ở đây đều nôm na gọi cách đi quanh để làm gốm là đánh vòng. Cách đánh vòng của phụ nữ Chăm làm gốm thật giản dị, năng suất lao động có vẻ không cao như làm gốm bằng bàn xoay nhưng trên từng sản phẩm của họ, dấu vết lao động còn in hằn rõ nét. Màu của gốm cũng chất phác, giản dị như màu đất quê hương. Những chiếc vò, chiếc lu của người Bàu Trúc được làm nên bởi kỹ thuật đánh vòng đã phục vụ cho đời sống đồng bào Chăm bao đời. Chẳng biết do đâu mà nước đựng trong những chiếc lu giữa vùng đất ít mưa, nhiều nắng, nhiều gió mà lúc nào cũng mát như để trong tủ lạnh.


Những chiếc lu, chiếc vò và vũ điệu đánh vòng giản dị đã làm nên nét bản sắc văn hoá của một vùng dân tộc. Những sản phẩm gốm Bàu Trúc từ bao đời đã thân thuộc với các gia đình đồng bào Chăm và cả đồng bào Kinh ở Ninh Thuận. Nay bà con đã biết đánh vòng để làm thêm nhiều sản phẩm khác – những sản phẩm gốm mỹ nghệ phục vụ du lịch, thương mại và cả xuất khẩu. Bây giờ những sản phẩm gốm mỹ nghệ ở Bàu Trúc đã là một nguồn thu đáng kể. Mỗi sản phẩm đều có giá bán nhất định nhưng trước hết và cao hơn là những giá trị văn hoá ẩn chứa ở trong đó. Mỗi du khách đến đây đều chọn cho mình một vài sản phẩm làm đồ lưu niệm. Họ muốn mang về, chiêm ngưỡng và lưu giữ những nét văn hoá đặc sắc của một làng, của một nghề và của những con người bình dị nơi đây… Và còn bao nhiêu người nhớ cô gái Chăm đánh vòng làm nên gốm



gốm miền đông Nam Bộ

gốm Bình Dương

Gốm Lái Thiêu – Gốm gia dụng miền nam

Gốm Lái Thiêu” là cách gọi phổ biến (đã định danh) để chỉ chung các loại sản phẩm gốm được sản xuất từ các làng nghề ở đất Thủ Dầu Một xưa, nay là tỉnh Bình Dương gồm có: Lái Thiêu, Chòm Sao/Hưng Định (huyện Thuận An), Bà Lụa/Chánh Nghĩa (thị xã Thủ Dầu Một), Tân Khánh (Tân Uyên)…



Từ cuối thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX, Lái Thiêu đã là nơi tập trung và phân phối sản phẩm gốm đi tứ xứ qua phương tiện vận tải đường sông và đường bộ. Vì vậy, tên gọi “Gốm Lái Thiêu” được nổi danh khắp cả hai miền Nam, Trung và sang cả vùng Cambodia và một số nước khu vực Đông Nam Á.

Đây là lý do, cũng là dịp để Bảo tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh và các nhà sưu tập yêu sản phẩm “Gốm Lái Thiêu” góp phần thiết thực vào hoạt động phục vụ nhiệm vụ chính trị cũng như bảo tồn những giá trị di sản văn hóa dân tộc.






Gốm sứ Bình Dương ngày nay – phóng sự ảnh

Cùng với các làng nghề gốm sứ Bát tràng, Tràng An, Biên Hoà… gốm sứ Bình Dương cũng nổi tiếng trong và ngoài nước. Bình Dương hiện có gần 200 cơ sở làm nghề gốm sứ ở xã Thuận Giao, huyện Thuận An, huyện Tân Uyên… Tuy nhiên, gốm sứ Bình Dương đang tồn tại 2 thái cực trái ngược nhau. Một bên là hàng trăm cơ sổ gốm sứ truyền thống với các lò nung bằng củi, than đá, sản xuất theo phương pháp thủ công. Một bên, đại diện là gốm sứ Minh Long, với những ứng dụng máy móc,  dây chuyền sản xuất hiện đại.

Việc bảo tồn một ngành nghề truyền thống và việc ứng dụng khoa học kỹ thuật tân thời để đưa gốm sứ Bình Dương vươn ra thị trường quốc tế cũng là một bài toán nan giải.

Nhằm tôn vinh giới thiệu một trong những nghề truyền thống có từ lâu đời và nổi tiếng đặc sắc của tỉnh Bình Dương; đồng thời khẳng định vị trí, tiềm năng của nghề gốm sứ trong định hướng phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Bình Dương hiện tại và tương lai, UBND tỉnh đang lên kế hoạch tổ chức Festival Gốm sứ 2010 vào tháng 9/2010.

Đây cũng là cơ sở, điều kiện hình thành Trung tâm bảo tồn gốm sứ Việt Nam sau này.

Cuối tuần qua, đi cùng với Sở Thông tin truyền thông khảo sát một số địa điểm để làm đề án cho “Festival gốm sứ Việt Nam – Bình Dương 2010”, PVDân trí đã kịp ghi lại một số hình ảnh đẹp về nghề làm gốm sứ độc đáo tại địa phương này.


Cổng của một lò gốm thủ công được trang trí bằng những sản phẩm bằng gốm sứ lỗi, hỏng.


Quy trình làm gốm bắt đầu từ việc chọn mẫu đất.


Đất lên khuông


Mang bán thành phẩm đi phơi nắng


Lựa chọn, kiểm tra rất kỹ trước khi đưa nung.


Đưa vào lò nung


Lò nung kiểu cũ vẫn đun bằng củi, than đá.


Ra lò…


Những công nhân đang tô điểm cho những sản phẩm đã ra lò. 
Các làng nghề gốm sứ đã tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động trong và ngoài địa phương.



Thành quả cuối cùng là những sản phẩm đẹp mê hồn…



… sẵn sàng cho những cơ hội xuất ngoại.


gốm Biên Hoà - Đồng Nai

Gốm Biên Hòa – Đồng Nai xưa và nay

Nghề gốm là làng nghề truyền thống của vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai. Ra đời khoảng đầu thế kỷ XX, gốm Biên Hòa ngoài kỹ thuật chế tác bắt nguồn từ gốm bản địa, còn tiếp thu kỹ thuật tạo tác từ gốm Cây Mai (Sài Gòn) và kỹ thuật làm gốm của người Hoa từ sau năm 1679, tạo nên một dòng đặc sắc với nhiều làng gốm nổi tiếng.



Giai đoạn phát triển rực rỡ của gốm mỹ nghệ Biên Hòa từ năm 1923 đến đầu những năm 1960. Nhiều lần sản phẩm gốm Biên Hòa tham dự Hội chợ triển lãm quốc tế về mỹ thuật trang trí vào những năm 1925, 1932, 1934, 1938, 1942 tại Paris (Pháp), Nhật Bản, Indonesia, Hà Nội và Sài Gòn, các lần tham dự hội chợ triển lãm đều được ban tổ chức trao huy chương vàng, bằng khen…


