TỰ HÀO CÓ MỘT TỔ QUỐC VIỆT NAM

 

Rất vui và tự hào là một người Việt Nam, có một Tổ quốc Việt Nam như hôm nay. Chúng ta đã thực hiện được tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đất nước liền một dải, mọi người chung sức xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như mong ước của Người.

Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 là một trong những sự kiện lớn trong lịch sử có tầm quan trọng sâu sắc và lâu dài, càng trở nên lớn hơn, nổi bật hơn với thời gian. Chúng ta có thể nói như vậy, bởi vì nó mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam, gắn liền với xu thế phát triển của nhân loại. Để chuẩn bị cho sự ra đời của sự kiện có một không hai này, khắm nơi từ thành thị đến nông thôn đã diễn ra nhiều cuộc khởpi nghĩa của nhân dân dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam mà người dẫn dắt tài tình là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ở vùng cực nam Tổ quốc, suốt mười lăm năm đấu tranh cách mạng trên Đất Mũi thân yêu, Đảng bộ được trưởng thành lớn mạnh trên cơ sở xây dựng được tổ chức Đảng trong phong trào cách mạng của quần chúng. Ngay từ khi mới thành lập, các chi bộ đảng đã bám chặt vào phong trào quần chúng mà chọn lọc những người tiêu biểu đưa vào đội ngũ Đảng làm hạt nhân cho phong trào, từ đó nơi nào có tổ chức Đảng thì nơi đó có phong trào phát triển. Qua mười lăm năm, ở phần lớn các xã, thị trấn, thị xã trong tỉnh đều thành lập được cấp ủy Đảng để thống nhất sự lãnh đạo tập trung của mình.

Qua phong trào cách mạng của quần chúng, Đảng bộ đã đào tạo được đội ngũ đang viên trung kiên, có phẩm chất và năng lực, có kinh nghiệm và dũng cãm. Điều đó đã được chứng minh qua việc nhiều đồng chí đảng viên đã làm rạng rỡ uy tín của Đảng bộ và tên tuổi của quê hương. Tiêu biểu là trong cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai (1940), nhiều đồng chí đã hy sinh anh dũng trước họng súng của quân thù cũng như trong nhà tù đế quốc. Cà Mau cùng cả nước thực hgiện thành công cuộc cách mạng vĩ đại đưa dân tộc bước vào kỷ nguyên mới – cách mạng tháng 8 năm 1945.

Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại quảng trường Ba Đình ngày đó là văn bản pháp lý quan trọng đầu tiên khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, khẳng định quyền tự do độc lập của nhân dân ta trước toàn thế giới.

Song song với sự kiện này thì vùng đất cực nam đã có một đổi thay lớn đó là ngày 25 tháng 8 năm 1945, Ủy ban Nhân dân tỉnh Bạc Liêu do bác sĩ Nguyễn Tú Vinh làm chủ tịch và đồng chí Lê Khắc Xương, chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh, làm phó chủ tịch, đã tổ chức mít tinh tại sân vận động thị xã Bạc Liêu để ra mắt đồng bào. Gần một vạn đồng bào các giới, các đoàn thể công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ cứu quốc và trí thức với nét mặt rạng rỡ, tự hào xếp thành hàng ngũ chỉnh tề dưới rừng cờ, băng khẩu hiệu. Trong nghi thức trang nghiêm, đồng chí Lê Khắc Xương thay mặt Ủy ban Mặt trận Việt Minh tuyên bố xóa bỏ chế độ thực dân phong kiến trong toàn tỉnh, thành lập chính thể cộng hòa dân chủ, chính thể mà trong đó quyền lợi của quốc dân, của nhân dân lao động các dân tộc là trên hết. Đồng chí kêu gọi toàn dân đoàn kết xung quanh chín quyền cách mạng và Mặt trận Việt Minh để bảo vệ những thành quả cách mạng vừa giành được, ra sức xây dựng cuộc sống mới ấm no và hạnh phúc….

