Theo gương Bác

KỶ NIỆM 40 NĂM THỰC HIỆN DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH (1969-2009)
 

30 năm tôi tìm hiểu để viết về Hồ Chí Minh

đăng 11:00 22-10-2009 bởi Nam Van Chi

Tác giả Trần Ngọc Chung từ Wisconsin – Hoa Kỳ có bài viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên tạp chí Hồn Việt của Hội Nhà văn số tháng 9/2009. Chúng tôi trích đăng lại từ phần biên tập của Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam với đầu đề “30 năm tôi tìm hiểu để viết về Hồ Chí Minh”

Vài nét về tác giả  

Sinh năm 1931 tại Hà Nội. 1952: Tốt nghiệp trường Sĩ Quan Trừ Bị Nam Định với cấp bậc Thiếu úy. 1956: Xin giải ngũ. 1957: Quy Y Tam Bảo, chùa Văn Thánh, Thị Nghè, Thượng tọa Tuệ Đăng chứng minh. 1962: Cử nhân Giáo khoa Khoa học, Khoa học Đại học Sài Gòn. 1962: Bị gọi tái ngũ. 1962-1965: Trưởng Khoa Khoa học (Vật lý và Hóa học), Văn Hóa Vụ, Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Đồng thời dạy thực tập Vật lý ở Đại học Đà Lạt. 1965: Giải ngũ. 1965-1967: Giảng Nghiệm Viên, Ban Vật lý, Khoa học Đại học Sài Gòn. 1967: Được học bổng đi Mỹ học về ngành Vật lý ở Đại học Wisconsin - Madison. 1972: Tốt nghiệp Ph.D., Vật lý, Đại học Wisconsin - Madison. 1972-1975: Giảng sư, Ban Vật lý, Khoa học Đại học Sài Gòn. 1975-1977: Nghiên cứu sinh Sau Tiến sĩ, Khoa Vật lý, Trường Đại học Wisconsin-Madison. 1977-1996: Giám đốc Phòng thí nghiệm Phân tích Bề mặt, Trung tâm Vật liệu, Trường Đại học Wisconsin-Madison. Hướng dẫn nghiên cứu trong lĩnh vực Phân tích Bề mặt bằng cách sử dụng các kỹ thuật mới… 1989: Tháng 11: Được mời sang Singapore làm Cố vấn Kỹ thuật ở SISIR (Singapore Institute of Standards and Industrial Research). 1996 - đến nay: Về hưu. Nghiên cứu Đạo Phật, Công Giáo, Lịch sử v..v...

Viết về một nhân vật có tầm vóc quốc tế như Hồ Chí Minh có thể nói là không dễ. Đối với những người thuộc giới chống Cộng viết theo cảm tính thù hận, khi thực sự chưa hiểu và không biết gì về Hồ Chí Minh thì rất dễ, vì muốn viết sao cũng được. Họ đưa ra những chi tiết lặt vặt, cộng với xuyên tạc, dựng đứng… nhằm “ám sát tư cách cá nhân”, bằng những từ hạ cấp cho hả lòng thù hận, thì có lẽ ai viết cũng được, không cần đến trí tuệ, không cần đến kiến thức, không cần đến trình độ, và cũng không cần đến liêm sỉ. Thảm thay, hiện tượng này chúng ta thường thấy xảy ra trong vài khu rừng diễn đàn truyền thông hải ngoại. Nơi đây, một thiểu số người Việt có vẻ như không có mấy trình độ văn hóa, giáo dục đã thường lên tiếng. Nhưng viết cho đúng với nhân cách, tài năng, tư tưởng và con người của Hồ Chí Minh thì quả thật là khó, vì điều này đòi hỏi trước hết là một sự lương thiện trí thức, một sự hiểu biết đúng đắn về cuộc đời của Hồ Chí Minh, và nhất là, về việc ông đã làm gì cho đất nước Việt Nam.

Đối với tôi, viết về Hồ Chí Minh lại càng khó hơn, vì xuất thân từ Trường sĩ quan trừ bị Nam Định, đã cầm súng chống Cộng trong thời gian 8 năm rưỡi, khoảng thời gian tôi ở trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa, đã đi Mỹ học, và đã về phục vụ trong ngành giáo dục ở miền Nam cho đến ngày chót, đương nhiên tôi đã ở phía Việt Nam Cộng hòa rồi. Nhưng cuộc chiến đã chấm dứt hơn 30 năm, bây giờ còn nói đến chuyện “Quốc – Cộng” có phải là ngớ ngẩn không? Thời gian chỉ trôi có một chiều, một thế hệ già nua như chúng tôi đang lần lượt rủ nhau đi vào dĩ vãng để nhường chỗ cho một thế hệ trẻ hơn, đầy nhiệt huyết, với những kiến thức thời đại, biết thế nào là con đường quốc gia, dân tộc và dứt khoát từ chối, không để cho đầu óc bị ô nhiễm bởi những thù hận của lớp trước, dù các bậc cha anh vô trí có muốn truyền lại. Với tâm cảnh như trên, vậy tôi phải viết về Hồ Chí Minh ra sao?

Được đào tạo trong ngành Khoa học Vật lý, đối với tôi, sự lương thiện trí thức phải để lên hàng đầu, và phương pháp khảo cứu mọi vấn đề phải cẩn trọng, không để cho tình cảm, thiên kiến lôi cuốn, tuy tôi tự biết, vì không có cái mặc cảm của Thượng đế, nên tôi không thể tránh khỏi có đôi chút thiên kiến khi viết về lịch sử. Một người nào đó đã chẳng từng nói: “Người nào viết Sử mà không có đôi chút thiên kiến chắc phải có cái mặc cảm mình là Thượng đế (hay mặc cảm của Thượng đế)”. Để giảm thiểu thiên kiến, phương pháp khảo cứu của tôi là đọc nhiều sách về cùng một vấn đề, rồi từ đó kiếm ra một mẫu số chung. Điều này chưa hẳn là tuyệt đối đúng, nhưng ít ra cũng không xa sự thực là bao nhiêu.

Trước khi đi vào những vấn đề này, tôi có một nhận xét tổng quát về những luận điệu xuyên tạc, đả kích ông Hồ Chí Minh của một số người có vẻ như không có mấy trình độ. Không có gì ngu xuẩn hơn là so sánh Hồ Chí Minh với Hitler. Những người này hầu như không hề biết gì đến dư luận thế giới, nhất là trong các nước tiến bộ Âu - Mỹ, đã nhận định về ông Hồ Chí Minh như thế nào. Hãy vào Internet đánh tên Ho Chi Minh thì sẽ thấy Thế giới đánh giá Hồ Chí Minh như thế nào. Hay hãy đọc những cuốn sách về chiến tranh Việt Nam của các học giả, tướng lãnh Mỹ, và ngay cả hai cuốn In Retrospect và Argument Without End của cựu Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara. Phần nhận định tích cực về Hồ Chí Minh tràn ngập so với phần tiêu cực thưa thớt của một số người Việt hải ngoại mà tên tuổi không đáng kể và chỉ như những con đom đóm lập lòe trên vài diễn đàn báo điện tử, ít có giá trị trí thức của đám người Việt còn mang nặng lòng hận thù.

CÁC NHÀ SỬ HỌC, GIÁO SƯ, KÝ GIẢ NƯỚC NGOÀI ĐÃ VIẾT GÌ VỀ HỒ CHÍ MINH?

1. Hồ Chí Minh là tinh túy, là biểu tượng của dân tộc Việt Nam.

Cách đây 6 năm, năm 2000, sử gia William J. Duiker có xuất bản cuốn Ho Chi Minh, A Life. Cuốn sách này được giới trí thức, học giả Âu - Mỹ đánh giá khá cao và cho rằng đó là một cuốn sách nghiên cứu sâu rộng nhất về con người và sự nghiệp của ông Hồ Chí Minh. Đọc Duiker và phối kiểm với những đoạn viết về ông Hồ Chí Minh của nhiều tác giả khác ở phương Tây, chúng ta có thể rút tỉa ra những điều không xa với sự thật là bao nhiêu.

Tôi xin được nhắc lại một đoạn trong bài của Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang mà giáo sư đã trích dẫn từ cuốn Ho Chi Minh, A Life của William J. Duiker:

“Khi tin tức về cái chết của ông Hồ Chí Minh được loan truyền thì khắp địa cầu đưa ra nhận xét về ông. Hà Nội nhận được tới hơn hai mươi hai ngàn (22.000) bức điện tín từ các thủ đô lớn của 121 quốc gia trên thế giới để bày tỏ lời ca ngợi ông và chia buồn với nhân dân Việt Nam. Một số các nước theo chủ nghĩa xã hội tổ chức buổi lễ truy điệu và đưa ra những lời ca tụng ông. Thủ đô Mạc Tư Khoa chính thức ca tụng ông như là “Người con vĩ đại của dân tộc anh hùng Việt Nam, một người lãnh đạo xuất sắc của phong trào giải phóng dân tộc và cộng sản quốc tế và là người bạn vĩ đại của Liên bang Xô Viết”. Các nước trong Thế giới thứ ba (các nước trung lập) cũng nhận xét về ông với những lời ca tụng ông như là một người bảo vệ những người bị áp bức. Một bài báo phát hành ở Ấn Độ, mô tả ông như là tinh túy của “dân tộc và là hiện thân của lòng khát vọng tự do, của sự tranh đấu bền bỉ”. Những bài báo khác đề cao đức tính giản dị và thẳng thắn của ông. Một bài xã luận trong một tờ báo ở Uruguay (Nam Mỹ) ghi nhận: “Ông có một tấm lòng bao la như vũ trụ và có một tình thương vô bờ bến đối với trẻ em. Ông là người gương mẫu về đức tính giản dị và thẳng thắn trong tất cả mọi phạm vi”.

Phản ứng từ các thủ đô phương Tây thì không biểu lộ mạnh mẽ. Tòa Bạch Ốc lặng thinh và các viên chức cao cấp trong chính quyền của Tổng thống Nixon cũng không bình luận gì cả. Nhưng việc chú ý đến cái chết của Hồ Chí Minh đối với giới truyền thông trong các nước phương Tây thật là mãnh liệt. Những tờ báo ủng hộ các phong trào phản chiến có khuynh hướng mô tả ông bằng những lời lẽ ca tụng ông như là một địch thủ xứng đáng và là một người bảo vệ những kẻ yếu, những người thế cô và những người bị áp bức. Ngay cả những người vẫn thường khăng khăng chống lại chế độ Hà Nội cũng đánh giá ông bằng những lời lẽ kính trọng, như là một người đã tận hiến cả cuộc đời cho cuộc chiến đấu giành độc lập và thống nhất đất nước cho tổ quốc ông, coi ông như là người phát ngôn xuất chúng cho các dân tộc bị bóc lột trên thế giới”.

Trên đây, Duiker đã viết lại một sự kiện. Sự kiện này, hơn hết, đã loại bỏ tất cả những gì mà một số người Việt hải ngoại hay ở trong nước viết tiêu cực theo cảm tính về Hồ Chí Minh. Cho nên, bất kể những luận điệu nhằm hạ uy tín ông đều không thể thuyết phục được ai, ít nhất là trong giới hiểu biết, nhất là những luận điệu này lại thuộc loại hạ cấp, đầy hận thù.

