quảng ngãi 1974

Sau ngày ở Saigon diễn ra cái gọi là “bốc thăm nhiệm sở”, Diệp, Thắng, Nhơn, Quảng và tôi – hai thằng lùn, một thằng ròm, hai thằng cao – khăn gói lên đường ra Quảng Ngãi. Má tôi buồn, tất nhiên, với bà miệt đó hẳn là nơi dành riêng cho mấy anh chàng đội beret màu nâu dạn dày chinh chiến, chớ không phải dành cho một thằng mặt còn búng ra sữa mà xưa nay mới cẩm cây Colt bắn có một phát và mấy ngày sau tai còn ù. Không biết má mấy đứa kia nói gì, hay là có nói gì không, nhưng cuối cùng năm đứa tôi cũng gặp nhau ở Tân Sơn Nhứt, được một nàng Air Vietnam thơm phức mặc áo dài đỏ ân cần dắt ra cầu thang máy bay, giống như cô giáo trường tiểu học dắt đám học trò hỉ mũi chưa sạch đi lên văn phòng chích ngừa dịch hạch. Ngồi trong máy bay nghe cánh quạt kêu ồ ồ, mắt lơ đãng nhìn xuống đất, hồn bồng bềnh trôi ngược giòng thời gian về một nơi mới cách đó chừng một tháng…

Buổi chiều cuối cùng ở Đài Bắc.

Lúc tôi đẩy cửa khách sạn bước vào, cô bạn Thái Giai Dung, không biết nghe ai nói, đã đến đó ngồi chờ từ lúc nào. Mặc mini-jupe màu đen, đùi trông trắng hẳn ra, khác xa cô nữ sinh đại học Đông Ngô hàng ngày. Dung đi với một thằng em mà tôi chưa gặp bao giờ, hay có gặp mà không nhớ (sao lại dắt thằng em theo trong một khung cảnh thơ mộng như vầy). Té ra Dung rủ tôi đến trường của nàng coi cho biết. Trời ơi, sắp đêm rồi, mai về rồi, thứ muốn coi cho biết thì không cho coi, đem cho coi một ngôi trường làm quái gì. Thôi kệ, đi chơi với bồ đêm cuối thì mai mốt mới còn chút gì để nhớ để quên. Sáng hôm sau, Mr Dương Tam Hòa và anh Giang Quốc Viêm tiễn cả bọn ra phi trường, hình ảnh còn lại trong ký ức là hai bàn tay vẫy vẫy với hai bộ mặt không vui không buồn, chờ transit ở Hongkong lâu thấy mẹ, về tới Saigon gần nửa đêm, còn nhớ đi cùng chuyến là một phái đòan tu sĩ Phật giáo, và một nhân vật đặc biệt – một ông đại sứ mà sau này không còn dịp nào để nhận thêm một nhiệm sở mới – đồ đạc thì lỉnh kỉnh, phải ngủ lại nhà Quang, sau khi năn nỉ mấy anh chàng NDTV cùng xóm…

Đáp xuống Quảng Ngãi, xe công ty ra đón dưới trời nắng gay gắt, đưa đi ăn cơm. Năm thằng giương mắt nhìn phố xá lạ lẫm, những hàng cây dương liễu nên thơ mà buồn bã, cây cầu xe lửa Trà Khúc gãy ngang khúc giữa, bên kia sông cây cối xanh xanh, xóm làng lặng lẽ, anh lính đeo súng đi xe đạp gác cổng nhà máy, cái cổng làm bằng một thân cây, lòng nghe nằng nặng, vui cũng không phải, buồn cũng không phải, sợ cũng không phải, mừng lại càng không phải.