Mọi người còn nhớ sau khi đọc Tuyên ngôn Độc lập không bao lâu, Hồ Chủ tịch ra lời hiệu triệu toàn dân đánh thực dân Pháp, và cuộc kháng chiến kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy. Thế rồi Mỹ thế chân Pháp ở miền Nam, phá hoại việc thi hành hiệp định Giơnevơ. Với tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Hồ Chủ tịch, nhân dân ta đã đứng lên kiên trì cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vô cùng gian khổ và ác liệt. Hai mươi năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước anh dũng, kiên cường của nhân dân Cà Mau với cả nước đã kết thúc với cuộc tổng tiến công và nổi dậy đại thắng trong mùa xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam thân yêu, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. Thắng lợi này mãi mãi được ghi vào sử sách như một chiến công vĩ đại nhất trong lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam, đồng thời là một đòn đánh mạnh vào chủ nghĩa đế quốc, mở ra triển vọng tốt đẹp cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân thế giới đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Từ đây nước Việt Nam ta non sông một dải, cách mạng ở nước ta bước vào một giai đọan mới: định hướng XHCN, nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Từ khi tiến hành đổi mới, nền kinh tế thị trường nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước ra đời, Nhà nước ta luôn tiến hành hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với điều kiện mới: Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam vững mạnh.

Sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước đang diễn ra trong điều kiện trong nước và quan hệ quốc tế thuận lợi cho sự phát triển mà sự kiện tất cả các nước trong tổ chức thương m,ại WTO đã ký vào văn bản đồng thuận cho Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức này đã nói lên tất cả những thành công, những uy tín của việt Nam trên trường quốc tế. Đồng thời đất nước cũng đứng trước những thách thức lớn với những nguy cơ, mà nguy cơ tụt hậu về kinh tế, công nghệ so với các nước xung quanh là nguy cơ lớn nhất.

Qua thực tiễn cách mạng Việt Nam, cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, dẫn đến việc thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mãi mãi là một mốc son chói lọi, mở đầu một thời đại mới - Thời đại Hồ Chí Minh quang vinh, trên con đường tiến lên của dân tộc ta. Tất cả những điều kỳ diệu này bắt nguồn từ tư tưởng thiên tài Hồ Chí Minh, và từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam - người lãnh đạo, tổ chức mọi thắng lợi của nhân dân Việt Nam.

 

ĐÀO MINH TUẤN

___________________________________________________

 

HUẾ VÀ MÙA XUÂN TRONG TÔI

 

“Răng mà anh bỏ Huế mà đi đành đoạn như rứa !” Chao ôi, câu nói đậm chất ân tình của người thương ngày xưa đã đưa tôi - một đứa con bỏ Huế mà đi hơn hai mươi năm về lại với dòng sông Hương trầm mặc, về lại với núi Ngự Bình uy nghi, về lại với những thành quách vang bóng một thời…Tôi về với Huế những ngày xuân…

 

Hơn hai mươi năm trước vì cuộc mưu sinh, hơn hai mươi năm trước vì mộng lập thân…tôi xa Huế. Hai mươi năm sau, một câu nhắn gởi của người thương tôi quẳng hết sự đời để về với Huế những ngày xuân.

Về với Huế là về với di sản văn hóa, là về với hệ thống di tích cố đô mà  UNESCO đã công nhận là di sản văn hóa thế giới. Vâng ! qua hàng trăm năm tồn tại trong môi trường khí hậu khắc nghiệt, bão lụt thường xuyên xảy ra, nhiều thời kỳ đất nước có chiến tranh ác liệt kéo dài, di tích cố đô có lúc bị tàn phá nặng nề một số công trình đã trở thành phế tích, nhưng nhìn tổng thể ta có thể cảm nhận đây là một hệ thống kiến trúc cung đình có quy mô lớn nhất, còn lại duy nhất của Việt Nam với hơn 1000 đơn vị công trình và hàng vạn cổ vật cung đình, tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc cung đình tinh tế của Việt Nam. Còn gì bằng khi cùng người thương của những ngày xưa đi bên những thành quách củ mà nhắc đến những chuyện của ngày xưa…ngày mà hai đứa còn đỏ mặt mỗi khi gặp nhau, mỗi khi nghỉ về nhau…

