Danh thắng Ninh Bình


TRANG CHỦ ĐĂNG NHẬP l  BAN 78  l THƯ ĐIỆN TỬ l LIÊN HỆ l  TÌM KIẾM l

 

HĐH Ninh Bình

Ninh bình qua ảnh

Khúc ca Ninh Bình

Tỉnh Ninh Bình

Tin tức, sự kiện

Văn hoá - văn nghệ

Danh thắng Ninh Bình

Tập ảnh Đất Việt

Du lịch

Làng Quảng

 

 

NHỮNG DI TÍCH VÀ DANH THẮNG NINH BÌNH

 

Ninh Bình là một tỉnh có đầy đủ các dạng địa hình đồi núi, đồng bằng, sông biển lại luôn đóng vai trò chiến lược về quân sự qua các thời đại do vậy mà địa danh này có rất nhiều di tích, danh thắng đặc sắc và quan trọng của quốc gia. Tính đến hết năm 2007 trên toàn tỉnh đã có 78 di tích và danh thắng được xếp hạng cấp quốc gia và 67 di tích được xếp hạng cấp tỉnh cùng 19 di tích khảo cổ học quan trọng được các nhà khoa học trong và ngoài nước hết sức chú ý.



I. NHỮNG DI TÍCH KHẢO CỔ HỌC (KCH) CHÍNH TRÊN ĐẤT NINH BÌNH.

1. Di tích KCH Núi Ba thuộc phường Bắc Sơn thị xã Tam Điệp là nơi xuất lộ những khối trầm tích cổ sinh cách ngày nay khoảng 300.000 năm cùng một số hang động có dấu ấn của cư dân Văn hóa Hòa Bình cách ngày nay trên dới 10.000 năm.

2. Di tích KCH Thung Lang thuộc phường Nam Sơn thị xã Tam Điệp tại đây đã tìm thấy răng ngời Homo Erectus cách đây khoảng 30.000 năm cùng một số dấu ấn cho thấy có sự xuất hiện của cư dân cách đây trên dới 10.000 năm.

3. Di tích KCH hang Đắng hay còn gọi là Động người Xa thuộc Vườn quốc gia Cúc Phương nơi đây là một di chỉ cư trú thuôc giai đoạn văn hóa KCH Hòa Bình cách ngày nay từ 7.000 đến 8.000 năm.

4. Di tích KCH hang Đáo thuộc xã Đông Sơn thị xã Tam Điệp nơi đây có tìm thấy những công cụ đồ đá của cư dân Văn hóa Hòa Bình

5. Di tích KCH hang Yên Ngựa thuộc núi Yên Ngựa phường Trung Sơn thị xã Tam Điệp, xuất lộ dấu ấn cư đân văn hóa Hòa Bình.

6. Di tích KCH động Mã Tiên xuất lộ tầng vỏ nhuyễn thể cùng công cụ cuội thuộc Văn hóa Hòa Bình.

7. Di tích KCH hang Bói thuộc khu hang động Tràng An nằm giáp gianh giữa hai xã Trường Yên và Gia Sinh của hai huyện Hoa L và Gia Viễn nơi đây có dấu ấn của cư dân cổ sống cách chúng ta ngày nay từ 5.000 năm đến 30.000 năm.

8. Di tích KCH hang Bụt thuộc xã Lạc Vân huyện nho Quan là địa điểm cư trú của con người cổ sống cách chúng ta ngày nay từ 2.000 đến 10.000 năm.

9. Di tích KCH hang Dẹ thuộc phường Nam Sơn thị xã Tam Điệp có dấu ấn của cư dân Văn hóa Hòa Bình ở giai đoạn sớm trên 10.000 năm.

10. Di tích KCH núi Hang Sáo xã Quang Sơn thị xã Tam Điệp với nhiều hang động và mái đá có dấu ấn của cư dân văn hóa Hòa Bình và cư dân văn hóa Đa Bút sống cách ngày nay từ 5.000 đến 10.000 năm.

11. Di tích Mái đá Thung Bình xã Gia Sinh huyện Gia Viễn xuất lộ dấu tích cư dân văn hóa Hòa Bình.

12. Cụm di tích KCH hang ốc; Núi ốp xã Yên Sơn thị xã Tam Điệp xuất lộ dấu ấn cư dân văn hóa Đa Bút và Cư dân văn hóa Đông Sơn.

13. Cụm di tích KCH hang Mo; hang Cò; hang Trâu; hang Hũ Ngoài; hang Hũ Trong; mái đá Thung Đình có dấu ấn cư dân văn hóa Hòa Bình và Đa Bút.

14. Di tích KCH hang Khỉ thuộc xã Đông Sơn thị xã Tam Điệp xuất lộ một số mảnh gốm cùng vỏ nhuyễn thể trên bề mặt các nhà khoa học cho rằng nơi đây có dấu ấn của cư dân văn hóa Đa Bút.