Vô nhà máy thì nhẹ nhõm đôi chút khi lần lượt bắt tay anh Trang, anh Lực, và được biết còn mấy anh Yến, Ngộ, Ánh và Tấn. Chánh sự vụ canh nông, Mr Mai Hòang Trọng, chột mắt, dân Hiệp Hòa. Giám đốc, Mr Lê Đình Liêm, người hom hem, áo sơ-mi phanh ngực. Ổng giảng cho tụi tôi nghe bài học đầu tiên là đi làm thì không có CHÚ với CHÁU mà chỉ có ANH với EM. OK, anh thì anh. Lúc dắt qua dãy văn phòng để giới thiệu, tụi tôi mắt láo liên mà chẳng thấy em nào trẻ, chứ đừng nói đẹp, chẳng bì với TSRI lúc nào cũng nhung nhúc người đẹp, thôi nhắc làm chi cho thèm. Trưởng phòng hành chánh, Mr Phong, ăn nói chậm rãi. Thủ quỹ, chị Sen. Trưởng phòng tài chánh, Mr Hạp ròm, viết chữ bay bướm, tóc chải bóng mượt, hình như ở nhà máy có một mình ổng mặc áo bỏ vô thùng.

Chánh sự vụ tu bổ, Mr Mai Thanh Tra, tóc quăn, miệng ngậm vố, dáng khoan thai, chơi bộ râu kiểu Charles Bronson, hình như ở nhà máy có một mình ổng coi báo Playboy. Ban cơ điện có Mr Nguyễn Đa Phước, cũng chơi bộ râu na ná, hai anh em cột chèo Nguyễn văn Sĩ và Thái văn Hùng; gia đình ba ông này và ba anh em nhà anh Ánh lấy trọn một dãy tứ lập. Cô em của anh Ánh xinh xinh nhưng còn nhỏ, nếu không Thắng lùn đã nhào vô, bất kể người ta đang học lớp mười một hay lớp mười hai. Tối tối qua nhà anh Ánh nghe nhạc Beatles, khi về nằm ngủ thì nghe Mùa thu lá bay nữa, nhưng mà nghe trong đầu. Thủ kho nhớ có hai, Mr Tâm, mày râu nhẵn nhụi, Mr Tống, cũng chơi bộ râu Charles Bronson – sao chẳng có ai chơi đầu trọc ta? Lúc sau, anh Tấn đưa cô vợ Đài Loan và bà má ra, rồi Mr Trương Ngọc Anh, dân địa phương, thay cho Mr Trọng đổi về quê.

Lúc đó chưa đến mùa mía, Diệp và Thắng tập sự trong nhà máy, Nhơn, Quảng và tôi thì ngày ngày ra vùng mía làm cái chuyện gọi là “điều tra sản lượng mía”. Ban đầu, chân ướt chân ráo, giọng Quảng nghe chưa rành, sợ bị lạc, nên ba thằng được ưu ái cho đi chung với ba anh bạn người địa phương: Nhơn đi với Lương Hữu Uyên ở Nghĩa Hành, Quảng đi với Trần Cương ở Sơn Tịnh, tôi đi với Nguyễn Chính Loan ở Tư Nghĩa, còn anh Trang đi một mình ở Bình Sơn (anh Lực ở nhà coi vườn mía giống). Chừng một tháng thì mạnh ai nấy đi, có lạc ráng chịu. Buổi sáng, sau khi ăn bún bò Huế ở ngã năm, thì tới trụ sở xã ấp xin danh sách nhà vườn, buổi chiều, tới nhà mấy ông “lão nông tri điền” nói dóc. Có ông vui vẻ, có ông nghi ngờ, nhờ vậy mới từ từ nghe rành giọng Quảng. Hễ ông nào nói tên là “Lâm Mưa” thì mình phải hiểu và ghi rằng đó là “Lâm Mai”. Còn thằng cha nào nói hồi nhỏ đi “quynh” bò thì mình phải hiểu là hắn đi chăn bò chớ không phải đi ăn trộm bò. Tụi tôi mỗi thằng được cấp cho một “cây” Honda 67 – nói theo giọng Quảng – để chạy. Lúc đó tôi chạy xe chưa rành nữa. ĐM, có lần tông trúng hai má con chị kia đi xe đạp té chúi nhủi, tưởng là hổng sao bèn tỉnh bơ leo lên xe tính dọt trước khi thấy mình bỗng nhiên bị ba bốn anh chàng đội beret nâu chặn lại bắt phải làm cho xong bài tập “nhã nhặn với đàn bà và trẻ em” rồi mới được đi. Thank you for reminding me, dear rangers!