Có một bài viết về Hồ Chí Minh của Wilfred Burchett - một ký giả Úc nổi tiếng, đã từng được Ngoại trưởng Henri Kissinger nhờ làm trung gian liên lạc giữa Mỹ và Hà Nội. Năm 1968, ông đã viết một cuốn sách có tính cách tiên đoán: Việt Nam sẽ thắng (Vietnam will win) và năm 1977, ông xuất bản cuốn Châu Chấu và Voi: Tại sao [Nam] Việt Nam sụp đổ (Grasshoppers and Elephants: Why Vietnam Fell). Theo tôi, Burchett viết hay, không phải vì tác giả ca tụng ông Hồ Chí Minh, mà tác giả đã viết về những gì đã tạo nên ông Hồ Chí Minh: Không phải thuần túy chỉ là Marx, là Lenin hay Mao Trạch Đông, mà chính là lịch sử 2000 năm chống ngoại xâm của Việt Nam đã tạo nên Hồ Chí Minh. Có thể nói, tác giả hiểu Việt Nam hơn rất nhiều người tự cho mình là trí thức. Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong bài của Burchett:

“Chính sách của Mỹ là làm cho người Việt Nam cảm thấy mình thuộc một sắc dân thấp kém, không có quyền về căn cước quốc gia. Họ thường bị gọi là “gooks”, “slopes” và “dinks”, và trên những phúc trình chính thức, làng Mỹ Lai trở thành “Thành phố hồng” (có nghĩa là thành phố Cộng sản) và dân làng bị tàn sát chỉ là “những người Á Đông” (với ý coi thường, miệt thị).

Sự thực là người nông dân Việt Nam nghèo khó nhất, ngay cả thất học, về phương diện văn hóa và đạo đức thường cũng cao hơn người Mỹ. Họ biết nhiều hơn về lịch sử đất nước của họ – không chỉ vì đất nước họ có vài ngàn năm lịch sử nhiều hơn Mỹ để mà biết đến – mà vì những điều này đã thấm vào trong người họ từ sữa mẹ. Ngay từ bé, họ lớn lên trong một môi trường tràn ngập với những câu chuyện về gia tài lịch sử, hoặc được kể ngay khi còn nằm trong lòng mẹ, hoặc qua những màn kịch diễn lại những trang sử oai hùng của 2000 năm lịch sử chống ngoại xâm của những gánh hát rong, hoặc những truyền thuyết về các “thần thành hoàng” (thường là các anh hùng giúp nước của xóm làng, được nhà vua sắc phong), hoặc là những câu chuyện về tổ tiên đã bảo vệ non sông như thế nào, hoặc là những chuyện đau khổ của người dân bị đàn áp bởi ngoại nhân nên đòi hỏi một sự đứng lên để chống đối… Sự hiểu biết về 2000 năm tranh đấu chống xâm lăng có đầy trong dòng máu của người nông dân chân lấm tay bùn nghèo khó nhất. Đây là nguồn dũng cảm và sức chịu đựng vô tận, luôn tin tưởng vào tương lai mà những chuyên viên của Mỹ không thể hiểu được.

Hồ Chí Minh là mẫu mực thu nhỏ của tất cả những điều trên. Và đúng là, cũng như một cái gì đó trong mỗi người Việt Nam đều có trong Hồ Chí Minh, một cái gì đó trong Hồ Chí Minh đều có trong hầu hết những người Việt Nam ngày nay, dấu ấn của ông trên dân tộc Việt Nam thật là sâu đậm.

2. Đích đến của Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc.

Vấn đề tiếp theo tôi muốn nói đến là: Hồ Chí Minh là người Cộng sản như thế nào? Chúng ta biết rằng, Hồ Chí Minh chưa bao giờ phủ nhận mình là người Cộng sản và đã từng khẳng định là Lenin cho ông niềm tin trong công cuộc giành độc lập cho đất nước. Nhưng muốn hiểu ông là người Cộng sản như thế nào, có lẽ chúng ta nên biết đến quan niệm của một số trí thức ngoại quốc, những người thường ở trong môi trường đại học, đặt sự tôn trọng, sự lương thiện trí thức lên hàng đầu, và vì chính uy tín của họ, nên không thể viết theo cảm tính mà không nghiên cứu kỹ vấn đề, hay tự hạ mình rơi vào vòng tranh chấp Quốc-Cộng mà họ không thuộc phe nào và không có lý do gì để ủng hộ hay chống đối một phe nào.

Chúng ta hãy đọc vài đoạn trong bài của Stanley I. Kutler điểm cuốn Ho Chi Minh, A Life, Kutler là tác giả cuốn The Wars of Watergate và là chủ biên của The Encyclopedia of the Vietnam War. Stanley Kutler cho rằng trong tác phẩm của mình, Duiker đã viết về một nhà cách mạng ái quốc gần với Thomas Jefferson hơn là với V. I. Lenin. (Điều này, không phải chỉ có mình Duiker mới nhận định như trên, mà một số tác giả Mỹ khác cũng có cùng một nhận định như vậy. TCN)

Trước hết, Kutler cho rằng chế độ thực dân đã cáo chung một thế kỷ nay rồi và vai trò của ông Hồ Chí Minh đã đi vào quá khứ. Ngày nay, Việt Nam là một phần của nền kinh tế toàn cầu, có nghĩa là có những liên doanh mang lại lợi nhuận cho Chính phủ, cho một số viên chức được ưu đãi, và cho những công ty phương Tây. Nhưng Kutler ghi nhận là:

Tuy nhiên, thế giới có một bộ mặt khác vì Hồ Chí Minh, và những người như ông, những người đã lo lắng, chiến đấu và hi sinh để giải phóng dân tộc của họ thoát khỏi sự sỉ nhục và gông cùm của sự chuyên chế bạo ngược ngoại quốc”.

Sau đó Kutler viết: “Duiker đã đi quá sự tranh luận đơn giản trong thời Chiến tranh lạnh về vấn đề Hồ Chí Minh là người Cộng sản theo chính thống Marx-Lenin hay là một nhà ái quốc dân tộc, hiến thân cho cuộc giải phóng và thống nhất đất nước?”. “Duiker đã nhận định đúng, Hồ Chí Minh có căn rễ sâu đậm trong phong trào Cộng sản quốc tế, nhưng ông luôn luôn là một người theo chủ nghĩa dân tộc, cương quyết hiến thân cho nguyên lý dân tộc tự quyết”.

Ông Hồ Chí Minh không hề nao núng khi dùng Chủ nghĩa Cộng sản cho những mục đích dân tộc. Lời tuyên bố của ông: “Các dân ở Đông Dương vẫn sống và sẽ còn sống mãi” khó mà phù hợp với chủ nghĩa Marx. Duiker nhấn mạnh là, đối với Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc bao giờ cũng là mục tiêu chủ yếu, trong khi chủ thuyết về một Cộng sản không tưởng vẫn là một vấn đề mơ hồ, bất định cho tương lai”.

Chúng ta hãy đọc thêm vài tài liệu về Hồ Chí Minh:

Trong tờ Les Collections de L’Histoire, số 23, Avril-Juin 2004, một tuyển tập về “Indochine Vietnam: Colonisation, Guerres et Communisme”, có bài Con Người trở thành Hồ Chí Minh (L’Homme Qui Devint Ho Chi Minh) của Pierre Brocheux, Giáo sư Diễn giảng danh dự tại Đại học Denis- Diderot, Paris-VII. Chúng ta sẽ thấy trong đó có vài chi tiết để chúng ta hiểu hơn về Hồ Chí Minh.

Đối với Nguyễn Ái Quốc, chủ thuyết Marx-Lenin đã đưa ra những cách thức hành động, như là ông đã giảng giải nhiều năm sau: “Chúng ta phải hiểu rằng giành độc lập ra khỏi tay một cường quốc như Pháp là một nhiệm vụ rất khó khăn, người ta không thể hoàn thành mà không có một sự viện trợ từ bên ngoài. Chúng ta lấy lại độc lập bằng sự tổ chức và tự khép mình vào kỷ luật. Chúng ta cũng còn cần đến một lòng tin, một phúc âm, một sự phân tích thực tiễn, có thể nói đến như là một thánh kinh. Chủ thuyết Marx-Lenin đã cung cấp cho tôi đường lối hành động này”.

Thực ra thì có lẽ Hồ Chí Minh muốn nói đến những luận đề về Những vấn đề Dân tộc và Thuộc địa của Lenin đưa ra trong Đại hội II của Quốc tế Cộng sản vào năm 1920 để nghị thảo mà ông biết đến trong Đệ Tam Quốc tế. Chúng ta đã biết, chính ông Hồ Chí Minh đã thành thực công nhận là mới đầu ông không hiểu hết những từ và ý tưởng chính trị khó hiểu trong bản văn trên, nhưng rồi đọc đi đọc lại ông mới thấm và hiểu rõ, và ý thức được là những luận đề này đã giúp cho ông thấy con đường thích hợp nhất để cứu nước, giải phóng dân tộc khỏi ách thuộc địa, thực dân.

LỜI KẾT CHO CHÍNH BẢN THÂN TÔI VÀ NHIỀU NGƯỜI

Vị thế của Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam ra sao? Chúng ta đã biết, Wilfred Burchett đã nhận định ở trên:

Hồ Chí Minh là của toàn thể dân tộc Việt Nam. Không có một lằn ranh giới nào ở vĩ tuyến 17 có thể làm cho người dân miền Nam xa lìa Hồ Chí Minh dù rằng thủ đô được đặt ở miền Bắc. Hồ Chí Minh đã được chấp nhận là lãnh tụ và là nguồn cảm hứng cho mọi người Việt Nam – trừ số người đã lần lượt phục vụ những quan thầy Nhật, Pháp, rồi Mỹ.

Nhận định này đúng hay sai? Có lẽ câu trả lời thiết thực nhất là của Hoàng Xuân Ba trong bài Hai câu chuyện hoàn toàn trung thực, mới đây, đăng trên Đàn Chim Việt:

Chuyện thứ nhất: Lá cờ đỏ sao vàng trên mạng

Trưa 2/9/2006, ngày Quốc khánh của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đang nói chuyện với một người bạn Việt kiều trên Yahoo Messenger (YM), tôi bất ngờ nhận được thông điệp của một người bạn trẻ Việt Nam: “Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”, kèm theo đó là lời kêu gọi hãy thay đổi avatar (hình ảnh đại diện) trên YM bằng lá cờ đỏ sao vàng, lá cờ biểu trưng cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhìn lại danh sách nickname của mình trên YM, tôi thấy rất đông các bạn trẻ thay đổi avatar bằng hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng.

Sáng nay, 4/9/2006, báo Tuổi Trẻ đăng bài: “Mừng Quốc khánh trên mạng”. Trong bài viết này, tác giả mô tả lại hình ảnh nhà nhà treo cờ, người người treo cờ trên mạng: “Lần đầu tiên, cư dân trên mạng đón lễ Quốc khánh hoành tráng bằng cách đưa hình ảnh lá cờ Tổ quốc lên mạng trang trọng trên các blog (nhật ký cá nhân trên mạng) và trên avatar trong công cụ chat YM của mình trong ngày 2/9. Và ngày 3/9, tất cả đều đồng loạt thay vào đó là chân dung của Bác Hồ”.

