NIÊN BIỂU LS VIỆT NAM

CÁC TRẬN ĐÁNH LỚN

BÀI VIẾT LỊCH SỬ

DI TÍCH LỊCH SỬ

TẬP HUẤN CHUYÊN ĐỀ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

DIỄN ĐÀN TRAO ĐỔI

TÂM SỰ ĐỜI - NGHỀ

TRI ÂN NGHỀ GIÁO

SỐ NGƯỜI TRUY CẬP

BẬC THCS

“Hướng dẫn học sinh giải bài tập tách chất ra khỏi hỗn hợp”

đăng 08:24 05-05-2012 bởi Lê Phạm

 PHẦN I – PHẦN MỞ ĐẦU

I. Lời mở đầu:

1. Lý do chọn:

Dạy và học là quá trình tham gia của thầy và trò, trong đó người thầy giữ vai trò hướng dẫn học sinh học tập tích cực, chủ động và sáng tạo. Để thu được kết quả cao đòi hỏi người thầy phải có sự chuẩn bị chu đáo về nội dung, kiến thức cũng như phải lựa chọn phương pháp giảng dạy cho phù hợp để học sinh lĩnh hội tri thức đạt kết quả cao nhất.

Hóa học là bộ môn khoa học thực nghiệm, gắn liền với thực tiễn lao động, sản xuất, là môn khoa học ứng dụng và có vai trò quan trọng trong quá trình đi lên của các quốc gia - đặc biệt những nước đang phát triển như nước ta. Do đó học sinh cần phải được trang bị những kiến thức có tính hệ thống cơ bản, cần thiết về hoá học, những ứng dụng hoá học để học sinh THCS khi tốt nghiệp ra trường không chỉ có con đường duy nhất là đi học lên cấp cao hơn mà còn có thể đi thẳng vào lao động sản xuất ... , góp phần đưa đất nước theo kịp sự phát triển như vũ bão hiện nay của khoa học và cùng hoà chung vào xu thế phát triển của thời đại . 

Bài tập hoá học là phương tiện hiệu nghiệm trong giảng dạy hoá học. Thông qua giải bài tập hoá học giúp cho học sinh hình thành, rèn luyện, củng cố kiến thức, kỹ năng về hoá học. Bài tập hoá học là phương tiện hữu hiệu để rèn luyện và phát triển tư duy của học sinh. Trong quá trình giải bài tập hoá học, học sinh bắt buộc phải thực hiện các thao tác tư duy để tái hiện kiến thức cũ, tìm ra mối liên hệ bản chất giữa các sự vật và hiện tượng, học sinh phải phân tích, tổng hợp, phán đoán, suy luận để tìm ra lời giải. Nhờ vậy tư duy của học sinh phát triển và năng lực làm việc độc lập, sáng tạo được nâng cao. Bài tập hoá học cũng là một phương tiện nhằm tích cực hoá  hoạt động của học sinh trong quá trình dạy - học hoá học. Những kiến thức kĩ năng không phải giáo viên rót vào họ, nhồi cho họ mà thông qua hoạt động tích cực của mình học sinh đã tìm kiếm được. Vì vậy nếu các bài tập hoá học được đưa ra đúng lúc, vừa trình độ để học sinh có thể tự lực giải quyết có ý nghĩa rất quan trọng trong giảng dạy bộ môn hóa học

Bài tập hoá học còn là công cụ hữu hiệu để kiểm tra kiến thức kĩ năng của học sinh, nó giúp giáo viên phát hiện được trình độ của học sinh, làm bộc lộ những khó khăn, sai lầm của học sinh trong học tập hoá học.Từ đó giáo viên kịp thời điều chỉnh phương pháp giảng dạy của mình và có biện pháp giúp học sinh vượt qua khó khăn, khắc phục những sai lầm đó.

Bài tập hoá học còn giúp học sinh mở mang hiểu biết thực tiễn của mình, giúp giáo dục tư tưởng đạo đức và rèn phong cách làm việc của người lao động mới: Làm việc có kế hoạch, có phân tích tìm phương hướng trước khi làm việc cụ thể. Đặc biệt là phải kể đến các bài tập thực nghiệm, bài tập tính theo phương trình hoá học, bài tập nhận biết chất, bài tập tách chất… Chúng giúp rèn cho học sinh tác phong cần cù, cẩn thận, tiết kiệm, độc lập, sáng tạo trong công việc

Ở trường THCS, chỉ khi học lên lớp 8 học sinh mới bắt đầu được học bộ môn hóa học, thời gian học không nhiều (2 tiết/tuần), vì vậy học sinh rất hay quên kiến thức nếu như không có phương pháp dạy học phù hợp, gắn với việc giải bài tập hóa học. Như vậy, để có kỹ năng giải bài tập hóa học thì trước hết các em phải biết phân dạng bài tập và biết các bước giải cho từng dạng bài. Nếu chỉ theo phân phối chương trình và nội dung kiến thức trong sách giáo khoa thì học sinh khó có thể có những kỹ năng và thao tác làm nhanh và chính xác được tất cả các dạng bài, đặc biệt với những dạng bài ít gặp. Trong đó có dạng bài “tách chất ra khỏi hỗn hợp”, các em thường lúng túng khi gặp và thường cho là loại bài khó.

Xuất phát từ lý do trên cùng với những suy nghĩ làm thế nào giúp học sinh giải tốt các bài tập hóa học phần “tách chất ra khỏi hỗn hợp”, tôi xin đưa ra một số ý kiến của mình qua sáng kiến “Hướng dẫn học sinh giải bài tập tách chất ra khỏi hỗn hợp”

2. Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu phương pháp “sử dụng sơ đồ hóa” làm phương tiện dạy học trong dạng bài tập “tách chất ra khỏi hỗn hợp” theo hướng tổ chức hoạt động tự học của học sinh ở nhà và trên lớp nhằm giúp học sinh có thêm kỹ năng giải bài tập hoá học một cách thành thạo và chính xác hơn

3. Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn việc tổ chức tự học ở nhà và trên lớp của học sinh

- Xây dựng phương pháp hướng dẫn học sinh phân tích và giải bài tập dạng tách chất ra khỏi hỗn hợp”

- Thông qua thực nghiệm sư phạm kiểm tra hiệu quả của việc sử dụng “sơ đồ hóa” để hình thành và rèn luyện cho học sinh kỹ năng giải bài tập “tách chất ra khỏi hỗn hợp”

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

4.1. Đối tượng:

- Các dạng bài tập tách chất ra khỏi hỗn hợp

- Học sinh lớp 9 trường trung học cơ sở Thành Lâm – Bá Thước – Thanh hóa

4.2. Phạm vi nghiên cứu:

- Chương trình hóa học lớp 9, dạng bài tập tách chất

5. Phương pháp nghiên cứu:

5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

5.2. Phương pháp quan sát:

- Quan sát học sinh tiếp thu và vận dụng kiến thức đã học.

- Giáo viên dự giờ, thăm lớp.

5.3. Phương pháp điều tra và thực nghiệm:

- Dùng hệ thông câu hỏi và phiếu điều tra.

- Trao đổi với giáo viên và học sinh.

- Trực tiếp giảng dạy và kiểm tra kết quả của học sinh.

5.4. Phương pháp tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm

6. Thực trạng vấn đề:

Một trong những vấn đề mà giáo viên khi giảng dạy hoá học đều quan tâm đó là: Làm thế nào để học sinh có kĩ năng giải bài tập hoá học .

Thực trạng cho thấy hầu hết học sinh khi đọc một bài tập hoá học phải mất rất nhiếu thời gian để xác định và phân dạng bài tập, phần còn lại để các em tính toán trình bày lời giải của mình không còn thời gian là bao nhiêu.

Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy nhiều em còn lúng túng khi làm bài tập về “tách chất ra khỏi hỗn hợp”. Việc học sinh không giải được hoặc giải sai bài tập chưa đủ cơ sở để kết luận các em không hiểu biết gì về kiến thức và kĩ năng hoá học mà do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do: Không hiểu điều kiện của bài tập, không biết cần vận dụng kiến thức nào để giải bài tập, không biết cách thực hiện cụ thể vì yếu về kĩ năng nhận biết, phân loại các chất, viết PTHH sai vì chưa biết vận dụng tính chất hoá học của chất...

Qua khảo sát đầu năm của 2 năm học khi cho học sinh làm bài tập về tách chất ra khỏi hỗn hợp  tôi thấy kết quả chưa cao, cụ thể:

Năm học

Số HS

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu

Kém

2009- 2010

39

0

1

23

12

3

2009 - 2010

44

0

2

25

15

2

Từ thực trạng trên tôi mạnh dạn đưa ra phương pháp “Sử dụng sơ đồ hóa để hướng dẫn giải bài tập tách chất khỏi hỗn hợp” để hình thành và rèn luyện kỹ năng giải bài tập phần tách chất nói riêng và kỹ năng giải bài tập hóa học nói chung cho học sinh

PHẦN II – GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1. Các giải pháp thực hiện:

1.1. Đối với học sinh:

Để làm thành thạo dạng bài tập tách chất ra khỏi hỗn hợp trước hết học sinh phải nhớ và hiểu tính  chất hoá học của từng loại chất: Kim loại, phi kim, oxit, axit, bazơ, muối. Đối với những chất cụ thể, ngoài tính chất chung phải nhớ được tính chất riêng, phương pháp điều chế sau đó vận dụng kiến thức đó một cách linh hoạt. Ngoài ra còn phải biết rõ các bước tách chất ra khỏi hỗn hợp để vận dụng làm bài tập tách chất thì mới có thể giải nhanh được.

1.2. Đối với Giáo viên:

Giáo viên đòi hỏi phải có sự đầu tư, tìm tòi vận dụng được linh hoạt kiến thức lí thuyết vào từng bài, từng loại chất, từ đó hướng dẫn học sinh thực hiện theo các bước:

- Giới thiệu các phương pháp vật lý đơn giản để tách các chất ra khỏi hỗn hợp

- Giới thiệu các phản ứng (tính chất) thường dùng trong dạng bài tách chất ra khỏi hỗn hợp

- Giới thiệu phương pháp tổng quát cho từng dạng bài, "Sơ đồ định hướng" được áp dụng đối với hỗn hợp các chất rắn, hỗn hợp các chất lỏng và hỗn hợp các chất khí.

+ Hướng dẫn học sinh phân tích đề bài

+ Hướng dẫn lập sơ đồ hóa

+ Học sinh làm lời giải chi tiết trên cơ sở của sơ đồ hóa

(Mỗi dạng bài có ví dụ cụ thể, giáo viên hướng dẫn chi tiết 1 ví dụ, sau đó học sinh luyện tập với các bài tương tự)

- Ra bài tập về nhà

2. Các biện pháp thực hiện:

2.1. Tách các chất ra khỏi hỗn hợp bằng phương pháp vật lý:

          Giáo viên giới thiệu các phương pháp vật lý dùng để tách chất ra khỏi hỗn hợp. Với mỗi phương pháp giáo viên có ví dụ cụ thể và yêu cầu học sinh làm thí nghiệm sau khi đã trình bày lời giải.

a. Phương pháp lắng gạn: Dùng dể tách các chất rắn có khối lượng riêng khác nhau khỏi nước hoặc dung dịch

VD:  Bột CuO bị lẫn bột than. Hãy trình bày phương pháp vật lý để tách riêng bột CuO.

* Giải: Cho hỗn hợp bột CuO lẫn bột than vào cốc, thêm nước vào, khuấy đều rồi lắng gạn. Làm đi làm lại nhiều lần bột than nhẹ sẽ trôi theo nước ra ngoài, bột CuO chìm xuống đáy. Lúc này ta thu được CuO bằng phương pháp lọc.

b. Phương pháp cô cạn: Dùng để tách chất tan rắn (không hóa hơi khi gặp nhiệt độ cao) ra khỏi dung dịch

VD: Trình bày phương pháp để thu được muối từ nước muối?

* Giải: Đun sôi hỗn hợp, nước bay hơi, còn lại chất rắn là muối kết tinh

c. Phương pháp lọc: Dùng để tách kết tủa (chất rắn) khỏi dung dịch

VD: Đường bị lẫn một ít cát. Trình bày phương pháp để làm sạch đường.

          *  Giải: Hòa tan hỗn hợp đường và cát vào nước. Khi đó đường bị tan vào nước còn lại cát không tan. Cho giấy lọc vào phễu, lọc và thu phần nước lọc, đem cô cạn phần nước lọc ta thu được đường.  

d. Phương pháp chưng cất: dùng để tách các chất lỏng dễ bay hơi ra khỏi hỗn hợp. Phương pháp này chỉ áp dụng khi các chất có nhệt độ sôi chênh lệch nhau khá lớn (khoảng 200C trở lên). Sau đó dùng phương pháp ngưng tụ để thu lại các chất.

VD: Tách riêng từng chất ra khỏi hỗn hợp rượu và nước. Biết nhiệt độ sôi của rượu là 78,30C.

Đối với phương pháp này, GV có thể liên hệ đến thí nghiệm chưng cất nước đã học ở lớp 8 hoặc hiện tượng nấu rượu trong thực tế

* Giải: Cho hỗn hợp vào dụng cụ chưng cất, rượu và nước có nhiệt độ sôi khác nhau do đó ta thu được rượu ở 78,30C, còn lại nước thu được ở 1000C

e. Phương pháp chiết tách: dùng để tách các chất lỏng không tan vào nhau từ hỗn hợp tách lớp.

VD: Hãy trình bày phương pháp để tách riêng dầu ăn có lẫn nước?

* Giải: Cho dầu ăn có lẫn nước vào phễu chiết. Dầu ăn không tan trong nước và nhẹ hơn nước nổi lên trên. Mở khóa cho nước chảy xuống vừa hết, đóng khóa lại ta tách được dầu ăn riêng và nước riêng.

g. Phương pháp từ tính: Dùng để tách chất bị nhiễm từ (bị nam châm hút) ra khỏi hỗn hợp rắn gồm chất bị nhiễm từ và chất không bị nhiễm từ.

VD: Trình bày phương pháp vật lý để tách riêng vụn sắt, vụn đồng ra khỏi hỗn hợp vụn Sắt và Đồng.

* Giải: Dùng thanh nam châm (đã bọc nilon mỏng), chà nhiều lần lên hỗn hợp. Do Sắt có tính nhiễm từ nên bị hút vào thanh nam châm, còn Đồng thì không bị hút do không có tính nhiễm từ. Làm đi làm lại nhiều lần ta thu được Sắt riêng, Đồng riêng.

Bài tập vận dụng

Câu 1: Trình bày cách tách riêng từng chất trong hỗn hợp gồm dầu hỏa và nước.

Câu 2: Trình bày phương pháp để tách riêng từng chất trong hỗn hợp gồm muối ăn, cát và nước.

Câu 3: Trình bày cách để tách riêng từng chất trong hỗn hợp gồm vụn gỗ và vụn sắt.

Câu 4: Trình bày cách tách riêng từng chất trong hỗn hợp gồm bột Sắt, bột Lưu huỳnh và muối ăn.

Câu 5: Muối ăn bị lẫn một ít cát và gạo. Trình bày phương pháp để làm sạch muối ăn?

Câu 6: Trình bày phương pháp để thu riêng biệt đá vôi, muối trong hỗn hợp gồm đá vôi và muối ăn.

Câu 7: Trình bày phương pháp vật lý để thu được Benzen tinh khiết từ Benzen có lẫn nước.

2.2. Tách các chất ra khỏi hỗn hợp bằng phương pháp hóa học:

* Nguyên tắc chung:

- Chỉ tác dụng lên một chất trong hỗn hợp và sản phẩm tạo thành có thể được tách dễ dàng khỏi hỗn hợp bằng phương pháp vật lý (như tạo kết tủa, tạo thành hai dung dịch không tan vào nhau)

- Từ sản phẩm tái tạo (điều chế) lại chất ban đầu.

* Sơ đồ định hướng được thực hiện theo các bước sau:

(?) Bài toán tổng quát:

Bằng phương pháp hóa học, em hãy trình bày phương pháp để tách riêng A, B ra khỏi hỗn hợp A và B?

* Cách giải:

Bước 1: Chọn chất X chỉ tác dụng với chất A (mà không tác dụng với chất B trong hỗn hợp) để chuyển A thành A1 ở dạng kết tủa, bay hơi hoặc hòa tan, sau đó tách ra khỏi B (bằng cách lọc hoặc tự tách)

Bước 2: Điều chế lại chất A từ chất A1

* Sơ đồ tổng quát:

                              B

A, B

                              A1 (­, ¯, tan)                   A

 

*Chú ý: Nếu hỗn hợp A, B đều tác dụng được với X thì dùng chất X chuyển cả A, B trong hỗn hợp thành A/, B/  rồi tách A/, B/  thành 2 nhóm. Sau đó tiến hành bước 2 (điều chế lại A từ A/, B từ B/ )

Sơ đồ tổng quát:

 

                               B/                        B

A, B

                              A/                       A

          * Một số lưu ý khi làm dạng bài tập này:

- Các oxit của kim loại hoạt động hóa học mạnh như: K2O, Na2O, MgO, Al2O3 không bị khử bởi các chất khử CO, H2, C,… Nếu muốn điều chế các kim loại này thì phải chuyển thành muối clorua rồi điện phân nóng chảy muối clorua

- Muốn điều chế kim loại kiềm và kim loại kiềm thổ người ta điện phân nóng chảy muối clorua, không dùng muối sunfat vì khó nóng chảy, không dùng muối nitrat vì dễ nổ

- Riêng điều chế Nhôm thì điện phân nóng chảy Al2O3, không điện phân nóng chảy muối nhôm vì muối này thăng hoa ở nhiệt độ cao

- Hai kim loại Nhôm và Sắt thụ động với axit HNO3 (đặc, nguội) và H2SO4 (đặc, nguội)

2.3. Phân loại bài tập và cách giải:

Dạng1: Tách riêng một chất ra khỏi hỗn hợp (tinh chế)

Đây là dạng bài tập tách chất đơn giản nhất, trong đó chất được tách ra thường là chất không phản ứng được với chất X, hoặc là chất duy nhất phản ứng được với X so với các chất có trong hỗn hợp. Chỉ cần thực hiện bước 1.

* Trường hợp 1: Đối với chất rắn

Bài tập 1:

a. Đề bài: Bằng phương pháp hóa học hãy tách riêng đồng ra khỏi hỗn hợp gồm vụn đồng, vụn sắt và vụn kẽm.

 b. Hướng dẫn học sinh thực hiện các bước:

* Phân tích đề bài:

Chọn chất X không tác dụng được với đồng nhưng tác dụng được với sắt và kẽm. Vậy để chọn được X thì phải vận dụng tính chất hóa học của kim loại và dãy hoạt động hóa học của kim loại.

Theo đó: Trong hỗn hợp thì Đồng không tác dụng được với dung dịch axit có tính oxi hóa yếu (VD: HCl và H2SO4(loãng))

Do đó ta chọn  X là axit (HCl hay H2SO4 loãng đều được)

* Viết dưới dạng sơ đồ:   

                                                              Cu

Hỗn hợp Cu, Fe, Zn                    

                                                          Dung dịch ZnCl2, FeCl2

c. Giải:

Cho hỗn hợp trên tác dụng với dung dịch HCl (dư)       Sắt và Kẽm sẽ tan ra. Chất rắn còn lại không phản ứng chính là Đồng.

PTHH:         Zn + 2HCl ® ZnCl2 + H2­

                    Fe + 2HCl ® FeCl2 +  H2­

Lọc dung dịch thu chất rắn ta được Đồng

Sau khi hướng dẫn học sinh tỉ mỉ cách giải bài tập 1, giáo viên đưa ra một số bài tập tương tự để học sinh luyện tập.

Bài tập 2:

a. Đề bài: Trình bày phương pháp hóa học để thu được MgO từ hỗn hợp gồm Fe2O3 và MgO.

b. Hướng dẫn:

GV gợi ý HS chú ý đến sự khác biệt giữa oxit của kim loại Magie và oxit của kim loại sắt. Từ những lưu ý của GV (mục 2.2) HS dễ dàng chọn được chất X là H2 hoặc C hoặc CO

Tiếp theo, HS phải vận dụng tính chất của kim loại, oxit kim loại để loại bỏ kim loại Sắt ra khỏi hỗn hợp gồm MgO và Fe bằng cách dùng H2SO4 (đặc, nguội) hoặc HNO3 (đặc, nguội)

* Sơ đồ:

                                                            Fe

MgO, Fe2O3            MgO, Fe

                                                            MgSO4                Mg(OH)2            MgO

c. Giải:

- Nung nóng hỗn hợp 2 oxit rồi dẫn luồng khí H2 (dư) đi qua.

                    Fe2O3    +    3H2                  2Fe   +    3 H2O

                    MgO    +      H2                    Không xảy ra phản ứng

- Hỗn hợp chất rắn thu được gồm: Fe và MgO, sau khi để nguội đem phản ứng với axit H2SO4 (đặc, nguội) dư thì chỉ có MgO tham gia phản ứng

                    MgO  +   H2SO4 (đ, ng)           MgSO4  +   H2O

- Lọc bỏ chất rắn (Fe), dung dịch thu được đem tác dụng với dung dịch NaOH (dư)

                    H2SO4    +    2NaOH              Na2SO4    +    2H2O

                    MgSO4    +   2NaOH             Mg(OH)2 ¯  +  Na2SO4

- Lọc thu kết tủa đem nung đến khối lượng không đổi thu được MgO

                    Mg(OH)2                MgO  +  H2O  

 

* Trường hợp 2: Đối với chất lỏng

Bài tập 2:

a. Đề bài: Tách riêng NaCl ra khỏi dung dịch chứa NaCl và CaCl2.

b. Hướng dẫn:

* Giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào tính chất hóa học của muối chọn chất X sao cho:

+ X tác dụng với CaCl2, không tác dụng với NaCl

+ Sản phẩm dễ tách khỏi NaCl

 chất còn lại ta thu được NaCl

*Sơ đồ: 

                                                                     NaCl, Na2CO3               NaCl        

Hỗn hợp CaCl2, NaCl

                                      CaCO3 ¯ 

c. Giải: (Cách giải tương tự học sinh có thể tự làm được).

* Trường hợp 3: Đối với chất khí

Bài tập 3:

a. Đề bài: Tách riêng khí CO­2 ra khỏi hỗn hợp gồm CO2, N2, O2, H2

b. Hướng dẫn:

Với bài này, giáo viên yêu cầu học sinh phân tích đề, vận dụng kiến thức về tính chất của CO2 làm đục nước vôi trong tạo ra CaCO3 kết tủa. Nung CaCO3 ở nhiệt độ cao sẽ thu được CO2.

                                                                            N2, O2, H2­

          Hỗn hợp CO2, N2, O2, H2

                                                                         CaCO3 ¯               CO2­

Học sinh tự giải dựa theo cách giải bài tập 1.

* Cần chú ý vì là hỗn hợp khí nên phải dẫn hỗn hợp khí trên qua bình nước vôi trong (dư) để toàn bộ CO2 phản ứng để tạo thành kết tủa hết.

Bài tập vận dụng:

Bài 1: (Bài 5, trang 6, SGK hóa học 9) Làm thế nào để thu được khí oxi từ hỗn hợp CO2 và O­2

                    CO2, O­2                     O2­

Bài 2: (Bài 3, trang 21, SGK hóa học 9) Khí CO dùng làm chất đốt trong công nghiệp, có lẫn tạp chất là khí SO2 và CO2. Làm thế nào để có thể loại bỏ những tạp chất ra khỏi CO bằng hóa chất rẻ tiền nhất? Viết PTHH.

                    CO2, SO­2, CO                     CO­

Bài 3: (Bài 2, trang 54, SGK hóa học 9) Dung dịch ZnSO4 có lẫn tạp chất CuSO4. Dùng  kim loại nào để làm sạch dung dịch ZnSO4?

ZnSO4, CuSO4                  lọc bỏ chất rắn gồm Zn(dư) và Cu

Bài 4: (Bài 4, trang 58, SGK hóa học 9) Dung dịch AlCl3 ­ có lẫn tạp chất CuCl2. Có thể dùng hóa chất nào để làm sạch muối nhôm? giải thích và viết PTHH.

AlCl3, CuCl2                Lọc bỏ chất rắn gồm Al(dư) và Cu

Bài 5: (Bài 3, trang 60, SGK hóa học 9) Có bột sắt lẫn tạp chất nhôm. Hãy trình bày phương pháp hóa học làm sạch bột sắt)

Al, Fe                    Lọc thu chất rắn là Fe

Bài 6: (Bài 7, trang 72, SGK hóa học 9) Bạc dạng bột có lẫn tạp chất đồng, nhôm. Trình bày phương pháp hóa học để thu được bạc tinh khiết.

Cách 1: Ag, Cu, Al                       Lọc thu chất rắn là Ag

 

Cách 2: Ag, Cu, Al                     Ag, Cu             Ag, CuO                     Ag¯

Bài 7: (Bài 3, trang 119, SGK hóa học 9) Nêu phương pháp hóa học loại bỏ khí etylen có lẫn trong khí metan để thu được metan tinh khiết.

CH4, C2H4              CH4­

Bài 8: (Bài 15.11, trang 19, Sách bài tập hóa học 9) Dùng kim loại nào để làm sạch dung dịch đồng nitrat có lẫn tạp chất Bạc nitrat?

Cu(NO3)2, AgNO­3                Lọc bỏ chất rắn gồm Cu(dư) và Ag

Bài 9: (Bài 15.21, trang 20. sách bài tập hóa học 9) Một hỗn hợp gồm CuO và Fe2O3. Chỉ dùng nhôm và HCl, hãy nêu hai phương pháp điều chế Cu nguyên chất.

Cách 1: CuO, Fe2O3              CuCl2, FeCl3, HCl              Cu¯(lọc thu)

 

Cách 2: Al                 thu H2­  

                      CuO, Fe2O3                Cu, Fe                  Cu (lọc thu)

Bài 10: Trình bày phương pháp hóa học để thu được bạc tinh khiết từ hỗn hợp gồm bạc, nhôm, đồng, sắt.

Cách 1: Ag, Al, Cu, Fe               Cu, Ag                    lọc thu chất rắn là Ag

 

Cách 2: Ag, Al, Cu, Fe               Cu, Ag              CuO, Ag               Ag    

Bài 11: Metan bị lẫn ít tạp chất là CO2, C2H4, C2H2. Trình bày phương pháp hóa học để loại bỏ tạp chất khỏi metan.

CO2, C2H4, C2H2, CH4                    C2H4, C2H2, CH4              CH4­

Bài 12: Để làm sạch Đồng kim loại có lẫn tạp chất là Zn, Sn, Pb, người ta khuấy Đồng kim loại này với dung dịch CuSO4 bão hòa. Giải thích và viết PTHH.       Zn  + CuSO4             ZnSO4    +    Cu¯ 

                                  Sn  +  CuSO4            SnSO4     +    Cu¯

                    Pb  +  CuSO4            PbSO4    +   Cu¯

Dạng 2: Tách riêng từng chất ra khỏi hỗn hợp

Bài tập ở loại này phức tạp hơn đòi hỏi phải vận dụng nhiều kiến thức và thao tác linh hoạt hơn.

* Phương pháp:

Dùng phản ứng đặc trưng đối với từng chất để tách chúng ra khỏi hỗn hợp, Sau đó dùng các phản ứng thích hợp để tái tạo các chất ban đầu từ các sản phẩm tạo thành ở trên.