Xong việc, mà trời còn mát, thì đảo một vòng thị xã, kiếm mua sách báo, kiếm quán café – nghĩa là kiếm chỗ nào có người đẹp. Quán đầu tiên tụi tôi ghé ở cái đất này là Mimosa, nhưng lúc sau Nhơn với tôi hay ghé quán Hồng Ngọc, có hai nàng người Huế dễ coi, miễn là mình đừng làm ra vẻ khó coi trước tia mắt của mấy anh chàng đội beret nâu cũng đang ngồi trong quán nhả khói thuốc mù mịt. Ngày nào cũng đi ngang bệnh viện dã chiến, thấy lúc nào cũng tấp nập thì phải. Hiệp định Paris ký thì ký chứ vẫn đánh nhau hà rầm. Nhà thờ Quảng Ngãi bự sầm bành. Trong rạp chiếu bóng thì có Đặng Trần Thức, trong tiệm sách có Kahlil Gibran, Bình Nguyên Lộc, Kim Định và đủ thứ bói bài, tử vi, kinh Dịch. Một lần bị QC chận xét giấy, điệu lên xe jeep về bót. Lúc đứng lớ ngớ ở bót ngó mấy cô nhân viên mặc áo dài, có một cô lấy hai tay ghì tà áo phía sau cho ôm sát cặp mông rồi đi qua đi lại, ý khoe mông tròn (mấy ông QC này ngày nào cũng được rửa mắt, sướng ghê). Lần khác đi với Nhơn, tới chỗ hẹn, nó hớt hãi nói ở trong ruộng mía nó mới bị giựt một vé máy bay, làm hai thằng xanh mặt dọt gấp. Thằng Nhơn không bị giựt thì lâu lâu cũng bị mất một vé máy bay vì nó hay chơi phé.

Quảng Ngãi là xứ trồng mía lâu đời. Người ta trồng từng bụi mía trong vườn như trồng sả, trồng hành. Không cần hàng lối, không cần sách vở. Không cần biết, năng suất vẫn cao. Nếu mua hết mía của tỉnh, kể luôn những nơi chưa kiểm kê diện tích, vì mất an ninh, thì nhà máy chạy cả năm cũng chưa biết chừng. Hết đợt điều tra sản lượng mía thì ở nhà, tập ươm cây kiểng. Sáng sáng xách đồ nghề đi vòng vòng, cắt nào cành từ bi, trúc đào, vàng bạc, chiết cành móng bò (hòang hậu). Ông già tên Học là sư phụ dạy môn này. Hết ươm cây kiểng thì ra xóm coi bánh xe quạt nước, bằng tre, dùng dòng chảy dưới sông để đưa nước lên bờ trên cao năm sáu mét. Rồi vô lò đường coi nấu đường, con bò kéo trục ép đi vòng vòng, thỉnh thoảng ị ra một bãi trên đống lá mía mà nó đạp lên. Có sao đâu. Rồi tìm hiểu đơn vị đo lường của người Quảng. Hết thảy mấy cái “điều tra” và “tìm hiểu” sau đó được hì hục nhào nặn thành một cái “báo cáo tập sự” gửi về văn phòng Saigon mà sau này tôi còn thấy ở đó, hổng biết có ai coi hay không. Xong rồi thì rảnh. Thằng Nhơn rinh vô mấy cuốn sách luật. Thằng Quảng kè kè cuốn từ điển Duden, mắt dán vô đó nhưng có Trời biết nó đang coi trong đó hay đang nhìn mấy cô em không-mặc-đồ trong đầu nó. Tôi thì “chơi” cuốn kinh Dịch của Ngô Tất Tố, chẳng hiểu thằng cha Chu Văn Vương nói cái quái gì ở trỏng, sau này mới biết đó là một cuốn sách dùng để coi bói (ít ra tôi cho là mình biết như vậy). Thỉnh thỏang anh Yến tạt qua nói chuyện tiếu lâm.

Chủ nhật, tôi với Nhơn hay đi xe ôm ra thị xã nhậu ở quán quen không nhớ tên, Thắng thì có người bạn cán sự điện dắt đi tìm những thú vui mà tôi không tiện nói. Một chủ nhật, Nhơn vù ra Đà Nẵng một mình, xách về mấy băng nhạc. Hằng đêm thứ bảy, phòng tôi một giường bị trưng dụng làm sòng bài, không trả tiền xâu, tôi qua giường Nhơn nằm nghe hết I am a rock của Simon&Garfunkel tới The Planets của Holst.

