thơ nhạc‎ > ‎

bùi giáng

Bùi Giáng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bùi Giáng
Sinh17 tháng 12 năm 1926
huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam,Việt Nam
Mất7 tháng 101998 (71 tuổi)
Thành phố Hồ Chí MinhViệt Nam
Công việcnhà thơ

Bùi Giáng (1926-1998), là nhà thơ, dịch giả và là nhà nghiên cứu văn học của Việt Nam. Các bút danh khác của ông là: Trung niên thi sĩ, Thi sĩ, Bùi Bàn Dúi, Bùi Văn Bốn, Vân Mồng...Ông nổi tiếng từ năm 1962 với tập thơ Mưa nguồn.

Mục lục

  [ẩn

[sửa]Tiểu sử

Bùi Giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 tại làng Thanh Châu thuộc xã Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

Cha ông là Bùi Thuyên, thuộc đời thứ 16 của dòng họ Bùi ở Quảng Nam. Do người vợ cả qua đời sớm nên ông lấy người vợ kế là bà Huỳnh Thị Kiền. Bùi Giáng là con đầu của Bùi Thuyên với Huỳnh Thị Kiền, nhưng là con thứ 5 nếu tính tất cả các anh em. Khi vào Sài Gòn, ông được gọi theo cách gọi miền Nam là Sáu Giáng.

Năm 1933, ông bắt đầu đi học tại trường làng Thanh Châu.

Năm 1936, ông học trường Bảo An (Điện Bàn) với thầy Lê Trí Viễn.

Năm 1939, ông ra Huế học tư tại Trường trung học Thuận Hóa. Trong số thầy dạy ông có Cao Xuân HuyHoài ThanhĐào Duy Anh.

Tháng 3 năm 1945Nhật đảo chính Pháp, nhưng sau đó ông cũng kịp đậu bằng Thành chung.

Năm 1949, ông tham gia kháng chiến chống Pháp, làm bộ đội Công binh.

Năm 1950, ông thi đỗ tú tài đặc biệt do Liên khu V tổ chức, được cử tới Hà Tĩnh để tiếp tục học. Từ Quảng Nam phải đi bộ theo đường núi hơn một tháng rưỡi, nhưng khi đến nơi, thì ông quyết định bỏ học để quay ngược trở về quê, để đi chăn bò trên vùng rừng núi Trung Phước.

Năm 1952, ông trở ra Huế thi tú tài 2 ban Văn chương. Thi đỗ, ông vào Sài Gòn ghi danh học Đại học Văn khoa. Tuy nhiên, theo T. Khuê thì sau khi nhìn danh sách các giáo sư giảng dạy lại, ông quyết định chấm dứt việc học và bắt đầu viết khảo luận, sáng tác, dịch thuật và đi dạy học tại các trường tư thục [1].

Năm 1965, nhà ông bị cháy làm mất nhiều bản thảo của ông.

Năm 1969, ông "bắt đầu điên rực rỡ" (chữ của Bùi Giáng). Sau đó, ông "lang thang du hành Lục tỉnh" (chữ của Bui Giáng), trong đó cóLong XuyênChâu Đốc...

Năm 1971, ông trở lại sống ở Sài Gòn. Thi sĩ Bùi Giáng mất lúc 2 giờ chiều ngày 7 tháng 10 năm 1998, sau một cơn tai biến mạch máu tại bệnh viện Chợ Rẫy (Thành phố Hồ Chí Minh, tức Sài Gòn cũ) sau những năm tháng sống "điên rồ lừng lẫy chết đi sống lại vẻ vang" (chữ của Bùi Giáng).

[sửa]Tác phẩm

Theo thống kê chưa đầy đủ, tác phẩm của Bùi Giáng có (tạm phân theo thể loại):

[sửa]Tập thơ

  • Mưa nguồn (1962)
  • Lá hoa cồn (1963)
  • Màu hoa trên ngàn (1963)
  • Ngàn thu rớt hột (1963)
  • Bài ca quần đảo (1963)
  • Sa mạc trường ca (1963)
  • Sa mạc phát tiết (1972)
  • Mùi Hương Xuân Sắc (1987)
  • Rong rêu (1995)
  • Đêm ngắm trăng (1997)
  • Thơ Bùi Giáng (Montréal, 1994)
  • Thơ Bùi Giáng (California, 1994)…
  • Mười hai con mắt (2001)
  • Thơ vô tận vui (2005)
  • Mùa màng tháng tư (2007)

[sửa]Nhận định

Tất cả đều được xuất bản năm 1957.