Bài tập 1:

a. Đề bài: Có một hỗn hợp gồm 3 kim loại ở dạng bột: Fe, Cu, Au. Bằng phương pháp hóa học hãy tách riêng từng kim loại ra khỏi hỗn hợp.

b. Hướng dẫn:

Trước hết giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích đề bài, vận dụng các kiến thức về tính chất hóa học của các chất, mối quan hệ giữa các loại chất, dẫn dắt theo sơ đồ sau: 

 

                                 FeCl              Fe(OH)2               Fe2O3           Fe                                                                   

 Fe, Cu, Au                                                         CuSO4                Cu(OH)2      CuO

                                              

                                             Cu, Au                                                                                                                    Au                                         Cu

c. Giải:

  *Cho hỗn hợp phản ứng với dung dịch HCl dư, chỉ có Fe bị tan ra do phản ứng:

          Fe + 2HCl ® FeCl2 + H2­

- Lọc tách Cu và Au, phần nước lọc thu được là dung dịch FeCl2 và HCl (dư) cho tác dụng với dung dịch NaOH(dư) sẽ sinh ra kết tủa trắng xanh là Fe(OH)2

          HCl + NaOH              NaCl   +  H2O

          FeCl2 + 2NaOH            Fe(OH)2 ¯   + 2NaCl

  - Lọc lấy Fe(OH)2 rồi nung trong không khí:

          4Fe(OH)2 + O2                2Fe2O3   +   4H2O         

  - Nung nóng Fe2O3 cho luồng khí Hidro đi qua ta thu được Fe:

          Fe2O3   + 3H2                2Fe  +  3H2O

*Hỗn hợp Cu và Au cho phản ứng với H2SO4 đặc, nóng (dư) chỉ có Cu tham gia phản ứng:

         Cu + 2H2SO4 (đ)                CuSO4 +  2H2O + SO2­

- Lọc thu được Au (không tan trong H2SO4 đặc nóng).

- Phần nước lọc cho phản ứng với dung dịch NaOH(dư) sẽ sinh ra kết tủa xanh Cu(OH)2.

     H2SO4  +  2NaOH  ®   Na2SO  +    2H2O

     CuSO4 + 2NaOH ®  Cu(OH)¯     +  Na2SO4

- Lọc lấy Cu(OH)2 rồi nung ở nhiệt độ cao được CuO

                  Cu(OH)2             CuO  +  H2O.

- Nung nóng CuO rồi cho luồng khí H2 đi qua ta được Cu.

                  CuO + H2           Cu  +  H2O

Sau khi học sinh hiểu rõ cách làm bài tập 1, giáo viên đưa ra một số bài tập vận dụng, có thể hướng dẫn học sinh bước 1 chọn X và lập sơ đồ. Còn học sinh sẽ hoàn thành tiếp bước 2 và hoàn thành được bài giải.

Bài tập 2:

a. Đề bài: Hỗn hợp gồm 2 oxit kim loại: Fe2O3 và CuO. Bằng phương pháp hóa học hãy tách riêng từng oxit ra khỏi hỗn hợp.

b. Hướng dẫn:

Tương tự bài tập 1, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức về tính chất hóa học của oxit bazơ, kim loại và mối quan hệ giữa các chất để lập sơ đồ hoàn thành bước 1:    

 

                                                Cu              CuO

Fe2O3, CuO           Fe, Cu                                           

                                                 FeCl2                Fe(OH)2¯               Fe2O3

Từ sơ đồ đã lập học sinh hoàn thành tiếp bước 2 và tự giải bài: thu được CuO riêng và Fe2O3 riêng.

Bài tập 3:

a. Đề bài: Hỗn hợp gồm 2 chất khí là CH4 và CO2. Bằng phương pháp hóa học hãy tách riêng từng chất khí ra khỏi hỗn hợp.

b. Hướng dẫn:

Để tách từng chất khí ra khỏi hỗn hợp cũng phải chú ý đến tính chất hóa học từng chất để chọn X và hấp thu một trong các khí có trong hỗn hợp. Sau đó thu khí đã được tách ra.

Với bài trên học sinh có thể dễ dàng lập sơ đồ:                      

                                                                CH4­

Hỗn hợp CO2, CH4

                                                            CaCO3¯                   CO2­                  

         Tương tự học sinh tự giải bài tập 3.

* Chú ý: Khi đẩy các khí ra khỏi các chất bằng axit nên dùng H2SO4 loãng vì nó là axit không bay hơi.

Bài tập vận dụng:

Bài 1: (Bài 3.3, trang 5, sách bài tập hóa học 9) Có hỗn hợp bột kim loại gồm sắt và đồng. Trình bày phương pháp hóa học tách riêng mỗi kim loại.  

                                Cu          

 Fe, Cu                                           

                                FeCl2                Fe(OH)2¯             Fe2O3              Fe

 

Bài 2: Trình bày phương pháp hóa học để tách riêng từng oxit trong hỗn hợp gồm MgO và Fe2O3.

                                                        Fe        FeCl3             Fe(OH)3          Fe2O3

MgO, Fe2O3        MgO, Fe

                                                          MgSO4                Mg(OH)2              MgO

(Lưu ý: Hỗn hợp MgO, Fe phải để nguội mới đem tác dụng với H2SO4 đặc, nguội).

Bài 3: Hỗn hợp gồm O2 và CO2. Trình bày phương pháp hóa học để thu được các khí tinh khiết.

                                                   O2­

CO2, O2

                                               CaCO3¯                   CO2­       

*Bài 4: Có hỗn hợp gồm nhôm và sắt. Trình bày phương pháp hóa học để điều chế được FeCl3 và AlCl3 riêng biệt.

                                 Fe             FeCl3

Al, Fe 

                                 NaAlO2                  Al(OH)3¯              AlCl3

 

*Bài 5: Từ hỗn hợp hai muối là Cu(NO3)2 và AgNO3. Làm thế nào để điều chế được kim loại Cu và Ag riêng biệt.

                                                          CuCl2          Cu(OH)2             Cu(NO3)2

 Cu(NO3)2, AgNO3            CuO, Ag

                                       Ag¯                 AgNO3

(Dung dịch muối nitrat thu được có lẫn HNO3, đem cô cạn thu được các muối nitrat khan riêng biệt)

*Bài 6: Trình bày phương pháp hóa học tách riêng từng kim loại ra khỏi dung dịch bột Fe, Cu, Ag.

                                      FeCl2                   Fe(OH)2               Fe2O3              Fe                         

 

Fe, Cu, Ag.                                                                           CuCl2              Cu(OH)2

                             Cu, Ag            CuO, Ag                                         

+H2  to

 
                                                                                     Ag                 CuO

 

                                                                                                            Cu

Lưu ý: + Từ FeCl2 có thể điện phân nóng chảy để thu được Fe

                      + Từ CuCl có thể điện phân dung dịch để thu được Cu

Bài 7: Hỗn hợp khí A gồm CO và CO2. Trình bày phương pháp hóa học để lấy riêng từng khí trong hỗn hợp.

                                                     CO­

CO và CO2

                                                     CaCO3                     CO2­

Bài 8: Hỗn hợp chất rắn gồm FeCl3, CaCO3, AgCl. Trình bày phương pháp để tách riêng từng chất trong hỗn hợp.

                                         FeCl3

FeCl3, CaCO3, AgCl                                                             AgCl¯

                                       CaCO3¯, AgCl¯

                                                                                CaCl2                  CaCO3¯

Bài 9: Trình bày phương pháp để tách riêng CO2, CH4 khỏi hỗn hợp gồm CO2, CH4, C2H4.

                                          CaCO3¯                      CO2­

CO2, CH4, C2H4

                                          CH4, C2H4              CH4­

PHẦN III – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Sau khi hướng dẫn học sinh phương pháp giải bài tập “Tách chất ra khỏi hỗn hợp ” với các phương pháp tôi đã thực hiện, học sinh đã biết cách làm bài tập hoá học dạng “Tách chất ra khỏi hỗn hợp ”, chất lượng bài kiểm tra được cải thiện, số học sinh mũi nhọn được tăng lên. Cụ thể:

Năm học

Số HS

Giỏi

Khá

Trung bình

Yếu

Kém

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

2009 - 2010

39

2

5,1

7

17,9

29

74,4

1

2,6

0

0

2010 – 2011

44

3

6,8

8

20,5

32

72,7

1

2,3

0

0

Qua những kết quả đạt được, tôi khẳng định vai trò của việc hình thành cho học sinh kỹ năng giải các dạng bài tập hóa học là vô cùng quan trọng, nó là nền tảng vững chắc giúp các em tiếp thu và lĩnh hội kiến thức hóa học ngày càng tốt hơn.

PHẦN IV: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

Sau một thời gian nghiên cứu và viết sáng kiến với sự cố gắng nỗ lực của bản thân, cùng  sự giúp đỡ của Ban giám hiệu, các bạn đồng nghiệp và học sinh, tôi nhận thấy việc nêu lên những dạng bài chủ yếu, thường gặp và việc dạy học theo sơ đồ hóa trong giải bài tập dạng tách chất ra khỏi hỗn hợp là rất quan trọng trong việc phát triển tư duy và trí lực của học sinh, giúp học sinh năng động, sáng tạo trong cách giải các loại bài tập. Nhờ những kỹ năng suy luận, phân tích, tổng hợp các dữ kiện trên bài toán các em dễ dàng áp dụng khi chuyển sang các loại bài tập khác: nhận biết chất, tính theo PTHH, nồng độ dung dịch,... đồng thời cũng hình thành cho các em năng lực phân tích, tổng hợp và có những phương pháp giải sáng tạo, giúp các em yêu thích môn hóa học hơn.

Không những thế, phương pháp này còn giúp giáo viên truyền thụ đầy đủ kiến thức đến học sinh, giảm bớt được hoạt động của giáo viên, phù hợp với phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm

Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân rút ra được qua quá trình giảng dạy. Tuy nhiên sáng kiến kinh nghiệm này mới chỉ đề cập đến một trong những phương pháp giải bài tập hóa học mà học sinh phải làm trong quá trình học phổ thông, phạm vi còn hạn hẹp nên việc đánh giá phần nào còn hạn chế và có những thiếu sót.

Thông qua đề tài này, tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến giúp đỡ của các đồng nghiệp để sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn, để tôi thành công hơn trong sự nghiệp của mình.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

 

Thành Lâm, ngày 10 tháng 4 năm 2011

Người thực hiện

 

 

Hoàng Thị Thuận

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN

đăng 08:23 05-05-2012 bởi Lê Phạm

PHẦN MỞ ĐẦU

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

                   Nghị quyết TW II khoá VIII đã khẳng định: “ Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục đào tạo và được xã hội tôn vinh”.

           Đội ngũ giáo viên có vai trò lớn trong việc quyết định hiệu quả, chất lượng giáo dục đào tạo con người, đào tạo nguồn nhân lực, tài lực để thực hiện công nghiệp hoá -hiện đại hoá đất nước, phấn đấu cho sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; góp phần đưa dân tộc ta sánh vai với các nước phát triển trên thế giới. Do vậy, vấn đề cốt yếu hiện nay là phải tập trung cao giáo dục đào tạo, chất lượng đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu mới của sự nghiệp Giáo dục đào tạo đầu thế kỉ XXI. Để đạt được mục đích đó, điều tiên quyết là phải coi việc xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giáo viên là một vấn đề thường xuyên, liên tục.

Bước vào thế kỷ XXI, Giáo dục Việt Nam đã trải qua 15 năm đổi mới và đã thu được những thành quả quan trọng về mở rộng quy mô, đa dạng hoá các hình thức giáo dục và nâng cấp cơ sở vật chất cho nhà trường. Trình độ dân trí được nâng cao, chất lượng Giáo dục có những chuyển biến bước đầu. Để có được những thành quả ban đầu trong sự nghiệp giáo dục, Đảng và nhà nước ta đã xác định: Giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa học-công nghệ, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại và đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm, năng lực của các thế hệ hiện nay và mai sau - “Giáo dục là quốc sách hàng đầu “, “ Giáo dục phải đi trước một bước, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để thực hiện thành công những mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội“   ( NQ TW II-khoá VIII ).

          Để thực hiện thành công chiến lược đó đòi hỏi sự nỗ lực và quyết tâm lớn của Đảng, nhà nước và của ngành giáo dục, chính vì thế đội ngũ cán bộ giáo viên có một vị trí hết sức quan trọng trong việc thực hiện chiến lược của Đảng và nhà nước.

          Từ thực trạng của đội ngũ giáo viên hiện nay, Đại hội IX đã đánh giá: “ Đội ngũ nhà giáo  thiếu về số lượng và nhìn chung thấp về chất lượng, chưa đáp ứng được nhu cầu vừa phải tăng nhanh quy mô vừa phải đảm bảo và nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục”. Là người cán bộ quản lý, tôi thấy phải tập trung xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giáo viên. Đây không chỉ là việc làm trước mắt mà còn phải lâu dài với những giải pháp, biện pháp cụ thể, thiết thực, khoa học.

          Từ những lý do trên, cùng với những trăn trở thường xuyên của bản thân trong việc quản lí một trường THCS. Đồng thời qua đợt thực tế giáo dục ở một số trường tiên tiến, trường điểm tôi càng thấy rõ hơn yêu cầu cấp thiết của vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ giáo viên trong tình hình hiện nay.

          Do vậy, tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu với mong muốn tìm ra những biện pháp tối ưu nhất để áp dụng xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nhà trường mà mình đang quản lý thành một đội ngũ vững vàng về mọi mặt, đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ, mục tiêu yêu cầu của sự nghiệp giáo dục trong những thập niên đầu của thế kỷ XXI.

II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Nghiên cứu để xác định các biện pháp chủ yếu góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giáo viên trường THCS Văn Nho trong giai đoạn hiện nay đáp ứng với thời kì Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước.

III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

Trong đề tài này tôi tập trung nêu và giải quyết một số vấn đề sau:

          1. Một số cơ sở lí luận có liên quan đến đề tài

          2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:

          + Thực trạng chung của vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ giáo viên.

          + Thực trạng của vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ giáo viên nói riêng ở trường THCS Văn Nho – Bá Thước, năm học 2006 - 2007.

          3. Các giải pháp xây dựng đội ngũ CBGV của trường THCS Văn Nho.

          Năm học 2007 - 2008 và những kết quả đạt được.

          4. Một số bài học kinh nghiệm.

          5. Đề xuất các giải pháp mới và một số kiến nghị.

IV. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

             Một số biện pháp về quản lý và xây dựng đội ngũ CBGV của trường THCS Văn Nho – Bá Thước năm học 2007 – 2008.

V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

          Trong phạm vi đề tài này tôi đã lựa chọn một số phương pháp sau:

1.     Phương pháp lí thuyết.

2.     Phương pháp quan sát.

3.     Phương pháp phỏng vấn.

4.     Phương pháp điều tra.

5.     Phương pháp phân tích tổng hợp.

6.     Phương pháp nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm giáo dục.    

VI. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU:

Từ ngày 01/11/2007 đến 05/11/2007 xác lập đề tài, lập đề cương và kế hoạch nghiên cứu.

Từ ngày 06/11/2007 đến 30/11/2007 tìm hiểu thực tế QLGD, thu thập thông tin, số liệu.

   Từ ngày 01/12/2007 đến 19/12/2007 xử lý thông tin, viết bản thảo, duyệt bản thảo.

   Từ 20/12/2007 bổ sung bản thảo và nộp đề tài chính thức

 

PHẦN NỘI DUNG

 

CHƯƠNG I:    CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ     CÁN BỘ GIÁO VIÊN

 

I - CƠ SỞ LÝ LUẬN:

1-     Một số khái niệm liên quan đến đề tài:

  1.1- Đội ngũ:

          Theo từ điển tiếng Việt do tác giả Hoàng Phê chủ biên thì đội ngũ được hiểu đó là một tập hợp số đông người cùng một chức năng hoặc nghề nghiệp, thành một lượng lượng.

    1.2- Đội ngũ CBGV trong nhà trường THCS:

          Đội ngũ CBGV là một tập hợp những CB & GV (trong một nhà trường) được tổ chức phân công công việc theo sự quy định của Ngành giáo dục (làm công tác giáo dục).

          Đội ngũ CBGV “ bao gồm các cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên giáo vụ, thí nghiệm, thư viện ... những người tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc tổ chức quá trình dạy học và giáo dục ở trường THCS. Trong đó giáo viên là lực lượng chủ yếu vì là những người trực tiếp tổ chức quá trình dạy học”.

          (Trích: Những bài giảng về quản lý trường học - Hà Sĩ Hồ & Lê Tuấn chủ biên).

  1.3- Quản lý đội ngũ CBGV trong nhà trường THCS:

Quản lý đội ngũ CBGV là một mặt cấu thành của hoạt động quản lý, đề cập đến con người trong tổ chức. Nói gọn lại: Quản lý đội ngũ CBGV là quản lý con người. Trong nhà trường, đó chính là việc chăm lo xây dựng và quản lý lực lượng cán bộ, giáo viên, nhân viên để họ đủ mạnh, đủ sức hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị nặng nề của nhà trường mà Đảng và nhân đân đã giao phó.

 

2-    Mục tiêu của công tác quản lý và xây dựng đội ngũ trong nhà trường:

Nghị quyết của đại hội Đảng lần thứ X đã chỉ rõ: Mục tiêu của công tác quản lý và xây dựng đội ngũ trong nhà trường là xây dựng một đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và loại hình, đoàn kết nhất trên cơ sở đường lối giáo dục của Đảng cộng sản Việt Nam và ngày càng vững mạnh về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đủ sức thực hiện có chất lượng kế hoạch và mục tiêu giáo dục và đào tạo.

3- Để nâng cao đội ngũ CBGV cần hướng vào 4 tiêu chuẩn sau:

          1.1. Đội ngũ giáo viên vững mạnh phải là một tập thể đoàn kết, thân ái, giúp đỡ lẫn nhau trong công tác và sinh hoạt, xây dựng được không khí ấm cúng, dư luận lành mạnh trong tập thể. Trong tập thể sư phạm, các thành viên phải thực sự gắn bó, yêu thương, đoàn kết, tôn trọng lẫn nhau theo xu hướng phát triển cùng quan tâm, cộng đồng trách nhiệm, giải quyết những khó khăn trong công tác, trong đời sống vật chất cũng như tinh thần. Làm thế nào để sống trong tập thể đó, mọi người cảm thấy tự tin, phấn khởi không muốn phải xa tập thể. Có như vậy mới phát huy hết được tiềm năng của mỗi CBGV để đạt tới mục tiêu, yêu cầu của sự nghiệp giáo dục.

          Tinh thần đoàn kết trong đội ngũ cán bộ giáo viên phải được xây dựng trên cơ sở đấu tranh vì lợi ích chung, lối sống văn minh theo tinh thần xã hội chủ nghĩa. Đây chính là một trong những tiêu chuẩn đầu tiên để đánh giá và xây dựng đội ngũ CBGV vững mạnh.

          1.2. Nắm vững và thực hiện tốt quan điểm giáo dục của Đảng, hết lòng vì học sinh thân yêu.

          Đội ngũ CBGV vững mạnh phải là một tập thể luôn có ý thức học tập. Nắm vững đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, có tinh thần tìm tòi để thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình. Thấm nhuần đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, giáo viên sẽ hết lòng yêu thương học sinh, sẽ có những biện pháp giáo dục học sinh đúng đắn, phù hợp. Đây cũng là tiêu chuẩn cơ bản nhất đối với phẩm chất người giáo viên.  Nó là biểu hiện cụ thể của tinh thần giác ngộ xã hôi chủ nghĩa, tính Đảng và tính sư phạm, đặt nền móng cho mối quan hệ cơ bản ở nhà trường XHCN. Khi đã phấn đấu đạt được tiêu chuẩn này đội ngũ CBGV trong nhà trường sẽ có cơ sở để xây dựng nhà trường thành pháo đài của chủ nghĩa xã hội, sẽ đào tạo cho xã hội những công dân có ích.

          1.3. Tập thể sư phạm vững mạnh là một tập thể có tổ chức chặt chẽ, ý thức tổ chức kỷ luật cao, chấp hành tốt mọi chủ trương chính sách của Nhà nước, nội quy nhà trường, quy định chuẩn mực của cộng đồng. Là đội ngũ giáo viên có sự thống nhất ý chí và hành động của mọi thành viên thì sẽ tạo nên một sức mạnh của đội ngũ đó. Mỗi thành viên trong đội ngũ phải xây dựng cho mình thói quen sống và hành động theo pháp luật. Nề nếp làm việc theo quy chế, đồng thời phải vận động những người xung quanh, trước hết là học sinh và gia đình mình thực hiện tốt.

          1.4. Đội ngũ vững mạnh là một đội ngũ luôn coi ý chí phấn đấu vươn lên về mọi mặt, đảm bảo trình độ đồng đều và ngày càng cao của đội ngũ, phấn đấu trở thành những con người mới, mỗi thầy giáo, cô giáo thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo.

          Tiêu chuẩn cuối cùng này là điều kiện để thực hện tốt các tiêu chuẩn trên. Thực hiện tốt tiêu chuẩn này sẽ nâng cao được trình độ chung của đội ngũ cũng như mọi giáo viên trong việc nâng cao trình độ của đội ngũ, cần phải coi trọng nhiều mặt: chíng trị, tư tưởng văn hoá, nghiệp vụ ... và phải hướng theo yêu cầu xây dựng con người mới làm cho mỗi giáo viên thực sự trở thành tấm gương sáng mẫu mực. Ngoài ra phải quan tam đồng đều giữa các CBGV, tuy nhiên cần phải có cốt cán từng mặt. Hiệu trưởng cần phải quan tâm bồi dưỡng những cốt cán và tạo điều kiện để họ phát huy hết tiềm năng của bản thân.

          Muốn có đội ngũ giáo viên vững mạnh, trước hết phải có từng giáo viên mạnh. Người giáo viên phải có những tiêu chuẩn cơ bản sau: Có lòng yêu nghề mến trẻ, nắm vững tri thức khoa học, hiểu biết về tâm lý và giáo dục, hoàn thiện kỹ năng lao động giáo dục.

          Trong 4 tiêu chuẩn đối với người giáo viên thì lòng yêu nghề mến trẻ là cơ sở, nắm vững tri thức khoa học, hiểu biết về tâm lý học và giáo dục  là điều kiện để hoàn thiện kỹ năng lao động giáo dục. Vì vậy hoàn thiện kỹ năng lao động giáo dục là hạt nhân, là kết quả cuối cùng của 4 tiêu chuẩn trên. Nhân cách của người giáo viên được hoàn thiện bao nhiêu thì sẽ tác động đến nhân cách học sinh bấy nhiêu. Một đội ngũ bao gồm những CBGV có nhân cách tốt sẽ là một đội ngũ vững mạnh. Đó chính là nguồn lực quan trọng để phát triển nhà trường.

2. Để xây dựng được một tập thể sư phạm vững mạnh người cán bộ quản lý phải dựa vào 9 giải pháp cơ bản sau:

          2.1. Tìm hiểu và nắm chắc tình hình đội ngũ về các mặt năng lực, trình độ, quá trình công tác, số lượng, nguyện vọng, sở trường, hoàn cảnh, cá tính, xu hướng phát triển mặt mạnh, mặt yếu ...

          2.2. Lập quy hoạch xây dựng đội ngũ giáo viên trong một khoảng thời gian nhất định về các mặt: số lượng, cơ cấu, chất lượng, biện pháp, hình thức xây dựng đội ngũ. Việc lập quy hoạch xây dựng đội ngũ giúp cho Hiệu trưởng có tầm nhìn xa, bao quát hơn trong công tác, củng cố và bồi dưỡng đội ngũ, quy hoạch, cơ cấu đồng bộ và nâng dần trình độ của giáo viên

          2.3. Sắp xếp sử dụng đội ngũ CBGV sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, sở trường chuyên môn nghiệp vụ của mỗi người mới phát huy hết khả năng của họ cho sự nghiệp giáo dục.

          2.4. Bồi dưỡng đội ngũ CBGV về các mặt chính trị tư tưởng, văn hoá, ngoại ngữ, tin học, nghiệp vụ chuyên môn, sức khoẻ, kể cả với hình thức tự học, tự bồi dưỡng.

          2.5. Xây dựng mối quan hệ hợp tác xã hội chủ nghĩa, tình ban, tình đồng chí giữa các thành viên trong tập thể sư phạm. Xây dựng tình đoàn kết trong đơn vị, có ý thức tổ chức tôn trọng kỷ luật. Hoạt động trong nhà trường phải được sự thống nhất, bàn bạc dân chủ tập trung công bằng.

          2.6. Chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho đội ngũ giáo viên trong công tác xã hội hóa giáo dục. Phối kết hợp với các tổ chức trong nhà trường, chính quyền địa phương và các tổ chức khác. Quan tâm đến nơi ăn chốn ở của cán bộ giáo viên. Các trang thiết bị vui chơi giải trí, văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao, các chế độ đối với cán bộ giáo viên phải đúng và hợp lí...

          2.7. Hiệu trưởng phải là người mẫu mực, là tấm gương sáng, là con chim đầu đàn của tập thể sư phạm. Phát huy uy tín cá nhân vai trò lãnh đạo trong quan hệ công tác và sinh hoạt. Để đạt được tiêu chuẩn uy tín của Hiệu trưởng, đòi hỏi phải có lối sống lành mạnh, phẩm chất đạo đức trong sáng, có năng lực quản lí nghiệp vụ, quan tâm đúng mức đối với CBGV.

          2.8. Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và sự hỗ trợ của các tổ chức đoàn thể.

          2.9. Việc kiểm tra đánh giá, kế hoạch xây dựng đội ngũ CBGV. Kế hoạch đề ra phải mang tính tổng hợp, yêu cầu thực hiện cần phải kiểm tra kết quả chất lượng viêc làm, khen chê đúng mức kịp thời để đúc rút kinh nghiệm.

          Việc xây dựng đội ngũ CBGV mang tính quyết định đối với sự nghiệp giáo dục. Đây là việc làm khó, mang tính bức xúc thường xuyên và lâu dài nhưng cấp bách. Vì vậy đòi hỏi các tổ chức đoàn thể phải phối hợp chặt chẽ và linh hoạt nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ngày càng tốt hơn.

          Để thực hiện tốt các biên pháp trên, người cán bộ quản lý cần phải thực sự nhanh nhạy, nắm bắt kịp thời chủ trương, chính sách, chiến lược, sách lược của Đảng và Nhà nước. Phải xác định được: xây dưng đội ngũ CBGV là bồi dưỡng nguồn nhân lực quan trọng để thực hiện: “ Chăm lo nguồn lực con người thực hiện công bằng xã hội “ ( Nghị quyết TW II khoá VIII ). Xây dựng đội ngũ CBGV là nhân tố quyết định sự nghiệp trồng người. Thực hiện lời dạy của Bác    “ Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người “.

          Đội ngũ CBGV là lực lượng quyết định sự nghiệp giáo dục đào tạo của một đất nước, quyết định việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mỗi nhà trường. Như người Pháp đã tổng kết "... không bao giờ nói được đầy đủ sự phụ thuộc tương lai của một đất nước vào chất lượng của giáo viên. Vì vậy, trước tiên phải đối xử với họ đúng như vị trí cần thiết của họ. Một đất nước để giáo viên thoái hoá là sự tự sát”.

II. THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG THCS HIỆN NAY.

          Về số lượng đội ngũ giáo viên ở các trường THCS trong toàn quốc là một số lượng tương đối lớn. Theo số liệu thống kê giáo dục đầu năm 1999- 2000 của trung tâm thông tin quản lý giáo dục Bộ giáo dục và đào tạothì tổng số giáo viên trực tiếp giảng dạy trong các trường THCS cả nước là 208.849 người. Trong đó có 145.068 giáo viên nữ

        Tính tỷ lệ giáo viên trên lớp nói chung trong cả nước là 1,5 giáo viên / lớp. Nhưng xét riêng tỷ lệ này ở các tỉnh thành thì có sự chênh lệch nhau khá nhiều. Có sự phân bố không đồng đều giữa các thành phố, các tỉnh , các vùng, miền. Điều đó đòi hỏi nhà nước phải có chính sách phân bổ, điều động giáo viên giữa các vùng và người hiệu trưởng phải có biện pháp quản lý, sử dụng đội ngũ như thế nào cho hợp lý.

       Về trình độ giáo viên THCS theo chuẩn qui định là tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm. Theo thống kê của vụ giáo viên Bộ Giáo dục & Đào tạo (tháng 4- 1999) tỷ lệ giáo viên THCS trong cả nước đạt chuẩn là 93.67 %. Hiện nay trong xu thế chung thì hầu hết giáo viên THCS đã đạt chuẩn.

     Về phẩm chất chính trị, nói chung đội ngũ giáo viên THCS có phẩm chất đạo đức tốt, yêu nghề, mến trẻ, có tinh thần khắc phục khó khăn, nhất là giáo viên ở các tỉnh miền núi, biên giới, hải đảo.

      Bên cạnh những mặt mạnh cơ bản đó ta thấy còn một số tồn tại đó là: Đội ngũ thiếu đồng bộ và mất cân đối về chuyên môn đào tạo, về sự phân bố giữa các cấp học và các địa phương, vùng, miền ... Đội ngũ giáo viên thường chỉ được chuẩn bị để giảng dạy các môn khoa học, nên năng lực giáo dục nhìn chung là yếu. Một bộ phận không nhỏ tuy đã đạt chuẩn nhưng vẫn không đủ trình độ đảm đương nhiệm vụ trong hoàn cảnh hiện nay.

          Từ thực trạng tình hình đội ngũ CBGV như vậy, đòi hỏi các cấp giáo dục, các nhà trường phải có những biện pháp tích cực trong công tác đào tạo bồi dưỡng và sử dụng để từng bước khắc phục những tồn tại nói trên và phát huy những điểm mạnh vốn có. Đối với một trường THCS, Hiệu trưởng phải có quy hoạch bồi dưỡng và sử dụng hợp lí từng loại hình giáo viên, cán bộ thì mới có thể hạn chế được những ảnh hưởng xấu đối với chất lượng giáo dục trong nhà trường hiện nay.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ QUẢN LÝ, XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CBGV, NHỮNG GIẢI PHÁP VÀ NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA TRƯỜNG THCS VĂN NHO- BÁ THƯỚC NĂM HỌC 2006 – 2007

 

1. VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH ĐIẠ PHƯƠNG VÀ NHÀ TRƯỜNG:

1.1.         Khái quát tình hình địa phương:

Xã Văn Nho là một xã miền núi vùng sâu, vùng xa của miền núi huyện Bá Thước. Địa hình phức tạp, chia cắt, giao thông đi lại khó khăn. Có những bản làng xa trường học từ 7- 10 KM. Tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội, nhìn chung còn hết thấp kém. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn yếu, mặt bằng dân trí thấp. Là một xã thuần nông nghề chính là làm nương rẫy, do địa hình hiểm trở trong thế cô lập của đường cụt, độc đạo nên sự giao lưu kinh tế, thông tin với bên ngoài hết sức hạn chế, lại không có nghề phụ, do vậy tỷ lệ hộ đói nghèo còn rất cao ( theo thống kê của UBND xã năm 2006 là 71.8 % ). Nhiều năm qua mặc dù chính quyền, các đoàn thể, nhà trường đã hết sức nỗ lực vận động nhân dân xây dựng đời sống văn hóa mới – với mô hình một số làng văn hóa đã ra đời và được công nhận, tuy vậy nhiều hủ tục vẫn còn tồn tại trong các tập tục ma chay, cưới xin, trong đó tảo hôn là một tập quán xấu có ảnh hưởng tiêu cực rất lớn đến công tác giáo dục của địa phương. Về phía nhân dân nhận thức về giáo dục đã có những chuyển biến khá hơn nhiều so với trước đây, nhưng vẫn còn  hạn chế khá lớn so với nhận thức chung của xã hội. Việc học hành của con em thường được các gia đình phó mặc cho nhà trường và bản thân các em. Bên cạnh đó do kinh tế còn quá nghèo, việc đầu tư mua sắm các tài liệu, đồ dùng học tập cho con em đi học là hết sức  thiếu thốn....

  Chính những yếu tố trên đã chi phối không nhỏ đến chất lượng giáo dục của nhà trường  những năm học vừa qua.

 

1.1. Khái quát tình hình nhà trường:

Trường THCS Văn Nho, tiền thân là trường PTCS Văn Nho được thành lập vào năm 1978, mà ban đầu chỉ có vài ba lớp học ghép với vài giáo viên đứng lớp. Năm học 1997 theo quyết định của thủ tướng chính phủ, nhà trường được tách ra khỏi cấp Tiểu học, với gần 200 học sinh. Từ đó nhà trường mang tên chính thức là trường THCS Văn Nho.

Hiện nay nhà trường có một tập thể sư phạm đoàn kết, thống nhất với 23 CBGV. Số lượng học sinh cũng không ngừng được thu hút đông đảo hơn, với trên 400 em , được biên chế thành 13 lớp học. Cơ sở vật chất nhà trường tuy chưa được kiên cố hoá, nhưng nhìn chung vẫn đảm bảo cơ bản cho hoạt động dạy và học diễn ra 2 ca trên ngày. Trong vài ba năm gần đây với sự quan tâm của nhà nước và nhân dân địa phương cơ sở vật chất của nhà trường đã được cải thiện thêm một bước. Đó là đã đủ: số phòng học chính khóa, khu sân vui chơi và thể dục cho học sinh, khu nhà ở nội trú cho giáo viên, vệ sinh môi trường luôn được đảm bảo sạch sẽ và vệ sinh. Nhờ vậy mà các em học sinh, đội ngũ cán bộ giáo viên ( mặc dù đại đa số là ở miền xuôi xa nhà lên công tác)ngày một phấn khởi, yên tâm công tác, yêu trường, yêu lớp, gắn bó với nhà trường hơn. Đây là một nhân tố có tác động không nhỏ tới chất lượng giáo dục của nhà trường trong những năm học vừa qua, đặc biệt là năm học 2006 – 2007.

2. Thực trạng vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ - giáo viên của trường     THCS Văn Nho năm học 2007-2008.

          2.1. Thực trạng vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ - giáo viên:

          a) về cơ cấu đội ngũ:

          Tổng số cán bộ-giáo viên: 23 đ/c. Trong đó có:

          Ban giám hiệu:               2 đ/c

          Giáo viên:                      20 đ/c

          NV hành chính:             1 đ/c

          Số CB-GV nữ:               9 đ/c

          Đảng viên:                     10 đ/c

          Trình độ Đại học:          11đ/c

          Đang học tại chức ĐH:   2 đ/c

          Cao đẳng:                      10 đ/c

          Trung cấp:                     1 đ/c (là kế toán)

          Tuổi đời bình quân:       29

          Tuổi nghề bình quân:     5

          CSTĐ + GVG cấp huyện:       6 đ/c

          GVG cấp Tỉnh:              1 đ/c

          * Về chuyên môn trường chia làm 2 tổ sinh hoạt:

-         Tổ khoa học tự nhiên

-         Tổ khoa học xã hội

b) Danh sách đội ngũ CB-GV trường THCS Văn Nho năm học 2007-2008

STT

Họ và tên

Chức vụ

Tuổi đời

Tuổi nghề

Hệ  đào tạo

XL  

 C. môn

XL   thi đua

Hoàn cảnh

1

Vũ Duy Văn

HT

49

30

ĐHSP

 

CSTĐ huyện

Tốt

2

Lê Xuân Tráng

PHT

33

10

ĐHSP

 

CSTĐ huyện

Tốt

3

Hà Văn Dựng

TT.TN

37

12

CĐSP

Khá

LĐSX

Tốt

4

Bùi Minh Hạnh

TP.TN

27

4

CĐSP

Khá

LĐTT

Tốt

5

Hồ Sỹ Tuân

GV

24

2

ĐHSP

Giỏi

LĐTT

Tốt

6

Nguyễn Thị Đào

GV

23

2

ĐHSP

Khá

LĐTT

Khá

7

Hà Trung Dũng

GV

24

3

CĐSP

Giỏi

LĐSX

Tốt

8

Lê THị Nguyệt

GV

24

2

CĐSP

Khá

LĐTT

Khá

9

Trịnh Thị Sáu

GV

23

2

ĐHSP

Khá

LĐTT

Tốt

10

Trần Lê Na

GV

23

2

ĐHSP

Giỏi

LĐTT

Tốt

11

Đinh Đức Vũ

TT. XH

28

6

CĐSP

Giỏi

LĐSX

Tốt

12

Lê Văn Lương

TP. XH

27

4

ĐHSP

Giỏi

LĐSX

Tốt

13

Nguyễn Xuân Sơn

GV

26

3

ĐHSP

Giỏi

LĐSX

Khá

14

Hà Văn Nam

GV

37

13

CĐSP

Khá

LĐTT

Tốt

15

Hà Văn Thảo

TP.TĐ

36

10

CĐSP

Giỏi

LĐSX

Tốt

16

Nguyễn Thị Thảo

GV

26

2

ĐHSP

Khá

LĐTT

Tốt

17

TrươngThị Phượng

GV

33

10

CĐSP

Giỏi

LĐSX

Tốt

18

Phạm Thị Chung

GV

23

2

CĐSP

Khá

LĐTT

Khá

19

Hà Thị Thọ

GV

23

2

ĐHSP

Khá

LĐTT

Tốt

20

Đỗ Đức Vương

GV

25

3

ĐHSP

Khá

LĐTT

Tốt

21

Hoàng Thị Huyền

GV

31

2

ĐHSP

Khá

LĐTT

Khá

22

Lương Văn Sách

GV

24

3

THVT

Giỏi

LĐSX

Tốt

23

Hà Văn Quỳnh

KT

24

3

TC.KT

Khá

LĐTT

Tốt

c) Những thuận lợi cần phát huy:

Đội ngũ cán bộ giáo viên trường THCS Văn Nho năm 2007-2008 đủ về số lượng, 100% giáo viên có trình độ đạt chuẩn., có năng lực chuyên môn và  tay nghề vững vàng, nhiệt tình với công tác, yêu nghề, mến trẻ. Luôn có xu hướng phấn đấu vươn lên về mọi mặt, gắn bó với nhà trường, đoàn kết thân ái giúp đỡ lẫn nhau, có tinh thần trách nhiệm, khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Đa số giáo viên của trường là nam, chưa lập gia đình nên có thể toàn tâm, toàn ý với công việc, bởi vậy có nhiều nhiều thuận lợi cho công tác của nhà trường

Phần lớn giáo viên của trường có kinh tế gia đình ổn định, không có gia đình nào quá khó khăn. Đây cũng là một điểm thuận lợi không nhỏ cho vấn đề xây dựng đội ngũ vững mạnh và đặc biệt là  cán bộ giáo viên luôn luôn yên tâm công tác, hết lòng nhiệt tình với nhiệm vụ dạy học.

Một thuận lợi cơ bản không thể không nhận thấy là trình độ đào tạo của đội ngũ khá cao (100% đạt chuẩn). Đây là một điều kiện tốt để đảm bảo chất lượng chuyên môn nghiệp vụ. Số giáo viên giỏi cấp huyện, cấp tỉnh tương đối cao. Đây là một thuận lợi lớn đối với công tác xây dựng đội ngũ CBGV của trường.

Bên cạnh đội ngũ hùng hậu đó là sự quan tâm  sát sao, chăm lo và có những đầu tư thoả đáng cho công tác xây dựng đội ngũ của ban giám hiệu nhà trường. Nhà trường luôn luôn được sự quan tâm thiết thực, hiệu quả của các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương, hội cha mẹ học sinh cùng các tổ chức khác về chủ trương thực hiện, về cơ sở vật chất, về thi đua khen thưởng... Nhà trường tập trung phát huy mạnh mẽ công tác dân chủ hoá trường học để động viên thúc đấy sự cố gắng phấn đấu của CBGV để đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng đội ngũ.

d) Những tồn tại cần khắc phục:

Phải khẳng định rằng, những thuận lợi trên là cơ bản tuy nhiên trong đội ngũ giáo viên trường THCS Văn Nho vẫn tồn tại một số vấn đề:

Số lượng giáo viên tuy đủ về số lượng nhưng chưa cân đối về bộ môn đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng giáo dục. Mặt khác một số giáo viên là người địa phương có nhiều hạn chế trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy thường chỉ đi theo đường mòn cũ, còn ngại khó, ngại khổ  và ngại thay đổi, tiếp cận với cái mới còn chậm ảnh hưởng đến kết quả dạy học. Những vấn đề nêu trên đòi hỏi ban giám hiệu nhà trường cần phải có chiến lược xậy dưng đội ngũ lâu dài và kế hoạch xây dựng đội ngũ hàng năm với những giải pháp, những việc làm thiết thực như quan tâm giúp đỡ, bồi dưỡng giáo viên nhận thức về đổi mới nội dung phương pháp giảng dạy cho các lớp thay sách theo tinh thần tích cực.

Đội ngũ cán bộ giáo viên tuy trẻ khỏe nhiệt tình, nhanh nhạy với cái mới, nhưng nhìn chung kinh nghiệm giảng dạy chưa nhiều, cần phải được tiếp tục tăng cường học hỏi và bồi dưỡng.

2.2. Thực trạng các giải pháp xây dựng đội ngũ CBGV của trường THCS Văn Nho.

Từ  9 biện pháp cơ bản về xây dựng đội ngũ CBGV được cụ thể hoá thành  5 nhóm biện pháp thực hiện ở trường THCS Văn Nho như sau :

a, Giáo dục chính trị tư tưởng , bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho cán bộ giáo viên:

Thông qua các đợt học tập chính trị, nghị quyết, nhà trường giáo dục, bồi dưỡng cho giáo viên nhận thức được vai trò, nhiệm vụ của người giáo viên trong giai đoạn mới. Cụ thể là nhà trường đã tổ chức cho CBGV học tập, quán triệt sâu sắc tư tưởng chỉ đạo, chủ trương đường lối của Đảng và nhà nước về giáo dục đào tạo. Nghị quyết TWII - Khoá VIII của Đảng đã được triển khai và thi hành nghiêm túc các quy định của luật giáo dục trong nhà trường. Quán triệt chỉ thị 34/ CT- TW của Bộ chính trị về công tác tư tưởng chính trị trong trường học, tạo điều kiện về thời gian để giáo viên được tham gia học tập các chỉ thị, nghị quyết V, VI của Đảng về bản sắc văn hoá dân tộc và cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Từ những hoạt động trên, nhận thức của giáo viên được nâng lên rõ rệt, có những đồng chí cán bộ giáo viên trước đây có những tư tưởng tự ti, mặc cảm, không có lý tưởng, động cơ phấn đấu. Nay nhận thức đã rõ rệt, quan điểm thay đổi hẳn. Họ hăng hái trong công tác, phấn đấu tốt hơn, nhiệt tình hơn trong mọi công việc . Kết quả trong năm học 2006-2007 đã kết nạp thêm được 2 đ/c đứng vào đội ngũ của Đảng.

Ngoài ra nhà trường còn kết hợp với công đoàn động viên CBGV tham gia các cuộc thi: “Tìm hiểu về các tổ chức công đoàn và công nhân Việt nam’’

Thi tìm hiểu pháp luật phòng chống các tệ nạn xã hội ... Thường xuyên bồi dưỡng tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống giúp cho giáo viên tin tưởng vào chủ trương đường lối chính sách của Đảng về công tác giáo dục. Từ đó giáo viên yên tâm hơn, gắn bó hơn với nghề nghiệp, luôn bám trường, bám lớp, có lòng yêu nghề mến trẻ, ý thức trách nhiệm của người giáo viên được nâng cao.Tích cực tham gia phong trào vận động  “Kỷ cương - tình thương - trách nhiệm” ,tận tụy với học sinh hơn, say sưa với công việc hơn, sống thân ái chan hoà, đoàn kết hơn. Điều quan trọng là nội bộ nhà trường đã đẩy lùi được những tiêu cực của cơ chế thị trường.

b) tập trung chỉ đạo công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ.

Ban giám hiệu nhà trường đã xác định rõ, giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục, có thầy giỏi mới có trò giỏi. Vì vậy để chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh từng bước nâng lên thì dứt khoát đòi hỏi chất lượng giáo viên phải được nâng lên toàn diện. Khi chỉ đạo công tác này ban giám hiệu lên kế hoạch cụ thể về chỉ đạo chuyên môn hàng năm, hàng tháng, hàng tuần ... Yêu cầu mỗi giáo viên phải xây dựng kế hoạch chuyên môn nghiệp vụ chi tiết theo kế hoạch bộ môn mình dạy. Đồng thời các tổ các khối chuyên môn đều phải có kế hoạch hoạt động cụ thể. Nhà trường thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ (trao đổi kinh nghiệm giảng dạy, báo cáo điển hình tiên tiến ... ) hoặc tổ chức cán bộ giáo viên tham gia các lớp chuyên đề bồi dưỡng do Phòng giáo dục, Sở giáo dục tổ chức. Với chuyên đề bồi dưỡng thường xuyên chu kì III(2004- 2007) có 100% giáo viên tham gia một cách tích cực và tự giác, chuyên đề thay sách lớp các khối lớp có 100% giáo viên dạy các bộ môn được tập huấn. Ngoài ra các lớp chuyên đề do Phòng giáo dục huyện tổ chức giáo viên đều tham gia đầy đủ. Các chuyên đề trên lại được triển khai một lần nữa tại trường theo từng tổ, nhóm chuyên môn.

Bên cạnh các đợt bồi dường chuyên đề, nhà trường còn tổ chức dưới nhiều hình thức: dự giờ thăm lớp, đánh giá rút  kinh nghiệm, tổ chức các buổi hội thảo khoa học (mời đại diện các cấp, các ngành trong xã và phụ huynh đến dự). Tổ chức triển khai các SKKN ở Phòng giáo dục, Sở giáo dục để ứng dụng vào thực tế. Tổ chức thao giảng giáo viên giỏi trường 2 lần/ năm đối với giáo viên. Xây dựng các giờ thực nghiệm mỗi tuần 1 giờ.

Để nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên một cách có hệ thống ban giám hiệu có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và tạo điều kiện cho giáo viên được bồi dưỡng trên chuẩn .

Nhà trường tạo mọi điều kiện như bố trí dạy thay giờ, thay công tác kiêm nhiệm trong thời gian giáo viên đi học. Hỗ trợ kinh phí từ 200.000 đến  300.000đ/1 giáo viên/năm. Có những năm có 2 đến 3 đ/c cùng đi học tại chức nhưng nhà trường vẫn rất đảm bảo điều kiện cho mỗi giáo viên. Ngoài ra các giáo viên trực tiếp đứng lớp, nhà trường còn động viên cán bộ đi tập huấn nghiệp vụ công tác Đoàn, Đội, nghiệp vụ thư viện, kế toán, phụ tá thí nghiệm ...

Mặt khác nhà trường rất quan tâm đến việc xây dựng, bồi dưỡng những giáo viên tích cực, nhiệt tình, có năng lực chuyên môn thành những điển hình làm nòng cốt mở rộng phong trào, như các đ/c: Lê Văn Lương, Đinh Đức Vũ, Nguyễn Xuân Sơn...Ban giám hiệu thường xuyên kiểm tra việc thực hiện chuyên môn của giáo viên thông qua kế hoạch giảng dạy hàng tuần đối chiếu với phân phối chương trình (Bộ qui định) cùng với sổ ghi đầu bài, thời khoá biểu, thiết kế bài giảng,kế hoạch bộ môn...để đánh giá việc thực hiện chuyên môn của giáo viên, kịp thời sửa chữa, bổ sung nếu chưa hoàn chỉnh, đầy đủ, đúng quy định.Ban giám hiệu nhà trường kiểm tra kế hoạch hoạt động của từng tổ, khối chuyên môn, biên bản sinh hoạt tổ chuyên môn để có kế hoạch chỉ đạo phù hợp, hiệu quả.

Từ đó làm cho công tác chỉ đạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên được tiến hành theo kế hoạch cụ thể, chi tiết, khoa học, có sự phân cấp quản lý chặt chẽ, phân công nhiệm vụ rõ ràng, thiết lập một cơ chế quản lý đồng bộ, thống nhất để phát huy ưu điểm, khắc phục những nhược điểm nhằm từng bước nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, chất lượng đội ngũ giáo viên.

c) Đẩy mạnh công tác tự học, tự bồi dưỡng:

Từ việc nhận thức tư tưởng giáo viên, nhà trường giúp giáo viên xác định rõ ràng. Phải không ngừng tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức. Mỗi giáo viên phải lao động tự giác, tự tin, tự vươn lên, tự phát huy, tự trau dồi, gọt giũa về nhân cách và tay nghề. Phấn đấu tạo được sự đồng đều tương đối của giáo viên, tạo được niềm tin đầy đủ trong phụ huynh học sinh và các cấp lãnh đạo. từ đó nhà trường cho giáo viên đăng kí tự học, tự bồi dưỡng về một vấn đề nào đó trong một thời gian nhất định

Đầu năm học, ban giám hiệu nhà trường cho giáo viên đăng kí  đề tài khoa học, SKKN  để giáo viên có kế hoạch nghiên cứu, thực hiện, đến cuối năm có báo cáo trước Hội đồng khoa học nhà trường.

Bên cạnh các nội dung trên, nhà trường còn có kế hoạch giao cho giáo viên (đặc biệt là giáo viên có năng lực) soạn giáo án, dạy mẫu để giáo viên toàn trường học tập kinh nghiệm, tự đối chiếu với bản thân để rút ra những điểm mạnh cần phát huy, những điểm yếu cần cố gắng. Từ đó ban giám hiệu tạo mọi điều kiện để giáo viên tương trợ kèm cặp, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ trong mọi mặt, đào tạo chất lượng tương đối đồng đều trong đội ngũ.

 Ngoài ra nhà trường còn đặt ra yêu cầu rất cao đối với giáo viên, yêu cầu về tác phong làm việc nghiêm túc, tâm huyết với nghề nghiệp, chủ động nghiên cứu nắm vững chương trình, nội dung sách giáo khoa cấp học, môn học, mạnh dạn trong phương pháp đổi mới.

Từ các giải pháp trên, giúp giáo viên ý thức được rằng: Muốn tự khẳng đinh mình, muốn có uy tín thật của một nhà giáo, không có con đường nào khác là phải cố gắng tự học, tự bồi dưỡng bản thân.

d) làm tốt công tác phối kết hợp giữa các tổ chức đoàn thể trong nhà trường:

Ban giám hiệu nhà trường đã chỉ đạo động viên và phối hợp với các tổ chức đoàn thể trong nhà trường như: Tổ chức Đảng, Đoàn thanh niên, Công đoàn, phụ nữ... cùng tham gia công tác xây dựng bồi dường đội ngũ CBGV. Cùng với các tổ chức luôn luôn quan tâm đến đời sống vật chất tinh thần của CBGV. Ví dụ: dạy giúp nhau lúc ốm đau hoặc gia đình có công việc... Ban giám hiệu bàn bạc thống nhất với Công đoàn xây dựng quỹ tương thân tương ái (50.000đ/ người/tháng) giúp nhau làm kinh tế gia đình, lúc khó khăn hoạn nạn...

Nhà trường tổ chức  cho giáo viên dạy bồi dưỡng học sinh yếu kém theo yêu cầu của phụ huynh học sinh và theo quy định của cấp trên. Từ đó giúp giáo viên nắm chắc đối tượng học sinh lại vừa nâng cao được tay nghề, trình độ.

Chỉ đạo các tổ chức tài vụ thực hiện đầy đủ mọi chế độ chính sách đối với giáo viên một cách đầy đủ, công bằng, công khai. Riêng đối với cán bộ quản lý phải gươg mẫu, đôi khi phải chịu thiệt thòi. Phải thấu hiểu hoàn cảnh gia đình của từng CBGV để có thể tạo điều kiện giúp đỡ hoặc bồi dưỡng cho họ, động viên họ yên tâm công tác.

Bên cạnh đó, nhà trường phối hợp với công đoàn thường xuyên tổ chức cho CBGV đi thực tế giáo dục, đi tham quan du lịch để mở rộng tầm nhìn, thâm nhập thực tế. Ban giám hiệu nhà trường cũng thường xuyên chăm lo đến đời sống tinh thần của CBGV. Chính vì vậy đã tạo nên dư luận lành mạnh trong đội ngũ. Cùng với tổ chức đoàn thể, nhà trường lên kế hoạch cụ thể, khoa học, chặt chẽ trong việc tổ chức các ngày lễ lớn trong năm như: Lễ khai giảng, Kỉ niệm ngày 20/11, ngày 8/3, ngày 26/3; Lễ tổng kết năm học... Tham mưu với các cấp chính quyền địa phương, các đơn vị đóng trên địa bàn xã, Hội cha mẹ học sinh, Hội cựu chiến binh, Hội khuyến học... tạo ra một món quà ý nghĩa lưu niệm nhà trường và mỗi CBGV nhân ngày lễ, ngày tết.

Bên cạnh các hoạt động trên, nhà trường phối hơp với các tổ chức công đoàn thường xuyên làm tốt công tác động viên tư tưởng, tinh thần như: thăm hỏi ốm đau, việc hiếu, việc hỷ...

Dưới sự chỉ đạo của chi bộ Đảng, Ban giám hiệu lên kế hoạch, chương trình hành động và được bàn bạc thống nhất, đưa vào nghị quyết của Chi bộ, của Hội nghị cán bộ CNVC, Hội nghị công đoàn từ đầu năm học. Sau mỗi thời gian hoạt động phải có báo cáo trở lại một cách toàn diện để Chi bộ nắm được và chuẩn bị phương hướng kế hoạch cho kỳ tới.

e) Công tác thi đua khen thưởng:

Trong công tác thi đua khen thưởng, Ban giám hiệu nhà trường bàn bạc với chi bộ cấp uỷ, ban lãnh đạo nhà trường thống nhất về thi đua khen thưởng, kỉ luật, đề bạt, thuyên chuyển, phân công cán bộ... Nhà trường thực hiện công tác này một cách nghiêm túc, chất lượng, đảm bảo tính khách quan, công bằng nhằm khích lệ sự phấn đấu của đội ngũ CBGV.

Ngay từ đầu năm học, nhà trường đã đưa vào nghị quyết thành lập một ban thi đua khen thưởng, xây dựng quỹ thi đua khen thưởng bằng việc huy động các nguồn  như: nguồn kinh phí của nhà trường, nguồn quỹ hỗ trợ của những tổ chức đoàn thể, các Hội trong địa bàn xã.