Chuyện thứ hai: Lăng ông Hồ Chí Minh

Tôi đã có dịp gặp gỡ trên mạng với bạn đọc của DCVOnline gần đây qua bài Tản mạn về xã hội chủ nghĩa ở Hà Nội, đăng ngày 31/8/2006 (với hàng chục ý kiến khác nhau). Cũng dịp công tác này, tôi tranh thủ được một thời gian ngắn để ghé thăm lăng Hồ Chí Minh với mục đích tìm hiểu xem thái độ, tình cảm của người dân Việt Nam và nhất là người dân Hà Nội đối với ông ra sao. Điều làm tôi thật bất ngờ là có rất nhiều người đến viếng thăm lăng ông, các đoàn viếng lăng vào ra tấp nập. Để vào thăm lăng của ông, tôi được một anh bảo vệ cầm loa phóng thanh bắt phải đứng xếp vào hai hàng dọc, rồi theo đó vào lăng. Quả thật, tôi cảm nhận được sự trang nghiêm của lăng mộ Hồ Chí Minh và cả sự sùng bái của những người dân bình thường viếng thăm lăng. Một cách tự động, tất cả mọi người đều kính cẩn, nghiêm trang khi đi ngang qua thi hài ông được đặt trong một cái hòm rất rộng, bốn bên là kính trong suốt. Trông ông không giống như những bức hình chụp mà tôi từng thấy, khuôn mặt trông vẫn còn rất tươi tắn, hồng hào.

Báo chí Việt Nam sáng 4/9/2006 đều đồng loạt đăng tin về việc có hàng vạn người đến viếng thăm lăng Hồ Chí Minh. Báo Tuổi Trẻ viết: “Sáng 2/9, đoàn người vào lăng viếng Bác dài ra tận hai phía trên phố Ngọc Hà và Hùng Vương. Đông nhất là các đoàn học sinh và người già từ các tỉnh Thái Nguyên, Hà Tây. Còn có rất nhiều đoàn đến từ tỉnh xa như Cao Bằng, Nghệ An, Quảng Trị, Bình Phước… Có nhiều người nước ngoài cũng đứng trong đoàn người, từng bước vào lăng. Khu vực quảng trường trước lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc nào cũng đông kín người”.

Một thông tin đáng chú ý đó là thiếu tướng Đào Hữu Nghĩa, Trưởng Ban quản lý lăng kiêm Tư lệnh Bộ Tư lệnh bảo vệ lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cho biết, đến hết buổi viếng ngày 2/9 chỉ khoảng 25.000 lượt người được vào viếng lăng ông, số còn lại đành phải chờ đến hôm sau. Tôi tin rằng, con số trên rất thật bởi vì tôi đã được tận mắt chứng kiến dòng người xếp hàng dài vào viếng lăng Hồ Chí Minh, không nhất thiết phải do cơ quan hay các hội đoàn tổ chức…

Duiker cũng viết, trang 566: “Mỗi tuần có hơn 15.000 người đến viếng thăm Lăng ông Hồ Chí Minh”.

Tại sao ngày nay người dân Việt Nam vẫn còn kính trọng và ngưỡng mộ Hồ Chí Minh, tuy rằng trên diễn đàn truyền thông hải ngoại có cả một chiến dịch để xóa bỏ “thần tượng Hồ Chí Minh”? Lý do rất dễ hiểu là phần lớn những điều viết về Hồ Chí Minh của giới chống Cộng là sai lầm, là vô căn cứ, bắt nguồn từ lòng thù hận một chiều của những người gọi là “Quốc Gia”, chứ không đặt trên những sự thật và sự kiện lịch sử./.

 Theo Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam

Hội ngộ "Theo gương Bác"

đăng 05:42 27-08-2009 bởi Nam Van Chi

Thầm lặng làm theo lời Bác, những công việc về họ được kể lại qua trang báo thật sự đã có hiệu ứng lan tỏa và phần nào giúp ích cho đời...

Anh Nguyễn Ang Quốc Dũng (Đoàn khối Bưu chính viễn thông TP.HCM) hướng dẫn vi tính cho học sinh Trường tiểu học Hoàng Hoa Thám (xã Đông Thạnh, huyện Hóc Môn, TP.HCM) - Ảnh: N.NAM

Để cuộc sống ý nghĩa hơn

“Qua bài báo, nhiều người đã hiểu công việc của tôi hơn và tạo điều kiện để tôi làm tốt thêm công việc của mình” - thầy giáo dạy văn trẻ Trần Nguyễn Khánh Phong (Trường THPT A Lưới, Thừa Thiên - Huế), nhân vật trong bài “Cắt rừng, lượm truyện cổ” (Tuổi Trẻ ngày 19-7-2008) tâm sự.

Anh đang lưu giữ trong tay những kỷ vật đồng bào Tà Ôi đã khắc họa về chân dung vị lãnh tụ mà họ chưa một lần gặp mặt, nhưng đã tự nguyện mang họ Hồ để tỏ lòng kính phục. Và mỗi kỷ vật Phong đang lưu giữ là những câu chuyện cảm động. Vẫn với chiếc xe đạp, máy ghi âm, máy ảnh và mì gói, cứ rảnh là Phong rong ruổi vào những vùng đồng bào dân tộc sưu tầm truyện cổ, những câu chuyện cùng kỷ vật về Bác Hồ để viết sách với mong muốn: lưu giữ tư liệu để các bạn trẻ và các thế hệ sau hiểu hơn về cội nguồn.

Với Phong, việc dùng thời gian cùng khoản tiền lương giáo viên ít ỏi tiết kiệm được cho công việc sưu tầm này không phải để đánh đổi lấy một thứ gì, mà đơn giản chỉ là nuôi dưỡng đam mê của mình. Nhiều giáo viên trẻ được phân công lên miền núi chỉ mong hết hạn để trở về đồng bằng, trong khi Phong quyết “ở lại vùng rừng núi A Lưới để vừa đi dạy vừa đi sưu tầm”. “Công việc này giúp tôi đi nhiều, gặp gỡ mọi người nhiều hơn để có thể động viên người khác hãy làm những công việc có ích, để cuộc sống có ý nghĩa hơn...”.

Còn chiến sĩ công an trẻ Võ Minh Hải (phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an TP.HCM- PA18, nhân vật trong bài viết “Quy trình... làm hài lòng dân” - Tuổi Trẻ ngày 4-3-2009) góp phần cải tiến quy trình làm việc đơn giản hóa bằng tin học hóa và sử dụng hệ thống tự động.

Thay vì trước đây quy trình làm hộ chiếu cá nhân mất gần hai tháng nay chỉ còn tám ngày. Hải cùng anh em trong tổ công nghệ thông tin đã làm lợi cho đơn vị hơn 300 triệu đồng từ bao thầu hết việc viết phần mềm, áp dụng vào hệ thống tự động cho đơn vị. Mới đây PA18 đã đưa vào sử dụng dịch vụ tin nhắn (SMS), chỉ với một tin nhắn người dân biết được thông tin về thời gian giải quyết cũng như số lượng người đang chờ đợi...

“Cách làm này giúp người dân đến đây chủ động hơn về thời gian” - Hải chia sẻ. Anh cũng cho biết thêm từ ý tưởng của mình và đồng nghiệp, hiện PA18 đang triển khai nối mạng cáp quang về chương trình quản lý tạm trú người nước ngoài và Việt kiều trên địa bàn các quận, huyện góp phần giảm thủ tục khai báo tạm trú cho người nước ngoài và Việt kiều.

“Giảm phiền hà, đơn giản hóa thủ tục để phục vụ tốt hơn cho cộng đồng” dường như trở thành mục tiêu trong những sáng tạo của Hải, như một cách thể hiện lời dạy của Bác: “Tận trung với nước, tận hiếu với dân” - Hải và đồng nghiệp cho biết.

Góp tay và chia sẻ

Sau bài viết “Không chỉ nghĩ cho riêng mình” (Tuổi Trẻ ngày 12-11-2008), nhiều cá nhân, tổ chức đã gọi điện đến anh Nguyễn Ang Quốc Dũng (Đoàn khối Bưu chính viễn thông TP.HCM) để tặng máy tính cũ và tìm hiểu những chuyến đi tặng máy tính để có thể tham gia, góp sức.

Phía sau công việc mang máy tính đến vùng sâu vùng xa để tặng, dạy vi tính cho nhiều bạn trẻ ở tỉnh Bến Tre, Tây Ninh, Bình Phước, Gia Lai... là tâm huyết được cống hiến cho cộng đồng của những kỹ sư trẻ. Niềm vui của họ là ánh mắt và niềm vui được tiếp cận tin học trên những chiếc máy vi tính được tặng của nhiều bạn trẻ vùng xa.

Mới đây, ngày 23-8 dù là ngày nghỉ, những kỹ sư trẻ ấy đã mang những chiếc máy tính được tu sửa về tặng một số bạn trẻ Củ Chi (TP.HCM). Quốc Dũng cho biết thêm: “Chúng tôi cảm thấy vui hơn khi có thêm nhiều người chia sẻ công việc của mình và tìm đến ủng hộ máy tính làm từ thiện. Sau chuyến đi Củ Chi, tiếp đến là Khu chế xuất Linh Trung...”.

Riêng mô hình “Ống tre bác Hồ” của bà con xã Bình Phú, huyện Châu Phú (An Giang - Tuổi Trẻ ngày 3-6-2009); một cách làm theo tính cần kiệm của Bác rất đơn giản đã giúp nhiều hộ nghèo vượt khó đang trở thành thói quen của nhiều phụ nữ nơi đây. Với những đồng tiền tiết kiệm được, chị em còn góp vào để xây nhà tình thương cho các hộ khó khăn hơn. Tình làng nghĩa xóm cũng khắng khít hơn từ phong trào tiết kiệm ấy...

Chị Nguyễn Thị Liền, nguyên chủ tịch Hội Phụ nữ xã Bình Phú, cho biết thêm: “Sau khi báo Tuổi Trẻ đưa thông tin về ống tre Bác Hồ, Hội Phụ nữ xã Bình Chánh đã sang tìm hiểu để có thể thực hiện cho chị em xã mình. Huyện cũng đã ghi nhận, đánh giá tốt mô hình này để hi vọng nhân rộng hết 13 xã, thị trấn trong huyện tạo điều kiện cho không ít bà con nghèo nơi đây vươn lên, vượt qua khó khăn”.

Theo KIM ANH - NGUYỄN NAM (Tuổi Trẻ)

Tư duy đổi mới và phát triển trong Di chúc Bác Hồ

đăng 05:35 27-08-2009 bởi Nam Van Chi

"Bác bắt nhịp bài ca Kết đoàn..." - Ảnh tư liệu
Di chúc thể hiện tinh thần của một cương lĩnh không chỉ xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo các diễn đạt ngày nay, mà còn đưa Việt Nam tiến cùng nhịp bước của thời đại.