15. Di tích KCH Đồng Vườn thuộc thôn Thượng Phường xã Yên Thành huyện Yên Mô là một di chỉ thuộc thời đại văn hóa Đa Bút. Cho tới ngày nay đây là di chỉ cư trú ngoài trời duy nhất trên đất Ninh Bình.

16. Di tích KCH hang Chợ Ghềnh hay còn gọi là hang Núi Một thuộc phường Bắc Sơn thị xã Tam Điệp thuộc thời đại kim khí cách ngày nay từ 2.000 đến 3.000 năm.

17. Di tích KCH núi Hai thuộc phường Bắc Sơn thị xã Tam Điệp nơi đây xuất lộ rất nhiều gốm cùng xương động vật thuộc thời đại kim khí cách ngày nay khoảng 3.000 năm.

18. Di tích KCH Mán Bạc thuộc thôn Bạch Liên xã Yên Thành huyện Yên Mô là một làng của người cổ sống cách chúng ta ngày nay từ 3.000 đến 4.000 năm. Nơi đây con lưu giữ được nhiều di cốt của tiền nhân còn nguyên vẹn đợc các nhà nhân chủng học hết sức chú ý.

19. Di tích KCH mái đá Hang Chợ thuộc xã Ninh Hải huyện Hoa Lư có tầng văn hóa Hòa Bình cách chúng ta ngày nay trên 10.000 năm.

Ngoài những di tích KCH cụ thể kể trên trong địa bàn tỉnh Ninh Bình còn phát hiện rải rác rất nhiều cổ vật ở những giai đoạn lịch sử khác nhau phản ánh sự có mặt kế tục liên tiếp của tiền nhân trên dải đất này từ thở hồng hoang.

II. NHỮNG DI TÍCH VÀ DANH THẮNG ĐƯỢC XẾP HẠNG CẤP QUỐC GIA

1. Núi Non Nước - phường Thanh Bình - Thị xã Ninh Bình

2. Núi Cánh Diều - phường Bích Đào - Thị xã Ninh Bình

3. Chùa Đẩu Long - phường Tân Thành - Thị xã Ninh Bình

4. Động Thiên Tôn - thị trấn Thiên Tôn - huyện Hoa Lư

5. Khu vực núi đá Trường Yên và đền vua Đinh vua Lê (Cố đô Hoa Lư) - xã Trường Yên - huyện Hoa Lư

6. Hang Muối - xã Trường Yên - huyện Hoa Lư

7. Hang Quàn - xã Trường Yên - huyện Hoa Lư

8. Núi Chùa Am - xã Trường Yên - huyện Hoa Lư

9. Chùa Trung Trữ - xã Ninh Giang - huyện Hoa Lư

10. Đền Cả La Mai - xã Ninh Giang - huyện Hoa Lư

11. Chùa Phong Phú - xã Ninh Giang - huyện Hoa Lư

12. Đền Đông Hội - xã Ninh An - huyện Hoa Lư

13. Nhà thờ họ Đào - xã Ninh An - huyện Hoa Lư

14. Tam Cốc - xã Ninh Hải - huyện Hoa Lư

15. Đền Thái Vi - xã Ninh Hải - huyện Hoa Lư

16. Chùa và động Bích Động - xã Ninh Hải - huyện Hoa Lư

17. Đền Kê Thượng, Kê Hạ và Miếu Sơn - xã Ninh Vân - huyện Hoa Lư

18. Chùa và động Bàn Long - xã Ninh Xuân - huyện Hoa Lư

19. Chùa và động Hoa Sơn - xã Ninh Hoà - huyện Hoa Lư

20. Chùa A Nậu - phường Ninh Khánh - thị xã Ninh Bình

21. Đình Ngô Khê Hạ - xã Ninh Hoà - huyện Hoa Lư

22. Chùa Nhất Trụ - xã Trường Yên - huyện Hoa Lư

23. Động Am Tiên - xã Trường Yên - huyện Hoa Lư

24. Đình Yên Trạch - xã Trường Yên - huyện Hoa Lư

25. Chùa Ngần - xã Trường Yên - huyện Hoa Lư

26. Phủ Đông Vương - xã Trường Yên - huyện Hoa Lư

27. Phủ Kính Thiên - xã Trường Yên - huyện Hoa Lư

28. Đền thờ Thục Tiết công chúa - xã Trường Yên - huyện Hoa Lư

29. Bia Cửa Đông - xã Trường Yên - huyện Hoa Lư

30. Lăng vua Đinh và lăng vua Lê - xã Trường Yên - huyện Hoa Lư

31. Đền Thánh Nguyễn - xã Gia Tiến và Gia Thắng - huyện Gia Viễn

32. Chùa và động Địch Lộng - xã Gia Thanh - huyện Gia Viễn

33. Đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng - xã Gia Phương - huyện Gia Viễn