Mùa khô lần hồi trôi qua đến tháng 8 thì tin tức chiến sự ở Thường Đức, Quảng Nam, cũng đưa lại. Trận đánh lớn đầu tiên từ sau mùa hè đỏ lửa, với sư đoàn beret đỏ tái xuất giang hồ. Một lần về phép và sau đó phi trường Quảng Ngãi cũng hết xài, chiều chiều đứng ở nhà máy ngó về phía phi trường thấy từng trái đạn rớt xuống và bụi bay lên mờ mịt, cách chỗ tụi tôi đứng theo đường chim bay, xin lỗi, chừng một cây số. Một cây số thì chỉnh dễ như ăn bánh xèo. Cả bọn nhìn nhau. Chẳng biết đứa nào nghĩ gì. Cũng chẳng đứa nào đóan được rằng đó là lúc cuộc đời mỗi đứa sẽ bắt đầu khác hẳn.

Mùa mưa ở đây tới trễ. Tôi chưa kể là Quảng chung phòng với Nhơn. Bữa đó, vào quãng cuối năm, Nhơn về phép, sáng hôm sau nó mới ra. Đêm đó, không một dấu hiệu, súng nổ rần rần ngay trong khuôn viên nhà máy. Tôi thức giấc, ngạc nhiên, nhưng không sợ. Chợt nghe giọng thằng Quảng thì thào ngòai cửa gọi. Chắc nó muốn hỏi mày đang nằm đâu, chui xuống gầm giường chưa. Chẳng hiểu sao tôi làm thinh. Nằm trên giường hay nằm dưới đất thì cũng vậy. Một hồi, nó về phòng, tưởng tôi còn ngủ. Rồi tiếng súng ngưng. Chung quanh, trong cư xá, không một tiếng người. Tôi không mở cửa sổ dòm ra ngoài, cũng không mở cửa cái đi ra ngoài. Sáng hôm sau, hông nhà máy bị phá lủng một lỗ lớn, nhưng không ai bị gì, máy móc cũng hổng sao. Tiểu đội ĐPQ gác nhà máy cũng còn đó. Chẳng ai nói gì, ra thông báo gì. Nên tôi chẳng biết sự thể ra sao.

Tới tháng giêng, trận chiến ở Phước Long. Một lần nữa về phép ăn tết, lúc này phải xài phi trường Chu Lai, và nhà máy bận rộn sửa sọan vô mùa. Nông dân được cho vô xem nhà máy, có bà kia đòi coi cái gì đó mà anh Lực hổng chịu cho coi (tôi biết bả muốn coi cái gì: bả muốn coi cái "máy đo chữ đường" mặt mũi ra sao, bả sợ nhà máy ăn gian nhà vườn vậy mà). Saigon gửi ra thêm người, trong đó có anh Dũng, anh Chung, chị Trí cận thị và hai chị nữa quên tên, thằng Đức đang ở Phan Rang cũng bị điều ra. Hitachi bên Nhật gửi sang ba anh chàng chuyên viên (tội nghiệp mấy ảnh). Chủ tịch Công ty ra nhậu một bữa với anh em, nhớ là không có hô khẩu hiệu gì hết.

Mặt khác, ở vùng mía Tư Nghĩa, là nơi gần nhất, công ty mở “văn phòng đại diện” ở nhà một người lính sư đoàn 2 để ai muốn bán mía thì đến đó lấy giấy. Vô mùa, hàng ngày tôi phải ra đó trực. Vùng mía của Nhơn và Quảng thì xa hơn, không có “văn phòng”, nên hai thằng này cà nhỏng. Trực đâu nửa tháng, suốt ngày ngồi coi truyện vì chẳng có ma nào đến, tôi được rút về. Không hiểu sao, lại chỉ có mình tôi lãnh nhiệm vụ mới là tiếp nhà vườn viết giấy chặt mía, Quảng và Nhơn vẫn cà nhỏng, còn thằng Đức không hiểu nó làm cái giống gì suốt thời gian biệt phái. Nhà vườn vẫn chặt mía, nhà xe vẫn chở mía, nhà máy vẫn ép mía. Mùa mía đầu tiên của nhà máy chầm chậm trôi qua. Trưa ăn cơm nhà bàn, nghe song ca:

Chàng (hình như Bùi Thiện):

Em ơi em, mùa đông ta sẽ không còn rét mướt lẻ loi, đã có đôi

mình gom sao trời muôn lối

đem ghép thành kỷ niệm yêu thương đến trọn đời

Nàng (hình như Thanh Tuyền):

Anh hỡi anh, con đường hạnh phúc đó anh

mình đưa nhau qua vùng tương lai

dẫu cho cuộc đời nhiều chông gai

ta sẽ không bao giờ nhạt phai mối tình này.

Công ty dành riêng một căn ở dãy bát lập làm câu lạc bộ. Tối tối, ăn cơm ở nhà ông Trừu xong, tụi tôi trịnh trọng xếp hàng tới đó, cũng thấy khoan khoái như là mình đang đi tới một quán café trên đường Pasteur ở Saigon vậy, kiếm ghế ngồi, dúi mũi vào mấy tờ báo Chính LuậnSóng Thần coi tin chiến sự. Rồi tán phét đủ thứ chuyện, không nhớ có đả động gì đến chuyện con gái Quảng Ngãi no hair hay không. Buổi sáng, cô Phương và hai chị em cô Tiểu cô Đại, mình dây, người Huế, phục vụ ốp-la và cháo gà (có trả tiền). Còn mong gì hơn, giữa thời buổi chiến chinh này!

Tới tháng ba, trận chiến ở Ban Mê Thuột. Rồi Pleiku rút. Oh my God. Trong nhóm mới ra, có vài anh lật đật tìm cách bỏ về Saigon. Thằng Nhơn cũng làm theo, nhưng không được. Từ đó, phi trường Chu Lai cũng hết xài. Một đêm nọ, tụi tôi được thông báo là phải vô ngủ trong nhà máy. Chắc có tin đồn pháo kích. Nằm trên bàn làm việc, nói dóc suốt đêm, tôi làm quen Dương Hồng và Ngạn, hai kỹ sư mới ra. Nghe một công nhân nấu đường kể chuyện Đạo bạn tôi ở Biên Hòa, cứ vẩn vơ nghĩ rằng khỏang cách giữa Đạo và tôi bây giờ đang bắt đầu dài ra, dài ra từng giây từng phút. Đêm đó vô sự.

Tới chiều ngày 26-03, như đã ngầm biết một tin gì, cả cư xá khăn gói gánh gồng dắt díu vô nhà máy. Nghe nói Tam Kỳ đang bị đánh và hổng biết rút chưa. Nỗi lo như đặc lại thành giọt trong không khí. Tụi tôi cũng dọn vô thẳng trong nhà máy. Nhà máy đã ngưng chạy từ lúc nào. Nghe nói Mr Liêm và Mr Tra đã bỏ anh em dọt đâu hồi trưa. Như vậy Quảng Ngãi hẳn là rút đêm nay. Vậy mình cũng rút. Bàn tán một hồi gần nửa đêm. Dân Saigon, thêm ba anh chàng người Nhật, thêm vợ và má anh Tấn, dồn vô chật cứng một chiếc Fargo. Đổ xăng. Hình như anh Phước, dân Khánh Hội, lái xe. Lên đường. Đi ra phía Đà Nẵng, chẳng hiểu sao đi phía đó, có bay ngang Tam Kỳ được không mấy cha. Thôi kệ, tới đâu hay đó. Phải đi cái đã.

Ngang qua thị xã, thấy đã nhốn nháo. Vậy là rút thiệt. Đã thấy vài màn hôi của. Dân đứng dọc hai bên đường. Một chị đồng nghiệp ngó thấy xe giơ tay vẫy vẫy, ý muốn đi ké. Đành chịu. Xe chầm chậm ra khỏi thị xã. Đèn xe loang lóang, bóng người chập chờn. Dần dần, hình như không còn chiếc xe nào khác ngoài xe của tụi tôi chạy trên quốc lộ. Đã tới Bình Sơn, vùng mía của anh Trang. Trong xe, ai nấy gà gật, lâu lâu giật nảy khi xe cán cái gì cứng dưới đường.