Tư duy cải cách, đổi mới xuất hiện ở tư tưởng Hồ Chí Minh từ năm 1919 khi Người đòi “cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách ban hành những đảm bảo cho người bản xứ cũng như người Âu”. Tư duy đó được nâng cao, mang nội dung khoa học và cách mạng dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin. Người quan niệm “cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới”, và “công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân”. Ngay từ năm 1923, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Xã hội bây giờ ngày một phát triển. Tư tưởng hành động cũng phát triển. Nếu cứ giữ lấy cái kẹp giấy cũ không thay đổi là không đi đến đâu cả”.

Di chúc kết tinh tinh thần đổi mới của Hồ Chí Minh mà trước hết là đổi mới tư duy. Ngoài nội dung cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và phong trào cộng sản quốc tế, toàn bộ Di chúc bàn về tương lai của đất nước với “một kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”. Về kinh tế, Di chúc nói tới việc “khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế”. Về văn hóa, Di chúc đề cập việc “sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân, như phát triển các trường nửa ngày học tập, nửa ngày lao động”. Ngay cả khi bàn về cuộc kháng chiến chống Mỹ, Di chúc cũng thể hiện niềm tin chắc chắn, nhất định thắng lợi, rồi “ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”. Người suy nghĩ “về một kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo để xây dựng lại đất nước đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh”.

Từ phác thảo một kế hoạch bao quát về mở rộng kinh tế, phát triển công tác vệ sinh, y tế, giáo dục, quốc phòng, công việc thống nhất Tổ quốc, tư duy đổi mới sáng suốt nhằm xây dựng và phát triển đất nước có thể nhận rõ qua các nội dung chủ yếu sau:

Từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, nỗi bận tâm lớn nhất của Hồ Chí Minh là Đảng cầm quyền. Tại sao như vậy?

Một là, Người hiểu rõ sứ mệnh của Đảng cầm quyền rất nặng nề, vì từ xóa bỏ sang xây dựng là hai loại quy luật hoàn toàn khác nhau. Người chỉ rõ “thắng đế quốc phong kiến là tương đối dễ; thắng bần cùng và lạc hậu còn khó hơn nhiều”. Cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất. Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta. Phải tạo lập một lực lượng sản xuất hiện đại và cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xóa bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới.

Hai là, Đảng cầm quyền, cán bộ đảng viên có quyền lực nên có thuận lợi cho Đảng lãnh đạo, nhưng từ hai mặt của quyền lực nên cũng là “mảnh đất” làm nảy sinh nhiều thói hư, tật xấu như quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

Ba là, từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, không chỉ khó khăn về lực lượng sản xuất, về kinh tế nông nghiệp lạc hậu, mà một điều đáng quan ngại là tư duy tiểu nông gắn với những nếp sống, thói quen, ý nghĩa và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng nghìn năm.

Trong Di chúc, Hồ Chí Minh coi “cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi là cuộc chiến đấu khổng lồ”. Sự hư hỏng ở đây không đơn giản chỉ là vật chất mà nguy hại hơn là con người, tư tưởng, tổ chức. Người lường tới những khó khăn, phức tạp cho cách mạng Việt Nam, đòi hỏi Đảng đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, vượt qua khó khăn, chiến đấu với niềm tin nhất định thắng lợi.

Tóm lại, Di chúc thể hiện tinh thần của một cương lĩnh không chỉ xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh theo các diễn đạt ngày nay, mà còn đưa Việt Nam tiến cùng nhịp bước của thời đại. Đó cũng chính là chân giá trị lý luận và thực tiễn của Di chúc Bác Hồ trong thời đại ngày nay.

Theo PGS.TS BÙI ĐÌNH PHONG (Quân đội nhân dân)

Bản Di chúc bất hủ sáng ngời tính thời sự

đăng 05:29 27-08-2009 bởi Nam Van Chi

Trích bài viết của đồng chí Phạm Văn Ðồng

...Nói đến bản Di chúc thì trước hết phải nói đến Người viết ra nó. Ðó là một con người suốt đời phấn đấu vì một lý tưởng cao đẹp bậc nhất trong thời đại ngày nay mà Lê-nin đánh giá rất đúng rằng đó là trí tuệ, lương tri và vinh dự của thời đại. Ðó là một chiến sĩ phấn đấu không mệt mỏi trong 60 năm trời vì những mục tiêu cao quý của dân tộc Việt Nam là độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, một nhà hoạt động cách mạng kiên cường, bất khuất, vượt qua mọi khó khăn trở ngại, luôn luôn chủ động và nắm bắt thời cơ, nhằm đúng mục tiêu để tiến đến đích. Nguồn gốc của sức mạnh kỳ diệu này là con người Hồ Chí Minh với những phẩm chất cao quý của mình gắn liền với truyền thống đẹp đẽ của dân tộc, với tinh hoa của loài người mà đỉnh cao là học thuyết Mác - Lê-nin, ánh sáng của thời đại. Nguồn gốc của sức mạnh kỳ diệu này là niềm tin sâu xa vào những khả năng to lớn của dân tộc và của con người Việt Nam. Rút lại, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn luôn xuất phát từ con người và cuối cùng trở về con người với những khả năng thiên biến vạn hóa của nó.


Mọi người chúng ta đều biết rằng mục tiêu phấn đấu của Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, đó là một quá trình đấu tranh cách mạng, trải qua nhiều giai đoạn, nhiều chặng đường. Cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh đã hoàn thành được chặng đường ban đầu là chặng đường rất khó khăn và quan trọng, một bước cực kỳ thiết yếu của sự nghiệp xóa bỏ cái cũ, dựng nên cái mới, nghĩa là còn biết bao nhiêu việc phải làm. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh ý thức sâu sắc về điều tôi nói trên đây, vì vậy lúc gần tuổi "cổ lai hy" thì phải nghĩ tới những gì cần căn dặn lại những người sẽ kế tục sự nghiệp của mình. Chắc rằng Bác Hồ của chúng ta đã suy nghĩ rất nhiều về việc này. Bác đã đi thăm Côn Sơn, đây là một cuộc hành hương đến nơi ở cuối đời của Nguyễn Trãi. Lúc bắt tay vào công việc cực kỳ trọng yếu này, Bác đã trải qua biết bao trăn trở, ôn lại cuộc đời gắn với vận mệnh của nhân dân, của nước, đầy sóng gió nhưng cũng đầy thắng lợi, đồng thời nhìn về tương lai với lòng tin sâu xa vào những thế hệ sắp tới. Bác để ba năm viết bản Di chúc và mỗi năm lại dành thời gian xem lại, sửa chữa và bổ sung, tất cả chỉ trên 1.000 từ với biết bao tình cảm, hoài bão và khí phách.

Bắt đầu bản Di chúc, Bác nhắc nhở chúng ta về cuộc kháng chiến: "Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.

Ðó là một điều chắc chắn.

Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ, và chiến sĩ anh hùng, thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta.

Kế theo đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân ta đi thăm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta
".

Tiếp đó, Bác lại một lần nữa nhấn mạnh: "Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Ðồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

Còn non, còn nước, còn người,
Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Ðế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Ðồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà
".

Trong bản Di chúc, Bác đề cao một điều mà suốt đời Bác quan tâm: "Trước hết nói về Ðảng - Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Ðảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Ðoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Ðảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Ðảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Trong Ðảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Ðảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

Ðảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Ðảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân
".

Ðể kế tục sự nghiệp của Ðảng, Bác nói ngay đến thanh niên: "Ðoàn viên và thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Ðảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên".

Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết
".

Cùng với thanh niên, Bác kêu gọi chăm lo các tầng lớp nhân dân, nhất là nhân dân lao động bởi vì: "Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh.

Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Ðảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Ðảng, rất trung thành với Ðảng.

Ðảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân
".

Về việc riêng, Bác nói: "Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.

Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân.

Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là "hỏa táng"... Khi ta có nhiều điện, thì "điện táng" càng tốt hơn.

Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp sành. Một hộp cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền Nam
".

Sở dĩ không hỏa táng thi hài Bác theo yêu cầu của Bác là vì thể theo nguyện vọng và tình cảm của nhân dân, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Ðảng (khóa III) thấy cần thiết phải giữ gìn lâu dài thi hài của Bác để sau này đồng bào cả nước, nhất là đồng bào miền Nam và bạn bè quốc tế có cơ hội tới viếng Bác, thể hiện tình cảm sâu đậm đối với Bác.

Bác để lại: "muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Ðảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng..., gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế".

Cuối cùng, phải nhấn mạnh điều mong muốn tha thiết của Bác: "Toàn Ðảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới".

Bản Di chúc tuy rất ngắn gọn song nó chứa đựng biết bao giá trị tư tưởng và tình cảm là sự kết tinh một đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, đem lại sự đổi đời của dân tộc Việt Nam ta, đồng thời để lại những di sản bất hủ đối với những thế hệ mai sau.

Nhân dân ta có câu: "Bác Hồ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta". Từ khi Người qua đời đã có trên 17 triệu lượt người đến viếng Lăng Hồ Chí Minh, trên 19 triệu lượt người đến thăm nơi ở và làm việc của Người, trên 5 triệu lượt người đến thăm Bảo tàng Hồ Chí Minh (trong đó có nhiều người nước ngoài). Chúng ta không biết hết những người trên thế giới viết và nói về Hồ Chí Minh, ở đây chỉ trích một số câu mà tôi cho là tiêu biểu nhất:

"Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội".

"... Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống văn hóa hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau..."(1).

Qua Nguyễn Ái Quốc, mọi người có thể hiểu dân tộc Việt Nam là "... một dân tộc rất lịch thiệp và độ lượng, rất ghét những gì thái quá. Dáng dấp của con người đang ngồi trước mặt tôi đây Nguyễn Ái Quốc, cũng đang tỏa ra một cái gì thật lịch thiệp và tế nhị". "Qua phong thái thanh cao, trong giọng nói trầm ấm của Nguyễn Ái Quốc, chúng ta như nghe thấy ngày mai, như thấy sự yên tĩnh mênh mông của tình hữu ái toàn thế giới". "Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa châu Âu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai"(2).

"Hồ Chí Minh là một trong những nhân vật kỳ lạ của thời đại này: hơi giống Gan-đi, hơi giống Lê-nin, hoàn toàn Việt Nam"(3).

Ðọc lại những lời nói của Bác trong Di chúc, tôi có nhận thức sâu sắc như Bác đang nói với chúng ta, từ những cơ quan lãnh đạo tối cao đến toàn Ðảng, toàn quân và nhân dân. Chỉ có bằng việc làm đúng với Di huấn của Bác, kiên trì cuộc đấu tranh cách mạng đạt những thắng lợi về nhiều mặt đưa lại lợi ích thiết thực cho nhân dân, thì mới xứng đáng với tấm lòng cao đẹp của Bác. Như vậy, Ðảng ta phải ngang tầm với tình hình và nhiệm vụ. Mọi người chúng ta đều nhớ rằng, trong quá khứ, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và của Ðảng, nhân dân ta đã lớn lên như Thánh Gióng đời nay, vượt qua những thử thách tưởng chừng không vượt qua nổi để làm nên thắng lợi chưa từng có trong lịch sử nước ta. Quá khứ như vậy, hiện tại và tương lai nhất định cũng sẽ như vậy. Tất cả tùy thuộc ở Ðảng ta và nhân dân ta vận dụng một cách sáng tạo và có phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh vĩ đại.