34. Động Hoa Lư - xã Gia Hưng - huyện Gia Viễn

35. Núi chùa Bái Đính - xã Gia Sinh - huyện Gia Viễn

36. Đình Trùng Hạ - xã Gia Tân - huyện Gia Viễn

37. Đình Trùng Thượng - xã Gia Tân - huyện Gia Viễn

38. Chùa Lỗi Sơn - xã Gia Phong - huyện Gia Viễn

39. Chùa Lạc Khoái - xã Gia Lạc - huyện Gia Viễn

40. Nhà thờ và mộ Nguyễn Bặc - xã Gia Phương - huyện Gia Viễn

41. Nhà thờ Đinh Huy Đạo - xã Gia Phong - huyện Gia Viễn

42. Khu vực núi Kiếm Lĩnh - xã Gia Tiến - huyện Gia Viễn

43. Đình Vân Thị - xã Gia Tân - huyện Gia Viễn

44. Những địa điểm lịch sử về khu căn cứ cách mạng Quỳnh Lưu: Vườn Hồ, Đồi Riềng, Đồi Son, cầu Riạ - xã Quỳnh Lưu - huyện Nho Quan.

45. Dốc Giang - xã Phú Long - huyện Nho Quan

46. Thung Lóng - xã Phú Long - huyện Nho Quan

47. Khu Trũng, Đồng Báng - xã Sơn Lai - huyện Nho Quan

48. Đền Sầy - xã Sơn Thành - huyện Nho Quan

49. Đình Mỹ Hạ - xã Gia Thuỷ - huyện Nho Quan

50. Đình ác - xã Sơn Thành - huyện Nho Quan

51. Hệ thống phòng tuyến Tam Điệp, Biện Sơn - phường Nam Sơn - thị xã Tam Điệp

52. Đền Năn - xã Yên Thắng - huyện Yên Mô

53. Đền Bình Hải - xã Yên Nhân - huyện Yên Mô

54. Mộ, nhà thờ Vũ Phạm Khải và đền họ Vũ - xã Yên Mạc - huyện Yên Mô

55. Đền thờ Ninh Tốn - xã Yên Mỹ - huyện Yên Mô

56. Đền, chùa Khương Dụ - xã Yên Phong - huyện Yên Mô

57. Đền Quảng Phúc - xã Yên Phong - huyện Yên Mô

58. Đền La - xã Yên Thành - huyện Yên Mô

59. Chùa Tháp - xã Khánh Thịnh - huyện Yên Mô

60. Đình Phù Sa - xã Yên Lâm - huyện Yên Mô

61. Đền Trung Lận Khê - xã Khánh Thượng - huyện Yên Mô

62. Đền thờ Thái Phó - Lê Niệm - xã Yên Mạc - huyện Yên Mô

63. Nhà thờ và mộ Vũ Duy Thanh - xã Khánh Hải - huyện Yên Khánh

64. Đền Văn Giáp - xã Khánh An - huyện Yên Khánh

65. Đền Thợng và chùa Phúc Long - xã Khánh Phú - huyện Yên Khánh

67. Đình thôn Đỗ - xã Khánh Nhạc - huyện Yên Khánh

68. Đền chùa thôn Năm - xã Khánh Tiên - huyện Yên Khánh

69. Chùa Dầu - xã Khánh Hoà - huyện Yên Khánh

70. Đền Kiến Ốc - xã Khánh Trung - huyện Yên Khánh

71. Đền Tiên Viên và chùa Kim Rong - xã khánh Lợi - huyện Yên Khánh

72. Chùa Phúc Nhạc - xã Khánh Nhạc - huyện Yên Khánh

73. Đền Tam Thánh và chùa Yên Lữ - xã Khánh An - huyện Yên Khánh

74. Đền thờ Nguyễn Công Trứ - xã Quang Thiện - huyện Kim Sơn

75. Nhà thờ đá Phát Diệm - xã Lưu Phương - huyện Kim Sơn

76. Đình Thượng Kiệm - xã Thượng Kiệm - huyện Kim Sơn

77. Đền Chất Thành - xã Chất Bình - huyện Kim Sơn

78. Đình Vân Thị- xã Gia Tân- huyện Gia Viễn


III. NHỮNG DI TÍCH ĐỢC XẾP HẠNG CẤP TỈNH

1. Đền Đôi - xã Khánh Thuỷ - huyện Yên Khánh

2. Đền Đông Bình Hoà - xã Khánh Hồng - huyện Yên Khánh

3. Đền Duyên Phúc - xã Khánh Hồng - huyện Yên Khánh

4. Đền và chùa thôm Tân - xã Khánh Hội - huyện Yên Khánh

5. Đền Quyết Trung - xã Khánh Trung - huyện Yên Khánh

6. Đền Thựõng Tịch Toàn - xã Khánh Thượng - huyện Yên Mô

7. Đình làng Nộn Khê - xã Yên Từ - huyện Yên Mô

8. Miếu Thủ Trung - xã Kim Chính - huyện Kim Sơn

9. Đền Trì Chính - xã Kim Chính - huyện Kim Sơn

10. Đình và chùa Giá Thượng - xã Gia Hoà - huyện Gia Viễn

11. Chùa Phúc Hưng và núi Hang Toàn - xã Gia Minh - huyện Gia Viễn

12. Đình Trai - xã Gia Hưng - huyện Gia Viễn

13. Chùa Hưng Quốc - xã Gia Hưng - huyện Gia Viễn

14. Chùa Linh Viên - xã Gia Hưng - huyện Gia Viễn

15. Đền làng Kho - xã Phú Lộc - huyện Nho Quan

16. Đền Thánh Tứ - xã Khánh Mậu - huyện Yên Khánh

17. Đền Lu Mỹ - xã Khánh Vân - huyện Yên Khánh

18. Đình Lôi Thanh - xã Khánh Thượng - huyện Yên Khánh

19. Đền Phụng Ban - xã Yên Hưng - huyện Yên Mô.