Năm 1903, trường Mỹ nghệ Biên Hòa được thành lập (ngày nay là trường Cao đẳng trang trí mỹ thuật Đồng Nai) gốm Biên Hòa bước vào giai đoạn phát triển mới với việc tiếp thu kỹ thuật tạo gốm của phương Tây. Ban đầu gốm Biên Hòa được tráng men Pháp nhưng men phương Tây tráng lên gốm phương Đông không phù hợp nên bà Marie Balick (tốt nghiệp trường gốm Limoges, phụ trách ban gốm trường Mỹ nghệ Biên Hòa) đã lập nhóm nghiên cứu men mới, chỉ dùng nguyên liệu trong nước như: đất sét Bình Phước, đá trắng An Giang, vôi Càn Long, tro rôm, tro củi, tro trấu và thủy tinh, mạt đồng, đá đỏ (đá ông Biên Hòa) và bột màu cobalt để tạo màu lên men; làm nên màu men độc nhất của gốm Biên Hòa: men xanh đồng của Biên Hòa (vert de Bien Hoa). Gốm Biên Hòa còn sử dụng màu đá đỏ, màu trắng rất được ưa chuộng. Đất làm gốm được lấy từ Sông Bé (Bình Phước) đem làm nhão hay hóa lỏng rồi in lên khuôn thạch cao. Đến năm 1960, kỹ thuật rót khuôn mới được phổ biến khi các chuyên gia Nhật Bản đến làm tư vấn cho trường Mỹ nghệ Biên Hòa. Sản phẩm gốm Biên Hòa được nung ở nhiệt độ khoảng 1.3000C. Đặc trưng chính của gốm Biên Hòa là trang trí theo kiểu chạm khắc chìm phối hợp men màu, tráng men dày kể cả phông nền. Đây là ưu thế để gốm Biên Hòa nhanh chóng khẳng định phong cách độc lập trong sáng tạo và xu hướng riêng biệt. Các sản phẩm gốm Biên Hòa cũng rất phong phú về kiểu dáng, đa dạng về chủng loại. Một trong những dòng sản phẩm gốm Biên Hòa được ưa chuộng nhất là tượng. Tượng gốm được các nghệ nhân chú trọng khai thác, sáng tạo bằng tất cả sự ngưỡng vọng và tâm hồn hướng tới chân – thiện – mỹ. Ngoài những mẫu tượng Phật, Bồ tát do nghệ nhân bản xứ sáng tác còn có các mẫu tượng mang phong cách văn hóa các dân tộc khác nhau, hoặc theo cùng dòng chảy tín ngưỡng dân gian như tượng Lão Tử, Khổng Tử. Đối với các sản phẩm dùng trong sinh hoạt như: bình hoa, chậu kiểng, chóe… cũng rất đẹp mắt.



Năm 1933, nhận thấy gốm Biên Hòa của trường Mỹ nghệ Biên Hòa được người tiêu dùng ưa chuộng, trường đã thành lập hợp tác xã (HTX) Mỹ nghệ, thâu nhận các học sinh tốt nghiệp làm thợ gốm. 



Chính từ HTX này gốm Biên Hòa đã được phổ biến rộng rãi và xuất khẩu đến nhiều nước trên thế giới. Đến năm 1950, sau khi ông bà Balick về Pháp, HTX Mỹ nghệ tách ra khỏi trường, trở thành các đơn vị sản xuất gốm tự lập, một số thợ của HTX trước kia về sinh sống ở Tân Vạn, Tân Thuận, Hòa An (Đồng Nai)… và thành lập các xưởng sản xuất gốm tại nhà, kể từ đó gốm Biên Hòa bước sang một giai đoạn mới và phát triển nhanh cho đến ngày nay. Hiện nay, làng gốm Biên Hòa có khoảng 70% cơ sở mang tính gia đình.

Cùng với gốm Cây Mai (Sài Gòn) và gốm Lái Thiêu (Bình Dương), gốm Biên Hòa đã tạo thành dòng gốm mang phong cách Nam bộ, đánh dấu một giai đoạn phát triển lịch sử của nghệ thuật làm gốm tại miền Nam trong thời cận và hiện đại. Ngày nay, gốm Biên Hòa với nghĩa hẹp là sản phẩm của trường Mỹ nghệ Biên Hòa trở nên hiếm hoi. Mấy chục năm trở lại đây, sản phẩm gốm Biên Hòa đã trở thành “của hiếm” trên thị trường và được giới sưu tập gốm ở Việt Nam và trên thế giới ưa chuộng.

Chào mừng kỷ niệm 310 năm Biên Hòa – Đồng Nai, ngày 28-10-2008, Bảo tàng Đồng Nai (số 1 Nguyễn Ái Quốc, TP. Biên Hòa) đã tổ chức trưng bày triển lãm Gốm Biên Hòa bao gồm 160 sản phẩm gốm được chế tác từ năm 1903 – 1975. Bộ sưu tập quý giá này thể hiện sức sống văn hóa, sáng tạo và sự tài hoa của những nghệ nhân Biên Hòa, đặc biệt là những nghệ nhân xuất thân từ trường Mỹ nghệ thực hành Biên Hòa – ngôi trường vừa tròn 105 tuổi; nơi đào tạo nhiều thế hệ tài năng cho nghề gốm truyền thống của Biên Hòa – Đồng Nai.



gốm miền Tây Nam bộ

gốm Cổ Chiên - Vĩnh Long

Bên bờ bắc của dòng sông Cổ Chiên êm đềm, mang nặng phù sa của tỉnh Vĩnh Long đã tồn tại một làng nghề với truyền thống lâu đời hơn 100 năm nay. Ban đầu chỉ là làng nghề chuyên sản xuất gạch ngói, và nghề làm gốm mỹ nghệ chỉ thực sự xuất hiện trong vòng 15 năm trở lại đây.



Dòng Cửu Long trĩu nặng phù sa, đổ về hạ lưu bằng hai nhánh sông Tiền, sông Hậu và thoát ra biển với 9 cửa sông, hàng năm mang về cho bình nguyên Nam Bộ 5 triệu mét khối phù sa. Những hạt phù sa đỏ ối, nhẹ nằm ở phần trên bổ sung nguồn dinh dưỡng những cánh đồng lúa ngàn, cho những vườn cây bốn mùa hoa trái; những hạt cát rắn nằm lại giữa dòng tạo ra những cồn bãi, thành “kho” vật liệu xây dựng; có những phù sa mịn, chìm sâu vào lòng đất hình thành những mỏ đất sét. Những hạt sét mịn màng nhất, cần cù nhất đã vượt hàng ngàn cây số từ thượng nguồn về tụ lại ở nơi trung đồng bằng Nam Bộ để hình thành những mỏ đất sét quý, ban tặng cho người Vĩnh Long.


Trăm năm… gạch ngói

Hơn thế kỷ rưỡi qua người Vĩnh Long đã tận dụng đất sét để tạo ra một làng nghề lớn nhất vùng đồng bằng này: làng nghề gạch ngói, thu hút trên 2 vạn lao động. Dân gian thường gọi là “Vương quốc gạch ngói”. Từ cầu Mỹ Thuận nơi sông Tiền tách dòng Cổ Chiên, kéo dài 30 cây số đến vàm sông Mang Thít, trên 1.000 lò gạch mọc lên như một thành phố cổ.

Lò gạch xuất hiện trên thế kỷ. Theo tài liệu chép tay của một người Pháp tên Bataillel có tựa đề “Notice sur L’arrondissement de Vinh Long” (Ghi chép về Hạt Vĩnh Long) đề ngày 11-6-1887, phúc đáp cho Ngài Giám đốc Nội chính, có ghi lại như sau: “Có 1 lò gạch ở thôn Tân Hoa, tổng Bình An (nay là xã Tân Hòa, thị xã Vĩnh Long) và 2 lò ở thôn Thanh Mỹ Đông (nay là phường 5, thị xã Vĩnh Long). Lò hình vuông hay hình tổ ong, mỗi mẻ lò chỉ sản xuất khoảng 1.000 viên”.


Từ xuất phát ấy đến năm 1995, Vĩnh Long có hơn 900 lò gạch tròn năng suất 20.000 viên gạch ngói qui chuẩn cho một chu kỳ 2 tháng, với tổng sản lượng 500 triệu viên/năm. Làng gạch trải dài 30km thuộc thị xã Vĩnh Long, huyện Long Hồ và huyện Mang Thít, ven sông Cổ Chiên (một nhánh sông Tiền). Năm 1995, làng gạch ngói có thêm Nhà máy tuynen sản xuất theo dây chuyền công nghiệp hiện đại, nhiên liệu đốt bằng dầu DO. Suốt thập niên 90 của thế kỷ trước, làng gạch ngói bùng phát dữ dội hình thức lò un, lò bắc, chất lượng gạch không tốt, phát triển không theo quy hoạch, gây ô nhiễm môi trường. Điều này có lý do của nó: thời kỳ đổi mới diễn ra, kinh tế phát triển nhanh, nhu cầu xây dựng lớn. Chuyện chạy theo lợi nhuận, cạnh tranh không lành mạnh như kiểu lò un, lò bắc làm làng nghề gạch ngói lao đao.