(*): Trích trong cuốn sách 35 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, Hn, 2004, Tr.277-282.
(1) Nghị quyết của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.
(2) O-xíp Man-den-xtam, nhà văn Xô-viết, báo Ogoniok (Liên Xô), số 39, ngày 23-12-1923. Hồ Chí Minh, Sđd, T.1, Tr.478-479.
(3) Ðai-vớt Han-bô-xtan: Hồ, Nxb Rangdom Haoxơ, NY, 1971.

Theo NDO

Người cựu binh và thư viện về Bác

đăng 01:39 19-08-2009 bởi Nam Van Chi

Căn nhà nơi ông ở đã trở thành “thư viện” để những đồng đội cũ, những người bạn già hay nhiều HSSV, bạn trẻ tìm đến với những tư liệu về Bác mà ông đã tìm giữ gần 50 năm qua.

Người cựu binh Nguyễn Văn Mùi và các cuốn sách về Bác Hồ do ông biên soạn - Ảnh: Thân Hoàng

Người cựu binh ấy tên Nguyễn Văn Mùi ở khu đô thị Nam Cường, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Khi nghỉ hưu, ông tập hợp tư liệu thành những tập sách gửi tặng bảo tàng với mong muốn con cháu thế hệ sau sẽ luôn nhớ về tấm lòng của Bác, hiểu về lịch sử, nguồn cội dân tộc.

Kỷ vật cuộc đời

Sinh năm 1940, ông Mùi đã tham gia hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ. “Lính trẻ như tôi hồi ấy ai cũng ao ước được gặp Bác một lần”, ông nói. Ngay từ khi còn trong quân ngũ, ông đã tìm hiểu, ghi chép, lưu giữ cẩn thận trong ba lô nhiều tư liệu về Bác. Chiếc ba lô ấy theo ông đi khắp các chiến trường. Năm 1974, ông xuất ngũ, phụ trách đội lái xe của Cục Vận tải. Thời gian này được tiếp xúc với nhiều người, được đọc nhiều sách báo nói về Hồ Chủ tịch, ông có thêm nhiều tư liệu quý.

Cuốn tạp chí lý luận Học Tập của Đảng Lao động Việt Nam số đặc biệt ra tháng 9-1969 với nội dung: “Vô cùng thương tiếc Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến” đã ố màu được ông Mùi quý nhất, cất giữ rất cẩn thận. Ông cho hay: “Đây là cuốn sách quý tập hợp đầy đủ những thông tin về lễ quốc tang Bác Hồ”. Bảo tàng Hồ Chí Minh có ý định xin ông cuốn sách để trưng bày.

Kho báu về Bác của ông còn là 200 cuộn phim, video về Đảng, Nhà nước và cuộc đời các đồng chí lãnh đạo. Trong số ấy có tới 130 bộ phim nói về cuộc đời Bác.

Biên soạn sách về Bác

Không có gì quý hơn độc lập tự do, đó là nhan đề tập sách dày hơn 400 trang, đóng bìa cứng thực hiện năm 2006 do ông Mùi kỳ công sắp xếp, biên tập lại từ những tư liệu ông thu thập được. Ông giải thích về nhan đề cuốn sách: “Cả đời Bác nghĩ đến độc lập tự do cho dân tộc!”.

Năm 2007, ông Mùi tiếp tục biên soạn cuốn sách Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta. Cuốn sách hơn 500 trang, đóng bìa rất đẹp này đã được ông gửi tham dự cuộc thi “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Ban Tuyên giáo trung ương phát động.

Đại tá Nguyễn Trung Hiếu - nguyên chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hải Dương - tâm sự: “Tôi thường đến “thư viện” của ông bạn già để tìm hiểu nhiều tư liệu quý về Bác mà bây giờ muốn mua, muốn sưu tập có lẽ không dễ”.

Nhiều tài liệu trong sách đã được ông Mùi lên tận Bảo tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội) kiểm tra độ xác thực thông tin. Ông vui vẻ nhớ lại: “Ban giám đốc bảo tàng lúc ấy đã nhiệt thành đọc, nghiên cứu những tài liệu của tôi. Thật vui vì không có chi tiết sai!”. Sau này khi cuốn sách chính thức hoàn thành, trình bày và scan ảnh đâu đấy, ông Mùi lên tận Hà Nội đích thân trao tặng bảo tàng một cuốn. Lật giở những trang đời hoạt động cách mạng của Bác, đôi mắt ông ngấn nước: “Con cháu thế hệ mai sau sẽ đọc, tìm hiểu về cuộc đời Bác Hồ và những tư tưởng của Người. Quý lắm, giá trị lắm!...”.

Theo THÂN HOÀNG - ANH NGỌC (Tuổi Trẻ)

Mỗi đoàn viên một hành động học và làm theo lời Bác

đăng 01:37 19-08-2009 bởi Nam Van Chi

Ban bí thư T.Ư Đoàn vừa ban hành kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm 40 năm tuổi trẻ VN thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Để thực hiện kế hoạch này, Ban bí thư T.Ư Đoàn yêu cầu “mỗi Đoàn cơ sở một công trình thanh niên, mỗi chi đoàn một phần việc thanh niên, mỗi đoàn viên một hành động học tập và làm theo lời Bác”. Cụ thể, từ ngày 1 đến 15-9, các cơ sở Đoàn tập trung vào bảy hoạt động chính, gồm: tổ chức cho đoàn viên, thanh thiếu nhi học tập, tìm hiểu về Di chúc của Bác Hồ thông qua bộ phim tài liệu Những giờ phút cuối đời của Bác; tổ chức các diễn đàn, tọa đàm thanh niên trao đổi về nội dung Di chúc của Bác theo chủ đề “Bác Hồ với việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”.

Gắn các diễn đàn, tọa đàm với giới thiệu thông điệp đại hội thanh niên tiên tiến làm theo lời Bác năm 2009; tổ chức chương trình “Thắp sáng ước mơ tuổi trẻ VN vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, kết hợp giới thiệu thư của Bác Hồ gửi các em học sinh nhân ngày khai trường; đẩy mạnh hoạt động về nguồn, gặp gỡ các nhân chứng lịch sử, tổ chức lễ báo công; tiến hành gặp gỡ, trao đổi, phản ánh những tấm gương, câu chuyện của các thế hệ trải qua 40 năm thực hiện Di chúc của Bác...

* Hôm qua 18-8, Bộ Văn hóa - thể thao và du lịch đã tổ chức họp báo giới thiệu triển lãm thành tựu văn hóa, thể thao và du lịch cùng triển lãm các tác phẩm mỹ thuật, nhiếp ảnh tiêu biểu hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” diễn ra từ 28-8 đến 2-9-2009 tại Trung tâm hội chợ triển lãm VN (Giảng Võ, Hà Nội).

Theo ban tổ chức, trọng tâm của sự kiện này là triển lãm 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong gian triển lãm tại nhà A1 do Bảo tàng Hồ Chí Minh, Trung tâm hội chợ triển lãm VN chủ trì thực hiện phối hợp với khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ chủ tịch và ban quản lý lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bên cạnh đó là hàng loạt triển lãm: thành tựu ngành văn hóa, thể thao và du lịch 40 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh; các tác phẩm mỹ thuật, nhiếp ảnh tiêu biểu hưởng ứng cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”...

* Trưng bày bảo tàng với chủ đề “VN - Lịch sử dựng nước và giữ nước” do Sở Văn hóa - thể thao và du lịch tỉnh Bắc Giang phối hợp với Bảo tàng Lịch sử VN tổ chức đã khai mạc sáng 18-8 tại TP Bắc Giang. Đây là hoạt động thiết thực kỷ niệm 40 năm thực hiện Di chúc của Bác Hồ, 64 năm cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9.

Cuộc trưng bày giới thiệu hơn 400 hình ảnh tư liệu lịch sử được chọn lọc tiêu biểu cho các giai đoạn phát triển của đất nước, hơn 100 hiện vật đặc sắc của Bảo tàng tỉnh Bắc Giang và gần 50 hình ảnh tư liệu chuyên đề “40 năm Bắc Giang thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Người xem được tìm hiểu, trở về cội nguồn dân tộc từ thời dựng nước, quá trình đấu tranh bảo vệ và xây dựng đất nước qua các giai đoạn lịch sử của dân tộc cho đến thời kỳ đổi mới hiện nay.

Theo Đ.BÌNH - V.HOÀI (Tuổi Trẻ) - TTXVN

Hiểu cho đúng khái niệm "tư tưởng Hồ Chí Minh" để chống lại các quan điểm lệch lạc, sai trái

đăng 03:51 12-08-2009 bởi Nam Van Chi

Có nhiều biện pháp để làm thất bại các quan điểm sai trái, mà một trong những cách làm có hiệu quả là phải nắm chắc, hiểu sâu sắc khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh được xem như là chìa khóa để mở cửa đi vào kho tàng tư tưởng Hồ Chí Minh và cũng là chìa khóa để chống lại một cách có hiệu quả những luận điệu thù địch và sai trái.

Tư tưởng Hồ Chí Minh có một quá trình hình thành và phát triển từ trước năm 1911 đến khi Hồ Chí Minh vĩnh biệt chúng ta. Đảng ta có một quá trình phát triển nhận thức về tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội VI (12-1986), Đảng ta nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh...”(1). Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6-1991) có điểm mới là “nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh”(2), và khẳng định “Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta, và trong thực tế tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của dân tộc ta”. Cương lĩnh 1991 khẳng định “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”.

Sau 10 năm, với những thành tựu to lớn nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh ở trong và ngoài nước, tại Đại hội IX (4-2001), Đảng ta có bước phát triển trong nhận thức và tư duy lý luận khi khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại... Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”(3).

Hai năm sau, Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn Giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trên cơ sở định hướng cơ bản của Đại hội IX, đã bước đầu định nghĩa tư tưởng Hồ Chí Minh như sau: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng XHCN; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người”(4).

Từ Đại hội IX đến nay, Đảng ta, các nhà khoa học trong và ngoài nước tiếp tục khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là giá trị to lớn của tư tưởng đó đối với dân tộc và nhân loại.

Cũng cần nhắc lại rằng, tại Hội thảo Quốc tế về Hồ Chí Minh tổ chức tại Hà Nội nhân kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Người, năm 1990, các đại biểu dự Hội thảo đều nhất trí khẳng định tư tưởng và giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh theo tinh thần của Đại hội đồng UNESCO năm 1987 khi khẳng định “Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn”.

Tuy nhiên, trong nhiều năm trở lại đây, các thế lực thù địch vẫn tìm nhiều cách xuyên tạc, bóp méo để cuối cùng đi tới phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh. Có nhiều biện pháp để làm thất bại các quan điểm sai trái, mà một trong những cách làm có hiệu quả là phải nắm chắc, hiểu sâu sắc khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh được xem như là chìa khóa để mở cửa đi vào kho tàng tư tưởng Hồ Chí Minh và cũng là chìa khóa để chống lại một cách có hiệu quả những luận điệu thù địch và sai trái.