 Cũng từ đầu năm học, nhà trường cho giáo viên tự đăng ký thi đua về tất cả các mặt, hàng tháng, hàng kỳ đều có sơ kết, đánh giá xếp loại giáo viên và lưu lại hồ sơ theo dõi thi đua. Đến cuối năm học tổng hợp, bình xét đánh giá theo tiêu chuẩn, xếp loại CBGV đã được hội đồng giáo dục thống nhất theo quy chế dân chủ ngay từ đầu năm. Hàng tháng đánh giá xếp loại theo tiêu chí

TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CBGV TRƯỜNG THCS VĂN NHO

 I. KỶ LUẬT LAO ĐỘNG: 10 điểm.

1) Đảm bảo ngày công: (6 đ)

      -  Nghỉ có lý do: Mỗi buổi trừ 1 điểm.

      -  Nghỉ không có lý do: Mỗi buổi trừ  6 điểm.

2) Đảm bảo giờ công: (2 điểm)       -  Mỗi lần chậm trừ 1 điểm.

3 Thực hiện chế độ trực: (2 điểm)

     -  Mỗi lần trực không thực hiện đầy đủ trừ 1 điểm.

II. CHUYÊN MÔN NGHIỆP VỤ: 70 điểm.

1)  Thực hiện chương trình: (5 điểm).      Chậm 1 tiết không có lý do trừ 1 điểm.

2)    Thực hiện quy chế chuyên môn.  (10 điểm)

     -  Thực hiện đầy đủ quy chế kiểm tra học sinh đúng theo quy định: Đạt 6 điểm.

     -  Thực hiện chấm trả bài đúng quy định:                                         Đạt 2 điểm.

     -  Thực hiện đúng chế độ cộng điểm:                                               Đạt 2 điểm.

3) Hồ sơ chuyên môn: (10 điểm).

        -  Chất lượng hồ sơ: Loại A: 10 điểm; Loại B: 6 điểm; Loại C: 4 điểm.

4) Công tác giảng dạy: 20 điểm.

    -  Giờ dạy thanh - kiểm tra: Giỏi: 10 điểm; Khá: 8 điểm; TB: 5 điểm; Không đạt: 0 điểm.

    -  Dự đủ số tiết theo quy định ( 2 tiết/tuần): 4 điểm; thiếu 1 tiết trừ 1 điểm.

    -  Giờ dạy sử dụng đồ dùng dạy học: 6 điểm;  Không sủ dụng trừ 1 điểm/ giờ.

5) Công tác bồi dưỡng, phụ đạo học sinh: 10 điểm.

    -  Thực hiện đầy đủ, có chất lượng (Có học sinh giỏi các kỳ thi h/s giỏi huyện, chất lượng qua các bài kiểm tra, khảo sát tăng

    Không có học sinh giỏi, chất lượng không tăng 0 điểm.

 

6)  Chất lượng giảng dạy: 10 điểm.

    -  Chất lượng kiểm tra, khảo sát môn phụ trách:

+ Tăng: 5% đạt 2 điểm; 10% đạt 4 điểm; 15% đạt 6 điểm; 20% đạt 8 đ; 25% đạt 10 đ.

+ Không tăng: 0 điểm.

+ Giảm:   Số điểm trừ theo phần trăm giảm.

7) Công tác chủ nhiệm: 5 điểm.

    -  Tổ chức sinh hoạt 15 – Xây dựng nề nếp tự quản tốt:      

    -  Tổ chức sinh hoạt cuối tuần đầy đủ                                 

    -  Xếp loại lớp CN: Loại A: 5 điểm; Loại B: 3 điểm; Loại C: trừ 2 điểm.

III. CÔNG TÁC NCKH- SKKN- TỰ LÀM ĐỒ DÙNG DH - TỰ BD: 10 điểm.

-         Tham gia đầy đủ BD chuyên đề: 3 điểm.

-         Tự BD chuyên môn nghiệp vụ:    3 điểm.

-         SKKN – Đồ dùng dạy học xếp loại: A đạt 4 điểm; B đạt 2 điểm; C đạt 1 điểm.

IV. HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI ĐOÀN THỂ: 10 điểm.

-         Tham gia đầy đủ với tinh thần trách nhiệm cao:  10 điểm.

-          Mỗi lần không tham gia, ý thức chấp hành không tốt trừ 3 điểm.

V. TIÊU CHUẨN XẾP LOẠI:

    -  Loại tốt:   Đạt 85      100 điểm ( Không có mục nào bị điểm 0)

    -  Loại khá: Đạt  65       84 điểm.

    -  Loại TB:  Đạt 50        64 điểm.

      Dưới 50 điểm không xếp loại

 

* Lưu ý: Mục nào trong tháng không tổ chức coi như đạt điểm tối đa

 Căn cứ vào xếp loại các tháng để đánh giá xếp loại cả năm với yêu cầu có từ 2/3 số tháng trở lên đạt loại nào thì được xếp loại đó (Riêng loại tốt và khá không thể có tháng nào không xếp loại)

Từ việc xếp loại CBCV được nhận các danh hiệu tương ứng Lao động xuất sắc (Loại tốt); Lao động tiên tiến (Loại khá)

Trong số CBGV đạt lao xuất sắc trường hợp nào có giờ dạy giỏi, SKKN cấp nào xết công nhận thì hội đồng thi đua sẽ đề nghị cấp đó xét công nhận danh hiệu chiến sỹ thi đua ở cấp đó.

Từ những tiêu chuẩn trên, nhà trường đề ra quy định, mức thưởng cụ thể cho các danh hiệu thi đua của giáo viên và học sinh (NQ hội nghị CNVC đầu năm).

·        Đối với giáo viên:

-         Chiến sĩ thi đua tỉnh:                              150.000đ.

-         Chiến sĩ thi đua  cấp CS:                        100.000đ.

-         Lao động xuất sắc:                                 50.000đ

-         Lao động tiên tiến:                                 30.000đ.

-         Giáo viên có học sinh giỏi cấp Tỉnh:      100 - 150.000đ.

-         Giáo viên có học sinh giỏi cấp Huyện:

        + Giải nhất:                                            100.000đ/giải.

        + Giải nhì:                                              80.000đ/giải.

        + Giải ba:                                               70.000đ/giải.

        + Giải khuyến khích:                             50.000đ/giải.

·        Đối với học sinh:

Học sinh có giải cấp Tỉnh: 70.000đ.

Học sinh có giải cấp Huyện:

      + Giải nhất:               50.000đ/giải

      + Giải nhì:                 40.000đ/giải

      + Giải ba:                  30.000đ/giải

      + Giải KK:                20.000đ/giải

Học sinh giỏi toàn diện:  15.000đ/HS

Học sinh tiên tiến:           10.000đ/HS

          Quy định mức thưởng trước như vậy vừa kích thích tinh thần cố gắng phấn đấu của từng cá nhân vừa đảm bảo được tính dân chủ, công bằng, công khai trong chế độ thi đua, tạo sự phấn khởi lành mạnh trong tập thể. Đề ra quy định, chế độ thi đua khen thưởng nghiêm túc, thưởng đúng, phạt đúng, nghiêm minh, công bằng...nhằm động viên, khích lệ giáo viên ngày càng cố gắng hơn tin tưởng vào kế hoạch thực hiện, chỉ đạo của ban lãnh đạo nhà trường. Chính điều đó góp phần khuyến khích, thúc đẩy sự tiến bộ nhanh chóng của chất lượng đội ngũ và mọi phong trào của nhà trường.

         Tóm lại: Muốn xây dựng một đội ngũ CBGV đạt chất lượng cao, kết quả tốt, Ban giám hiệu nhà trường đặc biệt người lãnh đạo cần tìm ra những biện pháp toàn diện và tổng hợp, vừa cụ thể, vừa thiết thực phù hợp với thực trạng đội ngũ nhà trường. Đây là một việc làm khó đòi hỏi người lãnh đạo phải có đủ những phẩm chất, năng lực cao và sự tâm huyết với nghề nghiệp. Nếu không xây dựng được một tập thể sư phạm vững mạnh thì không thể xây dựng nhà trường thành một trường tiên tiến được.

         3. Những kết quả đạt được trong năm học 2006-2007.

         Từ những biện pháp đã thực hiện thường xuyên, với sự nỗ lực phấn đấu của đội ngũ CBGV và tập thể học sinh, nhà trường đã đạt được những kết quả sau đậy:

* Thành tích chung của nhà trường:

         a) Danh hiệu thi đua:

Trường  được công nhận là trường tiên tiến xuất sắc cấp Huyện ; được UBND Huyện tặng giấy khen .

         Chi bộ đạt chi bộ trong sạch vững mạnh.

         Công đoàn được LĐLĐ Huyện giấy khen.

         Chi đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh được Đoàn xã tặng giấy khen.

         b) Tập thể giáo viên:

         - Chiến sĩ thi đua cấp Huyện:  2 đ/c

         - Giáo viên giỏi cấp Tỉnh:        1 đ/c.

         - Giáo viên giỏi cấp Huyện:               4 đ/c.

         Như vậy trường có 7 đ/c được công nhận là chiến sĩ thi đua, giáo viên giỏi cấp Tỉnh và cấp Huyện. Chiếm tỉ lệ 30.1%.

         c) Về kết quả học sinh:

Năm học

đạo đức

Văn hoá

HS

giỏi Tỉnh

HS

giỏi Huyện

Tốt

Khá

giỏi

Khá

2006-2007

80,5%

19,5%

1,5%

27,5%

1

6

 

          Có được những thành tích trên là do sự nỗ lực phấn đấu, biện pháp chỉ đạo thực hiện của ban lãnh đạo nhà trường và toàn thể đội ngũ CBGV trong nhà trường. Điều đáng ghi nhận là công tác xây dựng và bồi dưỡng CBGV của trường đã góp phần khá quan trọng quyết định đến chất lượng giáo dục nói chung và thành tích đạt được của nhà trường nói riêng trong những năm qua. Đây cũng là cốt lõi động lực để ban lãnh đạo nhà trường tiếp tục phát huy công tác xây dựng, bồi dưỡng CBGV của nhà trường trong những năm tới, kế hoạch phát triển lâu dài, thường xuyên và liên tục.

         4. nhận xét đánh giá:

         Về cơ bản, trường THCS Văn Nho được sự chỉ đạo trực tiếp của Sở GD-ĐT và Phòng GD-ĐT Bá Thước về kế hoạch, nhiệm vụ năm học. Được sự quan tâm sát sao, thường xuyên có hiệu quả của các cấp lãnh đạo Đảng và nhà nước, chính quyền địa phương và sự phối hợp hỗ trợ chặt chẽ của các tổ chức, các cơ quan đóng trên địa bàn xã tạo mọi điều kiện cho nhà trường hoàn thành nhiệm vụ của mình. Đó là sự nhiệt tình cố gắng, gắn bó với sự nghiệp giáo dục, là năng lực nghề nghiệp vững vàng của tập thể sư phạm trường THCS Văn Nho. Đặc biệt là công tác lãnh chỉ đạo thực hiện một cách khoa học, có kế hoạch cụ thể, sát sao, phù hợp của ban lành đạo nhà trường, trong đó chú trọng công tác xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ CBGV.

         Bên cạnh những thuận lợi cơ bản trên thì công tác xây dựng đội ngũ CBGV trường THCS Văn Nho còn gặp một số khó khăn sau:

         Điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới dạy học, đặc biệt trang thiết bị hiện đại phục vụ cho học sinh chưa đầy đủ nên giáo viên khó có điều kiện tiếp cận cái mới, phương tiện dạy học mới, kỹ năng lao động giáo dục còn hạn chế.

         Đại đa số cán bộ giáo viên của nhà trường là giáo viên từ miền xuôi lên công tác, do đó thường khi đủ nghĩa vụ 3 năm đối với nữ  và 5 năm đối với nam là xin về xuôi. Vì vậy luôn gây nên sự bất ổn định và khó khăn trong việc hoạch định chiến lược lâu dài công tác xây dựng đội ngũ ở nhà trường.

         Do ảnh hưởng của cơ chế thị trường nên một số giáo viên còn chưa thực sự yên tâm về kinh tế gia đình, dẫn đến ảnh hưởng một phần nào đến công tác tự học, tự bồi dưỡng nâng cao bản thân.                                    Trên đây là một số nguyên nhân tồn tại trong công tác xây dựng đội ngũ CBGV của trường THCS Văn Nho Bá Thước.

5. Bài học kinh nghiệm:

         Qua nghiên cứu và tìm hiểu thực tế các biện pháp xây dựng đội ngũ giáo viên trường THCS Văn Nho- Bá Thước. Bản thân tôi đã rút ra được những bài học kinh nghiệm quí báu và bổ ích sau đây:

         5.1. Muốn làm tốt công tác xây dựng đội ngũ CBGV trước tiên người quản lý phải có được kế hoạch cụ thể về công tác này và mang tính chất chiến lược lâu dài, không chỉ là trước mắt. Trong khi thực hiện phải có đầy đủ những giải pháp cần thiết và những chỉ tiêu cần đạt tới trong một thời gian nhất định. Cần thẳng thắn, mạnh dạn trong việc quản lý vốn con người trong nhà trường. Không nên phụ thuộc và chịu ảnh hưởng của cơ chế thị trường khi quản lý những đối tượng giáo viên không đạt tiêu chuẩn. Trường tiên tiến phải không có những giáo viên  chưa chuẩn về trình độ mà phải từ chuẩn, trên chuẩn mới thực sự đảm bảo cho chất lượng.

         5.2. Trong công tác xây dựng đội ngũ CBGV cần tập trung toàn diện mọi mặt, chú ý làm tốt tiêu chuẩn đầu tiên là xây dựng đội ngũ đoàn kết, không khí ấm cúng, dư luận lành mạnh, tập thể đoàn kết, thân ái. Mọi thành viên trong tập thể phải ý thức được vấn đề này và cùng nhau xây dựng, phát triển sự đoàn kết ngày một tốt hơn. Cùng giúp nhau tiến bộ và vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống cũng như trong công tác. Ban giám hiệu nhà trường là cầu nối giao lưu gắn bó mọi người trong tập thể với nhau để cùng chung lưng đấu cật giúp nhau hoàn thành nhiệm vụ.

         5.3. Để xây dựng được đội ngũ CBGV vững mạnh, người cán bộ quản lý phải thực sự là con chim đầu đàn, là người đứng mũi chịu sào, nêu gương tốt về mọi mặt cho CBGV. Người Hiệu trưởng phải là một nhà quản lý có đủ tư chất của một nhạc trưởng, một nhà chỉ huy quân sự, đồng thời là một nhà hoạt động xã hội, một nhà giáo dục với khả năng quản lý, tri thức quản lý và thái độ quản lí đúng đắn, phù hợp. Người quản lý phải có đầy đủ những yêu cầu về phẩm chất

 ( phẩm chất đạo đức, phẩm chất chính trị) những yêu cầu về năng lực (năng lực sư phạm, năng lực chuyên môn, năng lực tổ chức quản lý...) và những yêu cầu khác để dễ thích ứng với hoàn cảnh, môi trường giáo dục. Nói tóm lại, người quản lý phải có đầy đủ những tư chất cần có để có uy tín thật cho nhà quản lý, có như vậy mới là tấm gương cho đội ngũ CBGV soi vào để tự mình cố gắng, phấn đấu ngày càng hoàn thiện hơn.

         5.4. Đối với đội ngũ CBGV, Ban giám hiệu nhà trường cần chú ý quan tâm đến việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, tình cảm cho họ, tạo mọi điều kiện để họ yên tâm công tác để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Ngoài việc đảm bảo đồng lương theo quy định, nhà trường cần có biện pháp giúp CBGV cải thiện kinh tế gia đình như: dạy thêm theo yêu cầu, tăng gia sản xuất ... Tìm hiểu, nắm đầy đủ thông tin của từng cán bộ giáo viên để thông cảm cho từng hoàn cảnh mỗi người đôi khi cần san sẻ niềm vui, nỗi buồn của mỗi giáo viên để kịp thời động viên khuyến khích họ hoàn thành tốt công tác được giao. Người quản lý không chỉ là người lãnh đạo mà còn là người bạn, người đồng nghiệp tâm đắc của mỗi CBGV trong trường. Từ đó, đội ngũ giáo viên sẽ có sự tin cậy, cố gắng phấn đấu, gắn bó với tập thể của mình để công tác.

         5.5. Xây dựng đội ngũ CBGV là việc làm thường xuyên, liên tục và lâu dài chứ không phải chỉ nhất thời. Chính vì vậy, đối với bất kỳ một trường nào thì đây cũng là một công tác quan trọng, thường kỳ không thể không chú ý đến. Có như vậy mới đẩy mạnh nâng cao chất lượng giáo dục nói chung cho một trường THCS hiện nay.

         5.6. Muốn phát triển được đội ngũ, phát huy phong trào trong giáo viên phải làm tốt công tác thi đua khen thưởng nhằm khích lệ, động viên họ cố gắng vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong công tác thi đua khen thưởng phải nghiêm minh công bằng, đúng lúc, đúng chỗ kể cả tinh thần và vật chất. Có như vậy mới phát huy hết tác dụng của công tác này trong quá trình chỉ đạo, quản lý con người. Đặc biệt là trong quá trình quản lý giáo dục trường THCS.

 

 

 

CHƯƠNG III

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP

QUẢN LÝ VÀ  XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ GIÁO VIÊN

 Ở TRƯỜNG THCS

        

         Qua thực tế, 5 nhóm biện  pháp mà nhà trường THCS Văn Nho  áp dụng đã thực sự đem lại những kết quả tương đối có hiệu quả trong công tác quản lý và xây dựng đội ngũ cán bộ giáo viên ở nhà trường. Tuy vậy để công tác này đạt được hiệu quả to lớn hơn theo mong muốn, bản thân tôi xin đề xuất thêm một số biện pháp để quản lý và  xây dựng đội ngũ CBGV như  sau:

1. Về công tác giáo dục nhận thức tư tưởng:

         Công tác giáo dục tư tưởng cần được tiến hành thường xuyên, liên tục.. Do vậy cần phải có thời gian dành riêng để giúp đội ngũ CBGV quán triệt nhiệm vụ giáo dục, thực hiện tốt sinh hoạt tư tưởng, tổ chức cho họ tham gia vào các hoạt động của nhà trường, hoạt động xã hội, hoà nhập vào công tác thanh thiếu niên học sinh.

2. Công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ:

         Cần có lịch sinh hoạt chuyên môn hàng tuần theo nhóm chuyên môn hoặc tổ chuyên môn ( hiện tại sinh hoạt 2lần/tháng) . Thực hiện cải cách hình thức và nội dung sinh hoạt chuyên môn theo hướng giảm nhẹ tính hành chính, tăng cường đi sâu vào thảo luận, trao đổi về nội dung kiến thức, phương pháp, phương tiện đồ dùng ...phục vụ cho hoạt động dạy và học. Cần xây dựng các giờ thực nghiệm trên cơ sở xây dựng góp ý của cả tổ, sau đó cử một người có năng lực đứng ra dạy mẫu 1tiết/tuần. Tăng cường các giờ thao giảng trong tháng, trong kỳ. Mỗi giáo viên ít nhất thực nghiệm hoặc thao giảng được 1 giờ/tháng.

 

3. Công tác tự học, tự bồi dưỡng:

         Trường có thuận lợi là phần lớn cán bộ giáo viên đều có ý thức tự học, tự bồi dưỡng nhưng trong quá trình đổi mới giáo dục đặc biệt từ năm học 2002-2003 thực hiện thay sách giáo khoa lớp 6, một số giáo viên chưa theo kịp với đổi mới phương pháp nên chất lượng giảng dạy chưa cao. Trường cần thường xuyên tổ chức cho giáo viên dự giờ thăm lớp, học hỏi và tham khảo các giờ dạy để việc tiếp cận cái mới của giáo viên thuận lợi hơn. Ban giám hiệu nên xếp lịch xen kẽ dành thời gian cho giáo viên tự học, tự bồi dưỡng tại trường nhiều hơn nữa.

4. Trong công tác phối kết hợp với các tổ chức đoàn thể:

         Nhà trường cần tăng cường công tác vận động, tuyên truyền đường lối tư tưởng chính trị, bồi dưỡng những quần chúng ưu tú được kết nạp vào Đảng. Cần tăng cường hơn nữa công tác xây dựng, phát triển Đảng, đặc biệt chú ý đến đối tượng giáo viên trẻ.  Vấn đề này đòi hỏi sự phối kết hợp đồng bộ giữa các tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn thanh niên tốt hơn nữa. Từ chỗ công tác phát triển Đảng được chú trọng, mỗi CBGV cần phải cố gắn hơn nữa, gồng mình lên để phấn đấu cho lý tưởng công sản. Có như vậy đội ngũ CBGV mới ngày càng nhanh chóng phát triển, phấn đấu cho động cơ tích cực của mình.

5. Công tác thi đua:

         Cần chặt chẽ hơn trong việc bình xét, nên gây không khí ganh đua lành mạnh trong đội ngũ CBGV, tránh tư tưởng bình quân chủ nghĩa, hoặc xuề xoà bốc nắm khi xét thi đua. Có như vậy mới tạo ra được động lực và huy động được toàn bộ lực lượng tham gia thi đua: Tổ nhóm thi đua, người người thi đua để có bộ phận lớn là giáo viên dạy giỏi, giáo viên chủ nhiệm giỏi, cán bộ hoạt động năng nổ hoặc chuyên gia cho các mặt công tác của nhà trường.

6. Công tác phân công, phân nhiệm:

         Nhà trường cần có kế hoạch phân công phân nhiệm mạnh dạn hơn. Nên chú trọng đặc biệt tới đối tượng Đảng viên, đối tượng CBGV trẻ, khoẻ, hăng hái trong công việc. Không nên tập trung nhiều công việc cho một người hoặc một số người nào đó. Vì khi một người đảm nhiệm nhiều công việc sẽ gặp khó khăn trong công tác về thời gian, công sức. Trong vấn đề này cần tăng cường bồi dưỡng lớp trẻ với công tác kiêm nhiệm Đoàn thể, công tác quản lí để dự nguồn cho ngành những cán bộ cốt cán sau này

         Trên đây là một số đề xuất nhỏ bổ sung cho các biện pháp mà trường THCS Văn Nho đã làm để mong hoàn thiện hơn nữa các giải pháp xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ CBGV trong một trường THCS.

 

 

PHẦN KẾT LUẬN

         1. Kết luận:

         Chúng ta có thể khẳng định được rằng: Muốn xây dựng được một nhà trường tiên tiến, trước hết phải xây dựng được một đội ngũ CBGV vững mạnh. Hay nói cách khác: Có tập thể sư phạm tốt thì có trường học tốt.

         Muốn xây dựng tập thể sư phạm tốt phải giúp mỗi CBGV quán triệt nhiệm vụ giáo dục, thực hiện tốt sinh họat tư tưởng, công tác chuyên môn, tổ chức cho họ tham gia các hoạt động của nhà trường, hoạt động xã hội. Xây dựng đội ngũ CBGV vững mạnh, phải từ việc xây dựng tổ chức, từ sự phân công tốt, các tổ chuyên môn, các tổ Công đoàn, Đoàn thanh niên phải được xây dựng vững mạnh, Hội cha mẹ học sinh hoạt động tốt. Phải tạo điều kiện phát triển giáo viên dạy giỏi, chủ nhiệm giỏi, cán bộ cốt cán, chuyên gia cho các hoạt động của nhà trường. Công tác đúc rút kinh nghiệm, thường xuyên cùng với việc sơ kết, tổng kết đều đặn, giúp cho mỗi thành viên và cả tập thể nhìn nhận đánh giá đúng mức công tác giáo dục, giảng dạy và các hoạt động khác của nhà trường, giúp họ luôn có ý thức cải tiến tự nâng mình lên kịp yêu cầu. Cần quan tâm đến đời sống của mỗi giáo viên, quan tâm cơ sở vật chất trang thiết bị trường học. Sống trong tập thể sư phạm và là người đứng đầu tập thể người hiệu trưởng phải có uy tín. Sự chân thành, tôn trọng, quan tâm đồng chí, đồng nghiệp, sự chan hoà cởi mở, tính dân chủ trong bàn luận cùng với sự nghiêm túc, kiên quyết, khoa học trong công việc của người hiệu trưởng sẽ phát huy được sức mạnh của tập thể sư phạm trong giáo dục.

         Thực tế cho thấy: trường THCS Văn Nho có một đội ngũ CBGV vững mạnh  trong hệ thống giáo dục huyện Bá Thước. Tuy nhiên trong các biện pháp xây dựng đội ngũ CBGV của trường vẫn còn một số tồn tại (đã phân tích ở trên). Nhưng nhìn chung có thể thấy công tác quản lý và xây dựng đội ngũ ở nhà trường chúng tôi đã có những kết quả đáng kể, cần tiếp tục được phát huy.

         Nói tóm lại: Người cán bộ quản lý muốn thành công trong công tác giáo dục, trước hết phải xây dựng được một đội ngũ sư phạm vững mạnh. Điều đó đòi hỏi người cán bộ quản lý phải quản lý bằng cả tâm hồn và nghị lực, bằng cả  khoa học và  sự nghệ thuật. Đó là bí quyết, là cẩm nang cho mọi nhà quản lý giáo dục trong thời đại hiện nay.

         2. Ý kiến đề xuất:

         Căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu ngày càng cao của ngành GD-ĐT cũng là đối với đội ngũ giáo viên trong thời kỳ đổi mới, thời ký CNH-HĐH đất nước ở những năm đầu thế kỉ XXI.

         Căn cứ vào thực trạng đội ngũ CBGV hiện nay tôi có một số kiến nghị đề xuất sau:

         2.1. Nhà nước, chính quyền địa phương và nhân dân cần tạo mọi điều kiện thuận lợi cho giáo dục về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, đổi mới đồng bộ trong phương tịên dạy học.

         2.2. Các cấp các ngành cấp trên cần có kế hoạch đào tạo phù hợp với thực tế, khắc phục giáo viên không đồng đều về chuyên môn. Cần tăng cường đào tạo những giáo viên dạy các môn khoa học tự nhiên, các môn đặc thù như: Thể dục, Nhạc, Mĩ thuật ... để điều chỉnh tình trạng dạy chéo môn, chéo ban như ở các trường THCS hiện nay.

         2.3. Các cấp đào tạo cần có chế độ chính sách quan tâm và động viên khuyến khích cán bộ giáo viên tham gia học bồi dưỡng tập trung, học tại chức để bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ.

         2.4. Sở GD và phòng GD cần tổ chức nhiều hơn nữa các chuyên đề về đổi mới phương pháp cho giáo viên được học tập.

 

 

LỜI CẢM ƠN

         Trên đây là một số  vấn đề về biện pháp xây dựng đội ngũ CBGV ở trường THCS  Văn Nho- Bá Thước năm học 2006- 2007 nơi tôi đang công tác  và đã nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm. Vì nhiều lí do chắc chắn đề tài này không thể tránh khỏi những phiếm khuyết, hạn chế nhất định, rất mong được sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn, giúp cho quá trình quản lý trong nhà trường có hiệu quả cao.

          Đặc biệt để hoàn thành được đề tài này, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo Mạc Lương Việt, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài.