Những ý tưởng đầu tiên về gốm

Năm 1978 Vĩnh Long có HTX gốm dân dụng ở Tam Bình, nhưng do chất đất không thể cạnh tranh gốm Lái Thiêu nên chỉ tồn tại vài năm. Người viết còn giữ một kỷ vật của họa sĩ Lê Triều Điển tặng, đó là tượng gốm bán thân của nhà soạn nhạc vĩ đại Môda. Lúc ấy anh sáng tác rất nhiều mẫu gốm đẹp và nung ở lò của ông Bùi Công Phiệt.

Sau đó, Long Hồ cũng có xí nghiệp gốm mỹ nghệ… nhưng cũng không tìm được thị trường, tiếp tục phá sản. Khoảng năm 1990, một công ty của Đức liên doanh với Xí nghiệp Gốm mỹ nghệ thành lập liên doanh UP (United Poterie s), sản xuất gốm đỏ theo công nghệ Đức. Công nghệ họ giữ rất kỹ, không có người Việt Nam nào có thể tiếp xúc được.

Đến năm 1997, ba người bạn Nguyễn Tấn Nghĩa, Nguyễn Phước Lộc và Tư Khiêm thử đem gốm mỹ nghệ nung trong lò gạch truyền thống và họ đã thành công. Anh Nguyễn Tấn Nghĩa kể lại: “Phải nói rằng tôi làm nghề gốm cũng có cái “duyên” với đất. Hồi ấy, tháng 5 năm 1997, làm gạch ngói lao đao vì giá quá thấp. Lò un, lò bắc cạnh tranh không thể chịu nổi. Cái thời “Vương quốc gạch ngói” chiếm lĩnh thị trường đồng bằng không còn. Các tỉnh trong khu vực có nhà máy tuynen. Ba anh em chúng tôi là những người trong Ban chấp hành Hiệp hội gạch ngói, vừa có trách nhiệm với chính bản thân mình và đồng nghiệp. Trăn trở lắm nhưng không có lối ra. Có lúc chúng tôi có ý định chuyển nghề. Chúng tôi đi miền Đông, Tây Nguyên, rồi Sóc Trăng tìm hướng làm ăn. Thế nhưng có một người bạn làm gốm ở Bình Dương khuyên chúng tôi làm gốm, ông sẽ bao tiêu cho. Nhưng đất và lò của người ta khác, đất và lò của mình khác. Thôi thì về mày mò nghiên cứu mà làm”. Mẻ đầu tiên thành công. Chỉ dùng đất làm gạch mà sản xuất gốm. Loại đất ấy chỉ ra gốm đỏ, thị trường Ôxtrâylia và châu Á tiêu thụ loại gốm này, nhưng châu Âu lại thích gốm vàng sáng màu phèn lam… đất sét vàng cho màu gốm đỏ, đất sét đen cho màu gốm vàng…

Anh Nguyễn Tấn Nghĩa kể lại một thất bại rất… dễ thương. Số là sau khi nung gốm đỏ thành công trong lò gạch truyền thống. Loại lò này có độ cao hơn 7m, dung tích trên 2.000m3, nhưng sản phẩm gốm thì nhỏ và thấp, do đó khi vô lò khoảng trống phần trên là rất lớn. Như vậy thì lãng phí nhiên liệu quá không? Nghĩ vậy anh bắt đầu phá thử một lò cũ, xây lại một lò nhỏ hơn, kết quả là thất bại thê thảm. Anh lại xây lò khác, cũng thất bại và lần thứ ba xây lại cái lò như cũ. Bây giờ nhắc lại chuyện này anh rất thấm thía, bởi lẽ những lò gạch xuất hiện đầu tiên ở làng Tân Hòa, Thanh Mỹ như ở đầu bài viết là lò nhỏ, dạng hình tổ ong. Hơn thế kỷ, người làm gạch Vĩnh Long đã cải tiến không biết bao nhiêu lần để có hình dạng như hiện nay. Bí ẩn là ở chỗ, chỉ ở kích thước này, với nhiên liệu trấu mới có thể đưa nhiệt độ lò lên 9000C, và ở nhiệt độ ấy, đất Vĩnh Long mới có thể kết khối thành gạch, ngói, gốm…

Làng gốm hình thành ấy là do người Vĩnh Long hiểu đất Vĩnh Long.

Đi dọc Tỉnh lộ 31, tôi không tìm đâu ra một chỗ khai thác đất như những năm trước đây, vì vùng khai thác đất sét đã hết, đến cánh đồng của xã Mỹ Phước (Mang Thít) mới tìm được một lô đất mà ông Đặng Văn Hai (Hai Đạo) đang khai thác. Ông mua một lớp đất sét dày 40cm với giá 3,5 triệu đồng một công. Đây là vùng đất gò, nổng rất khó lấy nước trồng lúa. Công nhân khai thác phải dùng nề gạt lớp đất mặt (tầng canh tác) dày 30cm bỏ qua một bên trả lại cho chủ (nếu có lấy thì cũng không làm gốm được) sau đó thì dùng nề xắn mỗi cục 30cm2 . Nề là cái cung hình chữ U, hai đầu chữ U có căng cọng dây thép cỡ 3mm thay cho lưỡi leng xắn đất. Những công nhân đẩy trẹt sức chứa cỡ nửa mét khối đất vào ruộng. Họ xắn những khối đất cỡ 20kg, rồi đưa ra bờ kinh. Ở đây có một cối ép gạch thành “mê” mỗi cục 6kg. Công nhân làm từ 5 giờ đến 9 giờ thì nghỉ. Chỉ tiêu mỗi người 3 trẹt. Chiều làm 3 giờ nữa. Thu nhập mỗi ngày 40.000đ. Đất sét khai thác trên đồng có 3 màu rõ rệt: đất gò, nổng sâu trong đồng có màu vàng đậm rất dẽ dặc, đây là đất làm gạch truyền thống, cho sản phẩm có màu đỏ đậm; đất mỡ gà ít vàng hơn, cho sản phẩm có màu vàng đỏ; đất sét đen cho sản phẩm có màu vàng sáng… Mấy anh công nhân khai thác nói đùa: “Hồi xưa ông bà dạy chúng tôi, ráng học hành, không thôi sau này “cạp đất mà ăn”. Bây giờ chúng tôi đang cạp đất!” Cạp đất mỗi ngày 40.000đ. Chiều còn rảnh làm việc nhà thì cũng nên quá đi chớ. Nói như ông Hai Đạo, hết thửa đất này tôi đi mua đất khác khai thác quanh năm thì hàng tháng ông cũng vô bạc triệu.

Pha đất

Nhiều ghe khai thác đất như kiểu ông Hai Đạo, bán đất mê, đậu kín bên sông của Công ty trách nhiệm hữu hạn Năm Vàng. Đất chuyển lên kho bằng thanh truyền và được một chuyên gia phân loại, ra giá và xếp thành khối riêng theo màu sắc. Lại một chuyên gia khác, chuyên pha đất có nhiệm vụ chỉ cho công nhân xếp từng chồng đất đủ màu bên cối ép để nhào đất cho thật mịn. Tùy theo sản phẩm mà người ta pha đất theo kinh nghiệm riêng. Công đoạn này rất quan trọng, theo anh Đường một chuyên gia loại này cho biết: độ nhót (co giãn giữa sản phẩm mộc và thành phẩm), độ cứng, màu sắc đều phụ thuộc vào công đoạn pha đất. Pha xong phải nhào nặn 4 lần cho thật mịn, đến nỗi sờ tay vào không dính thì mới đạt. Từ đây người ta chở từng khối lên cho công nhân in.