1. Trước hết phải hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa.

“Hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam” là nhiều quan điểm liên hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện rõ tính liên tục, nhất quán. “Toàn diện” là bao quát nhiều lĩnh vực. Đó là tư tưởng về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quân sự, ngoại giao... Đại hội IX chỉ rõ, đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân...”. Trong văn kiện của một Đại hội Đảng không thể nêu hết hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ di sản Hồ Chí Minh, các nhà nghiên cứu còn làm rõ nhiều nội dung có giá trị to lớn khác không chỉ về cách mạng Việt Nam mà cả về cách mạng thế giới như tư tưởng dân chủ; tư tưởng ngoại giao; tư tưởng hội nhập, hòa bình, hợp tác và phát triển; phương pháp cách mạng và phong cách; v.v.. Điều này hoàn toàn phù hợp với Đại hội đồng UNESCO khi khẳng định Hồ Chí Minh “để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại...; là biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”(5).

“Toàn diện nhưng sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”, nghĩa là không phải tất cả mọi vấn đề đều gắn với tư tưởng Hồ Chí Minh. Ở đây cần hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh như là những tư tưởng chính trị theo nghĩa rộng, gồm tư tưởng về mục tiêu cách mạng: độc lập dân tộc và CNXH; về mục đích cách mạng: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về lực lượng cách mạng: toàn dân tộc lấy công-nông làm gốc, đoàn kết quốc tế; về nền tảng lý luận: chủ nghĩa Mác-Lênin; về tổ chức cách mạng: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận đoàn kết toàn dân; về phương pháp cách mạng: động viên toàn dân, tổ chức toàn dân; v.v.. Tóm lại, đó là “giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản”.

Nhận thức như vậy tránh được các khuynh hướng sai lầm và xuyên tạc cho rằng không có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh mà chỉ một vài phát biểu ngắn gọn của Người; hoặc cái gì cũng quy về tư tưởng Hồ Chí Minh mà không hiểu tư tưởng của Người chỉ gắn với những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam.

Đáng phê phán nhất là các quan điểm hết sức nguy hiểm. Họ thừa nhận những vấn đề nêu trên (sau khi không đủ khả năng bác bỏ), nhưng lại cho rằng hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc đó chỉ trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, không có trong cách mạng XHCN. Chiều sâu thâm độc của loại quan điểm này là nhằm đi đến phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh. Hiện nay chúng ta khẳng định quyết tâm của Đảng và nhân dân ta là xây dựng đất nước theo con đường XHCN trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nếu phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh về CNXH thì đồng nghĩa với việc phủ nhận công cuộc đổi mới.

Để phê phán quan điểm này, cần nhận thức rõ trong khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh có nói “từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng XHCN”. Tuy nhiên điều quan trọng hơn là trở lại cuộc đời và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ cần nêu mấy điểm chính.

Một là, Hồ Chí Minh khẳng định cứu nước và giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, tức là giành được độc lập dân tộc rồi phải đi tới CNXH. Điều này hoàn toàn xa lạ với việc cứu nước và giải phóng dân tộc theo con đường phong kiến và tư sản.

Hai là, trong di sản để lại, Hồ Chí Minh nhiều lần nói đến cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân phải đi tới cách mạng XHCN thì mới thắng lợi triệt để. Người có trên hai mươi lần nêu quan điểm của mình như là những định nghĩa về CNXH. Nếu hiểu Di chúc là kết tinh tư tưởng Hồ Chí Minh và là tầm vóc của một Cương lĩnh xây dựng đất nước sau chiến tranh, thì ít nhất hai lần Hồ Chí Minh đề cập trực tiếp tới CNXH trong văn kiện vô giá này. Người dặn lại việc đào tạo đoàn viên và thanh niên thành những người thừa kế xây dựng XHCN vừa “hồng” vừa “chuyên”. Người tin tưởng những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong sẽ là “đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thắng lợi CNXH ở nước ta”(6).

Ba là, các bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh cho ta một cái nhìn khá sâu sắc và toàn diện về đặc trưng bản chất của CNXH ở Việt Nam. Đó là một chế độ xã hội do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại nhằm bảo đảm đời sống vật chất; có văn hóa đạo đức tốt đẹp, xã hội công bằng, văn minh nhằm bảo đảm đời sống tinh thần; các dân tộc trong nước đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; đoàn kết, hợp tác hữu nghị với nhân dân các nước trên thế giới...

2. Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin (hoặc là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin) vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.

Một số ý kiến cho rằng những vấn đề cơ bản của một cuộc cách mạng theo con đường cách mạng vô sản như mục tiêu, lực lượng, lãnh đạo, phương pháp, đoàn kết, nền tảng lý luận, v.v… đều đã được đề cập trong học thuyết Mác-Lênin; thậm chí đã được Khổng Tử, Tôn Dật Tiên, ông cha ta trong lịch sử hàng nghìn năm bàn tới.

Chúng ta không phủ nhận nhiều vấn đề đã được Mác, Ăngghen, Lênin, Khổng Tử, Tôn Dật Tiên, cha ông ta đề cập; thậm chí, nhiều vấn đề được đề cập sâu trong học thuyết mácxít như mục đích giải phóng giai cấp, giải phóng con người, giải phóng nhân loại, Đảng Cộng sản lãnh đạo cách mạng, đoàn kết, xây dựng nhà nước, vai trò lý luận, v.v… Khổng Tử bàn nhiều tới đạo đức và ưu điểm của ông là tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn Dật Tiên xây dựng chủ nghĩa Tam dân: dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc... Nhưng chúng ta phải phủ nhận quan điểm cho rằng hễ đã có người đi trước đề cập thì người sau chỉ là nói theo, nói lại.

Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh nói rõ tư tưởng Hồ Chí Minh là “kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta”. Rõ ràng là khái niệm cho ta biết Hồ Chí Minh nắm chắc chủ nghĩa Mác-Lênin và hiểu rõ điều kiện nước ta. Điểm chốt ở đây là “điều kiện cụ thể của nước ta”. Hồ Chí Minh từng cảnh báo: “Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng”(7). Điều kiện nước ta không giống các nước khác, ít nhất trên hai điểm: Truyền thống lịch sử, văn hóa, con người và nước thuộc địa thời cận đại. Hai điểm này không hoàn toàn tách bạch, mà có sự tiếp nối. Nhưng cũng có nội dung chỉ có trong thời kỳ thuộc địa. Nhận thức như vậy để thấy rằng Hồ Chí Minh không viết lại, nói lại các bậc thầy và những gì trong truyền thống dân tộc; ngược lại, Người đã khắc phục những hạn chế của truyền thống và thiếu hụt trong chủ nghĩa Mác-Lênin.

Hạn chế lớn nhất của giá trị truyền thống là lý luận khoa học. Thiếu hụt lớn nhất của chủ nghĩa Mác-Lênin là những tư liệu lịch sử của các nước thuộc địa phương Đông. Hồ Chí Minh đã lấp đầy những khoảng trống đó. Chỉ cần nêu một số điểm tiêu biểu cũng thấy rõ rằng, nếu Hồ Chí Minh không vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta thì không thể có thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Thứ nhất, mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu ở các nước tư bản là mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản. Còn ở Việt Nam là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc với bọn đế quốc xâm lược và phong kiến tay sai.

Thứ hai, theo Hồ Chí Minh, làm cách mạng ở Việt Nam trước hết nhằm mục đích giải phóng dân tộc (theo con đường cách mạng vô sản). Vấn đề này ở các nước tư bản châu Âu cơ bản đã được giai cấp tư sản làm. Vì vậy, trong chủ nghĩa Mác-Lênin bàn trước hết tới đấu tranh giai cấp và giải phóng giai cấp.

Thứ ba, quan điểm về Đảng và xây dựng Đảng ở các nước thuộc địa cũng không giống ở các nước tư bản châu Âu. Đảng Cộng sản ra đời ở nước Việt Nam thuộc địa phải có thêm yếu tố phong trào yêu nước và ngay từ đầu Đảng đã cắm rễ sâu trong lòng dân tộc.

Thứ tư, quan điểm về đoàn kết theo Mác “Giai cấp vô sản tất cả các nước đoàn kết lại”, và Lênin “Giai cấp vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!” không thể áp dụng máy móc vào Việt Nam, nơi phải đoàn kết “đồng bào”, toàn dân tộc, mọi con dân nước Việt, con Lạc cháu Hồng.

Thứ năm, ở nước Việt Nam hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến chuyên chế và gần trăm năm dưới chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, một trong những vấn đề phải đặt lên hàng đầu là thực hành dân chủ và đạo đức.

Thứ sáu, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, một nước vốn là thuộc địa, kinh tế và tư duy nông nghiệp lạc hậu, khoa học-kỹ thuật kém phát triển không thể làm theo cách mà các nước đã trải qua chủ nghĩa tư bản như ở châu Âu. v.v…

Vì không nhận thức sâu sắc những vấn đề nêu trên nên có người nghĩ rằng Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam cũng giống Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Trong lúc đó sự khác nhau là rõ rệt. Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 là cách mạng vô sản: đánh đổ giai cấp tư sản, mục đích là thiết lập nền chuyên chính vô sản, lực lượng công-nông là chủ yếu, quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa xã hội... Còn cách mạng Việt Nam tháng 8-1945 là cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản: đánh đổ bọn đế quốc xâm lược, mục đích là giành độc lập dân tộc, lực lượng cách mạng là toàn dân tộc lấy công-nông làm gốc, quá độ gián tiếp lên CNXH...

Nếu Hồ Chí Minh không vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta để xây dựng hệ thống lý luận cách mạng soi đường cho cách mạng Việt Nam thì làm sao chúng ta có thắng lợi nhanh gọn trong thời gian chưa đầy hai tuần của Tháng Tám năm 1945? Và tiếp theo là thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến thần thánh, quá độ lên CNXH khi cả nước có chiến tranh với tư duy “chủ nghĩa xã hội thời chiến”.

Trong “khái niệm” có nói tới tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Điều này cần được hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh không phải xuất hiện từ một mảnh đất trống không, mà trên nền dân tộc. Điều cần nhấn mạnh là dưới ánh sáng cách mạng, khoa học và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã nâng cao các giá trị truyền thống lên một chất mới, trình độ mới, tạo nên sức mạnh mới trong thời đại mới. Hồ Chí Minh cũng tiếp thu có chọn lọc văn hóa nhân loại. Người đã làm giàu trí tuệ của mình và trí tuệ dân tộc bằng những giá trị văn hóa phương Đông như đạo đức, chủ nghĩa tập thể, lòng từ bi hỷ xả... và những giá trị văn hóa phương Tây như đề cao vai trò cá nhân, truyền thống và phong cách dân chủ, những vấn đề về nhân quyền, dân quyền... Chúng ta cần nhận thức rằng, Hồ Chí Minh không phủ nhận các giá trị Đông, Tây, kim, cổ. Ngược lại, Người là số ít trong các nhân vật đã trở nên huyền thoại ngay khi còn sống, vì trong khi chống thực dân Pháp, Người vẫn quý trọng, đề cao văn hóa Pháp; chống xâm lược Mỹ, vẫn đề cao truyền thống và ý chí đấu tranh giành độc lập của người Mỹ. Người trả lời các nhà báo: “Khổng Tử, Giêxu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy”(8).