[sửa]Giảng luận

Tất cả đều được xuất bản năm 1957-1959.

[sửa]Triết học

  • Tư tưởng hiện đại (1962)
  • Martin Heidgger và tư tưởng hiện đại I và II (1963)
  • Sao gọi là không có triết học Heidgger? (1963)
  • Dialoque (viết chung, 1965)

[sửa]Tạp văn

Các sách xuất bản năm 1969, có:.

  • Đi vào cõi thơ
  • Thi ca tư tưởng
  • Sa mạc phát tiết
  • Sương bình nguyên
  • Trăng châu thổ
  • Mùa xuân trong thi ca.
  • Thúy Vân

Các sách xuất bản năm 1970, có:

  • Biển Đông xe cát
  • Mùa thu trong thi ca.

Các sách xuất bản năm 1971, có:

  • Ngày tháng ngao du
  • Đường đi trong rừng
  • Lời cố quận
  • Lễ hội tháng Ba
  • Con đường ngã ba-Bước đi của tư tưởng…

[sửa]Sách dịch

Các sách xuất bản năm 1966, có:

  • Trăng Tỳ hải
  • Cõi người ta
  • Khung cửa hẹp
  • Hoa ngõ hạnh
  • Othello

Các sách xuất bản năm 1967, có:

  • Bạo chúa Caligula
  • Ngộ nhận
  • Kim kiếm điêu linh

Các sách xuất bản năm 1968, có:

  • Con đường phản kháng
  • Mùa hè sa mạc
  • Kẻ vô luân

Các sách xuất bản năm 1969, có:

  • Nhà sư vướng luỵ
  • Ophélia Hamlet
  • Hòa âm điền dã

Các sách xuất bản năm 1973 và 1974, có:

Hiện nay, nhiều tác phẩm của ông đã và đang được tái bản và xuất bản trong và ngoài nước.

[sửa]Đánh giá

Trước và sau năm 1975, đã có nhiều bài viết về ông và sự nghiệp văn chương của ông. Ở đây chỉ trích giới thiệu thêm ý kiến của nhà nghiên cứu T. Khuê được in trong Từ điển văn học (bộ mới):

Bùi Giáng viết rất nhiều, nhưng những gì còn lại chính là thơ. Thơ ông, ngay từ thuở đầu đã rong chơi, lãng mạn, tinh nghịch, nhẹ nhàng, hóm hỉnh, luôn là những lời vấn đáp lẩn thẩn về ý nghĩa cuộc đời, về lẽ sinh tồn, về những chuyện phù du, dâu bể, ẩn khuất khía cạnh dục tình khép mở của Hồ Xuân Hương...Từ Nguyễn Du, ông tạo nên một môtip bạc mệnh hiện đại, có màu sắc siêu thực qua tính cách tạo hình, có chất hoang mang của con người bất khả tri về mình, về người khác trong cuộc sinh tồn hiện hữu...
Bùi Giáng đã tái dựng lục bát trong bối cảnh mới của thời đại hiện sinh. Nguồn thơ của ông phát tiết trong khoảng thời gian ngắn, chỉ hai năm 1962-1963 đã có tới 6 tập thơ…Chuyện hạ bút thành thơ của ông được xác định như là một hiện tượng độc đáo…Tuy nhiên bi kịch của Bùi Giáng là ông lập lại chính mình, ngay cả trong thơ, cho nên những hình ảnh đẹp, những tư tưởng tân kỳ, nhiều khi được dùng lại nhiều lần trở thành sáo và vô nghĩa...
Nhưng dù sao chăng nữa, ông cũng đã tạo được một mẫu ngông thời đại, sáng tạo một kiểu say sưa, chán đời của thế kỷ 20, khác với Nguyễn Khuyến trong thế kỷ 19 hoặc Tản Đà ở đầu thế kỷ 20[2].

[sửa]Chú thích

  1. ^ T. Khuê, Từ điển văn học (bộ mới), tr. 162.
  2. ^ Lược theo T. Khuê, Từ điển văn học (bộ mới), tr. 163.

[sửa]Tài liệu tham khảo

  • T.Khuê, mục từ Bùi Giáng trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
  • Nhiều người viết, Đặc tuyển Thi sĩ Bùi Giáng, tạp chí Thời văn số 19, 1997.