Tạo mẫu, làm khuôn in và xu

Công đoạn này là công việc của những họa sĩ. Các mẫu gốm của khách hàng nước ngoài thường đặt theo catơlô. Từ Catơlô họa sĩ tạo ra một mẫu bằng thạch cao y như mẫu thật. Thực ra mẫu này thường lớn hơn sản phẩm; lớn hơn bao nhiêu phải tính toán theo độ nhót của đất sau khi nung, hoặc 5%, 6% gì đó. Có mẫu rồi thì đổ khung thạch cao làm khuôn. Thợ in dùng đất pha sẵn ép vào khuôn. Khuôn có thể có nhiều mảnh ghép lại. Người thợ phải ép đất vào từng mảnh, cuối cùng ghép lại thành một tổng thể sản phẩm. Sản phẩm thường rỗng ruột, người thợ in phải dùn g nề cắt đất ra thành một miếng “bánh da lợn” dày cỡ một vài phân tùy yêu cầu, trước khi ép khuôn. Người mới vào nghề cắt “bánh” dính tay nên phải dùng một cái bao để di chuyển “bánh”, nhưng thợ lành nghề họ cắt một miếng cỡ nửa mét vuông cầm không dính tay. Ép xong để cho ráo mới dở khuôn ra cho người xu. Thợ xu làm láng sản phẩm bằng cách nhúng nước cái “bông đá” học trò lau bảng chà lên sản phẩm, chỉnh lại các họa tiết cho sắc sảo. Anh Ba Nghĩa nói: “Nếu đào tạo công nhân lành nghề ở khâu này, tức là làm cho các chi tiết sản phẩm, các họa tiết tỉ mỉ hơn, sắc sảo hơn thì giá trị có thể nâng lên gấp 3 lần. Công nhân ở làng nghề của chúng ta tay nghề chưa cao!”.


Thợ lửa

Ba yếu tố sống còn của sản phẩm gốm: kích cỡ lò, pha đất và kỹ thuật nung. Thợ lửa xưa nay vẫn là nghề bí truyền. Tôi cố gắng lắm cũng chỉ tìm ra được nguyên tắc của nghề ấy mà thông tin cho độc giả. Nếu biết được thì chắc tôi cũng đã làm thợ lửa. Vô lò cũng là kỹ thuật, người vô lò biết vị trí nào “lửa hỗn”, chỗ nào lửa yếu, chỗ nào nhiệt độ lò ổn định mà bố trí từng loại sản phẩm lớn nhỏ khác nhau. Chỗ “lửa hỗn” quá thì chèn thêm gạch, ngói che lại… Quy trình nung gốm diễn ra trong 7 ngày. Bốn ngày đầu đốt lò từ từ, chủ yếu là hun hơi nóng cho hơi nước chứa trong sản phẩm ra khỏi lò, nói nôm na là làm khô sản phẩm thôi, nhiệt độ từ 100 – 200 độ C là được. Thực ra nếu ta lấy trấu đốt ngoài trời thì nhiệt độ chỉ 200 độ C là cùng. Ngày thứ năm tăng tốc, ngày thứ sáu tăng tốc để ngày cuối cùng đạt 900 độ C. Đối với những sản phẩm đặc biệt cần nâng cao nhiệt độ hơn thì người ta dùng xamốt (một loại ôxuýt sắt giống như đá ong) rải trên sản phẩm trong lò. Khi đạt đến nhiệt độ cần thiết, sản phẩm gốm thường là 9000C thì sản phẩm kết khối, đất chuyển sang đá, người ta gọi đó là nhiệt độ kết khối, lúc này ngưng đốt, bít lò bằng đất sét cứ để cho lò nguội dần, rồi ra lò. Cái bí quyết của người thợ lửa là ở chỗ họ gạc lửa theo tầng suất nào, ta chỉ thấy lâu lâu họ gạc than để khêu cho lửa cháy. Họ làm theo thói quen mà chẳng cần đo nhiệt kế và có thể nhiều người trong họ chẳng hiểu gì nhiều cái nguyên tắc mà tôi viết dài dòng ra đây.

Đưa công nghệ vào gốm

Đến doanh nghiệp Nam Hưng tôi bắt gặp những sản phẩm gốm đen, gốm nâu, gốm trắng như gốm mộc. Các sản phẩm có thể pha trộn nhiều chất liệu đen, đỏ, vàng, nâu, điểm men… Sáu sản phẩm của Nam Hưng đạt danh hiệu sản phẩm tiêu biểu 30 năm theo môtuýp như vậy. Anh Nguyễn Phước Lộc nói với tôi: “Từ chất liệu gốm nâu, đen tôi có thể bắn cát cho nó “phong hóa” như đã trải qua ngàn năm tồn tại của gốm cổ Phù Nam. Người Vĩnh Long hiểu đất, làm chủ chế độ nung bằng công nghệ nung thì có thể tạo ra bất cứ sản phẩm nào mà khách hàng yêu cầu!”. Sở Công nghiệp cũng đã có công trình nghiên cứu điểm men trên nền gốm đỏ. Bản thân doanh nghiệp Nam Hưng cũng đầu tư công nghệ tạo bước đột phá cho gốm Vĩnh Long.


Họa sĩ và gốm

Họa sĩ Lê Triều Điển xuất thân từ sơn dầu, nhưng thành công nhất là gốm. Đó là nhận xét của đồng nghiệp về anh. Người mời nghệ sĩ cộng tác đầu tiên là anh Ba Nghĩa. Các nghệ sĩ Vĩnh Long như Thế Đệ, Đặng Can, Đình Vĩnh, Bửu Lộc… đã làm việc ở đây và sau đó cộng tác với nhiều doanh nghiệp khác. Anh Điển vận động nhiều trại sáng tác của các họa sĩ thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang và có rất nhiều các cuộc triển lãm ở thành phố Hồ Chí Minh trên chất liệu gốm Vĩnh Long. Hiện nay các họa sĩ Tiền Giang đang mở trại sáng tác ở lò Nam Nhiên (Thanh Đức).

Các anh cho chúng tôi biết, sáng tác để mở triển lãm tại Mỹ Tho, Tỉnh ủy Tiền Giang rất quan tâm. Ngày 12-7, một cuộc triển lãm gốm mỹ thuật Vĩnh Long qui mô lớn tại Khu du lịch Văn Thánh, thành phố Hồ Chí Minh.

Làng nghề chúng ta đang phát triển theo những đơn hàng đặt từ nước ngoài. Chất xám của họa sĩ chỉ tham gia vào tạo mẫu, tạo họa tiết trên sản phẩm, cần có thêm sản phẩm gốm theo văn hóa của chúng ta, trên cái hồn đất vốn có của nó. Đó chính là phát huy sắc gốm không thể trộn lẫn. Vì thế, trong tương lai, họa sĩ, nghệ nhân, công nhân mỹ thuật đóng vai trò rất quan trọng.

Sắc gốm Vĩnh Long

Có người hỏi gốm Vĩnh Long có gì đẹp hơn gốm Bình Dương, gốm Bát Tràng, gốm Giang Tây? So sánh như vậy là khiên cưỡng, vì mỗi chất liệu có vẻ đẹp riêng. Cũng không nên so sánh giữa gốm mỹ thuật với gốm dân dụng.

Anh Lê Triều Điển nói: Thiên nhiên ban tặng cho người Vĩnh Long một tài nguyên đất sét và dĩ nhiên là nó không giống ai, không vùng đất nào có nó. Người Vĩnh Long sống với đất và đẻ ra làng nghề gạch ngói. Bao thế hệ sáng tạo và đúc kết thành một kỹ thuật nung đất tuyệt vời: lò gạch. Nhiên liệu nung từ sản phẩm đặc trưng của vùng lúa nước: trấu. Người Vĩnh Long có nền văn hóa đặc thù đồng bằng. Màu đặc trưng của gốm Vĩnh Long là màu của rơm rạ. Điều thật kỳ lạ hay nói đúng hơn là một phát minh thầm lặng của bao thế hệ: lò gạch Vĩnh Long, đốt trấu quê mình, và đất Vĩnh long chỉ kết khối ở nhiệt độ 900 độ C. Kỳ lạ vì nó có vẻ ngẫu nhiên, nhưng đó là quá trình tìm tòi và khám phá. Đó là hồn gốm Vĩnh Long. Nói về gốm Vĩnh Long anh Ba Nghĩa tóm thật gọn trong câu: “Người hiểu đất!”





gốm  An Giang


gốm cổ truyền Khmer - An Giang

Hầu như phần lớn các gia đình dân tộc Khmer ở sóc PhnomPu (huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang) đều tham gia chế tác gốm. Nghề gốm ở đây có quy mô nhỏ theo hộ gia đình. Nghề làm gốm thường được tiến hành vào thời điểm nông nhàn, thường là vào mùa khô và do phụ nữ đảm nhiệm các công đoạn.