                                                                                                                                              Thanh Hoá, Ngày 27 tháng 11 năm 2007 

                                                                               Người thực hiện

 

 

                                                                                    Lê Xuân Tráng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MỤC LỤC

                                                                                                                      

PHẦN MỞ ĐẦU

I. Lý do chọn đề tàI                                                                                             1

II. Mục đích nghiên cứu                                                                                     2  III.Nhiệm vụ nghiên cứu                                                                                          3

IV. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu                                                           3        V. Phương pháp nghiên cứu                                                                                               3

VI. Thời gian nghiên cứu                                                                                   4

PHẦN NỘI DUNG

   Chương I: Cơ sở lý luận của vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ giáo viên            5

1. Cơ sở lý luận                                                                                                5

2. Thực trạng đội ngũ cán bộ giáo viên ở trường THCS hiện nay                          10

Chương II: Thực trạng vấn đề xây dựng đội ngũ CBGV- Những giải pháp

và những kết quả đạt được của trường THCS Văn Nho

năm học 2007-2008                                                                                               11

1. Vài nét khái quát về tình hình địa phương và nhà trường                           11

2.Thực trạng vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ giáo viên  của trường  THCS

 Văn Nho năm học 2007- 2008                                                                             14                                               3. Những kết quả đạt được                                                                                       

4. Nhận xét đánh giá                                                                                              27

5. Bài học kinh nghiệm.                                                                                  28      

        Chương III: Một số giải pháp  xây dựng đội ngũ CBGV mà bản thân

                                       đề xuất                                                                             30

 

PHẦN KẾT LUẬN

1. Kết luận.                                                                                                    31

2.Ý kiến đề xuất.                                                                                            33                                                                                                                    

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

 

 


1. Những bài giảng về quản lý trường học

                    ( NXB giáo dục)

2. Văn kiện đại hội Đảng- Khoá VIII, Khoá IX Đảng Cộng sản Việt Nam

                   ( NXB chính trị Quốc gia)

3. Giáo trình bồi dưỡng  hiệu trưởng trường trung học cơ sở Tập III

4. Những bài giảng trong khoá học bồi dưỡng CBQL THCS K 21

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

"Hình thành kĩ năng giải các dạng bài tập định lượng trong giảng dạy hoá học 8”.

đăng 08:20 05-05-2012 bởi Lê Phạm

PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
I.  LỜI MỞ ĐẦU    
Hóa học là bộ môn khoa học quan trọng trong nhà trường phổ thông. Môn hóa học cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản và thiết thực đầu tiên về hóa học, giáo viên bộ môn cần hình thành cho các em một kĩ năng cơ bản, phổ thông và thói quen học tập và làm việc khoa học làm nên tảng cho việc giáo dục xã hội chủ nghĩa, phát triển năng lực hành động. Có những phẩm chất cần thiết như cẩn thận, kiên trì, trung thực, tỉ mỉ, chính xác yêu khoa học. 
Bài tập hóa học là một trong những phương tiện cơ bản nhất để dạy học sinh tập vận dụng kiến vào cuộc sống sản xuất và nghiên cứu khoa học. Hiện nay việc giải bài tập nói chung, bài tập định lượng hóa học lớp 8 nói riêng đối với học sinh gặp  nhiều khó khăn, nhiều học sinh chỉ biết làm bài tập một cách máy móc không hiểu bản chất hocá học của bài tập. Chính vì lí do trên tôi chọn đề tài "Hình thành kĩ năng giải các dạng bài tập định lượng  trong giảng dạy hoá học 8”.
Từ những vấn đề trên, với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việc tìm tòi phương pháp dạy học thích hợp với những điều kiện hiện có của học sinh, nhằm phát triển tư duy của học sinh THCS giúp các em tự lực hoạt động tìm tòi chiếm lĩnh tri thức, tạo tiền đề quan trọng cho việc phát triển tư duy của các em ở các cấp học cao hơn góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo của địa phương nói riêng v à m ục tiêu giáo dục của nước ta nói chung.

II. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
  Bài tập Hoá học rất đa dạng phong phú song với thực trạng là một giáo viên giảng dạy tại địa bàn một xã vùng khó khăn cụ thể là trường THCS Lương Ngoại - Bá Thước Tôi thấy chất lượng đối tượng học sinh ở đây chưa đồng đều. Điều kiện học tập của học sinh rất khó khăn  nhiều học sinh vận dụng kiến thức để giải  bài toán Hoá học rất hạn chế.
Cơ sở vật chất của nhà trường còn nghèo nàn, chưa có phòng thực hành thí nghiệm dụng cụ hóa chất thiếu nhiều, chưa kịp thời bổ sung. 
  Vì vậy muốn nâng cao chất lượng người giáo viên cần suy nghĩ tìm ra phương pháp giảng dạy, Phân loại các dạng bài tập Hoá học phù hợp với tình hình thực tế của nhà trương và địa phương, với đặc điểm của học sinh, nhằm phát triển năng lực tư duy, sáng tạo và gây hứng thú học tập cho các em.
Việc phân dạng các bài tập hóa học định lượng lớp 8 sẽ đạt được hiệu quả cao và sẽ là tiền đề cho việc phát triển năng lực trí tuệ của học sinh ở cấp học cao hơn khi giáo viên sử sụng linh hoạt và hợp lý hệ thống các dạng bài tập hoá học theo mức độ của trình độ tư duy của học sinh phù hợp với đối tượng học sinh lớp 8 THCS.
      Bài toán hoá học có tác dụng giáo dục tư tưởng cho học sinh vì giải bài tập hoá học là rèn luyện cho học sinh tính kiên nhẫn, trung thực trong lao động học tập, tính sáng tạo khi sử lý các vấn đề đặt ra. Mặt khác rèn luyện cho học sinh tính chính xác của khoa học và nâng cao lòng yêu thích môn học.


PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 – CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1.1 - Bài tập vô cơ định lượng được chia thành những dạng sau:
1 - Bài tập xác định (lập) công thức phân tử hợp chất.
2- Bài tập cơ bản về mol, khối lượng mol và thể tich mol của chất khí.
3- Bài tập tính theo PTHH 
4 - Bài tập tổng hợp nhiều kiến thức.
5- Bài tập tính theo PTHH liên quan đến hiệu suất phản ứng
5- Bài tập về dung dịch và pha trộn dung dịch.
1.2. Cơ sở lý thuyết để giải các dạng bài tập định lượng 
 Cơ sở lý thuyết quan trọng cho việc giải bài tập hoá học vô cơ định lượng là những kiến thức hoá học đại cương và hoá vô cơ.
Phần đại cương các kiến thức cần nắm được là các định luật, khái niệm cơ bản của hóa học. Những kiến thức này sẽ theo học sinh trong suốt qúa trình học tập và nghiên cứu hoá học gồm:
- Định luật thành phần không đổi.
- Định luật bảo toàn khối lượng.
- Công thức hóa học, phản ứng hóa học, PTHH
- Dung dịch - nồng độ dung dịch - độ tan, các phản ứng trong dung dịch.
Ngoài ra học sinh cần phải nắm chắc tính chất của một số nguyên tố: oxi, hiđro, điều chế đơn chất, hợp chất, cách tính theo CTHH và PTHH.
Để giải được các bài tập định lượng học sinh cần phải có những kiến thức về toán học: giải hệ phương trình ẩn, phương trình bậc nhất, giải phương trình bậc 2,  giải bài toán bằng phương pháp biện luận.
1.3-  Phương pháp chung giải bài tập hóa học  vô cơ định lượng.
- Viết đầy đủ, chính xác các phản ứng xảy ra dựa vào tính chất hóa học của các chất và điều kiện cụ thể ở mỗi bài tập.
- Nắm vững một số thủ thuật tính toán tích hợp để giải nhanh, ngắn gọn một bài toán phức tạp.

2.  CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN
2.1 - DẠNG BÀI TOÁN VỀ LẬP CÔNG THỨC HOÁ HỌC

2.1.1- Bài toán lập công thức hoá học khi biết tỷ lệ % về khối lượng của các nguyên tố tạo nên chất.
* Yêu cầu: - Học sinh nắm vững nguyên tử khối của nguyên tố, tính được khối lượng mol của hợp chất.
- Nắm vững hóa trị các nguyên tố, qui tắc hoá trị, cách tìm lại hoỏ trị các nguyên tố đó.
- Biết cách tính thành phần % của nguyên tố trong hợp chất.
* Phương ph áp: 
- Đưa công thức về dạng chung AxBy hoặc AxByCz (x, y, z nguyên dương)
- Tìm MA, MB, MC…
- Đặt đẳng thức:  
- Tìm x, y, z lập CTHH của hợp chất.
 Ví d ụ: Lập CTHH của hợp chất có thành phần
%H = 3.06%; %P = 31,63% ; % 0 = 65,31% 
biết khối lượng mol hợp chất là 98g.
 Giải: 
Gọi CTHH của hợp chất là HxPyO2 (x, y, z nguyên dương)
Biết MH = x;  MP = 31g;  M0 = 162;  Mchất = 98g
Ta cỳ:  
x = 3,06 . 0,98   3; 31y = 0,98 . 31,63 -> y   1; 162 = 0,98 . 65,31   4
Vậy CTHH của hợp chất: H3PO4.

CÁC BÀI TẬP TỰ GIẢI
1) Lập CTHH của hợp chất A có PTK = 160 gồm 40% Cu; 20% S, 40% 0.
2) Lập CTHH của hợp chất B có PTK = 98 gồm 2,04% H; 32,65 S; 65,31% 0
3) Một hợp chất C gồm 70% Fe và 30% 0 biết khối lượng mol hợp chất là 160g.
4) Hợp chất A có thành phần gồm 43,34% Na, 11,32%C; 45,29% 0 biết MA = 106g. Tìm CTHH của hợp chất A.
5) Hợp chất D có 36,64% Fe; 21,05%S; x%O. Biết MD = 152g. Tìm CTHH của hợp chất D.
2.1.2- Lập Công thức đơn giản của hợp chất dựa vào thành phần % khối lượng nguyên tố.
       * Phương pháp: 
- Đưa cụng thức về dạng chung AxByCz (x, y , z nguyên dương)
- Tỡm MA; MB; MC.
- Đặt tỉ lệ: MA : MB : MC = %A : %B : %C
- T ìm x, y, z lập cụng thức đơn giản của hợp chất.
       Ta có x : y : z  =   :   :  
Ví dụ1: Lập CTHH đơn giản của hợp chất trong dó S chiếm 40% ; O chiếm 60% về khối lượng ?
Nghiên cứu đề bài: Tính số nguyên tử của từng nguyên tố dựa vào tỷ lệ % khối lượng trong từng nguyên tố
 Hướng dẫn giải
Xác định lời giải
Bước 1: Viết CTHH dạng tổng quát với x,y chưa biết



Bước 2: Tìm tỷ lệ  x : y
Bước 3:  Viết CTHH đúng
Lời giải
CTHH đơn giản có dạng: SxOy


Ta có :   
 x  :  y =  :  = :  = 1:3
Vậy CTHH là SO3
 Ví dụ2: Tìm công thức đơn giản của hợp chất A gồm 40%Cu, 20%S, 40%O.
Giải:
Gọi CTHH của A là CuxSyOz (x, y, z nguyờn dương).
Biết MCu = 64x; MS = 32y; MO = 16z
Ta cỳ: 64x : 32y : 16z = 40 : 20 : 40
x : y : z =  
x : y : z = 1 : 1 : 4
=> x = 1; y = 1; z = 4. Vậy cụng thức đơn giản của A là CuSO4.
CÁC BÀI TẬP TỰ GIẢI
1. Tìm CTHH đơn giản hợp chất A gồm 43,4% Na, 11,3%C, 45,3%O.
2. Tìm CTHH đơn giản hợp chất B gồm 57,5%Na, 40%O, 2,5%H.
3. Tìm CTHH đơn giản hợp chất C gồm 15,8%Al, 28,1%S, 56,1%O.

2.2.  DẠNG BÀI TOÁN CƠ BẢN VỀ MOL, KHỐI LƯỢNG MOL VÀ THỂ TÍCH MOL CHẤT KHÍ
2.2.1- Tính số mol chất trong mg chất
Ví dụ: Tính số mol phân tử CH4 có trong 24 g CH4 
Nghiên cứ đầu bài: Biểu thức có liên quan m = nM
Hướng dẫn giải
Xác định lời giải
Bước 1: Viết biểu thức tính m rút ra n

Bước 2: Tính M


Bước 3: Tính n và trả lời Lời giải
 n = 
M CH4   = 16g

n = 
Vậy 24 g CH4 chứa 1,5 mol CH4

2.2.2-Tính số nguyên tử hoặc số phân tử có chứa  trong n mol chất
Ví dụ: Tính số phân tử CH3Cl có trong 2 mol phân tử CH3Cl 
Nghiên dứu đầu bài: Biểu thức có lien quan đến  A = n.6.1023 
Hướng dẫn giải
Xác định lời giải
Bước 1: Xác định số phân tử hoặc số nguyên tử có trong 1  mol chất

Bước 2: Xác định số phân tử hoặc số nguyên tử có trong n  mol chất

Bước 3: Tính A trả lời Lời giải

N  = 6.1023

A = n.6.1023 = 2.6.1023


Vậy : 2mol CH3Cl chứa 12.1023 phân tử CH3Cl

2.2.3 - Tìm số mol có trong A nguyên tử hoặc phân tử
Ví dụ: Tính số mol H2O có trong 1,8.1023 phân tử H2O
Nghiên cứu đề bài : Bài toán có liên quan đến biểu thức  A =  n.6.1023
Hướng dẫn giải
Xác định lời giải
Bước 1: Xác định số phân tử hoặc số nguyên tử có trong 1  mol chất

Bước 2: Xác định số mol có A phân tử


Bước 3: Trả lời Lời giải
  NH O= 6.1023


n =   mol
Có 0,3 mol H2O trong 1,8.1023 phân tử H2O

2.2.4. Tìm số mol có trong A nguyên tử hoặc phân tử
Ví dụ: Tính khối lượng của 9.1023 nguyên tử Cu:
Hướng dẫn giải
Xác định lời giải
Bước 1: Viết công thức tính m
Bước 2: Tính M và n


Bước 3: Tính m và trả lời Lời giải
  m =n.M
MCu = 64g
nCu  =  
mCu =  1,5.64 = 96 g

CÁC BÀI TẬP TỰ GIẢI
Bài 1: Cho lượng các chất sau
a, 0,15 mol phân tử CO2 b, 0,2 mol phân tử CaCO3
c, 0,12 mol phân tử O2 d, 0,25 mol phân tử  NaCl
Số phân tử trong những lượng chất trên lần lượt là
A.  0,9.1023   ;  1,3.1023 ;  0,072. 1023 ; 1,5. 1023
B.  0,8. 1023   ;  1,2. 1023;  0,72. 1023  ; 1,5. 1023
C.  0,9. 1023   ;  1,4. 1023;  0,72. 1023  ; 1,5. 1023
D.  0,9. 1023   ;  1,2. 1023;  0,72. 1023  ; 1,5. 1023

Bài 2: Cho lượng các chất sau:
a, 0,25 mol phân tử N2 b, 0,5 mol phân tử O2
c, 0,75 mol phân tử Cl2 d, 1 mol phân tử  O3
Thể tích ở đktc của những lượng chất trên lần lượt là:
A.  5,6 lít; 11,2 lít; 16,8 lít và 22,4 lít
B.  11,2 lít; 11,2 lít; 16,8 lít và 22,4 lít
C.  5,6 lít; 5,6 lít; 16,8 lít và 22,4 lít
D.  5,6 lít; 11,2 lít; 0,56 lít và 11,2 lít

2.4 - DẠNG BÀI TOÁN TÍNH THEO  PHƯƠNG TRÌNH HOÁ HỌC
* Yêu cầu:
- Học sinh nắm vững công thức hóa học của chất theo qui tắc hóa trị.
- Viết đúng CTHH của chất tham gia và sản phẩm.
- Nắm vững cách tính theo PTHH theo số mol hoặc khối lượng.
* Phương pháp giải bài tập tính theo PTHH dựa vào lượng một chất.
- Chuyển đổi khối lượng chất đã cho ra số mol.
- Lập PTHH - Viết tỉ lệ mol các chất.
- Dựa vào số mol chất đã cho tím số mol chất cần biết.
- Tính các lượng chất theo yêu cầu của đề bài.
2.4.1. Khi hiệu suất phản ứng 100% (phản ứng xảy ra hoàn toàn)
2.4.1.1- Khi chỉ xảy ra 1 phản ứng:
 Ví dụ: Để trung hoà 200 gam dung dịch NaOH 10% cần bao nhiêu gam dung dịch HCl 3,65%?
 Giải:
m NaOH =   -> nNaOH =  
PTHH: NaOH + HCl NaCl + H2O
   1mol 1mol 1mol 1mol
   0,5mol 0,5mol 0,5mol 0,5mol
mHCl = 0,5 . 36,5 = 18,25 (g)
m dung dịch HCl =  
Đỏp số: m dung dịch HCl 3,65% = 500 gam
2.4.1.2- Khi xảy ra 2 phản ứng:
+ Ví dụ: Nung hoàn toàn m gam CaCO3, dẫn khí thu được đi qua dung dịch Ba(OH)2 dư thu được 19,7g kết tủa. Tìm m?
+ Giải:
Cỏc PTHH xảy ra:

CaCO3           CaO    + CO2 (1)
CO2    +   Ba(OH)2          BaCO3    + H2O (2)
Theo PTHH (1) và (2) : nCaCO3 = n CO2 =  
m CaCO3 = m = 0,1 . 100 = 10(g)
Đáp số: m CaCO3 = 10(g)
2.4.2. Khi hiệu suất nhỏ hơn 100% (phản ứng xảy ra không hoàn toàn)
Ví dụ: Nung 1 tấn đá vụi (chứa 20% tạp chất) thu được bao nhiêu tấn vôi sống biết H phản ứng = 80%.
 Giải: 1 tấn = 1000kg
mtạp chất =   -> mCaCO3 = 1000 - 200 = 800 (kg)
CaCO3   CaO   +  CO2
100(g)   56(g)
800(kg)   x(kg)
Vì H phản ứng = 80% 
mCaO =x =  
Đáp số: mCaO = 358,4kg

2.4.3 - Bài toán khối lượng chất còn dư
Ví dụ: Người ta cho 4,48 lít H2 đi qua bột  24gCuO nung nóng. Tính khối lượng chất rắn thu được sau phản ứng. Biết phản ứng xảy ra hoàn toàn ?
                                                                     Giải
           PTHH:                             H2  +  CuO   Cu + H2O 
            n H  =   =0,2 mol  ;             n CuO =   =0,3 mol
Theo PTHH tỷ lệ phản ứng giữa H2 và CuO là 1: 1. 
Vậy CuO dư : 0,3 - 0,2 = 0,1 mol     . Số mol Cu được sinh ra là 0,2 mol 
mCuO = 0,1 .80 =  8 g,   mCu = 0,2.64  = 12,8 g
Vậy khối lượng chất rắn sau phản ứng là: 8 + 12,8 = 20,8 g

CÁC BÀI TẬP TỰ GIẢI
Bài 1: Nếu cho 16,25 g Zn tham gia phản ứng thì khối lượng HCl cần dùng là bao nhiêu ?
                A.   18,25 g         B.   18,1 g                  C.    18,3 g           D.   15g  
      Bài 2:  Cho m g hỗn hợp CuO và FeO  tác dụng với H2  tác dụng với H2 ở nhiệt độ thích hợp. Hỏi nếu thu được 29,6g hỗn hợp 2 kim loại trong đó Fe nhiều hơn Cu là 4 g thì cần dùng bao nhiêu lít H2 ở ĐKTC và khối lượng m là bao nhiêu ?

      Bài 3: Kẽm oxit được điều chế bằng cách nung bột kẽm với không khí trong lò đặc biệt. Tính lượng bụi kẽm cần dùng để điều chế được 40,5 kg kẽm oxit. Biết rằng bột kẽm chứa 2 % tạp chất?
2.5- DẠNG BÀI TOÁN VỀ DUNG DỊCH VÀ NỒNG ĐỘ DUNG DỊCH
* Yêu cầu:
- Xác định đúng lượng chất đã cho thuộc đại lượng nào trong công thức tính nồng độ.
- Nhớ các công thức liên quan đến tính nồng độ.
- Một số công thức liên quan khi pha trộn dung dịch.
+ Khối lượng chất tan:
m = n . M
m = mdung dịch – m dm;
mCT =   mCT = 
+ Khối lượng dung dịch:
mdung dịch = mCT + mdm
mdung dịch = V . D (V tớnh bằng ml)
mdung dịch =  
+ Nồng độ phần trăm:
C% =  ; C% =  ; C% =  
+ Nồng độ mol: CM =   (V tính bằng lít) CM =  
+ Thể tích dung dịch: Vd2 =   (V tính bằng ml)
+ Công thức pha trộn dung dịch:
md21(g: C1 C2  - C
md22(g): C2 C1 - C
Vd21(ml): C1 C2  - C
Vd22(ml): C2 C1 - C
Vd21(ml): D1 D2  - D
Vd22(ml): D2 D1 - D

* Phương pháp:
- Xác định lượng chất trong đề bài thuộc đại lượng nào.
- Vận dụng linh hoạt các cụng thức tính nồng độ, pha trộn dung dịch để tính.
Ví dụ 1: Hoà tan 12,5g CuSO4. 5H2O vào 87,5 ml nước cất. Xác định C% và CM của dung dịch thu được.
MCuSO4 . 5H2O = 250g. Biết DH2O = 1g/ml
Cứ 250 CuSO4 . 5H2O có 160 g CuSO4 và 90g H2O.
Vậy 12,5g CuSO4 . 5H2O có x(g) CuSO4 và y(g) H2O
mCuSO4 = x =  ; mH2O = y =  
mH2O = V. D = 87,5 . 1 = 87,5(g)
 md2 = mCuSO4 . 5H2O = 12,5 + 87,5 = 100(g)
C%CuSO4 =  ; nNaOH =  
VH2O = 87,5 + 4,5 = 92ml = 0,092l
CMCuSO4 =  
Đáp số: C%CuSO4 = 8%
CM CuSO4 = 0,54M
Ví dụ 2: Phải hoà tan bao nhiêu gam KOH nguyên chất vào 1200g dung dịch KOH 12% để có dung dịch KOH 20%.
mKOH = ? 100% 20 - 12 = 8
md2 KOH = 1200g, 12% 100 - 20 = 80
Ta cỳ:  
Đáp số: mKOH = 120(g)

2.5.1- Tính độ tan của chất
Ví dụ: Tính độ tan của CuSO4 ở 200 C. Biết rằng 5 g nước hoà tan tối đa 0,075 g CuSO4 để tạo thành dung dịch bão hoà.
Nghiên cứu đầu bài: Tính số g chất tan tối đa  trong 100g dung môi, suy ra độ tan hoặc tính theo công thức:  Độ tan T =  
Hướng dẫn giải

Xác định lời giải
Bước 1: Xác định điều kiện đầu bài cho
Bước 2: Tính M khối lượng chất tan xg trong 100 g dung môi

Bước 3: Tính x
Bước 4: Trả lời Lời giải
 5g H2O hoà tan được 0,075 g CuSO4
100gH2O ........ ....... ....      xg CuSO4
 

x  =  
Vậy ở 200 C độ tan của CuSO4 là 1,5 g

2.5.2 Tính nồng độ C% của dd
Ví dụ: Hoà tan 0,3g NaOH trong 7g H2O. Tính C% của dd thu được ?
Nghiên cứu đề bài: Tính số g NaOH tan trong 100 g dung dịch  suy ra C%
Hướng dẫn giải
Xác định lời giải
Bước 1: Xác định khối lượng dd
Bước 2: Tính  khối lượng chất tan  trong 100 g dung dịch suy ra C%

Bước 3:  Trả lời Lời giải
 md2 =  mct + mdm = 0,3 + 7 = 7,3 g
 
C%  =  
Nồng độ dung dịch là 4,1 %

2.5.3- Tính nồng độ CM của dung dịch
Ví dụ: Làm bay hơi 150 ml dd CuSO4 người ta thu được 1,6 g muối khan. Hãy tính CM của dung dịch ?
Nghiên cứu đầu bài: Tính số mol CuSO4 có trong 1 lít dd, suy ra CM
 Hướng dẫn giải
Xác định lời giải
Bước 1: Đổi ra mol


Bước 2: Đổi ra lít

Bước 3: Tính  CM Lời giải
 M CuSO4 = 160g
n CuSO4 =  
  V = 0,15lít

CM =  


2.5.4 - Bài toán pha trộn các dd có nồng độ khác nhau:
 Loại bài toán này có cách giải nhanh gọn là áp dụng phương pháp đường chéo
Giọi m1 và C1 lần lượt là khối lượng và nồng độ C% dd của dd I
Gọi m2 và C2 lần lượt là khối lượng và nồng độ C% dd của dd II
Khi trộn dd I với dd II nếu không có phản ứng hoá học xảy ra thì ta có:    
                 C1                                                  / C2 - C /
                                                C
                 C2                                                 / C1 - C /
                           Khi đó có:        
Ví dụ: Cần phải lấy bao nhiêu g dd NaCl nồng độ 20% vào 400 g dd NaCl nồng độ 15% để được dd NaCl có nồng độ 16% ?
Hướng dẫn giải
Xác định lời giải
Bước 1: Hướng dẫn học sinh lập sơ đồ đường chéo

Bước 2: Tìm tỷ lệ m1: m2
Bước 3: Thay các đại lượng và tính toán
Bước 4: Trả lời Lời giải
20                                      1
                  16            
15                                      4
       m1 =   

Vậy cần phải lấy 100g dd NaCl 
có C% = 20%

2.5.5- Mối quan hệ giữa C% và CM
 Để chuyển đổi giữa C% và CM ( hay ngược lại) nhất thiết phải biết khối lượng riêng D:    D =  
 Ta có thể sử dụng công thức giữa hai nồng độ: CM = C%.   
Ví dụ: Hoà tan 2,3 g Na kim loại vào 197,8 g H2O 
a, Tính C% của dd thu được
b, Tính CM của dd thu được. Biết D = 1,08g/ml
Giải
a, Số mol Na đã dùng :  
Phản ứng xảy ra:      2Na    +      2H2O  2NaOH     +   H2
                               0,1mol                        0,1mol          0,05mol
                mNaOH = 0,1.40 = 4g
- Dung dịch thu được có khối lượng là:
mNa + mH O  - mH  = 2,3 + 197.8 - 0,05.2 = 200g
Vậy  C% =    =   = 2 %
b,  Thể tích dd thu được: 
Vdd =   185ml             CM =  

2.5.6- Bài toán về pha trộn các dung dịch có CM khác nhau (chất tan giống nhau)
Đối với dạng bài toán này ta có thể áp dụng sơ đồ đường chéo

                                           
Ví dụ: Cần dùng bao nhiêu ml dd H2SO4 2,5 M và bao nhiêu ml dd H2SO4 1M để khi pha trộn chúng với nhau được 600ml H2SO4 1,5 M?
Giải

Áp dụng sơ đồ đường chéo:
  2,5 0,5
    1,5
1 1
   Hay V2 = 2 V1 
Mặt khác  V1 + V2 = 600  V1 = 200 ml ; V2 = 400ml
  Vậy phải dùng 200ml dd H2SO4 2,5M pha với  400ml dd H2SO4 1M.
 2.5.7- Bài toán độ tan
- Độ tan của 1 chất là số gam tối đa chất đó tan được trong 100 g nước để được dd bão hoà ở nhiệt độ xác định .
- Khi nhiệt độ tăng độ tan của các chất thường tăng, nên nếu khi ta hạ nhiệt độ dd xuống thì sẽ có một phần chất tan không tan được nữa, phần chất tan này sẽ tách ra dưới dạng rắn.
 Ví dụ: Cho biết 200C, độ tan của CaSO4 là 0,2 g và khối lượng riêng của dd bão hoà là 1g/ml. Tính C% và CM của dd CaSO4 bão hoà ở nhiệt độ trên ?
 Giải
  Khối lượng dd là: 0,2 + 100 =100,2 g Vậy C % =  =  = 0,19%
CM = C%.    = 0,19.   