20. Đền Trung Thạch Lỗi – xã Khánh Dương - huyện Yên Mô

21. Nhà thờ Vũ Văn Kế - xã Như Hoà - huyện Kim Sơn

22. Đình Mống - xã Yên Quang - huyện Nho Quan

23. Đình Lá - xã Yên Quang - huyện Nho Quan

24. Đình Cam Giá - xã Ninh Khánh - thị xã Ninh Bình

25. Đền Đồng Bến - phường Đông Thành - thị xã Ninh Bình

26. Đền làng Yên Mô Càn - xã Yên Mạc - Yên Mô

27. Đền hành Khiển - xã Như Hoà - huyện Kim Sơn

28. Đình Đông Khê - xã Gia Trung - huyện Gia Viễn

29. Đình Tiên Tiến - xã Khánh Tiên - huyện Yên Khánh

30. Đền Thánh Cả và đền Đức ba - xã Khánh An - huyện Yên Khánh

31. Đình, đền, chùa Tập Ninh - xã Gia Vân - huyện Gia Viễn

32. Đền Thợng - xã Gia Phú - huyện Gia Viễn

33. Đền làng Đoan Bình - xã Gia Phú - huyện Gia Viễn

34. Đình Núi Thiện - xã Gia Tân - huyện Gia Viễn

35. Nhà thờ và mộ Bùi Thiện Tính - xã Khánh Cư - huyện Yên Khánh

36. Đền Đông Thổ Mật - xã Khánh Hồng - huyện Yên Khánh

37. Nhà thờ Đỗ Thế Diệu - xã Khánh Hồng - huyện Yên Khánh

38. Đền thôn Ba - xã Khánh Hồng - huyện Yên Khánh

39. Đền thôn Đồng - xã Khánh Nhạc - huyện Yên Khánh

40. Đền Ninh Thợng - xã Yên Thịnh - huyện Yên Mô

41. Đình Các - xã Ninh Hải - huyện Hoa Lư

42. Chùa Duy Khánh - xã Thanh Lạc - huyện Nho Quan

43. Đền, chùa Tuy Định - xã Định Hoá - huyện Kim Sơn

44. Đền làng Yên Thổ - xã Định Hoá - huyện Kim Sơn

45. Đền Lưu Phương - xã Lưu Phương - huyện Kim Sơn

46. Đình làng Bái Ngọc - xã Phú Lộc - huyện Nho Quan

47. Đền và chùa Me- thị trấn Me -huyện Gia Viễn

48. Đền Vò làng Lỗi Sơn- xã Gia Phong - huyện Gia Viễn

49. Đình làng Đồng Xuân-xã Gia Xuân- huyện Gia Viễn

50. Đền làng La Phù-xã Ninh Khang - huyện Hoa Lư

51. Đền làng Đa Giá- thị trấn Thiên Tôn- huyện Hoa Lư

52. Đình làng Yên Thành - xã Trường Yên- huyện Hoa Lư

53. Đình Sen thôn Hành Cung- xã Ninh Thắng- huyện Hoa Lư

54. Đền thôn Lê- xã Khánh Phú- huyện Yên Khánh

55. Đền thờ Phạm Văn Ngoạn - xã Khánh Cờng -huyện Yên Khánh

56. Đền thôn Phạm- xã Khánh Nhạc- huyện Yên Khánh

57. Nhà thờ Thiên Hộ Giản- xã Khánh Thiện-huyện Yên Khánh

58. Đình Thượng làng Yên Tế- xã Yên Đồng -huyện Yên Mô

59. Cụm di tích Đền Vua Đôi thôn Cổ Đà - xã Yên Phú- huyện Yên Mô

60. Đền và chùa Hoàng Kim -xã Yên Phong - huyện Yên Mô

61. Đền Vân Mộng- xã Yên Phong- huyện Yên Mô

62. Đình làng Trinh Nữ- xã Yên Hòa- huyện Yên Mô

63. Chùa Hang làng Phượng Trì - xã Yên Mạc - huyện Yên Mô

64. Miếu Tuần Lễ -xã Như Hòa- huyện Kim Sơn

65. Đền Như Độ -xã Như Hòa- huyện Kim Sơn

66. Đền Hoàng Kim thôn Thủ Trung- xã Kim Chính- huyện Kim Sơn

67. Đền thờ Quý Minh Đại Vương và hang Đền- xã Ninh Nhất- thị xã Ninh Bình.

 