Về với Huế là về để bắt gặp những kiến trúc kinh thành, cung điện ở Huế. Không to lớn choáng ngợp mà khô khan như kiến trúc của một số kinh đô khác. Ngược lại chúng ta sẽ bắt gặp một hình thái kiến trúc tinh tế, các công trình kiến trúc gắn bó với cảnh quan sông núi hữu tình, chứa đựng những đường nét trang trí chạm khắc nhỏ nhắn tinh xảo – như cô gái Huế mà bạn đang đi cùng… Nhiều người lấy làm thú vị khi được biết vùng đất xây dựng nên kinh thành Huế nguyên là một mặt bằng được sắp đặt lại bởi công sức lao động của hàng vạn dân binh. Nhớ lại những ngày xưa, khi Vua còn trị vì thì bằng một nguồn nhân lực rất lớn. Cụ thể dưới thời vua Gia Long, người ta điều chỉnh lại vùng đất “vương đảo” Phú Xuân, lấp dòng Kim Long cũ, đào mới một loạt các sông Ngự Hà, Đông Ba, An Hòa, Bạch Yến để tạo ra một thế đất cân đối bên dòng sông Hương, đối diện với tiền án núi Ngự, hai bên là Cồn Hến và cồn Giả Viên hữu Bạch Hổ, trong một thế hài hòa tự nhiên đến nỗi ít người nhận ra được quá trình con người đã xẻ đất, lấp sông có thể đây cũng là lời nguyền nên những người yêu ở Huế thường phải chia lìa nhau vì chẳng là gì cả ! Ngày xưa người đã xẽ sông ngăn núi mà ! Tôi và em chẳng gặp được nhau có phải vì lời nguyền này không ?

Nằm ở vị trí trung tâm, kinh thành Huế với hai hệ thống Thành nội, Đại nội là một mẫu mực của kiến trúc cân đối. Đại nội với Hoàng thành. Tử Cấm thành và hàng trăm công trình kiến trúc tinh xảo, sơn son thếp vàng, bố trí cân xứng thể hiện nghiêm ngặt trật tự lễ nghi và uy thế chốn cung đình. Thành nội Huế với Kỳ đài vững chãi, uy nghi, với 10 cổng thành đối xứng, với hệ thống các dinh thự Lục Bộ, Cơ Mật viện, Quốc Tử Giám, Tàng Thư lâu… phản ánh bộ mặt sinh hoạt chính trị và văn hóa của chốn kinh kỳ một thời.

Phong cách kiến trúc tạo cảnh tinh tế của cung đình Huế còn đạt đến sự hài hòa tuyệt mỹ ở một số lăng tẩm nằm ẩn mình trong vùng đồi núi ven hai bờ sông Hương, ở phía Tây Nam kinh thành. Mỗi lăng vua là một phong cách kiến trúc riêng, thể hiện một phần những yếu tố triết lý, tâm linh và giá trị thẩm mỹ riêng biệt. Và bao trùm lên tất cả là lăng vua Nguyễn không gợi lên cảm xúc đau buồn về cái chết, ngược lại mỗi lăng vua là một chốn thanh nhã để con ngưòi dạo chơi, ngắm nhìn và suy tưởng.

Huế còn nhiều – rất nhiều danh thắng để cho ta thưởng ngoạn và về với Huế không thể không nhắc đến, nhớ đến những cô gái ngiêng nghiêng vành nón với mái tóc thề óng mượt và nhất là tiếng “dạ” nghe mà ngọt lịm cả tâm hồn. Huế của ngày xưa là thế, Huế của ngày nay vẫn thế vẫn dịu dàng, vẫn xưa cổ, vẫn trầm mặc, vẫn u hoài…và vẫn rất Huế.

 

ĐÀO MINH TUẤN

 ________________________________________

 

LẮC- MỘT VÙNG ĐẤT HUYỀN THOẠI

 

Nếu đi đường bộ từ Đà lạt rẽ ngược sang hướng Nam theo quốc lộ 27, trên con đường còn gập ghềnh du khách đã hưởng được cảm giác như giữa chốn núi rừng. Vượt qua 120 km đến một thung lũng bao la ở độ cao chỉ chừng 250 km so với mực nước biển. Non nước hữu tình, đất trời hào phóng… Lak một vùng đất huyền thoại…

Truyền thuyết của người M’ nông kể rằng : “.. Có một  thuở lâu lắm rồi đã xảy ra cuộc chiến quyết liệt giữa thần nước và thần lửa, kéo dài nhiều mùa rẫy. Sau khi thần lửa chiến thắng, buôn làng của những người M’nông chìm trong một cuộc đại hạn chưa từng có, kéo dài nhiều năm, người chết khô thây đầy đường, tiếng kêu gào ai oán dậy trời. Thế rồi một chàng trai M’nông được sinh ra trong rừng ở phía thượng nguồn, từ một cuộc tình vụng trộm giữa một sơn nữ M’nông với thần lửa, quyết chuộc tội cho mẹ bằng cách ra đi tìm nguồn nước cứu dân làng. Sau nhiều ngày đêm vượt qua nhiều núi non hiểm trở đầy thú dữ, một lần khi ngồi nghỉ chàng chợt thấy một chú lươn nhỏ nằm kẹt trong khe đá chờ chết khô. Sau khi chàng trai cứu lươn thoát nạn đi, dẫn chàng theo cho đến khi gặp một hồ nước mênh mông, đó là hồ Lak và  vùng Lak ngày nay (Lak- tiếng M’nông có nghĩa là nước)..”