CÁC BÀI TẬP TỰ GIẢI
Bài 1: a, Tính CM của dd thu được nếu như người ta cho thêm H2O vào 400g dd NaOH 20% Để tạo ra 3l dd mới?
     b, Cho 40 ml dd NaOH 1M voà 60 ml dd KOH 0,5 M. Nồmg độ mol của mỗi chất trong dd lần lượt là:
                A.  0,2M và 0,3 M;                         B.  0,3M và 0,4 M
                C.  0,4M và 0,1 M                           D. 0,4M và 0,3 M
 Hãy giải thích sự lựa chọn
 Bài 2: Tính khối lượng AgNO3 kết tinh khỏi dd khi làm lạnh 450 gdd bão hoà ở  800 C. Biết độ tan AgNO3 ở 800C là 668 g và ở 200C 222 g
    Bài 3: Cần lấy bao nhiêu gam NaOH cho thêm vào 100g dd NaOH 20% để thu được dd mới có nồng độ 25% ?
2.6 - DẠNG BÀI TOÁN HIỆU SUẤT PHẢN ỨNG
2.6.1 - Bài toán tính khối lượng chất ban đầu hoặc khối lượng chất tạo thành khi biết hiệu suất
 Dạng bài toán này ta cần hướng dẫn học sinh giải bình thường như chưa biết hiệu suất phản ứng. Sau đó bài toán yêu cầu:
- Tính khối lượng sản phẩm thì:
                                                     Khối lượng tính theo phương trình x H
    Khối lượng sản phẩm  = 
       100

- Tính khối lượng chất tham gia thì:
                                                    Khối lượng tính theo phương trình x 100
Khối lượng chất tham gia  = 
                                                                                   H
   Ví dụ: Nung 120 g CaCO3 lên đến 10000C . Tính khối lượng vôi sống thu được, biết H = 80%.
Giải
PTHH: CaCO3     CaO  + CO2 
                                      
n CaCO   =   = 1,2  mol Theo PTHH ta có số mol CaO được tạo thành là 1,2 mol    mCaO = 1,2 .56 = 67,2 g . Hiệu suất H = 80% = 0,8
Vậy khối lượng thực tế thu được CaO là: 67,2.0,8 = 53,76 g

2.6.2 Bài toán tính hiệu suất của phản ứng:
         Khối lượng thực tế thu được
Ta có : H =          .100%
                      Khối lượng tính theo phương trình                                     
Ví dụ: Người ta khử 16g CuO bằng khí H2 . Sau phản ứng người ta thu được 12g Cu . Tính hiệu suất khử CuO ?

Giải
PTHH: H2  + CuO   Cu + H2O
n CuO =   = 0,2  mol theo PTHH số mol Cu tạo thành là: 0,2 mol
mCu = 0,2.64 = 12,8 g    H =   . 100%  94%

CÁC BÀI TẬP TỰ GIẢI
Bài 1: Nung 1 tấn đấ vôi (chứa 90% CaCO3). sau phản nứn người ta thu được 0,4032 tấn CaO. Hiệu suất của phản ứng là:
A.  80% B.   85% C.  90% D.  95% 
Bài 2: Trộn 10 lít N2 với 40 lít H2 rồi nung nóng một thời gian ở điều kiện thích hợp. Sau một thời gian đưa về điều kiện và áp suất ban đầu thấy thu được 48 lít hỗn hợp gồm  N2; H2;  NH3.
1, Tính thể tích NH3 tạo thành ?
2, Tính hiệu suất tổng hợp NH3 ?






PHẦN III: KẾT LUẬN 
Hoá học nói chung bài tập Hoá học nói riêng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc học tập Hoá học, nó giúp học sinh phát triển tư duy sáng tạo, đồng thời nó góp phần quan trọng trong việc ôn luyện kiến thức cũ, bổ sung thêm những phần thiếu sót về lý thuyết và thực hành  trong hoá học.
       Trong quá trình giảng dạy Môn Hoá học tại trường THCS cũng gặp không ít khó khăn trong việc giúp các em học sinh làm các dạng bài tập Hoá học, song với lòng yêu nghề, sự tận tâm công việc cùng với một số kinh nghiệm ít ỏi của bản thân và sự giúp đỡ của các bạn đồng nghiệp. Tôi đã luôn biết kết hợp giữa hai mặt :"Lý luận dạy học Hoá học và thực tiễn đứng lớp của giáo viên". Chính vì vậy không những từng bước làm cho đề tài hoàn thiện hơn về mặt lý thuyết, mặt lý luận dạy học mà làm cho nó có tác dụng trong thực tiễn dạy và học Hoá học ở trường THCS.

* KẾT QUẢ KIỂM QUA CÁC NĂM HỌC ĐỐI VỚI CHUYỀN ĐỀ NÀY.
Đề tài này được tôi áp dụng trong dạy học tại trường THCS Lương Ngoại tôi thu được một số kết quả như sau:
- Số lượng học sinh hiểu bài thao tác thành thạo các dạng bài tập hoá học ngay tại lớp chiếm tỷ lệ cao
- Giáo viên tiết kiệm được thời gian, học sinh tự giác, độc lập làm bài. Phát huy được tính tích cực của học sinh
- Dựa vào sự phân loại bài tập giáo viên có thể dạy nâng cao được nhiều đối tượng học sinh.
* Kết quả cụ thể như sau:



* Khảo sát với học sinh đại trà
Năm học Lớp Loại yếu Loại TB Loại Khá Loại Giỏi
2009 - 2010
Khi chưa áp dụng SKKN 8 17,5% 55% 25% 2.5%
Giữa năm 2010 - 2011
Khi đã áp dụng SKKN 8 10% 50% 30% 10%
Cuối năm 2010 - 2011
Khi đã áp dụng SKKN 8 5% 44.5% 35,5% 15%

* Đối với học sinh ôn thi đội tuyển hoc sinh giỏi
Năm học Số HS Cấp trường Cấp huyện
Không đạt Đạt HSG Không đạt Đạt
2009 - 2010
Khi chưa áp dụng SKKN 4 2 2 3 1
2010 - 2011
Khi đã áp dụng SKKN 3 0 3 1 2

Trong quá trình thực hiện đề tài này không tránh khỏi sự thiếu sót. Tôi rất mong được sự quan tâm giúp đỡ, đóng góp chỉ bảo ân cần của các đồng chí, đồng nghiệp và quý thầy cô để bản thân tôi được hoàn thiện hơn trong giảng dạy cũng như SKKN này có tác dụng cao trong việc dạy và học.
         Tôi xin chân thành cảm ơn !

                                                             Lương Ngoại, tháng 4  năm 2011
                                                                           Người thực hiện:



                                              
                                                                             Lê Văn Tuân


Khắc sâu kiến thức và kĩ năng lịch sử cho học sinh qua khai thác các lược đồ trong Bài 14. Ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên (thế kỉ XIII) trong sách giáo khoa Lịch sử 7

đăng 08:17 05-05-2012 bởi Lê Phạm

Phần I . ĐẶT VẦN ĐỀ

          Chúng ta biết rằng việc khôi phục tái tạo những sự kiện, biểu tượng, nhân vật lịch sử…đã xảy ra trong quá khứ là việc làm thường xuyên của giáo viên, và nhận thức của học sinh khi học lịch sử, nên mỗi giáo viên cần phải hướng dẫn cho học sinh từ những kiến thức cơ bản sơ đẳng ban đầu của việc đọc, nhận xét, hiểu các sự kiện qua các lược đồ, bản đồ lịch sử, tranh ảnh lịch sử từ đó học sinh mới có thể khắc sâu được kiến thức của các bài học.

Qua quá trình giảng dạy bộ môn lịch sử tôi thấy các đối tượng học sinh có rất nhiều lổ hổng trong sự hiểu biết, ghi nhớ sự kiện, nhân vật, cũng như quá trình hình thành và phát triển lịch sử đất nước, dân tộc. Vì thế việc dùng kênh hình và các loại phương tiện trực quan để khắc sâu kiến thức lịch sử cho học sinh là việc làm rất cần thiết và cấp bách của mỗi giáo viên giảng dạy môn lịch sử.   

          Dạy bộ môn lịch sử  ngoài việc cho các em nắm vững kiến thức, còn giúp các em rèn luyện kỹ năng đọc, nhận biết, đánh giá hiểu đầy đủ những lượng thông tin mà các lược đồ cung cấp, để học sinh khắc sâu kíên thức của bài học. Việc nâng cao chất lượng giáo dục trong bộ môn lịch sử, giúp cho các em nhận thức đầy đủ về truyền thống dân tộc qua các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, giáo dục cho các em lòng yêu quê hương đất nước, biết kính trọng tổ tiên, người có công với nước với dân tộc và nâng cao hơn vai trò vị thế của đất nước trong giai đoạn hiện tại là nhiệm vụ của giáo viên đang gỉảng dạy bộ môn lịch sử.

Hiện nay ngành giáo dục đang thực hiện chương trình đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh. Đối với bộ môn lịch sử, một trong những yếu tố thành công để học sinh phát huy tính chủ động sáng tạo là phải khai thác tốt kênh hình trong sách giáo khoa đặc biệt là những biểu đồ bản đồ lịch sử trong chương trình lớp 7. 

          Từ những quan niệm cũ là một bộ môn phụ nên việc đầu tư cho mua sắm đồ dùng dạy học, lược đồ phục vụ bộ môn  lịch sử ở các trường chưa được quan tâmcòn thiếu nhiều, những công cụ tiên tiến sử dụng việc giảng dạy bằng phương pháp trực quan như máy chiếu, hệ thống nghe nhìn chưa được trang bị đầy đủ dẫn đến việc gây hứng thú  trong việc học tập của học sinh chưa được tốt, kỹ năng thực hành về bản đồ, lược đồ lịch sử chưa thuần thục. Vì thế khai thác tốt những lượng thông tin trong các lược đồ lịch sử trong sách giáo khoa là việc làm thiết thực và lâu dài, nhằm khắc sâu kiến thức lịch sử cho học sinh.

          Để nâng cao hơn nữa hiệu quả dạy và học môn lịch sử ở trường phổ thông cần khai thác tốt hệ thống kênh hình trong sách giáo khoa, đòi hỏi mỗi giáo viên cần có kỹ năng, kiến thức nhất định, phục vụ việc dạy và học. Nên, đề tài Khắc sâu kiến thức và kĩ năng lịch sử cho học sinh qua khai thác các lược đồ trong Bài 14. Ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên (thế kỉ XIII)  trong sách giáo khoa Lịch sử 7 góp phần giúp giáo viên và học sinh thực hiện tốt điều đó.

Phần II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1. Cơ sở lý luận  

Trong sách giáo khoa lịch sử hiện nay, kiến thức lịch sử không chỉ tập trung ở kênh chữ mà còn ở kênh hình. Như vậy kênh hình trong dạy học lịch sử hiện nay không chỉ được sử dụng giới hạn ở việc minh hoạ cho nội dung bài học mà là một trong những nguồn cung cấp kiến thức lịch sử quan trọng cho học sinh.

Trong dạy học lịch sử, khai thác và sử dụng kênh hình là biện pháp quan trong tích cực để nâng cao chất lượng dạy học bộ môn, gây hứng thú học tập cho học sinh. Đối với giáo viên khai thác sử dụng kênh hình trong sách giáo khoa, không chỉ làm cho bài giảng trở nên sinh động hấp dẫn mà còn góp phần quan trọng trong việc tạo biểu tượng, hình thành khái niệm lịch sử cho học sinh; phát triển kỹ năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy ngôn ngữ; giáo dục tư tưởng cảm xúc, cảm nghĩ của học sinh. Đối với học sinh, thông qua làm việc với bản đồ, sơ đồ các em sẽ hiểu sâu sắc hơn bản chất sự kiện lịch sử, hiểu sâu những kiến thức lịch sử.

Những quan điểm, lý luận cần lưu ý quán triệt khi khai thác lược đồ lịch sử Bài 14. Ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên (thế kỉ XIII)  trong sách giáo khoa Lịch sử 7:

Thứ nhất: Đảm bảo tính chính xác của sự kiện lịch sử: những sự kiện, nhân vật, địa danh, diễn biến được thể hiện trong mỗi lược đồ, là đơn vị kiến thức chuẩn xác đã được chọn lọc trong quá trình biên soạn của các tác giả vì thế khi giảng dạy giáo viên cần phải tôn trọng sự chuẩn xác tránh sự rập khuôn máy móc, khi trình bày diễn biến kết quả ý nghĩa của một cuộc kháng chiến trong lịch sử dân tộc;

          Thứ hai: Đảm bảo tính khách quan của sự kiện: nhìn nhận sự kiện, nhân vật biểu tượng lịch sử đúng như nó đã diễn ra không thêm bớt làm méo mó lịch sử sai lệch kiến thức, đặc trưng của bộ môn;

          Thứ ba: Khi trình bày về một sự kiện lịch sử trong khoá trình cân đặt trong mối quan hệ thống nhất với lịch sử của thế giới, lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương để học sinh có thể mở rộng kiến thức mở rộng tầm nhìn nhận vấn đề đang học sâu sắc hơn (chẳng hạn khi cho học sinh biết về sức mạnh quân Mông Cổ phải cho học sinh thấy được lãnh thổ bao la của đế quốc Mông Cổ thế kỷ XIII, chính vì vậy mà quân Mông Cổ giỏi về kỵ binh);

          Thứ tư: Duy trì tính thống nhất của chú thích, chú giải:

Mỗi lược, bản đồ có nhiều phần chú giải khác biệt theo nội dung thể hiện và diễn biến, điều kiện địa lý lịch sử, yêu cầu bài học nhưng phải tuân thủ nguyên tắc của các loại bản đồ, kiến thức địa lý như phương hướng, địa danh, màu sắc quân ta địch, phòng tuyến, chiến luỹ, trận địa thống nhất trong bản đồ đất nước trong mỗi bài có nhiều điểm khác những vẫn có ký hiệu chú dẫn chú giải thống nhất theo quan điểm lịch sử Việt Nam, vì thế giáo viên cần có hướng dẫn cụ thể để học sinh ghi nhận kiến thức vững chắc (chẳng hạn biên giới phía bắc luôn giữ nhất quán trong mọi thời kỳ lịch sử và mọi bản đồ chống xâm lược phong kiến phương bắc);

          Thứ năm: Xem mỗi bản lược đồ là một đơn vị kiến thức phải cung cấp cho học sinh chứ không phải là dụng cụ trực quan minh hoạ cho bài học. Đây là lỗi mà giáo viên khi khai thác bản đồ lịch sử thường mắc, chỉ xem bản đồ là công cụ minh hoạ nên không chú ý những nội dung kiến thức mà bản đồ cung cấp. Vì chỉ có khai thác hết nội dung, đơn vị kiến thức trong bản, lược đồ giáo viên mới có thể hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy trên lớp và khắc sâu được nội dung bài học cho học sinh;

          Thứ sáu: Chú ý rèn lưyện kỹ năng thực hành bản đồ, lược đồ cho tất cả các đối tượng học sinh. Khi giảng dạy dùng đến bản đồ học sinh yếu kém thường sử dụng chậm và lúng túng nên tốn nhiều thời gian ít khi giáo viên cho những học sinh thuộc đối tượng này thực hành dẫn đến các em yếu kém chậm tiếp thu kiến thức. Hơn nữa khi cho các em làm quen với bản đồ lược đồ sẽ tạo sự hứng thú trong việc học tập lịch sử cho đối tượng này nhằm nâng cao chất lượng chung.

Những quan điểm lý luận trên đây khi khai thác bản đồ giáo viên cần thống nhất và tuân thủ xuyên suốt trong quá trình giảng dạy thì mới đạt hiệu quả cao trong tiết dạy lịch sử.

2. Thực trạng vấn đề

`        Qua quá trình tìm hiểu tôi thấy trên thực tế vẫn có những trường như nơi tôi công tác còn thiếu lược đồ phục vụ dạy và học nên giáo viên phải tự làm dẫn tới thiếu tính đồng bộ, thiếu tính khoa học, thiếu chuẩn xác và vẫn còn nhiều giáo viên xem nhẹ việc khai thác kênh hình bản đồ trong sách giáo khoa, không hướng dẫn cụ thể để học sinh nhận thức đầy đủ và ghi nhận những kiến thức của bản đồ, kênh hình cung cấp. Những kiến thức kỹ năng nội dung mà bản đồ cung cấp chưa được giáo viên và học sinh làm sáng tỏ trong khi học nên kiến thức bài chưa được khắc sâu.

          Khi giảng dạy tới những bài có hình minh hoạ hay lược đồ giáo viên đang còn có tâm lý ngại sử dụng lược đồ, nếu có sử dụng thì thường là mang tính đối phó, qua loa chiếu lệ không đi sâu phân tích khai thác triệt để kênh hình hay sử dụng một cách có hiệu quả. Hoặc nếu có dùng lược đồ trong bài dạy thì chưa xác định được thời điểm thích hợp để sử dụng. Một số giáo viên còn chưa coi trọng rèn luyện kỹ năng sử dụng kênh hình, còn nặng về giảng giải thuyết trình, tâm lý sợ thiếu giờ. Đối với những bài dạy lịch sử kháng chiến thì biến thành một tiết dạy khô khan, giờ học trầm nặng nề không cuốn hút học sinh, giáo viên hoạt động một chiều, học sinh chỉ nghe và chép.

          Về phía học sinh thì ý thức học tập của học sinh còn chưa cao, cách ghi nhớ kiến thức lịch sử còn máy móc, kỹ năng sử dụng lược đồ để ghi nhớ nội dung kiến thức còn yếu.

          Nếu khai thác tốt và có bài bản các bản đồ, lược đồ sẽ làm cho giờ học sinh động sôi nổi, học sinh dễ nhớ bài, kiến thức trọng tâm được khắc sâu giáo viên dễ thành công trong quá trình giảng dạy trên lớp.

          Đối với bản thân tôi, trong quá trình giảng dạy bộ môn lịch sử việc khai thác kênh hình sách giáo khoa, nhất là những bản đồ, lược đồ luôn được chú tâm nghiên cứu và khai thác triệt để, đặc biệt là các lược đồ trong bài 14. Ba lần kháng chiến chống xâm lược Mông – Nguyên (thế kỉ XIII) SGK lịch sử 7. Qua việc khai thác kỹ những nội dung cơ bản bằng hệ thống câu hỏi và kỹ năng thực hành, từ đó học sinh đã nắm bắt được những yêu cầu của bài học, có nhiều tiến bộ trong việc ghi nhớ kiến thức trọng tâm của bài học góp phần hoàn thành chương trình giảng dạy bộ môn. Nên tôi tổng hợp, ghi chép lại để cùng các đồng nghiệp trao đổi, hợp tác để nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn.

 

Cấu trúc kênh hình về lược đồ kháng chiến chống ngoại xâm trong bài 14 của chương trình lịch sử lớp 7 cụ thể như sau: 

1. Hình 30 - Lược đồ kháng chiến chống quân Mông Cổ năm  1258 (tr 56)

2. Hình 31 - Lược đồ kháng chiến lần hai chống quân Nguyên năm 1285 (tr 60)

3. Hình 32 - Lược đồ kháng chiến lần ba chống quân Nguyên năm 1287 - 1288 (tr 62)

4. Hình 33 - Lược đồ chiến thắng Bạch Đằng (tr 64)

3. Phạm vi đối tượng nghiên cứu

- Tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn lịch sử trung học sơ sở.

- Bài 14. Ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên (thế kỷ XIII) – SKG Lịch sử 7.

- Tài liệu đổi mới phương pháp dạy học

- Đối tượng học sinh lớp 7

4. Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích

- Phương pháp tổng hợp

- Thử nghiệm

5. Kế hoạch nghiên cứu

- Thời gian từ 9/2006 – 4/2011

- Thực hiện xây dựng phương pháp sau khi soạn bài và dạy thử nghiệm, áp dụng phương pháp trong các tiết dạy, hoàn thiện phương pháp sau khi đã kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh.

          6. Giải pháp thực hiện

          Theo phân phối chương trình THCS môn Lịch sử hiện thời thì Bài 14. Ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên (thế kỉ XIII) gồm 4 mục lớn được chia ra và giảng dạy trong 4 tiết (Tiết 23-I. Cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân xâm lược Mông Cổ; Tiết 24-II. Cuộc kháng chiến lần hai chống quân xâm lược Nguyên (1258); Tiết 25-III. Cuộc kháng chiến lần thứ ba chống quân xâm lược Nguyên (1287-1288); Tiết 26-IV. Nguyên nhân thắng lợi và ý nghĩa lịch sử của ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông Nguyên). Từ khung phân phối đó giáo viên có sự chuẩn bị cho việc thực hiện bài dạy một cách hợp lí. Đối với giáo viên đó là chuẩn bị công tác soạn bài, đồ dùng dạy học - ở đây là lược đồ treo tường, bảng phụ (những trường không có máy chiếu), kế hoạch phân chia thời lượng cho mỗi đơn vị kiến thức trong tiết dạy. Giáo viên cần nghiên cứu kỹ lược đồ xác định phần nội dung tương ứng với phần kênh chữ trong SGK để kết hợp nhuần nhuyễn khi sử dụng trên lớp. Đối với học sinh thì giáo viên dặn dò về việc tìm hiểu bài trước ở nhà.

          Khi tiến hành giờ giảng giáo viên cần lựa chọn thời điểm hợp lý để sử dụng lược đồ, giáo viên giới thiệu tổng quan lược đồ (tên lược đồ, nội dung kí hiệu chú giải đường tiến quân, lui quân của ta và địch, phòng tuyến, màu sắc…).

Ví dụ: Đối lược đồ diễn biến cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân Mông Cổ (1258) giáo viên sử dụng lược đồ sau khi giáo viên cho học sinh tìm hiểu phần 1. Âm mưu xâm lược Đại Việt của quân Mông Cổ. Sang phần 2. Nhà Trần chuẩn bị và tiến hành kháng chiến chống quân Mông Cổ, giáo viên nói về sự chuẩn bị của nhà Trần đồng thời treo Lược đồ diễn biến cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân Mông Cổ (1258) lên bảng.

Giáo viên dùng thước chỉ tổng quan và giới thiệu tên lược đồ, giải thích các kí hiệu có trong lược đồ: vòng cung có mũi tên mầu xanh là phòng tuyến của ta, mũi tên xanh đậm là chỉ thị đường tiến công của quân ta, mũi tên màu xanh nhạt là hướng quân ta truy kích địch, mũi tên xanh đậm đứt đoạn là đường lui quân của ta, mũi tên mầu đen là đường tiến quân của địch, quân địch rút chạy thể hiện bằng mũi tên đen đứt đoạn.

          Đối với những lược đồ trong bài 14 SGK lịch sử 7 – là những lược đồ diễn biến kháng chiến, sau bài học, học sinh cần nắm được kỹ năng tường thuật nội dung diễn biến của mỗi trận đánh qua mỗi lược đồ.

          Giáo viên khắc sâu lại kiến thức cho học sinh bằng hệ thống câu hỏi đã chuẩn bị sẵn trên bảng phụ (đối với những trường không có hệ thống máy chiếu đa năng).

Sau khi đã xác định phạm vi đối tượng và kế hoạch, phương pháp nghiên cứu và giải pháp thực hiện tôi bắt tay vào việc khảo sát, tiến hành ở các lớp học. Từ những vấn đề mà tôi đã nêu như trên, trong quá trình giảng dạy qua các năm học ở từng lớp khác nhau, được sự đánh giá góp ý của các đồng nghiệp tôi đã rút ra những kinh nghiệm giảng dạy ở mỗi lược đồ trong bài 14 SGK lịch sử 7 như sau:

6.1  Hình 30 - Lược đồ diễn biến cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân Mông Cổ 1258 (trang 56 lịch sử lớp 7) - Sử dụng khai thác trong tiết 1 của bài 14. I - CUỘC KHÁNG CHIẾN LẦN THỨ NHẤT CHỐNG QUÂN XÂM LƯỢC MÔNG CỔ (1258).

          Ở phần 2 giáo viên cùng học sinh tìm hiểu trong khoảng thời lượng 20 phút.

          Vào bài học sau khi giáo viên cho học sinh tìm hiểu phần 1. Âm mưu xâm lược Đại Việt của quân Mông Cổ. Sang phần 2. Nhà Trần chuẩn bị và tiến hành kháng chiến chống quân Mông Cổ, giáo viên nói về sự chuẩn bị của nhà Trần đồng thời treo lược đồ diễn biến cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân Mông Cổ (1258) lên bảng.

              

Những kiến thức và kỹ năng cần khai thác cho học sinh qua bản đồ để khắc sâu bài.

Kiến thức: - Đế quốc Mông Cổ rộng lớn, trên vùng thảo nguyên Bắc Á, quân giặc rất mạnh, giỏi về kỵ binh.

                             - Tinh thần quyết tâm chống giặc của quân dân ta dưới thời Trần. Thái độ kiên quyết của nhà Trần trong việc bắt giam sứ giả, ban lệnh cho cả nước chuẩn bị chống quân xâm lược. Quân ta xây dựng phòng tuyến cản giặc, lui quân, kết hợp nhân dân thực hiện vườn không nhà trống gây khó khăn cho địch.

                             - Quân ta biết chọn thời cơ thích hợp để phản công thắng lợi. Tinh thần kiên quyết chống ngoaị xâm trong mọi tình huống khó khăn.

Kĩ năng:     - Bồi dưỡng kỹ năng trình bày diễn biến theo thời gian, theo chiến thuật, ký hiệu phòng tuyến, lui quân, tiến công, truy kích địch thể hiện trên lược đồ.

          * Giáo viên giới thiệu toàn bộ lược đồ, giải thích cho học sinh nắm được nội dung các kí hiệu tổng quan của lược đồ, các địa danh, thời gian thể hiện trên lược đồ, yêu cầu học sinh quan sát kết hợp với phần kênh chữ trong SGK, giáo viên gọi học sinh lên bảng trình bày diễn biến qua lược đồ treo tường.

          Sau khi học sinh trình bày xong giáo viên khái quát và tường thuật lại.

          - Đầu thế kỷ XIII, nhà nước phong kiến Mông Cổ được thành lập. Với một lực lượng quân đội hùng mạnh và hiếu chiến (theo hình 29 SGK tr 55) giỏi về kỵ binh, cho nên chúng áp dụng chiến thuật đánh nhanh, thắng nhanh, quân Mông Cổ đã liên tiếp xâm lược và thống trị nhiều nước và gieo rắc nỗi kinh hoàng sợ hãi ở châu ¸, châu Âu, vó ngựa quân Mông Cổ di đến đâu thì thành luỹ tan hoang nhà cửa đổ nát đến đó.

          - Nhà Trần áp dụng cách đánh giặc sáng tạo là rút lui để bảo toàn lực lượng, thực hiện vườn không nhà trống đánh vào dạ dày của giặc, (quân Mông Cổ chủ yếu là kỵ binh cho nên mang theo lương thực rất ít) đến khi chúng thiếu lương thực lâm vào hoàn cảnh khó khăn. Nắm được thời cơ quân ta phản công vào Đông Bộ Đầu, quân Mông Cổ thua rút chạy về nước. Cuộc kháng chiến thắng lợi.    