___________

 

 

Bái Đính - ngôi chùa lớn nhất Việt Nam

 

 Tại vùng đồi núi thôn Sinh Dược, xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình tọa lạc chùa Bái Đính – Ngôi chùa lớn nhất Việt Nam, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành cơ bản để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa L­ư ra Thăng Long (1010 - 2010).

Diện tích khu chùa Bái Đính rất rộng, gồm 700 ha. Hiện đã và đang hoàn thiện một số công trình chính trong giai đoạn I, mới sử dụng 50 ha, gồm:

 

1. Tam Quan Nội: Xây dựng toàn bằng gỗ tứ thiết, kiến trúc theo kiểu lộng tàn, chồng giường, tiền bẩy, hậu bẩy, xà nách, cao tới đỉnh 16,5 m, có chiều dài 32 m, rộng 13,5 m. Điều độc đáo là có 4 cột cái bằng gỗ tứ thiết, mỗi cột cao 13,85 m, đường kính 0,85 m, nặng khoảng 10 tấn. Tam quan có 3 tầng mái uốn cong ở bốn phía, lợp bằng ngói men ống Bát Tràng màu nâu sẫm. Đây là một Tam quan lớn, đồ sộ, đều dựng bằng gỗ, chư­a từng thấy ở đâu trên đất n­ước ta. Trong Tam Quan đặt 10 tượng Hộ pháp bằng đồng, có hai tượng lớn, mỗi t­ượng cao 5,5 m, nặng 12 tấn.

 

2. Tháp chuông: Tháp chuông đ­ược xây dựng bằng bê tông cốt thép giả gỗ, kiến trúc theo kiểu tháp chuông cổ, hình bát giác, cao 22 m. Đ­ường kính trong tháp là 17 m, tính phủ bì đến chân đế đ­ường kính là 49 m. Tháp chuông cao 3 tầng, có 3 tầng mái cong, gồm 24 mái với 24 mái đao cong vút lên. Tháp chuông treo một quả chuông nặng 36 tấn đúc tại Huế. Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã cấp bằng “Xác nhận kỷ lục”: “Đại hội đồng chuông lớn nhất Việt Nam (Phá kỷ lục Việt Nam)” , ngày 12 tháng 12 năm 2007.

 

3. Điện Quan Thế Âm Bồ Tát: Xây dựng toàn bằng gỗ tứ thiết, 100% kiến trúc bằng gỗ. Điện cao 14,8 m, dài 41,8 m, rộng 17,4 m, gồm 7 gian. Gian giữa của điện, trên bệ cao, đặt t­ượng Quan Thế Âm Bồ Tát, có gần 1.000 mắt và 1.000 tay, đúc bằng đồng, nặng 80 tấn, cao 9,57 m. Đây cũng là một pho t­ợng Quan Thế Âm Bồ Tát bằng đồng lớn nhất ở Việt Nam.

 

4. Chùa Pháp Chủ: Xây dựng toàn  bằng bê tông cốt thép giả gỗ rất đồ sộ, hoành tráng, cao 30 m, chiều dài 47,6 m, chiều rộng 43,3 m, gồm 2 tầng mái cong. Điện có 5 gian, gian giữa rất rộng dài đến 13,5 m, 4 gian hai bên, mỗi gian dài 8 m. Điều đặc biệt ở chùa Pháp chủ là ở gian giữa trên bệ cao, đặt một pho t­ượng lớn bằng đồng nguyên khối, cao 10 m, nặng 100 tấn. Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam cấp bằng “Xác nhận kỷ lục”: “Pho tượng Phật Thích Ca bằng đồng cao và nặng nhất Việt Nam” ngày 4 tháng 5 năm 2006. Trong điện treo 3 bức hoành phi và 3 cửa võng. Đây là bức hoành phi và cửa võng lớn nhất Việt Nam, mới chỉ có ở chùa Bái Đính.