Lắc -vùng đất huyền thoại đã làm say lòng không biết bao nhiêu du khách. Lắc còn được biết như là một vùng văn hóa đặc sắc với cây đàn đá cổ truyền của đồng bào Tây Nguyên. Bộ đàn đá cổ được tìm thấy đầu tiên ở Việt Nam do nhà dân tộc học người Pháp Condominas  phát hiện ở làng Ndúc Liêng Cơ-ran Lắc ngày 5-2-1949 được công bố ngày 21-6-1950 ở Paris. Hiện nay, bộ đàn đá được lưu giữ ở bảo tàng Louvre (Pháp).

Về bên hồ Lắc, bạn nghe kể chuyện xưa, du thuyền độc mộc trên hồ, hay đủng đỉnh cưỡi voi dạo quanh hồ, rồi một hòm ché rượu cần, nghe các chàng trai cô gái múa hát, người già kể khan, ăn cơm dẻo thơm, thưởng thức món chả cá đặc sản, món ốc hấp gừng cay thật thú vị. Nếu có thêm âm thanh của đàn đá chắc có lẽ vùng đất huyền thoại này càng trở nên kỳ ảo.

Lắc- quê hương của những  “đinh puốc pá”, các điệu múa “công tua” trữ tình, các điệu khan, các bài “tăm pớt”, quê hương của những câu chuyện cổ và nhiều truyền thuyết, huyền thoại của cư dân bản địa. Rừng mai vàng  ở Lắc được nhiều người biết một thời đẹp đến ngút mắt; những buôn làng tựa dáng hình cổ tích. Hồ Lắc non xanh nước biếc làm xao động bao lứa đôi, bao nghệ sĩ, nhà thơ, nhạc sĩ. Cùng với biệt thự tuổi hơn nửa thế kỷ trên đồi đất cao. Điểm du lịch buôn Giun, rồi căn cứ cách mạng Đắc Phơi, những nét văn hóa truyền thống của cư dân Ê Đê, Mơ Nông đã thu hút ngày càng đông du khách.

Chúng tôi ngược lên phía thượng nguồn. Chiếc xuồng độc mộc len lỏi vào những đầm lau sậy um tùm và hoang sơ. Từ chỗ này đã nghe được tiếng chim thú vọng ra xen với tiếng suối chảy mỗi lúc một gần. H’ Dét bảo có nhiều bãi đầm lầy như thế này ở những điểm thượng nguồn (nơi nhiều suối đổ dồn vào hồ Lak). Và bao giờ các đầm này cũng là nơi chim thú tập trung về uống nước và tắm, đẫm. Giữa hồ nước mênh mông, ngược tầm mắt sang phía đông là rừng Nam Ca ngút ngàn, dõi lên phía đông bắc là hình chữ Yang Sing hùng vĩ. Đó là những vùng rừng còn nguyên sơ nhất ở Tây Nguyên, một cái kho đa dạng sinh học với nhiều bí  ẩn về hệ động thực vật. Đưa mắt sang phía Tây Bắc dễ dàng nhìn thấy một ngọn núi từ lòng hồ đội lên cao vút. Trên đỉnh ngọn núi kia là một ngôi biệt thự hoang tàn nằm thách thức gió mưa mà trước đây cựu hòang Bảo Đại xây lên để thưởng ngoạn và dừng chân sau mỗi chuyến đi săn.

Bảo Đại đã chọn nơi đây là điểm săn bắt số một ở Tây Nguyên cũng dễ hiểu vì theo lời các già làng M’nông kể lại thì vùng hồ Lak ngày xưa từng là chốn hội tụ nhiều vô kể của các loài chim, thú…

 

__________________________________________________ 

 

 

LÀNG SEN QUÊ BÁC VÀ NGÔI NHÀ HỒ CHỦ TỊCH RA ĐỜI

 

Làng Sen thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn là quê nội Chủ tịch Hồ Chí Minh. Làng Sen cũng như bao làng quê khác của nông thôn Việt Nam với lũy tre xanh, giếng nước, cây đa, mái đình và ruộng đồng trải ra trước mặt, chập trùng núi non xa xa…

Từ thành phố Vinh theo quốc lộ 15A về hướng Tây khoảng 20km là đến làng Chùa (làng Hoàng Trù) – quê ngoại Bác. Trong ngôi nhà tranh giản dị có hàng mạc thảo và hàng cau trước ngõ, Bác đã chào đời.