          Sau đó giáo viên đưa câu hỏi cho học sinh trả lời (Đã chuẩn bị trong bảng phụ)

Câu 1- Em hãy điền những địa danh trong cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân Mông Cổ theo gợi ý sau:

Diễn biến

Địa danh

Ta chặn đánh địch ở những phòng tuyến……………………………….nhân dân ở..........................theo lệnh thực hiện chủ trương "vườn không nhà trống". Ta mở cuộc phản công lớn ở.........................................Địch bị truy kích và bị chặn đánh tại..........................................................

(A)  Bình Lệ Nguyên, Phù Lỗ

(B)   Thăng Long

(C)   Đông Bộ Đầu

(D)  Quy Hoá

 

Câu 2- Em hãy nối thời gian ở cột A sao cho phù hợp với nội dung ở cột B

Thời gian (A)

 

           Nội dung (B)

Tháng 1.1258

Nhà Trần ban lệnh sắm sửa vũ khí sẵn sàng đánh giặc

Cuối năm 1257

3 vạn quân Mông Cổ tiến vào xâm lược nước ta

Ngày 29-1-1258

Quân Mông Cổ rút chạy khỏi Thăng Long

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

6.2 Hình 31 - Lược đồ diễn biến cuộc kháng chiến lần thứ hai chống quân Nguyên 1285 (trang 60 lịch sử lớp 7) - Sử dụng khai thác trong tiết 2 của bài 14. II. CUỘC KHÁNG CHIẾN LẦN THỨ HAI CHỐNG QUÂN XÂM LƯỢC NGUYÊN (1285)

Ở tiết học này sau khi giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu các đơn vị kiến thức trong phần 1 và 2, bước sang mục 3 giáo viên giới thiệu thời gian và lực lượng quân Nguyên kéo vào xâm lược nước ta đồng thời tiến hành treo lược đồ diễn biến cuộc kháng chiến lần thứ hai chống quân Nguyên 1285 lên bảng.

Ở phần 3 giáo viên cùng học sinh tìm hiểu trong khoảng thời lượng 20 phút.

          Những kiến thức và kỹ năng cần khai thác cho học sinh qua bản đồ để khắc sâu bài:

Kiến thức:  - Quân Nguyên với ý đồ quyết tâm tiêu diệt nước ta, lực lượng hơn 50 vạn quân và được chuẩn bị kỹ lưỡng, chiến thuật thay đổi, hai đạo quân tạo thế “gọng kìm” Bắc, Nam.

          - Quân ta cũng thay đổi chiến thuật: không xây dựng phòng tuyến, tiếp tục thực hiện “vườn không nhà trống”. Càng khó khăn, tinh thần chống giặc của ta càng cao (lời Trần Quốc Tuấn).

          - Chiến thuật lui quân sơ tán “vườn không nhà trống” được phát huy, phân tán thế mạnh tập trung của giặc. Ta tiến quân, lui quân linh hoạt kể cả theo đường biển tạo thế bất ngờ cho địch. Đường hành quân đánh lừa địch: Vạn Kiếp lui về Thăng Long sau đó rút về Thiên Trường.

          - Ghi nhớ các địa danh Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, Thăng Long…

Kĩ năng: - Tiếp tục bồi dưỡng kỹ năng trình bày diễn biến theo thời gian, theo chiến thuật, ký hiệu phòng tuyến, lui quân, tiến công, truy kích địch thể hiện trên lược đồ.

* Giáo viên giới thiệu toàn bộ lược đồ, giải thích cho học sinh nắm được nội dung các kí hiệu, các địa danh, thời gian thể hiện trên lược đồ, yêu cầu học sinh quan sát kết hợp với phần kênh chữ trong SGK, giáo viên gọi học sinh lên bảng trình bày diễn biến qua lược đồ treo tường.

          Sau khi học sinh trình bày xong giáo viên khái quát và tường thuật lại

          - Cuối tháng 1-1285 khoảng 50 vạn quân Nguyên kéo vào xâm lược Đại Việt lần thứ hai. Chúng tiến quân làm 3 đường (một đường theo Sông Thao, một đường theo hướng Lạng Châu đánh xuống. Một đường từ  Cham Pa đánh lên).

          Về phía nhà Trần, trong cuộc kháng chiến lần thứ hai đã chuẩn bị rất chu đáo như hội nghị Bình Than, hội nghị Diên Hồng nhưng cũng gặp nhiều khó khăn như một số quý tộc nhà Trần đã đầu hàng giặc. Tuy nhiên với cuộc hành quân đầy mưu trí và nắm bắt được thời cơ đã phản công và chặn đánh địch ở Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương, quân giặc thua trận bỏ chạy về nước, cuộc kháng chiến kết thúc thắng lợi. Sau hai tháng phản công nhà Trần đánh bại một đạo quân hùng mạnh bật nhất thế giới hồi đó. Đất nước sạch bóng quân thù.

                   Sau đó giáo viên đưa câu hỏi cho học sinh trả lời (Đã chuẩn bị trong bảng phụ)

Câu 1- Em hãy điền những địa danh trong  kháng chiến lần thứ hai chống quân xâm lược Nguyên theo gợi ý sau:

Diễn biến

Địa danh

Vua Trần triệu tập hội nghị các vương hầu, quan lại ở……………………….để bàn kế đánh giặc. Trần Quốc Tuấn được giao trọng trách Quốc chỉ huy cuộc kháng chiến. Đầu năm 1285, vua Trần mở hội nghị Diên Hồng, mời các phụ lão uy tín trong cả nước về…………………….họp bàn cách đánh giặc; nhà Trần tổ chức cuộc tập trận lớn và duyệt binh ở………………….

(1) Thiên Trường (Nam Định)

(2)Thăng Long

     (3)Đông Bộ Đầu

(4) Bình Than (Chí Linh, Hải Dương)

 

Câu 2- Em hãy điền nội dung sự kiện tương ứng với mốc thời gian cho sẵn trong bảng sau.

Thời gian

Sự kiện

Năm 1283

 

Đầu năm 1285

 

Cuối tháng 1 - 1285

 

Tháng 5 - 1285

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

6.3 Hình 32 - Lược đồ diễn biến cuộc kháng chiến lần thứ ba chống quân Nguyên  1287 - 1288  trang 62 lịch sử lớp 7 - Sử dụng khai thác trong tiết 2 của bài 14. III. CUỘC KHÁNG CHIẾN LẦN THỨ BA CHỐNG QUÂN XÂM LƯỢC NGUYÊN (1287 - 1288)

Ở tiết học này khi giáo viên nói về quyết tâm xâm lược nước ta lần ba của quân Nguyên, đồng thời tiến hành treo lược đồ diễn biến cuộc kháng chiến lần thứ hai chống quân Nguyên 1285 lên bảng.

Với lược đồ hình 32 này giáo viên sử dụng cho cả mục 1 và 2 của phần III. Ở mục 1 giáo viên cùng học sinh tìm hiểu trong khoảng thời lượng 12 phút, mục 2 tìm hiểu trong vòng 10 phút.

          Những   kiến thức và kỹ năng cần khai thác cho học sinh qua bản đồ để khắc sâu bài

Kiến thức:  - Thấy được quyết tâm trả thù của giặc: chúng chuẩn bị quân thuỷ, quân bộ, quân lương với ý đồ chiếm cứ lâu dài.

          Ta chuẩn bị kế hoạch chống giặc chu đáo: tăng cường quân ở biên giới và vùng biển, lui quân, chặn quân thuỷ, quân lương.

          - Quân dân ta chọn thời cơ thích hợp để tiêu diệt giặc, tiêu diệt quân lương

          - Những nơi diễn ra chiến trận quyết liệt: Vân Đồn, Vạn Kiếp, Bạch Đằng

Kĩ năng: - Tiếp tục bồi dưỡng kỹ năng trình bày diễn biến theo thời gian, theo chiến thuật, ký hiệu phòng tuyến, lui quân, tiến công, truy kích địch thể hiện trên lược đồ.

* Giáo viên giới thiệu toàn bộ lược đồ, giải thích cho học sinh nắm được nội dung các kí hiệu, các địa danh, thời gian thể hiện trên lược đồ, yêu cầu học sinh quan sát kết hợp với phần kênh chữ trong SGK, giáo viên gọi học sinh lên bảng trình bày diễn biến qua lược đồ treo tường.

          Sau khi học sinh trình bày xong giáo viên khái quát và tường thuật lại

          - Lần thứ ba nhà Nguyên đánh để trả thù, rút kinh nghiệm hai lần trước vì thiếu lương thực và không có thuyền chiến cho nên không phù hợp với địa hình nhiều có nhiều sông ngòi, để khắc phục sự thiếu sót của hai lần trước Thoát Hoan đem theo hàng trăm chiến thuyền, một đoàn thuyền lương chở hàng chục vạn thạch lương, quyết tâm đánh lâu dài với quân ta.

          - Nhà Trần biết lần này có chiến thuyền và thuyền lương do đó đã sai Trần Khánh Dư chặn đánh đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ ở tại Vân Đồn. Kết quả  phần lớn thuyền lương của địch bị đắm số còn lại bị quân nhà Trần chiếm.

          Sau đó giáo viên đưa câu hỏi cho học sinh trả lời (Đã chuẩn bị trong bảng phụ)

Câu 1- Em hãy điền những địa danh trong cuộc kháng chiến lần thứ ba chống quân xâm lược Nguyên (1287-1288) theo gợi ý sau:

Diễn biến

Địa danh

Cuối tháng 12-1287, Thoát Hoan chỉ huy cánh quân bộ vượt biên giới đánh vào……………...Trần Quốc Tuấn rút khỏi…………..chặn giặc kéo vào…………….Đoàn thuyền chiến do Ô Mã Nhi chỉ huy ngược sông…………kéo đến Vạn Kiếp hội quân với Thoát Hoan. Khi đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ tiến qua…………..bị quân của Trần Khánh Dư đánh dữ dội.

(1) Lạng Sơn, Bắc Giang

(2)Vạn Kiếp

     (3)Thăng Long

(4) Vân Đồn

(5)Bạch Đằng

 

           

 

 

 

 

 

 

Em hãy điền dấu X  vào ô trống đứng đầu ý em chọn là đúng trong câu hỏi sau

Câu 1- Trong lần thứ ba kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên (1287-1288) ta đã tấn công giặc ở

Vạn Kiếp

 

Vân Đồn

 

Lạng Sơn

 

Chi Lăng

 

Thăng Long

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

          6.4 Hình 33 - Lược đồ chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 (trang 64 lịch sử lớp 7) - Sử dụng khai thác trong tiết 2 của bài 14. II. CUỘC KHÁNG CHIẾN LẦN THỨ BA CHỐNG QUÂN XÂM LƯỢC NGUYÊN (1287 - 1288)

Sau khi cho học sinh tìm hiểu xong nội dung của mục 1 và 2 giáo viên nhanh chóng thu bảng phụ và lược đồ đã sử dụng xuống, bước sang mục 3 giáo viên tiến hành treo lược đồ chiến thắng Bạch Đằng – năm 1288 lên bảng.

Ở phần 3 giáo viên cùng học sinh tìm hiểu trong khoảng thời lượng 15 phút.

 

           Những kiến thức và kỹ năng cần khai thác cho học sinh qua bản đồ để khắc sâu bài.

Kiến thức:- Biết dự đoán trước sự thất bại không thể tránh khỏi của giặc

- Trận địa Bạch Đằng: lợi thế của ta khi khai thác địa thế, nước thuỷ triều, bãi cọc nhọn

- Sự tài giỏi của Trần Hưng Đạo biết trước tình thế bị động của  quân giặc, bố trí trận địa mai phục trên bộ, đường thuỷ lợi dụng nước thuỷ triều, chiến thắng kết thúc cuộc kháng chiến lần thứ ba.

- Ghi nhớ các địa danh: Bạch Đằng, Yên Hưng, Thuỷ Nguyên

- Ý nghĩa quan trọng của thắng lợi: quân Nguyên từ bó dã tâm chiếm cứ nước ta.

Kĩ năng: - Tiếp tục bồi dưỡng kỹ năng trình bày diễn biến theo thời gian, theo chiến thuật, ký hiệu phòng tuyến, tiến công, truy kích địch thể hiện trên lược đồ.

* Giáo viên giới thiệu toàn bộ lược đồ, giải thích cho học sinh nắm được nội dung các kí hiệu, các địa danh, thời gian thể hiện trên lược đồ, đặc điểm của cửa sông Bạch Đằng về chế độ thuỷ văn, yêu cầu học sinh quan sát kết hợp với phần kênh chữ trong SGK, giáo viên gọi học sinh lên bảng trình bày diễn biến qua lược đồ treo tường.

          Sau khi học sinh trình bày xong giáo viên khái quát và tường thuật lại

          Đoàn  thuyền lương của quân Nguyên bị tiêu diệt đẩy chúng vào thế bị động, tinh thần quân lính hoang mang. Thoát Hoan quyết định rút quân về nước theo hai đường thuỷ bộ.

          Nhà Trần biết được ý định trên đã tổ chức phục binh tại sông Bạch Đằng để tiêu diệt quân Nguyên (buộc địch đánh theo lối đánh của ta đã chuẩn bị từ trước, buộc giặc chuyển từ thế mạnh chuyển dần sang yếu từ chủ đông thành thế bị đông). 

          Sau đó giáo viên đưa câu hỏi cho học sinh trả lời (Đã chuẩn bị trong bảng phụ)

          Câu 1- Em hãy nối thời gian ở cột A sao cho phù hợp với nội dung ở cột B

Thời gian (A)

 

           Nội dung (B)

Cuối Tháng 12.1287

 

Thoát Hoan chia quân làm 3 đạo tiến vào chiếm đóng Thăng Long

Cuối tháng 1- 1288

quân Nguyên tiến vào xâm lược nước ta theo đường bộ và đường biển

Đầu tháng 4 - 1288

Đoàn thuyền do Ô Mã Nhi bị quân ta đánh tan trên sông Bạch Đằng

 

Em hãy khoanh tròn vào chữ cái đứng trước phương án đúng trong câu hỏi sau

C âu 2-  Chiến thắng giặc Nguyên tại  Bạch Đằng năm 1288 quân ta đã dùng mưu kế

          a. đóng bãi cọc nhọn trên sông

          b. lợi dụng nước thuỷ triều lên xuống

          c. giả vờ thua trận dụ địch vào trận địa mai phục đúng thời điểm

          d. đóng bãi cọc nhọn, lợi dụng thuỷ triều dụ địch vào trận địa mai phục.

 

7. Kết quả đạt được

          Qua những năm làm công tác giảng dạy bộ môn lịch sử ở trường trung học cơ sở từ việc tự trau dồi tích luỹ nghiệp vụ, đồng thời không ngừng suy nghĩ sáng tạo tiến hành giảng dạy theo phương pháp mới. Tôi thấy sự chuyển biến rõ rệt trong chất lượng dạy và học của bản thân và của học sinh khi tập trung thực hiện việc khai thác các lược đồ, kênh hình trong SGK lịch sử.

Đặc biệt khi khai thác các lược đồ trong Bài 14. Ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên (thế kỷ XIII) lịch sử lớp 7 cũng với những phương pháp đó tôi thấy việc khắc sâu kiến thức và rèn luyện kỹ năng sử dụng lược đồ cho học sinh có những kết quả thực tế như sau:

 

* Bảng so sánh các mặt biến chuyển của học sinh trước và sau tiến hành dạy theo nội dung sáng kiến qua 2 năm học

Các mặt theo dõi

NĂM HỌC  2009 - 2010

NĂM HỌC 2010- 2011

Không khí giờ học

Trầm

Sôi nổi

Kỹ năng sử dụng lược đồ của học sinh

Chưa tích cực

Rất tích cực

Học sinh tự tin chủ động khi tham gia phát biểu ý kiến

Chưa tự tin

Đã tự tin

Qua lược đồ học sinh có thể nắm và nhắc lại kiến thức

44% số học sinh

75% số học sinh

Kỹ năng của học sinh khi dùng lược đồ ở những bài học khác

Còn thụ động

Đã sáng tạo và tích cực

Kỹ năng trình bày bài của học sinh trước tập thể

Còn rất lúng túng

Đã lưu loát

Điểm khá, giỏi học sinh đạt được khi tham gia tường thuật trận đánh trên lược đồ

10 %

56 %

           

Qua quá trình giảng dạy ở trên lớp với những kết quả đã thu được và những kinh nghiệm bản thân đúc rút ra, cùng những ý kiến đóng góp của các đồng nghiệp khi tham gia dự giờ, tôi thấy rằng với SKKN này sẽ là một hướng mở để phát triển phạm vi ứng dụng trong các kiểu bài lịch sử có sử dụng lược đồ kháng chiến trong chương trình phổ thông. Từ đó sẽ giúp học sinh dễ khắc sâu kiến thức, có kỹ năng trình bày lược đồ một cách thành thạo và tích cực hơn trong việc tiếp thu kiến thức, giờ học lịch sử trở nên sôi nổi cuốn hút đối với học sinh.

 

 

 

 

Phần III. KẾT LUẬN, ĐỀ NGHỊ

1. Kết luận

Trong quá trình giảng dạy bộ môn lịch sử những năm qua bản thân tôi luôn ấp ủ và nung nấu tìm ra những phương pháp phù hợp với đối tượng học sinh để truyền thụ kiến thứ tới các em một cách hiệu quả nhất. Và tôi đã rút ra được những bài học kinh nghiệm  từ việc khai thác các lược đồ kháng chiến chống ngoại xâm trong sách giáo khoa lịch sử lớp 7 để khắc sâu kiến thức, kĩ năng lịch sử cho học sinh, đó là:

1.1 Trong các bài học có lược đồ phục vụ việc giảng dạy các cuộc kháng chiến chống xâm lược dùng hệ thống câu hỏi  để gợi mở để các em nắm được nội dung kiến thức của bài như trong mỗi bản đồ, lược đồ đã nêu ra ở trên.

- Những câu hỏi trắc nghiệm được dùng để củng cố bài vào cuối tiết.

          - Dùng những câu hỏi có tính thực hành kỹ năng đã nêu dùng để cho học sinh thực hành ngay trong từng tiết theo thời lượng trên lớp.

          - Khi giảng dạy những bài có sử dụng lược đồ lịch sử luôn quan tâm, rèn luyện kỹ năng cho đối tượng học sinh yếu kém để nâng cao chất lượng bộ môn.

          - Dùng hệ thống câu hỏi dã nêu trong mỗi lược đồ để kiểm tra miệng, kiểm tra viết 15 phút,  45 phút.

1.2 Khi giảng dạy các bài có nội dung về những cuộc kháng chiến chống xâm lược trong lịch sử lớp 7 giáo viên cần nắm các nguyên tắc sau trong việc thực hiện việc khai thác có hiệu quả nội dung bài trong các bản đồ, lược đồ  và khắc sâu kiến thức cho học sinh;

1.3 Tôn trọng tính khách quan của các kiện lịch sử nhìn nhận sự kiện, nhân vật biểu tượng lịch sử đúng như nó đã diễn ra không thêm bớt làm méo mó lịch sử sai lệch kiến thức, đặc trưng của bộ môn;

1.4 Tôn trọng tính thời đại của các sự kiện khi khai thác bản lược đồ lịch sử, mỗi thời đại đều có những nét riêng theo trình độ khoa học, trình độ dân trí nên khi giảng dạy những bài kháng chiến chóng xâm lược lớp 7 tuyệt đối tôn trọng tính thời đại của sự kiện kiến thức mỗi bài;

1.5 Trong mỗi bản đồ lược đồ có những nét riêng nhưng phải có sự thống nhất chung của lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc, lịch sử địa phương, sự thống nhất của phần ký hịêu chú giải bản đồ Việt Nam có như thế mới tạo sự dễ  hiểu, dễ  khắc sâu kiến thức cho học sinh;

1.6 Khi nhận xét đánh giá sự kiện lịch sử phải dựa trên cơ sở quan điểm của Đảng của hệ tư tưởng Mác - Lênin, phải vận dụng những thành tựu mới nhất của khoa học lịch sử nước nhà và lịch sử thế giới để giảng giải sự kiện nội dung bài liên hệ thực tế cho học sinh nắm và làm phong phú bài học;

1.7 Mỗi bản đồ, lược đồ là một đơn vị kiến thức chuẩn của bài học chứ không phải là phần minh hoạ nên khai thác đầy đủ những kiến thức tiềm ẩn trong mỗi bản đồ;

1.8 Rèn luyện kỹ năng cho học sinh là yêu cầu phải có khi dạy và học một tiết học lịch sử có bản đồ, lược đồ trong sách giáo khoa: khi rèn các kỹ năng đọc, nhận xét, tường thuật, điền địa danh, ghi nhớ nhân vật lịch sử cho học sinh mới giúp học sinh khắc sâu kiến thức bài. 1

2. Đề nghị

- Phòng giáo dục và đào tạo huyện Bá Thước trang bị đồ dùng trực quan phcụ vụ giảng dạy bộ môn lịch sử đầy đủ cho các đơn vị trường và giáo viên.

          - Phòng giáo dục và đào tạo huyện Bá Thước quan tâm hơn việc tập huấn cho giáo viên bộ môn các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học nhằm khắc sâu kiến thức trọng tâm bài học lịch sử.

Trong phạm vi hạn hẹp của SKKN, tôi chỉ nêu được một số kinh nghiệm của bản thân, thiết nghĩ rằng những ý kiến trên có thể giúp ích ít nhiều cho những đồng nghiệp dạy lịch sử cấp THCS tham khảo và bổ sung cho quá trình giảng dạy của mình. Những thiếu sót trong quá trình làm SKKN là không thể tránh khỏi, rất mong được sự góp ý chân thành của quý thầy cô.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

 

 

 

 

 

 

Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh làm các dạng bài tập lịch sử

đăng 08:15 05-05-2012 bởi Lê Phạm

PHẦN I – ĐẶT VẤN ĐỀ

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Dạy và học là quá trình tham gia của thầy và trò, trong đó người thầy giáo giữ vai trò hướng dẫn, điều khiển học sinh học tập tích cực, chủ động và sáng tạo. Để thu được kết quả cao đòi hỏi người thầy giáo phải có sự chuẩn bị chu đáo về nội dung, kiến thức cũng như phải lựa chọn phương pháp giảng dạy cho phù hợp để học sinh lĩnh hội tri thức đạt kết quả cao nhất.

Môn Lịch sử là bộ môn khoa học xã hội, gắn liền với thực tiễn lao động, sản xuất. Hoá học là môn khoa học ứng dụng và có vai trò quan trọng trong quá trình đi lên của các quốc gia - đặc biệt những nước đang phát triển như nước ta. Do đó học sinh cần phải được trang bị những kiến thức có tính hệ thống cơ bản, cần thiết về hoá học, những ứng dụng hoá học để học sinh THCS khi tốt nghiệp ra trường không chỉ có con đường duy nhất là đi học lên cấp cao hơn mà còn có thể đi thẳng vào lao động sản xuất .. 

Bài tập hoá học là phương tiện hiệu nghiệm trong giảng dạy hoá học. Thông qua giải bài tập hoá học giúp cho học sinh hình thành, rèn luyện, củng cố kiến thức, kỹ năng về hoá học. Bài tập lịch sử chính là phương tiện hữu hiệu để rèn luyện và phát triển tư duy của học sinh. Trong quá trình giải bài tập lịch sử, học sinh bắt buộc phải thực hiện các thao tác tư duy để tái hiện kiến thức cũ, tìm ra mối liên hệ bản chất giữa các sự vật và hiện tượng, học sinh phải phân tích, tổng hợp, phán đoán, suy luận để tìm ra lời giải. Nhờ vậy tư duy của học sinh phát triển và năng lực làm việc độc lập, sáng tạo được nâng cao. Bài tập hoá học cũng là một phương tiện nhằm tích cực hoá  hoạt động của học sinh trong quá trình dạy - học hoá học. Những kiến thức kĩ năng không phải giáo viên rót vào họ, nhồi cho họ mà thông qua hoạt động tích cực của mình học sinh đã tìm kiếm được. Vì vậy nếu các bài tập hoá học được đưa ra đúng lúc, vừa trình độ để học sinh có thể tự lực giải quyết có ý nghĩa rất quan trọng trong giảng dạy bộ môn hóa học

Bài tập lịch sử còn là công cụ hữu hiệu để kiểm tra kiến thức kĩ năng của học sinh, nó giúp giáo viên phát hiện được trình độ của học sinh, làm bộc lộ những khó khăn, sai lầm của học sinh trong học tập lịch sử.Từ đó giáo viên kịp thời điều chỉnh phương pháp giảng dạy của mình và có biện pháp giúp học sinh vượt qua khó khăn, khắc phục những sai lầm đó.

Bài tập lịch sử còn giúp học sinh mở mang hiểu biết thực tiễn của mình, giúp giáo dục tư tưởng đạo đức và rèn phong cách làm việc của người lao động mới: Làm việc có kế hoạch, có phân tích tìm phương hướng trước khi làm việc cụ thể.

Để có kỹ năng giải bài tập lịch sử thì trước hết các em phải biết phân dạng bài tập và biết các bước giải cho từng dạng bài. Nếu chỉ theo phân phối chương trình và nội dung kiến thức trong sách giáo khoa thì học sinh khó có thể có những kỹ năng và thao tác làm nhanh và chính xác được tất cả các dạng bài, đặc biệt với những dạng bài ít gặp các em thường lúng túng khi bắt tay vào làm.

Xuất phát từ lý do trên cùng với những suy nghĩ làm thế nào giúp học sinh giải tốt các bài tập lịch sử, tôi xin đưa ra một số ý kiến của mình qua sáng kiến “Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh làm các dạng bài tập lịch sử”

II. ĐỐI TƯỢNG VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

1. Đối tượng - Phạm vi nghiên cứu:

- Học sinh lớp 6, 7, 8, 9 trường trung học cơ sở Thành Lâm – Bá Thước – Thanh hóa

- Các dạng bài tập trong Chương trình bộ môn lịch sử THCS.

2. Thời gian

          Từ năm 2008 đến nay

III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

2. Phương pháp quan sát:

- Quan sát học sinh tiếp thu và vận dụng kiến thức đã học.

- Giáo viên dự giờ, thăm lớp.

3. Phương pháp điều tra và thực nghiệm:

- Dùng hệ thông câu hỏi và phiếu điều tra.

- Trao đổi với giáo viên và học sinh.

- Trực tiếp giảng dạy và kiểm tra kết quả của học sinh.

4. Phương pháp tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm

IV. Mục đích nghiên cứu:

Giới thiệu cách giải quyết các dạng bài tập lịch sử thường gặp trong chương trình Lịch sử Trung học cơ sở theo hướng tổ chức hoạt động tự học của học sinh ở nhà và trên lớp nhằm giúp học sinh có thêm kỹ năng giải bài tập lịch sử một cách thành thạo và chính xác hơn.

V. Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn việc tổ chức tự học ở nhà và trên lớp của học sinh

- Xây dựng phương pháp hướng dẫn học sinh phân tích và giải bài tập theo từng dạng đề.

- Thông qua thực nghiệm sư phạm kiểm tra để hình thành và rèn luyện cho học sinh kỹ năng giải bài tập

          PHẦN II. NỘI DUNG

I. Thực trạng vấn đề:

Trong quá trình dạy học mỗi thầy cô giáo bộ môn đều đánh giá kết quả học tập của học sinh qua các bài kiểm tra với những yêu cầu mức độ từ nhận biết, thông hiểu đến vận dụng kiến thức của học sinh.