Đặc biệt là ở gian giữa điện còn đặt một sập thờ bằng gỗ, có chiều dài 8,7m, rộng 4,7 m, cao 0,8 m, theo kiểu chân quỳ dạ cá, chạm khắc kênh bong, thông phong nhiều lớp. Đây cũng là một sập thờ bằng gỗ lớn nhất, đ­ược chạm khắc tinh vi và đẹp nhất ở n­ước ta.

 

5. Điện Tam Thế: Tọa lạc ở trên đồi cao, so với mặt n­ước biển là 76 m. Đây là một toà rất cao, rộng, đồ sộ, hoành tráng nhất ở khu chùa Bái Đính. Tòa kiêu hãnh nằm trên đồi cao nhất vùng, cao tới 34 m, dài 59,1 m, rộng hơn 40 m, diện tích trong nhà khoảng 3.000 m2. Trong điện Tam Thế cũng treo 3 bức hoành phi và 3 cửa võng lớn và đặt 3 pho t­ượng Tam Thế bằng đồng nguyên khối, mỗi tượng cao 7,2 m, nặng 50 tấn. Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã cấp bằng “Xác nhận kỷ lục”: “Ngôi chùa có bộ t­ượng Tam Thế bằng đồng lớn nhất Việt Nam”, ngày 12 tháng 12 năm 2007.

 

6. Hành lang La Hán: gồm 234 gian, ở hai phía Đông Tây, có chiều dài 1.052 m. Trong các gian nhà hành lang đó đặt 500 t­ượng La Hán bằng đá nguyên khối to, mỗi tượng cao 2,4 m, nặng khoảng 4 tấn, do bàn tay các nghệ nhân làng nghề đá xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình chế tác. Ở Việt Nam ch­ưa có một ngôi chùa nào có nhiều tượng La Hán bằng đá như ở chùa Bái Đính.

 

7. Giếng Ngọc: Giếng Ngọc mới đ­ược xây dựng lại ở chỗ giếng Ngọc nhỏ thời xa x­a đã có cách đây gần 1.000 năm.  Đó là giếng Ngọc của chùa Bái Đính cũ nằm gần chân núi Bái  Đính mà cách đây gần 1.000 năm Thiền sư Nguyễn Minh Không đã lấy n­ước để sắc thuốc chữa bệnh cho dân và chữa bệnh cho Thái tử Dương Hoán. Giếng xây lại hình mặt nguyệt, rất rộng, có đư­ờng kính 30 m, độ sâu của n­ước là 6 m, không bao giờ cạn n­ước. Miệng giếng xây lan can đá. Khu đất xung quanh giếng hình vuông, có diện tích 6.000 m2 , 4 góc là 4 lầu bát giác. Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã cấp bằng “Xác nhận kỷ lục”: “Ngôi chùa có giếng lớn nhất Việt Nam”, ngày 12 tháng 12 năm 2007.

Trong giai đoạn I, nằm trên diện tích 50 ha, khu chùa Bái Đính đã và đang hoàn thiện các công trình trên. Đến giai đoạn II, khu chùa Bái Đính mở rộng hết diện tích 700 ha, sẽ xây dựng thêm các công trình: Tháp Bồ Đề 9 tầng, khu thờ Mẫu, khu thờ Tổ, khu tháp mộ sư, khu nhà tăng thiền viện, khu nhà khách, khu bảo tàng Phật giáo Việt Nam, …

Xây dựng khu chùa Bái Đính (cả cũ và mới) do ông Nguyễn Văn Trường, quê ở xã Tr­ường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, làm giám đốc Doanh nghiệp xây dựng Xuân Tr­ường đảm nhiệm. Doanh nghiệp đã có 20 năm kinh nghiệm trong kinh doanh, ngành nghề chủ yếu là xây dựng các công trình giao thông thuỷ lợi và đầu t­ư du lịch với 1.400 cán bộ và công nhân viên lao động.

Có thể nói, khu chùa Bái Đính sắp tới đây sẽ hoàn chỉnh là một chùa có quy mô hoành tráng, to lớn, đầy đủ và đẹp đẽ nhất từ trước cho đến nay ở đất nước ta. Chùa Bái Đính sẽ trở thành Khu Văn hoá tâm linh được xác lập nhiều nhất những kỷ lục Việt Nam và khu vực. Đây sẽ là điểm đến rộng lớn hấp dẫn nhất của rất nhiều du khách trong và ngoài n­ước.