Đất làm gốm thường được khai thác dưới chân núi Nam Quy, cách sóc hơn 1 km. Theo bà con Khmer thì ở Tri Tôn chỉ có đất ở ven núi Nam Quy mới làm được đồ gốm. Đó là một loại đất sét xám, pha nhiều cát mịn, đào những hố sâu xuống 1,5 m thì gặp lớp đất sét làm gốm. Đất khai thác làm gốm sau khi mang về nhà được luyện kỹ trên một tấm gỗ hoặc đá nhằm loại bỏ các hạt sạn và sỏi cũng như làm tơi mịn. Tiếp theo, người ta đem nhồi đất với nước theo một tỷ lệ nhất định để cho quánh và dẻo nhưng không được ướt quá hay khô quá vì như thế sẽ khó tạo hình cho gốm. Công việc tạo hình gốm đòi hỏi sự khéo léo của những người phụ nữ lớn tuổi và có kinh nghiệm. Sản phẩm gốm ở Tri Tôn khá đa dạng như các loại nồi, ấm, choã, bếp, lu, vại… nhưng đặc biệt nhất là cà ràng và ống khói lò nấu đường thốt nốt. Cà ràng Tri Tôn khá nổi tiếng và là một mặt hàng bán chạy. Cà Ràng vốn là tiếng Khmer, tên gọi một loại bếp lò độc đáo vừa bao gồm nơi nấu với 3 ông táo, gắn với một thân đáy chịu lửa hình số 8 dùng đun củi, cời than. Bếp nấu cà ràng khá linh hoạt, có thể để trên sàn nhà bằng tre nứa, ván gỗ; có thể để ngay trên ghe thuyền mà không sợ bị cháy mặt sàn, gọn nhẹ và dễ di chuyển. Để tạo hình cà ràng và các loại sản phẩm, người thợ gốm dùng tay nắm đất sét định hình cơ bản đồ vật. Tiếp đó người thợ dùng một cây gỗ mỏng, bề mặt rộng 3-5 cm (tiếng Khmer gọi là sđâm) kết hợp với một hòn nống hình quả cam có nút cầm, gọi là kaleng, căng sản phẩm từ phía bên trong. Nhờ vừa nóng vừa dập nhẹ từ 2 phía trong, ngoài mà sản phẩm có độ dày đồng đều, cân đối. Sau khi dùng tay ướt vuốt phẳng, người thợ gốm dùng lá nốt chuốt láng mặt ngoài hoặc bẻ miệng sản phẩm theo ý muốn. Một số loại sản phẩm như nồi, ấm, chõa… sau khi tạo dáng sản phẩm, người thợ còn dùng các bàn in hoa văn trang điểm. Điểm đáng chú ý trong kỹ thuật chế tác gốm của người Khmer ở Tri Tôn là không dùng kỹ thuật bàn xoay để tạo hình. Đây cũng là kỹ thuật làm gốm khá nguyên thuỷ còn bảo lưu ở một số ít dân cư các dân tộc ở nước ta. Quá trình định hình và hoàn thiện sản phẩm gốm được tiến hành trên một mặt bàn nhỏ trong vườn. Gốm nung có màu đỏ nhạt hoặc vàng sậm, độ nung thấp. Các thương gia sẽ đi từng nhà gom các sản phẩm gốm chở đi buôn bán các nơi. Đồ gốm của Tri Tôn không chỉ bán ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ mà còn sang tận Campuchia, cạnh tranh với đồ gốm KôngPôngChnăng (là nơi sản xuất gốm nổi tiếng), chất lượng sản phẩm gốm của người Khmer Tri Tôn được nhiều nơi ưa thích.

Hiện nay nghề làm gốm của người Khmer ở Tri Tôn có chiều hướng giảm sút và mai một, nhiều gia đình từ lâu không còn làm gốm, một số hộ làm cầm chừng. Nguyên nhân do giá thành rẻ, không “kinh tế” bằng các nghề khác và luôn bị các thương gia ép giá. Gần đây, một số nhà nghiên cứu nước ngoài như Mỹ, Nhật đã đến Tri Tôn tìm hiểu và nghiên cứu nghề gốm. Vì vậy, nghề gốm của người Khmer ở Tri Tôn cần có sự quan tâm, nghiên cứu và bảo vệ nhằm phục vụ cho mục đích văn hoá, khoa học, du lịch và xuất khẩu.


Gốm đen -  Mỹ Hòa – An Giang

Lò nung gốm đen duy nhất hiện còn đỏ lửa ở ấp Mỹ Hoà, thị trấn Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Chủ lò là ông Vũ Văn Thuận, đã trải qua nhiều gian nan để nghiên cứu phục hồi dòng gốm đen huyền của nền văn hoá khảo cổ học Óc Eo. Hiện ông đã đầu tư hơn 300 bộ khuôn để sản xuất gốm đen theo đơn đặt hàng. Tác phẩm ưng ý nhất của ông là chiếc bình trung bình miêu tả bao quát toàn cảnh quê hương An Giang, như miếu Bà Chúa Xứ núi Sam, núi Thất Sơn, sông ngòi, bông lúa và con cá.


Gốm đen là một loại gốm có màu đen tuyền từ trong ra ngoài, được tạo thành từ một phương pháp nung chế đặc biệt, không sử dụng chất tạo màu nhân tạo. Đây là một sản phẩm độc đáo của An Giang, xét về phương diện văn hoá lịch sử cũng như về quá trình khai thác sử dụng nguyên liệu địa phương. Các nghiên cứu khoáng vật, bùn học và tảo học liên quan đến đất làm nguyên liệu sản xuất gốm đen Óc Eo được công bố gần đây (Sanderson et all, 2003; Bishop et all, 2004) cho thấy trên thực tế loại đất này chỉ tập trung trong các lòng sông đào cổ và các dòng kinh cổ thuộc thời kỳ văn hoá Óc Eo. Hệ thống các bến nước, kinh đào và sông đào cổ ở đồng bằng Sông Cửu Long đã được hình thành và khai thác rất sớm, từ các năm 365 – 275 trước Công nguyên đến các năm 430 – 515 sau Công nguyên. Tầng bùn đạt chất lượng sản xuất gốm đen tự nhiên chỉ lắng đọng bên trong các đường nước nhân tạo trong khoảng trước các năm 50 trước Công nguyên thuộc kỳ hải sâm Rạch Núi và sau năm 200 thuộc cuối kỳ hải thoái Óc Eo sang đầu kỳ hải sâm Đông Hải.


Loại gốm này được phát hiện lần đầu tại mương Chín Huệ trong vùng Lò Mo phía Nam núi Sam khi cải tạo con rạch Cần Thảo thành kinh Cần Thảo trong các năm 1980. Năm 1990, một nhóm nghệ nhân ở Mỹ Luông, trong đó có ông Thuận đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm loại gốm này. Đất làm gốm là loại bùn giàu silic tương tự như bùn Lò Mo, được khai thác trong dòng Lung Lớn phía Đông Ba Thê. Lung Lớn hay Lung Lạng là dấu tích còn lại của một sông đào cổ thời kỳ văn hoá Óc Eo, rộng khoảng 40 – 60 m, dài trên 11 km, chạy theo hướng Bắc Đông Bắc – Nam Tây Nam, từ thương cảng Óc Eo, nay thuộc xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đến tiền cảng Nền Chùa, nay thuộc xã Tân Hội, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.