Từ Làng Chùa - quê ngoại sang làng Sen - quê nội khoảng 1km qua hồ sen thơm ngát và giếng Cốc trong vắt. Ngôi nhà tranh mà Bác đã sống thời niên thiếu này do nhân dân trong vùng góp công sức dựng nên để mừng cụ Nguyễn Sinh Sắc - thân sinh ra Bác - đỗ Phó bảng vào năm 1901. Bên trong ngôi nhà mộc mạc này là những đồ dùng sinh hoạt của một gia đình nhà nho nghèo  : ván nằm, thư án, bút nghiên, ghế ngồi, mâm gỗ… Nơi đây Bác đã sống những năm tháng tuổi thơ và chứng kiến những buổi bình văn hay luận thời cuộc giữa thân phụ người với bạn bè như nhà ái quốc Phan Bội Châu, nhà nho Vương Thúc Quý. Ngôi nhà nằm ẩn dưới rặng tre xanh, trước mặt là vườn hoa trái, kề bên là vườn cây lưu niệm.

Năm 1883, Nguyễn Sinh Sắc và Hoàng Thị Loan làm lễ thành hôn. Ông bà Hoàng Đường đã xây dựng ngôi nhà tranh ba gian đầu góc vườn phía Tây nhà mình cho đôi vợ chồng trẻ.

Chính tại ngôi nhà này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra đời : Gian ngoài là nơi học tập và nơi nghỉ cho ông Sắc. Ở đó có một bộ phản, nơi ông nằm nghỉ, một chiếc án thư, 2 cái ghế kề sát cửa, 2 cái giá sách, là nơi cụ Đường dạy cho ông Sắc học tập. Gian thứ 2 là nơi nghỉ ngơi của bà Hoàng Thị Loan. Sau tấm vải màu nhuộm nâu có chiếc giường tre nhỏ đơn sơ, nơi bà đã sinh ra 3 người con ưu tú cho đất nước. Gian thứ 3 để bộ khung cửi dệt vải của bà Hoàng Thị Loan. Ngoài công việc đồng áng, bà Hoàng Thị Loan thường thức khuya dậy sớm để dệt vải, dệt lụa, giúp cho gia đình trang trải những khó khăn thiếu thốn.

Kỳ thi Hương năm giáp Ngọ (1894), ông Nguyễn Sinh Sắc đã đậu cử nhân ở trường Nghệ.

Năm 1895, ông Nguyễn Sinh Sắc vào Huế dự kỳ thi Hội, song không đậu, sau đó được vào trường Quốc Tử giám. Ông liền trở về quê nhà, đưa vợ con vào Huế để giúp ông học tập. Bà Hoàng Thị Loan gửi cô Thanh ở lại với bà ngoại, rồi dắt díu 2 con trai cùng chồng đi bộ theo con đường Thiên Lý vượt trên 400 km vào kinh đô Huế.

Ngày 22 tháng 12 năm Canh Tý (10-2-1901), bà đã qua đời đột ngột lúc vừa bước sang tuổi 33. Sau đó ông Nguyễn Sinh Sắc đã từ biệt cố đô, đưa các con trở về quê hương Hoàng Trù sống trong ngôi nhà 3 gian này. Ba tháng sau, kỳ thi Hội Tân Sửu (1901) đến, ông Nguyễn Sinh Sắc lại gửi các con ở lại với bà ngoại, rồi lần nữa vào Huế dự thi.

Kỳ này ông đậu Phó bảng, vua Thành Thái tặng ông biển “Ân tứ sinh gia” (Ân Vua ban cho gia đình tốt) và cờ “Phó bảng Phát Khoa”. Theo tập tục địa phương và nguyện vọng bà con Làng Sen, ông Nguyễn Sinh Sắc cùng các con là Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Sinh Khiêm, Nguyễn Sinh Cung tạm biệt làng Hoàng Trù trở về quê nội - làng Kim Liên để “Vinh Quy Bái Tổ”. Ngôi nhà tranh ba gian này, ông Nguyễn Sinh Sắc cho bà con trong họ sử dụng.