Lã Đăng Bật

 ___________

 

 

Bạn đã biết về Bái Đính

 

Từ lâu nhiều người đã nghe nói về Bái Đính thuộc xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, nơi có chùa Bái Đính từ nghìn năm trước trên đỉnh núi, một di tích thuộc khu căn cứ cách mạng Quỳnh Lưu trước năm 1945 và là nơi đã chuẩn bị xây dựng KCN hoá chất trong những năm 70 của thế kỷ 20.

Nhưng đặc biệt “tiếng lành đồn xa” là từ khi triển khai dự án xây dựng chùa Bái Đính mới trong quần thể khu du lịch sinh thái Tràng An với những công trình có quy mô lớn, đồ sộ, hoành tráng, hiện đại nhất trong các ngôi chùa ở Việt Nam.

 

Vì sao ngôi chùa lớn nhất Việt Nam lại được xây dựng tại Bái Đính? Giá trị kiến trúc, lịch sử và ý nghĩa tâm linh của các công trình được tôn tạo và xây dựng tại khu chùa Bái Đính thế nào? Vì sao chùa Bái Đính lại nhanh chóng nổi danh đến như vậy? Cuốn sách “Bái Đính ngàn năm tâm linh và huyền thoại” của Trương Đình Tưởng, do NXB Thế giới (Hà Nội) vừa mới xuất bản có thể giúp ta hiểu sâu về các vấn đề này.

 

Như lời mở đầu cuốn sách tác giả đã viết “Trong đời sống con người, ngoài mặt hiện hữu còn có mặt “phi hiện hữu” mà người ta gọi là tâm linh... Mặt hiện hữu cuốn sách đề cập khá toàn diện, cụ thể, tỷ mỷ về vị trí địa lý, địa hình, địa danh, cảnh quan thiên nhiên, các con đường đến Bái Đính, các động, chùa, đền, giếng đã có từ nghìn năm ở núi Bái Đính được gọi chung là “Bái Đính cổ tự” và khu chùa Bái Đính mới lớn nhất Việt Nam với nhiều kỷ lục nhất quốc gia được gọi là “Bái Đính tân tự”...

 

Về mặt tâm linh, tác giả đã “thử tìm hiểu” đi sâu phân tích về phong thuỷ theo quan niệm dân gian cổ truyền, thể hiện Bái Đính là nơi “đắc địa”, nằm ở thế “tả thanh long, hữu bạch hổ”, “tiền thuỷ hậu sơn” được mô hình hoá trong cuốn sách. Để nói về Bái Đính ngàn năm tâm linh, cuốn sách đã dành hẳn mục I của chương II giới thiệu về Nguyễn Minh Không, quốc sư triều Lý, ông tổ khai sinh ra Sinh Dược về “Bái Đính cổ tự” trên đỉnh núi; giới thiệu về thân thế, sự nghiệp, tài năng, đức độ của ông, những di tích, dấu tích của ông, những huyền thoại về ông gắn với Bái Đính, với quê hương Điềm Giang của ông và trong vùng, với dân, với nước.

 

Với vùng đất “địa linh nhân kiệt”, cuốn sách đã cho thấy: Từ thời xa xưa núi Bái Đính đã là nơi diễn xướng, lễ bái lớn trên đỉnh núi. Sau khi đánh dẹp 12 sứ quân, Đinh Tiên Hoàng đã cho lập đàn tràng để phong lễ, phong hầu bái tướng, phong chức tước cho các bá quan văn võ. Các vua sau này như Lê Lợi, Quang Trung đều lấy núi Bái Đính làm nơi tế trời, tế thần trước khi xuất chinh điếu phạt giặc xâm lăng. Bái Đính cũng là địa bàn chiến lược tranh chấp quyết liệt giữa 2 tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh với nhà Mạc. Vua Lê Thánh Tông đã đến Bái Đính, đề tặng trên đỉnh núi 4 chữ “Minh đỉnh danh lam” và bài thơ tứ tuyệt có câu “Nhân kiệt địa linh chung vượng khí”…

 

Tác giả đã dành hẳn mục I của chương III viết “Đôi nét về đạo Phật và Phật giáo Việt Nam qua các thời”. Nó là đôi nét, tuy ngắn gọn trên 5 trang nhưng với cách viết phổ quát đã cung cấp rất nhiều kiến trúc chùa chiền, nhiều bậc Đại danh sư, trụ trì, vừa lo việc đạo vừa khuông phò vua lo việc nước.

 

Trong không gian “Hoa Lư tứ trấn” kể từ thời Đinh, Lê đến thời Lý Trần trên dải đất Cố đô và vùng phụ cận dày đặc các đền chùa miếu mạo thờ Phật - Thần - Tiên như Động Thiên Tôn, Chùa Bà Ngô, chùa Nhất Trụ, cùa Đại Vân, chùa Vạn Tuế, chùa Kim Ngưu, chùa Phong Phú, chùa A Nậu, chùa Bàn Long, chùa Hoa Sơn, Miếu An Tiêm, Viên Quang Tự... và nhiều đền, chùa khác nữa mà có lẽ không ít người mới chỉ có thể biết qua cuốn sách này.