Đất để sản xuất loại gốm này là loại đất có thành phần trung bình đất mịn (nhỏ hơn 0,5 mm) gồm khoảng 77,6% bùn cơ học (clastic) pha lẫn ít nhiều mùn hữu cơ, và khoảng 12,4% trầm tích sinh học (biogenic) của các loài tảo đơn bào nước mặn, trong đó tỷ lệ tảo vỏ silic (diatoms) luôn cao gấp hai đến ba lần tảo vỏ vôi (foraminifers). Nhiệt độ tối ưu cho việc cắn màu đen tự nhiên của tổ hợp nguyên liệu trong khoảng 350 – 380oC, thời gian dưỡng màu 3 ngày trong áp suất hơi nước tối thiểu 4 atmosphere, sau đó nung lên trong khoảng 760 – 840oC để có gốm xốp thấm nước hay gốm xốp kín nước với màu đen tự nhiên.

Hiện quy trình sản xuất gốm đen và công tác tìm kiếm nguồn nguyên liệu từ khu vực Óc Eo trên địa bàn tỉnh An Giang đã hoàn chỉnh, Trung Tâm Ứng dụng và Chuyển giao Công nghệ thuộc Sở Khoa học – Công nghệ và Môi trường tỉnh An Giang đã sản xuất thành công hàng gốm đen mỹ nghệ với nhiều mẫu mã như: bộ tượng Phước – Lộc – Thọ, Thần Voi, Phật Di Lạc và sản xuất theo yêu cầu của khách hàng. Các sản phẩm mỹ nghệ gốm đen An Giang là sản phẩm đặc trưng độc đáo của cả vùng châu thổ sông Cửu Long.


 

3.men gốm

Men gốm là lớp thủy tinh dày từ 0,15 – 0,4 mm phủ bề ngoài xương gốm, là yếu tố tạo nên vẻ đẹp tinh tế, đặc trưng riêng của từng sản phẩm gốm sứ.
Tùy vào kỹ thuật pha chế, nung mà hình thành nên những loại men gốm khác nhau, có màu sắc, kiểu cách khác nhau. Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu một số loại men gốm thông dụng sau:


1. MEN HUYẾT DỤ
 Màu men mới được sáng chế tại Bát Tràng. Men đỏ rực như máu. Đây là loại men khó làm vì men đỏ rất dễ bị bay màu khi gặp nhiệt độ cao.
Ứng dụng: men được dùng cho các loại bình, chân đèn…


2. MEN BÚP DONG
Nước men trong, có màu xanh nhạt, dùng phổ biến từ đầu thế XX cho đến những năm 1980. Đây cũng là nước men riêng của lò bầu. Lò bầu cho ra hai loại men Búp Dong có màu xanh đẹp nhất.
Ứng dụng: Men búp dong dùng trong lĩnh vực phục chế hàng cổ là chủ yếu: ấm trà, bình hoa, đôn…


3. MEN NGÀ
Là loại men cổ truyền tại Bát Tràng, còn có tên gọi khác là men Đàn. Men có màu trắng đục, hơi ngà ngà vàng.
Ứng dụng: Ngày nay men ngà chỉ còn được dùng với các sản phẩm phục cổ.


4. MEN CHẢY
Thành phần chủ yếu của loại men này là bột thủy tinh màu nên độ chảy cao. Khi sản phẩm còn thô, phết lên thân sản phẩm từng cục men dày, nhiều màu sắc khác nhau. Sau khi nung, các màu sắc hòa quyện với nhau và chảy dài xuống dưới tạo thành các đường chảy đẹp, đổ dọc theo thân sản phẩm.
Ứng dụng:  Men chảy được dùng với các loại lọ hoa, chân đèn...
5. MEN THỦY TINH 
Đúng như tên gọi của nó, men được làm từ bột thuỷ tinh. Tuy nhiên, khác với men chảy, men thuỷ tinh chỉ được làm với một màu sắc duy nhất mà không pha tạp. Men thuỷ tinh có các màu: xanh non, xanh nước biển, màu tím nhạt và màu trắng, màu nâu. Men thuỷ tinh chỉ được dùng tráng bên trong lòng sản phẩm, bên ngoài là men khô màu đen.
Ứng dụng:  Các sản phẩm men thuỷ tinh thường thấy như: ấm chén, khay mứt, đĩa hoa quả...

 
6. MEN KHÔ
Men có bề mặt thô ráp, không có độ bóng như các loại men khác nhưng tạo nên vẻ đẹp mộc mạc sâu lắng cho sản phẩm.
Ứng dụng: Men khô được dùng cho các loại vò, lọ hoa, đĩa mài sừng tê giác, đĩa tranh treo tường…


7. MEN CÁT
Thành phần của men bao gồm một hàm lượng cát non (là phù sa sông Hồng). Khi nung cho ra sản phẩm có bề mặt nhám với một lớp cát mỏng. Có thể vẽ hoa văn trang trí lên sản phẩm bằng cách sau khi tráng men, dùng dao nhọn cạo bỏ một lớp men trực tiếp vẽ vào đó.
Ứng dụng: Men cát được dùng tráng cho các loại vò, lọ hoa…


8. MEN CO
Sau khi được nung chín thành sứ, lớp men trên bề mặt sản phẩm co cụm lại thành từng đốm nhỏ li ti, nổi lên trên bề mặt sản phẩm. loại men này có nhiều màu như da cam, xanh dương, xanh lá chuối, vàng, đen, đỏ…
Ứng dụng: Được dùng cho các sản phẩm như ấm chén, lọ hoa…


9. MEN RẠN
Men rạn hiện đại ra đời tại Bát Tràng được khoảng 2 năm và được người tiêu dùng đón nhận nồng nhiệt. Men rạn hiện đại cũng như men rạn truyền thống, tuy nhiên kích thước rạn to hơn, lồi lên, nhìn bề mặt khô nhưng khi chạm tay vào lại thấy bóng và mát.
Đặc điểm: Mỗi một sản phẩm được tráng bởi hai lớp men khác nhau. Lớp men bên trên nhiệt độ co thấp hơn lớp men bên dưới, nên khi lớp men bên dưới chín (khoảng (12000C) thì lớp men trên đã chín và nứt ra, để lộ rõ lớp men màu bên dưới. Do đó chỗ rạn có thể quan sát được.
Ứng dụng: Men rạn hiện đại được dùng phổ biến với các sản phẩm mang tính hiện đại: ấm chén, bộ trà tây, ấm tách café…


10. MEN NGỌC:
Men ngọc là loại men xưa nay vẫn được dùng tại Bát Tràng. Bề mặt men bóng, sắc lạnh, có màu xanh như ngọc bích.
Thành phần: Ôxít đồng, bột thủy tinh và men trắng.
Đặc điểm: Men ngọc đòi hỏi phải sơ nung (Sản phẩm sứ thô mộc nung qua một nhiệt độ nhất định, thông thường là từ 300 – 500oC) rồi mới tiến hành tráng men. Hoavăn trang trí nhất thiết phải được vẽ trên men. Do được nung khử, tức là nung trong tình trạng yếm khí, thời gian bảo ôn kéo dài nên men rất bóng. Men càng xanh, càng bóng và giống màu ngọc thì càng đẹp.
Ứng dụng: Vì men bóng, rửa sạch dễ dàng nên men ngọc thường được dùng để tráng cho các sản phẩm đòi hỏi độ vệ sinh cao: ấm chén, bát đĩa… đôi khi men ngọc cũng được dùng cho các sản phẩm khác là bình hoa


11. MEN KẾT TINH:
Men kết tinh là loại men mới nhất tại Bát Tràng. Cùng với sự ra đời của dòng men Huyết dụ, men Kết tinh đã phá vỡ thế độc quyền xưa nay của gốm sứ Cảnh Đức Trấn, Giang Tây, Trung Quốc về loại men này. Điểm đặc biệt của loại men này, sau khi nung trên bề mặt men xuất hiện nhiều tràng hoa với cánh hoa lóng lánh, tự nhiên rất đẹp mắt. Men càng nổ nhiều hoa, càng đều nhau thì càng giá trị.
Đặc điểm: Trên nền men màu xanh, trắng hoặc vàng nổ ra những tràng hoa đẹp mắt mà lại hoàn toàn tự nhiên. 1000 sản phẩm là 1000 kiểu nổ hoa khác nhau, con người hoàn toàn không thể tác động, bố trí, sắp xếp. Nguyên lý của men có thể được hiểu như sau: Các thành phần hoá chất có trong men, dưới xúc tác của nhiệt độ lò nung lên tới trên 10000C đã xảy ra phản ứng hoá học. Sau quá trình phản ứng tạo ra chất kết tủa dưới dạng cánh hoa lóng lánh nổi rõ trên nền men màu như thể gốm sứ đã được chạm khảm một lớp hoa bằng vỏ trai, vỏ ốc.
Ứng dụng: Men kết tinh được dùng cho các sản phẩm trang trí nội thất đòi hỏi tính mỹ thuật cao như chân đèn, lọ hoa...