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một khoa học, vì vậy cần được đối xử như một khoa học. Hiện nay, có một số lực lượng thù địch đang cố tình đưa ra những quan điểm thù địch nhằm xuyên tạc, bóp méo, bôi nhọ và cuối cùng đi tới phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh song cũng lại có một số quan điểm sai trái, lệch lạc do không nghiên cứu thấu đáo dẫn tới không hiểu đúng tư tưởng Hồ Chí Minh. Loại ý kiến này - hoặc vô tình hay hữu ý - đều có thể tiếp tay cho các quan điểm thù địch. Để phê phán và chống lại các quan điểm sai trái phủ nhận hệ thống quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cần hiểu đúng, hiểu sâu, nắm chắc khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất phát từ cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Người. Phải coi khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh là chìa khóa mở cửa đi vào nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh.

(1) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb ST, H, 1987, tr.125

(2) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb ST, H, 1991, tr.127.

(3) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H, 2001, tr.83-84.

(4) Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn Giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, H, 2003, tr.19.

(5) Hội thảo Quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh (Trích tham luận của đại biểu quốc tế), UNESCO và Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Nxb KHXH, H, 1990, tr.9

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG,H, 1996, t.12, tr.504.

(7) Hồ Chí Minh: Sdd, t.5, tr.272.

(8) Xem: Võ Nguyên Giáp: Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb CTQG, H, 1997, tr.43.

Theo Tạp chí Ban Tuyên giáo Trung ương

Phong cách khoa học Hồ Chí Minh

đăng 00:10 08-07-2009 bởi Nam Van Chi

Tình yêu khoa học và phong cách làm việc khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh là chủ đề rất được nhiều người quan tâm. Nhiều tham luận tại hội thảo “Chủ tịch Hồ Chí Minh với các vấn đề giáo dục và khoa học” do Trường ĐH Ngoại ngữ - tin học TP.HCM (HUFLIT) vừa tổ chức, với sự góp mặt của nhiều nhà khoa học, giảng viên ĐH tại TP.HCM đã đi sâu vào nội dung này.

Chủ tịch Hồ Chí Minh xem mô hình quy hoạch xây dựng thủ đô. Người căn dặn: “Trong thiết kế phải đồng bộ đường sá, hệ thống thoát nước, lưới điện... tránh cản trở sự đi lại của nhân dân. Phải có quy hoạch trước, tránh làm rồi lại phá đi” (16-11-1959) -Ảnh tư liệu

Tác phong khoa học

Kỹ sư Phạm Văn Bảy - nguyên phó chủ tịch Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật TP.HCM - cho biết: “Bác nói: con mắt ta nhìn xã hội cũng phải khoa học, cho nên mọi cái nhìn của Bác đều mang ít nhiều màu sắc khoa học, có thể nói đó là một tác phong khoa học”. Con số là khởi thủy của khoa học được Bác vận dụng một cách triệt để để chứng minh, thuyết phục. Khi nhấn mạnh các vấn đề về thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc nói: “Xin lỗi các bạn vì tôi đã nhồi nhét các bạn với bấy nhiêu con số. Song là “những con số hùng hồn” như người Pháp vẫn nói. Chúng hùng hồn hơn bất cứ một sự mô tả nào khác mà tôi có thể làm được”.

Khi so sánh giữa các nước đế quốc và các nước thuộc địa, Người đã đưa ra các con số một cách thuyết phục: “Như vậy chín nước với tổng số dân 320.657.000 người và với diện tích 11.407.600km2 bóc lột các nước thuộc địa gồm hàng trăm dân tộc với số dân 560.193.000 người và với diện tích 55.637.000km2. Toàn bộ lãnh thổ của các nước thuộc địa rộng gấp năm lần lãnh thổ các chính quốc, còn số dân của chính quốc chưa bằng 3/5 số dân của các nước thuộc địa”.

Bác hay đưa ra các so sánh theo thời gian, tính chất, không gian để làm nổi bật vấn đề. Điều này được rút ra trong công tác quần chúng: “Đặc điểm rõ nhất trong tư tưởng của dân chúng là họ hay so sánh. Dân chúng so sánh đúng, giải quyết đúng là vì tai mắt họ nhiều, việc gì họ cũng nghe, cũng thấy.

Vấn đề Bác quan tâm là những điều ẩn sau các con số. Từ những con số người tốt, việc tốt được khen thưởng của các địa phương, Bác nói: “Những con số ghi trong này không có nghĩa là ngành này, giới này, tỉnh này anh hùng hơn ngành, giới, tỉnh kia. Nơi nào có ít người được khen là khuyết điểm cấp lãnh đạo ở đó. Một số cán bộ của ta hình như mải làm công tác hành chính, sự vụ hơn là để nhiều tâm sức xây dựng con người, xây dựng Đảng và các tổ chức cách mạng, cho nên không chịu theo dõi việc làm hằng ngày của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân”.

Ông Phạm Văn Bảy rút ra nhận định: “Bác Hồ đã cho chúng ta thấy rõ cái gì ẩn sau các con số. Các con số trên các bản báo cáo phải được thẩm định trước hết về tính chân thật, tính thực tế của nó trước khi dùng để phân tích vấn đề và tìm được nội dung trong đó. Lúc này các con số mới có đầy đủ ý nghĩa của nó, mới phản ánh đúng đắn vấn đề. Con số vẫn có mặt trái của nó nếu ta cố tình du di”.

Tình yêu khoa học

Lúc miền Bắc đang tăng gia sản xuất trong chiến tranh với nền nông nghiệp lạc hậu, Bác đã kêu gọi SV vươn tới tầm cao của khoa học kỹ thuật. Tiến sĩ Hồ Hữu Nhựt, ĐH Hồng Bàng, dẫn lại lời phát biểu của Bác tại Đại hội sinh viên lần thứ hai. Trong đó Bác dặn SV phải “yêu khoa học và kỹ thuật. Bởi vì tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có khoa học và kỹ thuật. Thời đại chúng ta bây giờ là thời đại vệ tinh nhân tạo, nghĩa là thời đại khoa học phát triển rất mạnh, thời đại xã hội chủ nghĩa, thời đại anh hùng. Mỗi người lao động tốt đều có thể trở nên anh hùng. Vậy mong các cháu cũng làm người thanh niên anh hùng trong thời đại anh hùng”.

Các bản tham luận cho thấy nghiên cứu kỹ cuộc đời và tư tưởng của Bác, mỗi chúng ta sẽ rút ra cho mình nhiều hiểu biết quan trọng. Nói như lời giáo sư, tiến sĩ Bùi Khánh Thế - hiệu phó Trường HUFLIT: “Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về khoa học, phong cách làm việc cũng như những lời căn dặn của Bác về cách tổ chức, quản lý công việc thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Người trước thực tiễn đất nước. Cuộc hội thảo sẽ thành công trọn vẹn nếu mỗi người tham dự có tiếng nói để bổ sung, hoàn thiện chủ đề. Đó là cách thiết thực để thể hiện quyết tâm của chúng ta trong việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Kỹ sư Phạm Văn Bảy cho biết: “Tôi học tập Bác cách nhìn xã hội với con mắt khoa học”. Và ông dẫn lời nhà thơ Lưu Trọng Lư:”Thành thật tôi mong rằng mỗi người trong các bạn, đi vào thế giới của Bác Hồ sẽ có một phép cảm thụ, suy tư, thu nhận riêng. Vì học Bác Hồ là tự phát huy”.

Theo THÀNH VINH (Tuổi Trẻ)

Bác dặn trồng cây thay vì dựng bia đá, tượng đồng

đăng 09:09 29-05-2009 bởi Nam Van Chi

Trong Di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng. Bác chỉ rõ việc cần phải làm trước tiên sau chiến tranh là chỉnh đốn Đảng.

Trong di chúc, Bác dặn trồng nhiều cây ở những nơi lưu niệm Người, không nên dựng bia đá, tượng đồng - Ảnh tư liệu

Bác viết di chúc như thế nào?

Bản Di chúc đầu tiên được Bác khởi thảo từ ngày 10 đến 15-5-1965, hơn bốn năm trước ngày bác mất, có chữ ký của bí thư thứ nhất Lê Duẩn. Từ đó cho đến bản cuối cùng viết ngày 10-5-1969, Bác đã nhiều lần sửa chữa và bổ sung, khi thì đánh máy, khi thì viết tay. Điều đó cho thấy Bác cẩn thận thế nào đối với từng chữ, từng câu trong di chúc, vì ở đó dồn hết tâm huyết và trí tuệ, tình thương yêu và sự trăn trở trong suốt cả đời Người.

Một điều khá đặc biệt nữa là trong suốt quá trình viết, đọc lại và sửa di chúc, tài liệu mà Người chú thích bên cạnh là “tuyệt đối bí mật”, Bác đều thực hiện vào tháng 5 - tháng có ngày sinh của Bác. Tài liệu lưu trữ của Bảo tàng Hồ Chí Minh cho thấy: Năm 1966, Bác đã đọc lại tài liệu “tuyệt đối bí mật” vào các ngày 11, 15 và 16-5 trước lúc đi chữa bệnh. Năm 1968, Bác dành thời gian suốt từ ngày 10 đến 19-5 để viết lại đoạn đầu, sửa và viết thêm một số đoạn của di chúc. Điều thú vị nữa là phần lớn những lần viết, đọc và sửa di chúc của Bác đều được bắt đầu từ lúc 9 giờ sáng và kết thúc lúc 10 giờ.

Về việc xin làm khác lời Bác dặn

Đoạn “về việc riêng”, năm 1965, Bác dặn dò về việc tang và viết về hỏa táng, dặn để lại một phần tro, xương cho miền Nam; năm 1968, Bác viết lại đoạn này, dặn để tro vào ba hộp sành, cho Bắc, Trung, Nam mỗi miền một hộp. Bản di chúc công bố năm 1969 không có đoạn này, Thông báo 151 của Bộ Chính trị (khóa VI) giải thích: “Sở dĩ trước đây chưa công bố đoạn Bác viết về yêu cầu hỏa táng là vì thể theo nguyện vọng và tình cảm của nhân dân, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) thấy cần thiết phải giữ gìn lâu dài thi hài của Bác để sau này đồng bào cả nước, nhất là đồng bào miền Nam, bạn bè quốc tế có điều kiện tới viếng Bác, thể hiện tình cảm sâu đậm đối với Bác. Chính vì lẽ đó mà chúng ta đã xin phép Bác về điểm này được làm khác với lời Bác dặn”.

Cụ thể, bản viết tay năm 1968 Bác dặn: “Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là “hỏa táng”. Tôi mong rằng cách “hỏa táng” sau này sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống sẽ tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện thì “điện táng” càng tốt hơn”.

“Đồng bào mỗi miền nên chọn một quả đồi mà chôn hộp tro xương đó. Trên mả không nên có bia đá, tượng đồng mà nên xây một ngôi nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi”.

“Nên có kế hoạch trồng cây trên và chung quanh đồi. Ai đến thăm thì trồng một vài cây làm kỷ niệm. Lâu ngày cây nhiều thành rừng sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp”.