[sửa]Liên kết ngoài


Trang Thơ Bùi Giáng


:: Phụng Hiến  (Hồng Vân ngâm)


Ngày sẽ hết, tôi sẽ không ở lại

Tôi sẽ đi và chưa biết đi đâu

Tôi sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi

Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu.


Cây và cối, bầu trời và mặt đất

Ðã nhìn tôi duới sương sớm trăng khuya

Mở buồng phổi đón gió bay bát ngát

Dừng bên sông bên cát bụi chia lìa.


Hoàng hôn xuống bình minh lên nhịp nhịp

Ngàn sao xanh lùi bước trước vừng hồng

Ngày rực rỡ đêm êm đềm kế tiếp

Ðón chào tôi chung cười khóc bao lần.


Tôi đã gởi hồn tôi biết mấy bận

Cho mây xa cho tơ liễu ở gần

Tôi đã đặt trong bàn tay vạn vật

Quả tim mình nóng hổi những chờ mong.


Sông trắng quá bảo lòng tôi mở cửa

Trăng vàng sao giục cánh mộng tung ngần

Gió thổi dậy lùa mơ vào bốn phía

Ba phương trời chung gục khóc đêm dông.


Những giòng lệ tuông mấy lần khắc khoải

Những nụ cười tròn mấy bận hân hoan

Những ngoảnh mặt im lìm trong ái ngại

Những bắt tay xao động với muôn vàng.


Những người bạn xem tôi như ruột thịt

Những người em dâng hết dạ cho tôi

Những người bạn xem tôi là cà gật

Những người em không vẹn nghĩa mất rồi.


Trần gian hỡi tôi đã về đây sống

Tôi đã tìm đâu ý nghĩa lầm than

Tôi ngẩn mặt ngó ngàn mây cao rộng

Tôi cúi đầu nhìn mặt đất thâm đen


Tôi chấp thuận trăm lần trong thổn thức

Tôi bàng hoàng hốt hoảng những đêm đêm

Tôi xin chịu cuồng si để sáng suốt

Tôi đui mù cho thỏa dạ em yêu.


Tôi tự nguyện sẽ một lòng chung thủy

Qua những lần buồn tủi giữa đảo điên

Thân xương máu đã đành là ủy mị

Thì xin em cùng lên thác xuống ghềnh


Em đứng mũi anh chịu sào có vững

Bàn tay bưng đĩa muối có chấm gừng

Tôi đã nguyện yêu trần gian nguyên vẹn

Hết tâm hồn và hết cả da xương


Xin yêu mãi yêu và yêu nhau mãi

Trần gian ôi, cánh bướm cánh chuồn chuồn

Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại

Con vi trùng sâu bọ cũng yêu luôn.


Còn ở lại một ngày còn yêu mãi

Còn một đêm còn thở dưới trăng sao

Thì cánh mộng còn tung lên không ngại

Níu trời xanh tay với kiễng chân cao.


Nhưng em hỡi, trần gian ôi ta biết

Sẽ rồi ra vĩnh biệt với người thôi

Ta chết lặng, đành bó tay đầu lắc        

Ðài Siêu ôi, xuân sắc rụng mất rồi.


Ðêm ứa lệ căng phồng mi hai mắt

Bàn tay ta nhỏ như lá cây khô

Mình hoa rã đầm đìa sương theo mốc

Ðỡ làm sao những cánh tiếp nhau rơi.


Ta gởi lại đây những lời ảo não

Những lời yêu thương phụng hiến cho em

Rồi ta gục đầu trên trang giấy hão.


Em bão rằng đừng tuyệt vọng nghe không

Còn trang thơ thấm lại với trời hồng

Em bão rằng đừng tuyệt vọng nghe không

Còn trang thơ thấm lại với trời hồng.