Chúng ta đều biết những năm gần đây kết quả điểm thi bộ môn lịch sử là rất thấp. Và do cũng do nhiều nguyên nhân, như:

Trong quá trình giảng dạy giáo viên chưa mạnh dạn trong việc đổi mới phương pháp dạy học, chưa thực sự coi trọng các tiết làm bài tập lịch sử do vậy các tiết này đa phần giáo viên thường thờ ơ, coi nhẹ hoặc cắt xén để dạy các bài khác trong chương trình, không chú trọng hướng dẫn học sinh cách tư duy phân tích đề và làm bài tập.

Về phía học sinh luôn tâm niệm môn sử là môn phụ, khó học, khó nhớ vì có nhiều sự kiện

Giống như các bộ môn khác, môn lịch sử cũng có các dạng bài tập cơ bản thường gặp trong các kì kiểm tra hay trong các kỳ thi. Mỗi dạng bài tập có những đặc trưng và yêu cầu riêng. Tuy nhiên có một thực tế là khi làm bài thì nhiều em không chú ý đến vấn đề này mà chỉ quan tâm đến những sự kiện lịch sử được nêu ở trong đề bài dẫn đến lúng túng trong cách giải quyết vấn đề.

Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy nhiều em còn lúng túng khi làm bài tập lịch sử. Việc học sinh không giải được hoặc giải sai bài tập chưa đủ cơ sở để kết luận các em không hiểu biết gì về kiến thức và kĩ năng mà do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do: Không hiểu yêu cầu của bài tập, không biết cần vận dụng lượng đơn kiến thức nào để giải quyết bài tập, không biết cách thực hiện cụ thể vì quá yếu về kĩ năng nhận biết, phân tích đề.

Qua khảo sát đầu năm khi cho học sinh làm bài tập lịch sử tôi thấy kết quả chưa cao, cụ thể:

Lớp   Sĩ số  Giỏi   Khá   Trung bình  Yếu   Kém

9A     22      0        2        13      6        1

9B     22      0        1        14      5        2

Tổng 44      0        3        27      11      3

Từ thực trạng trên tôi mạnh dạn đưa ra và áp dụng những kinh nghiệm của mình để hướng dẫn học sinh hình thành và rèn luyện kỹ năng giải bài tập lịch sử.

II – Giải quyết vấn đề

1. Các giải pháp thực hiện:

1.1. Đối với học sinh:

Để làm thành thạo các dạng bài tập lịch sử trước hết học sinh phải nhớ và hiểu nội dung bài học lịch sử. Biết cách vận dụng những kiến thức của mình để làm bài.

1.2. Đối với Giáo viên:

Giáo viên đòi hỏi phải có sự đầu tư, tìm tòi vận dụng được linh hoạt kiến thức lí thuyết vào từng bài, từng loại đề từ đó hướng dẫn học sinh thực hiện theo các bước:

- Giới thiệu các dạng đề câu hỏi bài tập lịch sử thường gặp.

- Giới thiệu phương pháp tổng quát cho từng dạng bài, dạng đề.

+ Hướng dẫn học sinh phân tích đề bài

+ Hướng dẫn lập sơ đồ hóa

+ Học sinh làm lời giải chi tiết trên cơ sở của sơ đồ hóa

(Mỗi dạng bài có ví dụ cụ thể, giáo viên hướng dẫn chi tiết 1 ví dụ, sau đó học sinh luyện tập với các bài tương tự)

- Ra bài tập về nhà

2. Các biện pháp thực hiện hướng dẫn học sinh làm bài tập lịch sử

Dạng 1. Dạng đề trình bày                                                

1.1. Khái niệm :

Trình bày là tái hiện những vấn đề, những sự kiện, hiện tượng lịch sử đúng như nó đã từng diến ra.

Tức là ta trả lời câu hỏi sự kiện đó diễn ra như thế nào? Đây là loại bài phổ biến nhất thường gặp sau các bài học và trong bài học lịch sử thường trình bày khái quát hoặc là tóm tắt chứ không có điều kiện để trình bày chi tiết vì bản thân bài sử trong sách giáo khoa được học đã là tóm tắt rồi. Còn hiện thực lịch sử nó rất phong phú, đa dạng, đa chiều và chi tiết đến từng ngày giờ.

1.2. Các dạng trình bày thường gặp.

          Vì đây là loại bài phổ biến nên cũng có các dạng phong phú. Ví dụ trình bày về các sự kiện lịch sử. Sự kiện đó có thể là một trận đánh, một cuộc cách mạng, một cuộc cải cách hay một giai đoạn lịch sử hoặc trình bày một vấn đề lịch sử nào đó.

Ví dụ :

1. Trình bày diễn biến của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Hán. (tức là yêu cầu chúng ta trình bày một sự kiện lịch sử).

2. Trình bày đặc điểm nổi bật của phong trào yêu nước trong những năm 1914 – 1918. (tức là trình bày về một vấn đề lịch sử).

          Thông thường khi trình bày một sự kiện lịch sử, chúng trình bày những nội dung sau:

- Trình bày hoàn cảnh lịch sử. Một nguyên tắc khi trình bày một sự kiện lịch sử không thể tách rời hoàn cảnh lịch sử, vì hoàn cảnh lịch sử sẽ quyết định nội dung của sự kiện. Sự kiện lịch sử không còn ý nghĩa nếu mà ta đặt ngoài bối cảnh xuất hiện của nó.

          Phần này ta trình bày những nét chính, những nét khái quát về tình hình trong nước và tình hình thế giới tác động đến sự kiện đó.

- Trình bày diễn biến: phải tuân thủ nguyên tắt biên niên (tức là sự kiện nào có trước thì nói trước, sự kiện nào có sau thì nói sau) vì mỗi chuỗi sự kiện bao giờ cũng có mối liên quan, chặt chẽ với nhau. Ngoài ra ta còn đảm bảo tính hệ thống và tính chính xác.

- Trình bày kết quả và ý nghĩa. Thường ta nêu ra những con số cụ thể hay những nội dung chính của ý nghĩa. Và trong khi trình bày ý nghĩa, ta phải kết hợp phân tích, đánh giá để thể hiện rõ lập trường của mình về vấn đề đó.

1.3. Một số lưu ý khi làm bài tập dạng trình bày:

+ Trình bày phải lựa chọn những sự kiện tiêu biểu, mức độ khái quát đến đâu thì phải tùy thuộc vào yêu cầu cụ thể của đề và thời gian làm bài.

+ Người trình bày phải thể hiện quan điểm của mình ở mức độ nhất định. Vì thế khi trình bày, thường kết hợp phân tích và đánh giá. Phần này quyết định độ sâu của bài làm. Nhiều người cho rằng thể loại bài trình bày này không thể hiện sự phân hóa học sinh, nhưng thật ra không hẳn là như vậy vì một bài làm trình bày tốt là bài làm chọn được những sự kiện tiêu biểu và có thể hiện được đánh giá của mình vào bài làm. Điều đó cho thấy học sinh đó không chỉ dừng lại ở việc biết lịch sử mà còn ở mức độ là hiểu lịch sử.

+ Thực tế có một số đề dùng từ “trình bày”, có đề không nói từ này nhưng thực chất vẫn là trình bày một vấn đề lịch sử.

Ví dụ : Có đề yêu cầu: Cuộc nội chiến ở Trung Quốc sau 1945 và sự thành lập nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

1.4. Bài tập thực hành.

a. Đề bài : Trình bày quá trình giai cấp công nhân Việt Nam vươn lên từ đấu tranh tự phát đến đấu tranh tự giác.

b. Hướng dẫn phân tích đề làm bài

+ Xác định giai cấp công nhân ra đời từ bao giờ và có đặc điểm gì?

+Thời gian họ vươn lên từ đấu tranh tự phát lên tự giác là trong khoản thời gian nào? Và đến mốc nào là công nhân hoàn thành quá trình này? Lưu ý là ta cũng chọn những sự kiện tiêu biểu nào của phong trào công nhân để đưa vào bài làm.

c. Bài làm

Sự hình thành giai cấp công nhân Việt Nam

+ Do tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp (1897 đến trước 1914) đã dẫn đến sự phân hóa trong xã hội Việt Nam và giai cấp công nhân ra đời.

+ Đặc điểm của giai cấp công nhân:

• Có đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế như đại diện cho lực lượng sản xuất tiến bộ nhất trong xã hội, sống tập trung, có ý thức tổ chức kĩ luật và tinh thần cách mạng triệt để.

- Đặc điểm riêng: Trong hoàn cảnh một nước thuộc địa.

- Chịu 3 tầng áp bức của đế quốc, phong kiến và tư sản nên nguyện vọng của họ phù hợp với nguyện vọng quần chúng, lợi ích của học phù hợp với lợi ích dân tộc.

- Họ có nguồn gốc từ nông dân nên họ dễ dàng thực hiện liên minh công-nông.

- Trong thành phần, không có công nhân quý tộc, thuần nhất về ngôn ngữ giúp họ đoàn kết trong đấu tranh.

- Họ ra đời trước giai cấp tư sản Việt Nam và ngay từ khi mới ra đời họ mang trong mình truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc và sớm chịu ảnh hưởng của tư tưởng cách mạng vô sản nên có khả năng gương cao ngọn cờ cách mạng.

          Quá trình công nhân vươn lên từ tự phát đến tư giác

* Từ 1919-1925

+ Năm 1920, công nhân Sài Gòn lập ra công hội bí mật do Tôn Đức Thắng đứng đầu.

+ Năm 1922, công nhân Bắc Kì đấu tranh đòi chủ cho nghĩa ngày chủ nhật có lương. Tiếp đó là cuộc bãi công ở các nhà máy dệt, rượu, xay xát Nam Định, Hải Phòng, Hà Nội.

+ Tháng 8-1925, Công nhân Ba Son bãi công nhằm ngăn chặn tàu Pháp chở lính sang đàn áp phong trào của công nhân Trung Quốc đã đánh dấu bước chuyển từ từ phát sang tự giác.

Nhận xét : Phong trào công nhân thời kì này diễn ra còn lẻ tẻ, chịu ảnh hưởng từ bên ngoài, nặng đấu tranh về kinh tế, còn mang tính tự phát, giai cấp công nhân chưa trở thành một lực lượng chính trị độc lập.

* Từ 1926-1929

+ 1926-1927, bùng nổ nhiều cuộc đấu tranh của công nhân, tiêu biểu như cuộc bãi công của 1000 công nhân nhà máy sợi Nam Định, 500 công nhân đồn điền cao su Cam Tiên, cuộc đấu tranh của công nhân đồn điền cà phê Rayna…

+ 1928-1929, toàn quốc có 40 cuộc đấu tranh từ Bắc vào Nam, lớn nhất là ở nhà máy xi măng Hải Phòng, nhà máy sợ Nam Định, nhà máy diêm Bến Thủy, nhà máy Ba Son, đồn điền Phú Riềng.

Nhận xét : Phong trào công nhân thời kì này có sự phát triển về số lượng và chất lượng. Phong trào phát triển vượt ra ngoài phạm vi một xưởng bắt đầu liên kết được với nhiều địa phương. Tại nhiều nhà máy xí nghiệp có sự lãnh đạo đấu tranh của các tổ chức Thanh Niên và Tân Việt, khẩu hiệu đấu tranh đã kết hợp mục tiêu kinh tế với mục tiêu chính trị. Giai cấp công nhân trở thành một lực lượng chính trị độc lập.

Sự phát triển của phong trào công nhân và phong trào yêu nước đặt ra nhu cầu phải có một chính Đảng cách mạng đứng ra lãnh đạo. Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến sự tan vỡ của hai tổ chức Thanh Niên và Tan Việt, dẫn tới sự ra đời của ba tổ chức cộng sản cuối 1929. Cuối cùng 3 tổ chức này đã được hợp nhất thành Đảng cộng sản Việt Nam.

           Kết luận

Với sự ra đời của Đảng, giai cấp công nhân đã có bộ tham mưu lãnh đạo, có cương lĩnh cách mạng cụ thế, với ý nghĩa đó, giai cấp công nhân đã hoàn thiện quá trình từ tự phát lên tự giác, bước lên vũ đài lịch sử đảm nhận lịch sử vẻ vang của giai cấp mình.

Dạng 2. Dạng đề phân tích

2.1. Khái niệm : Phân tích là dùng toàn bộ hiểu biết của mình để khám phá bản chất sự kiện đó, để đánh giá tác động của nó đến lịch sử, khi phân tích phải dùng lý lẻ, luận điểm chắc chắn, khoa học để suy xét.

Dạng phân tích thì yêu cầu sẽ cao hơn dạng trình bày, đòi hỏi học sinh không chỉ biết sự kiện mà còn phải hiểu sự kiện đó. Biết vận dụng các kỹ năng để phân tích. Vì vậy, khi phân tích nó thường đi liền với trình bày và so sánh.

2.2.Các dạng phân tích thường gặp

• Phân tích nguyên nhân bùng nổ, nguyên nhân thành công, thất bại.

Ví dụ : Phân tích những nguyên nhân thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954).

• Phân tích ý nghĩa lịch sử.

Ví dụ : Phân tích ý nghĩa lịch sử của việc thành lập Đảng cộng sản Việt Nam.

• Phân tích một vấn đề lịch sử.

Ví dụ : Phân tích vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với cách mạng Việt Nam (1911-1930).

2.3.Một số vấn đề lưu ý khi làm bài phân tích.

+ Nắm chắc bản chất của sự kiện lịch sử hay vấn đề lịch sử, mối liên hệ giữa các sự kiện lịch sử đó.

+ Phân tích theo đúng yêu cầu của đề bài, tránh lan man.

+ Phải có quan điểm lịch sử đúng đắn, khoa học, tránh xuyên tạc, bóp méo sự thật lịch sử.

+ Khi phân tích phải tìm ra các luận điểm, luận cứ rõ ràng, mạch lạc, logich. Phân tích thường đi liền với chứng minh để có tính thuyết phục cao.

2.4. Bài tập thực hành

a. Đề bài :

 Phân tích nguyên nhân khiến cho chủ nghĩa phát xít thắng thế ở Đức.

b. Hướng dẫn phân tích đề làm bài

+ Dạng đề là phân tích.

+ Nội dung: Nguyên nhân chủ nghĩa phát xít thắng thế ở Đức một cách dễ dàng.

+ Phạm vi của đề: tình hình nước Đức giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1919-1939), thời điểm chủ nghĩa phát xít bắt đầu xuất hiện và lên nắm quyền ở Đức.

+ Tìm ra những nguyên nhân (ý lớn) rồi sau đó phân tích. Và trong khi phân tích ta đưa ra dẫn chứng cụ thể để chứng minh.

c. Bài làm

- Do truyền thống quân phiệt của nước Đức.

Thời Cận đại, công cuộc thống nhất Đức diễn ra chậm hơn so với các nước khác. Cuộc thống nhất này do sự lãnh đạo của quý tộc quân phiệt bằng con đường sắt và máu. Chính truyền thống quân phiệt ấy đã dung dưỡng cho mần mống chủ nghĩa phát xít nảy nở và phát triển.

- Bối cảnh lịch sử nước Đức sau chiến tranh là miếng đất màu mở nhất cho chủ nghĩa phát xít hình thành và phát triển.

Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Đức bị bại trận, bị thiệt hại nặng nề theo hòa ước Véc-xai, đất nước lâm vào khủng hoảng toàn diện. Năm 1929, đại khủng hoảng kinh tế thế giới làm ảnh hưởng mạnh đến nền kinh tế Đức, làm cho nền kinh tế kiệt quệ, tình hình đó dẫn đến chính trị rối loạn.

- So sánh lực lượng giữa các giai cấp.

+ Đảng cộng sản: chưa đủ mạnh, chưa đủ sức để tập hợp lực lượng và lãnh đạo quần chúng cách mạng. Điều này quyết định sự thất bại của phong trào chống phát xit.

+ Đảng xã hội dân chủ: là lực lượng mạnh nhưng bất hợp tác với Đảng cộng sản. Nên ở Đức không lập được một mặt trận thống nhất chống phát xít, khiến cho phát xít ngày càng thắng thế.

+ Đảng Quốc xã do Hit-le đứng đầu: được giới tư bản ủng hộ ra tranh cử, Đảng này dũng những luận điệu, mị dân, đánh đúng tâm lý muốn phục thù của người Đức với Hội nghị Véc-xai nên một chừng mực nào đó gây ảnh hưởng trong quần chúng ở giai đoạn đầu.

- Các nước đế quốc đã tạo điều kiện cho chủ nghĩa phát xít thắng lợi ở Đức.

Sau khi Đức bại trong chiến tranh thế giới thứ nhất, các nước đế quốc muốn sử dụng con bài Đức để tiêu diệt Liên xô. Chính sự nhượng bộ, dung dưỡng và thỏa hiệp của các nước lớn đã tạo điều kiện cho Hít-le nhanh chóng phát xít hóa nhanh chóng và hầu như không gặp trở ngại.

Dạng 3. Dạng đề chứng minh

3.1.Khái niệm : Chứng minh là làm sáng tỏ một vấn đề đã được khẳng định từ trước, phải chứng minh nó là đúng, là có thật hoặc ngược lại.

Dạng đề này yêu cầu người viết không chỉ có kiến thức lịch sử phong phú về vấn đề đó mà phải có khả năng lập luận chặc chẽ, logich thì bài làm mới có tính thuyết phục.

3.2.Các dạng chứng minh

• Chứng minh một nhận định trong một văn bản để khẳng định vấn đề đó.

Ví dụ : Đường lối của cuộc kháng chiến là toàn dân, toàn diện, trường kì kháng chiến, tự lực cách sinh và tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. Chứng minh rằng đường lối đó là đúng.

• Chứng minh câu nói của một vĩ nhân.

Ví dụ : Chứng minh câu nói của Trần Hưng Đạo “Năm nay thế giặc nhàn”.

• Chứng minh một vấn đề có tính chất quy luật trong lịch sử.

Ví dụ : Chứng minh vai trò của quần chúng nhân dân trong cách mạng tư sản Pháp 1789.

• Chứng minh phản đề.

Ví dụ : Có ý kiến cho rằng cách mạng tháng Tám 1945 thành công là vì nó diễn ra trong một thời cơ bỏ ngỏ. Ý kiến của em như thế nào hãy chứng minh.

3.3. Một số vấn đề lưu ý khi làm bài dạng chứng minh.

- Khi muốn chứng minh một vấn đề nào đó phải tìm được lý lẻ xác đáng, chia thành các ý rõ ràng, đặc biệt là lựa chọn sự kiện để chứng minh. Dẫn chứng càng phong phú, tiêu biểu, xác thực thì bài làm càng có tính thuyết phục cao.

- Khi chứng minh phải kết hợp với phân tích khái quát để làm rõ vấn đề.

3.4.Bài tập thực hành

a. Đề bài : Chứng minh phong trào 1930-1931 là phong trào có quy mô rộng lớn, quyết liệt và có tính chất triệt để.

b. Hướng dẫn phân tích đề làm bài

+ Phạm vi đề: Phong trào cách mạng 1930-1931 với đỉnh cao là Xô viết Ngệ Tĩnh.

+ Nội dung: đề nêu 3 ý lớn

c. Bài làm

Hướng dẫn làm bài

- Phong trào có qui mô rộng lớn:

Phong trào diễn ra trong suốt từ 1930 đến cuối 1931 trên phạm vi toàn quốc, bao trùn khắp ba miền (Bắc-Trung-Nam).

Phong trào đã thu hút sự tham gia đông đảo của quần chúng trong đó chủ yếu là nông dân và công nhân.

Công nhân: hàng trăm cuộc đấu tranh lớn nhỏ trong hai năm: bãi công của 3000 công nhân đồn điền Phú Riềng; 4000 công nhân nhà máy sợi Nam Định. Riêng tháng 5 có 16 cuộc đấu tranh của công nhân diễn ra.

Nông dân: Có hàng trăm cuộc biểu tình của nông dân, tiêu biểu là 8000 nông dân huyện Hưng Yên (Ngệ An) ngày 12-9-1930.

- Phong trào có hình thức đấu tranh quyết liệt.

Quần chúng đã sử dụng những hình thức đấu tranh từ thấp lên cao: mittinh, biểu tình, bãi công đến phá đồn điền nhà lao, bao vây huyện đường kết hợp biểu tình thị uy với hoạt động nữa vũ trang, thành lập các đội tự vệ đỏ để bảo vệ quần chúng đấu tranh buộc bọn thống trị phải chấp nhận những yêu sách của mình.

 

Trong phong trào này đã xuất hiện một hình thức sơ khai của khởi nghĩa từng phần, dùng bạ lực để làm tan rã bộ máy chính quyền kẻ thù và thiết lập chính quyền cách mạng.

- Phong trào có tính cách mạng triệt để:

Nó nhằm trúng hai kẻ thù chủ yếu của cách mạng là đế quốc và phong kiến, thực hiện khẩu hiệu “độc lập dân tộc” “ruộng đất dân cày”.

Trong phong trào này quần chúng thể hiện quyết tâm đánh đến cùng, ở một số nới như Nghệ An, Hà Tĩnh, dưới sức mạnh đấu tranh của quần chúng, hệ tống chính quyền địch bị tan rã từng mãng, chính quyền cách mạng được thành lạp dưới hình thức các Xô viết. Đó là chính quyền nhà nước cách mạng lần đầu tiên xuất hiện ở nước ta.

Kết luận:

+ Phong trào 1930-1931 là phong trào có quy mô rộng lớn, quyết liệt và có tính chất triệt để. Nó đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về chất so với phong trào yêu nước trước đó.

Sở dĩ như vậy, là do lần đầu tiên phong trào được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Qua đó khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và quyền lãnh đạo của giai cáp công nhân. Phong trào 1930-1931 đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quí báu. Vì vậy nó có ý nghĩa như cuộc tập dược đầu tiên cho Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945.

Bài tập vận dụng:

Bài 1: (Bài 3.3, trang 5, sách bài tập hóa học 9) Có hỗn hợp bột kim loại gồm sắt và đồng. Trình bày phương pháp hóa học tách riêng mỗi kim loại.

Bài 2: Hỗn hợp khí A gồm CO và CO2. Trình bày phương pháp hóa học để lấy riêng từng khí trong hỗn hợp

Bài 3: Hỗn hợp gồm O2 và CO2. Trình bày phương pháp hóa học để thu được các khí tinh khiết

Bài 4: Có hỗn hợp gồm nhôm và sắt. Trình bày phương pháp hóa học để điều chế được FeCl3 và AlCl3 riêng biệt

Bài 5: Từ hỗn hợp hai muối là Cu(NO3) và AgNO3. Làm thế nào để điều chế được kim loại Cu và Fe riêng biệt.

Bài 6: Trình bày phương pháp hóa học tách riêng từng kim loại ra khỏi dung dịch bột Fe, Cu, Ag.

Bài 7: Hỗn hợp chất rắn gồm FeCl3, CaCO3, AgCl. Bằng phương pháp hóa học hãy tách riêng từng chất trong hỗn hợp.

PHẦN III – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Sau khi hướng dẫn học sinh phương pháp giải bài tập “Tách chất ra khỏi hỗn hợp ” với các phương pháp tôi đã thực hiện, học sinh đã biết cách làm bài tập hoá học dạng “Tách chất ra khỏi hỗn hợp ”, chất lượng bài kiểm tra được cải thiện. Cụ thể:

Lớp   Sĩ số  Giỏi   Khá   Trung bình  Yếu   Kém

                   SL     %      SL     %      SL     %      SL     %      SL     %

9A     22      1        4,5     4        18,3   16      72,7   1        4,5     0        0

9B     22      1        4,5     3        13,7   18      81,8   0        0        0        0

Tổng 44      2        4,5     7        15,9   34      77,3   1        2,3     0        0

Qua những kết quả đạt được, tôi khẳng định vai trò của việc hình thành cho học sinh kỹ năng giải các dạng bài tập hóa học là vô cùng quan trọng, nó là nền tảng vững chắc giúp các em tiếp thu và lĩnh hội kiến thức hóa học ngày càng tốt hơn.

PHẦN IV: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

1. Kết luận chung:

Sau một thời gian nghiên cứu và viết sáng kiến với sự cố gắng nỗ lực của bản thân, cùng  sự giúp đỡ của Ban giám hiệu, các bạn đồng nghiệp và học sinh, tôi nhận thấy việc nêu lên những dạng bài chủ yếu, thường gặp và việc dạy học theo sơ đồ hóa trong giải bài tập dạng “tách chất ra khỏi hỗn hợp” là rất quan trọng trong việc phát triển tư duy và trí lực của học sinh, giúp học sinh năng động, sáng tạo trong cách giải các loại bài tập. Nhờ những kỹ năng suy luận, phân tích, tổng hợp các dữ kiện trên bài toán các em dễ dàng áp dụng khi chuyển sang các loại bài tập khác: nhận biết chất, tính theo PTHH, nồng độ dung dịch,... đồng thời cũng hình thành cho các em năng lực phân tích, tổng hợp và có những phương pháp giải sáng tạo, giúp các em yêu thích môn hóa học hơn.

Không những thế, phương pháp này còn giúp giáo viên truyền thụ đầy đủ kiến thức đến học sinh, giảm bớt được hoạt động của giáo viên, phù hợp với phương pháp dạy học tích cực lấy học sinh làm trung tâm

Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân rút ra được qua quá trình giảng dạy. Tuy nhiên sáng kiến kinh nghiệm này mới chỉ đề cập đến một trong những phương pháp giải bài tập hóa học mà học sinh phải làm trong quá trình học phổ thông, phạm vi còn hạn hẹp nên việc đánh giá phần nào còn hạn chế và có những thiếu sót.

Thông qua đề tài này, tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến giúp đỡ của cán bộ chuyên môn phòng giáo dục, của Ban giám hiệu và các bạn đồng nghiệp để sáng kiến của tôi được hoàn thiện hơn, để tôi thành công hơn trong sự nghiệp của mình.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

 

2. Kiến nghị:

- Cần có phòng học bộ môn Hoá học.

- Cần cung cấp kịp thời dụng cụ và hoá chất phục vụ cho thí nghiệm

- Cần có thêm máy chiếu để giờ học đạt kết quả cao.

 

Thành Lâm, ngày 10 tháng 4 năm 2011

Người thực hiện

 

 

TỔ CHỨC DẠY CHƯƠNG "CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI" (1939 - 1945)

đăng 20:17 13-04-2012 bởi Lê Phạm

TỔ CHỨC DẠY CHƯƠNG CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI. _SKKN MÔN LỊCH SỬ_.pdf

THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG LỊCH SỬ 8 - 9 CẤP THCS (PHẦN 3)

đăng 18:04 28-03-2012 bởi Lê Phạm

THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG LỊCH SỬ 8 - 9 CẤP THCS (PHẦN 3)


THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG LỊCH SỬ 8 - 9 CẤP THCS (PHẦN 2)

đăng 18:04 28-03-2012 bởi Lê Phạm   [ đã cập nhật 18:06 28-03-2012 ]

THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG LỊCH SỬ 8 - 9 CẤP THCS ‎(PHẦN 2)‎


THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG LỊCH SỬ 8 - 9 CẤP THCS (PHẦN 1)

đăng 18:02 28-03-2012 bởi Lê Phạm

THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TRONG MÔN LỊCH SỬ 8 - 9 (PHẦN 1).pdf


KINH NGHIỆM VIẾT SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.pdf

đăng 08:33 06-12-2011 bởi Lê Phạm   [ đã cập nhật 05:26 31-12-2011 ]

KINH NGHIỆM VIẾT SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.pdf

1-10 of 10