 

Mỗi đền chùa đều được giới thiệu khái quát nhưng đủ để biết được địa điểm ở đâu, thờ ai, kiến trúc và ý nghĩa tâm linh, tôn giáo. Từ đó đi đến nhận định “Như vậy chùa Bái Đính cổ là đỉnh cao của diễn xướng lễ hội tâm linh dân dã trong vùng từ ngàn xưa... Nay chùa Bái Đính mới được xây dựng càng làm cho Bái Đính tưng bừng và phong phú thêm các diễn xướng lễ hội và tâm linh vốn đã có hàng nghìn năm nay trên dải đất “long chầu hổ phục này”.

 

Càng thêm phong phú cho cuốn sách khi tác giả tập trung giới thiệu về các huyền thoại của vùng núi Bái Đính từ thời Hùng Vương dựng nước đến nay, trong đó nhiều huyền thoại, huyền tích về Đức Thánh Nguyễn như “Ông Khổng lồ gánh núi”, “Sự tích Đồi Ba Rau, Đống củi, Xó bếp”, “Sự tích bàn cờ, ô thuốc”, “Ông khổng lồ bắt lươn”... Mỗi huyền thoại, sự tích đều được trình bày cô đọng nhưng ly kỳ cả về lịch sử và tâm linh càng làm tôn thêm vùng đất thiêng và giá trị hiện thực, tâm linh của Bái Đính.

 

Đúng như tác giả đã có đề cập, có thể có những vấn đề đã viết trong cuốn sách này cần phải tìm hiểu, khảo cứu, trao đổi thêm, nhưng thật sự cuốn sách đã cung cấp cho ta nhiều tư liệu, những thông tin quý giá mà có thể nhiều người chưa biết. Đọc xong cuốn sách này chắc rằng mọi người có thể hiểu đầy đủ, cụ thể, sâu sắc hơn và càng mong muốn sớm có chuyến về thăm khu trung tâm tâm linh Phật giáo Bái Đính. Những ai trước khi về thăm Bái Đính được đọc cuốn sách này chắc hẳn sẽ nâng hiệu quả chuyến tham quan lên gấp nhiều lần cho dù đã được các hướng dẫn viên nhiệt tình giới thiệu.

 

Thanh Túc

 

 

 

Lập quy hoạch chung xây dựng khu Du lịch Tràng An, tỉnh Ninh Bình

(Chinhphu.vn) – Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã giao Bộ Xây dựng phối hợp với UBND tỉnh Ninh Bình và các cơ quan liên quan triển khai lập quy hoạch chung xây dựng Khu Du lịch Tràng An, trình Thủ tướng Chính phủ trước ngày 25/5/2009.

Phó Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành, trong quá trình triển khai lập quy hoạch cần lưu ý phân tích rõ lợi ích, thiệt hại của 3 phương án đối với các nhà máy xi măng gây ảnh hưởng tới môi trường du lịch Tràng An là: giữ nguyên hiện trạng các nhà máy xi măng, khu vực khai thác nguyên liệu để sản xuất xi măng (300 ha núi đá vôi); giữ nguyên hiện trạng các nhà máy sản xuất xi măng nhưng thay đổi khu vực khai thác nguyên liệu sản xuất; di dời một hoặc toàn bộ các nhà máy sản xuất xi măng và thay đổi khu vực khai thác nguyên liệu để không ảnh hưởng tới các di tích lịch sử trong Khu Du lịch Tràng An theo quy hoạch được điều chỉnh.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Bộ Xây dựng trong việc lập quy hoạch để thể hiện rõ các yếu tố về văn hóa, di sản văn hóa, du lịch; nghiêm túc rút kinh nghiệm về việc không báo cáo kịp thời các vấn đề nảy sinh khi được giao nhiệm vụ lập quy hoạch điều chỉnh Khu Du lịch Tràng An.

Bộ Xây dựng đã có Công văn số 349/BXD-KTQH gửi Thủ tướng Chính phủ đề xuất lập quy hoạch chung xây dựng khu du lịch Tràng An (Ninh Bình).  Cụ thể, phạm vi nghiên cứu khoảng 12.000ha, trong đó thống nhất quản lý, bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử đã có trên địa bàn nhưng nằm riêng lẻ, manh mún như Cố đô Hoa Lư, núi chùa Bái Đính, Khu Tam Cốc-Bích Động và khu hang động Tràng An; đồng thời thống nhất quy hoạch đầu tư xây dựng và khai thác du lịch phù hợp với tính chất đặc biệt của Khu du lịch Tràng An.

Ngọc Hà