...

Sáng hôm sau chiếc xe lủng bánh bị bỏ lại trên quốc lộ và tôi thấy mình đi bộ trở lại thị xã dưới trời nắng suốt 10 cây số trong một đám đông đã mất hết khí thế của đêm hôm trước. Ngang bến xe, tình cờ gặp anh chàng thiếu úy đóng ở nhà máy đang đứng trên một chiếc xe đò, mặc bộ pijama, miệng cười toe tóet, chắc đang về quê. Năm đứa tôi gặp lại nhau, thêm ba chị nữa. Mấy anh kia bặt tăm. Tụi tôi kéo về nhà Mr Hạp, chuyện đầu tiên tôi làm là đi hớt tóc. Đêm đó, nghe Huế rút. Bữa kế, nghe Đà Nẵng cũng rút.

Mấy bữa sau, chuyển qua nhà anh Minh tài xế. Mấy bữa nữa, tan hàng, mạnh ai nấy đi, từ giã vùng 1 "quê hương em nghèo lắm ai ơi, mùa đông thiếu áo hè thời thiếu ăn" và vùng 2 "em Pleiku má đỏ môi hồng, ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông". Tất cả lần lượt tìm đường go home. Cả đám còn mình tôi ở lại. Vô cư xá thấy đồ đạc bị dọn sạch, văn phòng thì giấy má tung tóe, riêng nhà máy không sao. Tôi túng thế vô nhà máy làm lại. Ba chàng người Nhật cũng làm lại, mỗi anh chơi một đôi dép râu. Tôi ở ké nhà Mr Tâm thủ kho gần đường rầy, chung giường với thằng con của ổng mà không ngờ là một tháng sau phải đi đám ma của nó ở Saigon, chết bệnh.

Chừng hơn tuần sau, tôi sốt ruột tính đường về. Giữa tháng 4, Nha Trang cũng đã rút, nhớ có bà dì ở Nha Trang, tôi bán cho anh bạn ở nhà máy chiếc đồng hồ Citizen là món đồ cuối cùng trên người còn bán được rồi một buổi sáng lẳng lặng ra bến xe. Tình cờ gặp bà bán bún bò Huế ở ngã năm, nói bả cũng đang về quê, tất nhiên bả là dân chạy loạn hồi mùa hè đỏ lửa.

Lần đầu tiên trong đời thấy hai cái dài nhứt ở miền trung là đèo Cả và cầu Đà Rằng, tới Nha Trang trời đã tối. Sáng hôm sau lớ ngớ hỏi thăm, nhà bà dì ở đường Nguyễn Công Trứ mà lại nói đường Hòang tử Cảnh, may sao cái người mình hỏi đường chính là ông dượng. Nha Trang lúc đó vẫn có vẻ bình yên, sáng sáng mấy em vẫn ra biển tắm. Trong khi mấy em tắm biển thì cách đó chừng ba trăm cây số về phía nam, nhiều người từ nhiều hướng đang đi đến một nơi trên quốc lộ 1 để chơi một trận nữa – có lẽ là trận chót – không biết bạn mình có ai vượt qua khúc đường đó chưa, đó chắc chắn không phải là con đường hạnh phúc của Bùi Thiện và Thanh Tuyền, nhưng mong sao đó cũng không phải là một version của đại lộ kinh hoàng ở Quảng Trị 1972. Và đó đúng là trận chót, tới một ngày đầu tháng 5 tôi thấy mình với bà dì ngồi trên một chiếc xe đò về nhà, ngang Long Khánh cảnh tượng vẫn còn vẻ điêu tàn.

Rốt cuộc cả đám gặp lại ở Saigon, bỏ lại 900 cây số đằng sau lưng.

Cuộc phiêu lưu của tôi là vậy: đi ra bằng máy bay với một tâm trạng khác, đi vô bằng xe đò với một tâm trạng khác, khúc giữa là ông bà phù hộ.

Nhưng rồi tụi tôi cũng sẽ chia tay vài lần nữa...

08-04-2009