Các dòng men gốm Bát Tràng______________________________________________________________________________

Gốm Bát Tràng có 5 dòng men đặc trưng được thể hiện qua mỗi thời kỳ khác nhau để tạo nên những sản phẩm đặc trưng khác nhau: men lam xuất hiện khởi đầu ở Bát Tràng với những đồ gốm có sắc xanh chì đến đen sẫm; men nâu thể hiện theo phong cách truyền thống và được vẽ theo kỹ thuật men lam; men trắng ngà sử dụng trên nhiều loại hình đồ gốm từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, men này mỏng, màu vàng ngà, bóng thích hợp với các trang trí nổi tỉ mỉ; men xanh rêu được dùng kết hợp với men trắng ngà và nâu tạo ra một đòng Tam thái rất riêng của Bát Tràng ở thế kỷ 16–17 và men rạn là dòng men chỉ xuất hiện tại Bát Tràng từ cuối thế kỷ 16 và phát triển liên tục qua các thế kỷ 17–19.




Men lam

Đây là loại men sớm nhất được sử dụng tại Bát Tràng từ thế kỷ 14. Men lam là men gốm được cộng thêm với gốc màu là ôxít côban. Thợ Bát Tràng sử dụng men lam đồng thời với kỹ thuật dùng bút lông làm công cụ vẽ trên đồ gốm. Men lam không để để trần như men nâu mà bao giờ cũng được phủ lớp men mầu trắng bóng, có độ thuỷ tinh hoá cao sau khi nung. Men lam có sắc độ từ xanh chì đến xanh sẫm. Bên cạnh điểm tương đồng với các loại bình gốm hoa lam sản xuất ở lò Chu Đậu (Hải Dương), gốm hoa lam Bát Tràng ngay ở thời kỳ đầu đã có những nét riêng về dáng và về hoạ tiết trang trí. Những bát, âu, lọ, chân đèn gốm hoa lam của Bát Tràng thế kỷ 14–15 có nét chung dễ nhận là lối vẽ phóng bút, dù là vẽ phong cảnh, hoa dây lá hay vẽ rồng.

Gốm hoa lam Bát Tràng thế kỷ 16, có sắc xanh đen. Men lam dùng để vẽ mây kết hợp với trang trí hình rồng nổi để mộc, vẽ cánh sen, các băng đường diềm các cặp chân đèn ngoài ra men lam dùng vẽ vào các hình trang trí nổi rồng, hoa dây và cánh sen của chân đèn và lư hương.

Thế kỷ 17 là một thời kỳ men lam kém phát triển tại Bát Tràng. Trên một số các chân đèn, lư hương, hũ, tượng gốm Bát Tràng (thế kỷ 17) hiện còn, lớp men vẽ trang trí màu nâu ở những chỗ men phủ màu trắng ngà rạn bị bong tróc, chỗ còn men phủ, màu nâu có sắc xanh chì, đặc biệt là chân đèn và lư hương, các hình vẽ men lam kém chau chuốt và tình trạng khá phổ biến men lam chảy nhoè, không nhận ra các họa tiết. Trong khi đó khắc chạm nổi, để mộc rất tỷ mỉ, đạt tới đỉnh cao.

Cuối thế kỷ 18, trong đỉnh cao về men rạn, Bát Tràng xuất hiện lối kết hợp trang trí nổi với vẽ lam như trên chân đèn, men lam được khôi phục trở lại trên đồ gốm Bát Tràng.

Thế kỷ 19, men lam được vẽ trang trí trên lư, choé, bình, lọ, bát hương, nậm rượn phủ men rạn trắng ngà hoặc đỉnh gốm, bình gốm men nhiều màu. Nét biểu hiện đặc trưng của men lam gốm Bát Tràng là sắc màu và lối vẽ, nhìn chung có sắc trầm. Dùng men lam vẽ phong cảnh sơn thủy, nhà cửa, lâu đài, nhân vật khá thành công trên bình. Men lam có sắc tươi dùng tô vẽ trang trí nồi trên đỉnh có thể là một trong số những tiêu bản gốm hoa lam đẹp nhất của gốm Bát Tràng ở cuối thế kỷ 19.

Trong xu hướng ảnh hưởng kiểu dáng, đề tài và cạnh tranh thị trường với gốm sứ Trung Quốc, đồ gốm Bát Tràng ở thế kỷ 19 còn có nhiều trường hợp dùng nhiều màu men. Chẳng hạn, để thể hiện đê tài Bát Tiên quá hải người thợ Bát Tràng dùng men nâu và men lam tô lên các hình trang trí nồi sau đó phủ men trắng rạn. Men lam cùng với men trắng vẽ các đề tài mã liễu, tiêu tượng, tùng lộc trên lư gốm men nâu, men lam vẽ cành liễu, khóm lan, bụi cỏ trong bức tranh nổi Tô Vũ chăn dê, men lam cùng với men nâu sắc sẫm và nhạt tạo nên chiếc đỉnh gốm men nhiều màu đồ sộ. Đó cũng là bằng chứng sinh động về bàn tay tài khéo của nhiều đời thợ gốm Bát Tràng được kế thừa và không ngừng tiến triển.


Men nâu

Một trong số các loại men sử dụng đầu tiên ở Bát Tràng là men nâu, sắc độ màu của men phụ thuộc nhiều vào xương gốm (xương gốm Bát tràng dày và thường có mầu nâu xám). Trên các đồ gốm có niên đại thế kỷ 14 đầu thế kỷ 15, men nâu được dùng tô lên các đồ án trang trí kết hợp với men nền mầu trắng ngà bao gồm chân đèn, thạp, chậu, âu, đĩa...Men nâu có sắc độ đỏ nâu hay gọi là màu bã trầu (chocolate), men này không bóng, trên bề mặt men thường có vết sần. Men nâu còn được dùng phủ toàn bộ rồi cạo bỏ phần men tạo thành đồ án hoa văn mộc.Thế kỷ 14, thợ gốm Bát Tràng đã biết hạn chế sự ảnh hưởng màu men nâu do mộc bằng cách vẽ men nâu trên lớp men trắng ngà để chuyển men nâu đỏ sang vàng nâu.

Trong các loại hình của nhóm đồ gốm men nhiều mâu thế kỷ 1617, men nâu được dùng xen lẫn với men xanh rêu, men ngà, tạo ra các sắc độ khác nhau. Men nâu giữ vị trí các đường chỉ chia băng, tô lên hoa sen hoặc các hình rồng, đối với lư hương chữ nhật men nâu tô lên phần chân đế...

Các đồ gốm thế kỷ 18 tiếp tục sử dụng men nâu nhiều theo cách thức cổ truyền, một số nghệ nhân tìm tòi phát huy thêm để làm phong phú màu men này, đặc biệt trên cặp tượng hổ chế tạo khoảng năm 1740, men nâu dưới lớp men rạn tạo nên bộ da hổ có màu sắc đa dạng hơn.

Thế kỷ 19, men nâu dùng làm nền cho các trang trí men trắng và xanh. Những bình, lọ men rạn ngà, thể hiện đề tài trang trí: Ngư ông đắc lợi, tùng hạc, Tô Vũ chăn dê, Bát tiên quá hải... men nâu dùng để tô trên những thân cây tùng, cây liễu hoặc điểm thêm vào các dải mây, tà áo của Bát tiên. Thế kỷ 19 là thời điểm đánh dấu men nâu đã chuyển sắc thành một loại men bóng (thường gọi là men da lươn), sử dụng rộng rãi ở Bát Tràng cho tới tận ngày nay.