Thấy trước tương lai

Trong di chúc công bố năm 1969, Bộ Chính trị cho sửa lại một câu Bác viết năm 1965: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể sẽ kéo dài mấy năm nữa” được sửa là: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài”. Theo Thông báo 151, sở dĩ có sự sửa đổi đó là vì cuộc kháng chiến lúc đó còn đang diễn ra rất khó khăn, ác liệt. Tuy nhiên, từ ngày Bác ra đi cho đến ngày “Mỹ cút” và đến ngày “ngụy nhào” chỉ có mấy năm đã cho ta thấy cái nhìn thấu tương lai và niềm tin tất thắng của Bác. Cũng như khi xưa, Bác đã có lần dự báo nước ta sẽ giành được độc lập vào năm 1945.

Là người khai sinh Đảng, khai sinh Nước, hơn ai hết Bác lường trước rất rõ những khó khăn của công cuộc xây dựng đất nước sau chiến tranh, vì thế đoạn viết thêm vào di chúc năm 1968, Bác dặn: “Đó là một công việc cực kỳ to lớn, phức tạp và khó khăn. Chúng ta phải có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm. Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”.

Giải thích tại sao đoạn trên đây không được công bố trong Di chúc 1969, Thông báo 151 cho biết: “Về việc chưa công bố một số đoạn Bác viết thêm năm 1968 về những việc cần làm sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước giành thằng lợi hoàn toàn, đó là vì năm 1969 khi Bác qua đời, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước còn đang gay go, ác liệt, chúng ta chưa giành được thắng lợi cuối cùng nên việc công bố những đoạn văn nói trên lúc ấy là chưa thích hợp”.

PGS-TS Bùi Đình Phong, Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ, tâm sự rằng nghiên cứu Di chúc Bác Hồ, sau mỗi năm ông lại phát hiện thêm những nét mới. Sau những dòng chữ ngắn gọn là những tổng kết kinh nghiệm cả một đời hoạt động vì nước, vì dân của Bác. “Bác nói nguyên lý đoàn kết: Không thực hiện dân chủ thì không đoàn kết được, nhất là dân chủ trong Đảng. Vì Đảng ta cầm quyền, không dân chủ trong Đảng thì làm sao dân chủ trong dân được. Bác dạy phải thường xuyên phê bình, phát triển đoàn kết, tức là không phải hôm nay làm, mai không làm” - ông Phong nói.

Nhớ di chúc thiêng liêng của Bác, chúng ta cũng nhớ tới những lời thề trong điếu văn mà Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đã đọc trước linh cữu của Người:

“Vĩnh biệt Người, chúng ta thề:

Suốt đời học tập đạo đức, tác phong của Người, bồi dưỡng phẩm chất cách mạng, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh...

Trước anh linh Hồ Chủ tịch, chúng ta nguyện suốt đời trung thành với Người, đem hết tâm hồn và nghị lực, đoàn kết thành một khối sắt thép, phấn đấu quên mình, quyết làm tròn nghĩa vụ cao cả vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân”.

Bốn mươi năm qua đi kể từ ngày Bác Hồ kính yêu qua đời, đọc lại di chúc thiêng liêng của Người trước lúc ra đi, cùng với bản “Di chúc về chính trị” - “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (được Người viết đầu năm 1969) chúng ta càng thấu hiểu được tầm cao của Bác, tình thương yêu vô bờ và cả nỗi lo lắng, trăn trở lớn lao cuối đời lãnh tụ.

Năm 1969, vì một số lý do, Bộ Chính trị (khóa III) đã sửa một câu và chưa cho công bố một vài đoạn trong Di chúc Hồ Chủ tịch; 20 năm sau đó, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã ký thông báo công bố toàn văn các bản Di chúc của Bác Hồ.

Thông báo số 151-TB/TW, ngày 19-8-1989 của Bộ Chính trị “về một số vấn đề liên quan đến Di chúc và ngày qua đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh” do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh ký viết: “Nhân kỷ niệm 20 năm ngày Bác qua đời và chuẩn bị kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Bác, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) thấy có trách nhiệm thông báo đến toàn Đảng, toàn dân một số vấn đề liên quan đến di chúc và ngày Bác qua đời”.

Theo LÊ KIÊN (Pháp Luật TP.HCM)

"Bác vẫn như đang nói với chúng ta"

đăng 09:07 29-05-2009 bởi Nam Van Chi

Khâu Tý là một quả đồi thuộc xã Điềm Mặc, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên - được gọi là “Phủ Chủ tịch” đầu tiên thời chống Pháp. Thăm Khâu Tý dịp sinh nhật Bác, được nghe lại những điều Bác viết trong cuốn Sửa đổi lối làm việc chính tại căn lán nơi Bác sống, làm việc càng thấy những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị đến hôm nay.

Bác Hồ và chiếc máy đánh chữ được Bác dùng để soạn thảo nhiều văn kiện quan trọng - Ảnh tư liệu

Có mặt trong căn lán mà tác phẩm đã ra đời cách đây 60 năm, GS.TS ngôn ngữ học Nguyễn Như Ý thật sự xúc động.

Giọng xứ Nghệ của ông sang sảng đọc một đoạn tác phẩm Sửa đổi lối làm việc của Bác Hồ trong căn lán giữa rừng: “Nếu ai nói chúng ta không dân chủ thì chúng ta khó chịu. Nhưng nếu chúng ta xét kỹ thì có thật như thế”…, “Đối với cơ quan lãnh đạo, đối với những người lãnh đạo, các đảng viên và cán bộ dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không dám phê bình. Thành thử cấp trên cấp dưới cách biệt nhau. Quần chúng với Đảng xa rời nhau. Trên thì tưởng cái gì cũng tốt đẹp. Dưới thì có gì không dám nói ra”…

Đọc đến đây, giọng giáo sư bỗng nhấn mạnh từng chữ: “Họ không nói ra không phải là họ không có ý kiến. Nhưng vì họ nghĩ nói ra cấp trên cũng không nghe, không xét, có khi lại bị trù là khác”.

Đến căn lán Bác ở ngày xưa, chúng tôi gặp các cụ Ma Đình Khánh, Ma Đình Hoàng đang quét dọn nơi ở của Bác để chuẩn bị đón một đoàn khách. Các cụ nhớ lại: Hôm ấy trời bắt đầu chuyển sang hè, một đêm có hai anh thanh niên (sau này biết một người là Vũ Kỳ, thư ký riêng của Bác, một người tên là Nhất, bảo vệ của Bác), cầm giấy giới thiệu đề nghị giúp làm một căn lán nhỏ trên đồi cho một người ở, nhưng ngăn làm đôi. Một căn lán to ở sườn đồi cho chừng 9-10 người ở.

Anh Triệu Đình Quân dạo ấy là chủ nhiệm Việt Minh xã huy động chín dân quân, tất cả đều là đảng viên, dưới sự hướng dẫn của anh Kỳ và anh Nhất làm trong khoảng năm ngày thì xong. Cây vầu làm cột, lá cọ lợp mái (hai thứ có sẵn trên đồi). Riêng sàn thì vợ chồng Ma Đình Tịnh, Ma Đình Hèn có một số tấm ván xẻ lát sẵn sàng cho mượn.

Đứng trước căn lán hai buồng đơn sơ, trước cái bếp đắp bằng đất, ba thanh sắt đã bắt đầu hoen gỉ, lòng chúng tôi bồi hồi, xiết bao xúc động, bởi cảm thấy như hình bóng Bác vẫn còn đâu đây.

Chúng tôi nhẹ bước lên chiếc cầu thang ngắn vỏn vẹn ba bậc để lên chiếc lán của Bác. Chiếc lán rộng chừng 10m2, được ngăn làm đôi, một nửa dùng làm buồng ngủ, một nửa để làm việc, tiếp khách. Chiếc giường và chiếc bàn làm việc cũng bằng vầu.

Theo đại tá Kim Sơn (một chiến sĩ giải phóng quân có mặt ở Tân Trào từ Cách mạng Tháng Tám), Khâu Tý là một trong những địa điểm Bác dừng lại lâu nhất trong suốt thời gian tám năm ở ATK Định Hóa: 4 tháng 19 ngày. Có lẽ do nơi đây khá thuận lợi về địa thế. Từ Khâu Tý có đường mòn ra Quảng Nạp đi Phú Minh, sang huyện Đại Từ hoặc ra chợ Chu, ngược ra chợ Đồn (Bắc Kạn) hoặc vượt đèo De, núi Hồng sang Tân Trào.

Mặt khác, ở gần Bác lúc này còn có Tổng bí thư Trường Chinh và văn phòng Trung ương Đảng ở xóm Phụng Hiển. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Văn phòng Bộ Quốc phòng, Tổng chỉ huy ở xóm Khẩu Hấu. Quyền trưởng ban thường trực Quốc hội Tôn Đức Thắng ở xóm Đồng Mua.

Ở gần Khâu Tý còn có chủ nhiệm Tổng bộ Việt Minh Hoàng Quốc Việt và chủ nhiệm báo Cứu Quốc Xuân Thủy ở xóm Roòng Khoa. Đây là hai cơ quan, hai con người Bác hằng yêu quý. Bác vốn là người sáng lập ra Mặt trận Việt Minh và ngày 19-5, ngày thành lập Mặt trận cũng chính là ngày sinh của Người. Con người Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh chính là nhà báo vĩ đại nhất trong lịch sử báo chí VN.

Ở Khâu Tý - Phủ Chủ tịch đầu tiên của “thủ đô gió ngàn” - từng diễn ra những cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng gồm các đồng chí Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp kể lại trong một lần họp như thế, mọi người đã được nghe bài thơ Cảnh khuya của Bác vừa làm xong.

Đặc biệt, tại căn lán đơn sơ ấy đã ra đời một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Hồ Chí Minh. Đó là cuốn Sửa đổi lối làm việc. Theo đồng chí Vũ Kỳ, khi giặc Pháp mở cuộc tiến công lên Việt Bắc ngày 7-10-1947 thì Bác cũng vừa đánh máy xong trang cuối cùng của tập sách bằng chiếc máy chữ Hermes Bác mang theo từ hồi ở Tân Trào. Rất nhanh chóng, Sửa đổi lối làm việc trở thành tập sách gối đầu giường của cán bộ, đảng viên, góp phần to lớn vào thành công của công tác xây dựng Đảng.

GSTS ngôn ngữ học Nguyễn Như Ý tâm sự: “Chúng ta có một Hồ Chí Minh thật vĩ đại. Vấn đề là chúng ta phải làm sao xứng đáng với điều đó”. Bao nhiêu năm qua có một câu hỏi lớn cứ vương vấn trong đầu giáo sư: Sao mà từ năm 1947, giữa một khu rừng heo hút, trong căn lán nhỏ đơn sơ giữa lúc giặc Pháp đang đổ quân vây kín mọi ngả rừng, cố tìm bắt sống cho bằng được Hồ Chí Minh mà Người vẫn có thể viết ra những lời vĩ đại như thế?

...Rời Khâu Tý, chúng tôi nhớ mãi câu nói của đồng chí Vũ Kỳ, người từng được sống cạnh Bác Hồ trong suốt thời gian Bác viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc trong căn lán nhỏ giữa “thủ đô gió ngàn”: “Lời Bác viết cách đây hơn nửa thế kỷ mà vẫn như đang nói với chúng ta hôm nay”.

Đại tá THẾ KỶ (người giúp việc của ông Vũ Kỳ - thư ký của Bác Hồ)
Theo Tuổi Trẻ

1-10 of 21