Ngày 9 tháng 12 năm 1961, sau hơn sáu mươi năm xa cách. Chủ tịch Hồ Chí Minh mói về thăm lại ngôi nhà tranh này, nơi Người cất tiếng khóc chào đời và sống những năm đầu của tuổi ấu  thơ. Người vô cùng xúc động khi nhìn thấy những kỷ vật quen thuộc của gia đình ngày trước nay còn nguyên như cũ. Sau những giây phút bồi hồi xúc động. Người ra ngồi trước thềm nhà để tiếp chuyện thân mật với bà con làng xóm.

Ngôi nhà tranh ba gian này không những đã chứng kiến giờ phút Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời, ghi lại những kỷ niệm êm đẹp, thân thương trong những năm đầu của tuổi ấu thơ, mà còn chứng kiến sự kiện Người về thăm quê năm 1961, sau bao nhiêu năm bôn ba hải ngoại tìm đường cứu nước, xa cách quê hương. Hiện nay những đồ dùng vẫn cò đó, như một minh chứng cho sự thanh bạch của Người, như một bài học lớn cho chúng ta về cách sống… Thật vậy cứ mỗi lần về thăm quê Bác, trong mỗi một chúng ta không thể không chiêm nghiệm cho mình những gì đã trải qua và sống tốt hơn trong đời để không hổ thẹn với Người…

 

QUANG TRÍ 

 ____________________________

 

 

ĐI THUYỀN TRÊN SÔNG MEKONG

 

Về miền Tây Nam bộ, dọc dài theo hai nhánh của con sông Tiền và sông Hậu bạn sẽ bắt gặp những nét hoang sơ của một vùng sông nước đặc trưng mà không phải nơi nào cũng có được đó là vùng hạ lưu của con sông Mekong kỳ vỹ của vùng Đông nam á. Thả cho con thuyền đi sâu hơn chút nữa là các vườn chim - nơi quần tụ và sinh sống của những đàn chim hoang dã như cò, sếu, vạc… vốn là địa điểm tham quan đặc sắc của vùng sông nước Cửu Long. Cũng tại các vườn cây trái này, bạn sẽ được biết hương vị của ly rượu đế trong vắt sóng sánh trong bữa cơm chiều mát rượi bên dòng kênh. Sẽ càng thi vị hơn khi trong bữa cơm giữa vùng đất hoang sơ đó, bạn được giao lưu cùng các tài tử ca nhạc vùng đồng quê, với những người vừa là ca sĩ, vừa là nhạc sĩ, vừa là thính giả. Tại Mỹ Tho, Cần Thơ, chỉ cần bước ra khỏi mạn những chiếc thuyền du lịch  vùng sông nước này, bạn sẽ được hòa nhập vào không khí và nếu may mắn, bạn có thể tham dự vào một đám cưới trên sông, trong đó sẽ có hàng trăm chiếc thuyền cùng chậm rãi lướt theo dòng nước, đầy hoa và những nét mặt tươi cười. Còn thông thường nhất, là vô vàn cảnh mua bán tại các chợ nổi Cái Răng và Phụng Hiệp, những chiếc ghe trái cây, lúa gạo, hàng gia dụng len lỏi tới từng ngỏ ngách của hệ thống kênh rạch chằng chịt. Trên những con thuyền này, nếu muốn hãy thử một ly cafe bạn sẽ ngạc nhiên khi thấy ly cafe pha trên con xuồng lênh đênh giữa dòng sông cũng ngon chẳng kém so với các nơi khác. Xuôi theo dòng nước, càng đi xa càng có cơ hội tiếp cận với những thú vui, nét độc đáo trong sinh hoạt và đời sống văn hóa của người dân hai bên dòng sông Mekong. Đó là còn chưa kể tới hàng chục loại sản vật tôm cá tại nơi đây.

Dọc dài theo dòng sông Mekong bạn được tách hẳn khỏi cuộc sống ồn ào nơi đô thị để đắm mình vào thiên nhiên. Sẽ rất thú vị sau một ngày ngắm nhìn cảnh họp chợ trên sông, thưởng thức các món ăn dân dã, chụp ảnh những cánh rừng ngập nước với vô số loài chim, mua sắm các sản vật địa phương để rồi trở về với cuộc mưu sinh thường nhật với một tinh thần phấn chấn sảng khoái hơn…

 

CAO NGUYÊN