Men trắng (ngà)

Đây là loại men trắng, nhiều trường hợp ngả màu vàng ngà, bóng khi nhiệt độ nung đạt độ cao nhưng cũng nhiều trường hợp có màu trắng xám, trắng sữa, đục. Cùng với kiểu dáng và trang trí, men trắng ngà cũng tạo nên một nét riêng biệt của đồ gốm Bát Tràng. Men trắng ngà đã thấy sử dụng phủ lên trang trí men lam hay men nâu, nhưng trong rất nhiều đồ gốm Bát Tràng chỉ thấy dùng men trắng ngà.

Gốm Bát Tràng thế kỷ 17 đạt đỉnh cao trong kỹ thuật trang trí nổi với hầu hết các thủ pháp kỹ thuật chạm trổ, dán ghép. Men trắng ngà được sử dụng trên các lư hương để phủ trên các rìa, ước và đường viền ngoài phần trang trí nổi, rất ít khi phủ lên hình trang trí. Vì men trắng mỏng, xương gốm được lọc luyện kỹ và độ nung cao nên có chất lượng tốt, một số sản phẩm men trắng ngà phủ lên trang trí nổi dầy vẫn có vết rạn men.

Thế kỷ 18, men trắng ngà còn thấy sử dụng trên một số loại hình khác nhau cùng trang trí nổi để mộc. Những lư hương tròn được đắp nổi hình rồng và mặt nguyệt, phần còn lại phủ men trắng ngà.

Vào thế kỷ 19, gốm Bát Tràng chưa mất hẳn kiểu trang trí nổi để mộc, men ngà còn thấy sử dụng trên các loại bình, lọ, lư hương, tượng tròn. Bình gốm có nắp có các hình rồng mây và lục bảo trang trí nổi để mộc, phần còn lại phủ men trắng ngà. Trên các loại bình, lư hương quai tùng, lư hương chữ Thọ; cặp tượng đầu khỉ thân rắn, tượng rồng trang trí kiến trúc, tượng ba đầu, tượng Phật Bà Quan Âm ngồi trên toà sen đều thấy sử dụng men ngà, xám.


Men rêu xanh

Thế kỷ 14–19 men xanh rêu được dùng khá nổi trội cùng với men trắng ngà và nâu. Men xanh rêu, men ngà và nâu tạo ra loại Tam thái riêng của gốm Bát Tràng thế kỷ 16–17. Trên chân đèn men xanh rêu tô lên những bông sen nổi, băng hoa tròn của dải cánh sen các bông hoa tròn hình bánh xe, các hình rồng, các bông hoa nổi đường diềm quanh vai.

Men xanh rêu còn dùng vẽ mây, tô lên nhiều góc mảng diềm, đế và các cột dọc của long đình; men rêu sắc sẫm ở các cột vuông mô hình nhà 2 tầng hay một số mảng đường diềm lư hương chữ nhật. Men xanh rêu, sắc nhạt, trên chân đèn, đế nghê. Trên lư hương tròn men xanh rêu thấy điểm vào 4 hình chữ S nổi giữa thân và chân cùng một đôi chỗ trên bụng. Men xanh rêu sắc sẫm còn thấy tô trên một số mảng trang trí nổi, hình nghê của lư tròn và trên diềm trang trí nổi chân trước tượng nghê.

Men xanh rêu, dù ở các sắc độ khác nhau nhưng sự xuất hiện của nó mang ý nghĩa rất lớn vì chỉ thấy trên đồ gốm Bát Tràng thế kỷ 16–17 và có thể xem đây là một dữ kiện đoán định niên đại khá chắc chắn cho các đồ gốm Bát Tràng trên nhiều loại hình khác nhau.


Men rạn

Đây là một loại men độc đáo tạo ra do sự chênh lệch về độ co giữa xương gốm và men. Cho đến nay các tài liệu gốm men cổ ở Việt Nam xác nhận mang men rạn chỉ được sản xuất tại lò gốm Bát Tràng từ khoảng cuối thế kỷ 16 và kéo dài tới đầu thế kỷ 20.

Lư hương khắc minh văn, do gia đình Đỗ Phủ sản xuất vào cuối thế kỷ 16 thể hiện lớp men rạn trên 2 phần dưới của lư hương tròn có thể xem là tiêu bản gốm men rạn sớm nhất. Men rạn có sắc ngà xám các vết rạn chạy dọc và ngang chia ra nhiều hình tam giác, tứ giác.

Cặp chân đèn do 'Đỗ phủ xã Bát Tràng' tạo tạo khoảng năm 16001618, trong đó men rạn phủ toàn bộ từ miệng tới chân, có màu vàng ngà, rạn trong men, đường chỉ rạn màu đen. Những cặp hiện vật men rạn này rêu có trang trí nổi, ngoài men rạn ra không còn loại men nào khác, đó là những tiêu bản men rạn chuẩn mực của Bát Tràng vào thế kỷ 17.

Thế kỷ 18 Bát Tràng còn sản xuất nhiều đồ gốm men rạn có ghi niên đại. Đỉnh gốm men rạn chế tạo năm 1736, men rạn có màu trắng xám. Một đỉnh gốm men rạn khác, có nắp, thân và đế, chế tạo vào khoảng năm17401768 lại dùng men rạn có màu vàng ngà... Men rạn còn được sù dụng trên các loại hình: chân nến trúc hoá long; ấm có nắp, đài thờ các nắp, cặp tượng nghê.

Thế kỷ 19, các đồ gốm dòng men rạn còn tiếp tục phát triển, bên cạnh việc sử dụng kết hợp men rạn với trang trí vẽ lam. Trên các đồ gốm, thợ Bát Tràng còn đắp nổi, khắc chìm hoặc không trang trí, men rạn có mầu trắng xám.


Minh văn

Gốm Bát Tràng nhiều trường hợp có minh văn, thể hiện bằng khắc chìm hay viết bằng men lam dưới men trắng. Một số minh văn cho biết rõ năm sản xuất, họ tên quê quán tác giả chế tạo cùng họ tên, có khi là cả chức tước của người đặt hàng.

Thế kỷ 15, một minh văn khắc trên phần dưới chân đèn có ghi: Thuận An phủ, Gia Lâm huyện, Bát Tràng xã tín thí Hoàng Li tỉnh thê Nguyễn Thị Bảo. Trên đai tô nâu giũa phần dưới chân đèn có viết bằng men 6 chữ Hán:Thời Trung xã, Hoàng Phúc tạo. Hoặc cặp phần dưới chân đèn minh văn cho biết: Tác giả: Vũ Ngộ Trên, Bùi Thị Đỗ, Hoàng Thị Vệ, Bùi Huệ, và Trần Thị Ngọ; Thời gian chế tạo: niên hiệu Diên Thành. Có minh văn ghi rõ người đặt hàng như cặp chân đèn hai phần: Người đặt hàng: Lê Thị Lộc, ở Vân Hoạch, Xuân Canh huyện Đông Ngạn. Thời gian chế tạo: Năm Diên Thành thứ 2. Một cặp chân đèn khác có khắc minh văn dài, một bên khắc 3 dòng và một bên 14 dòng, cho biết: Tác giả: Bùi Huệ và Bùi Thị Đỗ; thời gian chế tạo: ngày 25 tháng 11 năm Diên Thành thứ 3; những người đặt hàng: gia đình họ Lưu cùng họ Nguyễn, Lê, Đinh... Trong đớ, họ Lưu, tước Ninh Dương Bá, làm việc ở Thanh Tây vệ, Ty Đô chỉ huy sứ, Đô chỉ huy kiểm sự. Quê quán nhà họ Lưu: xã Lai Xá, huyện Đan Phượng, Phủ Quốc Oai...

Và còn rất nhiều sản phẩm có ghi minh văn, những sản phẩm này một số đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, một số tại các bảo tàng nước ngoài, một số hiện được sở hữu bởi các nhà sưu tầm đồ cổ, một số lưu lạc trong dân gian và một số còn chìm sâu trong lòng đất.










































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































































Comments