Ly Tao I
by  Bùi Giáng


Tặng Bùi Vĩnh Phước 



Gánh than lên bán chợ Trời 
Thiên Thần xúm hỏi: Em người ở đâu? 
Thưa rằng: Em ở rất lâu 
Trần gian dưới đó dãi dầu liên miên 
Bảo rằng: chưa rõ tuổi tên? 
Thưa rằng: tên tuổi là Em đây rồi 
Nghĩa là Sơn Nữ đó thôi 
Hỏi rằng: sao chẳng thấy môi em cười? 
Thưa rằng: cười gượng không vui 
Nên đành mím miệng một đời cho qua 
Hỏi rằng: dưới đó bông hoa 
Nở vào mùa Hạ hay là mùa Xuân? 
Thưa rằng: cái đó em quên 
Vì chưng lo đốt than nên không nhìn 
Hỏi rằng: một chút của tin 
Muốn trao em giữ, em xin thứ gì? 
Thưa rằng: Em chẳng biết chi 
Hỏi rằng: Em thích xiêm y không nào? 
Thưa rằng: Dày mỏng ra sao? 
Bảo rằng: toàn gấm lụa đào nhung hoa 
Thưa rằng: chẳng hợp màu da 
Toàn thân như hột chà là em đen 
Bảo rằng: hãy tắm suối tiên 
Một giờ sau Em sẽ đổi đen ra hồng 
Thưa rằng: Em có tấm chồng 
Yêu màu da cũ kiếu ông em về 

Tình Điên Ấy
by  Bùi Giáng


Tình điên ấy ít nhiều em có thấy

Rất nhiều lần em có thấy có nghe

Có nghe nói rằng Trích Thiên thuở ấy

Có nghe rằng Phạm Thái thuở nào

Họ nốc rượu lu bù em có biết

Bởi vì sao mà tự diệt đời mình

" Một tập thơ sầu ngâm sảng sảng

Vài nai rượu kếch ních tỳ ty

Chết về Tiên Bụt cho xong kiếp

Đù ỏa trần gian ! sống mãi chi "

( Phạm Thái )

" Ta hăm hở chí trai hồ thỉ

Bởi đợi tình nên nấn ná nhân duyên

Nàng điêu linh thân gái liễu bồ

Vì giận phận hóa ngang tàng tính mệnh... "

( Phạm Thái khóc Trương Quỳnh Như )

Và Lý Bạch trích tiên cách biệt

Mười trăm năm ai biết vì sao

Còn nguyên thể thái thuở nào

Dương Phi có lẽ ? khơi mào tình điên

Cho ngài Lý Bạch Trích Tiên

Thanh Bình Điệu ấy còn nguyên tạc hình

Hình của mộng điên tình đắm đuối

Thể của Thân thần muội mê tiên

Ẩn tình mật ngữ u uyên

Làm sao che đậy trích tiên điên tình

" Vân tưởng y thường hoa tưởng dung

Xuân phong phất hạm lộ hoa nùng

(............ )

" Nhất chi nùng diễm lộ ngưng hương

Vân vũ Vu Sơn uổng đoạn trường... "

" Trường Tương Tư " đoạn trường ai biết

Dương Quý Phi nào biết nào hay ?

Ái ân chỉ có ngần này

Còn chăng mộng tưởng đợi ngày tái sinh

" Trường Tương Tư - tại Trường An

(... ) Mỹ nhân như hoa cách vân đoan

Thiên trường lộ viễn hồn phi khổ

Mộng hồn bất đáo quan sơn nan...

(... ) " Tích thời hoành ba mục

Kim tác lưu lệ tuyền... " ( 1 )

( Xưa kia mắt liếc đưa tình

Ngày nay chín suối suối tình lệ tuôn )

Tích thời hoành ba mục

Kim tác lưu lệ tuyền

Đường xa trời đất cách ngăn

Quan san nghìn dặm mộng hồn nát tan

Nùng diễm ngưng hương lộ nhất chi

Đoạn trương vân vũ Vu Sơn uổng

Y thường vân tưởng hoa dung tưởng

Phất hạm xuân phong bạch lộ nùng

" Dao chém nước , nước càng xuôi chảy

Rượu tiêu sầu , sầu lại phanh phơi

Ở đời chả thích thì thôi

Ngày mai xỏa tóc rong chơi chèo thuyền "

( Trừu đao đoạn thủy , thủy cách lưu

Cử bôi tiêu sầu , sầu cách sầu

Nhân sinh tại thế bất xứng ý

Minh triêu tán phát lộng biên chu )

( Lý Bạch )




( 1 ) Xưa nay các nhà biên khảo Trung Hoa đồng thanh cho
rằng Trường Tương Tư là do Lý Bạch cảm thương chinh phụ
nhớ chồng mà viết giúp , mô tả tâm tình họ ra... Hỡi ôi !
Bé cái nhầm


( trích tập thơ Như Sương trang 34-37 ) 

 

 

Comments